Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Lịch sử quan hệ quốc tế (1919 - 2005), phần 2

Lịch sử quan hệ quốc tế (1919 - 2005)

phần 2: 1945 - 2005

Chương III: QUAN HỆ QUỐC TẾ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN NĂM 2005


Mục tiêu:


  • Đây là chương bao gồm những vấn đề phức tạp và quan trọng của quan hệ quốc tế trong vòng 6 thập niên, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay (1945-2005). Trong chương này, sinh viên môn I và môn II cần nắm được:
    • Sự xác lập trật tự thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai mà thực chất là sự phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa hai siêu cường Liên Xô và Mĩ.
    • Sự đối đầu giữa hai siêu cường được thể hiện thông qua cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn 4 thập niên làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng, bên bờ vực chiến tranh. Từ nửa sau những năm 70, xu hướng hoà hoãn Đông - Tây đã xuất hiện và từng bước dẫn tới việc kết thúc cuộc chiến tranh lạnh. Sự sụp đổ của Liên Xô cuối cùng đã dẫn tới sự giải thể trật tự hai cực Ianta.
  • Sinh viên học môn I cần lưu ý đến những nét chủ yếu của quan hệ quốc tế trong và sau chiến tranh lạnh, tập trung vào những mâu thuẫn cơ bản và xu thế phát triển của quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Sinh viên môn 2 chủ yếu tập trung vào trật tự hai cực Ianta và sự sụp đổ của trật tự này.


I. Sự hình thành trật tự hai cực Yalta và cuộc chiến tranh giữa Xô - Mỹ và hai khối Đông - Tây


   1. Sự hình thành trật tự hai cực Yalta


      1.1. Khái quát tình hình thế giới sau chiến tranh

    Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn tới những chuyển biến căn bản của tình hình quốc tế. Chiến tranh đã làm thay đổi hoàn toàn so sánh lực lượng trên phạm vi thế giới. Châu Âu, với địa vị trung tâm của thế giới kể từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, bị suy yếu nghiêm trọng. Các nước tư bản đứng đầu châu Âu như Anh, Pháp đều bị chiến tranh tàn phá. Dù là nước thắng trận nhưng Anh, Pháp đều không thể mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình như thời kì sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, hơn thế nữa, ngay cả sự thống trị đối với những vùng đất thực dân cũ cũng bị đe doạ. Các nước phát xít, kẻ thù chung của nhân loại đã bị tiêu diệt và hoàn toàn kiệt quệ. Châu Âu bị tách thành hai khối Đông và Tây. Trong lúc đó, nước Mĩ đã vươn lên hết sức nhanh chóng về thế và lực, trở thành một siêu cường khống chế toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa. Khi chiến tranh kết thúc, nước Mĩ chiếm gần 60% tổng sản lượng công nghiệp, 3/4 trữ lượng vàng của thế giới tư bản và là chủ nợ lớn nhất trên thế giới. Về quân sự, Mĩ đứng đầu thế giới tư bản về lục quân, hải quân, không quân và nắm độc quyền về bom nguyên tử trong thời gian đầu sau chiến tranh. Các nước tư bản châu Âu và Nhật đều phải dựa vào sự giúp đỡ của Mĩ để phục hồi kinh tế. Đây chính là cơ hội có một không hai để Mĩ vươn lên nắm quyền lãnh đạo trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. Chiến thắng vĩ đại của Liên Xô trong sự nghiệp tiêu diệt chủ nghĩa phát xít đã dẫn tới những thay đổi về so sánh lực lượng có lợi cho Liên Xô và các lực lượng cách mạng trên thế giới. Vị trí quốc tế và ảnh hưởng của Liên Xô ngày càng được mở rộng. Liên Xô trở thành một cường quốc quân sự, một nhân tố không thể thiếu trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Liên Xô cũng không còn là nước xã hội chủ nghĩa duy nhất bị cô lập trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với Liên Xô đã tạo thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triển mạnh mẽ và lan rộng ở khắp các châu lục trên thế giới. Ngay trong chiến tranh, các nước châu á, châu Phi đã sát cánh cùng các lực lượng Đồng minh chống phát xít trong những điều kiện khó khăn, gian khổ, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp chiến thắng phát xít, đồng thời chuẩn bị điều kiện cho cách mạng giải phóng dân tộc sau khi chiến tranh kế tthúc. Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc buộc các nước đế quốc phải thừa nhận nền độc lập của các dân tộc. Trong bối cảnh đó, Mặt trận đồng minh chống phát xít, hình thành trong chiến tranh, đứng trước nguy cơ tan rã. Những mâu thuẫn trong nội bộ các lực lượng chống phát xít, vốn tạm thời dịu đi trong chiến tranh, nay ngày càng bộc lộ công khai. Ngay trong giai đoạn cuối của chiến tranh, Mĩ đã nhìn nhận Liên Xô như một lực lượng chính, có khả năng cản trở âm mưu bá chủ thế giới của mình. Khi thất bại của phe phát xít chỉ còn là vấn đề thời gian, cũng là lúc Mĩ bắt đầu triển khai chính sách kiềm chế Liên Xô. Quá trình tập hợp lực lượng mới sau chiến tranh dựa trên cơ sở ý thức hệ và lợi ích quốc gia được bắt đầu từ Hội nghị Ianta (2 - 1945), khi chiến tranh còn chưa đi đến hồi kết.

        1.2. Sự hình thành Trật tự hai cực Yalta


     Như trên đã nói, từ ngày 4 đến 12 - 2 - 1945, tại thành phố Ianta (Crưm) đã diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Tam cường Xô - Mĩ - Anh, với sự tham gia của nguyên thủ quốc gia ba nước Liên Xô, Mĩ, Anh là Stalin, Roosevelt và Churchill. Thực chất nội dung hội nghị là sự tranh giành và phân chia thành quả thắng lợi của chiến tranh giữa các lực lượng tham chiến, có tác động quyết định đến trật tự thế giới sau chiến tranh. Sau những thảo luận và tranh cãi quyết liệt, Hội nghị đã đi đến quyết định về việc kết thúc chiến tranh, việc tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật, việc thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là việc Tam cường Xô - Mĩ - Anh đã đi đến thoả thuận về việc phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu á sau chiến tranh. Theo đó, ở châu Âu, các nước Trung và Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước Tây và Nam Âu sẽ thuộc phạm vi ảnh hưởng của Anh, Mĩ. Về vấn đề Đức, Liên Xô sẽ chiếm đóng phần Đông Đức và Đông Béclin. Quân đội Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng phần Tây Đức và Tây Béclin. Riêng Áo và Phần Lan sẽ được hưởng quy chế trung lập.
  • Ở Châu Á, Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô về việc tham gia chiến tranh tiêu diệt quân phiệt Nhật, bao gồm:
    • Duy trì nguyên trạng và công nhận nền độc lập của Mông Cổ.
    • Trả lại cho Liên Xô những quyền lợi mà nước Nga bị mất sau chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) như: trả lại miền Nam đảo Xakhalin và quần đảo Curin, quốc tế hoá cảng Đại Liên (Trung Quốc), cho Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận (Trung Quốc) làm căn cứ hải quân, trả cho Liên Xô tuyến đường sắt Xibêri - Trường Xuân, Liên Xô được cùng khai thác tuyến đường sắt Hoa Đông và Nam Mãn Châu…
    • Sau khi Nhật đầu hàng, quân đội Đồng minh (chủ yếu là Mĩ) sẽ chiếm đóng Nhật Bản.
    • Trung Quốc sẽ thu hồi lại Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và Mãn Châu bị Nhật chiếm. Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản sẽ tiến hành hiệp thương để thành lập Chính phủ liên hiệp. Liên Xô và Mĩ có quyền lợi ở Trung Quốc.
    • Triều Tiên sẽ do quân đội Liên Xô và Mĩ kiểm soát ở phía Bắc và Nam vĩ tuyến 38, sau khi giải phóng sẽ trở thành quốc gia độc lập, thống nhất.
    • Phần còn lại của châu á (Đông Nam Á, Tây Á, Nam Á…) vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây.
      Những quyết định của Hội nghị Ianta về những vấn đề quan trọng nhất của thế giới sau chiến tranh đã trở thành nền tảng cơ sở cho việc thiết lập một trật tự thế giới mới, thường được gọi là Trật tự hai cực Ianta. Hai nước đứng đầu hai cực, Liên Xô và Mĩ, về cơ bản đã đạt được những mục tiêu mà mình theo đuổi. Đối với Liên Xô, lúc này là thời điểm mà vị thế quốc tế của Liên Xô đạt tới đỉnh cao nhất kể từ sau Cách mạng tháng Mười. Liên Xô trở thành nước duy nhất có thể tạo ra thế cân bằng với Mĩ, đồng thời là lực lượng có khả năng đưa chủ nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở thành một hệ thống thế giới. Tổng thống Mĩ cũng nhận thức rõ điều đó và chấp nhận những thoả thuận với Liên Xô - để cùng sắp xếp trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Chính vì vậy, Trật tự hai cực Ianta là sự phản ánh một hiện thực mới của thế giới sau chiến tranh: sự cân bằng quyền lực giữa hai nước lớn - Liên Xô và Mĩ trong quan hệ quốc tế.
       1.3. Tổ chức Liên Hợp Quốc (United Nations)
    Ngay từ những năm tháng chiến tranh thế giới diễn ra ác liệt, các nước trong phe Đồng minh đều đã nhận thức được sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế mới rộng lớn hơn, hiệu quả hơn để thay thế cho Hội Quốc Liên trong sứ mệnh gìn giữ hoà bình, an ninh quốc tế, ngăn ngừa chiến tranh thế giới, thúc đẩy sự hợp tác giữa các dân tộc. Hội nghị Thượng đỉnh Teheran với sự tham gia của những người đứng đầu ba nước Xô - Mĩ - Anh đã chuẩn y và khẳng định việc thành lập Liên Hợp Quốc. Sau Hội nghị Teheran, một nhóm chuyên gia ở Washington được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho việc thành lập tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới này. Những thoả thuận cụ thể liên quan đến việc thành lập Liên Hợp Quốc đã được thông qua tại Hội nghị ở Dumbarton Oak - ngoại ô Washington tháng 9 - 1944 và được khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Ianta tháng 2 - 1945. 
    Trên cơ sở đó, ngày 25 - 4 - 1945 tại Xan Phranxicô (Mĩ) đại diện của 50 quốc gia (sau này Ba Lan được mời kí vào Hiến chương, nâng tổng số nước sáng lập lên 51 nước) đã tiến hành Hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc. Sau hai tháng làm việc, Hội nghị đã thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc và thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc. Hiến chương gồm 19 chương với 111 điều khoản, là văn kiện nền tảng cơ bản xác định mục đích, nguyên tắc và các phương thức tổ chức, hoạt động của Liên Hợp Quốc. Hiến chương quy định mục đích cao nhất của Liên Hợp Quốc là nhằm duy trì hoà bình, an ninh thế giới, thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các nước trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng giữa các quốc gia và nguyên tắc dân tộc tự quyết. Để thực hiện mục đích nêu trên, Hiến chương quy định những nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp Quốc gồm: quyền bình đẳng giữa các quốc gia và quyền dân tộc tự quyết, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kì quốc gia nào, giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, chung sống hoà bình và nguyên tắc nhất trí giữa 5 nước lớn: Liên Xô (nay là Liên bang Nga), Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc.
  • Về tổ chức, các cơ quan chính của Liên Hợp Quốc bao gồm :
    • Đại hội đồng, cuộc họp chung của đại diện các nước thành viên, họp mỗi năm một lần để thảo luận những vấn đề có liên quan thuộc phạm vi Hiến chương đã quy định. Đại hội đồng bầu ra các thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an, các thành viên của Toà án quốc tế, của Hội đồng kinh tế xã hội, Hội đồng thác quản. Đại hội đồng chấp nhận hội viên mới hoặc khai trừ hội viên vi phạm Hiến chương theo đề nghị của Hội đồng bảo an. Những quyết định về các vấn đề quan trọng phải được thông qua với 2/3 số phiếu.
    • Hội đồng Bảo an, cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của Liên Hợp Quốc, chịu trách nhiệm chính về duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Hội đồng Bảo an gồm 5 uỷ viên thường trực: Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc và 6 uỷ viên không thường trực do Đại hội đồng bầu ra (từ tháng 8 - 1965 tăng lên 10 uỷ viên không thường trực) với thời hạn hoạt động 2 năm, phân bổ theo khu vực địa lí một cách công bằng. Mọi quyết định của Hội đồng Bảo an phải được thông qua với sự nhất trí của 5 uỷ viên thường trực, đồng thời mỗi uỷ viên thường trực cũng có quyền phủ quyết (veto). Những nghị quyết của Hội đồng bảo an được thông qua phù hợp với Hiến chương thì bắt buộc các nước Hội viên phải thi hành. Hội đồng bảo an không phục tùng Đại hội đồng.
    • Hội đồng kinh tế - xã hội, cơ quan chuyên trách về các lĩnh vực hợp tác liên quan đến đời sống vật chất, văn hoá của Liên Hợp Quốc, do Đại hội đồng bầu ra. Trực thuộc Hội đồng kinh tế - xã hội có nhiều thể chế chuyên môn hoá như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng quốc tế về tái thiết và phát triển (WB), Tổ chức Lương - Nông (FAO), Tổ chức Liên Hợp Quốc về giáo dục, khoa học và văn hoá (UNESCO)…
    • Toà án quốc tế, cơ quan luật pháp chính của Liên Hợp Quốc, có nhiệm vụ giải quyết những tranh chấp có tính chất pháp lí giữa các nước thành viên.
    • Ban thư kí, cơ quan hành chính của Liên Hợp Quốc, đứng đầu là Tổng thư kí do Đại hội đồng bầu ra 5 năm một lần theo sự giới thiệu của Hội đồng Bảo an.
      Ngoài ra, Liên Hợp Quốc còn có các cơ quan chuyên trách như Hội đồng quản thác và các tổ chức trực thuộc khác. Trụ sở của Liên Hợp Quốc đặt tại New York (Mĩ). Liên Hợp Quốc được thành lập vào lúc Chiến tranh thế giới thứ hai chuẩn bị kết thúc và ngay sau đó là sự bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh giữa hai khối Đông - Tây. Những mâu thuẫn gay gắt giữa hai cường quốc Xô - Mĩ trong chiến tranh lạnh đã ảnh hưởng sâu sắc đến những hoạt động của tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới này. Bước vào thập niên 60 của thế kỷ XX, từ thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, hàng loạt nước mới giành được độc lập và trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc. Với số lượng thành viên đông đảo hơn, trong thành phần Liên Hợp Quốc đã hình thành ba lực lượng: các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản chủ nghĩa và các nước mới giành được độc lập. Điều đó đòi hỏi các nghị quyết của Liên Hợp Quốc phải tính đến lợi ích của cả ba lực lượng này. 
     Trong 60 năm tồn tại, Liên Hợp Quốc đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình trong đời sống chính trị quốc tế. So với Hội Quốc Liên, Liên Hợp Quốc thể hiện rõ tính chất toàn cầu: thành phần bao gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên tất cả các châu lục và đặc biệt là tính toàn diện: chương trình nghị sự không chỉ tập trung vào vấn đề duy trì hoà bình, an ninh mà bao gồm cả các hoạt động nhằm thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học - kĩ thuật… Với tư cách là một tổ chức đa phương toàn cầu lớn nhất với sự tham gia của hầu hết các quốc gia trên thế giới, Liên Hợp Quốc là diễn đàn toàn cầu duy nhất để thúc đẩy đối thoại, hiểu biết chung giữa các nước và là tổ chức không thể thiếu được trong đời sống chính trị quốc tế. Tuy nhiên, với sự thay đổi của tình hình thế giới, số lượng thành viên của Liên Hợp Quốc đã tăng lên khoảng 4 lần (từ 51 nước năm 1945 lên 191 nước năm 2002), trong đó đa số là các nước đang phát triển với ý chí độc lập, tự chủ ngày càng mạnh mẽ. Điều đó đòi hỏi Liên Hợp Quốc phải đổi mới bộ máy và phương thức làm việc để thực sự trở thành một tổ chức quốc tế đại diện cho lợi ích chân chính của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. 
     Nhận xét những hoạt động của Liên Hiệp Quốc đối với việc giải quyết các vấn đề hòa bình trên thế giới:
    + Vấn đề người Do Thái: đây là nhiệm vụ đầu tiên và cũng là nhiệm vụ quan trọng của Liên Hiệp Quốc trong thời kỳ đầu hoạt động trên thế giới. Người Do Thái là một bộ tộc sinh sống ở vùng đất Israel - Palestine từ lâu đời. Sau khi mất nước, họ phải tha phương nhưng vẫn luôn mong muốn được trở về quê hương có từ lâu đời của mình, và tư tưởng "phục quốc Do Thái" (chủ nghĩa Sion) ra đời từ đó. Sau khi Thế chiến II kết thúc, người Do Thái đã lập  tức thành lập quốc gia Do Thái Israel làm các nước Ả rập rất tức giận, và họ phát động tấn công. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã phái một phái đoàn do bá tước Bernadotte dẫn đầu sang hòa giải và bước đầu thành công. Việc này của Liên Hiệp quốc thể hiện hai vấn đề sau. Thứ nhất, các nước sẽ chấp nhận dừng xung đột một khi Liên Hiệp Quốc hòa giải sự việc này một cách tốt nhất. Thứ hai, Liên Hiệp Quốc là tổ chức của nhiều quốc gia, nhưng không quốc gia nào sẵn lòng hy sinh quyền lợi của mình vì quyền lợi chung. Tổ chức này cho phép các nước lớn được trình bày quan điểm của mình và buộc các nước nhỏ phải theo quan điểm của mình
      + Vấn đề Indonesia: Hà Lan muốn làm chủ lại thuộc địa này trong khi nhân dân xứ này tuyên bố độc lập trước khi Nhật lui quân. Khi Hà Lan quay trở lại chiếm vùng này, Liên Hiệp Quốc đã đạt ủy ban điều đình nhưng bất thành, biết được điều đó, Mỹ còn dọa cắt ngân khoản của Hà Lan... kết quả là Hà Lan chấp nhận cho Liên Hiệp Quốc can thiệp và Indonesia độc lập. Nguyên nhân chính để Hà Lan cho Liên Hiệp quốc can thiệp đó là Hà Lan không chống nổi cuộc đấu tranh của nhân dân Indonesia.



       1.4. Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít bại trận sau chiến tranh


    Việc giải quyết vấn đề các nước phát xít chiến bại, tiến tới bình thường hoá quan hệ giữa các nước thắng trận với các nước bại trận, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thiết lập trật tự thế giới mới sau chiến tranh và giữ gìn hoà bình, an ninh cho thế giới. Trước hết là vấn đề Đức, vấn đề trung tâm của châu Âu sau chiến tranh. Hội nghị Pốtxđam (17 - 7 - 1945 đến 2 - 8 - 1945) đã xác định những nguyên tắc cơ bản về việc phi quân sự hoá nước Đức, tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít, thủ tiêu nền công nghiệp quân sự - chiến tranh, thực hiện các quyền tự do, dân chủ, đưa nước Đức trở thành một quốc gia thống nhất, hoà bình và dân chủ. Hội nghị Pốtxđam đồng thời cũng khẳng định rằng, lực lượng Đồng minh không hề có ý định tiêu diệt hay biến nhân dân - dân tộc Đức thành nô lệ, như điều đã từng xảy ra sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918). Theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, bốn nước Liên Xô, Mĩ, Anh và Pháp sẽ tạm thời chiếm đóng nước Đức: Liên Xô ở khu vực phía Đông, ba nước Mĩ, Anh, Pháp ở khu vực phía Tây. Để xét xử tội phạm chiến tranh, Toà án quốc tế Nuyrembe đã tổ chức trên 400 phiên họp kéo dài từ tháng 10 - 1945 đến 8 - 1946. Các nước đồng minh được nhận những khoản bồi thường chiến tranh ở các khu vực chiếm đóng và từ các nguồn đầu tư của Đức ở nước ngoài. 


    Về vấn đề Nhật Bản, Tuyên bố Pốtxđam đã quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vấn đề Nhật Bản sau chiến tranh như: Nhật Bản phải đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, quân đội Đồng minh sẽ chiếm đóng lãnh thổ Nhật, chủ quyền của Nhật được giới hạn trong 4 đảo chính (Hốccaiđô, Hônsư, Kiusiu và Xicôcư) và một số đảo phụ cận, quân đội Nhật bị giải giáp, dân chủ hoá nước Nhật và thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt, giải tán các tập đoàn kinh tế công nghiệp quân sự, xét xử các tội phạm chiến tranh, nước Nhật phải chịu trách nhiệm bồi thường chiến tranh… Sau khi Nhật Bản đầu hàng, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, quân đội Mĩ đã chiếm đóng toàn bộ Nhật Bản. Liên Xô phản đối quyết liệt hành động độc chiếm Nhật Bản của Mĩ và yêu cầu thành lập một Uỷ ban quản chế Nhật Bản. Hội nghị ngoại trưởng 5 cường quốc (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc) tháng 12 - 1945 ở Mátxcơva đã đi đến thoả thuận cho phép các nước Đồng minh chủ yếu tham gia hoạch định và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với Nhật. Uỷ ban Viễn Đông được thành lập ở Oasinhtơn, sau đó Uỷ ban đồng minh về Nhật Bản cũng được thành lập ở Tôkiô. Tuy nhiên, cả hai uỷ ban này đều bị Mĩ khống chế. Tháng 10 - 1950, Chính phủ Mĩ đưa ra dự thảo về Hoà ước kí với Nhật do Mĩ đơn phương soạn thảo. Hành động của Mĩ đã bị Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và dư luận tiến bộ trên thế giới kịch liệt phản đối. Sau đó, Mĩ tổ chức Hội nghị hoà bình ở Xan Phranxicô (9 - 1951) để kí kết hoà ước với Nhật. Hoà ước Xan Phranxicô là một hoà ước riêng rẽ, không bao gồm chữ kí của tất cả các nước tham chiến, vi phạm thô bạo quyền lợi của các nước tham gia chống Nhật mà không được mời tham dự Hội nghị hoặc không kí vào Hoà ước (Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc). Hoà ước là văn kiện dọn đường cho Mĩ tiếp tục chiếm đóng nước Nhật và hình thành liên minh Mĩ - Nhật, phục vụ cho chính sách thù địch của Mĩ đối với các nước xã hội chủ nghĩa. 

    Về việc kí kết hoà ước với các nước bại trận khác (Italia, Bungari, Hunggari, Rumani và Phần Lan), sau nhiều năm đấu tranh gay gắt, cuối cùng các hoà ước đã được kí kết tại Hội hoà bình Pari ngày 10 - 2 - 1947. Khác với Hoà ước Vécxai năm 1919, sự tham dự và vai trò của Liên Xô đã làm thay đổi nội dung và tính chất của các hoà ước. Nội dung các hoà ước về cơ bản đã đáp ứng được lợi ích của nhân dân các nước chiến thắng, đồng thời cũng không quá khắt khe, nặng nề với nhân dân các nước bại trận. Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới đã hình thành theo khuôn khổ thoả thuận Ianta với hai cực, đứng đầu là Liên Xô và Mĩ. Trật tự hai cực Ianta được các cường quốc thắng trận thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm đảm bảo những lợi ích chính trị, kinh tế của mình. Tuy nhiên, nếu so với Hệ thống Versailles - Washington, được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), Trật tự hai cực Ianta có những nét khác biệt cơ bản. Trước hết, đó là sự đối lập về hệ tư tưởng giữa hai cực, một bên là Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, lực lượng hậu thuẫn cho phong trào cách mạng thế giới, với một bên là Mĩ, nước đứng đầu thế giới tư bản với vai trò hậu thuẫn cho các lực lượng phản cách mạng và âm mưu vươn lên vị trí thống trị thế giới. Cuộc đối đầu giữa hai cực diễn ra gay gắt, quyết liệt, kéo dài hơn 4 thập kỉ, kéo theo sự đối đầu giữa hai khối Đông - Tây và cuốn hút nhiều quốc gia, khu vực vào vòng xoáy căng thẳng, phức tạp của nó. Tuy nhiên, về cơ cấu tổ chức, với việc thanh toán chiến tranh, duy trì hoà bình, an ninh sau chiến tranh, việc kí kết hoà ước với các nước chiến bại… Trật tự hai cực Ianta thể hiện sự tiến bộ và tích cực hơn so với Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn. Đặc biệt, vai trò, tính ưu việt của Liên Hợp Quốc so với Hội Quốc Liên trong việc giám sát, duy trì hoà bình, an ninh thế giới, phát triển sự hợp tác về mọi mặt giữa các quốc gia… đã thể hiện một bước tiến mới của nhân loại trong quan hệ quốc tế nửa sau thế kỉ XX. 
     Ảnh hưởng của trật tự hai cực Yalta đối với các mối quan hệ toàn cầu
 + Trước hết, đây là lần đầu tiên kể từ khi thế giới có trật tự, quan hệ quốc tế được phân tuyến, tổ chức theo hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập, trong đó lần đầu tiên chủ nghĩa tư bản mất quyền đơn phương định đoạt các vấn đề toàn cầu bởi sự xuất hiện một đối trọng mới, một chủ thể chính trị - xã hội được xem là tiên tiến nhất: chủ nghĩa xã hội. Và cũng là lần đầu tiên, chủ nghĩa xã hội đã tham gia quyết định chiều hướng phát triển của lịch sử nhân loại.
 + Hai là, trật tự hai cực đã làm xuất hiện một kiểu quan hệ quốc tế mới dựa trên những nguyên tắc hoàn toàn mới mẻ. Những nguyên tắc đó phụ thuộc vào sự biến chuyển trong các cặp quan hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đối với các nước thuộc Thế giới thứ ba; giữa nội bộ chủ nghĩa tư bản trên thế giới và giữa nội bộ các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.
  + Ba là, trong hơn 40 năm tồn tại trật tự thế giới hai cực do Liên Xô và Mĩ làm đại diện, các thế lực phản động thế giới đứng đầu là đế quốc Mĩ đã gây ra cuộc chạy đua vũ trang khốc liệt, đã tiến hành các cuộc chiến tranh cục bộ đẫm máu… Nhưng thế giới vẫn có những chuyển biến sâu sắc theo hướng tích cực:
          - Thứ nhất, với sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cùng với sự ra đời và lớn mạnh của hàng trăm quốc gia độc lập trẻ tuổi, nhân loại đã chuyển từ kỷ nguyên dân tộc bị thực dân thống trị sang kỷ nguyên độc lập dân tộc. Sức mạnh của các cường quốc đế quốc ngày nay không thể đè bẹp được ý chí độc lập của các dân tộc. Vai trò của các nước đang phát triển ngày càng tăng trên thế giới. Với sự giải phóng các dân tộc thuộc địa, một bộ phận rất to lớn của lực lượng lao động thế giới được giải phóng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới.
          - Thứ hai, với sự hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa – một đối trọng của hệ thống tư bản chủ nghĩa, đã có tác dụng ngăn chặn sự áp bức bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa tư bản trên một bộ phận rất lớn của thế giới (điều mà trước đây không hề có); tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc phát triển mạnh mẽ.
          - Thứ ba, hơn 40 năm qua với sự tồn tại trật tự hai cực, đã không diễn ra chiến tranh thế giới, hòa bình thế giới về cơ bản vẫn được giữ vững. Đó là cuộc đấu tranh mạnh mẽ của toàn thể nhân dân tiến bộ trên thế giới chống chiến tranh xâm lược và nguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt và bảo vệ hòa bình. Nhưng mặt khác là do sự cân bằng về quân sự - chiến lược giữa Liên Xô và Mĩ, buộc cả hai phải tránh đụng đầu trực tiếp về quân sự, vì nếu chiến tranh thế giới nổ ra chắc chắn sẽ không có kẻ chiến thắng trong cuộc đụng đầu vũ khí hạt nhân hủy diệt này.
          - Thứ tư, hơn 40 năm qua, nền kinh tế thế giới đang vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và các ngăn cách khu vực để trở thành một thị trường có tính toàn cầu, bao trùm thế giới. Từ đây, lực lượng sản xuất thế giới sẽ được giải phóng mạnh mẽ để tiến tới những bước đột phá trong phát triển kinh tế thế giới trong những năm tới.
         Sự khác biệt trật tự hai cực Yalta với trật tự trước đó: trật tự Versailles - Washington
              Như đã nói ở phần trước, khi một trật tự cũ không còn phù hợp với tình hình quốc tế thì nó ngay lập tức sẽ bị xóa bỏ và thay vào đó là một trật tự mới hoàn thiện hơn, phù hợp với lợi ích của một số cường quốc muốn làm bá chủ thế giới thời đó. Năm 1945, theo thỏa thuận của Hội nghị Yalta (2/1945), một trật tự mới đã ra đời thay thế cho trật tự lạc hậu, lỗi thời, đó là trật tự hai cực Yalta. So với trật tự đầu tiên, trật tự lần này có nhiều sự khác biệt cơ bản:
       + Đó là sự phân chia khu vực ảnh hưởng, chủ yếu là của hai siêu cường Xô - Mỹ, những lực lượng chủ lực đánh bại chủ nghĩa phát xít quốc tế. Với bản chất chế độ chính trị khác nhau, hai nước đã nhanh chóng từ liên minh chống phát xít trở thành đối địch nhau, mỗi nước tập hợp chung quanh mình nhiều đồng minh, lập thành 2 phe tư bản - cộng sản. Đó là trật tự hai cực Yalta, và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử,các trật tự quốc tế, thế giới lại được phân đôi với hai siêu cường hùng mạnh đến thế.
       + Nếu trong trật tự Versailles - Washington, quyền lực chi phối thuộc về các cường quốc tư bản Anh, Pháp, Mỹ thì trong trật tự Yalta tình hình đã thay đổi. Liên Xô - nhà nước XHCN đứng đầu một cực đối trọng với Mỹ - siêu cường cực kia. Liên Xô trở thành thành trì của cách mạng thế giới, làm hậu thuẫn cho phong trào xã hội chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Các nước đế quốc không còn có thể hoàn toàn thao túng các quan hệ quốc tế, quyết định số phận của các dân tộc như trong trật tự Versailles - Washington trước kia.
        + Sự đối đầu giữa hai siêu cường và hai phe TBCN và XHCN. Thế giới phân đôi với cuộc "Chiến tranh lạnh" căng thẳng, chạy đua vũ trang ráo riết và các khối liên minh chính trị - quân sự liên tiếp ra đời.  Thế giới như luôn bên bờ vực của cuộc chiến tranh hủy diệt và đã diễn ra các cuộc chiến tranh cục bộ mà thực chất là sự đối đầu giữa hai phe, như cuộc chiến tranh giữa hai miền Triều Tiên (1950 - 1953), cuộc chiến tranh của nhân dân 3 nước Đông Dương chống đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất giữa hai phe.
         + Tuy đối đầu quyết liệt như vậy, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau (chạy đua vũ khí hạt nhân, chạy đua kinh tế dưới tác động của khoa học kỹ thuật) mà hai siêu cường Xô - Mỹ thực hiện chiến lược phòng ngự, các nước lớn như Trung Quốc, Anh, Pháp, Liên Xô đều hết sức tránh nguy cơ phải đụng đầu trực tiếp với các nước lớn hơn. Do đó, thế giới trong trật tự này diễn ra nhiều xu hướng: đối đầu, hòa hoãn, đấu tranh và hợp tác. Liên Hiệp Quốc ra đời vào giai đoạn sau Thế chiến II với những tham khảo kinh nghiệm của Hội Quốc Liên trước kia, đã trở thành một diễn đàn thế giới vừa đấu tranh vừa hợp tác, đặc biệt chính nguyên tắc nhất trí giữa 5 nước ủy viên của tổ chức này đã trở thành 1 nguyên tắc thực tiễn lớn đảm bảo cho chung sống hòa bình, vừa đấu tranh vừa hợp tác đó, đồng thời nguyên tắc này còn nhằm ngăn chặn không để một cường quốc nào khống chế được LHQ vào mục đích bá quyền của mình.


   2. Cuộc chiến tranh lạnh


        2.1. Chủ nghĩa Truman và sự bắt đầu chiến tranh lạnh



       Sau khi chiến tranh kết thúc, những rạn nứt chính trị trong quan hệ Xô - Mĩ ngày càng lớn, đặc biệt là trong vấn đề Đông Âu. Với ảnh hưởng và sự giúp đỡ của Liên Xô, hàng loạt nước Đông Âu đã thực hiện những cải cách tiến bộ và trở thành những nước dân chủ nhân dân. Trong khi đó, Mĩ tìm mọi cách để ngăn cản quá trình cách mạng ở Đông Âu, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới. Sau khi Tổng thống Rudơven qua đời (4 - 1945), H. Truman lên làm Tổng thống và bắt đầu thực hiện chính sách cứng rắn với Liên Xô. Tháng 3 - 1947, Truman đọc bài diễn văn trước Quốc hội, thực chất là công bố chính sách đối ngoại mới, được gọi là Học thuyết Truman, nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản. Truman yêu cầu Quốc hội viện trợ khẩn cấp cho Hi Lạp và Thổ Nhĩ Kì để chống lại “sự đe doạ” của Liên Xô, thiết lập sự thống trị của Mĩ ở khu vực phía Đông Địa Trung Hải, một khu vực có tầm chiến lược quan trọng ngay sát Liên Xô. Với học thuyết Truman, Mĩ công khai từ bỏ hợp tác với Liên Xô trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế như đã từng diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai và bắt đầu cuộc Chiến tranh lạnh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.

    Sau khi phát động Chiến tranh lạnh, Mĩ tìm cách lôi kéo các đồng minh vào các liên minh do Mĩ khống chế để tăng cường lực lượng chống Liên Xô và chủ nghĩa xã hội. Ngày 5 - 6 - 1947, ngoại trưởng Mĩ G. Marshall đọc một bài diễn văn tại trường đại học Harvard, công bố “kế hoạch phục hưng châu Âu” bằng viện trợ của Mĩ.   
     Tháng 7 - 1947, 16 nước tư bản châu Âu đã họp Hội nghị kinh tế ở Pari để bàn về việc tiếp nhận kế hoạch Mácsan. Từ tháng 4 - 1948, kế hoạch Mácsan bắt đầu được thực hiện, Mĩ đã chi khoảng 12,5 tỉ đôla cho kế hoạch này. Nền kinh tế các nước Tây Âu phục hồi và phát triển nhanh chóng, tuy nhiên bị đặt dưới sự khống chế của Mĩ. Đó là cơ sở để Mĩ tiếp tục thao túng Tây Âu về chính trị và quân sự. Để đối phó với âm mưu của Mĩ, từ tháng 7 - 1947, Liên Xô tiến hành kí kết các hiệp ước liên minh kinh tế với các nước Đông Âu, chuẩn bị cho việc thành lập một tổ chức kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Tháng 1 - 1949, Liên Xô cùng với các nước Đông Âu quyết định thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV - viết tắt theo tiếng Nga), một tổ chức liên minh kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa. Như thế, trên thế giới đã hình thành hai khối kinh tế đối lập nhau và đi kèm theo đó là hai khu vực thị trường riêng rẽ. Sau khi tuyên bố học thuyết Truman và thực hiện kế hoạch Mácsan, Mĩ xúc tiến âm mưu chia cắt nước Đức, biến Tây Đức thành con đập ngăn làn sóng chủ nghĩa cộng sản tràn vào châu Âu. Vấn đề Đức trở thành tiêu điểm của cuộc đấu tranh giữa hai phe ở châu Âu. Mĩ đề nghị thống nhất khu vực chiếm đóng của ba nước Mĩ, Anh, Pháp ở Tây Đức, thực hiện những cải cách kinh tế, tiền tệ riêng rẽ và bác bỏ những đề nghị của Liên Xô về việc thành lập một chính phủ chung cho toàn nước Đức theo nghị quyết Pốtxđam. Tháng 8 - 1949 ở Tây Đức đã diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội riêng rẽ và sau đó một tháng, ngày 12 - 9 - 1949 nước Cộng hoà Liên bang Đức tuyên bố thành lập. Để đối phó với hành động của Mĩ, Liên Xô đã giúp đỡ các lực lượng cách mạng ở Đông Đức thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Đức (7 - 10 - 1949). Như vậy, những quy định của Hội nghị Pốtxđam về vấn đề Đức đã không được thực hiện. Sự kiện nước Đức bị chia cắt thành hai quốc gia Đông - Tây là một sản phẩm của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời đánh dấu sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mĩ ngày càng trở nên sâu sắc. Tháng 4 - 1949, tại Oasinhtơn, 12 nước Tây Âu và Bắc Mĩ(1) đã kí kết và thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Mặc dù nội dung bản Hiệp ước nói về mục đích “bảo vệ hoà bình” nhưng thực chất là sự thao túng của Mĩ đối với các nước thành viên về quân sự, nhằm chĩa mũi nhọn vào Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Việc thành lập NATO làm cho tình hình thế giới càng thêm phức tạp, căng thẳng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mâu thuẫn trong nội bộ các nước tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Anh, Pháp với âm mưu giành quyền lãnh đạo của Mĩ trong tổ chức này.

    Năm 1955, Mĩ đưa Tây Đức vào khối NATO, gây nên tình trạng căng thẳng, đe doạ nghiêm trọng hoà bình ở châu Âu. Trong bối cảnh đó, tháng 5 - 1955 Liên Xô và các nước Đông Âu đã kí kết và thành lập Tổ chức Hiệp ước Vácxava nhằm bảo vệ an ninh của các nước thành viên, duy trì hoà bình ở châu Âu.
  • NATO 6 lần mở rộng
    • 1952: Hi lạp, Thổ
    • 1955: CHLB Đức
    • 1982: Tây Ban Nha
    • 1990: CHDC Đức
    • 1999: Ba Lan, Séc, Hungari
    • 2004: Lítva, Látvia, Extônia, Xlovennia, Xlovakia, Bun, Rumania
    Tổng: 26 nước, lần thứ 6 quan trọng nhất, kết thúc công cuộc “Chinh phục Đông Âu”. Liên minh quân sự mạnh nhất thế giới, tiếp tục cải tổ cơ cấu chỉ huy, thành lập lực lượng phản ứng nhanh (Nresponse Force NRF) vào 10 – 2006. NATO có tổ chức chặt chẽ, là liên minh chính trị quân sự. Về cơ cấu chính trị có Hội đồng do một Tổng thư kí đứng đầu, cơ cấu quân sự là Bộ chỉ huy quân sự Thống nhất do 1 tư lệnh đứng đầu. Tổng hành dinh ở Brussel (Bỉ). Mĩ đóng vai trò trụ cột, đã chi 180 tỉ USD, triển khai lớn hơn 300.000 quân ở Tây Âu. Ngoài mục tiêu chống LX CNCS, Mĩ còn mục tiêu thông qua cái ô an ninh để kiềm chế Tây Âu. Các nước Tây Âu muốn giảm lệ thuộc Mĩ (Pháp). Chứa đựng khác biệt về lợi ích Như vậy, sau khi chiến tranh kết thúc chưa đầy một thập niên, ở châu Âu đã hình thành hai khối quân sự đối đầu nhau. Sau khi thành lập, cả hai khối quân sự đều tiến hành chạy đua vũ trang để tăng cường sức mạnh quân sự của mình. Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô - Mĩ, sự đối đầu giữa hai khối Đông - Tây ngày càng trở nên gay gắt.


       2.2. Những diễn biến chính của cuộc chiến tranh lạnh    
      Chiến tranh lạnh do Mĩ phát động là “cuộc chiến tranh không nổ súng, không đổ máu” nhưng luôn luôn ở tình trạng đối đầu căng thẳng, quyết liệt, nhằm mục tiêu “ngăn chặn” rồi đi đến tiêu diệt Liên Xô. Tuy nhiên, chiến tranh lạnh không chỉ dừng lại ở chỗ “không nổ súng, không đổ máu” mà đã phát triển thành những cuộc chạy đua vũ trang ráo riết, những cuộc xung đột quân sự mang tính khu vực giữa hai cực Xô - Mĩ và hai khối Đông - Tây. Cuộc chạy đua vũ trang giữa hai cực Xô - Mĩ, hai khối Đông Tây bắt đầu từ thập niên 50, lên đến đỉnh cao vào thập niên 70. Cả hai nước Xô - Mĩ đều tăng cường ngân sách quốc phòng, củng cố khả năng phòng thủ tối đa của mình. Năm 1974, Mĩ chi tiêu cho quân sự 85 tỉ đôla Mĩ, còn Liên Xô là 109 tỉ đôla Mĩ. Về vũ khí, chỉ riêng hai siêu cường đã sở hữu trên 5.000 máy bay chiến đấu, gấp 10 lần các cường quốc trước đây(3). Cùng với việc tăng cường khối lượng khổng lồ các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh. Mĩ tiếp tục thành lập các liên minh quân sự ở các khu vực khác nhau nhằm hỗ trợ cho khối NATO, bao vây Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa như: việc kí kết Hiệp định an ninh Mĩ - Nhật (9 - 1951), thành lập khối ANZUS (Mĩ - Ôxtrâylia - Niu Di Lân - 9 - 1951), khối SEATO ở Đông Nam á (9 - 1954), khối CENTO ở Trung Đông (1959). Mĩ thiết lập trên 2.000 căn cứ quân sự, đưa hàng chục vạn quân Mĩ đóng quân ở khắp các khu vực trên thế giới. Trong bối cảnh đó, Liên Xô cũng đưa hàng chục vạn quân đóng ở các nước Đông Âu, tập trung ở Đông Đức, ở Mông Cổ và biên giới Xô - Trung. Ở châu Á, cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) là một trong những tiêu điểm của cuộc chiến tranh lạnh. Theo quyết định của Hội nghị Ianta và Pốtxđam, sau khi Triều Tiên được giải phóng, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc, quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, với vĩ tuyến 38 làm ranh giới tạm thời. Sau thất bại của những cuộc đàm phán nhằm thành lập chính phủ thống nhất, cuối năm 1948, hai chính phủ riêng rẽ được thành lập ở hai miền Nam, Bắc với hai chế độ chính trị hoàn toàn đối lập nhau. Tháng 6 - 1950, cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ giữa một bên là quân đội Mĩ, các nước đồng minh của Mĩ với một bên là quân đội Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, quân chí nguyện Trung Quốc với sự hậu thuẫn về mọi mặt của Liên Xô. Sau 3 năm chiến tranh kết hợp với đàm phán, ngày 27 - 7 - 1953, tại hội nghị quân sự Bàn Môn Điếm (Triều Tiên), cả hai bên tham chiến đã kí kết Hiệp định đình chiến. Hiệp định quy định “hoàn toàn đình chỉ chiến sự và mọi hành động đối địch ở Triều Tiên cho đến khi giải quyết hoà bình xong toàn bộ vấn đề Triều Tiên”, lấy giới tuyến và khu phi quân sự theo trận tuyến đóng quân thực tế của mỗi bên (gần như trở lại ranh giới cũ trước chiến tranh - vĩ tuyến 38). Việc kí kết Hiệp định đình chiến phản ánh tình hình so sánh lực lượng giữa hai phe, tuy nhiên cả hai bên tham chiến đều cho rằng mình đã giành thắng lợi vì đã làm thất bại kế hoạch xâm lược của đối phương. Chiến tranh Triều Tiên là sự đụng đầu giữa hai hệ thống xã hội đối lập nhau, là sản phẩm tiêu biểu của chiến tranh lạnh. Cho đến nay, hơn nửa thế kỉ đã trôi qua sau cuộc chiến tranh này nhưng đất nước Triều Tiên vẫn bị chia cắt, giải pháp chính trị để thống nhất Triều Tiên vẫn còn là triển vọng lâu dài.

    Ở Đông Nam Á, cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1954 - 1975), đặc biệt là cuộc chiến tranh Việt Nam, là cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai phe trong chiến tranh lạnh. Khác với chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam kéo dài gần 20 năm, và được coi là “cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất giữa hai phe”. Mĩ đã chi phí trực tiếp cho cuộc chiến ở Việt Nam khoảng 676 tỉ đôla (so với 341 tỉ đôla trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỉ đôla trong chiến tranh Triều Tiên), nếu tính cả chi phí gián tiếp là 920 tỉ đôla. Trong cuộc đọ sức lâu dài, gian khổ và quyết liệt này, thắng lợi cuối cùng đã thuộc về nhân dân Việt Nam, với sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và các lực lượng hoà bình, dân chủ trên thế giới.

    Ở Đông Âu, trong các cuộc khủng hoảng chính trị diễn ra ở Hunggari (10 - 1956), Tiệp Khắc (8 - 1968)… Liên Xô và khối Vácxava đã tiến hành các biện pháp can thiệp để ổn định tình hình các nước này. Trong khi đó, Mĩ đã không bỏ lỡ dịp để thực hiện chính sách “đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản”, ủng hộ các cuộc bạo loạn, cố gắng thực hiện “diễn biến hoà bình” để phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu.    
   Ở khu vực Mĩ latinh, thắng lợi của cách mạng Cuba năm 1959 đã trở thành một thách thức đối với chính sách bá quyền của Mĩ. Tháng 10 - 1962, Tổng thống Mĩ Kennơđi thông báo quyết định của Chính phủ Mĩ về việc tổ chức chiến dịch phong toả biển Caribê, nhằm ngăn chặn việc Liên Xô đưa vũ khí tên lửa đến Cuba. Tình hình trở nên hết sức nghiêm trọng khi quân đội của cả hai khối quân sự NATO và Vácxava đều được đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp. Cuộc khủng hoảng cuối cùng đã được giải quyết theo điều kiện: Liên Xô rút hết tên lửa dưới sự giám sát của các quan sát viên Liên Hợp Quốc, đổi lại, Mĩ cam kết không xâm lược Cuba.
    Ở khu vực Trung Đông, cuộc chiến tranh Trung Đông bùng nổ năm 1948 giữa Ixraen và các nước ảrập, ngày càng trở nên phức tạp và kéo dài vì hai cường quốc Xô - Mĩ cũng trực tiếp đối mặt ở đây. Liên Xô giúp đỡ Ai Cập, Xiri, các nước ảrập, trong khi Mĩ hỗ trợ cho Ixraen. Sự can thiệp của các nước lớn vào khu vực Trung Đông ngày càng tăng, thể hiện những mâu thuẫn về lợi ích và sự đối đầu giữa hai cực trong quan hệ quốc tế.

    Như vậy, trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh, hầu như mọi cuộc chiến tranh, xung đột ở các khu vực khác nhau trên thế giới đều có sự dính líu trực tiếp, hoặc gián tiếp ở những mức độ khác nhau của sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mĩ.
----------------------------------------------------------
(1) Mĩ, Anh, Pháp, Italia, Canađa, Ailen, Bồ Đào Nha, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Lúcxămbua.




II. Chiến tranh lạnh kết thúc và sự sụp đổ của trật tự hai cực Yalta


   1. Quá trình chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh


        1.1. Quan hệ Đông - Tây bắt đầu hoà dịu
Ngay từ giữa những năm 50, những người đứng đầu nhà nước Liên Xô đã bắt đầu có xu hướng triển khai chiến lược cùng tồn tại hoà bình với các nước phương Tây, tạo điều kiện có lợi cho công cuộc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, một lĩnh vực mà Liên Xô đặc biệt quan tâm. Về phía Mĩ, Tổng thống Aixenhao cũng lên tiếng “hoan nghênh bất cứ hành động nào tranh thủ cho hoà bình”. Tuy nhiên, trên thực tế, xuất phát từ những lợi ích khác nhau, quyết sách của các nước lớn vẫn làm cho tình hình thế giới tiếp tục căng thẳng. Những cuộc xung đột quân sự mà hai cực Xô - Mĩ làm hậu thuẫn cho mỗi bên tham chiến tiếp tục lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là cuộc chiến tranh Đông Dương, nội chiến ápganixtan, Ănggôla, chiến tranh Trung Đông… Mặc dù vậy, bên cạnh chiến tranh lạnh, đã diễn ra những cuộc thương lượng, nhân nhượng giữa hai cực Xô - Mĩ trong việc giải quyết một số vấn đề trong quan hệ quốc tế, điển hình là vấn đề Đức và vấn đề đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược.
    Vấn đề Đức vẫn là một vấn đề trung tâm trong quan hệ quốc tế thời kì này. Từ năm 1970 hai nước Liên Xô và Mĩ đã bắt đầu thương lượng để giải quyết vấn đề Đức. Ngày 9 - 11 - 1972, trên cơ sở những nguyên tắc đã được thoả thuận giữa Mĩ và Liên Xô trong Hiệp định Bon (9 - 1971), hai nước Cộng hoà dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức đã kí kết Hiệp định về cơ sở quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức. Theo hiệp định này, hai bên “phải tôn trọng không điều kiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau” và “thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện, bình thường với nhau trên cơ sở bình đẳng”. Tháng 9 - 1973, cả hai nước Đức đều gia nhập Liên Hợp Quốc. Việc giải quyết vấn đề Đức là một biểu hiện cho xu thế hoà dịu trong quan hệ Đông - Tây.
    Vấn đề hạn chế vũ khí chiến lược là vấn đề được cả thế giới quan tâm và một trong những vấn đề trung tâm trong quan hệ Xô - Mĩ. Cuộc chạy đua vũ trang trong chiến tranh lạnh đã khiến cho cả hai nước Liên Xô và Mĩ gặp phải không ít khó khăn để duy trì thế cân bằng chiến lược. Những khoản chi phí quân sự khổng lồ đã khiến hai nước mất dần ưu thế cạnh tranh về kinh tế với các nước khác. Những nhân tố đó đã thúc đẩy xu hướng giảm bớt chạy đua vũ trang và hoà dịu trong quan hệ Xô - Mĩ. Quá trình đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược giữa Liên Xô và Mĩ được tiến hành liên tục trong hơn 20 năm và trải qua bốn giai đoạn:
  • Giai đoạn I (11 - 1969 đến 5 - 1972): chủ yếu tập trung vào việc hạn chế những loại vũ khí hạt nhân chiến lược có tính chất phòng ngự và soạn thảo quy định tạm thời về hạn chế vũ khí hạt nhân có tính chất tiến công. Sau 7 vòng đàm phán, tháng 5 - 1972, hai nước đã kí kết Hiệp ước hạn chế hệ thống phòng, chống tên lửa (gọi tắt là ABM), theo đó mỗi bên được xây dựng hai hệ thống phòng, chống tên lửa, mỗi hệ thống có 100 tên lửa chống tên lửa.
  • Giai đoạn II (11 - 1972 đến 6 - 1979): nhằm vào việc hạn chế những loại vũ khí hạt nhân chiến lược có tính chất tiến công. Sau 15 vòng đàm phán và 5 lần gặp gỡ ở cấp nguyên thủ quốc gia, hai nước đã kí kết Hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân có tính chất tấn công (gọi tắt là SALT - 1), Nghị định thư bổ sung Hiệp ước ABM, quy định mỗi bên chỉ triển khai một hệ thống phòng, chống tên lửa (tháng 7 - 1974), Hiệp ước SALT - 2 (6 - 1979) quy định giới hạn tổng số vũ khí chiến lược tấn công và phương tiện phóng vũ khí hạt nhân của mỗi bên. Với các hiệp ước đã được kí kết, cuộc chạy đua vũ trang căng thẳng giữa hai cực Xô - Mĩ có xu hướng giảm dần.
  • Giai đoạn III (6 - 1982 đến 12 - 1983): trong giai đoạn này cuộc chạy đua vũ trang lại tiếp tục được tăng cường. Để phá vỡ thế cân bằng chiến lược quân sự với Liên Xô, tháng 3 - 1983, chính quyền Rigân đề xuất Sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI), được mệnh danh là “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” nhằm xây dựng hệ thống tên lửa chống tên lửa nhiều tầng, từ 200 đến 1.000km trên không nhằm vô hiệu hoá tên lửa tấn công, tạo ra một thách thức quân sự với Liên Xô. Để đối phó với kế hoạch của Mĩ, Liên Xô cũng tăng cường ngân sách quốc phòng, triển khai hệ thống tên lửa tầm trung ở Đông Âu và khu vực châu á thuộc lãnh thổ Liên Xô. Chính vì vậy, hai bên đã không thể đạt được một hiệp ước cụ thể nào về hạn chế vũ khí chiến lược.
  • Giai đoạn IV (3 - 1985 đến 1 - 1995): sau một thời gian gián đoạn, các cuộc đàm phán được nối lại với sự tham dự của đích thân nguyên thủ quốc gia của hai nước. Tháng 12 - 1987, Liên Xô và Mĩ đã kí kết Hiệp ước thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu Âu (INF), chiếm khoảng 3% kho vũ khí hạt nhân của mỗi nước. Tháng 6 - 1990, hai bên đã đạt được một Hiệp định khung với những điều khoản chủ yếu về cắt giảm vũ khí chiến lược tấn công. Tháng 7 - 1991, Liên Xô và Mĩ kí kết Hiệp ước về cắt giảm vũ khí chiến lược (START - 1), theo đó 30% kho vũ khí hạt nhân sẽ được phá huỷ từ thời điểm đó đến 1999, hai nước sẽ không đặt một số vũ khí chiến lược của mình trong tình trạng báo động. Tháng 1 - 1993, Hiệp ước START - II được kí kết. Hiệp ước quy định trong vòng 10 năm tới, hai nước sẽ phải cắt giảm 2/3 số vũ khí hạt nhân chiến lược hiện có và hủy bỏ toàn bộ Nga và Mỹ số tên lửa mang nhiều đầu đạn hạt nhân phóng từ mặt đất.
   Quá trình đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược phản ánh so sánh lực lượng và cuộc đấu tranh giữa hai cực Xô - Mĩ trong quan hệ quốc tế. Tuy còn nhiều bất đồng nhưng cả hai nước đã từng bước một nhượng bộ lẫn nhau, không làm cho tình hình căng thẳng hơn và đi đến sự kết thúc tình trạng đối đầu kéo dài, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên. Cùng với những thay đổi trong quan hệ Xô - Mĩ, từ cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 đã diễn ra những chuyển biến trong quan hệ giữa Tây Âu với Liên Xô và Đông Âu. Hai nước lớn ở Tây Âu là Pháp và Cộng hoà Liên bang Đức đã bắt đầu thực hiện chính sách đối thoại, hoà hoãn với Liên Xô và các nước Đông Âu. Ngày 1 - 8 - 1975, 33 nước châu Âu cùng Mĩ và Canađa đã kí kết Định ước an ninh và hợp tác châu Âu tại Henxinki (Phần Lan). Định ước xác nhận quyền bình đẳng của các quốc gia, không dùng vũ lực, không xâm lấn lãnh thổ, giải quyết hoà bình các cuộc xung đột, không can thiệp vào nội bộ của nhau, tôn trọng nhân quyền, hợp tác trên cơ sở nhu cầu chính đáng của các dân tộc. Năm 1977, tại Bêôgrát (Nam Tư), các nước tiếp tục thương lượng về vấn đề an ninh, hợp tác, đồng thời đưa ra những hình thức phù hợp để thực hiện Định ước Henxinki. Quan hệ kinh tế - thương mại giữa Tây Âu với Liên Xô và Đông Âu tăng lên nhanh chóng trong thập niên 80.
     1.2. Xô - Mĩ chấm dứt chiến tranh lạnh
     Từ nửa sau thập niên 80, sau khi M. Goócbachốp lên cầm quyền ở Liên Xô, quan hệ Xô - Mĩ đã thực sự chuyển từ đối đầu sang đối thoại để giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa hai nước và quan hệ quốc tế. Quá trình đàm phán cắt giảm vũ khí chiến lược tấn công trải qua chặng đường dài đầy khó khăn, cuối cùng cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo cơ sở quan trọng cho việc kết thúc cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới. Ngày 2 - 12 - 1989, tại Manta, Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô Goócbachốp và Tổng thống Mĩ G. Busơ đã có cuộc gặp gỡ không chính thức. Trong cuộc gặp này, hai bên đã chính thức tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh giữa hai nước, đồng thời cũng chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng trong suốt hơn 40 năm qua. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Mĩ đã khiến cả hai siêu cường quốc phải huy động một khoản ngân sách rất lớn để tạo ra một kho vũ khí khổng lồ có thể huỷ diệt một khối lượng vật chất gấp nhiều lần trái đất và toàn thể nhân loại. Theo thống kê, trong vòng 20 năm, từ thập niên 60 đến thập niên 80, Liên Xô phải chi cho quốc phòng khoảng 11 đến 13% thu nhập quốc dân, còn Mĩ là 7 đến 8% thu nhập quốc dân hàng năm. Việc huy động ngân sách quốc phòng quá lớn đã ảnh hưởng xấu đến các chương trình kinh tế, đến việc nâng cao đời sống nhân dân và giảm sút thế mạnh của hai nước. Trong khi hai siêu cường ra sức chạy đua vũ trang thì các nước Tây Âu, Nhật Bản vươn lên mạnh mẽ về kinh tế, trở thành những đối thủ cạnh tranh lợi hại của Liên Xô và Mĩ. Chính vì vậy cả hai nước Xô - Mĩ đều cần phải thoát ra khỏi thế đối đầu để củng cố vị thế của mình.
       2. Sự sụp đổ của trật tự hai cực Yalta


     Trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, những biến động chính trị to lớn đã diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô do Goócbachốp khởi xướng đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, gây ra tình trạng hỗn loạn về chính trị và làm cho nền kinh tế Liên Xô ngày càng trì trệ hơn. Những nhân tố đó là tiền đề cho sự tan vỡ không thể tránh khỏi của Nhà nước liên bang. Ngày 21 - 12 - 1991, Liên Xô tuyên bố giải thể, 15 nước Cộng hoà trở thành các quốc gia độc lập. ở Đông Âu, từ thập niên 80, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng tiến hành chính sách cải cách với những mức độ khác nhau. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế, chính trị Đông Âu. Trong khi đó, các nước phương Tây đã lợi dụng tình hình khó khăn của các nước Đông Âu để gây ảnh hưởng về kinh tế, chính trị ở khu vực này. Cũng với những sai lầm chủ quan trong chính quá trình cải cách ở Đông Âu, những nhân tố khách quan nêu trên đã góp phần dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã dẫn tới sự giải thể của khối quân sự Vácxava (7 - 1991) và Hội đồng tương trợ kinh tế SEV (6 - 1991). Trật tự hai cực Ianta không còn nữa. Trong hơn 40 năm tồn tại, trật tự hai cực Ianta đã từng bị tấn công nhiều lần: thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 đã mở ra bước đột phá đầu tiên, phá tan âm mưu khống chế Trung Quốc của Mĩ và những đặc quyền của Liên Xô ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Sự lớn mạnh của các nước Tây Âu, Nhật Bản đã làm suy giảm vị trí và phạm vi ảnh hưởng của Mĩ. Thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc và sự ra đời của hàng trăm quốc gia độc lập trên thế giới đã làm thay đổi “khuôn khổ Ianta”, được sắp xếp từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai… Tuy thế, hệ thống Ianta vẫn tiếp tục tồn tại, chủ yếu là do sự cân bằng lực lượng giữa Liên Xô và Mĩ trên phạm vi toàn cầu, cũng như sự cân bằng lực lượng giữa Đông Âu và Tây Âu ở châu Âu. Những cuộc xung đột quân sự, chiến tranh cục bộ diễn ra ở nhiều khu vực trên thế giới đều có sự hỗ trợ của hai siêu cường dưới những hình thức, mức độ khác nhau, nhưng cả hai nước đều tránh sự đụng đầu trực tiếp về quân sự, và không bên nào sử dụng biện pháp quân sự để thay đổi hiện trạng của trật tự này. Đó là đặc trưng cơ bản của Trật tự hai cực Ianta. 
      Quá trình sụp đổ của Trật tự hai cực Ianta bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, cuộc chạy đua vũ trang đã được đẩy lên đến mức độ cao nhất mà cả hai siêu cường đều nhận thấy rằng không thể xoá bỏ được nhau, nên buộc phải tự dàn xếp để đi đến hạn chế cuộc chạy đua tốn kém và căng thẳng chưa từng thấy trong lịch sử này. Tình trạng đối đầu đã từng bước được thay thế bằng đối thoại, đàm phán để hạn chế và cắt giảm vũ khí chiến lược tấn công. Thứ hai, sự đối lập Đông - Tây cũng mờ nhạt dần cùng với các cuộc đàm phán Đông - Tây ở châu Âu. Chính sách hoà dịu có chọn lọc và hợp tác của Liên Xô, Đông Âu với Tây Âu đã tạo ra xu thế hoà hoãn ở châu Âu. Cuối thập niên 80, khi Goócbachốp đưa ra ý tưởng về “Ngôi nhà chung châu Âu” thì sự đối đầu Đông - Tây ở châu Âu về cơ bản đã chấm dứt. Thứ ba, sự vươn lên của các nước trong thế giới thứ ba nhằm thoát khỏi ảnh hưởng của hai cực đã làm suy giảm sức mạnh của trật tự Ianta. Đặc biệt là sự vươn lên của Trung Quốc, sự hình thành tam giác chiến lược Mĩ - Xô - Trung cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình giải thể trật tự hai cực. Thứ tư, một nhân tố quan trọng cần phải kể đến là sự thay đổi trong cán cân kinh tế thế giới. Sự nổi lên của Nhật Bản, các nước Tây Âu đã tạo ra những trung tâm kinh tế đối trọng với Mĩ trong thế giới tư bản. Năm 1975, trong nội bộ chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện cơ chế điều hoà với sự ra đời của tổ chức G7 (gồm 7 nước công nghiệp phát triển). Điều đó chứng tỏ Mĩ không còn là nước duy nhất quyết định thế giới phương Tây. Về phía Liên Xô, những sai lầm trong chiến lược phát triển kinh tế, nhất là chiến lược đầu tư quá lớn vào công nghiệp nặng, chi phí quân sự cao… đã làm méo mó cơ cấu kinh tế và suy giảm sức mạnh của Liên Xô. Trước những biến đổi về kinh tế và quan hệ quốc tế trong thập niên 80, Liên Xô không có khả năng xoay chuyển được tình thế, vai trò siêu cường bị suy yếu, dẫn tới sự giải thể của trật tự hai cực Ianta.
III. Xu thế phát triển của quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh
1.  Sự hình thành trật tự thế giới mới
- Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới tồn tại gần nửa thế kỷ đã bị phá vỡ, cục diện thế giới và quan hệ chính trị quốc tế thay đổi về cơ bản, dẫn đến hình thành trật tự thế giới mới và tập hợp lực lượng mới. Trước hết, đó là sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nước lớn nhằm giành vị trí xứng đáng trong quan hệ quốc tế. Tất cả các nước khác cũng đều tìm cách tác động một cách có lợi nhất cho mình vào quá trình thiết lập trật tự thế giới mới. Từ sự đa dạng về lợi ích của các chủ thể quan hệ quốc tế đã hình thành nhiều mối quan hệ song phương và đa phương, làm cho tình hình thế giới càng thêm phức tạp.
     - Trong số các cường quốc, thời kỳ này thực lực giữa ba trung tâm của chủ nghĩa tư bản là Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản đã nhích lại gần nhau, không còn quá chênh lệch như trước đây. Mỹ không còn quá mạnh để áp đặt các nước, nhưng vẫn muốn xác lập vai trò lãnh đạo thế giới. Tuy nhiên, các đồng minh Nhật Bản và Tây Âu lại muốn khẳng định vai trò của mình, không chấp nhận trật tự thế giới một cực do Mỹ chi phối. Trung Quốc, Nga, Ấn Độ là những nước tuy còn có những mặt yếu, nhưng cũng đang trên đà phát triển và đều ủng hộ một trật tự thế giới đa cực. Trung Quốc sau gần 30 năm cải cách mở cửa đã đạt được nhiều thành tựu, có uy tín và vị thế quan trọng trong quan hệ quốc tế. Nga vẫn là cường quốc hạt nhân, sau một thời gian dài khủng hoảng, đã và đang khôi phục địa vị cường quốc của mình. Ấn Độ tuy là nước đang phát triển, nhưng đã trở thành một trong mười nước có hạt nhân và đang có ảnh hưởng lớn trong thế giới thứ ba. Xu hướng liên kết tam giác Nga  - Trung - Ấn đã bộc lộ khá rõ nét trong thời kỳ Sau Chiến tranh lạnh.
    - Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều ủng hộ một thế giới đa cực, có nhiều trung   tâm, cân bằng lực lượng giữa các bên, vì chỉ có trên cơ sở đó mới có thể giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng quốc tế bằng con đường đàm phán dân chủ, hòa bình.
2. Đặc điểm chủ yếu của tình hình thế giới: 
   Thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh có 5 đặc điểm nổi bật sau đây:
     - Thứ nhất, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào, so sánh lực lượng trên thế giới thay đổi bất lợi cho phong trào cách mạng và hòa bình, nhưng tính chất thời đại vẫn không thay đổi, loài người vẫn ở thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển sâu sắc với những hình thức biểu hiện mới.
     - Thứ hai, nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, hòa bình thế giới được giữ vững, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, các hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố quốc tế vẫn xảy ra nhiều nơi.
     - Thứ ba, cách mạng khoa học và công nghệ với nội dung cơ bản là cách mạng về công nghệ thông tin, sinh học, năng lương, vật liệu mới phát triển với trình độ cao, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội. Các quốc gia đang đứng trước những cơ hội để phát triển, nhưng cũng chịu những thách thức lớn. Cuộc cạnh tranh kinh tế - thương mại và khoa học công nghệ đang diễn ra gay gắt.
      - Thứ tư, cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách như khủng bố quốc tế, bảo vệ môi trường, hạn chế bùng nổ dân số, tình trạng đói nghèo, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo… mà không một quốc gia riêng rẽ nào có thể giải quyết được. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác đa phương, sự phối hợp giữa các quốc gia.
      - Thứ năm,  khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang trở thành khu vực phát triển năng động và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Xu thế tự do hóa thương mại, liên kết hợp tác kinh tế diễn ra phong phú và có hiệu quả. Các nước lớn, các trung tâm kinh tế trên thế giới đều điều chỉnh chiến lược, chuyển hướng mạnh vào châu Á – Thái Bình Dương, vừa tạo thời cơ cho các nước phát triển, nhưng cũng chứa đựng những nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn định ở khu vực.
3. Đặc điểm quan hệ các nước lớn hiện nay
       Hiện nay, do thay đổi trong môi trường chính trị quốc tế và những điều chỉnh chiến lược tương ứng, mối quan hệ giữa các nước lớn vẫn đang trong quá trình vận động, điều chỉnh và chưa ổn định. Tuy nhiên có thể khái quát thành 4 đặc điểm chủ yếu:
     - Thứ nhất, tính chất chủ đạo trong quan hệ đã chuyển từ đối kháng sang quan hệ đối tác. Bên cạnh các quan hệ chiến lược cũ (Mỹ - Nhật, Mỹ - Tây Âu), ngày càng tăng cường mở rộng quan hệ đối tác chiến lược mới (Tây Âu - Nga, Nga - Trung - Ấn, Mỹ - Nga, Mỹ - Trung, Mỹ - Ấn). Tuy nhiên, bên cạnh mặt hợp tác, quan hệ giữa các nước lớn vẫn ẩn chứa cả mặt cạnh tranh và kiềm chế.
     - Thứ hai, tính không chắc chắn, không ổn định trong quan hệ giữa các cường quốc. Điều này xuất phát từ 6 nguyên nhân chủ yếu: 1) Sự thay đổi trong tương quan sức mạnh giữa các nước: ưu thế vượt trội của Mỹ, sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, phần nào là Ấn Độ, sự suy yếu của Nga, sự trì trệ kéo dài của kinh tế Nhật Bản; 2) Vẫn còn tồn tại những nghi kỵ lịch sử sâu sắc (Tây Âu - Nga, Nhật - Trung, Trung - Ấn, Nga - Trung); 3) Sự tồn tại nhiều tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết: quần đảo Curin giữa Nga và Nhật, đảo Senkaku (Ngư Điếu) giữa Trung Quốc và Nhật, vấn đề biên giới Trung - Ấn…; 4) Sự thiếu vắng một cơ chế hợp tác đa phương ở châu Á - Thái Bình Dương (như Tổ chức an ninh và hợp tác ở châu Âu); 5) Do lợi ích của các nước lớn vừa đan xen, song trùng trên một số lĩnh vực, nhưng lại mâu thuẫn trên một số lĩnh vực khác nên các nước có xu hướng tập hợp trên từng vấn đề; 6) Trong quan hệ giữa các cường quốc đang tồn tại mâu thuẫn chiến lược giữa chủ trương thế giới một cực và chủ trương thế giới đa cực.
     - Thứ ba, quan hệ giữa các nước lớn hiện đang ẩn chứa nhiều yếu tố: vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh vì lợi ích của mình. Các nước tăng cường quan hệ với các nước khác nhằm tăng thế mặc cả trong quan hệ, đặc biệt là với Mỹ. Trung Quốc và Nga xích lại gần nhau nhằm đối trọng với xu thế bá quyền của Mỹ, Ấn Độ cũng tăng cường hạt nhân và quan hệ với Mỹ, Nhật và Ôxtrâylia nhằm cân bằng với Trung Quốc. Mỹ lôi kéo Ấn Độ về mình, ngăn không cho trục Nga - Trung - Ấn hình thành và kiềm chế Trung Quốc; Mỹ và Trung Quốc tăng cường hợp tác về kinh tế, về không phổ biến vũ khí hạt nhân và về bán đảo Triều Tiên.
     - Thứ tư, trục đấu tranh chính trong quan hệ giữa các nước lớn đã chuyển từ Mỹ - Liên Xô sang quan hệ Mỹ - Trung. Trước đây, Mỹ quan hệ với Trung Quốc để ngăn chặn Liên Xô, nay kết cấu chiến lược đó không còn ý nghĩa. Sự lớn mạnh của Trung Quốc lại thách thức dài hạn đối với Mỹ, biến mối quan hệ Mỹ - Trung lên tầm cao mới, thành trục chính và quan trọng nhất. Nếu Mỹ - Trung đối đầu, khả năng phân cực sẽ diễn ra giữa Mỹ - Nhật một bên, Nga - Trung (có thể cả Ấn Độ) một bên. Nếu quan hệ Trung - Mỹ ổn định, sự phân cực giữa các nước lớn sẽ không xảy ra.

 4. Mâu thuẫn trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh


     Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực Ianta giải thể với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu. So sánh lực lượng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nay chuyển sang trạng thái mất cân bằng theo hướng có lợi cho Mĩ và phương Tây. Tuy nhiên, tình hình quốc tế đã không phát triển một cách hoà bình, ổn định như người ta mong đợi. Sự đối đầu Đông - Tây về hệ tư tưởng, chính trị, quân sự, kinh tế… đã từng chi phối đời sống quốc tế trong suốt thời kì chiến tranh lạnh, nay được chuyển hoá dưới những hình thức khác, bên cạnh sự nổi lên của những mâu thuẫn mới. Sự vận động của các mâu thuẫn này sẽ quyết định diện mạo của trật tự thế giới và xu hướng phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh.
    Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa các nước lớn xung quanh việc thiết lập một trật tự thế giới mới. Khác với các trật tự thế giới trước đây thường được thiết lập ngay sau khi chiến tranh kết thúc, trật tự thế giới mới đã không thể ra đời ngay sau khi Liên Xô tan rã. Mặc dù Tổng thống Mĩ Busơ (cha) năm 1991 đã tuyên bố về một trật tự thế giới đơn cực do Mĩ chi phối, nhưng thực tế lịch sử đã không diễn ra theo ý muốn của Mĩ. Liên Xô tan rã nhưng Liên bang Nga vẫn tiếp tục tồn tại với tiềm lực quân sự kế thừa Liên Xô cũ và không phải là một cường quốc bại trận để chấp nhận một trật tự thế giới do Mĩ áp đặt. Các trung tâm kinh tế, các cường quốc khu vực như Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… không ngừng lớn mạnh và cố gắng tạo cho mình một vị thế đáng kể để chia sẻ quyền lực chi phối đời sống chính trị quốc tế. Trong lúc các cường quốc đang nổi lên thì Mĩ vẫn là một siêu cường, một cường quốc vượt trội và là cường quốc duy nhất có ảnh hưởng ở cấp độ toàn cầu. Nước Mĩ vừa trải qua một chu kì tăng trưởng dài nhất trong lịch sử nước này (1992 - 2001), với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (từ 3 đến 4%), chỉ số thất nghiệp thấp, mức lạm phát thấp. Với số dân chỉ bằng 4,7% dân số thế giới, nhưng nước Mĩ chiếm trên 30% GDP toàn cầu, với khoảng 10.000 tỉ đôla hàng năm, bằng GDP của tất cả các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, sức mạnh tổng hợp của Mĩ (gồm 7 lĩnh vực: kinh tế, quân sự, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, chính trị, xã hội, ảnh hưởng trên trường quốc tế) lớn hơn hai lần Nhật Bản và hơn bốn lần Trung Quốc(1). Với sự giải thể Liên bang Xô viết, Mĩ không còn đối thủ cạnh tranh và có mưu đồ thiết lập trật tự thế giới một cực. Nhằm đạt được mục tiêu chiến lược ngăn chặn không cho cường quốc nào, dù là đồng minh hay đối thủ vươn lên thách thức vai trò siêu cường của mình, Mĩ thực hiện chính sách đối ngoại đơn phương, chà đạp lên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, coi thường các tổ chức quốc tế, kể cả Liên Hợp Quốc và chỉ lợi dụng các tổ chức này khi cần thiết vì lợi ích của Mĩ. Mĩ cho triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa chống tên lửa (NMD), rút ra khỏi hiệp ước ABM, từ chối không phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân… Chiến lược xây dựng một thế giới đơn cực do Mĩ chi phối được bắt đầu ngay sau chiến tranh lạnh và được thể hiện bằng những biện pháp cứng rắn, công khai hơn trong thời kì cầm quyền của Tổng thống Bush (con).
    Trong bối cảnh đó, sự kiện nước Mĩ bị tấn công khủng bố ngày 11 - 9 - 2001 là một đòn choáng váng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa âm mưu thiết lập trật tự đơn cực của Mĩ. Sau khi mất ngọn cờ “chống cộng” để tập hợp lực lượng trong chiến tranh lạnh, Mĩ đưa ra chiêu bài thành lập liên minh chống khủng bố quốc tế để tập hợp lực lượng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành một trật tự thế giới mới do Mĩ chi phối. Sự kiện 11 - 9 - 2001 được dùng để biện minh cho quyết định sử dụng lực lượng quân sự phát động cuộc chiến tranh chớp nhoáng ở ápganixtan (10 - 2001) và cuộc chiến tranh Irắc (3 - 2003) của Mĩ, bất chấp sự phản đối của dư luận quốc tế. Mĩ đã lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố để tăng cường sức mạnh và thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài bá chủ thế giới của mình. Chủ nghĩa đơn phương, ý đồ thiết lập trật tự thế giới đơn cực của Mĩ đã vấp phải sự chống đối không những của các nước lớn như Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc… mà còn của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Phong trào chống chiến tranh, chống chính sách hiếu chiến của Mĩ ở Irắc lan rộng khắp thế giới. Mâu thuẫn giữa chủ trương xây dựng thế giới đơn cực do Mĩ chi phối với yêu cầu thiết lập một trật tự đa cực của các nước lớn và cộng đồng quốc tế là một trong những mâu thuẫn cơ bản trong quan hệ quốc tế thời kì sau Chiến tranh lạnh.

    Thứ hai là mâu thuẫn về lợi ích dân tộc. Lợi ích dân tộc là tiêu chí hàng đầu của các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Tuy nhiên, trong thời kì chiến tranh lạnh, khi thế giới bị chia làm hai phe do hai siêu cường khống chế, lợi ích dân tộc nhiều khi bị đặt xuống dưới, thậm chí bị hi sinh để bảo vệ “lợi ích quốc tế” của mỗi phe. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu. Mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ đều xuất phát từ lợi ích dân tộc để thể hiện quan điểm, thái độ riêng đối với các vấn đề quốc tế. Thực tế cho thấy, điều đó được thể hiện trong thái độ của các nước đối với các vấn đề quốc tế lớn hiện nay như: vấn đề chống khủng bố quốc tế, cuộc chiến tranh ápganixtan, chiến tranh Irắc, vai trò của Liên Hợp Quốc, vấn đề môi trường, vấn đề hạt nhân, nhân quyền… và hàng loạt những vấn đề khác. Sự tập hợp lực lượng trở nên cơ động, linh hoạt, tuỳ theo từng vấn đề, từng thời điểm trong quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở đảm bảo tốt nhất cho lợi ích dân tộc.
    Thứ ba là mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo. Đây là mâu thuẫn đã từng tồn tại từ lâu đời trong lịch sử nhân loại. Xung đột sắc tộc, tôn giáo vốn được biết đến như những hậu quả của chính sách “chia để trị” của chủ nghĩa thực dân, đồng thời còn bắt nguồn từ sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, việc tranh giành ảnh hưởng quyền lực giữa các nhóm sắc tộc, sự xúi giục, kích động của một số thế lực bên ngoài… Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, trong xu thế dân chủ, đa nguyên, đa đảng, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo bùng nổ, lan rộng và diễn ra ngày càng quyết liệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong đó, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan có điều kiện tăng cường hoạt động và trở thành nguồn gốc của chủ nghĩa khủng bố quốc tế hiện nay. Xu hướng chính của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan là chống Mỹ và các nước phương Tây thân Mĩ, nhưng lấy thủ đoạn khủng bố làm vũ khí. Chính sách đối ngoại hiếu chiến của chính quyền Mĩ đã khiến cho Mĩ trở thành đối tượng của chủ nghĩa khủng bố ở khắp mọi nơi trên thế giới. Khủng bố quốc tế có tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế, gây bất ổn định trong nội bộ quốc gia, đồng thời tác động đến hoà bình, an ninh khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung. Tình hình sẽ trở nên đặc biệt phức tạp khi khủng bố và chống khủng bố trở thành công cụ của nhà nước này chống lại nhà nước khác, làm căng thẳng quan hệ quốc tế.
    Thứ tư là mâu thuẫn về hệ tư tưởng. Đã hơn 10 năm trôi qua sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Liên Xô tan rã, nhưng mâu thuẫn về ý thức hệ không vì thế mà mất đi. Trên bình diện quốc tế, các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mĩ vẫn chưa từ bỏ ý đồ thực hiện “diễn biến hoà bình” với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên… Biên giới của thời kỳ chiến tranh lạnh vẫn còn ở bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan. Để chống các nước xã hội chủ nghĩa, các nước tư bản không chỉ dùng diễn biến hoà bình mà còn dùng biện pháp bao vây, cấm vận, sự trừng phạt về kinh tế, đe doạ về quân sự, sử dụng chiêu bài bảo vệ dân chủ, nhân quyền… Tuy nhiên, sự tồn tại của mâu thuẫn về ý thức hệ không thể cản trở quá trình hợp tác kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay giữa các nước có hệ thống chính trị xã hội đối lập nhau. Trong tình hình đó, mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa với Mĩ và các nước tư bản chủ nghĩa khác vẫn là đối kháng về ý thức hệ song sự đối kháng đó không phải là nhân tố chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế như trong thời kỳ chiến tranh lạnh trước đây. Mâu thuẫn về ý thức hệ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội được thể hiện chủ yếu thông qua “diễn biến hoà bình” và “chống diễn biến hoà bình”. Cuộc đấu tranh này diễn ra trên nhiều phương diện và là một quá trình đấu tranh lâu dài.
    Thứ năm, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển (mâu thuẫn Bắc - Nam) tiếp tục diễn ra gay gắt, khoảng cách giữa các nước giầu với các nước nghèo ngày càng lớn. Theo báo cáo của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), tổng thu nhập kinh tế thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, vào khoảng 25.000 tỉ đôla Mĩ, trong đó các nước phát triển Mĩ, EU và Nhật chiếm tới 88%. Phần còn lại là của trên 100 nước đang phát triển. Sự cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn đã, đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, an ninh và sự thịnh vượng chung của thế giới. Tình trạng nghèo khổ, bất bình đẳng, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo bùng lên đã khiến cho quy mô của chủ nghĩa khủng bố lan tràn trên khắp các lục địa, với những hình thức hết sức đa dạng. Mâu thuẫn về khoảng cách giàu nghèo còn diễn ra trong nội bộ từng nước, đặc biệt là trong các nước tư bản phát triển. Cuộc đấu tranh đòi dân chủ, nâng cao chất lượng cuộc sống, chống thất nghiệp, tệ nạn xã hội… ở các nước tư bản diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
    Nhìn chung có thể thấy, các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn còn tồn tại, song sự vận động của chúng có những biểu hiện mới, không giống như thời kỳ chiến tranh lạnh. Điều đó có tác động quyết định đến chiều hướng phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh.


 5. Xu thế phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh
        a. Xu hướng chung:


 Thứ nhất, thế giới đang chuyển tiếp sang một trật tự thế giới mới. Thời kỳ quá độ sau chiến tranh lạnh hiện nay được các nhà nghiên cứu gọi là trạng thái “nhất siêu, nhiều cường”. Trong trạng thái này, Mĩ nổi lên là siêu cường mạnh nhất so với các cường quốc khác, với ưu thế vượt trội trên tất cả các lĩnh vực then chốt của sức mạnh. Do tương quan lực lượng giữa các nước lớn hiện nay đang có lợi cho Mĩ, cùng với những thắng lợi quân sự nhanh chóng tại ápganixtan và Irắc, nên Mĩ có chủ trương xây dựng một trật tự thế giới đơn cực do Mĩ chi phối. Tuy nhiên ảnh hưởng của Mĩ bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi sự vươn lên của các cường quốc khác như Nhật Bản, Tây Âu, Nga, Trung Quốc… Xu thế phát triển của trật tự thế giới trong tương lai là tiến tới một hệ thống đa cực, bởi lẽ nhìn trên bình diện toàn cầu, một quốc gia, dù là siêu cường duy nhất cũng không có khả năng kiểm soát thực tế toàn bộ các lĩnh vực của đời sống quốc tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hoá khiến cho Mĩ không thể và không đủ khả năng thiết lập một trật tự đơn cực mà phải dựa vào các cường quốc khác và các tổ chức quốc tế, trong đó quan trọng nhất là Liên Hợp Quốc. Việc tái thiết Irắc sau chiến tranh đã cho thấy thực tế đó. Bên cạnh đó, đặc điểm chủ yếu trong quan hệ giữa các nước trong trạng thái “nhất siêu nhiều cường” hiện nay vẫn tiếp tục là hợp tác, cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước đã tạo ra tình thế buộc các nước phải vừa hợp tác, vừa cạnh tranh nhưng tránh đối đầu, xung đột và chiến tranh.
     Thứ hai, kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của các quốc gia và trở thành động lực chính của xu thế khu vực hoà và toàn cầu hoá. Trong bối cảnh sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ, các quốc gia đều nhận thấy vấn đề cấp bách hàng đầu là phải ra sức tận dụng mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế. Cách đặt vấn đề về an ninh, quốc phòng và kinh tế về cơ bản đã khác so với thời kỳ chiến tranh lạnh. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia không còn tuỳ thuộc vào sức mạnh quân sự, chính trị mà sức mạnh kinh tế nổi lên hàng đầu và trở thành trọng điểm. Đồng thời, làn sóng tập hợp các quốc gia trong các tổ chức khu vực địa lý, từ tiểu khu vực đến đại khu vực thành những khu vực mậu dịch tự do đang diễn ra dồn dập ở hầu khắp các châu lục, thậm chí liên châu lục. Trào lưu nhất thể hoá khu vực phát triển mạnh trong thập niên 90, sẽ tiếp tục gia tăng cả về lượng và về chất trong những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với quá trình toàn cầu hoá sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống quốc tế.
     Thứ ba, quan hệ quốc tế phát triển theo xu hướng hoà dịu nhưng năng động và phức tạp hơn. Trước những đòi hỏi của tình hình thế giới, tất cả các quốc gia từ lớn đến nhỏ đều phải điều chỉnh chiến lược đối nội và đối ngoại nhằm tạo cho mình một vị thế có lợi nhất trong quan hệ quốc tế. Xu thế hoà bình, hợp tác trở thành xu thế chủ đạo trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. An ninh của mỗi quốc gia ngày nay được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển nhằm tăng cường sức mạnh quốc gia trong hội nhập quốc tế. Tất cả các quốc gia đều linh hoạt, mềm dẻo, tăng cường hợp tác, tránh đối đầu và chiến tranh, giải quyết mọi vấn đề bằng thương lượng hoà bình.
     Mặc khác ở nhiều khu vực trên thế giới, xung đột cục bộ và tình trạng bất ổn vẫn tiếp tục diễn ra. Tuy nhiên, những xung đột này khó có khả năng lan rộng, lôi cuốn sự đối đầu trực tiếp của các nước lớn, chủ yếu là do các nước lớn hiện nay đều có lợi ích lâu dài và cơ bản trong việc duy trì hoà bình để phát triển kinh tế. Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa khủng bố quốc tế trở thành mối đe doạ tiềm tàng đối với an ninh chung của thế giới. Những biến đổi của tình hình quốc tế như đã nêu ở trên làm cho xu thế đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế trở thành xu thế phổ biến của các quốc gia. Do đời sống kinh tế quốc gia đã và đang được quốc tế hoá cao độ, do nhu cầu phát triển kinh tế, các quốc gia đều phải năng động, linh hoạt thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia một cách hiệu quả nhất. Những xu thế trên tác động qua lại lẫn nhau, tạo nên những động lực cộng hưởng làm thay đổi sâu sắc nền kinh tế và diện mạo của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh. Tình hình đó đặt ra cho mỗi quốc gia trên thế giới phải có cách nhận thức đúng và kịp thời để hoạch định một chính sách đối ngoại phù hợp với trào lưu chung của thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế.
      b. Xu hướng quan hệ giữa các nước lớn:
Trong những năm tới, mục tiêu của Mỹ vẫn không thay đổi, là xác lập một  trật tự thế giới một cực dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Mục tiêu của các nước lớn Tây Âu (trước hết là Pháp và Đức) là từng bước giảm dần sự lệ thuộc vào Mỹ về mặt an ninh, những vẫn ra sức củng cố, mở rộng NATO và EU để xây dựng một châu Âu không chia cắt, dân chủ, hòa bình, ổn định và vững mạnh cả về kinh tế lẫn chính trị - an ninh. Mục tiêu của Nga là xác lập lại vị thế cường quốc, phục hồi ảnh hưởng quốc tế đã từng có và phát triển kinh tế ổn định, vững chắc, bảo đảm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Mục tiêu của Nhật Bản là trở thành cường quốc chính trị cho tương xứng với vị thế cường quốc kinh tế - tài chính vốn có, tức là tạo dựng được ảnh hưởng quốc tế lớn hơn. Mục tiêu của Trung Quốc là khẳng định vị thế cường quốc trên thế giới, cố gắng thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình. Mục tiêu của Ấn  Độ là khẳng định vị thế cường quốc khu vực châu Á, trở thành thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.
    Chính do tác động của những nhân tố chủ quan và khách quan kể trên mà cục diện quan hệ giữa các nước lớn những năm đầu thế kỷ XXI có những nét mới rất khác so với thời kỳ trước đó.
     - Quan hệ Mỹ - Trung: Do Trung Quốc đang mạnh dần lên về kinh tế, Mỹ hy vọng Trung Quốc tiếp tục chuyển hướng kinh tế thị trường, thay đổi hệ tư tưởng và hệ thống chính trị theo mô hình phương Tây. Để khuyến khích khuynh hướng ấy, Mỹ giảm áp lực đối với Trung Quốc về vấn đề tự do, dân chủ, quyền con người, không gắn những vấn đề đó với vấn đề kinh tế - thương mại, tạo điều kiện cho Trung Quốc gia nhập WTO và tăng cường hợp tác kinh tế.
     Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc đang có những phức tạp do mâu thuẫn về địa chính trị, trong đó hai vấn đề nổi cộm, nhạy cảm nhất là vấn đề Tây Tạng và Đài Loan. Hai nước đã tỏ ra thông cảm và thân thiện, nhưng  vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất. Tuy nhiên, Mỹ không muốn đẩy quan hệ hai nước đến đổ vỡ để Trung Quốc tìm đến sự bảo trợ của Nga. Về phía mình, Trung Quốc chọn sách lược xoa dịu các mâu thuẫn, không muốn làm tăng sự đối đầu với Mỹ, ngay cả khi đã liên minh với Nga. Trong thời gian tới, quan hệ Mỹ - Trung còn phụ thuộc vào các nhân tố: mức độ tiến hành cuộc chiến chống khủng bố; nhận thức của chính quyền Mỹ về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Trung Quốc, coi Trung Quốc là đối tác hay đối thủ trong cạnh tranh chiến lược; quan hệ Trung Quốc – Đài Loan… Dù còn nhiều bất đồng nhưng quan hệ hợp tác Mỹ - Trung vẫn tiếp tục phát triển.
      - Quan hệ Nga – Mỹ: Quan hệ giữa hai nước phát triển hay căng thẳng chính do lợi ích chiến lược của mỗi nước quy định. Tuy đạt được nhiều thỏa thuận, cam kết, nhưng giữa hai nước vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn mang tính chiến lược như “đa cực hay đơn cực” và những mâu thuẫn cụ thể như thái độ đối với Irắc, Iran, Côsôvô, mở rộng NATO… Trên thực tế, Mỹ vẫn không từ bỏ chính sách kiềm chế Nga, vì nếu Nga phục hồi sẽ đe dọa sự lãnh đạo thế giới của Mỹ. Không thể chi phối Nga như dưới thời B.Enxin, hiện nay Mỹ tiếp tục chính sách vừa hợp tác vừa khống chế Nga, bằng mọi cách ngăn chặn nguy cơ quay lại chủ nghĩa cộng sản ở Nga. Về phần mình, Nga muốn hòa nhập với phương Tây, giảm căng thẳng bất đồng với Mỹ để tạo môi trường hòa bình phát triển kinh tế, giải quyết những bất đồng nội bộ, không nhấn mạnh việc khôi phục vị trí nước lớn. Đầu năm 2007, tiếp theo sự thành công trong việc mở rộng NATO, EU về phía đông, Mỹ tiến thêm một bước khi lên kế hoạch triển khai 10 hầm tên lửa đánh chặn ở Ba Lan và hệ thống cảnh báo rađa ở Séc, áp sát nước Nga. Tổng thống Nga đã phản đối quyết liệt và tuyên bố xây dựng học thuyết quân sự mới, trong đó đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các loại vũ khí hiện đại đủ khả năng bảo vệ nước Nga, dọa sẽ rút khỏi Hiệp ước tên lửa hạt nhân tầm trung (ký năm 1987) nếu Mỹ không từ bỏ tham vọng lá chắn phòng thủ tên lửa ở châu Âu. Tóm lại, mặc dù quan hệ Nga – Mỹ đã được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại nhiều trở ngại.
      - Quan hệ Mỹ - EU: Vấn đề Trung Đông (Irắc, Iran, Palextin – Ixraen), đặc biệt là cuộc chiến Irắc, không tạo thành lợi ích hạt nhân trong quan hệ giữa các nước lớn, kể cả quan hệ Mỹ - EU. Các cường quốc sẽ không thể xảy ra đối kháng về thực chất vì vấn đề này. Những bất đồng giữa Mỹ và EU xoay quanh vấn đề Irắc đã dịu đi. Do lợi ích trong hợp tác phát triển, các bên đã nhanh chóng cải thiện quan hệ và liên minh Mỹ - EU tiếp tục được củng cố. Vấn đề căn bản hiện nay là sức mạnh của EU vẫn chưa đủ, chưa thể tự bảo vệ được mình, nếu xảy ra chiến tranh (như Nam Tư trước đây) thì vẫn phải dựa vào Mỹ. Tuy nhiên, quan hệ hai bên sẽ diễn tiến theo xu hướng “vừa hợp tác vừa cạnh tranh”. Mỹ tiếp tục tìm cách khẳng định vai trò bá chủ của mình tiến tới xây dựng thế giới đơn cực dưới sự lãnh đạo của Mỹ, còn EU sẽ tham gia nhiều hơn vào giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế, nâng cao uy tín chính trị, phấn đấu cho một thế giới. 
   Trong thời kỳ hiện nay, Mỹ, các nước chủ chốt EU và Nhật Bản lợi dụng ưu thế nhiều mặt, ráo riết thực hiện các chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Về bản chất, chủ nghĩa tư bản không có sự đoàn kết thống nhất, nhưng trong điều kiện nhất định, các cường quốc tư bản vẫn có khả năng tạo lập sự hợp tác, phối hợp, đồng thuận và tìm kiếm tiếng nói chung trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh và phát triển. Tuy nhiên, họ không thể che giấu nổi những mâu thuẫn cố hữu. 
     Hiện nay, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển hiện trên ba vấn đề lớn: xác lập trật tự thế giới, phân chia thị trường toàn cầu và cạnh trạnh ưu thế phát triển. Các mâu thuẫn tuy vẫn gay gắt, phức tạp, nhưng được khống chế trong giới hạn nhất định. Một số mâu thuẫn, bất đồng được tháo gỡ thông qua thương lượng, thỏa hiệp. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản hiện nay là mối quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh, vừa hướng tâm vừa ly tâm, vừa phối hợp vừa chế ước nhau. Những véctơ thuận - nghịch đa chiều này tạo ra mâu thuẫn biện chứng ngay trong lòng mối quan hệ nội bộ của chủ nghĩa tư bản hiện đại.
    - Trong những năm tới, các cặp quan hệ Mỹ - Nhật, Trung - Nhật và Nga - Nhật có lẽ là những mối quan hệ ít thay đổi nhất. Quan hệ Mỹ - Nhật vẫn là quan hệ đồng minh, liên minh chặt chẽ, nước này luôn coi nước kia là hòn đá tảng trong chiến lược đối ngoại và an ninh của mình, và tính chất này nhìn chung không thay đổi trước những thăng trầm của lịch sử thế giới. Sau sự kiện 11 – 9, Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở một số nước châu Á – Thái Bình Dương, nhưng các căn cứ trên đất Nhật Bản vẫn là những mắt khâu chính yếu và quan trọng nhất để Mỹ triển khai chiến lược an ninh ở khu vực này. Trên thực tế, trong quan hệ song phương và trên trường quốc tế, Mỹ đang lợi dụng Nhật hơn là hợp tác bình đẳng với Nhật. Nhật vẫn bị Mỹ coi là đồng minh đàn em, và không hiếm khi Mỹ qua mặt Nhật trong các vấn đề quốc tế và trong quan hệ với những nước lớn khác.Về phần mình, do vẫn là “người khổng lồ một chân” nên Nhật Bản phải tiếp tục dựa vào Mỹ để bảo đảm an ninh và xử lý các mối quan hệ song phương, đa phương khác. Song, Nhật Bản cũng đang điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng cân bằng, đề cao tính độc lập tự chủ hơn trong quan hệ với Mỹ. Để trở thành cường quốc chính trị thế giới, Nhật Bản cho rằng cần phải thay đổi hình ảnh của mình trong con mắt của cộng đồng quốc tế (tức là hình ảnh một cái bóng luôn đi theo Mỹ), rằng Nhật Bản phải phát huy vai trò quốc tế không chỉ ở lĩnh vực kinh tế - tài chính, mà cả ở lĩnh vực chính trị - an ninh quốc tế.
      Trong quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản là nước cung cấp nguồn viện trợ ODA lớn nhất, là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Nhật Bản không thể không coi trọng một Trung Quốc đang có sức mạnh quốc gia tổng hợp và ảnh hưởng quốc tế ngày càng tăng. Nhưng giữa hai nước cũng đang tồn tại nhiều bất đồng nên quan hệ Nhật – Trung vừa có sự hợp tác tích cực, vừa có sự nghi kỵ, dè chừng, kiềm chế lẫn nhau. Trung Quốc vừa muốn thúc đẩy quan hệ với Mỹ để kiềm chế Nhật Bản, đẩy lùi nguy cơ Mỹ - Nhật câu kết với nhau gây áp lực với Trung Quốc, vừa muốn cải thiện quan hệ với Nhật để tận dụng tối đa thế mạnh kinh tế - tài chính, khoa học - công nghệ của nước này.
    Quan hệ Nga –Nhật nhìn chung chưa có tiến triển gì đáng  kể trong cục diện những năm gần đây. Hai nước vẫn chưa ký được Hiệp ước hòa bình, vấn đề quần đảo Curin vẫn là nhân tố chủ yếu cản  trở quan hệ bình thường giữa họ. Có thể nói, đây là cặp yếu nhất trong tứ giác chiến lược Mỹ - Trung - Nga - Nhật sau Chiến tranh lạnh.
   - Trong quan hệ Nga - Trung - Ấn, mặc dù cả ba nước đều có những thế mạnh riêng, nhưng đều bị chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan quá khích đe dọa an ninh với với mức độ khác nhau (Nga với vấn đề Chécnhia, Ấn Độ với vấn đề Casơmia, Trung Quốc với vấn đề Tân Cương). Chính vì vậy, ba nước có những quan điểm khá tương đồng trong vấn đề chống khủng bố quốc tế, và điều rất đáng chú ý là quan hệ giữa họ không còn bị nhân tố Pakixtan gây xung khắc, chia rẽ ở mức độ lớn như thời kỳ Chiến tranh lạnh. Hơn nữa, cũng như Trung Quốc, Ấn Độ là nước chủ yếu nhập vũ khí từ Nga, còn Nga rất quan tâm hợp tác với Ấn Độ - cường quốc phần mềm máy tính toàn cầu đang nổi lên. Cả ba nước (lúc đầu là Nga và Trung Quốc, muộn hơn là Ấn Độ) đều chủ trương cải thiện quan hệ với Mỹ và ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố quốc tế. Nhưng đồng thời, họ cũng cảnh giác với ý đồ chiến lược của Mỹ là xác lập chỗ đứng lâu dài ở vành đai địa – chiến lược quan trọng đối với cả ba nước, là vành đai kéo dài từ Trung Đông qua Trung Á tới Đông Bắc Á. Đối với Mỹ, lợi ích địa – chính trị, địa – kinh tế ở khu vực này không kém phần quan trọng so với lợi ích an ninh. Vì vậy, cả ba nước Nga, Trung Quốc, Ấn Độ đều có nhu cầu hợp tác với nhau để hạn chế chính sách cường quyền, bành trướng của Mỹ. Mặc dù quan hệ giữa Ấn Độ với Nga và với Trung Quốc chưa thể tiến tới mức độ hợp tác, hiểu biết và tin cậy như giữa Nga và Trung Quốc, nhưng vì những lý do trên mà được cải thiện rõ rệt. Biểu hiện gần đây nhất là Ấn Độ tỏ ý muốn gia nhập Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) do Nga và Trung Quốc sáng lập năm 2000. Tuy nhiên, quan hệ liên kết Nga - Trung - Ấn chưa có dấu hiện chứng tỏ là một “tam giác chiến lược”. Và dù có hình thành thì “tam giác” đó cũng không phải là một khối liên minh quân sự - chính trị, mà sẽ là một trục các quan hệ đối tác mềm dẻo để đối phó hiệu quả hơn với các vấn đề toàn cầu, từ khủng bố quốc tế cực đoan đến xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới.
       Như vậy, có nhiều nhân tố chủ quan và khách quan thúc đẩy sự hợp tác, liên kết giữa các nước lớn những năm đầu thế kỷ XXI, nhưng trong sâu xa quan hệ giữa họ vẫn chứa đầy mâu thuẫn, xung đột. Có thể quy lại ở mâu thuẫn giữa đơn cực và đa cực, giữa Mỹ và các nước lớn khác trong việc vẽ lại bản đồ chính trị - an ninh – kinh tế thế giới. Quan hệ giữa các nước lớn còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cục diện quan hệ giữa họ còn tiếp tục thay đổi khó lường. Hơn nữa, trong thời điểm hiện nay, khi tình hình Irắc sau chiến tranh, vấn đề hạt nhân ở Iran và Bắc Triều Tiên, quan hệ Palextin – Ixraen … còn diễn biến phức tạp, lại liên quan trực tiếp đến lợi ích của các nước lớn (nên chắc chắn họ có sự mặc cả với nhau để dàn xếp lợi ích), thì cục diện đó càng khó đoán định. Với cục diện quan hệ giữa các nước lớn như vậy, trật tự thế giới mới khó có thể được xác lập trong tương lai gần.
        6.  Vai trò của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
      Thứ nhất, mặc dù còn có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã vượt qua được cơn chấn động chính trị do sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, kiên cường đấu tranh để trụ vững và phát triển.
     Thứ hai, rút kinh nghiệm từ những bài học thành công và thất bại của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu và những kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình, các đảng cộng sản cầm quyền đang tích cực tìm tòi sáng tạo, cả về lý luận và thực tiễn, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước mình nhằm khắc phục những khuyết tật của mô hình Xôviết trước đây; khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nước mình, dân tộc mình, phù hợp với những biến đổi diễn ra trên thế giới.
   Thứ ba, thế và lực của chủ nghĩa xã hội hiện thực đã khác so với thời kỳ những năm 90 của thế kỷ XX và đang có chiều hướng tăng lên. Ở các khu vực khác trên thế giới, tình hình các đảng còn nhiều khó khăn, thể hiện trên hai mặt chủ yếu sau:

- Thực lực các đảng còn yếu, công tác phát triển đảng gặp nhiều khó khăn, điều kiện hoạt động rất eo hẹp (thiếu tài chính, phương tiện hoạt động, ít khả năng tiếp cận các phương tiện truyền thông hiện đại…).
- Không gian chính trị của các đảng ở mỗi nước đều trở nên khắc nghiệt hơn bởi các nhân tố:
+ Chính sách chống cộng của chính quyền (Ủy ban chính trị Hội đồng nghị viện châu Âu thông qua Nghị quyết số 1481 Về sự cần thiết lên án quốc tế đối với tội ác của chủ nghĩa cộng sản; Tổng thống G.Bush so sánh cuộc chiến chống khủng bố giống như chống chủ nghĩa cộng sản…).
+ Sự gia tăng kiểm soát từ phía chính quyền các nước trong “cuộc chiến chống khủng bố”.
+ Sự cạnh tranh từ phía các lực lượng chính trị khác, như các lực lượng xã hội – dân chủ, dân tộc, tôn giáo…
+ Sự phát triển của các tổ chức “xã hội dân sự” ở các nước châu Âu, Bắc Mỹ và khu vực SNG cũng đang tác động phức tạp đến hoạt động của các đảng ở những nước này.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn đó, các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới có bước phục hồi rõ rệt:
- Ở các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu: sau một thời gian ngắn bị tê liệt, thậm chí bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, bị cấm hoạt động, từ năm 1993 – 1994 các đảng cộng sản đã sớm khôi phục, đấu tranh giành lại được quyền hoạt động công khai, hợp pháp. Nhiều đảng đã tham gia tranh cử trong các cuộc bầu cử quốc hội, bầu cử tổng thống, bầu cử địa phương và một số đảng giành được vị trí quan trọng. Tuy nhiên, phần lớn các đảng vẫn ở vị thế đảng đối lập, chiếm thiểu số ở quốc hội. Ở nhiều nước, vẫn còn tình trạng trong một số nước tồn tại nhiều đảng cộng sản và công nhân (ở Nga có hơn 10 đảng). Phong trào cộng sản và công nhân đã có bước phục hồi nhưng vẫn còn khó khăn, chưa ra khỏi khủng hoảng.
- Ở các nước Tây Bắc Âu và Bắc Mỹ, quá trình hồi phục của các đảng cộng sản và công nhân rất rõ. Vào cuối thập kỷ 90 thế kỷ XX, các đảng đã dần lấy lại được vị trí của mình, thể hiện qua việc các đảng tham gia tranh cử và giành được sự ủng hộ của các cử tri và lập được đảng đoàn trong quốc hội các nước.
- Ở Nam Á, một số đảng cộng sản và công nhân đã trở thành lực lượng chính trị quan trọng trên chính trường các nước. Hai đảng cộng sản ở Ấn Độ giữ vai trò nòng cốt trong mặt trận cánh tả đang cầm quyền nhiều năm ở một số bang.
- Ở Mỹ Latinh mấy năm gần đây đã xuất hiện trào lưu cánh tả. Thông qua thực tế đấu tranh và các diễn đàn quốc tế của các đảng cộng sản và cánh tả họp hằng năm ở khu vực (Diễn đàn Xao Paolô) cũng như Diễn đàn  xã hội thế giới, các đảng cộng sản và cánh tả Mỹ Latinh đã làm cho quần chúng nhân dân ở các nước thấy được sự cần thiết khách quan phải thực hiện những cải cách sâu rộng, từ bỏ mô hình kinh tế chủ nghĩa tự do mới, thực hiện dân chủ và tiến bộ xã hội.
Nhiều đảng cộng sản và công nhân trên thế giới thông qua cương lĩnh chính trị của mình. Trong các bản cương lĩnh đó nổi lên mấy điểm đáng chú ý: Các đảng đều thống nhất đánh giá bản chất sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu không phải là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội, mà chỉ là sự thất bại của một mô hình cụ thể. Các đảng thừa nhận có nhiều mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà chỉ là sự thất bại của một mô hình cụ thể. Các đảng thừa nhận có nhiều mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội và mỗi đảng phải lựa chọn mô hình phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của nước mình, dân tộc mình. Các đảng cho rằng, sự phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đã và đang tạo ra các tiền đề cho chủ nghĩa xã hội; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải qua nhiều thời kỳ.
    Ngày nay các đảng cộng sản và công nhân quốc tế đều thống nhất tăng cường quan hệ trên cơ sở 5 nguyên tắc: độc lập, tự chủ; bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; đoàn kết và hữu nghị.
- Các hình thức quan hệ chủ yếu giữa các đảng vẫn là trao đổi đoàn, trao đổi thông tin, tài liệu, dự đại hội, tổ chức hội thảo, diễn đàn, nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm của nhau…
- Trong thời gian qua, đã hình thành một số diễn đàn hợp tác khu vực và quốc tế thường niên giữa các đảng cộng sản, công nhân và cánh tả thế giới.
Nhìn chung, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng, nhưng đã vượt qua được thời kỳ khó khăn nhất, bắt đầu hồi phục và có những bước phát triển mới.
    Mặc dù so sánh tương quan lực lượng quốc tế vẫn còn đang nghiêng về phía các thế lực tư bản, đế quốc, nhưng sự hồi phục của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, đặc biệt là những thành tựu đạt được của các nước xã hội chủ nghĩa, cho thấy rằng, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang có một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước cũng như trong đời sống chính trị quốc tế đương đại. Trong các vấn đề lớn của thế giới, như chiến tranh và hòa bình, thì những người cộng sản vẫn là những người đi tiên phong trong cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình. Trên vấn đề phát triển thì những người cộng sản cũng đi tiên phong trong cuộc đấu tranh vì sự phát triển bền vững của mỗi dân tộc và của cả loài người, vì dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội.
7. Kinh nghiệm lịch sử đối với Việt Nam
        Về mặt lợi ích chiến lược, phải gắn dân tộc với giai cấp, quốc gia với quốc tế
        Phương châm, phương hướng phải luôn luôn đảm bảo môi trường quốc tế thuận lợi cho tiến trình cách mạng trong nước, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới.
        Sách lược, biện pháp cụ thể phải linh hoạt, sáng tạo trong từng điều kiện cụ thể
        Luôn luôn giữ vững các mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội khi mở rộng quan hệ quốc tế. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc


-------------------------------------------------------------------
(1) Phần này tham khảo từ bài viết của Phan Doãn Nam. Nghiên cứu quốc tế số 53, 8-2003 Học viện QHQT.


Tài liệu tham khảo phần 2 (1945 - 2005): 
1. Nguyễn Quốc Hùng, Quan hệ quốc tế thế kỷ XX. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000. 
2. Nguyễn Anh Thái - Lịch sử thế giới hiện đại (1917 - 1995). NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001.
3. Trần Văn Đào - Phan Doãn Nam, Lịch sử quan hệ quốc tế 1945 - 1990. Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2001.
4. Viện Thông tin KHXH, Trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh. Chuyên đề thông tin KHXH, Hà Nội, 2001.
5. Việt Nam, Con số và sự kiện (1945 - 1989), Nxb Sự thật, Hà Nội.
6. Nguyễn Quốc Hùng - Hoàng Khắc Nam, Quan hệ quốc tế - những khía cạnh lý thuyết và vấn đề, NXB Chính trị quốc gia, 2006.
7. Nguyễn Cơ Thạch, Thế giới trong 50 năm qua (1945 - 1995) và thế giới trong 20 năm tới (1996 - 2020), NXb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1998.
8. Hoàng Ngọc Thành, Lịch sử chính trị và bang giao quốc tế thế giới hiện đại (1918 đến nay), quyển 2, NXB Lửa thiên, 1971


Câu 1. Sự hình thành Trật tự thế giới hai cực Ianta. So sánh những điểm giống và khác nhau giữa Trật tự Vécxai - Oasinhtơn với Trật tự hai cực Ianta ?
Câu 2. Những diễn biến chính của cuộc chiến tranh lạnh ? Tại sao Xô-Mĩ chấm dứt chiến tranh lạnh ?
Câu 3. Trật tự hai cực Ianta đã sụp đổ như thế nào ?
Câu 4. Phân tích những mâu thuẫn cơ bản trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh ?
Câu 5. Nêu nhận xét của anh (chị) về xu thế phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh.



   
    
     

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét