Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

VAI TRÒ CỦA LIÊN XÔ VÀ XTALIN TRONG CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
Roles of the Soviet Union & Stalin in the Korean War
Chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 là cuộc đối đầu quân sự cục bộ lớn nhất đầu tiên giữa hai phe XHCN và tư bản chủ nghĩa ngay sau Thế chiến II. Trước đây sách báo hai phe đưa ra những tư liệu khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về sự kiện lớn này.
Phụ nữ trẻ em là nạn nhân đầu tiên
Phụ nữ, trẻ em là nạn nhân đầu tiên
Đầu thập kỷ 90, chính quyền Nga bắt đầu công bố nhiều tư liệu liên quan như các hồi ký và bài viết, bài phỏng vấn một số nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên tỵ nạn tại Liên Xô cũ ; đồng thời giải toả hơn 1000 trang tài liệu mật của 3 Cục Lưu trữ Hồ sơ, trong đó có thư, điện trao đổi giữa Xtalin với lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành và lãnh tụ Trung Quốc (TQ) Mao Trạch Đông. Tháng 6.1994, Tổng thống Nga Yeltsin trao cho TT Hàn Quốc Kim Young Sam 215 bộ hồ sơ của Liên Xô cũ có liên quan tới chiến tranh Triều Tiên; phía Hàn Quốc đã dịch và xuất bản thành sách “Trích yếu các văn kiện chiến tranh Hàn Quốc”. Bản tiếng Anh tài liệu này cũng đã xuất bản ở một số nước.
TQ cuối thập kỷ 80 đã công bố lần đầu tiên nhiều tài liệu về chiến tranh Triều Tiên rải rác trong một số sách như “Các bài viết của Mao Trạch Đông từ ngày thành lập nước”, “Tuyển tập quân sự Bành Đức Hoài”, “Tuyển tập Ngoại giao Chu Ân Lai”, “Tuyển tập quân sự Mao Trạch Đông” v.v… Ngoài ra còn xuất bản một số bài báo, hồi ký, phỏng vấn các nhân vật liên quan. Giới sử học thế giới đã tổ chức 2 cuộc hội thảo quốc tế về Chiến tranh Lạnh (Washington 12.1995 và Hongkong 1.1996). Nhờ đó việc nghiên cứu lịch sử cuộc chiến tranh Triều Tiên đã có tiến triển lớn. Cho tới nay tuy vẫn có những ý kiến bất đồng song dù sao nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ. Dưới đây xin bàn về vai trò của Liên Xô và của cá nhân Xtalin trong cuộc chiến tranh nói trên.


TQ cuối thập kỷ 80 đã công bố lần đầu tiên nhiều tài liệu về chiến tranh Triều Tiên rải rác trong một số sách như “Các bài viết của Mao Trạch Đông từ ngày thành lập nước”, “Tuyển tập quân sự Bành Đức Hoài”, “Tuyển tập Ngoại giao Chu Ân Lai”, “Tuyển tập quân sự Mao Trạch Đông” v.v… Ngoài ra còn xuất bản một số bài báo, hồi ký, phỏng vấn các nhân vật liên quan. Giới sử học thế giới đã tổ chức 2 cuộc hội thảo quốc tế về Chiến tranh Lạnh (Washington 12.1995 và Hongkong 1.1996). Nhờ đó việc nghiên cứu lịch sử cuộc chiến tranh Triều Tiên đã có tiến triển lớn. Cho tới nay tuy vẫn có những ý kiến bất đồng song dù sao nhiều vấn đề đã được làm sáng tỏ. Dưới đây xin bàn về vai trò của Liên Xô và của cá nhân Xtalin trong cuộc chiến tranh nói trên.
Sau Thế chiến II, theo Hiệp nghị Potsdam (7.1945) quy định, bán đảo Triều Tiên chia làm 2 miền cách nhau bởi vĩ tuyến 38; phía bắc do Liên Xô, phía nam do Mỹ chiếm đóng. Tháng 5 năm 1948, nước Cộng hoà Nhân dân Dân chủ Triều Tiên (sau đây gọi tắt là Bắc Triều Tiên) thành lập dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Kim Nhật Thành. Đồng thời ở miền Nam cũng thành lập nước Cộng hoà Triều Tiên (gọi tắt Nam Triều Tiên) do Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) đứng đầu.
Liên Xô có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng chính quyền và lực lượng quân sự của Bắc Triều Tiên. Xtalin cho rằng bán đảo Triều Tiên có tầm chiến lược quan trọng, nếu Nam Triều Tiên được giải phóng thì phạm vi thế lực của Liên Xô sẽ được mở rộng tới sát Nhật Bản, đối thủ kỳ cựu đáng gờm nhất của nước Nga từ cuối thế kỷ XIX. Tuy vậy Liên Xô không muốn đụng độ với Mỹ; vì thế dù Kim Nhật Thành nhiều lần đề nghị Liên Xô giúp thống nhất đất nước nhưng Xtalin đều chưa tán thành mà chỉ chủ trương tăng viện trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên. Cuối năm 1948, Liên Xô chủ động rút quân ra khỏi Bắc Triều Tiên, nhưng tình hình bán đảo này vẫn rất căng thẳng. Bắc Triều Tiên tố cáo Lý Thừa Vãn tập trung 40 nghìn quân sát vĩ tuyến 38 định tấn công miền Bắc. Tháng 3. 1949, Kim Nhật Thành sang Liên Xô bàn với Xtalin vấn đề bảo vệ Bắc Triều Tiên. Sau đó ít lâu, Xtalin nhận được tin tình báo Bắc Triều Tiên cho biết: tháng 5.1949 Mỹ sẽ rút hết quân ra khỏi Nam Triều Tiên, Lý Thừa Vãn quyết định tháng 6 tấn công lên phía Bắc. Xtalin rất lo vì Bắc Triều Tiên lúc này mới có 3 sư đoàn bộ binh, so với Nam Triều Tiên có 6 sư đoàn trang bị vũ khí Mỹ hiện đại. Xtalin bèn đề nghị Kim Nhật Thành bàn với Mao Trạch Đông cho tất cả các binh sĩ TQ người gốc Triều Tiên (chừng 12 nghìn người) mang theo vũ khí biên chế vào quân đội Bắc Triều Tiên. Tới tháng 9.1949, quân đội Bắc Triều Tiên đã có 90 nghìn người, trang bị đày đủ các loại vũ khí nặng nhẹ. Kim Nhật Thành nhận định: nếu tình hình quốc tế cho phép thì Bắc Triều Tiên có thể chiếm Nam Triều Tiên trong vòng từ 2 tuần đến 2 tháng.
Tình hình thuận lợi đó đã xuất hiện khi hai ngày 5 và 12 tháng 1.1950 Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố vành đai an toàn của Mỹ không bao gồm Nam Triều Tiên và Đài Loan; Mỹ sẽ không dùng hành động quân sự trực tiếp bảo vệ khu vực này. Hai tuần sau, Xtalin báo Kim Nhật Thành biết ông sẵn sàng bàn việc thống nhất Triều Tiên, đồng thời Liên Xô tăng viện trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên lên tới mức 300 triệu rúp. Lúc này Xtalin càng tích cực ủng hộ giải phóng Nam Triều Tiên vì tình báo Liên Xô vừa bắt được điện mật của tướng MacArthur (Tư lệnh Quân đội Mỹ chiếm đóng Nhật) gửi từ Nhật về Mỹ, nêu chủ trương không can thiệp vào cuộc xung đột Nam-Bắc Triều Tiên. Tuy thế, Xtalin vẫn thận trọng nhắc Kim Nhật Thành chỉ được dùng hình thức phản công khi Nam Triều Tiên tấn công trước, và kế hoạch phản công đó phải được Mao Trạch Đông đồng ý. Có điều đáng nói là Xtalin không hề lộ cho Mao Trạch Đông biết ý định nói trên, mặc dù lúc đó Mao Trạch Đông đang ở thăm Liên Xô (từ ngày 16.12.1949 đến ngày 27.2.1950) và tích cực đề nghị Xtalin giúp TQ giải phóng Đài Loan trước, giúp Bắc Triều Tiên giải phóng Nam Triều Tiên sau.
Ngày 30 tháng 3, Kim Nhật Thành bí mật đến Liên Xô gặp Xtalin bàn vấn đề trên; trước khi đi, ông có báo cho Mao Trạch Đông biết về chuyến đi đó. Trung tuần tháng 5.1950, Kim Nhật Thành đến TQ thông báo kết quả cuộc hội đàm ở Moskva. Bị đặt trước một sự việc đã rồi và được Xtalin an ủi bằng cách dành cho TQ quyền quyết định tối hậu về cuộc chiến tranh Triều Tiên, Mao Trạch Đông miễn cưỡng đồng ý với kế hoạch tấn công của Bắc Triều Tiên và đồng ý giúp về quân sự nếu Bắc Triều Tiên có nhu cầu.
Được Liên Xô và TQ ủng hộ hết lòng, Kim Nhật Thành ráo riết chuẩn bị hành động. Liên Xô tích cực viện trợ vũ khí và cử hơn 3000 cố vấn quân sự sang giúp Bắc Triều Tiên; đổ đồng cứ 45 lính Bắc Triều Tiên có 1 cố vấn Liên Xô. Trung tướng Vaxilev dẫn đầu đoàn cố vấn lập kế hoạch tác chiến, yêu cầu trong 22-27 ngày phải chiếm xong Nam Triều Tiên. Ngày 11 tháng 6.1950, chính quyền Lý Thừa Vãn từ chối đề nghị hoà bình thống nhất đất nước của Bắc Triều Tiên. Sau đó ngày 25 lại xảy ra vụ khiêu khích của quân đội Nam Triều Tiên tại vĩ tuyến 38. Lập tức 7 sư đoàn quân Bắc Triều Tiên ém sẵn tại đây tràn qua giới tuyến quân sự, ào ào tiến xuống miền Nam như thác lũ. Trong các bức điện ngày 1 và 6 tháng 7, Xtalin viết: Liên Xô sẽ “hoàn toàn thoả mãn yêu cầu của Bắc Triều Tiên về vận chuyển vũ khí và các trang bị quân sự khác”, “sẽ cung cấp toàn diện các loại vũ khí, xe tăng v.v…” Viện trợ quân sự của Liên Xô trong năm 1950 lên tới kỷ lục 870 triệu rúp. Nhờ vậy quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm gần hết Nam Triều Tiên, trừ khi tới mỏm Pusan tận cùng phía Nam mới gặp chống cự đáng kể.
Xtalin theo dõi chiến sự từng ngày, liên tục gửi điện chỉ đạo tác chiến cho Kim Nhật Thành. Khi thấy sau khi chiếm được Seoul, quân Bắc Triều Tiên ngừng tiến công để nghỉ ngơi và chỉnh đốn, Xtalin liền chỉ thị Kim Nhật Thành: “tuyệt đối phải tiếp tục tấn công, phải giải phóng Nam Triều Tiên sớm nhất, không để cho Mỹ có cơ hội tham chiến.” Ngày 28 tháng 8, ông đề nghị Kim Nhật Thành tập trung không quân vào nhiệm vụ tấn công; sau khi hứa “sẽ cung cấp thêm máy bay” ông an ủi “chớ nên lo nghĩ về việc chưa giành được thắng lợi hoàn toàn”, và ca ngợi Bắc Triều Tiên “đã trở thành ngọn cờ của phong trào giải phóng châu Á”.
Tuy vậy, Xtalin không muốn công khai việc Liên Xô giúp Bắc Triều Tiên về quân sự. Ông cấm các cố vấn quân sự Liên Xô vượt vĩ tuyến 38 với lý do “không muốn để lại chứng cớ để người ta tố cáo Liên Xô tham dự cuộc chiến tranh này, đây là việc của Kim Nhật Thành”. Khi đà tấn công bị chững lại do máy bay Mỹ ném bom đội hình hành quân, ngày 8 tháng 7, Kim Nhật Thành đề nghị cho 25-35 cố vấn quân sự Liên Xô vượt vĩ tuyến 38 xuống giúp Bộ Tham mưu mặt trận và Quân đoàn II, Xtalin buộc phải đồng ý nhưng nhấn mạnh các cố vấn này phải lấy danh nghĩa là “phóng viên báo Sự Thật”, và chỉ “đến Bộ Tư lệnh Mặt trận mà không xuống đơn vị chiến đấu.”
Ngày 15 tháng 9, quân Mỹ đổ bộ Incheon ở phía Tây Seoul; cắt đường rút lui của quân đội Bắc Triều Tiên; chiến cuộc bắt đầu bất lợi khiến Xtalin rất lo lắng. Ngày 18, ông yêu cầu Kim Nhật Thành điều ngay 4 sư đoàn từ Pusan về Seoul, và chỉ thị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô Vaxilevxki lập kế hoạch cho không quân Liên Xô bảo vệ thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Triều Tiên, điều một số biên đội máy bay, ra-đa và bộ đội phòng không sang đóng ở ngoại ô Bình Nhưỡng. Xtalin còn cử Phó Tổng Tham mưu trưởng Xakharov (đổi tên là Matveev) dẫn đầu một phái đoàn sang Bắc Triều Tiên mang theo lệnh của Xtalin: ngừng tấn công vành đại phòng thủ Pusan, rút bộ đội về giữ Seoul. trong bức điện ngày 27 tháng 9, Xtalin trách “Bộ Tư lệnh Mặt trận, Bộ tư lệnh Quân đoàn (Bắc Triều Tiên) đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chỉ huy quân sự, nhất là về chiến thuật”, và phê bình “các cố vấn quân sự Liên Xô có trách nhiệm càng lớn hơn về các sai lầm đó”, họ đã “ngu xuẩn” trong việc vận dụng chiến thuật xe tăng và tỏ ra “thiếu hiểu biết” trong công tác tình báo; tình hình mặt trận xấu đi là do các cố vấn Liên Xô coi nhẹ “ý nghĩa chiến lược của việc địch đổ bộ Incheon …. Điều đó cộng với sự thiếu tầm mắt chiến lược đã khiến họ nghi ngờ tính tất yếu của việc rút bộ đội từ miền Nam về Seoul; việc điều động bộ đội đã bị kéo dài và gác lại”. Ông cho rằng “nếu thi hành đúng và kịp thời lệnh của Bộ Thống soái Tối cao Liên Xô về việc rút 4 sư đoàn từ mặt trận chính về Seoul” thì “lẽ ra đã có thể thay đổi căn bản tình hình ở Seoul”.
Trong bức điện ngày 1 tháng 10, Xtalin trách các cố vấn Liên Xô chưa góp ý cho lãnh đạo Bắc Triều Tiên, “do đó đã làm cho thái độ dao động của Bắc Triều Tiên càng nặng hơn”; ông trách Matveev “không chuyển về cho Moskva biết các nhận định về chiến cuộc ở Triều Tiên và chưa đề xuất bất cứ kiến nghị nào cần thiết”, do đó đã gây khó khăn cho Liên Xô khi đưa ra các quyết sách và dẫn đến việc “lãnh đạo Bắc Triều Tiên chưa có bất kỳ kế hoạch nào bảo vệ nước cộng hoà ở phía Bắc vĩ tuyến 38, chưa có kế hoạch rút quân từ Nam Triều Tiên về.”
Ngày 28 tháng 9.1950, Bộ Chính trị Đảng Lao động Triều Tiên họp, nhận định không còn đủ sức ngăn quân đội “Liên Hợp Quốc” (tức Mỹ và đồng minh) vượt vĩ tuyến 38, và thông qua thư yêu cầu Liên Xô, TQ lập tức viện trợ quân sự trực tiếp. Trong bức thư của hội nghị gửi Xtalin có viết: ưu thế tuyệt đối của không quân Mỹ đã phá vỡ mọi hoạt động quân sự của quân đội Bắc Triều Tiên, “gây ra các thiệt hại lớn về người và trang bị cho chúng tôi”, thông tin liên lạc bị cắt đứt, bộ đội ở miền Nam bị chia cắt và bao vây, cô lập, “việc bỏ Seoul là không thể tránh khỏi”; “khi quân địch vượt vĩ tuyến 38, chúng tôi vô cùng cần sự viện trợ quân sự trực tiếp của Liên Xô”; “đề nghị giúp chúng tôi thành lập một đội quân tình nguyện quốc tế gồm những binh sĩ TQ và các nước dân chủ nhân dân khác ” …. Thư này phát đi lúc 23 giờ 30 đêm 30 tháng 9 bằng điện báo tối khẩn; 0 giờ 35 sáng 1 tháng 10 được giải mã; 01giờ 45 được đánh máy và đưa đến biệt thự Xtalin ở Biển Đen miền Nam Liên Xô lúc 02 giờ 50.
Cùng ngày, Xtalin điện cho Đại sứ Liên Xô ở Bắc Kinh và cho Matveev, chỉ thị:“phải lập tức động viên mọi lực lượng ngăn không cho địch vượt vĩ tuyến 38, đồng thời chuẩn bị tác chiến ở Bắc vĩ tuyến này”, “chớ nên đánh giá thấp khả năng và thực lực của Bắc Triều Tiên trong tổ chức phòng ngự … Họ có đầy đủ sức mạnh, có nguồn lực và tài nguyên cực lớn có thể động viên; chỉ cần tổ chức lại và cô gắng hết sức chiến đấu”; về “vấn đề viện trợ vũ trang, chúng tôi cho rằng hình thức có thể tiếp nhận là tổ chức quân tình nguyện nhân dân. Về điểm này, trước hết chúng tôi phải bàn với TQ”.
Cùng hôm đó, Xtalin điện cho Mao Trạch Đông, nêu yêu cầu: “Nếu đồng chí cho rằng trong trường hợp khẩn cấp có thể cho bộ đội sang giúp Bắc Triều Tiên, thì nên cho ngay ít nhất 5-6 sư đoàn đến vĩ tuyến 38, để Bắc Triều Tiên dưới sự yểm hộ của các đồng chí, tổ chức chiến đấu ở phía bắc vĩ tuyến 38. Có thể coi quân đội TQ là quân tình nguyện, dĩ nhiên là do người TQ chỉ huy”. Vì không muốn để Mao Trạch Đông biết yêu cầu đó là do Kim Nhật Thành đề xuất, Xtalin viết: “Chúng tôi chưa và cũng không có ý định cho các đồng chí Triều Tiên biết ý kiến trên; theo tôi, sau khi biết tin này nhất định họ sẽ rất phấn khởi.”
Ngày 2 tháng 10, Mao Trạch Đông trả lời Xtalin là TQ chưa có quyết định tối hậu về vấn đề đưa quân sang Bắc Triều Tiên. Ngày 7, Xtalin lại mạnh mẽ yêu cầu Mao Trạch Đông đưa quân sang giúp Bắc Triều Tiên: “Hiện nay Mỹ chưa sẵn sàng tiến hành chiến tranh lớn”, “lực lượng quân phiệt Nhật còn chưa hồi phục”,Liên Xô ủng hộ TQ, do đó Mỹ sẽ phải nhượng bộ, sẽ phải bỏ Đài Loan và không thể để cho Nhật trở thành bàn đạp của Mỹ ở Viễn Đông. Nếu TQ “áp dụng chính sách tiêu cực chờ và xem” thì “TQ chẳng những không đạt được các nhượng bộ nói trên mà sẽ không thể thu hồi Đài Loan”. Trả lời ý kiến của Mao Trạch Đông cho rằng chiến tranh TQ-Mỹ sẽ kéo Liên Xô vào cuộc và tình hình sẽ “trở nên vô cùng nghiêm trọng”, Xtalin viết: “Chúng ta sợ điều đó ư ? Theo tôi thì không nên sợ, vì chúng ta hợp sức lại sẽ mạnh hơn Mỹ và Anh. Các nước tư bản châu Âu mà không có nước Đức (hiện Đức không thể giúp gì cho Mỹ) thì chẳng phải là lực lượng quân sự quan trọng. Nếu chiến tranh là không tránh khỏi thì hãy cứ để nó đến bây giờ đi …” Những lời lẽ hùng hồn của Xtalin không làm Mao Trạch Đông xúc động. Tuy đã quyết tâm đưa Chí nguyện quân TQ sang giúp Bắc Triều Tiên, nhưng trong điện trả lời cùng ngày, Mao Trạch Đông vẫn viết: “hiện giờ chưa thể phái bộ đội đi, cần chờ một thời gian nữa”, và báo sẽ cử Chu Ân Lai sang gặp Xtalin.
Sau khi Chu Ân Lai và Lâm Bưu (lúc ấy đang được Mao Trạch Đông chuẩn bị cử sang chỉ huy Chí nguyện quân TQ tại Triều Tiên) đến vùng nghỉ ở Biển Đen hội đàm với Xtalin, ngày 13 tháng 10.1950, Xtalin điện cho Kim Nhật Thành thông báo kết quả hội đàm và nói rất lấy làm tiếc là do TQ chưa sẵn sàng tham chiến nên tốt nhất Bắc Triều Tiên hãy rút hết bộ đội sang TQ và Liên Xô. Ông cũng chỉ thị Đại sứ Liên Xô tại Bình Nhưỡng giúp Bắc Triều Tiên thảo kế hoạch rút lui.
Cùng hôm đó, Đại diện Liên Xô tại Liên Hợp Quốc kêu gọi Mỹ từ bỏ chính sách“cứng rắn” và khôi phục quan hệ hợp tác với Liên Xô như trong thời gian Thế chiến II.
Ngày 14 tháng 10.1950, khi biết TQ đã quyết định đưa quân sang Bắc Triều Tiên, Xtalin lập tức điện cho Kim Nhật Thành: “Bản kiến nghị do cuộc hội đàm lãnh đạo Xô - Trung nêu ra và (hôm qua) đã báo cho đồng chí là vô hiệu”.
Ngày 19 tháng 10, Quân Chí nguyện TQ dưới sự chỉ huy của tướng Bành Đức Hoài vượt sông Áp Lục tiến sang Bắc Triều Tiên chiến đấu đánh Mỹ. Từ đó trở đi Xtalin không còn trực tiếp chỉ đạo Kim Nhật Thành như trước, nhưng ông vẫn theo dõi chiến sự và tiếp tục viện trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên và TQ. Từ đầu năm 1951, quân Mỹ đã bị đảy lui trở lại vĩ tuyến 38, song chiến sự càng trở nên vô cùng ác liệt. Cuộc chiến tranh Triều Tiên cuối cùng đã chấm dứt bằng một hiệp định ngừng bắn ký ngày 27 tháng 7 năm 1953 giữa các bên tham chiến.
Nguyên Hải (tổng hợp theo tài liệu TQ)

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

TÂY ÂU - VIỆN TRỢ CỦA MỸ TRONG KHUÔN KHỔ “KẾ HOẠCH MARSHALL”




TÂY ÂU - VIỆN TRỢ CỦA MỸ TRONG KHUÔN KHỔ “KẾ HOẠCH MARSHALL”


Sau chiến tranh thế giới thứ II, trong các nước đồng minh, Mỹ là nước ít bị thiệt hại nhất, nền kinh tế lại được chiến tranh tiếp sức, nên trở thành cường quốc hùng mạnh, trong khi châu Âu bị chìm trong đống tro tàn đổ nát. Như đã đề cập, New Deal của tổng thống F.D. Roosevelt dù để lại hậu quả nặng nề sau này, nhưng một mặt nền kinh tế Mỹ được lợi lớn từ công nghiệp phục vụ chiến tranh, mặt khác – và đây là điều quan trọng hơn, là những tư tưởng về tự do kinh doanh được các nhà lập quốc đưa thành nền tảng trong Hiến pháp, nên dù bị New Deal kìm hãm, tinh thần laissez-faire vẫn không bị phế bỏ và đây là yếu tố chủ yếu khiến cho nền kinh tế Mỹ có khả năng tự điều chỉnh. Không phải ngẫu nhiên mà Tối cao pháp viện Mỹ đã bác bỏ hàng loạt các định chế của F.D. Roosevelt và không phải ngẫu nhiên mà F.D. Roosevelt đã tìm cách mở rộng cơ quan tư pháp này nhằm đưa “người của mình” vào đó, nhưng nỗ lực của ông bị thất bại. Chính tinh thần laissez-faire bất khả xâm phạm trong Hiến pháp Mỹ đã giúp nước Mỹ không bị “liệt kháng”.


Một kế hoạch tái thiết đồ sộ nhất trong lịch sử được triển khai tại châu Âu – kế hoạch Marshall, với tổng giá trị lên tới 17 tỷ USD (một số tiền rất lớn lúc bấy giờ), do Mỹ tài trợ. Các sử gia đã và đang tranh cãi về hiệu quả, tác động cũng như “mặt phải mặt trái” của kế hoạch Marshall. Dưới góc độ kinh tế, nhờ khoản tiền viện trợ khổng lồ này mà châu Âu có điều kiện nhanh chóng phục hồi nền kinh tế. Nhưng sự thật thì, như Alan Greenspan viết :
 “Kế hoạch Marshall đã giúp châu Âu, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ thời hậu chiến. Tôi coi chính sách tự do hóa thị trường hàng hóa và tài chính Tây Đức do Ludwig Erhard đưa ra năm 1948 là đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều trong việc thúc đẩy khôi phục kinh tế thời hậu chiến của Tây Đức. Tất nhiên là Tây Đức đã trở thành một cường quốc kinh tế nổi bật ở khu vực”.
 Chúng ta hãy tìm hiểu về kế hoạch Marshall để thấy tác động như thế nào đối với Tây Âu!


Phần lớn châu Âu bị tàn phá nặng nề với hàng triệu người chết và bị thương sau chiến tranh thế giới thứ II. Chiến sự tàn phá trên toàn lục địa, trải rộng trên một diện tích còn lớn hơn chiến tranh thế giới thứ I. Các cuộc ném bom dai dẳng cũng đồng nghĩa với việc phần lớn các thành phố lớn đều bị tàn phá hủy nặng nề, với các khu công nghiệp bị đánh phá nghiêm trọng. Rất nhiều thành phố lớn, bao gồm cả Warszawa và Berlin hoàn toàn đổ nát, các thành phố khác, như London và Rotterdam, thì bị thương tích nặng nề. Hạ tầng cơ sở kinh tế điêu tàn, hàng triệu người trở thành vô gia cư. Mặc dù nạn đói ở Hà Lan năm 1944 đã dịu đi cùng với nguồn viện trợ, nhưng sự hoang tàn của ngành nông nghiệp cũng khiến cho nạn đói xảy ra tại một số vùng trên lục địa, lại càng trở nên nghiêm trọng vì mùa đông đặc biệt khắc nghiệt năm 1946–1947 tại vùng tây bắc châu Âu. Đặc biệt hạ tầng giao thông bị phá hoại nghiêm trọng, vì đường sắt, cầu cống, đường sá là các mục tiêu không kích quan trọng, trong khi phần lớn các đoàn tàu thương mại đã bị đánh chìm. Mặc dù phần lớn các thị trấn nhỏ và làng mạc ở Tây Âu không phải chịu cảnh tàn phá ghê gớm như vậy, nhưng việc hệ thống giao thông bị tiêu hủy cũng làm cho họ trở nên cô lập về mặt kinh tế. Bất kỳ vấn đề nào trên đây đều không dễ để giải quyết, vì phần lớn các quốc gia tham chiến đều đã kiệt quệ về tài chính.
Tại Washington, người ta nhất trí là những sai lầm sau chiến tranh thế giới thứ I không được phép tái diễn. Bộ ngoại giao dưới thời Tổng thống Harry S. Truman dồn tâm sức theo đuổi các hoạt động đối ngoại, nhưng Quốc hội thì phần nào tỏ ra không quan tâm. Ban đầu, người ta hy vọng là chỉ cần không nhiều tiền lắm cũng đủ để tái thiết châu Âu; và Anh, Pháp, với sự giúp sức từ các thuộc địa của họ, sẽ nhanh chóng khôi phục nền kinh tế của họ. Tuy nhiên, tới năm 1947 vẫn chỉ có rất ít tiến bộ. Và mùa đông giá lạnh liên tục trong mấy năm làm tình hinh vốn đã xấu lại càng xấu hơn. Nền kinh tế châu Âu dường như không phát triển mạnh với tỷ lệ thất nghiệp cao, lương thực thiếu thốn, dẫn đến các cuộc đình công và bất ổn trong một số quốc gia. Năm 1947, nền kinh tế châu Âu vẫn còn ở dưới mức trước chiến tranh, và hầu như không có dấu hiệu tăng trưởng. Sản lượng nông nghiệp ở khoảng 83% mức năm 1938, sản xuất công nghiệp là 88%, xuất khẩu chỉ ở mức 59%.
Sự thiếu hụt lương thực là một rong những vấn đề trầm trọng nhất. Trước chiến tranh, Tây Âu phụ thuộc vào nguồn lương thực thặng dự từ Đông Âu, nhưng những nguồn đó đã bị chặn lại phía sau Bức màn sắt. Một nhân tố cốt yếu khác cho nền kinh tế nói chung là sự thiếu hụt than đá, càng trở nên trầm trọng vì mùa đông lạnh lẽo 1946-1947. Tại Đức, các căn hộ không được sưởi ấm, khiến hàng trăm người chết cóng. Tại Anh, tình hình không đến nỗi tồi tệ như vậy, nhưng nhu cầu dân chúng khiến cho sản xuất công nghiệp bị đình trệ hoàn toàn. Một trong những động cơ thúc đẩy kế hoạch trên là lòng nhân đạo muốn chấm dứt những thảm cảnh đó.
Đức nhận được nhiều đề nghị từ các quốc gia Tây Âu đổi lương thực lấy than đá và sắt thép tối cần thiết khi đó. Nhưng cả Ý lẫn Hà Lan đều không thể được bán rau quả mà trước đó họ vẫn bán ở Đức, với hệ quả là Hà Lan phải tiêu hủy một phần đáng kể vụ thu hoạch của mình. Đan Mạch muốn đổi 150 tấn mỡ lợn một tháng, Thổ Nhĩ Kỳ muốn đổi hạt dẻ; Na Uy muốn đổi cá và dầu cá, Thụy Điển muốn đổi một lượng lớn mỡ. Các quốc gia Đồng Minh, tuy nhiên, không muốn để người Đức được mua bán. Trước tình hình đó, Tướng Lucius D. Clay và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân ngày càng tỏ ra lo lắng trước sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đức, cũng như tình hình thất bại của các nền kinh tế Châu Âu không thể phục hồi mà không có nền công nghiệp Đức, là nền móng mà trước kia họ phải dựa vào, mùa hè năm 1947, Ngoại trưởng, Tướng George Marshall, dựa vào lý do "cơ sở an ninh quốc gia", cuối cùng đã thuyết phục được Tổng thống Harry S. Truman bãi bỏ chỉ thị JCS 1067 trừng phạt Đức, thay vào đó bằng chỉ thị JCS 1779. Tháng 7 năm 1947 chỉ thị JCS 1067, vốn vẫn định hướng cho lực lượng chiếm đóng Mỹ tại Đức nhằm "... không thực hiện bất kỳ bước nào để tiến tới khôi phục nền kinh tế Đức", được thay thế bởi chỉ thị JCS 1779, nhấn mạnh "Một châu Âu trật tự, phồn vinh đòi hỏi phải có sự đóng góp kinh tế từ một nước Đức ổn định và hiệu quả". Chỉ thị JCS 1067 đã có hiệu lực trong vòng hơn hai năm. Những hạn chế áp đặt lên nền sản suất công nghiệp của Đức phần nào trở nên thông thoáng hơn, cho phép sản xuất thép tăng lên từ mức 25% trước chiến tranh tới định mức 50% năng suất trước thế chiến.
Nền công nghiệp Đức tiếp tục bị dỡ bỏ, và năm 1949 Thủ tướng Đức Konrad Adenauer viết thư cho phe Đồng Minh, yêu cầu chấm dứt việc đó, viện dẫn sự trái khoáy trong việc khuyến khích phát triển công nghiệp và việc phá bỏ các nhà máy, cũng như sự mất lòng dân từ chính sách đó. Sự ủng hộ cho việc dỡ bỏ các nhà máy lúc này tới chủ yếu từ phía Pháp, và Thỏa thuận Petersberg tháng 11 năm 1949 cho phép giảm tốc độ phá dỡ đi rất nhiều, mặc dù việc tháo dỡ các nhà máy nhỏ tiếp tục cho tới năm 1951. Kế hoạch "định mức công nghiệp" đầu tiên, được phe Đồng Minh ký ngày 9 tháng 3 năm 1946, tuyên bố nền công nghiệp nặng của Đức phải giảm xuống 50% mức năm 1938 bằng cách phá bỏ 1.500 nhà máy có tên trong danh sách. Tháng 1 năm 1946, Hội đồng kiểm soát Đồng Minh áp đặt cơ sở cho nền kinh tế Đức bằng cách đặt hạn mức cho sản xuất thép của Đức vào khoảng 5,8 triệu tấn một năm, bằng với 25% mức trước chiến tranh. Nước Anh, chiếm đóng những vùng sản xuất thép chính, đòi phải giới hạn sản lượng hơn nữa bằng cách đặt một tối đa là 12 triệu tấn thép một năm, nhưng cuối cùng cũng phải chịu theo ý Mỹ, Pháp và Liên Xô (vốn định đặt mức giới hạn 3 triệu tấn trước đó). Các nhà máy thép thừa ra sẽ phải bị phá bỏ. Nước Đức bị đẩy xuống mức sống khi cuộc Đại khủng hoảng lên tới đỉnh điểm năm 1932  Sản xuất ô tô bị định ở 10% mức trước thời chiến....


Kế hoạch "Định mức công nghiệp Đức" được tiếp nối bởi một số kế hoạch mới hơn, kế hoạch cuối cùng được ký vào năm 1949. Tới năm 1950, sau khi thực tế đã hoàn thành các kế hoạch "định mức công nghiệp", người ta dỡ bỏ 706 nhà máy ở Tây Đức và sản lượng thép bị giảm xuống còn 6,7 triệu tấn. Vladimir Petrov nhận xét là phe Đồng Minh đã "trì hoãn trong vài năm sự phục hồi kinh tế của lục địa châu Âu bị chiến tranh tàn phá, sự phục hồi mà cuối cùng Mỹ phải tốn hàng tỷ đô la vào đó". Năm 1951, Tây Đức chấp thuận gia nhập Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) vào năm sau. Điều đó có nghĩa là một số hạn chế về định lượng và sản lượng thực tế do Ủy ban quốc tế giám sát vùng Ruhr được dỡ bỏ, và vai trò của ủy ban này được tiếp quản bởi ECSC.
2.      Bối cảnh chính trị tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ bị ảnh hưởng rất ít bởi cuộc chiến tranh. Họ tham chiến muộn hơn hầu hết các quốc gia châu Âu, và chỉ bị những tàn phá rất khiêm tốn trên lãnh thổ của mình. Số lượng dự trữ vàng của Hoa Kỳ vẫn còn nguyên, cũng như cơ sở hạ tầng nông nghiệp và sản xuất, với nền kinh tế lành mạnh. Những năm chiến tranh mang lại thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ nhất trong lịch sử, với các nhà máy của Mỹ sản xuất hàng hóa phục vụ cho cả nhu cầu vật tư chiến tranh của Mỹ lẫn đồng minh. Sau chiến tranh, các nhà máy này được nhanh chóng chuyển đổi sang sản xuất vật liệu tiêu dùng, và sự khan hiếm trong chiến tranh được thay thế bởi sự bùng nổ mức tiêu thụ hàng hóa. Sức khỏe về lâu dài của nền kinh tế Mỹ tuy nhiên phụ thuộc vào thương mại, vì để duy trì sự phồn thịnh nó cần xuất khẩu hàng hóa làm ra. Viện trợ từ Kế hoạch Marshall phần lớn sẽ được châu Âu sử dụng để mua vật tư cũng như hàng hóa sản xuất tại Mỹ.
Một động cơ quan trọng cho nước Mỹ, và cũng là một sự khác biệt cơ bản so với thời kỳ hậu chiến tranh thế giới thứ I là sự bắt đầu Chiến tranh Lạnh. Một số quan chức trong chính phủ Mỹ ngày càng tỏ ra nghi ngờ các hoạt động của Liên Xô. George Kennan, một trong số các lãnh đạo trong việc phát triển kế hoạch, đã dự đoán về sự hình thành thế giới hai cực. Với ông, Kế hoạch Marshall là con cờ chủ đạo của học thuyết "phong tỏ". Cũng đáng lưu ý là Kế hoạch Marshall được khởi xướng khi liên minh thời chiến vẫn còn phần nào đoàn kết, Chiến tranh Lạnh chưa bắt đầu và, đối với phần lớn những người hoạch định Kế hoạch Marshall, sự lo ngại Liên Xô không phải là mối lo chủ yếu như trong những năm tiếp theo.
Dù vậy, sức mạnh và sự thu hút của các đảng cộng sản bản địa tại chính các quốc gia Tây Âu sở tại khiến Hoa Kỳ cũng phải lo ngại. Tại cả Pháp và Ý, sự nghèo khổ thời hậu chiến như tiếp thêm sinh lực cho các đảng cộng sản, vốn đã đóng vai trò trung tâm cho phong trào kháng chiến trước đó. Các đảng này giành được thắng lợi quan trọng trong các cuộc bầu cử sau thế chiến, với Đảng Cộng sản Pháp trở thành chính đảng lớn nhất nước Pháp. Mặc dù ngày nay các sử gia coi mối nguy Pháp và Ý rơi vào tay đảng cộng sản là chuyện xa vời, nhưng nó đã được coi là mối đe dọa thực tiễn với các nhà hoạch định chính sách Mỹ lúc đó. Chính phủ Mỹ dưới thời Harry S. Truman bắt đầu tin vào khả năng này vào năm 1946, đặc biệt với bàn diễn văn "Iron Curtain" (Bức màn sắt) của Churchill, đọc trước sự có mặt của Truman. Trong tâm trí họ, Hoa Kỳ cần phải xác định lập trường của họ trên trường quốc tế, nếu không họ sẽ mất đi sự tín nhiệm. Sự trổi dậy của học thuyết "phong tỏa" lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải giúp đỡ thật nhiều cho các quốc gia phi cộng sản để ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô. Người ta cũng hy vọng là các quốc gia Đông Âu cũng sẽ gia nhập kế hoạch này, và rút khỏi khối Xô viết đang nổi lên.
Thậm chí từ trước khi có Kế hoạch Marshall, Hoa Kỳ đã gửi một lượng lớn viện trợ để giúp châu Âu hồi phục. Khoảng 9 tỷ đô la đã được sử dụng trong khoảng thời gian từ năm 1945 tới 1947. Phần lớn số viện trợ này là viện trợ gián tiếp, đến từ dạng thỏa thuận lend-leaseliên tiếp, và thông qua nỗ lực của binh sĩ Mỹ sửa chữa hạ tầng cơ sở cũng như giúp người tị nạn. Một số các thỏa thuận hỗ trợ song phương cũng được ký kết, mà quan trọng nhất trong số đó có lẽ là việc hứa hẹn giúp đỡ quân sự cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ theo Học thuyết Truman. Tổ chức Liên Hiệp Quốc khi đó mới ra đời cũng tiến hành một loạt các hoạt động cứu trợ nhân đạo, tài trợ hoàn toàn bởi Hoa Kỳ. Các nỗ lực đó có tác động quan trọng, nhưng thiếu tính chất tổ chức trung tâm và thiếu kế hoạch nên không thành công trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu căn bản của châu Âu. Từ năm 1943, Ủy ban Phục hồi và Cứu trợ Liên hiệp quốc (United Nations Relief and Rehabilitation Administration - UNRRA) đã được thành lập để cung cấp viện trợ cho các vùng đất được giải phóng từ phe Trục sau chiến tranh thế giới thứ hai. UNRRA cung cấp hàng tỷ đô la trong các khoản viện trợ, và giúp được khoảng 8 triệu người tị nạn. Tổ chức này dừng hoạt động tại các trại cho người tị nạn vào năm 1947 tại châu Âu, vì dự trù Kế hoạch Marshall sẽ thay thế nó. Nhiều hoạt động của tổ chức này được chuyển giao cho các cơ sở Liên Hiệp Quốc khác.
Từ trước khi có bài diễn văn của Tướng Marshall, một số người đã đặt vấn đề cần lên kế hoạch tái thiết châu Âu. Ngoại trưởng Mỹ James F. Byrnes đệ trình một phiên bản trước đó của kế hoạch này trong bài diễn văn "Restatement of Policy on Germany" (Tuyên bố chính sách cho nước Đức) tại Nhà hát Opera ở Stuttgart vào 6/9/1946. Trong một loạt các báo cáo với tên "The President's Economic Mission to Germany and Austria" (Chương trình kinh tế của Tổng thống cho Đức và Áo), một báo cáo được Tổng thống Harry S. Truman ủy thác, cựu Tổng thống Herbert Hoover đã đưa ra một quan điểm nghiêm túc về kết quả chính sách chiếm đóng Đức. Trong báo cáo đó Hoover đề nghị nhiều thay đổi cơ bản trong chính sách chiếm đóng. Thêm vào đó, Tướng Lucius D. Clay đề nghị với nhà công nghiệp Lewis H. Brown tiến hành khảo sát nước Đức hậu chiến và phác thảo bản báo cáo "A Report on Germany" (Báo cáo về nước Đức) vào năm 1947, bao gồm nhiều thông tin căn bản liên quan đến các vấn đề mà Đức phải đương đầu, với lời khuyên cho việc tái thiết. Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Dean Acheson cũng có một bài diễn văn quan trọng về vấn đề này, nhưng bị bỏ ngoài tai; và Phó tổng thống Alben W. Barkley cũng đã lên tiếng về ý tưởng này.
Lựa chọn cơ bản khác cho việc sử dụng một lượng tài trợ của Mỹ là lấy chúng từ ngay nước Đức. Năm 1944, ý tưởng này được biết đến với tên gọi Kế hoạch Morgenthau, theo tên Bộ trưởng Tài chính Mỹ là Henry Morgenthau. Kế hoạch đó sẽ trích một lượng bồi thường chiến phí khổng lồ từ nước Đức để tái xây dựng các quốc gia đã bị Đức tấn công tàn phá, và cũng là để ngăn nước Đức không bao giờ có thể vươn dậy được. Một kế hoạch gần như thế là Kế hoạch Monnet của một viên chức Pháp tên Jean Monnet, kế hoạch này đề nghị dành cho Pháp quyền kiểm soát vùng công nghiệp than đá của Đức là Ruhr và Saar để sử dụng các nguồn tài nguyên cho việc nâng sản lượng công nghiệp của Pháp lên mức 150% trước chiến tranh. Năm 1946, các quốc gia Đồng Minh tham gia chiếm đóng Đức đã đồng ý đặt ra các hạn mức nghiêm ngặt về việc bao giờ có thể cho phép nước Đức tái công nghiệp hóa. Định mức cũng được đặt ra về việc bao nhiêu sắt thép và than đá Đức được phép sản xuất. Kế hoạch công nghiệp đầu tiên của Đức, được gọi là "thỏa thuận mức công nghiệp", được ký kết đầu năm 1946, theo đó ngành công nghiệp nặng của Đức phải giảm xuống mức 50% của năm 1938 bằng cách phá hủy 1.500 nhà máy. Những vấn đề hiển hiện trong kế hoạch này trở nên rõ ràng vào cuối năm 1946 và thỏa thuận này phải được sửa lại mấy lần, lần cuối cùng là vào năm 1949. Việc phá bỏ các nhà máy của Đức tuy vậy tiếp tục diễn ra cho tới tận năm 1950. Nước Đức từ lâu đã là nhà công nghiệp khổng lồ của châu Âu nên sự khốn khó của họ kéo lùi lại sự phục hồi của châu Âu nói chung. Sự thiếu thốn trầm trọng ở Đức cũng làm cho việc chiếm đóng Đức trở nên hết sức tốn kém, vì quân đội Đồng Minh chiếm đóng Đức phải tự xoay xở lấy phần lớn những vật tư cần thiết. Các yếu tố đó, cộng với sự lên án rộng khắp của công luận sau khi các kế hoạch này bị để lộ cho báo chí, khiến người ta trên thực tế phải bác bỏ Kế hoạch Monnet và Kế hoạch Morgenthau. Tuy nhiên một số ý tưởng của họ phần nào vẫn có đất sống trong chỉ thị JSC 1067 (Joint Chiefs of Staff Directive 1067), kế hoạch này trên thực tế là phần cơ bản chính sách chiếm đóng của Mỹ cho tới tháng 7 năm 1947. Các trung tâm công nghiệp mỏ như Saar và Silesia bị tách khỏi nước Đức, một số ngành công nghiệp dân sự bị phá bỏ để kìm hãm sản lượng, khu công nghiệp Ruhr cũng đứng trước nguy cơ bị tách rời vào cuối năm 1947. Tuy nhiên tới tháng 4 năm 1947, Truman, Marshall và thứ trưởng ngoại giao Mỹ Dean Acheson cuối cũng cũng bị thuyết phục rằng cần phải sử dụng một nguồn viện trợ lớn từ chính nước Mỹ.
Ý tưởng về một kế hoạch tái thiết là một sản phẩm của sự dịch chuyển tư tưởng đã bắt đầu xảy ra ở nước Mỹ từ cuộc Đại suy thoái. Cuộc khủng hoảng kinh tế trong thập niên 1930 khiến cho rất nhiều người tin rằng nền kinh tế thị trường tự do mà không được kìm hãm sẽ không thể nào đảm bảo cho sự phồn thịnh kinh tế. Nhiều người đã góp công sức cho việc thiết lập ra Chính sách kinh tế mới (New Deal) để phục hồi nền kinh tế Hoa Kỳ, giờ đây muốn áp dụng bài học này cho châu Âu. Cùng thời gian đó, cuộc Đại suy thoái cũng cho thấy nguy cơ đến từ hàng rào thuế quan và chính sách bảo hộ, tạo nên một niềm tin mạnh mẽ vào sự cần thiết phải có tự do mậu dịch và thống nhất nền kinh tế châu Âu. Không hài lòng với những hậu quả từ Kế hoạch Morgenthau, ngày 18 tháng 3 năm 1947, cựu Tổng thống Mỹ Hoover tuyên bố: "Người ta có ảo tưởng là một nước Đức mới sau sự sáp nhập có thể bị biến thành một “quốc gia an bình”. Việc này là bất khả thi trừ trường hợp người ta hủy diệt hay cưỡng bức 25 triệu người dời ước Đức". Chính sách áp dụng cho nước Đức thay đổi nhanh chóng chỉ vài tháng sau đó và Kế hoạch Morgenthau hoàn toàn bị đảo ngược.
Các cuộc thảo luận công cộng trước đó về sự cần thiết của việc tái thiết hầu như bị lờ đi vì người ta vẫn không rõ là nó có phải là một định hướng chính sách chính thức của Chính phủ Mỹ hay không. Do đó, Chính phủ Mỹ quyết định là mọi nghi hoặc phải được loại bỏ bởi một bài diễn văn quan trọng của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall. Marshall đã diễn thuyết trước khóa sinh viên tốt nghiệp Đại học Harvard vào  5/6/1947. Đứng trước những bực thang của Nhà thờ Memorial tại Vườn Harvard, ông hứa Hoa Kỳ sẽ viện trợ để thúc đẩy sự khôi phục và tái thiết châu Âu. Ông vạch rõ Chính phủ Hoa Kỳ đã sẵn sàng để đóng góp cho sự hồi phục tại Châu Âu. Ông nói: "Điều rất hợp lý là Hoa Kỳ cần phải làm tất cả những gì có thể để giúp mang lại trạng thái lành mạnh cho nền kinh tế thế giới, mà không có nó sẽ không có sự ổn định chính trị và không có nền hòa bình vững chắc. Chính sách của chúng ta là không chống lại bất kỳ quốc gia nào, mà chống lại đói kém, nghèo nàn, tuyệt vọng và hỗn loạn. Bất kỳ chính phủ nào sẵn lòng giúp một tay để tái thiết sẽ nhận được sự trợ giúp toàn tâm toàn ý của nước Mỹ". Marshall tin tưởng chắc chắn rằng ổn định kinh tế sẽ mang lại ổn định chính trị tại châu Âu. Ông đề xuất viện trợ, nhưng các quốc gia châu Âu sẽ phải tự tạo ra các chương trình hành động của chính họ.
Bài diễn văn, soạn bởi Charles Bohlen, không có một chi tiết hay con số cụ thể nào. Yếu tố quan trọng nhất của bài diễn văn này là việc kêu gọi các quốc gia châu Âu gặp nhau và tạo ra kế hoạch tái thiết châu Âu, rồi nước Mỹ sẽ cung cấp tài chính cho kế hoạch đó. Chính phủ Mỹ tin rằng kế hoạch này sẽ không nhận được sự đồng thuận từ nhiều người Mỹ và bài diễn văn nhắm chủ yếu vào các thính giả châu Âu. Để bài diễn văn này không rơi vào tay các báo tại Hoa Kỳ, các ký giả đã không được thông báo, và cùng ngày hôm đó Tổng thống Truman đã tổ chức một buổi họp báo để thu hút sự quan tâm từ báo giới Mỹ. Ngược lại, Acheson được phái đi để liên hệ với giới truyền thông châu Âu, đặc biệt là truyền thông Anh, và bài diễn văn được đọc toàn văn trên đài BBC.

Liên Xô khước từ tham gia

 Trong một bài diễn văn trước Liên Hiệp Quốc, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Liên Xô Andrei Ianuaryevich Vyshinsky tuyên bố Kế hoạch Marshall vi phạm các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc. Ông buộc tội Hoa Kỳ tìm âm mưu áp đặt ý muốn của mình lên các quốc gia độc lập, cùng với việc sử dụng việc phân phối viện trợ từ nguồn lực kinh tế của mình cho các quốc gia nghèo như một công cụ gây áp lực chính trị.
2Quá trình đàm phán
Việc biến kế hoạch thành hiện thực đòi hỏi có sự đàm thoại giữa các quốc gia liên quan, đồng thời kế hoạch này cần được thông qua tại Quốc hội Mỹ. Vì vậy mười sáu quốc gia đã nhóm họp tại Paris để quyết định viện trợ của Mỹ sẽ ở dưới dạng gì và sẽ được phân chia ra sao. Quá trình đàm phán kéo dài và phức tạp, với mỗi quốc gia đều có mối quan tâm của riêng mình. Bận tâm chính của Pháp là làm sao để Đức không thể tái lập thành một cường quốc mang lại hiểm họa như trước. Các quốc gia Benelux, dù cũng phải gánh chịu ách thống trị của Đức Quốc xã, nhưng đã từ lâu gắn kết với nền kinh tế Đức, hiểu rằng sự phồn vinh của mình tùy thuộc vào việc nước Đức có hồi phục được hay không. Các quốc gia Scandinavia, đặc biệt là Thụy Điển, nhấn mạnh là sự giao thương tồn tại lâu dài giữa họ và các quốc gia Đông Âu không bị gián đoạn, và sự trung lập của họ không bị xâm phạm. Nước Anh muốn được hưởng qui chế đặc biệt, vì e ngại là nếu họ chỉ được đối xử ngang hàng với các quốc gia bị tàn phá trong chiến tranh, thì có lẽ họ sẽ chẳng nhận được mấy viện trợ. Người Mỹ thì thúc đẩy tự do mậu dịch và thống nhất châu Âu để tạo nên bức tường thành chống lại chủ nghĩa cộng sản. Chính quyền Truman, đại diện bởi William Clayton, hứa hẹn với châu Âu là họ sẽ được tự do lập kế hoạch, nhưng chính quyền Mỹ cũng nhắc nhở họ là để kế hoạch có thể được đưa vào thực hiện, nó phải được Quốc hội Mỹ thông qua. Phần lớn Quốc hội Mỹ muốn có tự do mậu dịch và thống nhất châu Âu, nhưng cũng ngần ngại không muốn bỏ quá nhiều tiền ra để trợ giúp Đức. Cuối cùng họ cũng đạt được thỏa thuận và châu Âu gửi một bản kế hoạch tái thiết cho Washington. Theo bản kế hoạch này, châu Âu yêu cầu 22 tỷ đô la viện trợ. Truman cắt giảm số này xuống còn 17 tỷ đô la trước khi đưa ra Quốc hội. Kế hoạch này vấp phải sự phản kháng kịch liệt từ phía đối lập trong Quốc hội, phần lớn là từ phía người của đảng Cộng hòa, vốn trủ trương biệt lập và không muốn có một chương trình chi tiêu ngân sách quá nhiều. Đại diện nổi bật nhất của họ là Robert A. Taft. Kế hoạch này cũng gặp sự phản đối từ cánh tả, với Henry A. Wallace là người phản đối mạnh nhất. Wallace cho rằng kế hoạch này là hình thức trợ giá cho các nhà xuất khẩu của Hoa Kỳ, và đoán chắc nó sẽ gây ra sự phân cực trên thế giới giữa phương Đông và phương Tây. Sự phản đối kế hoạch này giảm mạnh bởi cơn sốc gây do cuộc lật đổ chính phủ ở Tiệp Khắc vào tháng 2/1948. Rất nhanh sau đó một dự thảo 5 tỷ đô la được Quốc hội thông qua với sự ủng hộ đến từ cả hai đảng. Quốc hội Mỹ sau cùng chấp thuận đóng góp 12,4 tỷ đô la trong vòng 4 năm cho Kế hoạch Marshall.
Ngày 13 tháng 4 năm 1948, Tổng thống Truman ký bản Kế hoạch Marshall thành luật, thiết lập Ủy ban Hợp tác Kinh tế (Economic Cooperation Administration - ECA) để giám sát chương trình này và giao cho Paul G. Hoffman lãnh đạo. Cùng năm, các quốc gia tham gia kế hoạch này (Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Tây Đức, Anh, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ) ký bản thỏa ước thiết lập một cơ qua điều phối viện trợ-tài chính, Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (tiền thân của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), do Robert Marjolin lãnh đạo.
3.Thực thi
Khoản viện trợ lớn đầu tiên được chuyển cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vào 1/1947, đây là các quốc gia được coi như tuyến đầu trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, và vốn đã được trợ giúp dưới Học thuyết Truman. Ban đầu Anh hỗ trợ cho các phe phái chống cộng tại các quốc gia trên, nhưng do bản thân cũng phải đương đầu với tình hình kinh tế khó khăn, họ phải nhờ đến Hoa Kỳ để tiếp tục các nỗ lực của họ. ECA bắt đầu chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/1948. Nhiệm vụ chính của nó, theo tôn chỉ, là thúc đẩy nền kinh tế châu Âu: gia tăng sản lượng, hỗ trợ đồng tiền các quốc gia châu Âu, mở mang giao thương quốc tế, đặc biệt là với Mỹ, vì lợi ích của nền kinh tế Hoa Kỳ đòi hỏi các quốc gia Âu Châu phải trở nên thịnh vượng để có thể nhập cảng hàng hóa của Mỹ. Một mục tiêu không chính thức khác của Ủy ban Hợp tác Kinh tế (ECA), và Kế hoạch Marshall, là kiềm chế sự gia tăng ảnh hưởng của Liên Xô tại Châu Âu, đặc biệt là sự lớn mạnh của các đảng cộng sản tại các quốc gia như Tiệp Khắc, Pháp và Ý.
Tiền từ Kế hoạch Marshall được chuyển cho chính phủ các quốc gia Âu châu. Các quĩ này được đồng quản trị bởi chính quyền sở tại và ECA. Tại mỗi thủ đô các nước châu Âu đều có một phái đoàn ECA, bao gồm những thương gia Hoa Kỳ có vai vế, nắm nhiệm vụ cố vấn trong quá trình thực hiện. Người ta khuyến khích hợp tác phân phối các quĩ hỗ trợ, và tổ chức các hội thảo với các lãnh đạo công đoàn để giám sát nền kinh tế, xem xét những nơi cần được hỗ trợ.
Các khoản hỗ trợ từ Kế hoạch Marshall được phần lớn sử dụng mua hàng hóa từ Mỹ. Các quốc gia châu Âu gần như đã khánh kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ trong thời chiến, và tiền từ Kế hoạch Marshall gần như là nguồn tài chính duy nhất mà họ có được để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài. Ban đầu, đồ nhập khẩu bao gồm chủ yếu là những nhu yếu phẩm như lương thực và xăng dầu, nhưng về sau, hàng hóa chuyển sang các vật tư thiết yếu cho quá trình tái thiết, như mục tiêu ban đầu vạch ra. Những năm về sau, dưới áp lực của Quốc hội Mỹ và sự bùng phát của Chiến tranh Triều Tiên, một lượng lớn viện trợ được dùng để tái vũ trang quân đội các quốc gia Tây Âu. Trong khoảng 13 tỷ đô la được dành ra cho tới giữa năm 1951, 3,4 tỷ đô la được dùng để nhập nguyên liệu thô và hàng bán thành phẩm; 3,2 tỷ đô la dành cho lương thực, thực phẩm và phân bón; 1,9 tỷ mua máy móc, xe cộ và thiết bị; 1,6 tỷ cho xăng dầu.
Người ta cũng lập ra các quỹ đối ứng, sử dụng viện trợ từ Kế hoạch Marshall để thiết lập các quĩ tiền tệ bản xứ. Theo các nguyên tắc của ECA, 60% các quĩ đó phải được dùng để đầu tư vào công nghiệp. Điều này rất đáng chú ý tại Đức, nơi các quĩ do chính phủ quản lý đóng một vai trò quan trọng trong việc cho các công ty tư nhân vay tiền để tiến hành tái thiết. Các quĩ này đóng vai trò trung tâm trong việc tái công nghiệp hóa nước Đức. Ví dụ như trong những năng 1949-1950, 40% các khoản đầu tư cho công nghiệp than ở Đức đến từ các quĩ này. Các công ty có nghĩa vụ hoàn trả các khoản vay lại cho chính phủ, và số tiền này sẽ được đem cho một ngành kinh tế khác vay. Quá trình này được tiếp tục cho đến ngày nay dưới sự quản lý của ngân hàng nhà nước KfW. Quỹ Đặc biệt này, khi đó được quản lý bởi Bộ Kinh tế Liên bang, trị giá tới hơn 10 tỷ mark Đức năm 1971. Năm 1997, nó lên tới 23 tỷ mark. Nhờ vào hệ thống cho vay quay vòng, quỹ này cho tới năm 1995 đã có thể dành các khoản vay lãi xuất thấp cho người dân Đức với tổng trị giá lên tới 140 tỷ mark. Khoảng 40% còn lại của quỹ đối ứng được dùng để trả nợ, bình ổn tiền tệ, hoặc đầu tư vào các chương trình phi công nghiệp. Nước Pháp sử dụng các quỹ đối ứng này rộng rãi nhất, dùng chúng để cắt giảm thâm hụt ngân sách. Tại Pháp và hầu hết các quốc gia khác, nguồn tiền từ các quỹ đối ứng được gộp vào tổng thu ngân sách nhà nước, chứ không được dùng để quay vòng vốn như ở Đức.
Một chương trình ít tốn kém hơn rất nhiều, mà cũng hết sức hiệu quả, do ECA đề ra, là Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật. Chương trình này tài trợ cho các nhóm kỹ sư và các nhà công nghiệp châu Âu du lịch Hoa Kỳ, thăm quan hầm mỏ, nhà máy, lò luyện kim... để họ có thể bắt chước các tiến bộ mà Hoa Kỳ đã đạt được khi trở về nước. Cùng thời gian, hàng trăm chuyên viên kỹ thuật Hoa Kỳ cũng được gửi sang châu Âu để hỗ trợ.
4. Phí tổn
Viện trợ từ Kế hoạch Marshall được phân bổ cho các nước đại thể tính trên đầu người. Một phần lớn số viện trợ được dành cho các cường quốc công nghiệp lớn, vì các ý kiến đều cho rằng sự phục hồi của họ là điều kiện thiết yếu cho sự tồn vong của Châu Âu nói chung. Các quốc gia châu Âu trong Khối Đồng Minh thời chiến tranh thế giới thứ hai được nhiều viện trợ trên đầu người hơn một chút, còn các quốc gia Trung lập hoặc trong Phe Trục được ít hơn. Bảng sau cho số lượng tiền và năm từ cuốn The Marshall Plan Fifty Years Later. Không có số liệu chính xác về số lượng tiền, vì các nhà nghiên cứu không nhất trí được liệu những khoản viện trợ nào trong khoảng thời gian đó là một phần của Kế hoạch Marshall.

Quốc gia
1948/1949  
1949/1950  
1950/1951  
Tổng cộng  
Anh
1316
921
1060
3297
 Áo
232
166
70
468
195
222
360
777
0
0
70
70
103
87
195
385
510
438
500
1448
471
302
355
1128
175
156
45
366
6
22
15
43
88
45
0
133
82
90
200
372
1085
691
520
2296
39
48
260
347
28
59
50
137
0
0
250
250
Ý và Trieste
594
405
205
1204
Tổng cộng
4.924
3.652
4.155
12.721
Đơn vị: triệu USD. NguồnThe Marshall Plan Fifty Years Later.  
5. Hiệu quả
Ban đầu, người ta dự tính sẽ kết thúc Kế hoạch Marshall vào năm 1953. Nỗ lực nhằm gia hạn kế hoạch này bị ngưng lại do phí tổn ngày càng gia tăng của cuộc Chiến tranh Triều Tiên và quá trình tái vũ trang. Các thành viên Đảng Cộng hòa Mỹ phản đối kế hoạch này cũng thắng cử trong cuộc bầu bầu cử Quốc hội Mỹ năm 1950, và sự phản đối của phe bảo thủ với kế hoạch này lại được khơi lại. Vì vậy, chương trình này chấm dứt vào năm 1951, dù viện trợ của Mỹ dưới nhiều hình thức khác nhau tiếp tục tồn tại sau đó.
Trong những năm từ 1948 cho tới 1952, Châu Âu phát triển nhanh chưa từng thấy. Sản lượng công nghiệp tăng 35%. Sản xuất nông nghiệp vượt đáng kể so với mức trước chiến tranh. Tình trạng nghèo đói cùng cực ngay sau khi chiến tranh biến mất. Châu Âu bước vào một thời kỳ tăng trưởng chưa từng có kéo dài đến hai thập kỷ, cho phép chất lượng cuộc sống được cải thiện không ngờ. Giữa các sử gia có nhiều cuộc tranh luận diễn ra về việc có bao nhiêu phần của thành tích này là do Kế hoạch Marshall. Phần lớn trong số họ bác bỏ ý kiến rằng kế hoạch này là thành tố thần diệu duy nhất giúp khôi phục châu Âu, vì có nhiều bằng chứng cho thấy sự hồi phục nói chung đã tự bắt đầu. Phần lớn trong số họ cho là Kế hoạch Marshall chỉ tăng tốc sự hồi phục, chứ không khởi xướng quá trình đó.
Ảnh hưởng chính trị của Kế hoạch Marshall có lẽ cũng quan trọng không kém ảnh hưởng kinh tế. Viện trợ từ Kế hoạch Marshall giúp các quốc gia Tây Âu nới lỏng các biện pháp khắc khổ và chế độ phân phối, giảm thiểu bất mãn và mang lại ổn định chính trị. Ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Tây Âu bị giảm sút mạnh mẽ, trên toàn khu vực, các đảng cộng sản mất dần sự ủng hộ của dân chúng trong những năm tiếp theo của Kế hoạch Marshall. Các mối quan hệ thương mại được gây dựng bởi chương trình này giúp dựng lên Liên minh Bắc Đại Tây Dương, tồn tại suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Cùng lúc, việc các quốc gia Đông Âu không tham dự chương trình này cũng cho thấy các dấu hiệu rõ rệt đầu tiên về sự phân liệt tại Châu Âu.
Kế hoạch Marshall cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hòa nhập châu Âu. Cả các nhà lãnh đạo Mỹ và nhiều nhà lãnh đạo châu Âu tin rằng sự hòa nhập là cần thiết để đảm bảo cho hòa bình và phồn vinh của châu Âu, và sử dụng Kế hoạch Marshall như một nguyên tắc chỉ đạo để khuyến khích sự hòa nhập. Trong một chừng mực nào đó, nỗ lực này thất bại, và OEEC chưa bao giờ vươn lên ngoài tầm một tổ chức hợp tác kinh tế. Thay vào đó, Cộng đồng Than Thép châu Âu, đáng lưu ý là không bao gồm Anh, lại lớn mạnh để trở thành Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, OEEC đóng vai trò thử nghiệm và chuẩn bị cho cấu trúc và bộ máy quan chức sau này của Tổ chức kinh tế châu Âu EEC. Kế hoạch Marshall, gắn liền với hệ thống tiền tệ mang tên Bretton Woods, cũng đảm bảo tự do thương mại trên toàn Âu châu.
Trong khi một số sử gia ngày nay cảm thấy việc ca ngợi chương trình này có phần thái quá, thì người ta vẫn nhìn nhận nó một cách tích cực, và nhiều người cho rằng một chương trình tương tự có thể sẽ có ích cho nhiều khu vực khác trên thế giới. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, có một số đề nghị về "Kế hoạch Marshall cho Đông Âu" để khôi phục khu vực này. Những người khác thì đề nghị một Kế hoạch Marshall cho Châu Phi, và Phó Tổng thống Mỹ Al Gore thì đề xuất Kế hoạch Marshall toàn cầu. Cụ từ "Kế hoạch Marshall" đã trở thành một phép ẩn dụ cho bất kỳ một chương trình tầm cỡ quốc gia nhằm giải quyết một vấn đề xã hội nhất đinh. Nó thường được sử dụng khi nói việc chính phủ bỏ tiền ra để cứu cánh cho một thất bại trong khu vực tư nhân.
Nền kinh tế Tây Đức phục hồi một phần là nhờ vào viện trợ kinh tế từ Kế hoạch Marshall, nhưng phần lớn là nhờ vào cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 thay thế đồng Reichsmark bằng đồng mark, chặn đứng nạn lạm phát leo thang. Hành động củng cố nền kinh tế Đức này vốn bị tuyệt đối ngăn cấm trong khoảng thời gian hai năm mà chỉ thị JCS 1067 (của phe Đồng Minh chiếm đóng Tây Đức) có hiệu lực. Quá trình giải thể công nghiệp than và thép của Tây Đức do phe Đồng Minh thực hiện cuối cùng cũng chấm dứt vào năm 1951. Như vậy, Kế hoạch Marshall chỉ là một trong số nhiều thành tố đằng sau sự phục hồi kinh tế Đức. Dù vậy, tại Đức huyền thoại về Kế hoạch Marshall vẫn còn được lưu truyền. Theo cuốn Marshall Plan 1947–1997 A GermanView bởi Susan Stern, nhiều người Đức vẫn còn tin là nước Đức là quốc gia duy nhất hưởng lợi từ chương trình này, rằng nó bao gồm những khoản viện trợ cho không gồm những món tiền lớn, rằng chương trình này là chương trình độc nhất mang lại sự phục hồi kinh tế nước Đức trong thập niên 1950.
6. Hoàn trả
Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu đóng vai trò lãnh đạo trong việc phân phối tài chính, và ECA thu xếp việc chuyển hàng hóa. Các nhà cung cấp phía Mỹ được thanh toán bằng đô la, và số tiền này được ghi vào bên nợ của tài khoản thích hợp của Kế hoạch Phục hưng châu Âu - ERP. Bên nhận (Châu Âu) phải trả tiền (mặt dù không nhất thiết phải trả ngay) bằng đồng nội tệ. Số tiền này được nộp vào tài khoản đối ứng của chính phủ, để đến lượt mình, lại được các quốc gia trong ERP sử dụng trong các dự án đầu tư.
Phần lớn các quốc gia tham gia ERP đều nhận thức được ngay từ ban đầu là họ có lẽ sẽ không bao giờ phải hoàn trả lại số tiền trong tài khoản đối ứng cho phía Hoa Kỳ; số tiền này cuối cùng được gộp vào ngân sách quốc gia và "biến mất". Ban đầu, tổng số viện trợ của Mỹ cho Đức (trái với số tiền viện trợ cho các quốc gia châu Âu khác) phải được hoàn trả. Nhưng sau thỏa thuận về nợ tại London năm 1953, số tiền phải trả được giảm xuống còn khoảng 1 tỷ đô la. Số viện trợ từ sau ngày 1/7/1951 vào khoảng 270 triệu đô la, trong đó Đức phải trả 16,9 triệu cho ngân hàng Export-Import Bank Washington của Mỹ. Trên thực tế, Đức không biết chính xác họ phải trả lại cho Hoa Kỳ bao nhiêu tiền cho tới tận năm 1953, và muốn số tiền họ được nhận này phải ở dạng tiền cho vay có lãi— một hệ thống đảm bảo nguồn vốn tiếp tục phát triển, thay vì teo lại. Một ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm quản lý chương trình này. Các khoản vay ERP phần lớn được dùng để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đức hoàn trả vốn cho Hoa Kỳ thành nhiều đợt (tờ séc cuối cùng họ trả là vào tháng 6 năm 1971). Tuy nhiên, số tiền được trả này không phải là từ tài khoản của ERP, mà là từ ngân sách chính phủ trung ương.
     III.      NHẬN XÉT
Kế hoạch Marshall đã gặp rất nhiều chỉ trích cả trong quá khừ và hiện tại:
Những chỉ trích ban đầuNhững lời trỉ trích ban đầu đến từ phía một số nhà kinh tế theo chủ nghĩa tự do. Wilhelm Röpke, người có ảnh hưởng lớn đến Bộ trưởng Kinh tế và Kỹ thuật Đức Ludwig Erhard trong kế hoạch phục hưng kinh tế của ông này, tin rằng sự phục hồi kinh tế nằm trên việc hủy bỏ chế độ kinh tế chỉ huy tập trung, tái lập kinh tế thị trường tự do ở Châu Âu, đặc biệt là tại các quốc gia trước đó tồn tại chủ nghĩa phát xít và nền kinh tế lũng đoạn bởi các tập đoàn đại tư bản. Röpke chỉ trích Kế hoạch Marshall là đã ngăn sự chuyển đổi sang thị trường tự do bằng cách trợ giúp hệ thống kinh tế yếu kém đương thời. Erhard đưa lý thuyết của Röpke vào thực hiện, và sau này công nhận những thành công rực rỡ của nền kinh tế Tây Đức là nhờ vào ảnh hưởng của Röpke.  Henry Hazlitt thì trỉ trích Kế hoạch Marshall trong cuốn sách xuất bản năm 1947 của ông: Will Dollars Save the World?, lập luận rằng sự hồi phục kinh tế phải đến từ việc giành giụm, tích lũy của cải và công ty tư nhân, chứ không phải thông qua việc hỗ trợ một khoản tiền mặt khổng lồ. Ludwig von Mises cũng chỉ trích Kế hoạch Marshall năm 1951, vì tin rằng "Sự trợ cấp của Mỹ khiến cho các chính phủ châu Âu có thể che dấu phần nào các ảnh hưởng tai hại của các chính sách mang tính xã hội mà họ thực hiện." Ông cũng chỉ trích viện trợ nước ngoài nói chung, cho rằng nó tạo ra kẻ thù ý thức hệ, thay vì bạn hàng kinh tế, vì nó bóp nghẹt nền kinh tế tự do.

Những chỉ trích hiện đại:

Việc chỉ trích Kế hoạch Marshall dễ nhận thấy trong số các học giả theo thuyết xét lại, như Walter LaFeber, trong những năm 1960 và 1970. Họ lý luận là chương trình này là sản phẩm của nền kinh tế đế quốc chủ nghĩa của Mỹ, và nó nhằm mục đích kiểm soát Tây Âu, cũng giống như Liên Xô kiểm soát Đông Âu. Trong bản đánh giá nền kinh tế Tây Đức từ năm 1945 cho tới năm 1951, nhà phân tích Đức Werner Abelshauser kết luận là "viện trợ nước ngoài không đóng vai trò quyết định trong việc bắt đầu quá trình phục hồi kinh tế, cũng như duy trì quá trình đó." Sự phục hồi kinh tế của Pháp, Ý và Bỉ, như Cowen nhận thấy, đã diễn ra từ trước khi dòng viện trợ của Mỹ đổ vào. Bỉ, quốc gia sớm nhất và cũng là quốc gia mạnh mẽ nhất áp dụng chính sách kinh tế thị trường tự do sau khi được giải phóng năm 1944, là quốc gia có sự phục hồi kinh tế nhanh chóng nhất, và tránh được nạn thiếu nhà và thiếu lương thực trầm trọng xảy ra tại tất cả các nước khác khi đó tại châu Âu.
Nguyên Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan cho rằng Thủ tướng Đức Ludwig Erhard có công lớn nhất trong sự phục hồi kinh tế Châu Âu. Greenspan viết trong hồi ký của mình The Age of Turbulence (Thời đại rối ren), rằng chính sách kinh tế của Erhard là khía cạnh quan trọng nhất của sự phục hồi kinh tế hậu chiến châu Âu, có giá trị hơn nhiều so với đóng góp của Kế hoạch Marshall. Ông tuyên bố rằng việc Erhard giảm bớt các quy chế đã cho phép sự thần kỳ của nền kinh tế Đức diễn ra, và chính sách đó cũng góp phần khiến nhiều quốc gia Âu châu khác hồi phục. Sự phục hồi của Nhật Bản cũng được dùng như một phản ví dụ, vì họ tự lực tăng trưởng mãnh liệt mà không có bất kỳ sự trợ giúp nào. Sự phục hồi của họ được coi là do các biện pháp kích thích kinh tế truyền thống, như tăng cường đầu tư, hỗ trợ bởi tỷ lệ tiết kiệm cao, và thuế thấp. Nhật có một nguồn vốn lớn chảy vào trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, nhưng đó là nguồn vốn dưới dạng đầu tư, chứ không phải là để trợ giá, và nguồn vốn đó còn tỏ ra hữu ích hơn rất nhiều.
Những người chỉ trích kế hoạch Marshall cũng tìm cách chỉ ra rằng kế hoạch này để lại di sản là sự bắt đầu của những chương trình viện trợ nước ngoài tai hại. Kể từ những năm 1990, những nhà kinh tế học đã bắt đầu phản bác lại ý tưởng về viện trợ nước ngoài. Ví dụ như Alberto Alesina và Beatrice Weder, tổng kết lại tư liệu kinh tế về viện trợ nước ngoài và sự tham nhũng, và thấy rằng viện trợ phần lớn đã bị sử dụng lãng phí, cho lợi ích bản thân của chính phủ và các quan chức chính phủ, dẫn đến gia tăng nạn tham nhũng. Chính sách khuyến khích các chính phủ thối nát này khi đó được gán cho những động lực ban đầu của Kế hoạch Marshall.
Noam Chomsky viết rằng số tiền mà người Mỹ viện trợ cho Pháp và Hà Lan cũng bằng với số kinh phí mà những quốc gia này sử dụng để chi cho lực lượng quân sự của họ ở Đông Nam Á. Kế hoạch Marshall nguyên là để "thiết lập cơ sở cho một số lớn đầu tư tư nhân của Mỹ tại châu Âu, thiết lập nền móng cho các công ty xuyên quốc gia lớn." Những chỉ trích về Kế hoạch Marshall khác đến từ báo cáo rằng Hà Lan sử dụng một phần lớn số viện trợ để tái chiếm Indonesia trong Chiến tranh giành độc lập Indonesia.

Kế hoạch Marshall – kế hoạch phục hưng châu Âu, cho đến nay còn rất nhiều tranh luận về tính hiệu quả và tác động của nó đối với Tây Âu, với những điều kiện bó buộc, kế hoạch Marshall đã tạo cho Hoa Kì những điều kiện cần thiết để lũng đoạn thị trường và nô dịch các nước châu Âu. Mục tiêu của Hoa Kì trong kế hoạch Marshall thể hiện rất rõ: nhằm chia cắt lâu dài và phục hồi nền kinh tế của bọn quân phiệt Tây Đức, Bao vây kinh tế Liên Xô và các nước Đông Âu, kế hoạch Marshall cũng là kế hoạch quân sự và chính trị, như vậy kế hoạch Marshall không chỉ viện trợ cho Tây Âu sau chiến tranh mà còn mang tính chiến lược của Hoa Kì.
 Có thể nói: “Chủ thuyết Truman”, “Kế hoạch Marshall” và “Điểm 4” trở thành bộ ba cấu thành chính sách đối ngoại của Hoa Kì cho đến những năm đầu thập niên 1950 nhằm ngăn chặn sự ra đời của khối xã hội chủ nghĩa.
1. Lê Phụng Hoàng, Lịch sử quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai, (Tập 1: 1945-1975), 2007, tr.26-27.
2. Lê Văn Quang, Lịch sử quan hệ quốc tế từ năm 1917 đến 1945, NXB GD, tr.21-27.
3. Nguyễn Anh Thái (cb), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB GD.
4. Trên Internet:
http://vi.wikipedia.org
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov