Thứ Ba, 8 tháng 11, 2011

Shah của nhà Safavid (1501_1736)


Shah của nhà Safavid (1501_1736)

Ismail I

Shah Ismail qua nét vẽ của một họa sĩ vô danh người Venezia
Shāh Ismā'il Abu'l-Mozaffar bin Sheikh Haydar bin Sheikh Junayd Safawī (17 tháng 71487 –23 tháng 51524) là Shah của Ba Tư (Iran ngày nay), người đã sáng lập ra triều đại Safavid, trị vì từ năm 1501 đến 1524. Ismail cũng là một người Hồi giáo thuộc hệ phái Shia, những người xem mình là con cháu của Ali, một người anh/em họ của nhà tiên tri đạo Hồi Muhammad. Triều đại Safavid hay (Đế quốc Ba Tư thứ ba) do Ismail sáng lập ra đã trị vì cho đến năm 1736.
Không chỉ là vua, Ismail còn là một thi sĩ với bút danh Khatai.
Ismail ra đời vào ngày 17 tháng 7 năm 1487 , là con trai của Haydar Safavi Sultan, lãnh tụ của người Safavid. Khi Ismail mới ra đời chưa được lâu ( 1494 ), Haydar đã bị giết bởi bộ lạc Shirbavan. Người con trưởng của Haydar là Ali lên thay nhưng cũng bị tử trận như cha, và Ismail mới 7 tuổi lên thay. Bộ lạc Turkoman của Thổ Nhĩ Kỳtin lãnh tụ nhi đồng này là Mahdi (chúa cứu thế) nên bỏ tù trưởng, Đế quốc Ottoman đang trị vì họ để về với Ismail.
Năm 1501, khi đã 14-15 tuổi, Shah Ismail I lên ngôi, sáng lập ra nhà Safavid ở Tabriz. Cùng năm đó, vị tân vương đánh bại Ak Koyunlu (White Sheep Turks). Năm 1510, Ismail bắt đầu chiếm toàn bộ Ba Tư, gây chiến với người Uzbek thuộc hệ phái Sunni của vua Muhammad Shaybani, những người đã xâm chiếm Ba Tư vào năm 1507. Shah Ismail đã chiến thắng, và Muhammad Shaybani bị giết. Shah Ismail đã thống nhất được toàn Ba Tư dưới sự cai quản của mình.
Năm 1514, hoàng đế Selim I của Đế quốc Ottoman (theo hệ phái Sunni) tấn công vương quốc của Ismail. Selim và Ismail đã gửi tới nhau những bức tối hậu thư mang lời lẽ đầy xúc phạm.
Ismail đã bị Selim I đánh đại bại trong trận Chaldiran (nay là thành phố Van, miền đông Thổ) vào năm 1514. Ismail đã bị thương trong trận chiến. Hoàng đế Selim I tiến về thành Tabriz ngày 7 tháng 9 năm 1514, nhưng vệ binh Thổ khuyên ông ta rút lui, vậy là Ismail vẫn giữ được thành Tabriz. Selim đã bắt ái phi của Ismail làm con tin.
Ismail trở thành một người đau khổ tuyệt vọng sau trận Chaldiran. Ông trở nên trác táng, và giao việc triều chính cho vương thừa tướng Mirza Shah-Husayn. Ông qua đời ngày 23 tháng 5 năm 1524 khi mới 37 tuổi.
Ông được con là Tahmasp I nối ngôi.
bản đồ thủ đô Tabriz thời Shah Ismail I, vẽ bởi Matrakçı Nasuh
Con cái:
  • Con trai
    • Tahmasp I
    • Hoàng tử Shahzadeh 'Abul Ghazi Sultan Alqas Mirza (15/31515 - 9/4/1550) Thống đốc của Shirvan 1538-1547. Ông nổi dậy chống lại Tahmasp (anh trai của ông), bị bắt và bị giam giữ tại pháo đài của Qahqahan. Ông lấy bà Khadija Sultan Khanum có hai con trai, Sultan Ahmad Mirza (chết năm 1568) và Sultan Farrukh Mirza (chết 1568)
    • Hoàng tử Sultan Rustam Mirza (sinh ngày 13 Tháng Chín 1517)
    • Hoàng tử Sultan Sam Mirza (28 Tháng 8, 1518 - Tháng 12 năm 1567) Thống đốc tỉnh Khorasan 1521-1529 và 1532-1534, và Ardabil 1549-1571. Ông nổi dậy chống lại Tahmasp anh trai của ông, bị bắt và bị giam giữ tại pháo đài của Qahqahan. Ông đã có hai con trai và một con gái. Con gái của ông, kết hôn với Hoàng tử Jésé ( ? - 1583) Thống đốc Sakki con trai thứ ba của Levan King của Kakheti ở Georgia.
    • Hoàng tử 'Abu'l Fat'h Sultan Moez od-din Bahram Mirza (7 tháng 9, 1518 - 16 tháng 9 1550) Thống đốc của Khorasan 1529-1532, Gilan 1536-1537 và Hamadan 1546-1549, mẹ là  Zainab Sultan Khanum. Ông có ​​bốn người con trai và một con gái: Sultan Hassan Mirza đã chết lúc còn trẻ , Sultan Husain Mirza (chết 1567), Abu'l Fat'h Sultan Ibrahim Mirza (1541-1577), Sultan Badi UZ-Zaman Mirza (k. 1577)
    • Hoàng tử Shahzadeh Soltan Hossein Mirza (sinh ngày 11 tháng 12 1520)
  • Con gái
    • Công chúa 'Alamiyan Fulaneh Begum, m. như người vợ thứ hai của mình, trước ngày 14 Tháng Năm 1513, Hoàng tử Murad Effendi, người cao tuổi con trai của Şehzade Ahmet, Thái tử của đế quốc Ottoman, con trai của Bayezid II .
    • Công chúa 'Alamiyan Janish Khanum (26 Tháng Hai 1507 - 2 Tháng Ba 1533). (Đầu tiên) tại Hamadan, 24 Tháng Tám 1518, Sultan Mozaffar Amir-i-Dibaj (k. Ở Tabriz , ngày 23 tháng chín năm 1536), Thống đốc Rasht và Fooman 1516-1535, con trai của Amir Hisam od-din Amir-i-Dibaj.
    • Công chúa 'Alamiyan Pari-Khan Khanum m. trong 04 tháng 10 năm 1521, Sultan Khalil đốc Shirvan 1523-1536, con trai của Sheikh Shah bin Sultan Ibrahim Farrokh Yasar.
    • Công chúa 'Alamiyan Khair bỏ Nisa Khanish Khanum (qua đời ngày 12 tháng 3 năm 1564).1537, Nur Seyyed od-din Nimatu'llah Baqi Yazdi (d 21 tháng 7 năm 1564), con trai của Mir Nezam od-din Abdu'l Baqi Yazdi chuyên ngành công nghệ.
    • Công chúa Alamiyan Shah Zainab Khanum (sinh 1519)
    • Alamiyan Farangis Khanum công chúa (sinh 1519)
    • Công chúa 'Alamiyan Mahin Banu Khanum (năm 1519 - 20 Tháng 1, 1562) 

Phụ chú: Các tù trưởng nhà Safavi trước Ismail I:
  1. Safi-ad-din (1252–1334): 1293_1334
  2. Sadr al-Din (1305-1392): 1334_1391
  3. Ali: 1391_1429
  4. Ibrahim: 1429_1447
  5. Junayd:1447_1460
  6. Haydar: 1460_1488
  7. Ali Mirza Safavi: 1488_1494
  8. Ismail: 1494_1502

Tahmasp I

Tranh vẽ Tahmasp ở Chehel Sotoon, Isfahan.
Tahmasp I (3 tháng 3 năm 1514 – 1576) là vị shah ( hoàng đế ) thứ hai của Ba Tư thuộc vương triều Safavid. Tên đầy đủ của ông là: Abu'l Muzaffar 'Abu'l Fath Quốc vương Shah Tahmasp bin Shah Ismail al-Safavi al-Husayni al-Musavi.
Tahmasp sinh ra ở Shah Abad, là con của shah Ismail I và Shah-Begi Khanum. Năm 1524, vua cha Ismail I qua đời và Tahmasp lên thay khi mới 10 tuổi. Ông tỏ ra là một ấu chúa kém cỏi và không đủ khả năng cai trị đất nước. Bộ lạc Qizilbash - một bộ lạc có thế lực thời đó, nổi dậy. Tuy nhiên, đến khi trưởng thành, nhà vua đã cho quân đàn áp cuộc nổi dậy này.
Triều đại ông cho thấy nhiều cuộc tấn công của các lân bang, tiêu biểu như Ottoman hay Uzbek. Lãnh thổ của Ba Tư ở Iraq cuối cùng đã rơi vào sự kiểm soát của Đế quốc Ottoman. Năm 1555, Tahmasp I kí hiệp ước Amasya ngừng chiến với sultan Ottoman. Ba Tư và Ottoman hòa bình trong suốt 30 năm tiếp theo cho đến khi Mohammed Khodabanda trở thành shah. Cùng năm đó, ông dời đô về Kazvin.
Tahmasp cũng được biết đến việc ông giúp hoàng đế Môgôn mất ngôi Humayun giành lại ngai vàng. Ở điện Chehel Sotoon có lưu giữ một bức tranh cho thấy cảnh Tahmasp đón tiếp Humayun.
Shah Tahmasp chào đón vua Mogol  Humayun lưu vong.

Dưới triều Tahmasp I, ngành ngành dệt thảm Ba Tư trở nên phát triển.
Vợ của Shah Tahmasp I: 
  1. mẹ của người anh em họ đầu tiên của mình, Kadamali Sultan Begum, nhũ danh Sultanum Begum con gái của Sultan bin Isa Musa Beg Musullu, Quyunlu.
  2. Khanum Sultan Agha, Circassian , em gái của Shamkhal Kara-Musal Sultan, Thống đốc của Sakki.
  3. Sultanzada Khanum của Georgia
  4. Zahra Baji con gái của Hoàng tử Ot'ar Shalikashvili Samtskhe từ Shalikashvili gia đình của Georgia
  5. Khan-Parwar Khanum của Georgia
  6. Huri-Khan Khanum của Georgia 
  7. con gái của Thống đốc của Daghestan
  8.  Aisha Begum, con gái của Sufian Khan, Khan Khiva ,
  9. Zainab Sultan Khanum,
  10. Zahra Baji Georgia .

Con:
con trai
  • Hoàng tử Ali Shahzadeh Soltan Quli Mirza (b 0,1528 - d 0,1529)
  • Mohammed Khodabanda
  • Ismail II
  • Shahzadeh Soltan Murad Mirza (1538 -  05 tháng 9 năm 1545) ,Thống đốc Kandahar 1545.
  •  Shahzadeh Soltan Soleiman Mirza (b tại Nikhichivan, 1554 -. Đốc Fars 1555-1557 k ở Qazvin, 2 tháng 11 năm 1576), và Mashhad 1576.
  • Shahzadeh Soltan Heidar Mirza (b 1555 - k ở Qazvin, 14 tháng 5, 1576) đã có vấn đề, ​​một con gái, kết hôn với Hasan Khan Ustajalu. Cô ấy đã có vấn đề, 4 người con trai.
  •  Shahzadeh Soltan Mostafa Mirza (b 1557 -. K ở Qazvin, ngày 02 tháng 11 năm 1576) đã có vấn đề, ​​2 người con gái, công chúa Mahd-e- Olia kết hôn với Abbas tôi và con gái một người đã kết hôn Zulfikhar Khan Karamanlu và đã có vấn đề, ​​2 con trai .
  •  Shahzadeh Soltan Mahmud Mirza (b 1559 - k ở Qazvin, 24 tháng 2, 1577) Thống đốc Shirvan 1566-1567, và Lahijan 1567-1571, đã có vấn đề, ​​con trai, Hoàng tử Mohammad Baqer Mirza (b 0,1575 - k ngày 24 tháng 2 năm 1577).
  •  Shahzadeh Imam Qoli Mirza (b 1562 - k. ở Qazvin, ngày 24 tháng 2 1577), mà không có vấn đề.
  • Hoàng tử Ali Shahzadeh Soltan Mirza (b ở Qazvin, 1563 - d tại Isfahan, ngày 31 tháng 1 1642) Thống đốc Ganja 1570-1577. Ông mù và bị cầm tù bởi Shah Abbas I tại Alamut . m. Kabuli Begum, có vấn đề, ​​một con trai, Hoàng tử Shahzada Soltan Mustafa Mirza.
  • Shahzadeh Soltan Ahmad Mirza (b tại Qazvin, 1564 - k ở Qazvin, ngày 24 tháng 2 1577.)
  • Shahzadeh Zeinal Abedin Mirza (d. Trước khi năm 1576)
  •  Shahzadeh Musa Mirza (d. Trước khi năm 1576)
con gái
  • Công chúa Shahzadeh Alamiyan Gowhar Soltan Beygom (b 1540 -. D 19 tháng 5, 1577) kết hôn với Hoàng tử 'Abu'l Fath Soltan Ibrahim Mirza (b 1543 - k 24 tháng 2 1577) con trai của chú nội, Shahzada 'Abu'l Fath Muiz ud-din Bahram Mirza con trai của Ismail I, có một con gái, công chúa Gowhar Shad Begum (b 1561. d)
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Pari-Khan Khanum (1548 - 17 tháng 2 năm 1578) chưa lập gia đình và không có vấn đề.
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Khadija Sultan Begum, m. (Đầu tiên) anh em họ của mình, Jamshid Khan Gilani (b 1557 - k 1580) con trai của Mirza Soltan Mahmud Gilani, Thống đốc Fuman . m.(Thứ hai) là người vợ thứ ba của ông, Mir Nimatu'llah Yazdi Zu'l-Nurain, con trai cả của Amir Ghiyas ed-din Muhammad Yazdi Mir-i-Miran, có vấn đề, hai con trai, bởi người chồng đầu tiên của cô.
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Zainab Beygom (b 1550 -. D tại Isfahan, tháng 14, 1641) chưa lập gia đình và mà không có vấn đề
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Mariam Soltan Beygom ( 1551 - tại Isfahan, 1608), m. (Đầu tiên) Khan Ahmad Khan đốc của Gilan , m. (Thứ hai) là người vợ thứ hai của mình, Mir Nematu'llah Yazdi Zu'l-Nurain, con trai cả của Amir Ghiyas ed-din Muhammad Yazdi Mir-i-Miran, đã có một con gái và một con trai, người chồng đầu tiên của cô.
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Beygom Khanoum, m. Musib Beyg Khan, con trai của Muhammad Khan Takahi.
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Khanish Begom. (B sau 1562. D tại Isfahan, 1590). là người vợ đầu tiên của mình, Mir Nimatu'llah Yazdi Zu'l-Nurain, con trai cả của Amir Ghiyas ed-din Muhammad Yazdi Mir-i-Miran, có vấn đề, hai con trai.
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Fatemeh Soltan Beygom, m. Amir Khan Musallu (k. Tại Qahqaha, 1584) con trai của Muhsmmad Beyg Mosalla.
  • Công chúa Shahzadi Alamiyan Shahbanu Khanum, m. người vợ đầu tiên của mình, cô em họ, Amir Salman Khan Ustajalu con trai của Quli Mirza Ustajalu 'Ali Shah


Ismail II

Shah Ismail II
Ismail II (1537_1578) là vua của triều đại Safavid nước Ba Tư, cầm quyền từ năm 1576 đến 1578.
Mặc dù thường được lịch sử ghi nhận là người kế vị của phụ vương Tahmasp I, Ismail không được kế vị trực tiếp sau khi Tahmasp I băng hà. Người em của Ismail, Heydar Mirza được tôn xưng làm quốc vương. Nhưng ít lâu sau, Heydar bị ám sát và sau sự kiện này, thủ lãnh của bộ lạc Afshar đã đưa Ismail lên ngôi quốc vương và cai trị trong một thời gian ngắn. Người ta cho rằng Ismail II đã tuyên bố là sẽ giết chết tất cả các hoàng tử nhà Safavid trong số đó có cả hoàng đệ Mohammed Khodabanda, người đang sống ở Shiraz khi đó. Nhưng trước khi thi hành giết các hoàng đệ, Ismail II qua đời do ngộ độc thuốc phiện và Mohammed Khodabanda lên ngôi.
Con cái:



Mohammed Khodabanda

Mohammed Khodabanda
Mohammed Khodabanda (1532_1596) là vị vua thứ tư của triều đại Safavid ở Đế chế Ba Tư (1578-1588). Mohammed Khodabanda là con trai của Tahmasp I.
Mohammed Khodabanda lên ngôi quốc vương năm 1578 sau khi hoàng huynh Ismail II băng hà.
Thời kì này cho thấy cuộc chiến tranh chống lại Đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ngày 29 tháng 8 năm 1578, quân Ottoman do tướng Lala Mustafa Pasha chỉ huy đánh bại quân của Mohammed Khodabanda trong trận Cildir Meydan. Năm 1588, Mohammed Khodabanda bị con thứ 3 là Abbas Mirza (Abbas Đại đế) lật đổ. Mohammed Khodabanda chết 16 năm sau đó, 1596.


Abbas I

Shāh Abbas I (tức Abbas Đại đế27 tháng 1 năm 1571 tại Herat – 19 tháng 1 năm 1629) là một vị Hoàng đế (Shah) lỗi lạc của Vương triều Safavid, trị vì Đế quốc Ba Tư thứ ba, sau Đế quốc Ba Tư thứ nhất của Vương triều Achaemenes và Đế quốc Ba Tư thứ hai của Vương triều Sassanid. Ông là vị Hoàng đế thứ năm, đồng thời là vị Hoàng đế kiệt xuất hơn cả của Vương triều Safavid. Ông là con thứ ba của shah Mohammad Khodabanda . Với những chiến công hiển hách của ông, dưới triều đại của ông, Đế quốc Ba Tư thứ ba đã lên tới đỉnh cao về sự huy hoàng. Ông củng cố quyền hành trung ương; và, là một vị vua - chiến binh, ông đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ và đánh chiếm thành Bagdad.
Vua Abbas I lên ngôi Hoàng Đế trong một thời kì loạn lạc ở Đế quốc Ba Tư. Dưới triều người cha yếu đuối của ông, đất nước bị chia cắt với sự mâu thuẫn giữa nhiều bè phái trong đạo quân Qizilbash, những kẻ đã giết mẹ và anh cả ông. Đồng thời, các kẻ thù của Ba Tư là đế quốc Ottoman và người Uzbek lợi dụng sự hỗn độn chính trị này mà xâm chiếm Ba Tư. Vào năm 1587, một trong những thủ lãnh Qizilbash, Murshid Qoli Khan, lật đổ Hoàng đế Mohammed trong một cuộc đảo chính và đưa vị Hoàng tử 16 tuổi lên ngai vàng. Nhưng tân Hoàng đế Abbas I không làm bù nhìn và nắm giữ toàn bộ quyền hành ít lâu sau đó. Ông giảm bớt ảnh hưởng của người Qizilbash trong triều chính và việc quân, rồi cải cách lại Quân đội Ba Tư, với sự phò tá đắc lực của một du khách người Anh. Ông đánh tan tác quân Uzbek và tái chinh phạt tất cả mọi lãnh thổ bị mất của Đế quốc Ba Tư.
Sau khi đánh tan tác quân Uzbek, ông chú tâm sang kình địch hùng mạnh nhất của Đế quốc Ba Tư là Đế quốc Ottoman, đánh tan tác quân Ottoman tại Iraq và Azerbaijan, chiếm lại tất cả những vùng đất bị mất và phá vỡ uy quyền của Đế quốc Ottoman ở vùng Kavkaz. Là một thiên tài quân sự, trong một loạt cuộc tái chinh phạt của ông, ông từng giành chiến thắng huy hoàng trong trận đánh với quân Ottoman đông đảo gần Hồ Urmia vào năm 1606, khi ông chỉ huy một lực lượng Quân đội Ba Tư ít ỏi. 
Không những thế, ông còn đánh thắng Đế quốc Mogul và chiếm được Kandahar, lại còn đánh thắng Đế quốc Bồ Đào Nha với sự hỗ trợ của Anh Quốc. Dưới triều vua Abbas, Triều đình Ba Tư khoan dung Ki-tô giáo, kinh đô của vương quốc được dời từ Qazvin về Isfahan, và nhiều công trình kiến trúc đồ sộ được xây nên tại đây. Kinh thành Isfahan của ông đã hồi phục lại sự huy hoàng của mình, trở nên lừng danh trên khắp thế giới văn minh. Về cuối đời, nhà vua trở nên đa nghi, ông đối xử cực kỳ tàn bạo và phi nhân tính với hoặc: giết hoặc là đui mù họ. 

Tuổi trẻ của Abbas


Shah Abbas I và triều đình ông.
Abbas chào đời ở Herat (ngày nay ở Afghanistan, sau đó là một trong hai thành phố lớn của Khorasan), là con của hoàng tử Mohammed Khodabanda và vợ là Khayr al-Nisa Begum (được biết với cái tên “Mahd-i Ulya”), con gái của tổng đốc tỉnh Mazandaran, người tự nhận là con cháu của vị Imam Shia thứ 4, Zayn al-Abidin. Abbas được sinh hạ vào thời Hoàng đế Tahmasp I, ông nội của cậu. Trong lúc này, tên tuổi của Đế quốc Ba Tư đã trở nên nổi tiếng đối với các vua chúa châu Âu. Cha mẹ Abbas đã giao cậu bé cho Khani Khan Khanum, mẹ tổng đốc Herat Ali Qoli Khan Shamlu nuôi dưỡng. Khi Abbas lên 4, Tahmasp gửi cha cậu đến Shiraz nơi có khí hậu tốt hơn đối với trái tim mỏng manh của Mohammed. Theo truyền thống Ba Tư, chỉ một hoàng thân được ở tại Khorasan, nên vua phong Abbas làm tổng đốc trên danh nghĩa của tỉnh này, dù cậu còn ít tuổi, và Abbas được để lại ở Herat.
Năm 1578, thân phụ Abbas lên làm vua nước Ba Tư. Ít lâu sau, thân mẫu Abbas chi phối vua nhiều công việc trong triều chính, nhưng bà có rất ít thời gian với Abbas, mà đào tạo cho anh trai cậu là Hamza trở thành nhân tài. Hoàng hậu chống đối các lãnh đạo của đạo quân Qizilbash hùng mạnh, những người đã bày mưu và thắt cổ bà ta vào tháng 7/1579. Mohammed là một ông vua bất lực, không thể chống lại các kẻ thù của Ba Tư là đế quốc Ottoman và người Uzbek, những đạo quân đã xâm lược Ba Tư và ngăn ngừa mối hận thù giữa các bè phái trong bộ lạc Qizilbash. Thái tử trẻ Hamza, một người có tài, đã đánh bại được Thổ, nhưng ông anh bị giết 1 cách bí ẩn vào năm 1586. Từ đây, Abbas trở thành thái tử. Năm 14 tuổi, Abbas trở thành người dưới quyền của Murshid Qoli Khan, một trong các thủ lãnh Qizilbash ở Khorasan. Khi đạo quân Uzbek hùng mạnh xâm lược Khorasan năm 1587, Murshid xem đây là thời điểm thích hợp để lật đổ shah Mohammed bất lực. Thế là Murshid tiến về kinh đô Safavid là Qazvin cùng với Abbas và phong vương cho anh. Mohammed không chút phản kháng và thoái vị ngày 1/10/1587, giao toàn bộ quyền lực cho vua con. Abbas khi đó 16 tuổi.

Ông hoàng chuyên chế

Abbas đích thân chấp chính


Shah ‘Abbās King of the Persians.
Copper engraving by Dominicus Custos, from his Atrium heroicum Caesarum pub. 1600-1602.
Abbas I thừa kế một đất nước đang ở trong tình thế tuyệt vọng. Người Ottoman kiểm soát những vùng đất rộng lớn ở miền tây và đông tây (kể cả thành phố lớn Tabriz) trong khi người Uzbek đóng quân ở một phần tỉnh Khorasan miền đông bắc. Trong nước, Ba Tư bị xâu xé bởi mâu thuẫn trong bộ lạc Qizilbash, những người khinh rẻ triều đình, thông qua việc họ giết cả hoàng hậu (mẹ Abbas) năm 1579 rồi Đại Vizia năm 1583.
Trước hết, Abbas trừng trị những kẻ giết mẹ của ông, ông xử tử 4 tên đầu sỏ trong vụ này, và đem 3 tên khác đi đày. Tiếp theo đó, ông quyết phủ nhận mình là một ông vua bù nhìn với kẻ chi phối ông là Murshid Qoli Khan. Murshid gả vợ góa đồng thời là em họ của Hamza cho Abbas. Murshid bắt đầu phong cho các bạn mình những chức quan lớn trong triều. Dần dần, Murshid trở nên chuyên quyền và Abbas chỉ là một cái bóng mờ trong hoàng cung. Trong khi đó quân Uzbek tiếp tục xâm lược Khorasan. Khi Abbas nghe tin người bạn cũ của ông là Ali Qoli Khan Shamlu bị giặc vây ở Herat, ông yêu cầu Murshid phải hành động ngay. Sợ giặc, Murshid không làm gì đến khi nhận được hung tin: Herat thất thủ và quân Uzbek thảm sát toàn thể dân chúng. Chỉ lúc đó ông mới sắp đặt một chiến dịch đánh Uzbek ở Khorasan. Nhưng Abbas dự định sẽ trả thù cho cái chết của Ali Qoli Khan và ông mua chuộc 4 thủ lĩnh Qizilbash để giết Murshid sau một bữa thiết tiệc ngày 23 tháng 7 năm 1589. Từ đó, Abbas đích thân cai trị Ba Tư.
Abbas quyết định rằng ông phải thiết lập lại trật tự trong nước trước khi ông đánh đuổi quân xâm lược và mở rộng bờ cõi. Thế là, ông kí một hiệp ước hoà bình với đế quốc Ottoman (1589/90). Theo đó Ba Tư phải chịu 1 điều khoản bất bình đẳng: phải nhượng cho Thổ các tỉnh xứ Azerbaijan,KarabaghGanja và Qarajadagh và cả những phần đất xứ GruziaLuristan và Kurdistan.

Giảm sự mạnh mẽ của người Qizilbash

Athonay Shirley và Robert Shirley (tranh vẽ năm 1622) giúp vua cải tiến quân đội Ba Tư. Tranh của Anthony van Dyck
Từ đầu thời Safavid, người Qizilbash đã được cung cấp đầy đủ sức mạnh của quân đội Ba Tư và chiếm giữ nhiều quyền hành trong triều. Để làm cân bằng lại quyền hành của họ, vua Abbas chuyển tầm nhìn của mình sang một yếu tố khác trong xã hội Ba Tư, những người ghulams(tạm dịch là “nô lệ”). Họ là những người GruziaArmenia vàCircassia theo đạo Islam và tham gia vào chính trị và quân sự Ba Tư. Abbas còn bổ nhiệm một số người ghulams làm quan đại thần. Một trong số họ là Allahverdi Khan gốc Gruzia, người đã trở thành chỉ huy của toán quân ghulamsđồng thời là tổng đốc của tỉnh Fars, một tỉnh giàu có. Abbas cách chức một số thủ lĩnh Qizilbash giữ chức tổng đốc và chuyển các nhóm người Qizilbash tới các vùng đất có các bộ tộc Qizilbash khác sinh sống, như vậy cộng đồng các bộc lạc Qizilbash trở nên yếu kém hơn. Vấn đề ngân sách đã được giải quyết bởi sự phục hồi quyền hành của nhà vua đối với các tỉnh trước đây do các tù trưởng Qizilbash điều hành, các khoản thu ở đó đã bổ sung cho ngân khố hoàng gia.


Cải cách quân đội

Abbas phải cải cách quân đội trước khi ông có thể hy vọng đương đầu với quân xâm lược Thổ và Uzbek. Ông cũng xem việc cải tổ lại quân đội như một trong những cách để trục xuất người Qizilbash. Để thế vào, ông thành lập một đội quân thường trực gồm 4 vạn ghulams và người Iran để lâm trận sát cánh đội quân phong kiến được cung cấp bởi người Qizilbash theo truyền thống. Đội quân mới không trung thành với một ai khác mà chỉ trung thành với đức vua. Họ bao gồm 10.000-15.000 kị binh được trang bị với súng hoả mau và những thứ vũ khí khác, một đoàn lính cầm súng hoả mai (12.000 quân) và đội pháo binh cũng gồm 12.000. Thêm vào đó Abbas có một nhóm vệ sĩ cá nhân gồm 3.000 ghulams.

Tái chiếm các lãnh thổ bị mất

Chiến tranh chống quân Uzbek

Sau khi cải tổ Quân đội, Hoàng đế Abbas I phát động chiến tranh chống quân Uzbek - những kẻ chiếm đoạt và tàn phá tỉnh Khorasan. Tháng 4 năm 1598, ông tiến hành cuộc tấn công đầu tiên. Quân đội của ông đã chiến thắng dễ dàng ở một trong hai thành phố lớn của tỉnh là Mashhad. Khi ấy, vua Uzbek là Din Mohammed Khan đang đóng quân một cách an toàn ở thành phố lớn thứ hai là Herat. Abbas đã giả vờ rút lui để nhử giặc ra khỏi đây. Sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1598 một trận chiến khốc liệt bùng nổ: Quân đội Safavid toàn thắng, vua Uzbek bị thương, phải rút quân rồi bị thủ hạ giết trên đường rút. Biên giới phía đông bắc của Hoàng đế Abbas I được ổn định trong thời gian đó, và giờ đây, ông có thể gây chiến chống Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây.


Chiến tranh chống Ottoman

Từ khi hòa ước 1589-90 được kí kết, Hoàng đế Abbas I bị xem là vua chư hầu của Đế quốc Thổ Ottoman. Các bậc tiên đế của ông vốn đã lâm chiến với Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ nhiều lần, nhưng chưa bao giờ giành được thắng lợi quyết định trước kẻ thù ở phía tây của họ. Vào năm 1602, Hoàng đế Abbas I tuyên bố rằng ông không muốn bị Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ sỉ nhục nữa. Khi sứ thần Thổ Nhĩ Kỳ kiêu ngạo đưa ra một loạt yêu sách, Abbas bắt giữ sứ, cạo râu sứ và gửi nó cho Hoàng đế Thổ Nhĩ ỳ ở kinh đô Constantinopolis. Đây là lời tuyên chiến. Thoạt đầu, Abbas tái chiếm Nahavand và tàn phá một pháo đài trong thành phố, pháo đài này được quân Thổ Nhĩ Kỳ dự định sẽ dùng nó như một bàn đạp cho những đợt tấn công vào Đế quốc Ba Tư.
Vào ngày 6 tháng 11 năm 1605, Hoàng đế Abbas I thân chinh thống lĩnh Quân đội Ba Tư giành chiến thắng quyết định trước quân Ottoman ở Sufiyan, gần Tabriz.
Năm 1623, ông quyết định chiếm lại vùng Lưỡng Hà, vốn đã bị ông nội Abbas là Tahmasp I làm mất về tay Thổ. Lợi dụng tình trạng hỗn loạn bao quanh sự lên ngôi của vua Thổ mới là Murad IV, ông dự định sẽ sửa soạn một hành hương về các thánh địa Shi'ite ở Kerbala và Najaf nhưng dùng quân đội của mình để chiếm lấy Baghdad. Năm 1624, dân Gruzia làm loạn, Abbas phải đối phó với quân nổi loạn mà sao lãng việc đánh Thổ, nên quân Thổ vây Bagdad, như Abbas đã giải vây Bagdad năm 1625 và đập tan quân đội Thổ Nhĩ Kỳ trong trận quyết định. Dù vậy, sau khi Abbas qua đời (1638), đế quốc Thổ chiếm lại Bagdad và đường biên giới Ottoman - Ba Tư được phân chia.


Kandahar và đế quốc Mogul


Giấc mộng của Jahangir: Jahangir (phải) ôm lấy Abbas, tranh vẽ Mogul.
Đế quốc Ba Tư là một đồng minh truyền thống của Đế quốc Ấn Độ dưới triều nhà Mogul trong chiến tranh chống quân Uzbek, những kẻ khao khát làm chủ tỉnh Khorasan. Trước kia, Hoàng đế nhà Mogul là Humayun đã nhượng tỉnh Kandahar cho ông nội của Hoàng đế Abbas I là Hoàng đế Tahmasp I để tỏ lòng biết ơn việc vị Hoàng đế Ba Tư đã giúp ông ta bảo vệ uy quyền của Vương triều Mogul. Vào năm 1590, lúc tình hình Ba Tư trở nên hỗn loạn, Hoàng đế nhà Mogul Akbar Đại đế liền "nước đục thả câu", và tiến hành xâm chiếm tỉnh Kandahar. Nhưng Triều đình Abbas I tiếp tục duy trì mối quan hệ ngoại giao hữu nghị với Triều đình Mogul, dù ông vẫn thường xuyên đòi hỏi vua Ấn Độ trao trả tỉnh Kandahar. Cuối cùng, năm 1620, một sự cố ngoại giao là sứ thần Ba Tư không chịu quỳ khi yết kiến Hoàng đế Jahangir đã dẫn đến cuộc chiến tranh giữa Ấn Độ và Ba Tư. Tron khi đó, nội bộ Ấn Độ có rối loạn và Hoàng đế Abbas I nhận thấy ông chỉ cấn tiến chiếm tỉnh Kandahar bằng một cuộc tấn công bất ngờ (1622). Với chiến thắng này, ông đã làm cho thanh thế của Đế quốc Mogul bị giảm sút. Sau cuộc chinh phạt, ông giảng hoà với Hoàng đế Jahangir, tuyên bố rằng ông chỉ chiếm lại Kandahar vì nó thật sự thuộc về ông và từ bỏ những tham vọng xa hơn về lãnh thổ. Về phần mình, Hoàng đế Jahangir không nguôi giận nhưng ông ta không thể nào tái chiếm tỉnh này.


Chiến tranh chống Bồ Đào Nha


Đảo Hormuz bị liên quân Anh-Ba Tư chiếm đóng trong Cuộc xâm chiếm Ormuz năm 1622.
Vào thế kỉ XVI, người Bồ Đào Nha lập những căn cứ ởVịnh Ba Tư. Năm 1602, dưới sự chỉ huy của Imam-Quli Khan Undiladze, quân Ba Tư đã đánh đuổi người Bồ Đào Nha từ Bahrain. Năm 1622, với sự giúp đỡ của bốn chiến thuyền Anh Quốc, Abbas đã tái chiếm Hormuz từ tay người Bồ Đào Nha trong Cuộc xâm chiếm Ormuz (1622). Ông lập lại nó như một trung tâm thương mại với cảng mới, Bandar-Abbas gần với đất liền, nhưng không thành công.






Con cái của Shah Abbas I:
Con trai
  • Prince Shahzadeh Soltan Mirza Mohammad Baqer Feyzi (b 15 năm 1587, Mashhad , Khorasan - k25 tháng 1 năm 1615, Rasht , Gilan ), Thống đốc Mashhad 1587-1588, và Hamadan 1591-1592.Lập gia đình (1) ở Esfahan , 1601, con gái của công chúa Fakhri-Jahan, Ismail II . Kết hôn (2) Del Aram, Georgia . Kết hôn (3) Marta con gái của Eskandar Mirza . Ông đã có vấn đề, hai con trai:
    • (Del Aram) Prince Shahzadeh Soltan Abul-Naser Sam Mirza, tức Shah Safi .
    • (By Fakhri-Jahan) Prince Shahzadeh Soltan Soleyman Mirza (k tháng 8 năm 1632 tại. Alamut ,Qazvin ). Anh đã có vấn đề.
  • Prince Shahzadeh Soltan Hasan Mirza (b 1588, Mazandaran . d 18 tháng Tám 1591, Qazvin )
  • Prince Shahzadeh Soltan Hosein Mirza (b 26 Tháng Hai, 1591,. Qazvin - d trước 1605.)
  • Prince Shahzadeh Tahmasph Mirza
  • Prince Shahzadeh Soltan Mirza Mohammad (b 18 Tháng 3, 1591,. Qazvin - k Tháng tám 1632,Alamut , Qazvin ) mù theo lệnh của cha ông, năm 1621.
  • Prince Shahzadeh Soltan Ismail Mirza (b ngày 06 tháng chín 1601, Esfahan - k 16 Tháng Tám 1613)
  • Prince Shahzadeh Imam Qoli Amano'llah Mirza (b ngày 12 tháng 11 1602, Esfahan - k Tháng tám 1632, Alamut , Qazvin ) mù theo lệnh của cha ông, năm 1627. Ông có vấn đề, một con trai:
    • Prince Shahzadeh Najaf Qoli Mirza (b 1625 -.. K Tháng tám 1632, Alamut , Qazvin )
Con gái
  • Công chúa Shahzadeh Alamiyan Shazdeh Beygom (d trước năm 1629), lập gia đình Mirza Mohsen Razavi. Cô ấy đã có vấn đề, hai con trai.
  • Công chúa Shahzadeh Alamiyan Zobeydeh Beygom (b 04 Tháng Mười Hai 1586 - k.. 20 Tháng Hai1632 ). Cô ấy đã có vấn đề, ​​ba con trai và một con gái, bao gồm: Jahan-Banoo Begum, kết hôn năm 1623, Simon II của Kartli con trai của Bagrat VII của Kartli của vợ ông, Nữ hoàng Anna, con gái của Alexander II của Kakheti . Cô đã có vấn đề, một con gái: Công chúa Izz-e-Sharif.
  • Công chúa Shahzadeh 'Alamiyan Khan Agha Beygom, kết hôn với Mirza Ala Abu Talib ud-din Muhammad al-Husaini al-Marashi, con trai của Mir Rafi ud-din Muhammad Khalifa Isfahani. Cô ấy có vấn đề, bốn người con trai và bốn con gái.
  • Công chúa Shahzadeh 'Alamiyan Havva Beygom (d. 1617, Zanjan)
  • Công chúa Shahzadeh Alamiyan Shahbanoo Beygom.
  • Công chúa Shahzadeh Alamiyan Malek-Nesa Beygom (d. 1629)

Safi

Shah Safi of PersiaShah Safi
Shah Safi (1611_1642) là vua Ba Tư từ năm 1629 tới 1642. Safi là vị quốc vương thứ sáu của nhà Safavid và là cháu nội của vua Shah Abbas. Ông là con của Mohammed Baqir Mirza (con trai của Shah Abbas Icó với vợ là Dilaram Khanum, người Georgia. Năm 1615, Mohammed Baqir Mirza bị cha giết chết vì ông ta sợ Mirza cướp ngôi mình. Vài năm sau, Abbas I lại giết và chọc mù mắt nhiều con trai khác, để lại Safi là người cháu và là người thừa kế ngai vàng duy nhất.
Safi đăng quang vào ngày 28/1/1629. Sau khi lên ngôi, ông tiến hành những cuộc ám sát những người bất đồng chính kiến để bảo vệ quyền lực trên ngai vàng. Ông cũng ít quan tâm đến công thương nghiệp và văn hóa trong nước (ông chưa biết đọc biết viết) mà chỉ dành thời gian của mình cho uống rượu và hút thuốc phiện. Đối với nhân dân, ông cấm họ hút thuốc vì cho rằng nó rất ghê tởm. Ai hút thuốc mà bị bắt được thì sẽ giết bằng cách đổ chì nóng vào miệng họ.
Trong thời gian Safi tận hưởng thú vui trong cung đình, tể tướng Saru Taqi (cầm quyền từ năm 1634) quán xuyến mọi việc. Dưới thời Taqi, công thương nghiệp phát triển mạnh, nhưng ông cũng rất độc đoán trong các vấn đề về công thương nghiệp.
Lợi dụng sự quản lý đất nước lơi lỏng của Safi, các nước xung quanh tìm cách xâm nhập, cướp phá Safavid. Quân Ottoman bắt đầu mở cuộc tấn công liên tục trong năm 1634, 1638 vào Safavid và kết quả họ đã chiếm được Bagdad và đóng ở đó cho đến Thế chiến thứ nhất. Tuy nhiên, hiệp ước Zuhab được ký kết sau đó vào năm 1639 đã kết thúc chiến sự Safavid - Ottoman. Ngoài các cuộc tấn công của Ottoman, Safavid gặp rắc rối bởi người Uzbekistan và Turkmen ở phía đông và bị mất vùng Kandahar về tay Mughals năm 1638.
Quốc vương Safi băng hà ngày 12/5/1642 ở Kashan và được an táng tại Qom. Con trai Safi là Shah Abbas II đã lên nối vị.

Abbas II

 
Shah Abbas II
Shah Abbas II (1633-1666) là vua xứ Ba Tư từ năm 1642 tới năm 1666. Ông là hoàng đế thứ 7 của triều đại Safavid. Ông là con trai của Safi và có tên là Thái tử Sultan Muhammad Mirza trước khi đăng quang vào ngày 15 tháng 5 năm 1642. Từ khi ông lên ngôi khi mới 10 tuổi, quyền trị quốc nằm trong tay tể tướng Saru Taqi, trong khi Abbas còn đang học tập.
Saru Taqi dẫn đầu một cuộc chống tham nhũng và gây ra nhiều mối thù. Vào ngày 11 tháng 101645 ông ta bị một nhóm sĩ quan quân đội mưu sát. Ông được kế nhiệm bởi Khalifa Sultan, người giữ chức vị tể tướng tới khi từ trần năm 1653 hoặc 1654.
Khác với vua cha, Shah Abbas II rất quan tâm đến việc triều chính ngay từ khi ông chính thức cai quản việc nước ở tuổi 15. Triều đại ông là một thời kì thái bịnh thịnh trị của vương triều nhà Safavid, và đế quốc Ottoman không còn tấn công Ba Tư nữa. Năm 1648 Abbas II chinh phạt Kandahar ở Ấn Độ và chiếm được nó từ tay đế quốc Môgôn hùng mạnh của hoàng đế Shah Jahan. Nhà vua qua đời ở Khusruadad gần Damghan vào đêm 25-26 tháng 10, 1666. Sự ra đi của vị hoàng đế lỗi lạc đã gây nên một sự thương tiếc lớn trong đế quốc.

Suleiman I

Shah soleiman safavi.jpgShah Suleyman I
Safi II (sau là Suleyman I) là vua thứ 8 của nhà Safavid nước Ba Tư, trị vì từ 1666 đến 1694. Ông là con trai trưởng của tiên vương Abbas II và Nakihat Khanum, nô lệ người gốc Circassian.
Ông đã lên ngôi quốc vương vào ngày 1 tháng 11,1666 với tên là Safi II. Vị vua trẻ tuổi đã thường sống trong hậu cung và không có sự hiểu biết về thế giới bên ngoài. Ông cũng say mê rượu chè và sức khỏe yếu. Trong năm đầu cai trị của ông, một loạt những khó khăn liên tiếp đè lên Safavid: thiên tai, hạn hán, lũ lụt xảy ra triền miên; loạn của quân Cossack Stenka Razin ở bờ biển Caspian. Trong cung đình, vì cho rằng Safi II lên ngôi ở thời điểm không thích hợp, Safi II đề nghị các quan chiêm tinh định lại ngày đăng quang. Theo ý kiến của các chiêm tinh, Safi II lại đăng quang lần nữa, nhưng lấy hiệu khác là Suleiman I vào ngày 20/3/1667. Giống như ông nội mình là Safi I, ông ít quan tâm đến công thương nghiệp của quốc gia và lui về hậu cung. Thời ông, tể tướng lên nắm toàn quyền, nhưng cũng từ đó khai sinh quan hoạn mà quyền lực của chúng ngày càng tăng trong suốt triều đại của ông. Tham nhũng ngày càng phổ biến, kỷ luật quân đội bị lỏng lẻo. Trong đối ngoại, Suleiman II đã không cố gắng khai thác điểm yếu của Ottoman sau khi quân Ottoman thất bại ở trận thành Vienna năm 1683 với liên quân Áo - Ba Lan do Jan III của Ba Lan chỉ huy. Ngoài ra, Safavid cũng bị quân Uzbek và Kalmiks tấn công liên tục, mất nhiều vùng đất lớn. Trong cung đình, do nghiện rượu nặng (có tài liệu ghi là bệnh gút) ông qua đời vào ngày 29/7/1694. Hoạn quan trong triều đã chọn Soltan Hosein, con trưởng của ông để kế vị ông.

Soltan Hosein
soltan_hoseinSoltan Hosein
Soltan Hosein (hay Soltan Hosayn) (1668 - 1726) là một vị vua nhà Safavid của Ba Tư (nay là Iran). Ông trị vì từ năm 1694 tới khi bị hạ bệ năm 1722 trong cuộc nổi dậy của người Afghanistan. Triều đại ông chứng kiến sự sụp đổ của nhà Safavid, một triều đại bắt đầu trị vì Ba Tư từ đầu thế kỷ 16. Hosein lên ngôi quốc vương sau khi phụ vương Suleyman I băng hà. Sau khi ông thoái vị thì Ba Tư bị người Afghanistan đô hộ, thủ lãnh của họ là  Mahmud Hotaki lên ngôi vua Ba Tư.



Mahmud Hotaki

Shah Mahmud của Ba Tư
Shah Mahmud Hotaki, còn được gọi là Mahmud Ghilzai (1697 - 22 tháng 4 năm 1725), là một vị vua  của triều đại Hotaki cai trị vùng Afghanistanngười đã đánh bại và lật đổ Shah Abbas III của triều đại Safavid để trở thành Shah Ba Tư từ 1722 cho đến khi ông qua đời năm 1725.
Ông là con trai cả của Mirwais Hotak , tù trưởng bộ tộc Pashtun của Afghanistan, người đã giải phóng khu vực Kandahar độc lập khỏi ách thống trị của Ba Tư năm 1709. Khi Mirwais qua đời vào năm 1715, ông thuyết phục chú của ông là Abdul Aziz lên thay làm tù trưởng bộ lạc, nhưng những người Afghanistan Ghilzai thuyết phục Mahmud giành lại quyền lực cho mình và năm 1717, ông lật đổ và giết chết chú để chiếm ngôi.

Mahmud chiếm ngai vàng của Shah Ba Tư

Năm 1720, Mahmud và Ghilzais đã đánh bại các bộ lạc đối thủ Afghanistan. Năm 1719_1721, ông tiến hành chiến dịch đánh thành Kerman. Thất bại trong nỗ lực này và trong cuộc vây hãm thành Yazd , vào đầu năm 1722, Mahmud chuyển sang sự chú ý đến shah Safavid Ba Tư. Sau khi đánh bại người Ba Tư tại trận Gulnabad, quân Mahmud chuyển sang tấn công, bao vây thành Isfahan của Ba Tư. Bị vây tới 7 tháng (tháng 3_tháng 10/1722, 80.000 người chết vì đói và dịch bệnh), Shah Hosein đã phải thoái vị và "đưa" Mahmud lên ngôi Shah Ba Tư.


Mahmud của triều đại shah Ba Tư

Trong những ngày đầu ông cai trị, ông tiến hành một đợt "cứu trợ" người dân bị đói, các thương gia bị thất thu việc buôn bán. Tuy nhiên, ông đã phải đương đầu với sự chống đối của Tahmasp, con của Shah Hosein. Năm 1723, Tahmasp tiến hành chiến tranh chống lại ông, nhưng không thành công, trong khi đó các cuộc nổi dậy khác chống lại ông diễn ra liên tục. Lợi dụng cơ hội Ba Tư đang rối loạn, Ottoman và Nga đang âm mưu đưa quân vào Ba Tư gây chiến để cướp đất đai.
Thất bại của ông trong việc áp đặt sự cai trị của ông trên khắp Ba Tư đã làm Mahmud chán nản và nghi ngờ chính mình. Ông cũng lo ngại về sự trung thành của bồi thần của mình, kể từ khi nhiều người Afghanistan thích người anh em họ của ông là Ashraf Khan và bất ngờ vu cáo Ashraf nổi loạn để bắt giam. Trong tháng 2 năm 1725, do tin rằng một tin đồn rằng một trong những con trai của Quốc vương Husayn, Safi Mirza, đã trốn thoát, Mahmud đã ra lệnh thảm sát tất cả các hoàng tử Safavid khác, con của Sultan Husayn.

Cái chết

Về cuối đời, Mahmud bắt đầu chống chọi lại với căn bệnh mất trí cũng như sự suy giảm về thể chất. Ngày 22 tháng 4, năm 1725, một nhóm các sĩ quan Afghanistan đã trả tự do Ashraf Khan từ nhà tù nơi ông bị Mahmud bắt giam và phát động một cuộc cách mạng cung điện lật đổ ông và đặt Ashraf trên ngai vàng. Ba ngày sau, Mahmud qua đời. Ashraf lên ngôi Shah.


Ashraf Hotaki

 
Shah Ashraf Hotaki
Shah Ashraf Hotaki ( ? _1730), con trai của Abdul Aziz Hotak , là vị vua thứ tư của triều đại Hotaki (Afganistan). Thời trai trẻ, ông làm tướng "phục vụ" cho quân đội của Shah Mahmud trong cuộc chinh phục Đế chế Ba Tư . Ashraf tham gia vào trận chiến của Gulnabad chống lại người Ba Tư và đã giành chiến thắng. Năm 1725, ông lên ngôi Shah ngay sau khi em họ là Mahmud qua đời.
Trong triều đại của ông, Ba Tư là nước bị "lép vế" và bị Thổ, Nga đe dọa quyết liệt. Ông đã đánh bại Đế chế Ottoman trong một trận chiến gần Kermanshah , sau khi kẻ thù đã đến gần kinh đô Isfahan của ông, cùng với Sultan ký hiệp ước đình chiến.
Trong khi đang nghỉ ngơi, Ashraf bất ngờ bị bắt và bị giết bởi một kẻ thuộc bộ tộc Baloch năm 1730. Đây có thể là một sự trả đũa cho giết chết Mahmud, và được lệnh Hussain Hotaki người đã cầm quyền từ Kandahar vào thời điểm đó.

Tahmasp II
Shah Tahmasp II
Tahmasp (1704_1740) là con trai của Soltan Hosein. Khi Hosein bị quân Afghanistan hạ bệ năm 1722, Tahmasp lên ngôi và thành lập triều đình tại Tabriz. Ông giành được sự ủng hộ của những người Hồi giáo theo hệ phái Sunni ở Caucasus, cũng như các bộ lạc Qizilbash (trong đó có cả người Afshar của tộc trưởng Nader Shah). Tahmasp cuối cùng cũng được Đế quốc Ottoman và Nga công nhận là quốc vương Ba Tư, tuy nhiên hai cường quốc này xâm lược và mang nhiều ảnh hưởng vào xứ Ba Tư. Năm 1729, Tahmasp nắm quyền khắp Ba Tư. Năm 1732, ông bị Nader Shah và con ông là Abbas III lên thay. Đến năm 1736, Nader Shah hạ bệ Abbas III rồi lên ngôi.
Năm 1740, tại Sabvezar, Tahmasp II và Abbas III bị con trai trưởng của Nader Shah là Reza qoli-Mirza giết chết .

Abbas III

Abbas III là vị vua cuối cùng của nhà Safavid nước Ba Tư, ở ngôi từ năm 1732 tới 1736.
Abbas sinh năm 1732, là con của Tahmasp II. Cùng năm đó, Nader Shah Afshar hạ bệ Shah Tahmasp II và Abbas III tám tháng tuổi được đưa lên ngôi quốc vương, tuy nhiên Nader Shah vẫn nắm thực quyền. Tháng 3 năm 1736, Nader Shah hạ bệ Abbas III rồi xưng vương, khởi đầu nhà Afsharid. Abbas cùng phụ vương bị giết tại Sabvezar năm 1740 bởi Reza-qoli Mirza, con trai trưởng của Nader Shah.

Screen_shot_2011-02-28_at_6.28.06_PM.pngbản đồ Ba Tư thời Safavid



Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

Ảnh hưởng của Islam giáo o Inđônêxia


tài liệu về ảnh hưởng của Hồi giáo đến các nước Đông Nam  Á :

Tài liệu sách: 

1.  Tôn giáo và đời sống hiện đại. T.4 / Lê Văn Toàn ch.b. - H. : Thông tin khoa học Xã hội, 2001 

2.  Islam Hồi giáo, Nguyễn Đức (và những người khác), NXB Văn hóa Thông tin,2002.

3...Lược sử Indonesia, Võ Văn Nhung, NXB Sử học, 1962

4. Lịch sử văn minh Ả rập, Will Durant, NXB Phục Hưng, 1975

5. Tìm hiểu văn hóa In-đô-nê-xi-a / Ngô Văn Doanh [và nh.ng. khác]. - H. : Văn hóa, 1987

6. Islam ở Malaysia, Phạm Thị Vinh , NXB Khoa học Xã hội, 2008.

7. D.G.E.Hall, Lịch sử Đông Nam Á

8. Trương Sĩ Hùng, Tôn giáo trong đời sống văn hóa các nước Đông Nam Á.

9. Nguyễn Tấn Đắc , Văn hóa Đông Nam Á

10. Ngô Văn Doanh, Indonesia những chặng đường lịch sử

 





.

 

 

 Tài liệu trên mạng:

1. Ảnh hưởng của Islam giáo đối với Inđônêxia thời kì trung đại

Phạm Văn Hổ
(Phân viện Đà Nẵng - Học viện CTQG HCM)
 ImageInđônêxia là đất nước có tỉ lệ người theo Islam giáo chiếm 90% dân số cả nước. Đây là một cộng đồng Islam giáo lớn nhất khu vực và thế giới. So với các tôn giáo khác như ấn Độ giáo, Phật giáo, v.v… quá trình cải đạo theo Islam giáo của cư dân ở đây diễn ra nhanh, rộng, sâu hơn rất nhiều. Quá trình này diễn ra chủ yếu vào thời kì trung đại từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVII, và cho đến hiện nay vẫn còn tiếp diễn ở một số đảo trên quốc đảo rộng lớn này.
Vào thế kỉ XIII, các vương quốc nhỏ ven biển đông Xumatơra như Đơly, Malayu (Giămbi), Péclai, Paxai đã tiếp thu Islam giáo. Sang thế kỉ XIX, Islam giáo lan nhanh sang vùng biển bắc Xumatơra vào Lamuri (Ramni), Xumađra… Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII Islam giáo du nhập mạnh mẽ vào Giava (Demac, Giaparan, Turan), vào Mulucca, Ache, Pagiang, Xulavixi… Bản chất của Islam giáo là có tính quần chúng, phổ cập hơn các tôn giáo khác, khi đến Inđônêxia, Islam giáo được xem là một tôn giáo đơn giản, bình đẳng, dễ thích ứng với các điều kiện địa phương, không cản trở các tín ngưỡng cổ xưa. Khi du nhập vào Inđônêxia Islam giáo: “Có xu hướng tha thứ các tập quán và những tín ngưỡngkhông hợp lệ với luật tục khắt khe của Islam giáo chính thống”(1). Với những ưu điểm đó, Islam giáo không gặp phải sự chống đối của những tôn giáo tín ngưỡng bản địa. Hơn nữa, vào thời điểm Islam giáo du nhập vào, ấn Độ giáo đã suy yếu, khủng hoảng bởi các cuộc đụng đầu, tranh chấp diễn ra giữa các vương quốc, và do sự suy tàn của các vương quốc ấn Độ giáo cũng là yếu tố quan trọng để Islam giáo lan toả nhanh hơn. Islam giáo đến với Inđônêxia chủ yếu do thương nhân theo Islam giáo người ấn Độ đưa vào, nó đã “mềm hoá” nhờ quá trình đồng hoá nhiều lễ  nghi ấn Độ và đặc biệt là bị quá trình “ấn Độ hoá”, chính vì vậy, được dân chúng chấp nhận dễ dàng. Islam giáo du nhập  vào Inđônêxia bằng con đường thương lượng, hoà bình, không phải bằng con đường chiến tranh “thần thánh” để áp đặt tôn giáo như ở một số nơi khác nên được giới cầm quyền cũng như cư dân trên quần đảo niềm nở đón tiếp. Có thể còn có nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng những gì chúng ta tiếp cận được, có nhân tố chủ quan, khách quan đã góp phần làm sáng tỏ vì sao Islam giáo lan nhanh, rộng, sâu vào Inđônêxia.
Quá trình cải đạo theo Islam giáo của đa số cư dân Inđônêxia đã làm thay đổi có tính toàn diện ở quần đảo này, nó tác động trực tiếp, sâu sắc tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn hoá, giáo dục.
Về phương diện kinh tế, sự xuất hiện của Islam giáo phù hợp với sự phát triển kinh tế thương mại, những thương nhân ấn Độ theo Islam giáo có công lao to lớn trong việc thúc đẩy phát triển thương nghiệp. Những thương nhân ấn Độ theo Islam giáo khi đến quần đảo này mục đích chính không phải để truyền đạo mà là trao đổi buôn bán, làm giàu. Tuy nhiên, để đạt được tham vọng đó, họ đã kết hợp với “truyền đạo”, là cách thức, con đường tốt nhất để xâm nhập vào thế giới thị trường rộng lớn, giàu nguồn nguyên liệu, hương liệu, sản vật quý hiếm. Và trong thực tế, việc cải đạo của cư dân ở đây đã giúp cho việc trao đổi buôn bán dễ dàng, thực sự góp phần quan trọng thúc đẩy buôn bán. Đúng như nhà nghiên cứu Ngô Văn Doanh đã nhận xét rằng, “việc cải đạo sang Islam giáo của Xumađra-Paxai, Bắc Giava, và các vùng khác ở quần đảo Mã Lai đã góp phần thúc đẩy việc buôn bán với phương Tây và sự lớn mạnh của các quốc gia Islam giáo(2). Sự hưng thịnh của các cảng, trung tâm thương mại cũng được tác giả cho biết: là do sự cải đạo sang Islam giáo của các tiểu vương đó. Dưới tác động của các thương nhân ấn Độ theo Islam giáo kinh tế thương mại Inđônêxia phát triển mạnh, trở thành trung tâm trao đổi hàng hoá quốc tế, là nơi bán các sản vật của quần đảo như lương thực, muối, bông, thuốc nhuộm, đồng, chì, thiếc, sắt, đặc biệt là hồ tiêu. Những thương cảng, trung tâm thương mại trao đổi buôn bán như Ramni, Xumađra-Paxai, Demac, Môluca, Gia Paran, Tu Ran, Ban Tan, Ache làm cho Inđônêxia trở thành đại thị trường, một cầu nối quan trọng trong nền mậu dịch Đông Nam á với thế giới. ở đây có mặt thương nhân của nhiều nước như Bồ Đào Nha, Miến Điện, Hà Lan, Anh, Pháp, Thổ Nhĩ Kì, Iran… và nhất là người ấn Độ, người Trung Quốc. Trong những thương cảng, trung tâm trao đổi buôn bán nổi tiếng, Xumađra-Paxai và Ache là hai trung tâm sầm uất, phồn thịnh, giàu có nhất. Xumađra- Paxai là hải cảng nằm ở biển bắc Xumatơra, vào thế kỉ XIII, đây là nơi dừng chân cho những thương nhân buôn bán giữa ấn Độ và Trung Quốc. Tuy nhiên, vào giai đoạn sau nó phải chuyển sâu vào trong đất liền đến Paxai để tránh những cuộc tấn công của cướp biển. Quốc gia Islam giáo  Xumađra-Paxai được hình thành từ đó. Vị trí của Xumađra-Paxai được đánh giá rất quan trọng: “Là một trung tâm trao đổi buôn bán quốc tế lớn của khu vực… là trung tâm buôn bán sầm uất của đảo Xumatơra, là nơi thu gom hồ tiêu từ nơi khác tới”(3). Ngoài những mặt hàng xuất khẩu, Xumađra còn là nơi cung cấp những sản phẩm cần thiết không thể thiếu cho các thương nhân từ các nơi khác nhau đến đây, như lương thực, thực phẩm, nước ngọt. Quốc gia Islam giáo  - Trung tâm thương mại Ache xuất hiện muộn hơn Xumađra-Paxai, song thời gian hưng thịnh kéo dài, sầm uất hơn nhiều. Vào thế kỉ XV Ache trở thành trung tâm xuất nhập khẩu quan trọng nhất trong việc buôn bán của người ấn Độ và người theo Islam giáo khu vực Tây á với quần đảo. Bạn hàng đến đây ngày càng đông hơn, ngoài những bạn hàng truyền thống theo Islam giáo còn có thương nhân người Trung Quốc, người phương Tây.
Sự lan toả của Islam giáo, kinh tế thương mại phát triển, đã tác động sâu sắc tới lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và bộ mặt đời sống nông thôn. Hồ tiêu, một nguyên liệu quý hiếm, trở thành một mặt hàng xuất khẩu có giá trị, đem lại nhiều lợi nhuận, nên đa số nông dân đã chuyển đổi giống cây trồng sang “chuyên canh” trồng cây hồ tiêu. Và do hồ tiêu do rất giá trị và quý hiếm nên thương nhân các nước không chỉ đến trao đổi buôn bán ở các thành thị, hải cảng mà còn vào vùng nông thôn, nơi trực tiếp sản xuất để trao đổi buôn bán. Vì vậy, quá trình thương mại hoá ở nông thôn cũng được diễn ra, từ đó đời sống của nông dân không ngừng được nâng cao. Khi hồ tiêu trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng, vị trí nông nghiệp được nâng lên, do đó các tiểu quốc đã quan tâm hơn đến những công việc liên quan đến thuỷ lợi phục vụ nhu cầu trồng trọt. Đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông, các tiểu quốc đã chú trọng đến việc làm đường, để thuận tiện việc vận chuyển nông phẩm. Như vậy cùng với sự du nhập Islam giáo một cách rộng rãi các thương nhân đã trao đổi buôn bán, làm giàu trên nguồn hương liệu và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Inđônêxia, từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp lạc hậu, về cơ bản trở thành một nền kinh tế thương mại phát triển khắp cả nước.
Về chính trị, Islam giáo du nhập vào, Nhà nước-quốc gia Islam giáo ra đời, đứng đầu vừa là vua, vừa là giáo chủ, có quyền lực rất lớn, là người điều hành lãnh đạo đất nước, tôn giáo. Để cai quản đất nước, nhà vua chia quốc gia thành nhiều đơn vị hành chính do các viên chức dưới quyền cai quản.
Trong quan hệ đối ngoại, các quốc gia Islam giáo chú trọng việc mở rộng quan hệ giao hảo, buôn bán với các nước trên thế giới, ngoài những nước là bạn hàng quen thuộc như Thổ Nhĩ Kì, ấn Độ, các nước Tây á, các quốc gia Islam giáo còn mở rộng quan hệ với các nước Châu Âu như: Hà Lan, Anh, Pháp, v.v… Trong bức thư gửi Nữ hoàng Êlidabet nước Anh của Sultan Alandin, Quốc vương Ache đã viết: “Tôi coi người Anh là bạn và đối xử tốt với họ… trong việc buôn bán mọi người Anh đều được phép không phải e dè gì… Những người Anh muốn có sự bảo trợ ở đất nước tôi, tôi sẽ chấp nhận những gì họ muốn”(4). Đây là một trong những bằng chứng thể hiện mối liên hệ khăng khít trong quan hệ bang giao của hai quốc gia. Khi các quốc gia Islam giáo đã đủ mạnh, việc mở rộng lãnh thổ, xâm chiếm thị trường được họ quan tâm. Cuộc chiến tranh giữa Liên minh Islam giáo do vương quốc Islam giáo Ache đứng đầu với người Bồ Đào Nha diễn ra liên tục từ thế kỉ XVI cho đến nửa đầu thế kỉ XVII để tranh giành vùng đất rộng lớn Malắcca là một ví dụ. Kết quả, Liên minh Islam giáo thất bại. Mãi đến khoảng giữa thế kỉ XVII liên minh Ache-Hà Lan phối kết hợp mới đuổi được người Bồ Đào Nha. Tuy nhiên, sau khi chiếm được Malắcca chính người Hà Lan đã thế chân ở đó.
Về văn hoá xã hội, Islam giáo du nhập vào Inđônêxia đem lại cho nhân dân Inđônêxia thời bấy giờ một cuộc cách mạng về tư tưởng. Họ tin vào Thượng Đế, tượng trưng là Allah, chứ không phải như trước đây họ tin rằng: “Vạn vật hữu linh”, vô số thần thánh, ma quỷ đã chi phối cuộc sống sinh hoạt của con người. Chủ nghĩa đa thần nhường chỗ cho chủ nghĩa độc thần-Thánh Allah tồn tại duy nhất trong tâm thức của mỗi người dân. Tín đồ Islam giáo tuyệt đối tin tưởng vào Allah - Thượng Đế tối cao, tụng niệm 5 lần trong ngày, ăn chay tháng Ramadan, hành hương và bố thí… Tuân theo giáo luật nghiêm ngặt này, đó là sợi dây liên kết các dân tộc khác nhau vào một cộng đồng chung - cộng đồng Islam giáo - cộng đồng Inđônêxia. Tuy nhiên, quá trình Islam giáo hoá Inđônêxia với những nghi thức giản đơn, với tính dễ dung hoà, đặc biệt kết hợp với những tín ngưỡng bản địa, do đó, Islam giáo ở đây có tính mềm mại, không khắt khe như Islam giáo ở các quốc gia khác, chế độ đẳng cấp cũng dần dần bị xoá bỏ, trước Thánh Allah mọi người được xem là bình đẳng, đối với phụ nữ không bị coi là ô uế, không cần chết theo chồng theo lễ Sulti như trước đây. Những thương nhân - nhà truyền đạo có vai trò đem Islam giáo đến khắp quần đảo rộng lớn, góp phần quan trọng làm cho các dân tộc khác nhau ở quần đảo tiếp xúc, giao lưu, hiểu biết về nhau nhiều hơn. Sự phát triển của Islam giáo làm cho quá trình di cư diễn ra dễ dàng hơn, mạnh hơn trong vùng quần đảo, ngôn ngữ Mã Lai cùng với Islam giáo lan toả, trở thành tiếng nói phổ biến cho hầu hết các dân tộc Inđônêxia.
Tóm lại, Islam giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Inđônêxia. Nó đã chi phối trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân, đóng vai trò là sợi dây tín ngưỡng đoàn kết cư dân Inđônêxia vào một cộng đồng thống nhất.
Song song với những tác động có tính tích cực, quá trình Islam giáo du nhập vào Inđônêxia cũng để lại những hậu quả, hạn chế nhất định. Islam giáo tràn vào quần đảo Inđônêxia dẫn đến các cuộc tranh chấp, xung đột lẫn nhau để xây dựng căn cứ, một số quý tộc tự lập các tiểu vương quốc, làm cho Inđônêxia rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và phân liệt thành hàng loạt nước nhỏ. Mặc dù sau khi du nhập vào Inđônêxia Islam giáo đã được “mềm hoá”, nhưng giáo luật và một số quy định khắc nghiệt của nó ít nhiều ảnh hưởng đến đời sống tâm lí của người dân. Chính điều này đã được chính quyền phong kiến ở Inđônêxia lợi dụng, sử dụng như một công cụ để cai trị, bắt buộc người dân - tín đồ phải trung thành với giai cấp thống trị, với nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, chấp nhận chế độ chiếm hữu tư nhân, cam chịu sự bóc lột dã man về kinh tế, áp bức hà khắc về chính trị. Trong giáo lí của Islam giáo nêu cao thuyết tiền định để giáo dục người dân tin vào sứ mệnh, để mong điều hoà giai cấp, thủ tiêu tinh thần đấu tranh của quần chúng, chính điều này đã làm cho người dân cam chịu, an phận thủ thường trong một trật tự xã hội mà không dám đấu tranh.
Hiện nay, Islam giáo không được xem là quốc giáo, nhưng vị trí, vai trò của nó trong đời sống xã hội Inđônêxia không hề bị giảm đi mà ngược lại, ngày càng được nâng cao. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, Inđonêxia là nước đứng đầu về xuất bản các tài liệu về Islam giáo, nhất là tài liệu giáo dục dành cho trẻ em. ở Inđônêxia tín đồ Islam giáo sau khi tốt nghiệp đại học đa số được nắm giữ các chức vụ trọng yếu của đất nước như làm việc trong các bộ nội vụ, tư pháp, ngoại giao, tài chính… Các học giả Islam giáo Inđônêxia tham gia tích cực vào cải cách giáo dục Islam giáo và hài lòng nhận thấy vị trí của người Islam giáo trong nền kinh tế Inđônêxia ở khu vực kinh tế truyền thống cũng như khu vực kinh tế hiện đại ngày càng cao(5)./.
Chú thích:
1. DGC. Hall. Lịch sử Đông Nam á. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997, tr. 336.
2. Xem: Ngô Văn Doanh. Indonexia – Những chặng đường lịch sử. Nxb. CTQG, Hà Nội 1995, tr. 96.
3. Ngô Văn Doanh. Sđd, tr. 96.
4. Ngô Văn Doanh. Sđd, tr. 101.
5. Xem: Nghiên cứu Đông Nam, Số 4, năm 1992.


2. Thánh đường Hồi giáo trong văn hóa Malaysia

UNREAD_POSTgửi bởi Le Phuong Thao » 13 Tháng 11 2008 16:53
Th Thế kỷ XV, theo đường biển thông qua giao lưu buôn bán và thương mại, Hồi giáo đã bắt đầu đặt chân lên các quốc gia Đông Nam Á hải đảo - trong đó có Malaysia. Trải qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử, sau khi giành được độc lập, Hồi giáo đã được công nhận là tôn giáo chính thức của liên bang. Với khoảng hơn 50% số tín đồ, Hồi giáo đã có những ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống văn hóa của người Malaysia. 


Kể từ khi Hồi giáo bắt đầu tiến vào lãnh thổ bằng con đường giao lưu buôn bán trên eo biển Malacca thì cơ sở tôn giáo của đạo này cũng đã bắt đầu xuất hiện trên lãnh thổ Malaysia. 


Theo Ghafar Ahmad, kiến trúc thánh đường ở Malaysia từ khi thánh đường đầu tiên được xây dựng cho đến nay có thể chia thành ba dạng tương ứng với những giai đoạn lịch sử cụ thể: 


Từ khoảng thế kỷ XVIII, những thánh đường đầu tiên ở Malaysia được dựng lên và đặc điểm chung của kiến trúc trong giai đoạn này là không hề mô phỏng sao y theo phong cách kiến trúc truyền thống của nhà thờ Hồi giáo. Việc xây dựng thánh đường lúc này phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa lý tự nhiên nắng nóng, mưa nhiều ở Malaysia. 


Điểm đáng lưu ý của thánh đường trong giai đoạn này là được xây dựng lên để đối phó với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều. Bộ mái được làm dạng dốc nghiêng để có thể thoát nước nhanh khi trời mưa, bộ khung thì được làm theo kiểu nhà sàn để tránh lụt. Cửa ra vào, cửa sổ thì được chạm khắc nhiều motif hoa lá, vừa thể hiện tài hoa của người thợ, vừa có tác dụng làm lỗ thông cho không khí khoảng trống để luồng vào dễ dàng. Những chất liệu chủ yếu được sử dụng thời kỳ này là những loại thực vật có sẵn từ thiên nhiên như gỗ, tre nứa, gạch, đá bằng đất sét nung...


Thời kỳ thuộc địa từ khoảng năm 1795 đến năm 1957, thánh đường ở Malaysia chủ yếu được được thiết kế bởi các kiến trúc sư và kỹ sư người Anh. Những hình ảnh quen thuộc của kiến trúc Hồi giáo dần xuất hiện như kiểu kiến trúc mái vòm củ hành, mái nhọn, tháp canh và những hàng cột... Chất liệu được sử dụng phổ biến là xi-măng, gạch với cấu trúc khung thép chịu lực. Thực tế, các kiến trúc sư thời kỳ này đã có sự trộn lẫn giữa phong cách Moorish và phong cách cổ điển của dòng bản địa, chẳng hạn như thánh đường Sultan Abu Bakar ở Johor Bahru. Hoặc kết hợp phong cách Baroque cổ điển với ảnh hưởng Moorish như thánh đường Jamek ở Muar, Johor. Nhìn chung, nét nổi bật trong nghệ thuật trang trí thời kỳ này là thể hiện những kiểu hoa văn hình học đơn giản, hình khối lập phương với bề mặt trơn phẳng.


Giai đoạn hiện đại trong khoảng từ năm 1958 đến nay kiến trúc thánh đường ngày càng tuân thủ chặt chẽ phong cách Hồi giáo, đồng thời những kỹ thuật công nghệ hiện đại cũng bắt đầu được các công trình sư tận dụng triệt để khi thiết kế xây dựng. Thánh đường ngày càng mở rộng diện tích ở sảnh cầu nguyện để đáp ứng chỗ ngồi cho số lượng tín đồ ngày càng đông. Những vật liệu hiện đại như bê-tông, gạch, thép, đá, cẩm thạch được ưa chuộng và kiểu thiết kế quen thuộc là hình dáng những mái vòm củ hành hay mái nhọn, tháp cao, trần cao. 


Điểm đặc biệt của kiểu thánh đường hiện đại là nó thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa công trình chính với các yếu tố ngoại cảnh xung quanh như khu vườn, hồ nước, những hàng cây, thảm thực vật, thiết kế ánh sáng... Hoặc kết hợp giữa phong cách của các thánh đường Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông... lại với nhau. Thánh đường ngày càng thể hiện những phẩm chất tối ưu của khoa học công nghệ chẳng hạn như National Mosque ở Kuala Lumpur ngoài diện tích rộng, xây dựng bằng bê-tông, đá cẩm thạch Ý với ngọn tháp cao 245 feet còn có thêm nhiều phòng chức năng khác như thư viện, văn phòng, phòng khách hoàng gia, nhà kho... và những hệ thống chiếu sáng, máy lạnh... 


Từ những đặc điểm cơ bản của kiến trúc thánh đường Hồi giáo Malaysia qua các thời đại đã cho thấy quá trình hòa nhập, biến hóa dần dần của Hồi giáo nơi đây. Việc xây dựng thánh đường ngay từ buổi đầu tiên không hề cho thấy sự áp đặt của tôn giáo này đối với người bản xứ mà thể hiện sự tự chủ hoàn toàn của người dân khi theo tôn giáo này, và họ đã xây dựng những thánh đường Hồi giáo hoàn toàn theo phong cách riêng của mình để phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu nơi đây. Vì vậy có thể nói kiến trúc thánh đường ở Malaysia hoàn toàn không phải là sự rập khuôn của kiểu thánh đường truyền thống Hồi giáo ở Arab mà đã có những biến đổi theo từng giai đoạn cho phù hợp với người bản xứ và dần dần trở thành một bộ phận không thể tách rời trong nền văn hóa của họ.
Mèo Ú



NHỮNG THÁNH ĐƯỜNG HỒI GIÁO NỔI TIẾNG Ở MALAYSIA

- Thánh đường Putra (Kuala Lumpur)

Hình ảnh

Thánh đường Putra nằm giữa lòng hồ Putrajaya được xây dựng bằng chất liệu chính là đá granit hồng phản chiếu trên nền nước xanh ngắt bao quanh tạo nên một cảnh quan thật thanh tĩnh và an lành. Không chỉ thu hút bằng vẻ ngoài quyến rũ và thơ mộng, thánh đường Putra còn nổi tiếng bởi lối kiến trúc cổng đồ sộ và ngọn tháp đơn bên cạnh công trình chính cao đến 116m chia làm năm tầng tượng trưng cho năm trụ cột của đạo Hồi. 


Được xây dựng từ năm 1997 và hoàn thành vào năm 1999 với sức chứa lên đến 15.000 người, Putra thực sự là một trong những công trình kiến trúc Hồi giáo tuyệt mĩ ở Đông Nam Á. Bức tường bên dưới thánh đường là sự mô phỏng kiểu kiến trúc của thánh đường King Hassan ở Casablanca, Maroque trong khi đó những ngọn tháp canh lại được làm theo kiểu kiến trúc thánh đường Sheikh Omar ở Baghdad, Iraq. Với lối kiến trúc vừa cổ kính vừa hiện đại kết hợp với sự hài hòa của màu sắc và sự cân xứng của những mái vòm, những motif hình học... có thể nói Putra Mosque xứng đáng là một đỉnh cao trong nghệ thuật kiến trúc theo phong cách Hồi giáo ở Malaysia. 


- Thánh đường Sultan Salahuddin Abdul Aziz Shah 


Hình ảnh

Sultan Salahuddin Abdul Aziz Shah Mosque hay nhiều người đơn giản chỉ gọi là “Blue Mosque” nằm kề bên một hồ nước nhỏ dệt nên một khung cảnh thật tĩnh lặng và thanh bình ở Shah Alam.
Tầng trệt của thánh đường bao gồm sảnh lớn để cầu nguyện, phòng hội họp, thư viện, phòng chuẩn bị trước khi vào cầu nguyện và nhà kho. Những cột trụ và hốc tường (nơi tín đồ hướng về để cầu nguyện) được bao phủ bởi lớp đá cẩm thạch trắng và trang trí bằng những đoạn kinh Koran truyền thống. 

Thảm trải sàn nơi dành cho tín đồ cầu nguyện được dệt từ len sợi và trang trí bằng những họa tiết hình học trắng trên nền màu xanh. Nền sân trong cũng được lát bằng những phiến đá xanh và trắng xen kẽ. Bên trên là mái vòm được làm từ chất liệu nhôm cũng có màu xanh dương và những dòng trang trí các đoạn kinh Koran với lối thư pháp kinh văn... gợi nên ấn tượng một “Thánh đường Xanh” thật trang nhã, hài hòa. Sở hữu một trong những mái vòm lớn nhất thế giới và bốn ngọn tháp dựng đứng bao quanh cao hơn 142m, có thể xem đây là thánh đường lớn nhất ở Malaysia và lớn thứ hai ở Đông Nam Á, chỉ đứng sau Istiqlal mosque ở Jakarta, Indonesia. 


- Thánh đường Jamek (Kuala Lumpur)


Hình ảnh

Là thánh đường cổ xưa nhất ở Kuala Lumpur, Jamek được xây dựng vào năm 1907 do Arthur Benison Hubbak – một kiến trúc sư người Anh thiết kế. Jamek nằm tại nơi giao nhau giữa hai con sông Klang và Gombak, bao quanh là nước biếc và những hàng dừa uốn mình thành hình vòng cung tạo nên cho thánh đường này một vẻ đẹp sống động như chính thiên nhiên bao quanh. 

Jamek đã từng là thánh đường trung tâm duy nhất của Kuala Lumpur cho đến năm 1965 khi thánh đường Negara được dựng nên thay thế vị trí của nó. Thánh đường có ba mái vòm trắng nhô cao phủ lấy sảnh cầu nguyện, tại góc là hai ngọn tháp xây bằng gạch đỏ và trắng xen kẽ lẫn nhau gợi cảm hứng từ kiểu kiến trúc Moorish. Có thể nói Jamek là thánh đường có vẻ ngoài ấn tượng và dễ nhận biết nhất ở Malaysia.
Từ một vài thánh đường tiêu biểu có thể đưa ra nhận xét chung là hầu như mỗi thánh đường Hồi giáo ở Malaysia hiện nay dù theo nền tảng của lối kiến trúc Hồi nhưng nó đã có sự biến hóa muôn hình vạn trạng dựa vào cảnh quan xung quanh và nhiều yếu tố kỹ thuật khác, tạo cho mỗi thánh đường một vẻ đẹp riêng có không thể hòa lẫn.


Với đa số dân theo Hồi giáo, thánh đường ở Malaysia đã trở thành một cơ sở tôn giáo quan trọng, một ngôi nhà tinh thần chung của con người. Đó không chỉ là nơi cầu nguyện của tín đồ mà còn là một nhịp cầu văn hóa để con người trên khắp mọi nơi gặp gỡ nhau, trao đổi thông tin và giao lưu kết bạn. 
Từ một cơ sở tôn giáo bình thường, thánh đường Hồi giáo đã trở thành trung tâm văn hóa của người dân Malaysia, là nơi con người gặp gỡ, học hỏi, truyền đạt thông tin, giáo dục cách sống, tổ chức những ngày lễ lớn (như tháng lễ Ramadan) đồng thời cũng là nơi của những tấm lòng nhân ái, quyên góp tiền của để giúp đỡ cho người nghèo... 


Không cầu xin tha thứ, rửa tội, không cầu duyên, cầu phước, cầu tài... Thánh đường Hồi giáo ở Malaysia đơn giản chỉ là nơi để tín đồ đến cầu nguyện, cầu nguyện để thể hiện lòng sùng kính với Allah – đấng tối cao duy nhất, và mỗi khi quỳ xuống cầu nguyện, con người cảm thấy được thanh thản, yên bình. Và một khi đã đặt chân vào không gian thoáng đãng rộng mở này thì tất cả mọi tín đồ dù giàu có hay nghèo khổ, dù địa vị xã hội cao hay thấp đều trở nên bình đẳng như nhau, bình đẳng trước thánh Allah. Có lẽ chính sự giản dị, vô sai biệt trong đối xử, trong giáo lý của nó đã khiến Hồi giáo nhanh chóng nhận được sự đón chào nồng ấm của con người nơi đây và ghi lại những dấu ấn văn hóa quan trọng.


TÀI LIỆU THAM KHẢO 
- Trương Sỹ Hùng 2007: Tôn giáo và văn hóa, nxb Khoa học xã hội. 
- Ben Van Wijnen: Masjid Jamek
http://www.malaysiasite.nl/masjidjamekeng.htm 
- Sultan Salahuddin Abdul Aziz Mosque
http://en.wikipedia.org/wiki/Sultan_Sal ... ziz_Mosque 
- Putra Mosque
http://www.glasssteelandstone.com/MY/Pu ... osque.html 
- A. Ghafar Ahman: The architectural styles of mosque in Malaysia: From vernacular to modern structures; htt
p://www.hbp.usm.my/conservation/Semi ... IYADH.html
g
3. 3. Hồi giáo tại Á Châu (phần 2) Ch

Chúng ta đã biết Hồi Giáo là đạo Thiên Chúa xuất phát từ bán đảo Ả Rập vào đầu thế kỷ 7, nhưng đến nay các quốc gia có số tín đồ Hồi Giáo đông nhất thế giới lại là những nước Á Châu. Đó là Nam Dương, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh... Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về tình hình Hồi Giáo tại các nước này:

NAM DƯƠNG (Indonesia). Nam Dương là một quần đảo rộng lớn, gần 2 triệu cây số vuông, lớn gấp 6 lần diện tích Việt Nam, gồm có 13.000 đảo lớn nhỏ. Java là đảo lớn nhất qui tụ 60% dân số cả nước. Thủ đô Jakarta nằm trên đảo này. Dân số Nam Dương là 230 triệu người, gồm có 40% là người Javanese (người Chà Và) 14% Sudanese, số còn lại là người Hoa và các dân tộc khác. Về tôn giáo: Hồi Giáo (phái Sunni) 87%. Công Giáo La Mã 9% (20 triệu) và Ấn Giáo 4% (9 triệu). Ngôn ngữ của Nam Dương là tiếng Mã Lai nhưng chữ viết của họ được mô phỏng theo chữ Ả Rập.
Những thương gia Hồi Giáo Ả Rập đã đến giảng đạo tại Nam Dương từ thế kỷ 8 nhưng không có kết quả trước các ảnh hưởng sâu đậm của Ấn Giáo tại vùng đất này. Phải đợi đến thế kỷ 15, một biến cố lớn lao đã xảy đến làm thay đổi tình hình đất nước này. Đó là sự kiện vua Raden Patah theo đạo Hồi đã ra lệnh cho toàn đảo Java phải bỏ đạo Hindu để theo đạo Hồi tập thể. Chỉ trong một thời gian ngắn, vua Patah đã biến đại đảo Java thành một vương quốc Hồi Giáo (Islamic Kingdom) đầu tiên tại Á Châu. Năm 1568, vua đảo Sumatra (đảo lớn thứ hai trong quần đảo Nam Dương) là Al-Quahhar ra lệnh cho toàn dân trên đảo phải theo đạo Hồi. Sau đó hai đảo lớn này và các đảo khác thống nhất lại tạo thành một nước Indonesia có số tín đồ Hồi Giáo lớn nhất thế giới.


Vào cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ Bồ Đào Nha đã đến giảng đạo Công Giáo tại miền đông đảo Timor và đảo Molucca. Họ đã thành lập tại hai đảo này nhiều cộng đoàn Công Giáo đông đảo. Năm 1945, Nam Dương dành lại độc lập từ tay thực dân Hòa Lan. Hai chính quyền của Sukarno và Suharto đều muốn tách rời chính trị ra khỏi các ảnh hưởng tôn giáo để biến Nam Dương thành một quốc gia thế tục (a Secular State). Tuy nhiên, các thế lực cuồng tín Hồi Giáo và Công Giáo đã tự võ trang và gây ra cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài 40 năm khiến cho trên một triệu người chết và 2 triệu phải tản cư. Cuối cùng, Liên Hiệp Quốc phải can thiệp để chấm dứt nội chiến bằng cách công nhận một nước Đông Timor (Công Giáo) độc lập kể từ tháng 8-1999.

MÃ LAI - Đạo Hồi xâm nhập Mã Lai từ cuối thế kỷ 7, tuy nhiên chỉ có một số ít dân theo đạo này mà thôi. Mã Lai bắt đầu được cả thế giới chú ý khi hải cảng Malacca tự ý biến thành "Hải cảng tự do" vào năm 1400. Năm 1413, ông hoàng Paramesvara cai trị Malacca theo đạo Hồi khiến cho nhiều dân Mã Lai cũng bắt chước theo đạo Hồi rất đông. Năm 1511, Bồ Đào Nha dùng sức mạnh quân sự chiếm Malacca và cai trị vùng này đến đầu thế kỷ 17. Sau hơn một thế kỷ lệ thuộc Bồ Đào Nha, nhiều người Mã Lai đã theo đạo Công Giáo nhưng đại đa số vẫn giữ đạo Hồi. Dân số Mã Lai hiện nay là 18 triệu, 50% theo Hồi Giáo, số còn lại là Ấn Giáo, Công Giáo và Phật Giáo. Từ lúc được độc lập đến nay, Mã Lai luôn luôn được lãnh đạo bởi các chính quyền Hồi Giáo.