Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Tư liệu về Hàn Quốc

Tư liệu về Hàn Quốc
1. VUA SEJONG (1418-1450) VÀ SỰ SÁNG TẠO CHỮ HANGUL
                                                                 TS. Lê Đình Chỉnh
                                                               Khoa Đông Phương học
                                                               Trường Đại học KHXH và NV Hà Nội.             
                                                                              
             Trong lịch sử Hàn Quốc, chỉ có Sejong (Thế Tông 1418-1450) được người dân xứ Hàn cho là xứng đáng với danh hiệu “Đại đế”. Ông không chỉ là vị vua đức độ, anh minh, trị vì khôn ngoan và tài năng, mà dưới triều đại ông trị vì, vùng bán đảo Hàn đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Có thể thấy  trong lịch sử Hàn Quốc, ngoài triều đại của Vua Sejong, chưa có một triều đại nào lại có sức sáng tạo kỳ diệu và tạo ra nhiều thành tựu to lớn như vậy.
            Sejong sinh năm 1397, ông lên ngôi vua năm 21 tuổi (1418). Để chấn hưng đất nước, xây dựng một triều đại mạnh, sau khi nắm quyền điều hành đất nước, Vua Sejong đã thành lập Chiphyonjon(Tập Hiền điện) nhằm thu hút  nhân tài trong nước. Chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” đúng đắn của Nhà vua đã nhanh chóng quy tụ được nhiều học giả nổi tiếng trong nước về Tập Hiền Điện để nghiên cứu và học tập, tập trung trí tuệ cùng hoàng gia trấn hưng đất nước. Do có sự quan tâm sâu sắc và sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà vua và các học giả trong Tập Hiền Điện mà  nhiều công trình văn hoá, khoa học, kĩ thuật dưới thời Vua Sejong đã ra đời.
            Dưới sự bảo trợ của Nhà vua, nhiều công trình khoa học đã được xuất  bản. Trong lĩnh vực pháp luật, đáng chú ý là bộ Chongjon (Chính Điển)  gồm 6 quyển. Đây là một công trình khoa học lớn do các học giả trong Tập Hiền Điện biên soạn nhằm tổ chức lại cơ cấu chính trị của triều đại Choson. Thông qua bộ luật này, quyền lực của Nhà vua không chỉ được đề cao mà bộ máy chính quyền từ trung ương đến các địa phương cũng sớm được củng cố. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng bộ luật, người ta có cảm giác rằng, vai trò của các học giả trong Tập Hiền Điện có ảnh hưởng lớn và thao túng đến quyền kiểm soát chính trị của triều đình Choson..
          Sử học cũng là lĩnh vực được bảo trợ. Với quan niệm, lịch sử là tấm gương, là khuôn mẫu của những bậc tiên vương đối với nhà cầm quyền hiện tại. Để noi gương các đời vua trước, công việc viết sử được Vua Sejong dành sự quan tâm khá đặc biệt. Vì vậy, nhiều cuốn sử nổi tiếng đã được xuất bản. Điển hình là bộ sử Triều Tiên Vương Triều Thực Lục( Choson wangjo sillok). Bộ sử này do nhiều sử gia trong Sử quán của hoàng gia biên soạn. Bản thảo của tác phẩm được bảo quản khá kĩ trong những kho đặc biệt và được cất ở 4 nơi như Seoul, Songju, Ch’ungju và Chonju. Ngoài bộ Thực Lục, Vua Sejong còn cho biên soạn bộ sử Quốc Triều Bảo Giám( Kukcho pogam) được trích từ  bộ Thực Lục để nêu gương của các bậc tiên vương và những lời khuyên giúp cho việc cai trị tốt đối với các đời vua sau.
Bên cạnh sử học, địa lý cũng là ngành khoa học quan trọng được vua Sejong dành sự quan tâm ngay từ đầu khi ông lên nắm quyền. Điển hình là cuốn Bát Đạo Địa Lý Chí ( P’alto chiri chi) biên soạn lần đầu tiên vào năm 1432 và sau đó đã được đưa vào bộ Thế Tông Thực Lục đã cung cấp những thông tin cần thiết  giúp cho việc cai trị đất nước. Nội dung của cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng như lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm của từng địa phương trong cả nước, những vùng đất, dân cư, đường và bưu trạm, đồn trú quân, những nơi có đèn hiệu giao thông…Cũng trong năm 1432, vua Sejong còn cho biên soạn cuốn Tam  Cương Hạnh Thực( Tamgang h aengsil), nội dung phản ánh khá chân thực về đức tính trung, hiếu, nghĩa trong quan hệ vua- tôi, cha-con, chồng-vợ. Tác phẩm không chỉ là một công trình khoa học mang  đậm tính nhân văn, mà còn là bài học lớn về giá trị giáo dục, nền tảng của đạo đức nho giáo nhằm duy trì trật tự xã hội của Choson thời đó.
       Ngoài những lĩnh vực nêu trên, nhiều lĩnh vực khoa học khác dưới thời Vua Sejong cũng nhanh chóng phát triển và để lại nhiều thành tựu có giá trị. Trong lĩnh vực nông nghiệp, đáng chú ý là cuốn Nông Sự Trực Thuyết( Nongsa chiksol) biên soạn năm 1430, được coi là cẩm nang của nền nông nghiệp Triều Tiên lúc bấy giờ. Nội dung cuốn sách được Vua Sejong đề cập khá chi tiết về đặc điểm của mỗi tỉnh và trên cơ sở đó, ông cũng tổng kết, đánh giá những kinh nghiệm trong nông nghiệp và phổ biến cho nông dân các cách dự trữ giống, bón đất, cấy mạ… Tương tự, liên quan mật thiết đến nông nghiệp, thiên văn và khí tượng học cũng phát triển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Năm 1442, Hàn Quốc đã sáng chế ra máy đo lượng nước mưa, đi trước phát minh của phương Tây khoảng 2 thế kỷ. Cấu trúc của loại máy này khá đơn giản, “nó được làm bằng sắt gồm một cái trục khoảng 42,5cm  sâu và 17 cm đường kính và những mẫu bằng gốm”(1).Dụng cụ này được để tại trụ sở của mỗi hạt để đo và ghi lại lượng nước mưa một cách khá chính xác. Cũng trong thời gian này, Vua Sejong còn cho sáng chế ra phong kì trúc- một loại dụng cụ để  đo hướng gió và xác định khá chính xác độ mạnh của gió.  Năm 1434, tại Kyongbok (Cảnh Phúc Cung), một đài quan sát được dựng lên và bên trong là một dụng cụ thiên văn để quan sát bầu trời. Ngoài những sáng tạo trên, đồng hồ thiên văn, đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước, bản đồ thiên văn, bản đồ địa hình cũng là những sáng tạo quan trọng trong thời gian Vua Sejong nắm quyền cai trị…Có thể thấy, những sáng tạo khoa học trên đây không chỉ đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật của người Hàn quốc thời đó mà còn góp phần quan trọng vào kho tàng văn minh của nhân loại.
            Về y học, được Vua Sejong bảo trợ, tác phẩm Hương Dược Tập Thành Phương( Hyangyak chipsong pang) cũng được xuất bản vào năm 1433.  Tác phẩm không chỉ giúp Nhà nước Choson thiết lập một nền y học độc lập bằng những kinh nghiệm của người Triều Tiên  mà nội dung của nó còn đề cập đến việc chẩn đoán bệnh, bốc thuốc, và phân loại các chuyên khoa về y học. Tương tự, năm 1445, cuốn bách khoa từ điển y học Y Phương Loại Tụ (Uibang yuch’wi) cũng được xuất bản. Công trình chứa đựng  nguồn tài liệu phong phú, thuận tiện cho việc tập hợp và tra cứu về y, dược học.
            Vào thời gian này, nghề in ở Hàn Quốc cũng phát triển mạnh. Trước thời Sejong, kĩ thuật dùng con chữ bằng kim loại đã được áp dụng rộng rãi trong việc in sách. Đến năm 1403, Nhà nước cho thành lập một xưởng đúc chữ và con chữ bằng đồng đã ra đời gọi là chữ kyemy (Quý Mùi tự), đánh dấu  sự tiến bộ vượt bậc của nghề in trong lịch sử nhân loại. Tuy vậy, kỹ thuật in này vẫn còn nhiều hạn chế. Đến thời vua Sejong, việc in ấn được cải tiến lên một bước mới bằng cách các con chữ được đúc đều ăn khớp với các ô vuông trên tấm đồng và kỹ thuật này cho phép in được nhiều bản in liên tiếp, đồng thời cũng giúp cho công việc xếp chữ để in dễ dàng hơn.
            Lĩnh vực quân sự dưới thời vua Sejong cũng phát triển khá toàn diện, đặc biệt là kỹ thuật đúc và sử dụng súng thần công- một loại hoả lực mạnh thời đó. Cùng với sự phát triển của khoa học quân sự, chữ Hangul ra đời đã  sớm đưa vào sử dụng trong việc giới thiệu những biểu đồ kỹ thuật trong tác phẩm Cho’ngt’ong tungnok (Súng Đồng Đảm Lục) xuất bản năm 1948. Ngoài súng thần công, vào những năm sau đó(1451), người Hàn còn sáng chế ra hoả xa (xe đại bác), “sử dụng thuốc nổ châm lửa bằng ngòi, dùng để bắn hàng trăm tên lửa được đặt trên một cái giàn đỡ”(2) .
            Không chỉ là người bảo trợ cho các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và văn học, Sejong còn là một vị vua có đầu óc thực tế và luôn quan tâm đến cuộc sống của thần dân như cải tổ chế độ thuế, giảm nhẹ thuế cho người dân. Năm 1444, Vua Sejong đã cho ban hành cống pháp( kongpop)- một chế độ thu thuế mới, nhờ đó, tỷ lệ thuế được giảm xuống còn 1 phần 20 (3).
            Tuy nhiên, trong tất cả những thành tựu được sáng tạo, thành tựu lớn nhất của Vua Sejong là việc sáng tạo ra chữ Hangul- bảng chữ cái tiếng Hàn. Sự ra đời của chữ Hangul không chỉ là kết quả của một quá trình vận động phát triển, sức sáng tạo văn hoá mạnh mẽ của dân tộc Hàn mà còn có ý nghĩa to lớn đánh dấu bước ngoặt mới trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của cư dân trên toàn bán đảo. Xuất phát từ ý thức rằng dân tộc mình phải có một hệ thống chữ viết để biểu đạt ngôn ngữ hàng ngày và đặc biệt là sự suy nghĩ của Nhà vua mong muốn cho toàn bộ thần dân có thể học và đọc loại chữ này một cách dễ dàng. ý tưởng đó đã thúc đẩy Vua Sejong sáng chế ra chữ Hangul. Đầu tiên được gọi là Huấn dân chính âm( hunmin- chongum) hay âm đúng để dậy dân. Bảng chữ cái Hangul ban đầu bao gồm 28 con chữ (ngày nay còn 24 chữ, trong đó có 10 nguyên âm và 14 phụ âm).
             Như vậy, về mặt thời gian, chữ Hangul được ra đời vào năm 1443 và đến năm 1446 nó chính thức được ban hành. Theo nhận xét của Giáo sư Lê Quang Thiêm, chữ Hangul là “hệ thống văn tự ghi âm-chữ viết ngữ âm học- có khả năng ghi âm, phiên âm bất kỳ một loại âm nào.  Có lời chào đón, ca ngợi của một số nhà ngôn ngữ học, cho rằng nó là một hệ thống chữ viết khoa học nhất trên thế giới. Ưu điiểm nổi bật là nó cực kì đơn  giản và dễ đọc”(4). Khi chữ Hangul được chính thức công bố, Vua Sejong đã viết lời nói đầu và ông giải thích động cơ thúc đẩy ông sáng tạo ra hệ thống chữ viết này. Lời tựa cho phần dẫn giải có đoạn: “ Giọng nói của ngôn ngữ chúng ta khác với giọng nói của Trung Quốc và không mấy dễ dàng được viết ra theo Hán tự. Do đó, mặc dù một số người trong số các thần dân ít học của chúng ta mong muốn diễn tả ý nghĩ của mình, trong nhiều trường hợp người này vẫn không diễn tả được. Nghĩ tới những người dân ấy, người dân của trẫm, với lòng cảm thông, trẫm đã sáng chế ra cách ghi của 28 chữ cái, chỉ mong sao mọi người đều có thể học được một cách dễ dàng và sử dụng cho lợi ích của cuộc sống thường ngày của họ”(5).
            Cũng cần thấy rằng, trong hoàng gia lúc đó, một bộ phận quan lại vốn là những quý tộc yangban đã không những không hưởng ứng ý tưởng của Vua Sejong trong việc chế tạo ra chữ hangul mà còn có nhiều ý kiến chống đối ông. Thời điểm đó, giai cấp thống trị yangban cho rằng họ cần phải bảo vệ sự độc quyền của họ trong học vấn bằng cách tiếp tục sử dụng hệ thống chữ Hán. Tuy nhiên, vượt qua những trở ngại trên, Vua Sejong đã cương quyết đẩy mạnh sự phát triển bảng chữ cái Hangul. Tranh thủ sự giúp đỡ của các học giả trong Tập Hiền  Điện như Song sam-mun( Thành Tam Vấn), Chong In-Ji( Trịnh Lân Chỉ), Sin Suk –chu (Thân Thúc Chu)…,Vua Sejong đã sáng chế ra bảng chữ cái Hangul. Có thể thấy, đây không chỉ là một sự sáng tạo độc đáo trong khoa học, mà còn là thành tựu văn hoá tự hào nhất của dân tộc Hàn. Về cấu trúc, chữ Hangul là một hệ thống các kí hiệu dựa trên biểu tượng của trời, đất, con người và các cơ quan  phát âm như lưỡi, môi răng, cổ họng… Với hệ thống chữ cái này, người Hàn có thể “ghi lại tất cả các âm tiếng Hàn một cách đầy đủ và đơn giản nhất từ trước đến nay”(6). Trong lời giải trình của Chongji Inji- vốn là một phụ tá thân cận của Nhà vua trong sáng tạo chữ viết, ông đã giải thích rằng với hệ thống chữ viết này “một người thông minh có thể học thuộc lòng trong một buổi sáng, còn như người tối dạ thì cũng chỉ mất mười ngày”(7). Sự ra đời của bảng chữ cái tiếng Hangul đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của dân tộc Hàn. Từ đây, ngưới Hàn Quốc có thể ghi lại tiếng mẹ đẻ bằng hệ thông chữ viết của mình.
            Sau khi công bố bảng chữ tiếng Hangul, Vua Sejong cho thành lập Chính Âm Sảnh hay còn gọi là Ngạn Văn Sảnh (cơ quan ấn loát chữ Hangul). Tiếp đó, Nhà vua đã cho xuất bản một số công trình lớn như Yongbi o ch’on ka( Long Phi ngự thiên ca), ca ngợi công đức tổ tiên của Nhà vua; Worin Ch’on’ gang chi kok (Nguyệt ấn thiên giang chi khúc) nhằm ca ngợi ánh trăng chiếu trên ngàn sông; Sokpo sangjok( Thích phổ tường tiết) đề cập đến cuộc đời Đức Phật.  Sau đó, đến thời Vua Sejo (Thế tổ, con của Vua Sejong), để quản lí việc xuất bản kinh Phật, Vua Sejo đã cho thành lập Khan Kinh Đô Giám. Nhiều kinh phật đã được cơ quan này dịch ra tiếng Hangul. Tuy nhiên, trong thời gian này, việc sử dụng tiếng Hangul  còn nhiều hạn chế, nhiều công trình có tầm quan trọng của nhà nước vẫn được biên soạn bằng tiếng Hán.
            Tóm lại, việc sáng tạo ra hệ thống chữ viết Hangul là một thành tựu văn hoá lớn của dân tộc Hàn trong nửa đầu thế kỷ XV. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử khác nhau, những thế kỉ tiếp đó, chữ Hán vẫn chiếm vị trí chủ yếu trong đời sống xã hội vùng bán đảo Hàn. Và cùng với thời gian, đến thế kỉ XIX; XX, chữ Hangul đã trở thành văn tự chính thức của nhân trên toàn bán đảo.
Trong thời kì Nhật Bản cai trị( 1910-1945), việc sử dụng chữ Hangul đã bị gián đoạn. Sau năm 1945, chữ Hangul được sử dụng trở lại. Để kỷ niệm ngày Vua Sejong ban hành chính thức chữ Hangul năm 1446, ngày nay, người Hàn Quốc đã chọn ngày 9/10 làm ngày kỉ niệm. Chữ viết Hangul không chỉ là một sáng tạo khoa học vĩ đại, mà còn là một phương tiện giao tiếp, truyền bá và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống và hiện đại của người Hàn Quốc.
            Cũng như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, tiếng Hàn ngày nay là một trong 20 ngôn ngữ có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thống kê cho thấy có khoảng gần 80 triệu người nói tiếng Hàn bao gồm khoảng 25 triệu người ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, 48 triệu ở Hàn Quốc, 1,9 triệu ở Trung Quốc, và nhiều người thuộc nhiều quốc gia khác như Nhật Bản, Nga, Mỹ, Canada,… Hangul (chữ viết vĩ đại) không chỉ là tài sản vô giá của người dân xứ Hàn mà còn là niềm tự hào của mọi thế hệ cư dân Hàn Quốc trong lịch sử và hiện tại.
           
            TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Ki baik Lee; Korea xưa và nay- Lịch sử Hàn Quốc tân biên; Nxb Tp Hồ Chí Minh 2002. tr: 278
  2. Ki baik Lee; Korea xưa và nay- Lịch sử Hàn Quốc tân biên; Sđd; tr 280.
  3. Ki baik Lee; Korea xưa và nay- Lịch sử Hàn Quốc tân biên; Sđd; tr 262.
  4. Lê Quang Thiêm; Văn hoá văn minh và yếu tố văn hoá truyền thống Hàn; Nxb Văn học;Hà nội 1998; tr 248
  5. Ki baik Lee; Korea xưa và nay- Lịch sử Hàn Quốc tân biên; Sđd; tr 273-274.
  6. Nguyễn Long Châu : Tìm hiểu văn hoá Hàn Quốc; Nxb Giáo dục; Tr 311.
  7. Lê Quang Thiêm; Văn hoá văn minh và yếu tố văn hoá truyền thống Hàn; Nxb Văn học; Hà nội 1998; tr 251
2. VỀ SỰ SÁNG TẠO CHỮ VIẾT HANGUL HUẤN DÂN CHÍNH ÂM VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG PHÁT TRIỂN
 VĂN HOÁ GIÁO DỤC KOREA
(Báo cáo đề dẫn)
                                                                                    GS.TS Lê Quang Thiêm

1. Hôm nay là ngày 7/10, còn hai hôm nữa là 9/10/2006 là ngày kỷ niệm tròn 560 năm ngày công bố chữ viết Hangul và Hummin Chongum (huấn dân chính âm) của Korea.
            Việc ra đời chữ viết Hangul (chữ viết Hàn ngày nay) và công bố Huấn dân chính âm được coi là sự kiện văn tự, ngôn ngữ, văn hoá lớn của nhân dân Korea. Sự sáng tạo hệ thống chữ viết Hangul và việc công bố sử dụng rộng rãi trong nhân dân không chỉ là một sự kiện ngôn ngữ văn tự mà là một sự kiện của giáo dục văn hoá văn minh. Bởi vì với hệ thống văn tự độc đáo và triết lý sáng tạo nó được giải thích và quán triệt đã góp phần to lớn vào việc phát triển văn hoá, giáo dục ý thức và lòng tự hào dân tộc của Korea từ giữa thế kỷ 15 cho đến ngày nay và tương lai.
            2. Cũng như nhiều ngôn ngữ của các dân tộc khác ở vùng đông á, trong một thời gian dài hàng chục thế kỷ tiến Hàn không có chữ viết. Mọi hình thức giao tiếp đều thực hiện bằng tiếng nói. Một ngôn ngữ mà chưa có chữ viết là thiếu đi một tiêu chí của xã hội văn minh đó là theo các Mác và Ph Ănghen xác định phôi bách sự đối lập giữa quan điểm dung vật và dung tâm chủ nghĩa trong hệ tư tưởng Đức. Và ngôn ngữ đó cũng không thể thực hiện đầy đủ các chức năng quan trọng và đa dạng của nó thời bấy giờ Korea như chức năng công cụ quan trọng của giao tiếp tư duy lưu giữ tàng trữ thông tin, chức năng thi pháp sáng tạo văn hoá thành văn cũng như Việt Nam và Nhật Bản phải mượn chữ Hán dùng tiếng Hán như ngôn ngữ chính thức của các nhà nước dân tộc. Vào giữa thế kỷ thứ 8 dưới triều Shila người Hán mà đại diện là Solchong đã sáng tạo ra một loại chữ viết cho tiếng Hán gọi là I du tương tự như chữ Nôm ở ta. Chữ I du cấu tạo theo phương thức tượng hình như chữ Hán và được đánh giá là “ tầm thường, quê mùa” vì nó đã dùng chữ viết không khác gì chữ Hán và xa xỉ đối với chúng ta (tức đối với người Hàn lời phê phán của Choc Malli). Chính vì vậy mà sự ra đời cả chữ viết Hangul và huấn dân chí nhâm được đánh  giá là một sự sáng tạo dân tộc độc đáo có ý nghĩa to lớn.
            3. Bối cảnh ra đời của chữ viết Hangul là vào thế kỷ 15 thuộc đời vua thứ 4 của triều đại hậu Chosony triều đại mà xã hội phong kiến Korea đạt đến đỉnh cao của sự phát triển (như triều hậu Lê của ta cùng thời). Dưới triều đại này nhân dân Korea đã có nhiều thành tựu sáng tạo to lớn trong các ngành khoa học như; địa lý, lịch sử, thiên văn, âm nhạc, ngôn ngữ, pháp luật…Nhiều tác phẩm đã trở thành cổ điển  do viện danh nhân hay còn gọi viện tập hiền tổ chức biên soạn trước tác mà vua Sejong (1418  -1450 ) là người đứng đầu trong đó (giống như Lê Thánh Tông ở nước ta với Tao đàn nhị thập bát tứ. Để có cơ sở khoa học và thực tiễn cho sự sáng tạo nhà vua đã cho các nhóm học gửi qua Trung Quốc và các vương quốc lân bang nghiên cứu, một số khác đi điều tra ở các địa phương. Sưu tập các con triện phân tích vẽ trên các dấu triện con triện cá nhân để vẽ thử, viết thử các dạng nét chữ viết, tìm cách tổ hợp kết hợp nết chữ theo lối Modul hoá tạo thành hệ thống chữ viết Hangul. Vua Sejong là người cha từ trong cả quá trình này. Cuối cùng vào năm 1443, 1444 và đến 1446 thì chính thức công bố Hangul cùng với huấn dân chính âm, tạm hiểu như là âm chính xác để truyền thụ giáo húân cho dân, giải thích hướng dẫn cách thức, nguyên lý sáng tạo hệ thống chữ viết mới mà nhân dân cần thấu hiểu và dùng theo.
            4. Phải nói rằng việc sáng tạo chữ viết Hangul và công bố Huấn dân chính âm là một việc làm có ý nghĩa khoa học độc đáo ý nghĩa văn hoá to lớn. ý nghĩa khoa học nổi bật ở chỗ: Một là vào thời bây giờ việc tiếp xúc Đông Tây còn hạn chế các nước đông á chịu ảnh hưởng nặng nề từ tiếng Hán, chữ Hán tượng hình mà nguyên tắc sáng tạo chữ Hangul lại làm theo lối ghi âm gần gũi với nguyên tắc sáng tạo chữ La Tinh, chữ viết Slavơ (Kirin Mêphôđi) của phương tây. Hai là cách thức tổ hợp nét chữ, nguyên tắc hợp tố được thể hiện rõ theo lối phát sinh (ít kết hợp lại thành nhiều đơn thành phức) cộng với phương thức modul hoá (lắp ghép theo khối) để thành âm tiết, các âm phức. Ba là cách sắp xếp bài trí lại theo lối đồ hình chứ không hoàn toàn hình tuyến gây ấn tượng, tạo hình khối đẹp, cân đối trong tổ hợp nét chữ. Cách sắp xếp bài trí này có ý nghĩa kiến trúc đẹp trong hình tượng, lợi thế cho bài trí, quảng cáo, tạo điều kiện cho nghệ thuật thi pháp như chữ Hán và điều này làm cho một số nhà ngôn ngữ học chưa biết hệ thống chữ viết này lầm tưởng rằng đây là hệ thống chữ viết tượng hình. Có thể nói ý tưởng kết hợp truyền thống với đổi mới, sáng tạo chọn nguyên tắc gần gũi với nguyên tắc sáng tạo chữ viết phương Tây kết hợp với nết đông á thật rõ nét.
            5. Đặc điểm ưu việt và có ý nghĩa văn hoá to lớn là ở động cơ và ý thức sáng tạo của Sejong và nhóm quần thần. Nhà vua quan niệm rằng việc mượn dùng chữ Hán là cần thiết, nhưng có nhiều khó khăn và hạn chế đối với người dân. Vậy cần thiết sáng tạo ra một hệ thống chữ viết dân tộc ghi lại chính xác tiếng nói của nhân dân dễ đọc, dễ nhớ. Trong huấn dân chính âm có đoạn viết: "Có khí hậu và đất đai trong 4 phương trời là khác nhau. Những lực lượng vật chất cũng như lời nói cũng không giống nhau. Ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau có cách phát âm riêng nhưng lại thiếu chữ viết nên ta mượn chữ Hán để thực hiện sai cần thiết nói trên. Tuy vậy đó là một cố gắng khó khăn như ta phải đánh bàn tay xuyên qua một lỗ tròn hẹp vậy. Chính vì lẽ đó mà điều quan trọng dân tộc ta phải theo thực tiễn phát âm của thần dân mà làm ra chữ viết riêng dễ học, dễ nhớ. "Lúc bấy giờ có nhiều học giả uyên thâm Hán học không tán thành việc sáng tạo ra Hangul thì Sejong quả quyết rằng việc khó khăn và có ý nghĩa líư mà ta không làm thì ai làm". Vào dịp công bố chính thức chữ viết Hangul vua có lời nói đầu giải thích động cơ ông làm vịêc này và một  phụ tá là Chong Jint viết lời giải trình giải thích quá trình sáng tạo hệ thống chữ viết, thuyết phục những người phản đối khuyến dụ nhân dân học theo. Có thể nhận thấy vào thời bấy giờ mà có vị vua có ý thức dân tộc, khoa học và nghĩ về dân như vậy thì thật đáng nể trọng và tôn vinh xứng đáng.
            6. ý nghĩa khoa học độc đáo và văn hoá to lớn của Hangul và huấn dân chí thâm còn thể hiện ở triết lý sáng tạo sâu sắc. Hệ thống bảng chữ công bố đầu tiên là 27 con chữ (nay dùng 24) bao gồm 7 ký hiệu ghi nguyên âm, 17 ký hiệu ghi phụ âm và 4 ký hiệu phụ. Con số gần ba chục con chữ này dùng để ghi toàn bộ hệ thống (nguyên âm, phụ âm) lại được tổ hợp chỉ từ một số nét chữ gốc ít hơn, đơn giản hơn mà các nét chữ này lại được liên hội biểu trưng hoá từ cơ sở thực tiễn và triết lý triết học mang màu sắc phương Đông. Những ký hiệu gốc một bộ phận mô phỏng tượng trưng cho cơ quan bộ máy phát âm và phương thức cấu âm ví như các nét chữ ghi phụ âm. Trong phụ âm lại phân biệt âm đầu và phụ âm cuối trong âm triết. Các nét chữ phụ âm này này lại liên kết tổ hợp để tạo ra ký hiệu phụ âm phức. Sự kết hợp, tổ hợp với nét gốc phụ âm được liên hội, giải thích theo triết lý thái cực và âm dương ngũ hành trong chu dịch. Ba ký hiệu gốc nguyên âm chỉ là 3 nét chữ đơn giản, tạm gọi là 3 nét chấm (.) ngang (-) sổ (½). Ba nét gốc lại có thể tổ hợp theo một số cách (phái sinh) để tạo thành các chữ nguyên âm phức. Ba nét gốc được liên hội giải thích theo thuyết tam tài, thiên địa chất hợp nhất. Có thể nhận thấy rằng những hình dung giải thích biểu trưng hoá gắn với nguyên lý triết học và thực tiễn trong Hangul và huấn dân chính âm thật thâm huý sâu sắc. Nhìn nhận toàn bộ sáng tạo có thể rút ra nhiều hệ luận, nhưng theo tôi có một sợi chỉ đỏ quán xuyến mà ta có thể thấy là: Sejong và cac tác giả sáng tạo đã làm ra một công cụ hữu hiệu (chữ viết) để ghi lại thứ tài sản  vô cùng quý giá của dân tộc (là ngôn ngữ) và dùng nó như một công cụ  có hiệu lực vô song để thống nhất phát triển cố định văn hoá, văn minh dân tộc với bản lĩnh bản sắc riêng với động cơ ság tạo và triết lý sáng tạo vô cùng sâu sắc. Giá trị sáng tạo của Han gul và huấn dân chính âm thật xứng đáng để tổ chức văn hoá giáo dục của LHQ (UNESCO) lập ra giải thưởng vua Sejong (1989) và công nhận là di sản tư liệu văn tự thế giới. (Memong of the world 1997)
            7. Chữ viết Hangul ra đời đã đóng một vai trò to lớn trong phát triển giáo dục và văn hoá dân tộc Hàn. Cũng giống như chữ nôm ở nước ta một thời rồi chữ quốc ngữ tiếp theo chữ viết Hangul ở xứ Hàn cũng nhiều lúc bị lâm vào hoàn cảnh thăng trầm, coi nhẹ. Do ảnh hưởng của chữ Hán và văn hoá Hán còn mạnh, nên một số triều đại về sau ít dùng ít đề cao chữ viết dân tộc. Đặc biệt dưới thời kỳ bị đô hộ bởi thế lực nước ngoài thì nó bị cấm dùng cấm học tập, truyền bá. Tuy nhiên như một giá trị sáng tạo có cội rễ từ bản sắc dân tộc chữ viết Hangul và quan điểm tiến bộ của huấn dân chính âm vẫn sống vẫn phát huy chống lại thành công mọi ảnh hưởng dù là cường quốc văn hoá, văn tự phương tây. Vai trò to lớn của nó trong giáo dục, văn hoá có nhiều mặt, song nổi bật hơn cả theo dõi là một số điểm lớn sau đây.
            Một là do tính ưu việt dễ học, dễ nhớ của  nó nên được nhiều người dân học theo. Chữ viết Hangul còn gọi là chữ viết buổi sáng, bởi có thể học thuộc nó trong một ngày, một buổi. Có người còn gọi nó là chữ viết vĩ đại. Hiệu quả thực tế khi được phổ biến là giúp cho gần 100% dân chúng thoát nạn mù chữ trong một thời gian ngắn.
            Hai là từ khi nó ra đời, với sự nêu gương sáng tác của vua Sẹong và các cận thần, các hiền tài thức giả nó đã mở đầu xây dựng và phát triển một nền văn học này cũng có nhiều tác phẩm đi vào cổ điển như truyện Xuân Hương và có nhiều tác phẩm của nhiều nhà văn nhà thơ tiêu biểu khác. Không những thế những sáng tác dân gian, phôn clo cũng được sư tập, cố định lại bằng văn bản Hangul, nhiều học giả sáng tạo các lĩnh vực địa lý, lịch sử, pháp luật cũng thể hiện kết quả, tư tưởng của mình bằng chữ Hangun có thể nói một nền khoa học nhân văn phong phú, sâu sắc và được sáng tạo, lưu giữ bằng thứ văn tự này.
Ba là đặc điểm có vai trò to lớn trong văn hoá giáo dục ở giá trị tự thân người sáng tạo này (Hangul và Huấn dân chính âm) nó là biểu hiện của ý thức và sự sáng tạo độc đáo dân tộc. Vì vậy khi nó tồn tại, hành chức luôn luôn là niềm khích lệ, niềm tự hào dân tộc chính đáng, là sức mạnh chống lại sự đồng hoá của ngoại bang. Giá trị tự hào dân tộc, sức mạnh dân tộc kết gắn với chư viết Hangul và Huấn dân chính âm đối với nhân dân Hàn thật là to lớn.
8. Khi tìm hiểu quan hệ 2 nước chúng ta cũng như nhiều đồng nghiệp Hàn Quốc nhận thấy rằng Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều tương đồng về lịch sử và văn hoá, giáo dục. Tìm hiểu về chữ viết Hangul và Huấn dân chính âm chúng ta càng có điều kiện liên hệ và phát huy những sáng tạo độc đáo to lớn trong trường kỳ lịch sử kiên cường của hai dân tộc vào công cuộc xây dựng phát triển mới ngày nay.
Hôm nay chúng ta tổ chức hội thảo kho học và cũng là dịp để kỷ niệm ngày ra đời và công bố Hangul và Huấn âm chính dân. Mong rằng nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học trong hội thảo sẽ làm chúng ta thêm yêu mến tin tưởng, đẩy mạnh việc nghiên cứu Hàn Quốc nói riêng và Đông Phương nói chung ngày càng phát triển và có nhiều thành tựu hơn nữa.



Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước



Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 

1. Kiên định quyết tâm quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược 
Quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược là quyết tâm lớn của Đảng, cũng là quyết tâm của toàn quân, toàn dân, của cả nước Việt nam. Đó là một quyết tâm vĩ đại được khẳng định từ đầu và luôn luôn kiên định trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Quyết tâm ấy được bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường bất khuất, ý thức làm chủ vận mệnh đất nước của người Việt Nam, được hun đúc từ ngàn đời nay. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, dân tộc ta triệu người như một, sẵn sàng đứng lên chống giặc, cứu nước. 
2. Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ 
Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta” ( *). Đường lối đó được thể hiện trong một loạt chủ trương mang tính hệ thống, kết hợp những vấn đề về nguyên tắc, chiến lược với những vấn đề về sách lược và phương pháp, hình thành một giải pháp tối ưu đưa cách mạng và kháng chiến tiến lên một cách vững chắc, từ giai đoạn mở đầu đến giai đoạn kết thúc. Nó tạo nên sức chiến đấu to lớn của cả nước, của toàn dân tộc, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ sâu rộng và mạnh mẽ nhất của thế giới trong điều kiện quốc tế rất phức tạp, bảo đảm cho quân và dân ta đánh thắng từng bước, tiến lên đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. 
Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng XHCN ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ đó với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung: Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên XHCN. 
Đường lối đó chỉ ra phương hướng giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa chống đế quốc và phong kiến, giữa nhiệm vụ giải phóng đất nước với xây dựng đất nước, giữa cách mạng nước ta với cách mạng thế giới, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. 
Khi hạ quyết tâm chống Mỹ, giải phóng miền Nam, Đảng ta xác định dứt khoát, cách mạng XHCN ở miền Bắc đóng vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ tiến trình cách mạng nước ta; cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tuy là hai nhưng trên thực tế đã quyện với nhau làm một, do một Đảng lãnh đạo, một nhân dân, một dân tộc, một quân đội tiến hành, tạo thành sức mạnh chung của cả nước, trong đó sức mạnh lớn nhất là ở miền Bắc, ở hậu phương. 
Thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của con đường cách mạng bạo lực được thực hiện bằng hai lực lượng cơ bản, lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; bằng hai hình thức đấu tranh cơ bản: Đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Trên cơ sở nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, biết đánh thắng từng bước, đẩy lùi địch từng bước, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. 
3. Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo 
Nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được phát triển lên một trình độ cao, sáng tạo với những nội dung và hình thức đấu tranh cực kỳ phong phú, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh. 
Đó là nghệ thuật động viên, tổ chức toàn dân, cả nước tiến hành chiến tranh với hai lực lượng quân sự và chính trị, hai hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, chiến tranh cách mạng và khởi nghĩa của quần chúng, tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công trong đó đòn tiến công quân sự có ý nghĩa quyết định, làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ. 
Đó là xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, một thế trận rất hiểm hóc, ngày càng hoàn chỉnh và vững chắc. Thế trận đó được xây dựng bằng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang nhân dân trên ba vùng chiến lược ( đồng bằng, rừng núi và đô thị), kết hợp chặt chẽ để tiến công địch, tạo nên thế trận liên hoàn trên toàn miền Nam, nối liền với miền Bắc, cùng với hai nước anh em Lào và Campuchia dựng lên thế trận liên hoàn giữa 3 nước. 
Đó là nghệ thuật tiến công kiên quyết, tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, kết hợp chặt chẽ ba mặt trận: đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao với hình thức phong phú đa dạng. Kết hợp chiến đấu với sản xuất và không ngừng ổn định đời sống nhân dân trong chiến tranh. 
Nghệ thuật chiến tranh của ta đã biết mở đầu đúng, biết đánh lâu dài, giành thắng lợi từng bước, tạo những bước chuyển biến lớn của chiến tranh. 
Điểm nổi bật là nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân phát triển đến mức cao ở cả hai miền, đồng thời hình thành và phát triển khá hoàn thiện một nghệ thuật đấu tranh chính trị đặc sắc, làm cho chính trị vừa là nền tảng cơ bản của cuộc chiến tranh nhân dân vừa là một phương thức tiến công địch trực diện có hiệu lực chiến lược cao trên chiến trường. 
Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân của ta là nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu địch mạnh, lấy ít đánh nhiều, lấy trang bị kỹ thuật ít hơn và kém hiện đại đánh thắng quân địch có trang bị kỹ thuật dồi dào và hiện đại hơn. Nó biểu thị một tư duy quân sự rất sáng tạo, tiêu biểu cho học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 
4. Tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc 
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác tổ chức đã được triển khai với quy mô rộng lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh nước ta. Đó là công tác xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, đó còn là hình thức và phương thức xây dựng các tổ chức Đảng, chính quyền, quần chúng ở cả hai miền Nam, Bắc; tổ chức hậu phương lớn, tổ chức các căn cứ kháng chiến tại chỗ ở miền Nam; tổ chức chiến trường... 
Một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đường lối và nghệ thuật tổ chức xây dựng lực lượng là phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị để Đảng có đủ sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, xứng đáng là đội ngũ tiêu biểu cho trí tuệ cách mạng và khoa học của dân tộc và của thời đại, thực sự là lực lượng tiên phong của dân tộc, dìu dắt toàn dân trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ. 
Đường lối và nghệ thuật tổ chức của Đảng đã tạo nên lực lượng cả nước đánh giặc lớn nhất trong lịch sử dân tộc ta. Chính lực lượng cả nước đánh giặc là cơ sở vững chắc của thế chiến lược tiến công ngày càng phát triển vững mạnh và sắc bén của chiến tranh nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức đánh thắng lực lượng và bộ máy chiến tranh đồ sộ và hiện đại của đế quốc Mỹ. 
5. Xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc, phát huy vai trò của hậu phương lớn và hậu phương tại chỗ 
Đảng ta sớm xác định miền Bắc là nền tảng cho lực lượng cách mạng cả nước, sớm định hướng xây dựng miền Bắc theo con đường XHCN. Đây là quyết định đúng đắn, là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương lớn vững chắc của kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Xây dựng miền Bắc vững mạnh nhằm xây dựng thực lực cách mạng cho cả nước, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tạo điều kiện để có thể chi viện lực lượng ngày càng lớn cho miền Nam và cùng miền Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Xây dựng miền Bắc tiến lên CNXH là xây dựng căn cứ địa cách mạng cho cả nước. 
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước miền Bắc vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước, vừa là hậu phương lớn của cuộc kháng chiến, vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu quyết liệt với không quân và hải quân Mỹ. Miền Bắc còn là nơi đặt các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của Đảng và của Bộ Tổng tư lệnh, lãnh đạo toàn bộ cuộc cách mạng Việt Nam và điều hành chỉ huy chiến tranh trên cả hai miền Nam – Bắc. 
Đảng ta còn chăm lo xây dựng và mở rộng những vùng căn cứ, vùng giải phóng ngay tại chiến trường làm hậu phương tại chỗ. Các vùng giải phóng, căn cứ hậu phương tại chỗ có thế liên hoàn trên cả 3 vùng chiến lược, nối liền với hậu phương lớn miền Bắc, cùng với căn cứ hậu phương của hai nước Lào, Campuchia dựa lưng vào nhau thành thế mạnh của chiến trường Đông Dương. Những căn cứ hậu phương tại chỗ là nơi đứng chân vững chắc của lực lượng chủ lực cơ động, nơi xuất phát để thực hiện những đòn đánh lớn trận quyết chiến, chiến lược. 
Chú trọng xây dựng tuyến đường giao thông, vận chuyển chiến lược thông suốt, chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam cũng như đường vận chuyển chiến lược giữa Việt Nam, Lào, Campuchia. Tuyến vận tải 559 - đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu tượng ý chí và nghị lực lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. 
6. Phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để cùng nhau đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược. 
Phát huy truyền thống láng giềng anh em gắn bó về lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, quốc phòng và cùng kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhân dân Việt Nam đã chủ động đoàn kết, liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia chiến đấu, chiến thắng kẻ thù chung là đế quốc Mỹ. 
Một mặt ta phải kiên trì, nhất quán quan điểm, nguyên tắc, đoàn kết với nhân dân hai nước, nhưng mặt khác phải biết lựa chọn những hình thức, nội dung phù hợp theo từng giai đoạn đối với từng lực lượng của từng nước khác nhau, phòng chống tư tưởng chủ quan, nóng vội, làm thay, áp đặt và tư tưởng nước lớn. Trên cơ sở đó, tạo ra thế chiến lược tiến công chung cho cả ba nước, đánh bại từng kế hoạch, từng biện pháp chiến lược lớn của địch trên toàn Đông Dương. 
Đoàn kết, liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia đã góp phần đem lại thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống kẻ thù chung của ba nước Đông Dương để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. 
7. Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại gắn với sức mạnh dân tộc 
Đảng ta ra sức tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy tối đa sức mạnh của thời đại, coi đó là một bộ phận hợp thành của đường lối chống Mỹ, cứu nước và đặt hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận có tầm quan trọng chiến lược góp phần tạo nên sự vượt trội về thế và lực của nhân dân ta để đánh thắng kẻ thù. 
Dưới tác động của hoạt động đối ngoại và của chính cuộc kháng chiến của nhân dân ta, một mặt trận rộng lớn của nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược đã hình thành và phát triển. Đó là Liên Xô, Trung Quốc, hệ thống các nước XHCN, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân, phong trào cách mạng, lực lượng hoà bình, dân chủ, tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả đông đảo nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình và công lý. 
8. Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người 
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xét cho cùng, là thắng lợi của nhân tố con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phát triển ở một tầm cao mới. Bản sắc, văn hoá con người Việt Nam được tạo thành từ tố chất mới hoà quyện dân tộc và giai cấp, truyền thống và hiện đại, thừa kế gia sản vĩ đại của một dân tộc anh hùng, tiếp tục làm vẻ vang dân tộc, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang tầm của thời đại mới. 
Đảng ta đặt trọng tâm trước hết vào việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần cho con người; xác định lập trường kiên quyết kháng chiến, quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Từ đó, động viên được ý chí chiến đấu, năng lực sáng tạo và nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên chiến thắng. 


Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

130 năm thăng trầm chữ Việt

130 năm thăng trầm chữ Việt


Ngày 1-1-1882, cách nay gần 130 năm, là ngày chính quyền thực dân Pháp đã buộc người Việt ở Nam kỳ “phải dùng chữ quốc ngữ”. Nội dung quan trọng này nằm trong nghị định ra ngày 6-4-1878 “về việc dùng tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin” do thống đốc Nam kỳ Lafont ký.


Kỳ 1: Hai thế kỷ và một quyết định



Nghị định trên ra đời sau 20 năm Pháp xâm chiếm nước ta và sau thế kỷ ra đời và phát triển của chữ Việt.
Trang đầu quyển Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes
Vì sao người Pháp ra nghị định 6-4-1878?
Điều này được nói rõ trong nội dung nghị định. Nguyên văn như sau:
“Xét rằng chữ viết của tiếng An Nam bằng mẫu tự Latin ngày nay đã khá phổ thông trong các tỉnh Nam kỳ, là thứ chữ dễ học hơn chữ Nho và tiện lợi nhiều so với chữ Nho trong việc làm cho những giao dịch giữa các quan cai trị với dân bản xứ được trực tiếp hơn. Xét rằng việc dùng hợp pháp thứ chữ đó chỉ làm cho dân chúng dễ đồng hóa với chính quyền ta, và vì thế thật là một đường lối chính trị tốt nếu bắt buộc dùng nó trong các giao dịch chính thức. Tuy nhiên, xét rằng một cải cách quan trọng như thế không thể thực hiện được ngay tức khắc, và để thực hiện nó cần có sự cộng tác của những tầng lớp lãnh đạo trong dân chúng. Chiếu đề nghị của quyền giám đốc nội vụ, sau khi hội đồng tư vấn đã được hội ý kiến, nay ra nghị định:
Điều 1: kể từ ngày 1-1-1882 tất cả những văn kiện chính thức, nghị định, quyết định, sắc lệnh, phán quyết, chỉ thị...sẽ được viết, ký và công bố bằng chữ mẫu tự Latin.
Điều 2: kể từ ngày trên, không một tuyển dụng nào được thi hành, không một thăng trật nào được cho phép, trong ngạch phủ, huyện, tổng đối với bất cứ ai không ở trong tình trạng viết được chữ quốc ngữ. (Nguyễn Văn Trung - Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc)
Đến đầu năm 1881, thống đốc Nam kỳ lúc đó là Le Myre de Vilers đã ký quyết định “nhắc lại” việc dùng chữ quốc ngữ trong hệ thống hành chính. “Vì lời nghị ngày mồng 6 tháng 4-1878, từ ngày mồng 1 janvier 1882, về các tờ giấy làm việc quan buộc phải viết ra bằng quốc âm chữ Langsa; Xét vì lời nghị nầy phải thi hành lần lần, vì trong lúc người ta biết chữ quốc âm Langsa đủ dùng trong các tổng” (Gia Định Báo ngày 21-2-1881). Và ngày 24-10-1881 cũng trên tờ Gia Định Báo phần tạp vụ, văn phòng Nha nội vụ đã đăng thông báo “nhắc lại”. “Ông directeur de l’interieur (giám đốc Nha nội vụ, người đương thời gọi là quan lại bộ thượng thơ), làm lời rao cho ai nấy đặng hay, lời nghị ngày mồng 6 avril 1878, buộc từ ngày mồng 1 janvier 1882 trong những giấy lá việc quan mà viết theo tiếng An Nam đều phải dùng chữ Langsa mà thôi”.
Và ngày 30-1-1882, thống đốc Nam kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định nhắc lại lần cuối cùng: “kể từ ngày hôm nay, việc chỉ dùng những mẫu tự Pháp trở thành bắt buộc trên toàn cõi Nam kỳ thuộc Pháp, trong những giấy tờ chính thức viết bằng tiếng An Nam”. (Nguyễn Văn Trung - Chữ, văn quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc).
Có thể nói, kể từ ngày 1-1-1882, người Việt bắt đầu chính thức sử dụng thứ chữ viết từng được gọi là “chữ quốc ngữ, quốc ngữ hay tiếng An Nam dùng chữ Langsa”, thứ chữ viết hôm nay người Việt dù sống ở đâu, trên đất nước VN hay nơi nào đó trên thế giới đều xem là văn tự chính thống của người Việt.
Để có được điều đó, chữ Việt đã trải qua nhiều thăng trầm.
Ngược dòng chữ Việt
Chúng ta đều biết chữ Việt do những giáo sĩ phương Tây tới Việt Nam truyền đạo sáng tạo vào thế kỷ 17. Và người được vinh danh nhiều nhất chính là giáo sĩ Alexandre de Rhodes.
Ngoài bức tượng nhỏ của ông dựng trong khuôn viên 161 Lý Chính Thắng (quận 3), ông còn có tên đường ở ngay trung tâm TP.HCM. Thực tế có phải Alexandre de Rhodes là người duy nhất sáng tạo chữ Việt? Không hoàn toàn như vậy.
Sáng tạo ra chữ Việt là công trình của nhiều người với mục đích ban đầu chỉ để truyền đạo. Theo Giáo sĩ Đắc Lộ và tác phẩm quốc ngữ đầu tiên của Nguyễn Khắc Xuyên, chữ Việt manh nha xuất hiện từ năm 1625-1626 trong một bức thư của giáo sĩ F. Buzomi, người Ý. Năm 1627, giáo sĩ Baldinotti đã xuất bản một bản Điều trần về xứ Đàng Ngoài có ghi một vài chữ quốc ngữ. Năm 1631, trong quyển Điều trần về xứ Đàng Trong của giáo sĩ Cristoforo Borri, người Ý, đã xuất hiện nhiều câu quốc ngữ như scin (xin), ciàm (chẳng), gnoo (nhỏ), chiam (chăng), tlom (trong), bua (vua)...
Tuy nhiên, công lớn lại thuộc về các giáo sĩ Bồ Đào Nha. Giáo sĩ được đương thời coi là “thầy tiếng Việt” là Francesco de Pina. Hai “học trò” của Pina được thừa nhận có công lớn là giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa. Hai giáo sĩ này là người đầu tiên viết từ điển Việt - Bồ và Bồ - Việt. Hai ông sau khi rời Hội An, định cư ở Macau gần 10 năm. Không may Gaspar d’Amaral tử nạn trên biển Macau vào tháng 2-1646 khi trên đường đến VN. Antonio Barbosa cũng mất một năm sau đó.
Trước khi mất họ để lại trong nhà thờ San Pauli ở Macau những quyển từ điển Việt - Bồ - Latin mà họ đã sáng tạo. Và giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người mang từ điển đó về châu Âu (Phạm Văn Hường - Đi tìm nguồn gốc chữ quốc ngữ). Đến năm 1651, quyển Từ điển Việt - Bồ - La ra đời dưới cái tên tác giả Alexandre de Rhodes. Và đây là cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên xuất hiện trên thế giới và ông Đắc Lộ (tên tiếng Việt của Alexandre de Rhodes) được công nhận là người có công trong việc sáng tạo chữ Việt.
Những sáng tạo của các giáo sĩ phương Tây không thể không có sự góp phần của người bản xứ. Nhiều tài liệu đã nhắc tới “những người thầy không tên” của các giáo sĩ. Theo xơ Jean Berchmans Minh Nguyệt trong tập san MISS của Vatican, giáo sĩ Đắc Lộ đã học tiếng Việt với “một người thầy trạc 10-12 tuổi”, người sau này trở thành thầy giảng đạo giúp việc cho các giáo sĩ.
Giáo sĩ Đắc Lộ đã nói về “thầy” của mình: “Chỉ trong vòng ba tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung giọng khác nhau của tiếng Việt và cách thức phát âm của từng chữ”.
Những tài liệu khác cũng cho biết “thầy” của các giáo sĩ Amaral và Barbosa có tới 14 người. Những cái tên như Trâm, Văn Triều, Sang, Văn Tang, Cai, Văn Nhất... xuất hiện trong một tài liệu của Dòng Tên mang tên “Chung quanh mô thức rửa tội bằng thổ ngữ An Nam” (Huỳnh Ái Tông - Nguồn gốc chữ quốc ngữ).
Chữ Việt thời kỳ đầu khác xa với chữ Việt hôm nay, thậm chí hôm qua. Những từ “oũ” (ông), “kẻ hằii” (kẻ hầu), “bên đoũ đa” (bên Đống Đa)... vẫn còn nhiều âm hưởng nước ngoài đối với người Việt. Tới khi xuất hiện trong Từ điển Việt - Bồ - La năm 1651 cũng còn những khoảng cách xa với chữ Việt mà chúng ta đang dùng: “bao nheo” (bao nhiêu), “tôi blả bấy nheo” (tôi trả bấy nhiêu), “muấn” (muốn), “đức chúa Blời” (đức Chúa Trời), “iêo” (yêu), “khoăn đã nao” (khoan đã nào), “nếo” (nếu)...
Không chỉ có Từ điển Việt - Bồ - La, giáo sĩ Đắc Lộ còn được ghi nhận là có công đầu trong việc sáng tạo chữ Việt từ quyển Phép giảng tám ngày (1651) và phần “tiểu lược về tiếng An Nam hay tiếng Bắc kỳ” còn gọi là cuốn văn phạm VN đầu tiên (in chung với cuốn từ điển). Nếu Phép giảng tám ngày là cuốn sách chuyên về đạo đầu tiên của quốc ngữ thì cuốn văn phạm là sự sáng tạo không còn nghi ngờ gì nữa và là của riêng ông.
“Tất cả tinh thần của tiếng nói là ở các dấu lên xuống” - giáo sĩ Đắc Lộ nhận xét. Có thể chính nhờ cuốn văn phạm này mà các giáo sĩ, người học chữ Việt đời sau cảm thấy dễ dàng hơn.
TRẦN NHẬT VY




Kỳ 2: Ai học chữ Việt đầu tiên?

Giáo sĩ Bá Đa Lộc


Những người Việt trong nhà thờ
Theo Đỗ Quang Chính ghi nhận trong văn khố Dòng Tên ở Roma có “một bức thư của thầy Igesco Văn Tín gửi cho linh mục Marini, viết ngày 12-9-1659” và “một tập lược sử nước Annam và một lá thư viết ngày 25-10-1659 của thầy Bento Thiện gửi linh mục Marini” hoàn toàn bằng chữ Việt (tập Lịch sử nước Annam).
Những chữ Việt trong các tài liệu này tuy khác xa với chữ viết hôm nay nhưng tiếng Việt thời này đã thành một hệ thống đủ để thông tin và ghi chép. Thầy Văn Tín viết “ơn Thài xưa dạy dõ tôy nhèu đàng cho nên thàn mà ráp cậi thày cho nen chãng hai bai giờ vứang thày tôy càng buồn hơn nữa mà ướoc au cho được thai mạt Thài như con tlon mẹ vè cho được bú bại...” (ơn thầy xưa dạy dỗ tôi nhiều đàng cho nên thánh mà ráp cậy thầy cho nên chẳng hay bây giờ vắng thầy tôi càng buồn hơn nữa mà ước ao cho được thấy mặt thầy như con trông mẹ về cho được bú vậy).
Thứ hai là bức thư của thầy giảng Biển Đức Thiện (Bento Thiện) viết tại Đàng Ngoài (ở Thăng Long) ngày 25-10-1659 cũng gửi cho linh mục G.F.de Marini cùng một thời gian với thư của thầy Văn Tín nên chữ viết tương tự. Đáng chú ý là tập Lịch sử Annam bằng tiếng Việt. Chỉ dài có 12 trang chữ nhỏ li ti khổ 19x28 (trang cuối khổ 12x6 và chỉ có chín dòng chữ) nhưng chứa đựng khá nhiều thông tin về lịch sử nước Việt ở các lĩnh vực chính trị, xã hội, thi cử, hành chính từ thời Lạc Long Quân cho đến thời Trịnh Nguyễn. Có thể coi đây là bản sơ thảo về lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ Việt sau khi quyển từ điển tiếng Việt đầu tiên ra đời năm 1651.
Còn Thanh Lãng trong Biểu nhất lãm văn học cận đại phát hiện Filiphé Bỉnh (1759-1832), một linh mục Dòng Tên người Việt, là người viết chữ Việt, hơn 100 năm sau đó. Filiphé Bỉnh có thể rời Việt Nam năm 1794 và cư ngụ tại Bồ Đào Nha 30 năm. Thanh Lãng chưa tìm thấy tiểu sử của Filiphé Bỉnh nhưng tìm thấy khá nhiều tài liệu bằng chữ Việt của ông lưu trữ tại Lisbon, Bồ Đào Nha.
Tới thành Macao thơ có lẽ là bài thơ bằng tiếng Việt đầu tiên do Filiphé Bỉnh sáng tác vào ngày 4 tháng chạp năm 1794. “Tôi đang gưỡi gắp (gửi gắm) chốn Ma cao. Hai chữ thanh nhàn xiết kễ bao. Hôm sớm phần hồn dầu mặc sức. Tháng ngày việc chác chẳng tơ hào. Xây dần (xoay vần) ám tiết hằng no ấm. Đáp đổi tứ mùa khỏi khát khao. Gần chợ gần soũ (sông) gần núi bể. Trăm mùi khôn chút vẻ tanh tao”.
Vào thế kỷ 18 mà chữ nghĩa của Filiphé Bỉnh đã tiến gần với chữ Việt ngày nay cho thấy sự phát triển của chữ Việt khá mạnh mẽ trong suốt 100 năm trước đó.
Sau Filiphé Bỉnh là những ai đã học chữ Việt? Ít nhất chúng ta biết được một người, đó là linh mục Phillipe Phan Văn Minh, người đã góp sức cùng giáo sĩ Taberd viết cuốn Tư vị Taberd tại Ấn Độ và cũng là người mang cuốn sách này về Việt Nam. Linh mục Phan Văn Minh (1815-1853) đồng hương với Trương Vĩnh Ký ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay là Bến Tre).
Linh mục đã góp phần viết Khái luận về tiểu từ và đại từ (Tractatus de variis particulus et pronominibus), Cách đếm (Nomina numeralia, 10 trang), Thực vật chí Đàng Trong (Hortus Floridus Cocincinœ), Lược bày niêm luật làm văn làm thơ (Compendium versificationis anamiticœ)... Ông còn để lại một số tác phẩm bằng quốc ngữ như Nước trời ca, Phi năng thi tập...
Sau linh mục Phan Văn Minh là ai nữa? Chưa biết. Nhưng chúng ta biết chắc rằng chữ Việt đã được gieo, nảy mầm và lớn lên trong lòng người Việt.
Theo bước Đắc Lộ
Hơn 100 năm sau, giám mục D’Adran tức giáo sĩ người Pháp Pierre Pigneaux de Béhaine còn được gọi là Bá Đa Lộc hay đức Cha cả (sinh năm 1741 tại Pháp, mất năm 1799 tại Sài Gòn), người từng giúp Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn, là người phương Tây học chữ Việt tiếp theo mà chúng ta biết. Ông đã biên soạn bộ tự vị Việt - La tại Sài Gòn từ tháng 9-1772 đến tháng 6-1773, với sự giúp đỡ của một số giáo sĩ người Việt và Pháp. Phần chính văn 662 trang là từ điển song ngữ, tiếng Việt được ghi theo hai lối viết (Nôm và quốc ngữ) xếp theo vần a, b, c, được giải nghĩa bằng tiếng Latin.
Điểm đáng lưu ý là chữ quốc ngữ trong bộ tự vị này gần như hoàn toàn giống với chữ quốc ngữ hôm nay, các phụ âm đôi như bl, ml... của tiếng Việt thế kỷ 17 đã biến mất hẳn. “Điều thú vị là tuy biên soạn cách đây hơn 200 năm nhưng khi lật lại cuốn từ điển này, chúng ta không chỉ thấy được diện mạo của tiếng Việt thế kỷ 18, không chỉ phần nào hiểu được bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, chính trị nước ta vào thời kỳ đó mà còn thấy được từ ngữ cơ bản trong tiếng Việt hiện đại” (Võ Thị Minh Hà - tạp chí Ngôn Ngữ và Đời Sống số 7/2006).
“Cái mới của tự vị Bá Đa Lộc là loại hẳn cách viết của Đắc Lộ và không còn thấy những nhóm phụ âm đầu mnhầm, mlầm. Nhóm bl như trong blái cũng không còn. Nhóm tl chỉ còn một từ tla. Sách có “lầm” mà không có “nhầm”, có “lanh” mà không có “nhanh”, có “lời” mà không có “nhời”. Có “nhơn” mà không có “nhân”; có “ơn” mà không có “ân”; nhưng vừa có “mần” vừa có “làm”...(Mien Ngoc - sachxưa.net).
Sau Bá Đa Lộc, “học trò chữ Việt” là giáo sĩ Taberd. Ông này đã soạn bộ Nam Việt dương hiệp tự vị, thường được gọi là Tự điển Taberd, in năm 1838 tại Ấn Độ. Từ điển Taberd gồm ba phần. Phần mở đầu có 46 trang văn phạm, nghiên cứu âm vị tiếng Việt, mô tả tiếng Việt, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, mô tả cấu trúc lời nói, câu văn tiếng Việt và chỉ dẫn cách làm thơ.
Phần thứ hai: chính văn gồm 620 trang, mỗi trang hai cột, thu thập 4.959 mục tự theo vần a, b, c, mỗi mục xếp theo trật tự Nôm - quốc ngữ và dịch nghĩa bằng tiếng Latin, tiếp theo là dẫn ra các từ ghép có chứa từ mục tự (từ đơn) nêu trên, ví dụ: mục tự “dương” được dẫn ra các từ ghép như: “thới dương, khí dương, dương gian, dương thế...”.
Phần ba: có 39 trang phụ lục về tên gọi các loại cây cỏ, hoa trái miền Nam và công dụng của nó trong y thuật và 135 trang phụ lục ghi các từ Hán Việt thông dụng. “Một lần nữa người làm từ điển muốn điển chế hóa tiếng nói và chữ viết Việt Nam (ở phía Nam, ở Sài Gòn).
Mọi từ tiếng Việt trong từ điển đều ghi bằng hai thứ chữ Nôm và quốc ngữ, được phân bố theo thứ tự a, b, c và được dịch nghĩa tương đương sang tiếng Latin... Chữ Nôm của Taberd cũng như của De Béhaine vẫn được phân bố lệ thuộc theo âm quốc ngữ chứ không được phân bố theo số nét và các bộ chữ Hán” (Trần Văn Giàu, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt - Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh tập II, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh 1988).
Nét đặc biệt của Tự vị Taberd là “dạy làm thơ, hò vè, phú...” điều mà hầu như chưa có từ điển nào làm.
Thế nhưng suốt 200 năm, kể từ 1651-1861, do chính quyền cấm đạo, do giới trí thức nho học bỏ qua hoặc không để ý tới, do bị nghi kỵ thứ “chữ của người nước ngoài”, chữ Việt vẫn chìm trong “bí mật” và chỉ phát triển quanh quẩn trong các nhà thờ, các xứ đạo Thiên Chúa giáo. Trong thời gian này, chữ Việt dần hoàn thiện. Những học trò chữ Việt sau đó như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký đã góp phần làm cho chữ Việt hoàn chỉnh một bước nữa. Và đến khi chữ Việt được xuất hiện công khai trên tờ Gia Định báo năm 1865 thì đã tiến gần sát với chữ Việt ngày nay.



Những người Việt trong nhà thờ
Theo Đỗ Quang Chính ghi nhận trong văn khố Dòng Tên ở Roma có “một bức thư của thầy Igesco Văn Tín gửi cho linh mục Marini, viết ngày 12-9-1659” và “một tập lược sử nước Annam và một lá thư viết ngày 25-10-1659 của thầy Bento Thiện gửi linh mục Marini” hoàn toàn bằng chữ Việt (tập Lịch sử nước Annam).
Những chữ Việt trong các tài liệu này tuy khác xa với chữ viết hôm nay nhưng tiếng Việt thời này đã thành một hệ thống đủ để thông tin và ghi chép. Thầy Văn Tín viết “ơn Thài xưa dạy dõ tôy nhèu đàng cho nên thàn mà ráp cậi thày cho nen chãng hai bai giờ vứang thày tôy càng buồn hơn nữa mà ướoc au cho được thai mạt Thài như con tlon mẹ vè cho được bú bại...” (ơn thầy xưa dạy dỗ tôi nhiều đàng cho nên thánh mà ráp cậy thầy cho nên chẳng hay bây giờ vắng thầy tôi càng buồn hơn nữa mà ước ao cho được thấy mặt thầy như con trông mẹ về cho được bú vậy).
Thứ hai là bức thư của thầy giảng Biển Đức Thiện (Bento Thiện) viết tại Đàng Ngoài (ở Thăng Long) ngày 25-10-1659 cũng gửi cho linh mục G.F.de Marini cùng một thời gian với thư của thầy Văn Tín nên chữ viết tương tự. Đáng chú ý là tập Lịch sử Annam bằng tiếng Việt. Chỉ dài có 12 trang chữ nhỏ li ti khổ 19x28 (trang cuối khổ 12x6 và chỉ có chín dòng chữ) nhưng chứa đựng khá nhiều thông tin về lịch sử nước Việt ở các lĩnh vực chính trị, xã hội, thi cử, hành chính từ thời Lạc Long Quân cho đến thời Trịnh Nguyễn. Có thể coi đây là bản sơ thảo về lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ Việt sau khi quyển từ điển tiếng Việt đầu tiên ra đời năm 1651.
Còn Thanh Lãng trong Biểu nhất lãm văn học cận đại phát hiện Filiphé Bỉnh (1759-1832), một linh mục Dòng Tên người Việt, là người viết chữ Việt, hơn 100 năm sau đó. Filiphé Bỉnh có thể rời Việt Nam năm 1794 và cư ngụ tại Bồ Đào Nha 30 năm. Thanh Lãng chưa tìm thấy tiểu sử của Filiphé Bỉnh nhưng tìm thấy khá nhiều tài liệu bằng chữ Việt của ông lưu trữ tại Lisbon, Bồ Đào Nha.
Tới thành Macao thơ có lẽ là bài thơ bằng tiếng Việt đầu tiên do Filiphé Bỉnh sáng tác vào ngày 4 tháng chạp năm 1794. “Tôi đang gưỡi gắp (gửi gắm) chốn Ma cao. Hai chữ thanh nhàn xiết kễ bao. Hôm sớm phần hồn dầu mặc sức. Tháng ngày việc chác chẳng tơ hào. Xây dần (xoay vần) ám tiết hằng no ấm. Đáp đổi tứ mùa khỏi khát khao. Gần chợ gần soũ (sông) gần núi bể. Trăm mùi khôn chút vẻ tanh tao”.
Vào thế kỷ 18 mà chữ nghĩa của Filiphé Bỉnh đã tiến gần với chữ Việt ngày nay cho thấy sự phát triển của chữ Việt khá mạnh mẽ trong suốt 100 năm trước đó.
Sau Filiphé Bỉnh là những ai đã học chữ Việt? Ít nhất chúng ta biết được một người, đó là linh mục Phillipe Phan Văn Minh, người đã góp sức cùng giáo sĩ Taberd viết cuốn Tư vị Taberd tại Ấn Độ và cũng là người mang cuốn sách này về Việt Nam. Linh mục Phan Văn Minh (1815-1853) đồng hương với Trương Vĩnh Ký ở Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay là Bến Tre).
Linh mục đã góp phần viết Khái luận về tiểu từ và đại từ (Tractatus de variis particulus et pronominibus), Cách đếm (Nomina numeralia, 10 trang), Thực vật chí Đàng Trong (Hortus Floridus Cocincinœ), Lược bày niêm luật làm văn làm thơ (Compendium versificationis anamiticœ)... Ông còn để lại một số tác phẩm bằng quốc ngữ như Nước trời ca, Phi năng thi tập...
Sau linh mục Phan Văn Minh là ai nữa? Chưa biết. Nhưng chúng ta biết chắc rằng chữ Việt đã được gieo, nảy mầm và lớn lên trong lòng người Việt.
Theo bước Đắc Lộ
Hơn 100 năm sau, giám mục D’Adran tức giáo sĩ người Pháp Pierre Pigneaux de Béhaine còn được gọi là Bá Đa Lộc hay đức Cha cả (sinh năm 1741 tại Pháp, mất năm 1799 tại Sài Gòn), người từng giúp Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn, là người phương Tây học chữ Việt tiếp theo mà chúng ta biết. Ông đã biên soạn bộ tự vị Việt - La tại Sài Gòn từ tháng 9-1772 đến tháng 6-1773, với sự giúp đỡ của một số giáo sĩ người Việt và Pháp. Phần chính văn 662 trang là từ điển song ngữ, tiếng Việt được ghi theo hai lối viết (Nôm và quốc ngữ) xếp theo vần a, b, c, được giải nghĩa bằng tiếng Latin.
Điểm đáng lưu ý là chữ quốc ngữ trong bộ tự vị này gần như hoàn toàn giống với chữ quốc ngữ hôm nay, các phụ âm đôi như bl, ml... của tiếng Việt thế kỷ 17 đã biến mất hẳn. “Điều thú vị là tuy biên soạn cách đây hơn 200 năm nhưng khi lật lại cuốn từ điển này, chúng ta không chỉ thấy được diện mạo của tiếng Việt thế kỷ 18, không chỉ phần nào hiểu được bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, chính trị nước ta vào thời kỳ đó mà còn thấy được từ ngữ cơ bản trong tiếng Việt hiện đại” (Võ Thị Minh Hà - tạp chí Ngôn Ngữ và Đời Sống số 7/2006).
“Cái mới của tự vị Bá Đa Lộc là loại hẳn cách viết của Đắc Lộ và không còn thấy những nhóm phụ âm đầu mnhầm, mlầm. Nhóm bl như trong blái cũng không còn. Nhóm tl chỉ còn một từ tla. Sách có “lầm” mà không có “nhầm”, có “lanh” mà không có “nhanh”, có “lời” mà không có “nhời”. Có “nhơn” mà không có “nhân”; có “ơn” mà không có “ân”; nhưng vừa có “mần” vừa có “làm”...(Mien Ngoc - sachxưa.net).
Sau Bá Đa Lộc, “học trò chữ Việt” là giáo sĩ Taberd. Ông này đã soạn bộ Nam Việt dương hiệp tự vị, thường được gọi là Tự điển Taberd, in năm 1838 tại Ấn Độ. Từ điển Taberd gồm ba phần. Phần mở đầu có 46 trang văn phạm, nghiên cứu âm vị tiếng Việt, mô tả tiếng Việt, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, mô tả cấu trúc lời nói, câu văn tiếng Việt và chỉ dẫn cách làm thơ.
Phần thứ hai: chính văn gồm 620 trang, mỗi trang hai cột, thu thập 4.959 mục tự theo vần a, b, c, mỗi mục xếp theo trật tự Nôm - quốc ngữ và dịch nghĩa bằng tiếng Latin, tiếp theo là dẫn ra các từ ghép có chứa từ mục tự (từ đơn) nêu trên, ví dụ: mục tự “dương” được dẫn ra các từ ghép như: “thới dương, khí dương, dương gian, dương thế...”.
Phần ba: có 39 trang phụ lục về tên gọi các loại cây cỏ, hoa trái miền Nam và công dụng của nó trong y thuật và 135 trang phụ lục ghi các từ Hán Việt thông dụng. “Một lần nữa người làm từ điển muốn điển chế hóa tiếng nói và chữ viết Việt Nam (ở phía Nam, ở Sài Gòn).
Mọi từ tiếng Việt trong từ điển đều ghi bằng hai thứ chữ Nôm và quốc ngữ, được phân bố theo thứ tự a, b, c và được dịch nghĩa tương đương sang tiếng Latin... Chữ Nôm của Taberd cũng như của De Béhaine vẫn được phân bố lệ thuộc theo âm quốc ngữ chứ không được phân bố theo số nét và các bộ chữ Hán” (Trần Văn Giàu, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt - Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh tập II, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh 1988).
Nét đặc biệt của Tự vị Taberd là “dạy làm thơ, hò vè, phú...” điều mà hầu như chưa có từ điển nào làm.
Thế nhưng suốt 200 năm, kể từ 1651-1861, do chính quyền cấm đạo, do giới trí thức nho học bỏ qua hoặc không để ý tới, do bị nghi kỵ thứ “chữ của người nước ngoài”, chữ Việt vẫn chìm trong “bí mật” và chỉ phát triển quanh quẩn trong các nhà thờ, các xứ đạo Thiên Chúa giáo. Trong thời gian này, chữ Việt dần hoàn thiện. Những học trò chữ Việt sau đó như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký đã góp phần làm cho chữ Việt hoàn chỉnh một bước nữa. Và đến khi chữ Việt được xuất hiện công khai trên tờ Gia Định báo năm 1865 thì đã tiến gần sát với chữ Việt ngày nay.


Kỳ 3: Cưỡng bách và phản kháng
Một tờ khai sinh năm 1938 ở miền Bắc có đến bốn dạng chữ: chữ Nôm, chữ quốc ngữ, dấu triện bằng tiếng Pháp và vài chữ Hán - Ảnh: Wikipedia 

Thế nhưng đâu là nguyên nhân chính? Bởi đã là người chiến thắng, Pháp có nhiều hơn một trong việc lựa chọn ngôn ngữ để cai trị, ngoài chữ nho. Trong đó tiếng Pháp cũng là một lựa chọn.
Thế nhưng người Pháp đã chọn chữ quốc ngữ.
Vì sao người Pháp chọn quốc ngữ?
Đây là phần “tối” nhất trong nhiều nghiên cứu về quốc ngữ trong văn học sử của nước ta. Có không nhiều nghiên cứu nêu rõ nguyên nhân, lý do thực dân Pháp “quyết liệt” ép người Nam kỳ học quốc ngữ thay vì tiếng Pháp. Chúng tôi tìm thấy trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung vấn đề này.
“Ở đây cần để ý một điều là trước khi người Pháp xâm chiếm nước ta, các nhà truyền giáo thuộc nhiều quốc tịch châu Âu đã theo đường lối “tôn trọng thích nghi văn hóa, phong tục những nước bị truyền giáo (nhất là các nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên)”. Chính trong tinh thần đó mà họ sáng chế ra chữ quốc ngữ. Đến thời Pháp xâm lược, các nhà truyền giáo Dòng Tên phải nhường chỗ cho Hội thừa sai Paris và những người này đều là người Pháp, theo một đường lối truyền giáo cứng rắn chủ trương xóa bỏ, tiêu diệt tất cả những gì là phong tục, văn hóa, tư tưởng của các nước bị truyền giáo không hợp với giáo lý Thiên Chúa. Hơn nữa, họ còn đồng hóa quyền lợi nước Pháp với quyền lợi của đạo nên họ đã tích cực góp phần vào việc thiết lập chế độ thực dân”. (Nguyễn Văn Trung - Chữ, văn quốc ngữ thời đầu Pháp thuộc).
Với tinh thần đó, các giáo sĩ đã thúc ép chính quyền Pháp chọn chữ quốc ngữ thay vì chữ Pháp.
Không chỉ thúc ép đội quân viễn chinh Pháp trong việc bắt buộc triều đình nhà Nguyễn chấp nhận điều khoản mà cả triều đình lẫn giới sĩ phu lúc bấy giờ không chịu chấp nhận là “tự do truyền đạo”, mà các thừa sai còn thúc ép Pháp phải buộc người Việt “sử dụng chữ quốc ngữ”.
Theo Nguyễn Văn Trung, Lanessan đã ghi: “Tôi còn giữ trong tay một thư của giám mục Puginier, trong đó ngài trình bày mục đích việc phiên âm bằng chữ Latin một cách thật rõ rệt. Ngài nói khi thay thế chữ nho bằng chữ quốc ngữ, Hội thừa sai nhằm mục đích cô lập các giáo hữu. Những người này sẽ không còn có thể đọc được những tác phẩm dễ đọc nhất của Trung Hoa và sẽ không thể thư từ gì được với bất cứ một sĩ phu Tàu hay ta nào”.
Đó là nhận định của người Việt và giới giáo sĩ. Còn quan điểm của chính quyền Pháp? Có không nhiều tài liệu để thẩm tra vấn đề này. Có lẽ thông tư ngày 10-4-1878 của giám đốc Nha nội vụ Béliard thể hiện rõ nhất quan điểm của Pháp: “Chúng ta sẽ rất lợi cả về mặt chính trị lẫn thực tế, nếu làm tiêu tan dần dần chữ nho mà việc dùng thứ chữ đó chỉ có thể có một ảnh hưởng tai hại đối với công trình đồng hóa mà chính phủ đang dồn mọi nỗ lực thực hiện”.
Tháng 9-1864, đô đốc Lagrandière đã báo cáo: “Tôi có mọi lý do để hi vọng, nếu việc theo học các trường của chúng ta tiếp tục, chúng ta sẽ có ít nhất, trong chưa đầy một năm, một nghìn thanh niên An Nam biết đọc và biết viết ngôn ngữ của họ bằng mẫu tự Latin; nhờ đó chúng ta sẽ tống một cú đánh chết người vào chế độ quan lại, và chúng ta sẽ tự mình gỡ bỏ được lớp văn thân là các kẻ luôn luôn có khuynh hướng gây xáo trộn” (Milton E. Osborne - Giáo dục và chữ quốc ngữ - sự phát triển một trật tự mới 1859-1905 do Ngô Bắc dịch).
Chính vì vậy, ngay sau khi Hòa ước Nhâm Tuất ký chưa ráo mực, khi ba tỉnh miền Tây còn nằm trong tầm ngắm và đang lăm le đánh chiếm thì Pháp đã cho ra đời tờ báo tiếng Việt ở Sài Gòn. Đó là tờ Gia Định báo. Tờ báo này do E. Potteaux, thông ngôn tiếng Việt hạng nhất của đô đốc, làm “tổng tài” (tổng biên tập).
Sự phản kháng
Song việc “quốc ngữ hóa” Nam kỳ diễn ra không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió. Phía những người theo Pháp và những người được coi là giàu có không phải ai cũng dễ dàng cho con em đi học chữ quốc ngữ.
Có thể do những lời đồn thổi về việc “người Công giáo không thờ cúng ông bà” xuất phát từ chuyện Đông cung Cảnh, học trò của Bá Đa Lộc, sau khi từ Pháp về theo đạo Công giáo và “từ chối đến tông miếu” (thực lục nhà Nguyễn) nên nhiều người Nam kỳ sợ con cháu mất gốc mà trốn tránh việc đi học chữ quốc ngữ, còn vì đó là chữ của đạo Công giáo, những người đi theo Pháp ngay khi Pháp tới Nam kỳ.
Chưa kể người có liêm sỉ thì khó thể chấp nhận bất cứ điều gì của quân cướp nước đề ra ngay trong lúc nhục mất nước còn nóng hôi hổi!
Do vậy, việc đi học rất ư là hành chính. Thực dân ra lệnh tận làng xã “bắt trẻ con đi học chữ quốc ngữ như bắt lính”. Còn hương chức hội tề thì “khuyến dụ, cưỡng ép trẻ con đi học” để được thăng thưởng. Rất nhiều người đã mướn hoặc bắt đầy tớ trong nhà đi học thay con em mình. Câu ca dao chống việc học chữ quốc ngữ phổ biến khá rộng ở miền Nam có thể xuất phát từ thời bấy giờ: Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ. Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu. Anh về đi học chữ nhu. Chín trăng em đợi mười thu em chờ.Phải học chữ nhu (chữ nho) thì em mới chờ còn không thì sẽ...
Eliacin Luro, thanh tra bản xứ vụ trong chính quyền Pháp mới đặt ở Nam kỳ, tác giả giáo trình về hành chính Việt Nam dùng cho trường các viên chức tập sự Pháp, đã thừa nhận trong bài giáo dục số 38 về Giáo dục quốc dân viết năm 1873: “Rồi chúng ta bắt mỗi làng phải gửi một số học sinh quy định đến trường... 
Hậu quả là các làng mộ học sinh cho các trường quốc ngữ của chúng ta kiểu như họ mộ lính, bằng cách trả tiền cho gia đình của học sinh và công cuộc bắt buộc giáo dục của chúng ta tính như một thứ thuế đánh thêm vào dân” (Nguyễn Phú Phong - tranh luận về việc áp dụng chữ quốc ngữ). Gia Định báo số ra ngày 8-3-1874 ghi “các ông ấy cũng biết nhà trường lập ra đây để cho các học trò Annam học thì có nhiều điều ngăn trở kể chẳng xiết”., thanh tra bản xứ vụ trong chính quyền Pháp mới đặt ở Nam kỳ, tác giả giáo trình về hành chính Việt Nam dùng cho trường các viên chức tập sự Pháp, đã thừa nhận trong bài giáo dục số 38 về Giáo dục quốc dân viết năm 1873: “Rồi chúng ta bắt mỗi làng phải gửi một số học sinh quy định đến trường...
Phía các sĩ phu, sự chống đối diễn ra dữ dội hơn. Năm 1885, một số thân hào nhân sĩ đã gửi thư thỉnh nguyện đến Hội đồng quản hạt Nam kỳ “đề nghị bãi bỏ chữ quốc ngữ”. “...Theo thiển ý chúng tôi, hiện nay chỉ có hai thứ tiếng có thể được ở Nam kỳ, tiếng Pháp mà chúng tôi muốn học và tiếng Annam nôm na mà chúng tôi đều biết viết bằng chữ Nôm... Quý vị hãy đoán xem chúng tôi lúng túng thế nào mỗi khi chúng tôi nhận được những lệnh viết bằng thứ chữ (quốc ngữ) trên, chúng tôi phải chạy kiếm hàng chục người thông ngôn mà chúng tôi phải trả tiền, để rồi rốt cục họ đã làm chúng tôi hiểu hoàn toàn ngược lại với những gì người ta muốn truyền lệnh cho chúng tôi”.
Nổi bật trong thời kỳ này là nhà thơ Phan Văn Trị với cuộc bút chiến giữa ông và Tôn Thọ Tường, một trí thức Hán học đi theo thực dân Pháp. Cuộc bút chiến diễn ra khá gay gắt của hai phe trở thành giai thoại trong làng văn ở Nam kỳ.
Với Phan Văn Trị và các đồng chí của ông như Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Quang Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa...việc theo Pháp của người trí thức là không thể chấp nhận được.

Kỳ 4: Bước ra khỏi giáo hội