Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Saigon - Chợ Lớn: thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 (phần 1)


Saigon - Chợ Lớn:
thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 - Phần I


Nguyễn Đức Hiệp


Đồng nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông cá lội, trên giồng cọp um

Tư liệu quan trọng và hầu như duy nhất về vùng đất Saigon-Gia Định thuở ban đầu nói riêng và miền Nam nói chung là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825). Trịnh Hoài Đức có lúc cũng là quan tổng trấn Gia Định thành (1816-1819).
Ngoài ra ta có các tư liệu và sách của các doanh nhân, nhà ngoại giao, giáo sĩ, y sĩ Tây phương; như R. Purefoy, John White, George Finlayson và John Crawfurd; viết về Saigon - Gia Định khi họ viếng thăm nơi này trong khoảng cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.
Tư liệu chính về Saigon trong các thập niên đầu thế kỷ 19 trước khi người Pháp đến lập thuộc địa (1859) và phát triển Saigon làm trung tâm Nam kỳ là các tác phẩm của Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) viết giữa thế kỷ 19. Petrus Trương Vĩnh Ký là người của thời đó nên ông đã ghi lại các sự kiện, phong cảnh và sinh hoạt đời sống trong các thập niên trước thời kỳ Pháp thuộc. Các quan sát của ông rất có giá trị về lịch sử phát triển thành phố Saigon. Ngoài ra các dữ kiện trước thời ông không xa lắm vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 cũng được ông ghi lại bổ sung cho những tư liệu trong chính sử và các nguồn của các tác giả nước ngoài ghi lại khi viếng Saigon và Nam bộ.
Có thể nói Trịnh Hoài Đức, R. Purefoy, George Finlayson, John White và Petrus Trương Vĩnh Ký đã phác họa cho ta thấy một chân dung mặc dầu không toàn diện chi tiết lắm nhưng đủ để ta hình dung lại hình ảnh về vùng đất Gia Định trong thời kỳ đầu trước khi người Pháp đến.
Bài viết này có mục đích phác họa sự phát triển thành phố Saigon về phương diện lịch sử văn hóa và con người vào thế kỷ 17 đến nửa đầu thế kỷ 19. Ngoài những tư liệu đã được biết như của Trịnh Hoài Đức, John Barrow, John White, John Crawfurd và George Finlayson, nguồn tư liệu mới của một thương gia người Anh tên R. Purefoy sẽ được dùng để bổ túc thêm về thông tin liên quan đến đời sống và con người Saigon ở đầu thế kỷ 19. Đặc biệt tư liệu của thuyền trưởng John White và bác sĩ người Tô Cách Lan George Finlayson sẽ được để ý và phân tách chi tiết hơn cho thấy đặc tính và hành xử của người Saigon đủ mọi giai cấp, nhất là tả quân Lê Văn Duyệt. Chính Charles Darwin, nhà khoa học đề xuất ra thuyết tiến hóa nổi tiếng, đã đọc và dùng tư liệu của Georges Finlayson quan sát về hình dạng và đặc tính của người Saigon để làm một trong nhiều dữ liệu chứng minh về nguồn gốc con người trong sách “The Descent of Man” của ông.

1. Saigon theo Trịnh Hoài Đức


Theo biên niên sử Khmer, mà Maspéro và Moura đã dịch (18) thì vua Cao Miên Chey Chetta II sau khi lên ngôi và cưới một người con gái của chúa Nguyễn Phước Nguyên năm 1618 có khuynh hướng dùng hậu thuẫn của chúa Nguyễn để đương đầu với Xiêm (Thái Lan). Năm 1623, chúa Nguyễn xin phép vua Chey Chetta II mượn xứ Prei Nokor và Kras Krobey (Saigon và Bến Nghé) để mở trạm thuế thương chính và được phép gởi quan đến quản lý thương mại, hành chánh và thu thuế. Điều này chứng tỏ trước đó, ít nhất ở đầu thế kỷ 17, đã có lưu dân người Việt đến định cư trong khu vực gần Saigon, chủ yếu là vùng Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai phía gần biển mà Trịnh Hoài Đức đã ghi như sau (1):
Lúc ấy địa đầu của Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai (nay là trấn Biên Hòa) đã có lưu dân của nước ta đến cùng với dân Cao Miên khai khẩn ruộng đất. Người Cao Miên rất khâm phục uy đức của triều đình, họ đem nhượng đất ấy rồi kéo nhau tránh đi nơi khác, chẳng dám tranh chấp điều gì.
Trạm thu thuế này, kho Quản Thảo, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu (18) là ở vị trí khu đất chợ Cầu Kho (Quận 1, ngày nay), sát sông Saigon cũ (sông An Thông hay rạch Bến Nghé ngày nay) và cạnh rạch Cầu Kho (rạch bắt đầu từ đầu đường Lê Lai chảy dọc đường Nguyễn Trãi ngày nay rồi đổ ra rạch Bến Nghé).
Gia Định thành thông chí có nói:
Tháng 9 mùa thu năm thứ 11 Mậu Tuất (1658) thời Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế (Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) vua Cao Miên là Nặc Ong Chăn xâm phạm biên giới. Khâm mệnh dinh Trấn Biên (thời mới khai thác thì những chỗ đầu biên giới gọi là Trấn Biên, ở đây tức Phú Yên ngày nay), Phó tướng quân Yến Vũ hầu, Tham mưu Minh Lộc hầu, Tiên phong Cai đội Xuân Thắng hầu đem 3 ngàn quân đi trong 2 tuần đến thành Mô Xoài của nước Cao Miên, phá thành và bắt vua Nặc Ong Chăn giải về Quảng Bình là nơi hành tại. Vua ra dụ xá tội cho, rồi phong làm Cao Miên quốc vương, luôn phải giữ đạo phiên thần, thường xuyên phải triều cống, không được xâm lấn cư dân ở ngoài biên, rồi sai quan binh hộ tống cho về nước.
Sử Việt Nam lần đầu tiên nói đến Saigon là vào năm 1674 khi Nặc Ông Đài (Neac Ang Chei theo biên niên sử Khmer) đuổi vua Nặc Ông Nộn (Neac Ang Non), tiến xuống chiếm lũy Saigon. Nộn cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn (Thái Tông) sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên Phái đem binh đánh, phá vỡ 3 lũy Saigon, Gò Bích và Nam Vang. Đài thua và tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ông Thu làm Cao Miên quốc vương ngự trị ở thành Vũng Long (Oudong), còn Nặc Ông Nộn làm phó vương ngự trị ở Saigon (18). Nặc Ông Nộn đóng đô ở Saigon 15 năm (1674 -1688) đã nhiều lần chiêu mộ lính (chắc là chủ yếu lưu dân Việt, người Minh hương và Chăm) để đánh Nặc Ông Thu ở Cao Miên (Thu dựa vào Xiêm La). Chúa Nguyễn cũng lập đồn dinh Tân Mỹ gần đó năm 1679, coi như một thứ chính quyền bán chính thức ở vùng Saigon để hỗ trợ nặc Ông Nộn và bảo vệ lưu dân.
Cũng theo Nguyễn Đình Đầu thì doanh trại và dinh thự của phó vương Nặc Ông Nộn có lẽ là ở vùng từ chùa Cây Mai tới trường đua Phú Thọ trên một dải đất gò cao ráo. Thuyết này có nhiều cơ sở vì vùng quanh chùa Cây Mai, Phú Lâm, trường đua Phú Thọ (và xa hơn nữa đi về phía Bà Hom, An Sơn, Đức Hòa, tỉnh Long An) là những nơi có nhiều di tích khảo cổ, di tích văn hóa định cư của người Khmer được tìm thấy nhiều hơn những nơi khác ở gần sông Saigon như vùng Tân Kiểng, thành Ô ma. Và người Khmer theo phong tục tôn giáo của họ thì vua chúa đều xây đền thờ, chùa trên gò cao (như gò Cây Mai) chung quanh là ao hồ, tượng trưng cho núi Meru nơi các thần linh ngự trị giữa đại dương. Vì thế nơi phó vương trú đóng là phải ở gần gò Cây Mai. Riêng khu trường đua Phú Thọ, nhà khảo cổ Pháp Malleret cho biết từ các không ảnh chụp trong thập niên 1930 có thể thấy các đường chạy cắt nhau như bàn cờ. Đấy có thể là vết tích của một khu định cư cổ xưa còn nhận dạng được. Cũng theo Malleret thì có thể cung điện này mà người Việt gọi là “Tây cung” (cung điện phía tây) gần Chợ Lớn để phân biệt với thành Saigon ở Bến Nghé phía đông, và từ “Tây Cung” sau này để chỉ Chợ Lớn mà người Hoa gọi là “Xigong” phát âm gần với từ Saigon.
Trịnh Hoài Đức nói về vùng đất Saigon trong giai đoạn này:
Gia Định (tức đất Sài Gòn) nguyên xưa có nhiều ao chằm rừng rú, thuở vua Thái Tông (Nguyễn Phước Tần, 1648-1686) sai tướng vào khai thác phong cương ở nơi bằng phẳng rộng rãi, tức là chỗ chợ Điều Khiển ngày nay, xây cất đồn dinh làm chỗ cho quan Tổng tham mưu cư trú, lại đặt dinh Tân Thuận, tức nay là Lân Tân Thuận, có cất nhà thự cho các quan Giám quân, Cai bộ và Ký lục ở, lại có quân trại hộ vệ, ngăn ra từng khu rào, ngoài ra thì cho dân trưng chiếm chia lập làng xóm phố chợ” (1).
Lân Tân Thuận ở khoảng xóm chợ Đũi trên đường Nguyễn Trãi ngày nay. Chợ Điều Khiển ở vị trí ngã ba đường Nguyễn Trãi và Nam Quốc Cang ngày nay và đồn Tân Mỹ ở vùng sau này là thành Ô Ma mà Pháp thiết lập (18).
Trịnh Hoài Đức cũng có tả về một thắng cảnh khác ở vùng Saigon: Mai khâu (Gò Cây Mai):
Ở về phía nam cách trấn thành 13 dặm rưỡi, gò đất nổi cao, có nhiều cây nam mai thân cỗi nghiêng ngang, nhưng khi trổ hoa nở không bung xòe trắng tinh rạng rỡ, cánh hoa vẫn còn úp túm giữ mùi thơm. Thứ hoa này vốn bẩm linh khí mà sinh ra, không thể dời trồng ở nơi khác được. Trên có chùa Ân Tông, đêm tụng kinh, chiều giộng chuông, âm thanh tản mạn trong mây khói, giống như đang ở giữa thế giới núi Linh Thứu của Phật. Lại có suối trong chảy quanh chân núi, các du nữ chiều mát quẫy mạnh mái chèo đi hái sen; gặp khi trời đẹp, văn nhân thi sĩ mang bầu rượu leo từng bậc cấp lên đây ngâm vịnh dưới gốc hoa ở đầu gò, câu chữ nồng nàn, thật là một thắng cảnh cho người du lãm.
Nơi đây, ngày xưa là chỗ chùa tháp đất Phật của nước Cao Miên, nền móng xưa còn thấy rõ. Năm Bính Tý (1816) niên hiệu Gia Long thứ 15, có nhà sư sửa sang lại chùa và đã đào lấy được nhiều gạch lớn, ngói xưa, và cả 2 miếng vàng lá hình vuông, mỗi bề hơn 3 phân, mỗi miếng nặng 3 đồng cân, trên mặt chạm hình cổ Phật kỵ tượng (Phật cưỡi voi), có thể đây là cái vật của Hồ tăng dùng để trấn tháp đó chăng ?” (1)
Chùa trên gò Cây Mai, Mai khâu tự hay Mai Sơn tự, còn được gọi là chùa Cây Mai. Gò cây Mai là nơi mà nhiều văn nhân như Trịnh Hoài Đức trong nhóm “Bình Dương thi xã” ở cuối thế kỷ 18 và sau này nhóm “Bạch Mai thi xã” của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, Hồ Huấn Nghiệp, Nguyễn Thông, Bùi Hữu Nghĩa…đến thưởng ngoạn. Khi Pháp đến Saigon, họ chiếm chùa làm đồn để làm phòng tuyến tấn công đồn Kì Hòa. Ngày nay là trại quân đội ở đường Hồng Bàng, vết tích chùa không còn, chỉ còn một gốc cây mai trong trại. Chùa Cây Mai khác với chùa gần đó gọi là chùa Gò. Địa điểm chùa Gò ngày nay là Phụng Sơn Tự, trên đường 3 tháng 2, Quận 10. Theo Charles Lemire (24) vào năm 1869 (chỉ vài năm sau khi Pháp chiếm Saigon), lúc ông đến gò Cây Mai trong chuyến viếng thăm Saigon-Chợ Lớn thì từ trên gò Cây Mai, có thể nhìn thấy các ruộng lúa trải dài dọc theo rạch Tàu Hủ, cánh đồng mã, chiến tuyến đồn Kì Hòa, cách đồng và rừng Gò Vấp, cho đến tận núi ở Tây Ninh, với khoảng cách ba mươi dặm. Ông tả cảnh ở gò Cây Mai như sau:
Khoảng 15 phút từ Cholen (Chợ Lớn), trên đường đi Mitho (Mỹ Tho), là đồn Cây Mai. Một lối đi, hai bên trồng cây keo (acacia), dẫn chúng tôi đến chân một ngọn núi nhân tạo, trong một cảnh quan tuyệt diệu; một ngọn suối nhỏ chảy róc rách đến chân một bậc thang làm bằng đá; ba cửa vòng cung, một còn nguyên vẹn, tạo thành cổng vào đồn, trong đồn người ta thấy trên đỉnh gò là một chùa tám cạnh có tháp chuông; bên cạnh đó là cây cọ (palmier à sucre) và đặc biệt là Cay-mai, một loại cây họ mận (prunier rhéédia), có hoa thơm, mà ngày xưa không ai được sờ đụng nếu không phải bị tội tử hình. Những hoa này được tiến cung dâng vua, và được dùng để ướp trà cho vua.
Những vị sư ở đây giữ chùa và cây mai này. Nơi đây là điểm hành hương của nhiều tín đồ. Một viên quan bậc lớn người An Nam, vị tổng trấn Saigon và tác giả Gia-dinh thong chi, đã tả cho chúng ta một cảnh rất ý nhị. Đây là một đại diện tiêu biểu của thơ người An Nam…
Cũng theo Lemire thì người Việt cho đến đầu thế kỷ 19 vẫn còn gọi thành phố Cholen (Chợ Lớn) là Saigon và vùng đa số cư dân người Việt ở cạnh sông Saigon (Tân Bình) lúc đó là Bến Nghé hay Bến Thành (tức bến cạnh thành Phiên An). Nhưng người Pháp đã nhầm lẫn gọi cả khu vực là Saigon, mà chủ yếu tập trung vào khu trung tâm gần thành (citadelle).
Theo Petrus Trương Vĩnh Ký (3), trước 1680, Saigon chỉ là một làng Khmer nhỏ. Năm 1680, Saigon là địa điểm của vua thứ hai Khmer, vị vua chính ở Gò Bích (bên Cambodge). Đây cũng là thời gian mà hai tướng nhà Minh dẫn 3000 quân, cùng gia đình của họ trên 60 thuyền đi từ Nam Trung quốc vào lập nghiệp sau khi được chúa Nguyễn cho phép. Trong hai vị tướng chỉ huy, một vị tướng là Trần Thượng Xuyên dẫn một đoàn đến Cù Lao phố (Biên Hòa) và một là Dương Ngạn Địch đi xuống Mỹ Tho lập nghiệp.
Vài năm sau, vị vua Khmer ở Saigon, vì nằm ở giữa 2 đạo quân nhà Minh cảm thấy bị đe dọa nên đã báo chúa Nguyễn là các quân nhà Minh có ý làm phản (sau khi phó tướng của Dương Ngạn Địch là Hoàng Tấn giết Ngạn Địch và mưu đồ cát cứ làm phản). Chúa Nguyễn gởi tướng Mai Vạn Long vào đánh thắng quân Hoàng Tấn ở Mỹ Tho. Sau đó cùng với Trần Thượng Xuyên ở Cù Lao Phố và Nặc Ông Nôn tiến lên Gò Bích (Oudong) đánh vua Nặc Ông Thu (1688). Trong cuộc hành quân này, Nặc Ông Nộn chết. Con Nặc Ông Nộn là Nặc Ông Yêm lên thay làm phó vương ở Saigon. Năm 1697, Nặc Ông Nêm về Oudong vì được nặc Ông Thu gả con gái và hy vọng sẽ lên thay Ông Thu làm vua Cao Miên sau khi Ông Thu mất. Từ năm đó, chức phó vương ở Saigon không còn nữa.
Năm sau (1698), chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, chính thức hóa cai trị vùng đất mới mà trên thực tế phó vương Cao Miên chỉ đứng tên, quyền hành và hành chánh thực sự nằm trong tay chúa Nguyễn.Gia Định thành thông chí viết như sau:
Mùa xuân năm thứ 8, Mậu Dần (1698) thời Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế (chúa Nguyễn Phúc Chu), triều đình sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành hầu họ Nguyễn (Hữu Cảnh) sang kinh lược đất Cao Miên, ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn. Mỗi dinh lập ra chức Lưu thủ, Cai bạ và Ký lục để cai trị. Về vệ thuộc thì có hai ty Xá, Lại để làm việc, quân binh thì có tinh binh cơ đội thuyền thủy bộ và thuộc binh để hộ vệ. Ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng đinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch.
Mùa thu năm thứ 9, Kỷ Mão (1699), triều đình tra xét bắt đạo Hoa Lang, phàm nhân dân ta ai có đạo thì phải bỏ để trở lại làm dân bình thường, lấy nhà tu làm nhà ở, lại còn đốt sách vở của đạo ấy, còn người phương Tây thì buộc họ phải về nước.
Tháng 8 mùa thu năm thứ 18, Mậu Tý (1708), triều đình phong cho người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông là Mạc Cửu làm Thống binh Hà Tiên.”
(…)
Tháng 6 mùa hạ năm thứ 17, Giáp Tuất (1754), chia quân Gia Định ra làm hai đạo, Nghi Biểu hầu đem kỳ binh từ sông Bát Đông tiến phát, quân đến đâu địch thua đến đó, rồi đến Tần Lê Bắc ra sông lớn hội cùng chính binh Tiền Giang của Thiện Chính hầu ở đồn Lò Yêm. Bốn phủ Xoài Lạp (Soi Rạp), Tầm Đôn, Cầu Nôm và Nam Vang của Cao Miên đều hàng. Tiếp đó liền sai thuộc tướng Cai đội Chấn Long hầu đến phủ Tầm Phong Tiêm chiêu dụ người Côn Man Thuận Thành để gây thanh thế. Lúc ấy quốc vương Cao Miên là Nặc Ong Nguyên chạy lánh sang phủ Tầm Phong Thu (nay là phủ La Vách) lại gặp trận lụt mùa thu quá lớn, quan quân phải trở về đồn nghỉ ngơi.
Mùa xuân năm thứ 18, Ất Hợi (1755), đại binh của Thiện Chính hầu đã về trước ở đồn Mỹ Tho, rồi lệnh cho người Côn Man Thuận Thành phải bỏ vùng Ca Khâm đem hết bộ lạc xe cộ xuống đồn trú ở Bình Thanh, tinh tráng hơn vạn người, khi đến đất Vô Tà Ân liền bị hơn một vạn binh của Cao Miên thừa cơ tập kích, quân Côn Man sức yếu thế cô, liền đem hết xe chất thành lũy và một lòng chống giữ, mặt khác cho quân đi cấp báo. Thiện Chính hầu vì ao đầm ngăn trở nhất thời khó bề cứu viện ngay được, chỉ Nghi Biểu hầu dẫn 5 đội tùy quân đến ứng cứu, quân Cao Miên nghe hơi đã phải rút lui. Nghi Biểu hầu đón hơn 5000 dân Côn Man cả nam lẫn nữ về trú dưới chân núi Bà Đinh (Đen) rồi hạch tấu Thiện Chánh hầu về tội làm hỏng quân cơ, rút quân thiếu kỷ luật, bỏ rơi người mới quy phụ, không cứu viện - để quân giặc bắt đi. Tấu được dâng lên, triều đình cho tra xét rồi giáng Thiện Chánh hầu xuống làm Cai đội, thu quyền Thống suất, ra lệnh cho Cai đội Du chính hầu Trương Phúc Du làm Thống suất, dùng người Côn Man dẫn đường để tiến đánh Cầu Nôm và Nam Vang và giết được một số Ốc nha. Vua nước ấy quá sợ nên phải chạy sang nương thân vào Đô đốc Tông Đức hầu Mạc Thiên Tứ ở trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ thay lời tâu rằng: Việc ấy do biên tướng Cao Miên là Chiêu trùy Ếch đàn áp người Côn Man, vua nước ấy xin chịu nhận tội.
Năm thứ 19, Bính Tý (1756). Quốc vương Cao Miên là Nặc Ông Nguyên xin hiến đất hai phủ Tầm Đôn và Xoài Lạp (Soi Rạp) để chuộc tội, đồng thời xin cống nạp lễ vật còn thiếu ba năm trước đó.
(Gia Định thành thông chí)
Người Côn Man Thuận Thành (Chiêm Thành) đây là chỉ người Chăm ở Bình Thuận và ở vùng đất thuộc Cao Miên trong xứ Gia Định-Đồng Nai. Như vậy vùng đất Saigon-Gia Định vào giữa thế kỷ 18 đã có người Chăm, lưu dân Việt, Hoa và người Khmer cư ngụ cùng với những người bản xứ, chủ nhân cũ của miền Saigon, Biên Hòa, Gia Định, Bà Rịa và Cần Giờ: người Mạ và người Stieng.
Trịnh Hoài Đức mô tả một thắng cảnh chùa Gíác Lâm gần thành Saigon như sau (1):
Ở trên gò Cẩm Sơn, cách lũy Bán Bích về phía tây 3 dặm, gò chùa nầy như đống vàng bỗng nổi lên giữa chỗ đồng bằng trải thẳng cả trăm dặm, giống như tựa bình phong, đội nón, mở trướng, trải thảm, rộng 3 dặm, cây to thành rừng, hoa núi dệt gấm, sớm chiều mây khói bốc lên quấn cuộn, tuy nhỏ nhưng lý thú. Mùa xuân năm Giáp Tý (1744) đời Thế Tông năm thứ 7, người xã Minh Hương là Lý Thụy Long quyên của xây dựng chùa trang nghiêm, cửa thiền u tịch, đến ngày Thanh minh, Trùng cửu nhàn hạ, thi nhân du khách kết đoàn 5, 3 người đến đây mở tiệc thưởng hoa, nâng chén quỳnh mà ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa đời thường, bụi bặm xa cách ra ngoài tầm mắt, thật là một nơi đáng du lịch và thưởng ngoạn. Gần đây có Viên Quang đại lão hòa thượng đời thứ 36 thuộc phái Lâm Tế chính tông, mật hạnh kiên trì, trải từ tuổi nhỏ cho đến khi già, kiên trì tu hành ngày càng tinh tấn, lại có tính yêu cảnh sương khói suối khe, ít khi để chân đến chốn thị thành huyên náo. Từ khi ông đến đây dừng trụ trong núi dứt phiền não, dưới rừng lộ chùa chiền. Năm Gia Long thứ 16 (1817) ông mở đại giới đàn, từ đó thiện nam tín nữ đến quy y rất đông, mà sơn môn lại thêm phần khởi sắc.
Và chợ Tân Kiển (hay chợ Quán):
Cách trấn về phía nam hơn 6 dặm, phố chợ rất đông đúc, thường năm đến ngày Nguyên đán có tổ chức chơi đu tiên vân xa, đáng gọi là một chợ lớn. Từ trước, đến cuối năm thường có chém tù ở đây. Cách sông ở bờ phía đông, ngày trước có người Cao Miên là Nặc Đích theo Nặc Tha đến, cắm dùi sống luôn ở đấy, y bèn làm cầu ngang qua sông để thông đến chợ, gọi là cầu Nặc Đích, sau trải qua loạn lạc nên hư hỏng. Đầu phía tây đường lớn có đồn bắt trộm cướp đóng giữ.
Ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770) đời Duệ Tông (Định vương Nguyễn Phúc Thuần), sau khi bình định, có con hổ dữ vào nhà dân ở phía nam chợ, nó gầm rống rất dữ, dân quanh vùng đều hoảng sợ, họ báo với đồn dinh để phái quân vây bắt. Sau phải triệt hạ phòng ốc, làm nhiều lớp hàng rào bao quanh, nhưng con hổ rất dữ, không ai dám đối đầu. Qua ngày thứ 3, có thầy tu đi vân du là Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng xin vào đánh cọp. Hồng Ân cùng hổ quần thảo một hồi, hổ bị côn đánh rát quá, nhảy núp vào lùm tre, Hồng Ân đuổi nà theo, hổ bị dồn ngặt nên cự trở lại với Hồng Ân. Hồng Ân lui chân té xuống mương nhỏ, bị hổ tát thọ thương. Trí Năng tiếp viện đánh trúng đầu, hổ chết dưới làn côn, nhưng Hồng Ân bị thương nặng nên cũng mất liền khi ấy. Người ở chợ cảm nghĩa đem xác Hồng Ân chôn tại chỗ đấy rồi xây tháp, nay vẫn còn.”
Về văn hóa, trong giai đoạn này cũng bắt đầu phát triển và có những đặc thù riêng biệt phản ảnh tinh thần ở vùng đất mới. Gia định thành thông chí viết về người Saigon như sau: "Gia định ở về địa vị Dương Minh, nhiều người trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài, dầu là hàng phụ nữ cũng thế". Văn học có Nguyễn Đình Chiểu làm truyện “Lục Vân Tiên” ở Saigon nói lên đạo đức nghĩa tiết của con người lục tỉnh. Sách dạy chữ nho đặc biệt "Minh tâm bửu giám", không có trong chương trình thi cử, được soạn ra và trở thành cuốn sách gối đầu giường của miền Lục tỉnh. Sách hướng về ứng dụng thực tế tập hợp những trích đoạn của những sách Nho, Lão, Phật gồm những câu nói đạo đức, triết lý nhân sinh nhằm rèn luyện bồi dưỡng đức hạnh hướng dẫn việc ứng sữ hàng ngày (19). Sách phản ảnh triết lý bao dung và tinh thần phóng khoáng thực tế của con người đất Saigon-Gia Định.
Trường học nổi tiếng đất Saigon - Gia Định vào thế kỷ 18 là trường của nhà giáo Võ Trường Toản ở Hòa Hưng. Học trò của ông có nhiều người được ghi danh trong văn học như Trịnh Hoài Đức, ông nghè Chiêu, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định. Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh còn lập ra "Bình Dương thi xã", các hội viên thi xã thường gặp nhau ở khu vực chùa Cây Mai và xã Minh hương vùng đất Saigon làm thơ phú lấy hứng thú từ cảnh vật chung quanh lúc đó vẫn còn thiên nhiên hoang dại với cây nước, ao hồ, gò cao và chim thú...
Bài vịnh Cổ Gia Định bằng chữ Nôm (có lẽ là của Ngô Nhân Tĩnh) nói về cảng Saigon, nơi tàu các nước đến, như sau (19)
"Thuyền bắc nam lui tới
Ghe đen mũi, ghe vàng mũi, ra vào coi lòa nước
Người đông tây qua lại,
Tàu xanh mang, tàu đỏ mang, hàng hóa chất ngất trời
"
Có mặt người Việt, Hoa, người Âu, và cả người Phi châu hay Ấn độ da đen nữa:
"Lũ Tây dương da trắng bạc
Mồm giớn giác, miệng xếch xác, hình vóc khác
Quân Ô rồ mặt đen thui
Thể lọ nồi, đầu quấn rít, miệng trớt môi,
In thiên bồng, thiên tướng, thiên lôi
"
Sau cuộc khởi nghĩa Tây Sơn năm 1772 ở Bình Định, chúa Nguyễn Ánh cùng thân quyến chạy vào Gia Định - Đồng Nai - Saigon lánh nạn vào năm 1774. Chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn trở nên gay gắt và Nguyễn Ánh phải nhiều lần bỏ đất Saigon bôn ba ra các đảo và sang Xiêm La. Năm 1789, sau khi chiếm lại Saigon, Gia Long cho xây thành bát quái với sự trợ giúp của một viên sĩ quan hải quân người Pháp, Victor Olivier de Puymaniel, thiết kế thành theo kiểu Vauban ở Âu châu. Đá ong xây thành được lấy từ Biên Hòa (2). Về phía đông bắc Saigon (Biên Hòa) và bắc Saigon (Thủ dầu một, Bình Dương, Tây Ninh) lúc này là đất của người Mạ và người Stieng. Họ vẫn còn cư ngụ rất đông mà người Việt và sau này người Pháp gọi họ là “mọi”. Ở Saigon cũng có một đường người Pháp gọi là “rue des Moïs” (đường người Mọi, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu).
Trong năm 1823, theo John Crawfurd khi ông đến Saigon thì hôm 31/10/1823, sau khi được hội kiến với tổng trấn Gia Định trước khi tổng trấn ra Huế trình với vua về việc đoàn sứ giả Anh do Crawfurd cầm đầu đến Saigon, một buổi trình diễn giải trí sau đó đã được tổ chức trong nguyên ngày với nhiều triển lãm và trình diễn. Trong số khán giả Crawfurd thấy có 8 người ít ăn mặc và diện mạo hoàn toàn khác với những người chung quanh. Vị tổng trấn cho họ mỗi người một bộ quần áo và nói cho Crawfurd biết là những người này mới chính là những thổ dân đích thực của miền Nam trước khi người Việt đến thống trị và dân số họ đông hơn người Việt (7).

2. Saigon và đàng trong theo quan sát của John Barrow (1792-1793)


Người nước ngoài đầu tiên đến và viết lại nhiều tư liệu giá trị về Saigon và đàng trong vào thế kỷ 18 là John Barrow. Năm 1792, thuyền trưởng người Anh John Barrow đi từ Anh, qua Ba Tây (Nam Mỹ), ghé Nam Phi, Java và cuối cùng đến vùng đất mà ông mô tả là Cochinchina thuộc Đàng Trong từ Saigon miền Nam đến Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế, ở Trung phần (12). Ông đến trong năm 1792-1793 vào lúc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh đang diễn ra kịch liệt. Saigon đang nằm trong tay Nguyễn Ánh, trong khi Huế và Đà Nẵng dưới sự ngự trị của vua Quang Toản.
Vì thế, như ông viết, không lạ gì mà khi từ Saigon ra Đà Nẵng năm 1793 đoàn tàu Anh của ông đã gây lo âu và nghi ngờ từ triều đình Tây Sơn “mà người bạn Bồ Đào Nha của chúng ta, Manuel Duomé, đã dùng để làm lợi thế cho ông ta và không bị cản trở đứt đoạn sự buôn bán độc quyền và rất lợi mà ông ta đã có từ nhiều năm qua với những người dân ở xứ này”.

hinh-1
Hình 1: Cảnh một kịch hát ở Đàng Trong (theo John Barrow, 1792)

Qua tư liệu hồi ký của một sĩ quan Pháp tên là Barissy phục vụ cho Nguyễn Ánh, John Barrow đã tóm tắt tình hình lịch sử từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đến lúc Nguyễn Huệ lên ngôi và đánh bại quân Thanh ở Đông Kinh (Thăng Long) và sau đó Nguyễn Huệ được vua Càn Long nhà Thanh mời sang Bắc Kinh để được tấn phong vua ở Đàng ngoài. Trong khi đó Nguyễn Ánh được Bá Đa Lộc (évêque d’Adran) và các giáo sĩ (như 1 giáo sĩ tên Paul) và giáo dân giúp đỡ lánh nạn Tây Sơn ở miền Nam. Khi chạy vào Saigon thì lúc đó ở Saigon đã có một tàu thương mại do một người Pháp tên là Manuel chỉ huy, 7 thương thuyền Bồ Đào Nha và một số ghe buồm đang trú trong cảng để buôn bán (chú thích của dịch giả: ông Manuel này chính là người có bài vị thờ trong chùa Hiển trung do vua Gia Long sau này xây ở Saigon mà Vương Hồng Sển có nói đến (6)).

hinh-2
Hình 2: Một nhóm người ở Đàng Trong tụ tập chơi một trò chơi (theo John Barrow, 1792).

Qua cố vấn của giám mục Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh đã mua lại và mướn người cho hạm đội đủ loại tàu này, trang bị chúng nhanh chóng để mong sẽ đánh úp thình lình vào vịnh Qui Nhơn lúc Tây Sơn không nghĩ là sự kiện này có thể xảy ra. Nhưng sự tấn công vào Qui Nhơn không thành, Nguyễn Ánh phải bỏ chạy lại vào Saigon, sau đó bị rượt đuổi phải trốn ở đảo “Poulo wai” trong vịnh Thái Lan, sau đó chạy qua Siam để lánh nạn. Không bao lâu, Nguyễn Ánh cũng phải rời Siam, trở lại Poulo Wai khi có hiềm khích với vua Siam. Từ đảo này giám mục Bá Đa Lộc đã mang hoàng tử Cảnh sang Pháp hy vọng gặp vua Louis 16 để được giúp đỡ. Một hiệp ước đã được ký kết giữa vua Louis 16 và hoàng tử Cảnh, qua đó vua Pháp gởi quân và tàu chiến đến giúp đỡ và được đặt dưới quyền của Nguyễn Ánh. Đổi lại sau khi thống nhất, nhà vua Việt Nam phải nhường lại cảng Đà Nẵng, các đảo ngoài Hội An. Sau khi đã ký, Bá Đa Lộc được Louis 16 bổ nhiệm là Đại sứ của vua Pháp ở Việt Nam.

hinh-3
Hình 3: Cúng trái cây cho thần (theo John Barrow, 1792)

Hạm đội Pháp trên đường đến Cochinchine ghé vào Pondichery (một nhượng địa của Pháp ở Ấn Độ, nơi mà nhiều người Ấn sau này đến Saigon và Việt Nam). Ở đây vì Bá Đa Lộc không hài lòng với việc toàn quyền Pháp Conway có vợ lẽ, bà Madame de Vienne, bà này vì thế gây hiềm khích giữa Conway với Bá Đa Lộc, Conway ra lệnh đoàn tàu dừng lại vô hạn định và không đi tiếp cho đến khi Conway trực tiếp nhận được tin từ vua Louis 16. Không lâu sau đó cách mạng Pháp nổi lên, chấm dứt sự can thiệp của Pháp và chuyến đi bị bỏ hẳn. Chỉ có Bá Đa Lộc, vài người thân cận và hoàng tử Cảnh trở về Nam kỳ. Lúc này Nguyễn Ánh cũng đã bỏ đảo quay về Saigon sau 2 năm khổ cực ăn rễ cây trên đảo. Hoàng tử Cảnh đoàn tụ với chúa Nguyễn năm 1790 ở Saigon.
(chú thích: Conway là người Pháp gốc Ái Nhĩ Lan. Rất nhiều người Ái Nhĩ Lan theo đạo công giáo khác với Tin lành ở Anh làm sĩ quan trong quân đội Pháp như Hennessey mà sau này lập nghiệp và sản xuất rượu mạnh Hennessey ở Pháp).

3. Saigon theo quan sát của R. Purefoy (1800-1807)


Đầu thế kỷ 19, trong các năm 1800 đến 1807, ông R. Purefoy đến Saigon để buôn bán. Năm 1826 viết lại về vùng Saigon trong tập san Á châu vùng Ấn và phụ cận, ông cho biết (22) như sau:
Saigon chính thật ra, hay như người bản xứ phát âm, Thai Gone, nằm ở phía trên một nhánh nhỏ của con sông, khoảng tám hay mười dặm Tây Bắc của Bến Nghé, là cảng chính của thương mại. Thành phố này lớn đáng kể, được xây chủ yếu bằng gạch: nơi đây là các nhà thương gia chủ yếu của đất nước này cư ngụ.
Người Bồ Đào Nha ở Macao đã giao thương độc quyền ở cảng này từ nhiều năm trước 1800, nên khi một tàu Anh đến đây từ Madras, sự ghen ghét của họ dao động lên cao đến độ họ viết thư lên tổng trấn Saigon nói là họ coi họ mang nhiều ơn lớn với ngài vua đàng trong nên báo cho ngài biết về sự nguy cơ to lớn khi cho phép những tàu người Anh vào bất cứ cảng nào trong xứ, và bảo đảm với ngài là người Anh đến dựng cớ là thương mại nhưng kỳ thực là học biết thông tin về nước này để làm dễ dàng sau này ý định xâm chiếm, và trong dịp này họ cũng nói về những thuộc địa của chúng ta ở Ấn Độ. Con trưởng của nhà vua lúc đó là tổng trấn Saigon; ông ta không để ý gì đến bức thư này; rõ ràng ông ta thấy là các tác giả bức thư chỉ có các động cơ tư lợi riêng, bởi vì họ chẳng mang ra được chứng cớ gì về những điều họ nói, và trong lúc tra hỏi ở hội đồng họ đã có ý trái nghịch lẫn nhau.
Vị hoàng tử này, là một người trai trẻ thông minh, nói tiếng Pháp lưu loát, đã được mang qua Pháp khi còn nhỏ bởi giám mục D’Adran, một phần được giáo dục ở Paris. Ông ấy mất vì bị bệnh đậu mùa năm 1802.”
(chú thích: như vậy Saigon, bắt nguồn từ một từ phát âm ra “Thai Gone”, thật sự là chỉ thành phố Chợ Lớn ngày nay)
Ông Purefoy viết tiếp:
Những sản phẩm chính của tỉnh này là trầu (betel-nut) gồm ba loại, đỏ, trắng và một loại nhỏ, mà ở Trung Quốc có nhu cầu rất lớn, đường, gạo, tiêu, quế, bạch đậu khấu (cardamom), lụa, vải, sừng tê giác và nai, thỏi vàng và bạc, ngà voi, và cá khô với số lượng lớn hàng năm được nhập vào Quảng Đông và các cảng khác ở Trung Quốc. Đồng Nai cũng sản xuất gỗ rất tốt để đóng tàu, gọi là ‘shaou’ (sao), một loại gỗ tếch (teak), rất giống gỗ cây sồi Anh (English oak), một loại gỗ khác nữa giống như gỗ cây tần bì (ash), được dùng làm mái chèo thuyền để xuất khẩu, và cột gỗ thông và mù u, rất tốt để làm cột thuyền và sân thuyền; nhựa đen (tar), nhựa vàng (dammar), dầu từ cây (wood oil) có thể thêm vào danh sách trên. Năm 1801, lượng trầu xuất khẩu đạt tới 135000 peculs (1 pecul hay tạ Trung quốc tương đương với 68kg).
Lương thực rất rẻ ở cảng Saigon, nơi đây có bán ba loại gạo, gạo trắng, gạo đỏ và gạo đen; hai loại gạo sau được nghe nói là có đặc tính bổ tốt cho sức khỏe. Họ sấy thịt heo ở đây bằng một quá trình bí mật, làm thịt heo khô có thể được mang lên tàu và dự trữ được rất lâu.…“
Điều này cho thấy vùng Saigon và các tỉnh chung quanh như Đồng Nai rất sung túc về sản phẩm nông nghiệp, hải sản và lâm nghiệp. Từ Saigon (tức Chợ Lớn) hàng hoá được thông thương buôn bán với các nước ngoài và xuất khẩu rất nhiều đi các nơi.

Nguyễn Đức Hiệp





Tham Khảo


(1) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Nxb Đồng Nai,
http://namkyluctinh.org/a-sachsuvn/giadinhthanh-thongchi%5Bp3%5D.pdf
(2) Anatole Petiton, La Cochinchine française: la vie à Saïgon, notes de voyage, Éditeur : Impr. de L. Danel (Lille), 1883.
(3) Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs, conférence faite au collège des interprètes par M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur : Impr. coloniale (Saïgon), 1885.
(4) Les colonies françaises: notices illustrées / publ. par ordre du sous-secrétaire d'état des colonies sous la dir. de M. Louis Henrique, Quantin (Paris), 1889-1890.
(5) Trần Ngọc Quang, Saigon và những tên đường xưa,
http://namkyluctinh.org/a-lichsu/tngocquang-saigontenduongxua.pdf.
(6) Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, 1992, Nxb Trẻ
(7) John Crawfurd, Journal of an embassy from the governor of India to the courts of Siam and Cochinchina; exhibiting a view of the actual state of those kingdom by John Crawfurd. London. Henri Colburn and Richard Bentley, New Burlingtong Street. 1830.
(8) John White, A Voyage To Cochin China; by John White, Lieutenant in The United State Navy, London, 1824. Online:
http://www.archive.org/stream/voyagetocochinch00whitrich#page/n15/mode/2up
(9) Nguyễn Công Tánh, Thay đổi tên đường của Thành Phố Sài Gòn từ năm 1928 đến năm 1993,
http://motgocpho.com/forums/showthread.php?1895-L%E1%BB%8Bch-S%E1%BB%AD-Saigon
(10) Hình ảnh, tư liệu, http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm
(11) Albert Morice, Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74, par M. le Dr Morice, H. Georg (Lyon), 1876.
(12) John Barrow, A voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793: containing a general view of the valuable productions and the political importance of this flourishing kingdom, T. Cadell and W. Davies in the Strand, London, 1806. online : http://purl.pt/126
(13) Jules Blancsubé, Notes sur les réformes les plus urgentes à apporter dans l'organisation des pouvoirs publics en Cochinchine (Signé : Jules Blancsube [31 Décembre 1878]), Impr. de Ve Remondet-Aubin (Aix), 1879.
(14) Réveillère, Paul-Émile-Marie (dit Paul Branda), Ça et là. Cochinchine et Cambodge. L'âme khmère. Ang-Kor. Troisième edition, Fischbacher (Paris), 1887.
(15) P. Midan, La Pagode des clochetons et la pagode Barbé, contribution à l'histoire de Saïgon-Cholon, Impr. de l'Union Nguyên-van-Cua (Saïgon), 1934.
(16) Excursions et reconnaissances, No. 4, Imprimerie du gouvernement, Saïgon, 1880.
http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5747850m.image.hl.r=Wang-Tai.f5.langEN.pagination
(17) J. Bouchot, Saigon sous la domination cambodgienne et annamite, Bulletin de la Société des études indochinoises, année 1926, 1926 (Nouv Ser,T1), pp. 3-82, Société des études indochinoises (Saïgon).
(18) Nguyễn Đình Đầu, Địa lý lịch sử thành phố Hồ Chí Minh, trong “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Tph Hồ Chí Minh, 1987, Quyển I, trang 125-231.
(19) Trần Văn Giàu, Lược sử thành phố Hồ Chí Minh, trong Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Tph Hồ Chí Minh, 1987, Quyển I, trang 235-420.
(20) Josiah Conder, Birmah, Siam, and Anam, London: printed for J. Duncan, Oliver & Boyd, Edingburgh, M. Ogle, Glasgow and R. M. Tims, Dublin, 1826,
http://www.archive.org/stream/birmahsiamanam00condrich#page/n11/mode/2up
(21) George Finlayson, The mission to Siam and Hue the capital of Cochin China in the years 1821-2, London, John Murray, Albemale Street, 1826.
http://www.archive.org/stream/missiontosiaman00raffgoog#page/n7/mode/1up
(22) R. Purefoy, Cursory remarks on Cochin-China, The Asiatic journal and monthly register for Bitish India and its dependencies, Vol. 22, pp. 143-147, pp. 652-655 London, 1826.
(23) Charles Darwin, The Descent of Man: and selection in relation to sex, John Murray, London, 1879.
(24) Charles Lemire, Cochinchine française et royaume de Cambodge, avec l'itinéraire de Paris à Saïgon et à la capitale cambodgienne, Challamel aine, Paris, 1869.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Lịch sử Chợ Lớn (phần 1)


Chợ Lớn
Lịch sử địa lý, kinh tế và văn hóa

Phần 1


Nguyễn Đức Hiệp


Chợ Lớn, cách Sài Gòn khoảng 6km, trước đây từng được coi là thủ đô lúa gạo của toàn Đông Dương. Vai trò của Chợ Lớn là cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế Nam Kỳ xưa kia và ngay cả ngày nay. Lịch sử Sài Gòn gắn liền với lịch sử Chợ Lớn. Chợ Lớn được thành lập trước Sài Gòn. Sài Gòn thật ra là tên trước đây đặt cho khu Chợ Lớn và chính tên Sài Gòn có thể có nguồn gốc từ “Tai Ngon” hoặc ‘Tin-Gan” (Hán Việt là Đề Ngạn, chỉ thành phố gần đê dọc kênh tàu Hủ) mà người Quảng Đông đọc là “Thầy Ngòn” hay “Thì Ngòn” (4).

Bài này có mục đích giới thiệu lịch sử địa lý, kinh tế và văn hóa thành phố Chợ Lớn trong hơn 200 năm qua từ lúc người Hoa đến định cư đông đảo từ Cù Lao phố, Biên Hòa. Sự thăng trầm của Chợ Lớn trực tiếp gắn liền với lịch sử Việt Nam trong các thế kỷ đã qua. Chủ yếu là trung tâm thương mại, không có quyền lực và ảnh hưởng chính trị, Chợ Lớn không được đánh giá đúng mức về tiềm lực văn hóa, kinh tế trong các nỗ lực ưu tiên đầu tư để phát triển kinh tế, hạ tầng cơ sở xứng đáng với tầm vóc của thành phố này, cũng như phát triển văn hóa và bảo tồn các đặc trưng mà con người, trong đó người Hoa và Minh hương là chủ đạo, đã góp phần tạo thành đặc tính con người văn hóa Nam bộ.

Trong các năm gần đây, cảnh quan đô thị thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn đã thay đổi thật nhanh chóng qua sự bùng nổ dân số và kinh tế cùng các cơ sở hạ tầng và sự phình rộng đô thị với nhiều quận mới được thành lập. Không cần một bản báo cáo nghiêm túc về tình hình phát triển và quản lý đô thị vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, hỏi bất cứ cư dân và của những khách viếng thăm về tổng quan về môi trường sinh thái, văn hóa thành phố Hồ Chí Minh thì tất cả đều có cùng nhận xét như người viết :

- Phát triển thiếu bền vững : quá tải, ô nhiểm môi trường khí, nước, vấn đề xử lý chất thải rắn. Giao thông ùn tắc, thiếu cây xanh, nước ngập do lấp kênh rạch (Sài Gòn - Chợ Lớn lịch sử là thành phố sông nước)

- Bảo tồn di sản và phát huy giá trị văn hóa lịch sử : sự biến mất gần đây của nhiều kiến trúc, cảnh quan có giá trị văn hóa lịch sử (Bến Bình Đông, Chương Dương, Hàm Tử) qua lợi ích trước mắt chứ không đặt trên cơ sở tìềm năng lâu dài.

Phong thái, phong cách kiến trúc, cảnh quan văn hóa và sinh thái của một thành phố làm nên cá tính của thành phố ấy. Chưa nói đến vấn đề sinh thái, cây xanh (đứng trên tòa nhà cao tầng ở quận 4, chỉ thấy nhà là nhà mới mọc chen chúc mà không có cây xanh nào trong toàn quận), tác giả đã đi qua và ghi lại những gì đã thay đổi trong các năm qua và qua bài này dóng lên tiếng báo động về sự biến mất của những khu phố cổ, những cảnh quan đô thị có giá trị văn hóa được thay bằng những tòa nhà không đồng bộ, nhếch nhác không có đặc thù kiến trúc qua sự thiếu hoạch định các khu phố của chính quyền địa phương.

Đặc biệt nhất là dọc theo rạch Bến Nghé, kênh Tàu Hủ trên đại lộ Đông Tây vừa xây và các đường tiếp cận gần đại lộ đi Chợ Lớn. Những nơi này là nơi mà sự thay đổi đã làm các khu phố thay đổi hầu như toàn diện. Các hình ảnh xưa trong bài có nguồn từ (6) và hình ảnh gần đây là của tác giả và nhiếp ảnh gia Kinh Luân, báo Thời báo Kinh tế Sài Gòn.



Sự thành lập và phát triển Chợ Lớn



Người Hoa, từ Cù Lao phố, Biên Hòa, đã kéo về đây thành lập khu định cư mới vào năm 1778 sau khi Cù Lao phố bị Tây Sơn đánh phá. Họ là hậu duệ những người theo nhà Minh chạy khỏi Trung Hoa thời nhà Thanh đến miền Nam lập nghiệp ở Cù Lao Phố và Mỹ Tho vào năm 1680 sau khi được chúa Nguyễn cho phép.

Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (1) nói về vùng Chợ Lớn là nơi phố thị buôn bán sầm uất, sinh hoạt văn hóa, kinh tế nhộn nhịp cuối thế kỷ 18 như sau :

“ Phố chợ Sài Gòn :

Cách trấn về phía nam 12 dặm ở hai bên tả hữu đường cái quan, là đường phố lớn, thẳng suốt 3 đường, giáp đến bến sông, một đường ngang ở giữa, một đường đi dọc theo sông. Các đường ấy đan xuyên nhau như chữ điền, phố xá liền mái nhau, người Việt và người Tàu ở chung lộn dài độ 3 dặm. Hàng hóa trong phố bày bán có : gấm, đoạn, đồ sứ, giấy má, châu báu trang sức, hàng sách vở, tiệm thuốc, tiệm trà, tiệm hủ tíu. Hai đầu nam bắc bến sông không gì là không có. Đầu phía bắc đường lớn của bổn phố có miếu Quan Đế và 3 hội quán : Phúc Châu, Quảng Đông, và Triều Châu chia đứng hai bên tả hữu ; phía tây ở giữa đường lớn có miếu Thiên Hậu, gần phía tây có hội quán Ôn Lăng, đầu phía nam đường phố lớn về phía tây có hội quán Chương Châu. Gặp ngày tốt, đêm trăng, như Tam nguyên, rằm, mùng một thì treo đèn đặt án, tranh đua kỳ xảo trông như là cây lửa, cầu sao, thành gấm, hội quỳnh, kèn trống huyên náo, nam nữ dập dìu, thật là một phố lớn nơi đô hội náo nhiệt. Trong đường phố lớn có cái giếng xưa, nước ngọt tràn trề, bốn mùa không cạn. Sông nhỏ chảy ngang phố có bắc cầu ván lớn, trên có hai dãy hành lang mái ngói, treo màn che nắng, đường đi râm mát như đi dưới mái nhà cao. Giữa phố về phía đông đường lớn có chợ Bình An bán đủ sản vật quý ở núi biển và thổ sản các nơi, ban đêm còn thắp đèn mua bán ”.

Khi từ Cù Lao Phố đến vùng nay gọi là Chợ Lớn cũ, đã có làng Minh Hương của người Việt gốc Hoa thành lập trước từ năm 1698 cũng do người Hoa nhà Minh đến định cư. Nhưng chỉ 4 năm sau, năm 1782, Tây Sơn Nguyễn Nhạc vào trở lại đánh thành Phan Yên (Phiên An, thành Sài Gòn sau này) ở Gia Định và sau đó đánh luôn Chợ Lớn khu người Hoa ở, tàn sát họ rất nhiều.

Theo Vương Hồng Sển (4) :

“ Sau trận giặc 1782, theo Trịnh Hoài Đức thuật lại, thì hàng hóa các tiệm buôn Tàu như trà, vải lụa, thuốc men, hương liệu, giấy má đủ loại bị tuôn ra bỏ bừa bãi lềnh khên ngập đường sá, hèn lâu như vậy mà không ai dám rớ dám mót lượm về xài. Qua năm 1783, giá hàng hóa vụt lên mà ngợp : kim may mỗi cây một lượng bạc, trà Tàu tám quan tiền một cân,... Còn nói chi số binh sĩ và thường dân Tàu bị chết đâm chết lụi kể trên số muôn, thậm chí thây ma lớp nằm chật đất, ngổn ngang từ vàm Bến Nghé đến tận kinh Chợ Lớn, lớp khác bị chuồi xuống nước, xác ma da, thằng chỗng kẹo lềnh một khúc sông, làm cho ngót ba bốn tháng trường, dân nghe nhắc mà ớn xương sống không dám rớ đến miếng thịt xương thịt cá ! Nhưng người Tàu quả là giống dân giàu tính nhẫn nại nhất thế giới : tính coi họ thất bại to tát làm vậy mà họ không bỏ cơ sở làm ăn. Ít lâu sau họ gầy dựng lại cơ sở Chợ Lớn, có mòi sung túc thịnh vượng hơn trước bá bội.

Họ lấy đất đắp thêm bờ kinh chỗ mới tạo lập, cẩn đá thêm cao ráo và kiên cố. Và có lẽ để ghi nhớ công trạng này họ đặt tên chỗ mới là “Tai-Ngon”, hoặc “Tin-Gan”, mà phát âm theo giọng Quảng Đông thì nghe ra “Thầy Ngồn” hay “Thì Ngòn”. Xét theo mặt chữ, thì “Tai-Ngon”, “Tin-Gan”, “Thầy Ngồn”, “Thì Ngòn” đọc theo giọng Việt là “Đề Ngạn” :

Đề, Đê :  là cái bờ, cái đê ngăn nước.

Đề : cũng có nghĩa là nắm lấy (Đề cương khiết lãnh là nắm lấy cái dây lớn của cái lưới, tức nhiên cả cái lưới sẽ trương ra ; kéo cái cổ áo thì cả chiếc áo nhấc lên. Nghĩa bóng : nắm lấy chỗ chủ yếu. Kể ra khi đi lựa địa thế, đã là đặt cả một hy vọng lớn rồi.)

Ngạn : bờ sông cao dốc.

Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn cũ ngày nay vậy (truy ra là xóm Quảng Đông Nhai chỗ miếu Quan Đế, miếu Tam Hội) ”.

Khu cổ nhất ở vùng Chợ Lớn là xóm người Khmer chung quanh chùa Cây Mai và Phú Lâm. Chùa Cây mai, sau này thành đồn Cây Mai từ lúc Pháp đến đánh Sài Gòn đến ngày nay, nằm ở khu vưc gần các đường Nguyễn Trãi, Hồng Bàng và Nguyễn Thị Nhỏ. Chợ Lớn lúc đầu chỉ là tập hợp của nhiều làng, xóm chung quanh các kinh rạch. Nhiều làng xóm chuyên làm những nghề thủ công nghệ, sản xuất,.. mang tên đặc trưng của xóm đó như Xóm Dầu (sản xuất dầu dừa, dầu đậu phọng), Xóm Củi, Xóm Than, Xóm Lò Gốm,…

Ta hãy đọc tiếp theo, trên đường đi từ Sài Gòn đến Chợ Lớn, đoạn Trương Vĩnh Ký viết về Chợ Lớn (2) :

“ Chợ ở Chợ Lớn xưa là chợ ở vùng Chợ Rẫy ngày nay. Vùng ở giữa đường Đồng Khánh (rue des Marins) cho đến rạch Chợ Lớn (arroyo de Cholon) là nơi cư ngụ của người Minh hương, người Hoa lai Việt, mặc đồ như người Việt và có làng được đặc quyền riêng. (Chú thích : khu này gọi là làng Minh Hương, hiện nay còn lại ngôi nhà xưa nhất Sài Gòn-Chợ Lớn gọi là Minh Hương Gia Thạnh xây năm 1789. Làng Minh Hương đã có từ năm 1698. Ở Phú Thọ Hòa còn có chùa Giác Lâm, ngôi chùa cổ xây năm 1744).

Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là những nhà kho lớn xây bằng gạch, gọi là "Tàu khậu". Những "Tàu khậu" này được cho những người Hoa từ Trung Quốc đến mướn. Họ đến một lần mỗi năm trên những ghe thuyền vượt biển. Họ mang và chứa những hàng vào các kho này. Từ những kho này, họ bán sỉ hay lẻ trong lúc họ tạm trú ở Sài Gòn. Cầu dẫn đến khu chợ lớn (Chợ Rẫy ngày nay) gọi là "Cầu đường", gọi vậy là vì tại đây họ bán đủ loại đường như viên, hủ đường etc..

Trên bờ của rạch chảy qua trước nhà của ông tổng đốc (tổng đốc Đỗ Hữu Phương, một người Minh hương) là con đường "Phố xếp" (rạch này cũng gọi là rạch Phố xếp sau này được lấp đi thành đường Tổng đốc Phương, nay gọi là Châu Văn Liêm), và cây cầu trên đường đi Cây Mai có tên là "Cầu phố". Ở góc hai kinh (Chợ Lớn và Phố xếp), từ chợ cho đến cầu sắt, là làng Quới đước và chợ "Chợ kinh".

ab    
Hình 1: Chợ Lớn 1874 – Cho thấy rõ, Kênh Tàu hủ, rạch Bãi sậy
và rạch Chợ Lớn chảy qua khắp khu vực thành phố Chợ Lớn
(ngày nay rạch Chợ Lớn đã lấp)
ac
Hình 2 : Bản đồ Chợ Lớn 1893 (nguồn : Tour du Monde 1893)
Các rạch ở trung tâm Chợ Lớn đều còn (rạch Chợ Lớn, rạch Lò Gốm)

Hai bên rạch Chợ Lớn từ Cầu Đường cho đến Cầu Khâm Sai và Lò Gốm là nhà cửa san sát nhau. Chợ Lò rèn, ngay tại nhà thờ Chợ Lớn ngày nay (thời Trương Vĩnh Ký, tức nhà thờ Cha Tam ngày nay) là nơi ở của các thợ rèn và những thợ làm thanh sắt (Quân mậu tài). Trong lúc đi đến chùa Cây Mai, người ta gặp một cầu gọi là Cầu Ông Tiều.

ad
Hình 3 : Canal Bonard trong Chợ Lớn
(rạch Bãi Sậy hay còn gọi là kinh Hàng Bàng)
ae
Hình 4 : Thành phố Chợ Lớn - 1930

Chùa Cây Mai ngày xưa là chùa Cao Miên, bao bọc tứ phía bởi đầm lầy. Trong các đầm này có các cuộc đua thuyền trong ngày lể Phật. Chùa này đã được người Việt phục hồi lại. Dưới thời Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương đến Nam Kỳ cùng với Phan Thanh Giản, đã cho xây một tầng nhà cảnh. Tên chùa và đồi nhỏ ở đây là từ cây mai, một loại cây có bông trắng rất được ưa chuộng và cho là quý bởi người Hoa và người Việt.

Nhà kiểm tra (tòa hành chánh) ở Chợ Lớn trước kia là nơi ở của tri huyện Tân Long ”.

af
Hình 5 : Nhà người Hoa ở Chợ Lớn 1872
nguồn: Bs Albert Morice – La revue Tour du Monde 1875 (6) (7)
(Đây có thể là khu gần chùa Cây Mai vì kiến trúc nhà
là Khmer có mái cong, không phải là nhà theo kiến trúc người Hoa)
ag
Hình 6 : Phòng thanh tra (Bureau de l’Inspection) Chợ Lớn 1910.
Kế bên trái Phòng thanh tra là Tòa đô chánh (Hotel de ville) Chợ Lớn.
Chợ Lớn lúc này là tỉnh lỵ của tỉnh Chợ Lớn.

ah
Hình 7 : Nhà hát Trung hoa – đường Phùng Hưng (rue de Paris) – Chợ Lớn.
Trên đường Phùng Hưng, chủ yếu là người gốc Phúc Kiến ở,
cũng có một nhà thờ đầu tiên xây năm 1866 dành cho người Hoa,
nay là văn phòng báo Sài Gòn Giải phóng.

Trong thời gian Pháp còn đang đánh chiếm Sài Gòn-Chợ Lớn, chuẩn đề đốc (contre-amiral) Page đã nhanh chóng cho xây dựng các kho hàng và mở cửa cảng Sài Gòn-Chợ Lớn cho việc buôn bán với bên ngoài. Chợ Lớn trở thành trung tâm thương mại, tiếp viện hàng, thực phẩm cho quân Pháp. Cũng chính vì yếu tố này mà Nguyễn Tri Phương từ đồn Kỳ Hòa đã cho quân đánh cắt đường của Pháp từ đồn Cây Mai vào Chợ Lớn, những trận chiến lớn ban đầu là giữa đồn Cây Mai, đồn clochetons (hình tháp chuông) và chiến tuyến chiến hào mà người Pháp gọi là đồn Redoute của quân triều đình cách đó không xa khoảng 400 hay 500m giữa đầm ruộng đầy mồ mả quanh đồn (chùa) Cây Mai (17).

Nắm được Chợ Lớn là nắm vị trí chiến lược. Rạch trong Chợ Lớn chằng chịt và vì thế các tàu chiến Pháp đều đến án trong các rạch. Tàu Jaccaréo, một loại chiến thuyền “Lorcha” gốc Bồ Đào Nha của hải quân Pháp đã tải súng đạn và tiếp viện cho đồn Cây Mai. Sau này trong Chợ Lớn, người Pháp đặt tên con đường Jaccaréo nơi chiến hạm Jaccaréo đã vào án ngự (Tản Đà ngày nay). Theo Leopold Pallu (17), trong khi đoàn quân Pháp đánh Sài Gòn thì người Pháp đã mở cảng, buôn bán với người Hoa trong Chợ Lớn trong giai đoạn này và đã thu được lợi nhuận khổng lồ :

“ Bảy mươi tàu và một trăm ghe thuyền chuyên chở sáu mươi ngàn tấn gạo trong vòng bốn tháng cho thị trường Hồng Kông và Singapore, đem đến một lợi tức khổng lồ cho ta. Đồn Cây Mai giúp cho việc buôn bán dễ dàng, người ở một số làng đổ đến vì thấy cái lợi lớn mà người Pháp đã đem tới cho họ ; số người Pháp trong đồn ít và không làm khó dễ họ gì cả. Người Hoa tiếp tục theo tính cách của họ, tìm cách bảo vệ việc buôn bán bằng cách lấy lòng cả hai bên An Nam và Pháp. ”

“ Thành phố người Hoa (tức Chợ Lớn, ghi chú người dịch) là chìa khóa của tất cả thương mại ở Nam Kỳ miền dưới (basse Cochinchine) (tức miền Tây, ghi chú người dịch). Ai kiểm soát được thành phố này là nắm hết khả năng sinh hoạt của người dân trong phần đất An Nam này ”.
Pallu nói về người Hoa ở Chợ Lớn :

“ Nhiều người thật giàu có ; một số trong họ thuê trực tiếp các tàu người Âu để liên hệ với Ấn Độ, đảo Réunion hoặc Trung Quốc. Phải xác nhận là ngày nay tình thế khó khăn do sự chiếm đóng của người Pháp, gây nên sự bất định về thông tin mà các thương gia ở Sài Gòn thì phải dựa vào giá cả ở thị trường HongKong và Thượng Hải, vì thế người Hoa họ đã lập hẳn một hệ thống chuyển thư riêng của họ giữa Sài Gòn và Quảng Châu....

Trung tâm mà người Hoa vào An Nam là thành phố Chợ Lớn, chỉ cách Sài Gòn có hai dặm. Đó là thành phố hoàn toàn người Hoa cư ngụ. Người Hoa ở đây gồm có bảy bang, mỗi bang có một người lãnh đạo gọi là Hong Phoo ; các người Hong Phoo đều đeo một nút màu vàng biểu hiện cho sự khoan dung và uy quyền. Sau trận đánh ở chùa Clochetons vào năm 1860, ta thấy hết sức rõ ràng là thị trường người Hoa sẽ vĩnh viễn lọt vào tay ta, cho nên các người Hong Phoo đều đến xin ta bảo trợ, và ta đã chấp thuận ”.

Chỉ vài năm sau khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn, Chợ Lớn đã thay đổi nhanh chóng. Lúc phái bộ Phan Thanh Giản trở về Sài Gòn năm 1864 sau khi qua Pháp điều đình, đại úy Boresse đã dẫn Phan Thanh Giản và một số tùy tùng đến bến cảng Chợ Lớn dọc kênh Tàu Hủ tham quan. Dưới ô lọng che, Phan Thanh Giảng đã chứng kiến sự biến dạng cảng thương mại to lớn tột cùng. Trong lòng ông, đã thay đổi, nhưng còn triều đình ?

Thị trưởng thành phố Chợ Lớn trong thời gian 1880-1884 là ông Antony Landes. Ông Landes còn là hội viên Hội nghiên cứu Đông Dương (Société des études indochinoises), tác giả nhiều bài viết và sách về văn hóa, văn minh Việt Nam và Chăm nổi tiếng (như Contes Tjames 1887, 1886, Contes et légendes annamitesNotes sur les moeurs et superstitions populaires annamites1880, dịch tác phẩm Nhị Độ mai ra tiếng Pháp, Les pruniers refleuris ; poème Tonkinois, 1883). Ông mất lúc còn trẻ cùng với vợ và một cô bạn gái trong một tai nạn đụng tàu trên sông Sài Gòn ngày 23 tháng 2 năm 1893. Tàu Donnai (Đồng Nai) trong chuyến dạo thăm Biên Hòa, lúc trở về vào gần giữa đêm đụng phải tàu hơi nước Le Mouhot của công ty vận tải đường sông (Messageries fluviales), tàu Donnai chìm làm cả ba chết đuối, không tìm được xác (10). Hội nghiên cứu Đông Dương mất đi một nhà nghiên cứu văn hóa xuất sắc. Tất cả sách vở, bản thảo, tư liệu của ông sau này được gia đình người em trai của ông tặng cho Hội Á Châu (Société Asiatique) ở Paris (12). Gần đây, nhà khảo cổ Nguyễn Thị Hậu cho biết là năm 1998, một chiếc tàu chìm được khám phá ở thượng lưu sông Sài Gòn như sau :

“ Một di chỉ khác nằm cách thượng lưu sông Sài Gòn khoảng 1km, có niên đại khá muộn, được Bảo tàng Quân Khu 7 phát hiện năm 1998. Đó là một con tàu đắm có vỏ bọc bằng sắt, bên trong chứa nhiều hiện vật như : thanh gươm có khắc tên chủ nhân là người Pháp ; một chiếc gậy chống bằng gỗ bịt bạc ở đoạn cuối, đoạn tay cầm là một chiếc răng nanh heo rừng nối với thân gậy bởi một khoen bằng bạc chạm hình rồng, một thùng rượu bằng gỗ được ghép bằng vành đai kim loại, một đồng xu lớn đề chữ Indochine Française (Đông Dương thuộc Pháp) phát hành năm 1886, một bình bông treo tường đáy nhỏ, miệng loe bằng gốm men xanh trắng (Phúc Kiến) có đắp nổi hình một ông tiên, trên đầu là hình cây đào, cành mai chạm lộng ; một nồi Supde có đường kính thân 170cm, cao 200cm, bằng sắt đã bị hư hỏng nặng. Theo lời kể của các thợ lặn, còn có 2 sọ người nằm ở vị trí con tàu nhưng không được vớt lên. Vỏ tàu cũng đã bị rỉ sét, mục nát nhiều.

Theo các nhà nghiên cứu, đây có thể là một con tàu tuần tiễu trên sông bằng sắt, chạy bằng hơi nước của chính quyền Pháp tại Sài Gòn. Thời điểm tàu chìm là trong khoảng thời gian từ 1886 đến đầu thế kỷ XX.”

Như vậy khả năng rất lớn là chiếc tàu chìm được khám phá vào năm 1998 chính là tàu Donnai bị chìm năm 1893 mà ông Landes đã đi dạo trên thuyền cùng với vợ và bạn tháng 2 năm 1893.

ai
Hình 8 : Tòa đô chánh thành phố Chợ Lớn (ngày nay không còn), trước kia nằm trên khu đất mà ngày nay là khuôn viên Đại học Y Khoa Sài Gòn. Tòa nhà nhìn ra đường Cây Mai (Nguyễn Trãi) và Avenue de Jaccaréo (Tản Đà) (ngay ngã ba đường Cây Mai và Jaccaréo, đường Jaccaréo đâm thẳng vào là đụng tòa đô chánh. Trong bản đồ 1893 Tour du Monde, đường Jaccaréo từ rạch Tàu Hủ đến đường Cây Mai là chấm dứt, chưa thông qua đường Charles Thomson) và đường xe tramway Chợ Lớn - Sài Gòn, bên phải là rue des Clochetons (Phù Đổng Thiên Vương) và phía sau là Boulevard Charles Thomson (Hồng Bàng) và đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Đường Jaccaréo được người Pháp đặt theo tên một chiến hạm Jaccaréo, trong chiến dịch vây đánh Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1859, đã đậu trên con rạch dẫn vào Chợ Lớn và đồn Cây Mai (nay đã lấp trên đường Tản Đà) thông với kênh Tàu Hủ.
aj
Hình 9 : Cây cổ thụ góc đường Tản Đà và Nguyễn Trãi, trong khuôn viên bệnh viện,
là vết tích duy nhất cạnh tòa đô chính Chợ Lớn còn lại.
ba
Hình 10 : Những căn nhà của khu phố cổ còn sót lại ở đường Tản Đà
Từ năm 1889, tỉnh Chợ Lớn được thành lập gồm thành phố Chợ Lớn, huyện Bình Chánh, một phần của tỉnh Long An ngày nay (Gò Đen, Đức Hòa,..) trong khi Sài Gòn thuộc tỉnh Gia Định. Sự độc lập làm thành phố Chợ Lớn phát triển mạnh mẽ hơn. Sau khi sáp nhập tỉnh sau 1975, thì Sài Gòn - Chợ Lớn trở thành một phần của địa phận thành phố Hồ Chí Minh, Chợ Lớn không còn trở thành cái nôi kinh tế như trước đó. Tuy vậy sức mạnh kinh tế trong Chợ Lớn vẫn đa số nằm trong tay người Hoa.

Các thương gia người Hoa ở Chợ Lớn cũng thường tiếp xúc, lên hệ với các người Hoa ở Đông Nam Á : họ đã có những liên hệ thương mại mật thiết với các cộng đồng người Hoa ở Indonesia, Singapore và Mã Lai. Ở Chợ Lớn có hai câu lạc bộ của người Hoa Singapore, một thiết lập năm 1878 tọa lạc ở số 64 đường Paris (Phùng Hưng kế đường Phúc Kiến) và một thành lập năm 1886 ở số 105 đường Rue des marins (Đồng Khánh sau này là Trần Hưng Đạo nối dài) sau khi có sự đòi hỏi từ lãnh sự Anh ở Sài Gòn năm 1885 (5). Chủ yếu họ mua bán lúa gạo, nông phẩm, thầu xây dựng địa ốc, sản xuất thuốc phiện. Lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp từ các tỉnh miền tây mang vào Chợ Lớn - Sài Gòn và xuất khẩu qua nhiều nước ở Đông Nam Á.

Có từ hai mươi đến ba mươi gia đình người Hoa ở Malacca và Singapore trú tại Chợ Lớn, phần lớn trên đường Phúc Kiến, vì thế đường này được họ gọi là “đường Baba” (rue des Baba). Baba là tên những người Hoa ở vùng Strait Settlement (Singapore và Malaysia) tự gọi (5). Qua sự liên hệ thương mại giữa người Hoa ở Chợ Lớn và các thành phố khác ở Đông Nam Á như Singapore, Hong Kong, ta cũng không lạ gì nhiều nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn nhập máy xay bằng hơi nước hiệu “Barley Mill” từ Anh qua Singapore hay Hong Kong mặc dầu có sự phàn nàn từ người Pháp do không mua máy của Pháp (11). Các thương gia nổi tiếng người Hoa từ Singapore là ba anh em Tan Keng Ho (Trần Khánh Hòa), Tan Keng Hoon (Trần Khánh Vân), Tan Keng Sing (Trần Khánh Tinh) và ông Gan Wee Tin (Nhan Vĩ Thiên) đều có nhà máy xay lúa hay phần hùn trong đó.

Người Pháp gọi ông Gan Wee Tin (Nhan Vĩ Thiên) bằng tên Ban-hap (Vạn Hòa). Vạn Hòa là tên công ty mà ông Wee Tin lập ra ở các tỉnh miền Nam trồng và buôn bán thuốc phiện, lúa gạo trong các năm ở thập niên 1850, trước khi người Pháp đến (5)(14). Công ty Vạn Hòa sau đó làm ăn phát đạt mở rộng đến Cam Bốt với các đặc quyền từ vua nước này cho phép trồng, sản xuất thuốc phiện năm 1869 và ở Nam Kỳ năm 1869 được chính quyền Pháp tiếp tục cho phép độc quyền mặc đầu bị sức ép của các thương gia và công ty Pháp muốn cạnh tranh ở Cam Bốt. Ban-hap còn có độc quyền ở Cam Bốt sản xuất bán vé số, mở các tiệm cầm đồ, sòng cờ bạc, trại nuôi và bán thịt heo. Ông Trần Khánh Hòa cũng thành công và có thế lực kinh tế không kém ông Vạn Hòa. Ngày 8/7/1869, đề đốc Ohier đổi tên Ủy ban thành phố (Commission municipale) mà trước đó vào năm 1867 thống đốc de la Grandière đã thành lập sau khi Pháp vừa chiếm Sài Gòn, thành tên chính thức Hội đồng thành phố Sài Gòn (Conseil municipal de la ville de Saigon), gồm 1 thị trưởng và 13 hội đồng viên với nhiệm kỳ 2 năm (7 người được bầu và 6 người được thống đốc chọn), trong đó có Trương Vĩnh Ký và Tang keng Ho (Trần Khánh Hòa). Đây là Hội đồng thành phố đầu tiên của Sài Gòn (16).

Nhà máy xay lúa bằng hơi nước đầu tiên ở Việt Nam được thành lập ở Chợ Lớn vào năm 1874. Đó là nhà máy của ông Spooner bỏ tiền ra đầu tư, hầu hết các xưởng nhỏ còn lại dùng cối xay lúa gạo là của người Hoa ở Chợ Lớn.

Nhưng không lâu sau, các người Hoa cũng xây các nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước. Cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Chợ Lớn bắt đầu. Năm 1897, có 9 nhà máy xay lúa (8 ở Chợ Lớn và 1 ở Khánh Hội), trong đó có 7 nhà máy là vốn của người Hoa và 2 nhà máy vốn của người Pháp, Đức và Hoa. Đến đầu thế kỷ 20, năm 1900 thì cả thảy 9 nhà máy ở Chợ Lớn đều là của chủ người Hoa, với giám đốc điều hành là người Pháp (8).

bb
Hình 11 : Nhà máy xay lúa, dọc kênh Tàu Hủ ở Chợ Lớn
bc
Hình 12 : Gạo xay rồi được mang lên tàu ở kênh Tàu Hủ
bd
Hình 13 : Gạo chất ở bến
be
Hình 14 : Một nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn. Hình ảnh của ông Nadal,
nhiếp ảnh người Pháp xuất bản trong sách Album illustré de 456 gravures sur cuivretựa đề La Cochinchine (Nam Kỳ), xuất bản năm 1926, nguồn La Belle Indochine.




Tất cả các nhà máy xay lúa đều ở gần bờ sông rạch để tiện mang lúa xuống từ các ghe, thuyền ở các tỉnh miền Tây đến và để mang gạo mới xay đi xuất cảng ra các nước khác. Nước dùng cho máy xay bằng hơi nước lấy từ nguồn rất thuận lợi ngay tại sông, rạch dọc nhà máy. Nhiên liệu được dùng để đốt chạy máy hơi nước là vỏ trấu.

Có 3 loai gạo : gạo “Baixau” hột dài và thon (giá cao nhất), gạo Vĩnh Long hột dài và to và gạo Gò Công hột ngắn, to mập (11). Bốn nhà máy của người Hoa có bắt điện ban đêm và họ thiết lập các cột đèn (arc lamp) có độ sáng cực mạnh dọc bến tàu để hoạt động và chuyển lúa gạo lên xuống suốt đêm

Nhà máy hoạt động xay lúa cho riêng chủ hay xay lúa cho các nguời khác qua hợp đồng xay. Trong lúc xay riêng, nhà máy mua thẳng lúa từ nông dân vào lúc đầu mùa gặt vào khoảng tháng 12 và tháng 1 và được chứa trong kho để xay khi có nhu cầu xuất khẩu hay mua lúa từ các nhà buôn trong các tháng khác. Vì mua với số lượng nhiều, số vốn của nhà máy vì vậy bỏ ra rất lớn. Một vài nhà máy có trong kho trữ luợng lúa trị giá đến 1,5 triệu dollar (11).

Đường Phùng Hưng (rue de Paris) và đường Triệu Quang Phục (rue de Canton) là hai con đường chính buôn bán sầm uất, được coi là trung tâm sinh hoạt thương mại và văn hóa chính của người Hoa ở cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20. Xưa kia ông Vương Thái (Wang-Tai), một triệu phú người Hoa gốc Quảng Đông từ Hồng Kông, có một nhà ở đường Triệu Quang Phục. Hai con đường này nằm ở hai bên khu chợ Chợ Lớn cũ nằm giữa. Sau này chợ Chợ Lớn được dời đến chợ Bình Tây.

bf
Hình 15 : Một góc trên đường Triệu Quang Phục (rue de Canton) ngày nay.


Nhà văn Marguerite Durras đã có đề cập đến sinh hoạt của người Hoa ở đường Phùng Hưng trong tác phẩm L'Amant của bà. Đường Phùng Hưng là nơi nhiều người Hoa gốc Phúc Kiến đến định cư. Cũng không lạ gì mà trước đây các thương gia Singapore và Mã Lai gốc Phúc Kiến đã tụ tập ở đường Phùng Hưng. Tại đây ở số 203 Phùng Hưng là tòa nhà lớn của Tổng Thương hội Hoa kiều mà trước đây có đề cập nhiều trong sách Hoa Kiều Chí của các nhà nghiên cứu Đài Loan hồi thập niên 1960s (thông tin do bác Trần Đại Tân ở Hội Văn học Nghệ thuật người Hoa cho tác giả biết). Sau này trong thập niên 1990 là trụ sở của Ngân hàng Việt-Hoa, và ngày nay là trụ sở của báo Sài Gòn Giải Phóng.

Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và được coi là trung tâm Chợ Lớn. Nhà Xã Tây (Hotel de Ville) ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.

bg
Hình 16 : Chợ Bình Tây – Để ý phía trái, rạch bãi Sậy vẫn còn
Rạch Bãi Sậy (còn gọi là kinh hay rạch Hàng Bàng) xưa rất trù phú, nhà cửa hai bên san sát. Rạch nối với rạch Lò Gốm và xa nữa là Rạch Cát. Rạch Bãi Sậy sau đó (bắt đầu từ năm 1968) dần bị người dân xây lấn nhà quanh rạch, và hiện nay hầu như hoàn toàn bị lấp để trở thành đường Bãi Sậy và Phạm Văn Khỏe. Trước đây, dọc theo rạch Bãi Sậy là nhà cửa người Hoa san sát nhau và hai bên có trồng các cây bàng rất đẹp mắt và cho nhiều bóng mát (vì thế gọi là kinh Hàng Bàng). Năm 1945, quân Nhật đã chặt các cây bàng để làm hầm núp phía cầu Bình Điền gần đó (4).

bh
Hình 17 : Bến Bãi Sậy và cầu Ba Cẳng (phần phía trên của hình), cầu Palikao ở giữa hình. Ngày nay rạch bãi Sậy đã hầu như bị lấp hoàn toàn. Cầu Palikao trở thành đường Ngô Nhân Tịnh. Cầu Ba Cẳng đã sập, không còn và rạch phía sau chợ Kim Biên đã bị lấp. Cầu Palikao được người Pháp đặt tên theo một câu gần Bắc Kinh, gọi là Bát lí kiều (cầu tám dặm), nơi liên quân Anh-Pháp vào năm 1860 đánh với quân nhà Thanh. Quân Thanh thua và Bắc Kinh bị chiếm và cung điện mùa hạ bị đốt cháy. Hòa ước Thiên Tân sau đó được ký kết. Lúc này cũng là lúc quân Pháp cùng với đề đốc Page và Charner rút quân chủ lực ở Sài Gòn qua Trung Quốc, chỉ để lại số ít cầm cự với quân triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy ở đại đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa), phản công để lấy lại Sài Gòn-Chợ Lớn.
Theo bác Nguyễn Thành Long trong ban quản trị Nghĩa Nhuận hội quán gần rạch Bãi Sậy, mà tác giả đã có dịp tiếp xúc, thì giữa cầu Ba Cẳng và cầu Palikao xưa kia có 5 kiosque bán trà, chuối, nước giải lao cho các tàu đi trên rạch Bãi Sậy. Cầu Palikao bị dẹp và trở thành đường Ngô Nhân Tịnh vào năm 2003, cùng khoảng thời gian cầu Ba Cẳng bị sập và phá bỏ hoàn toàn.


bi
Hình 18 : Cầu trên rạch bãi Sậy


bj
Hình 19 : Rạch Bãi sậy còn sót lại, trên Đường bến Bãi Sậy ngày nay
– hình chụp từ trên “cầu Gò Công” (cầu nhỏ chỉ xe gắn máy đi được)

ca
Hình 20 : Tàn dư của Rạch Bãi Sậy ngày nay, hình chụp từ “cầu Gò Công”

Gần cuối rạch bãi Sậy, nơi rạch rẽ quẹo phải vào kênh Tàu Hủ có cầu Ba Cẳng (phía sau chợ Kim Biên), hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành và chân kia ở bến Vạn Tượng. Đoạn cuối rạch này vẫn chưa lấp, và cầu tồn tại đến năm 1990 thì bị sập. Gần cầu Ba Cẳng, ở ngã ba rạch Bãi Sậy từ kênh Tàu Hủ và rạch chạy đến đường Kim Biên (tiếng Quảng Đông nghĩa là Cao Miên, vì trước đây gọi là đường Cao Miên hay rue de Cambodge) là đường Gò Công, đây là đường từ Chợ Lớn đi xuống Gò Công (cầu Ba Cẳng có bậc đi xuống đường Gò Công). Trụ sở và xưởng sản xuất “xà bông Việt Nam” nổi tiếng của ông Trương Văn Bền trong những thập niên giữa thế kỷ 20 nằm ngay trên đường Kim Biên.

cb
Hình 21 : Pont des 3 arches (Cầu Ba Cẳng) xây bởi công ty Brossard et Mopin
(công ty này cũng xây Chợ Bến Thành ở Sài Gòn vào năm 1914). Nhà báo
Nguyễn Văn Sâm và nhà bên vợ (em gái ông Trương Văn Bền) bỏ tiền đứng ra xây cầu.
cc
Hình 22 : Khu vực cầu Ba Cẳng (góc rạch trước kia nối rạch Bãi Sậy ở phía trái và rạch Tàu Hủ).
Chợ Kim Liên ở đằng sau hình. Nay hoàn toàn nghẽn.

cd
Hình 23 : Đoạn này trên Đại lộ Đông-Tây, trước kia nối kênh Tàu Hủ
với rạch Bãi Sậy qua đoạn cầu Ba Cẳng.


Rạch Chợ Lớn (cũng gọi là rạch Cầu Đường) từ kênh Tàu Hủ đi lên trung tâm Chợ Lớn ngày nay, sau đó lên tận đến rạch Lò Gốm gần đồn Cây Mai. Khúc gần Cầu Đường là bến Gaudot (quai de Gaudot) nơi có trụ sở nhà buôn Thông Hiệp của Quách Đàm. Gaudot là tên của một trung úy hải quân Pháp, chỉ huy một nhóm thủy binh đánh đồn Kỳ Hòa ngày 25/2/1861, sau làm phó quản trị thành phố Chợ Lớn và năm 1868 chỉ huy cảng thương mại Sài Gòn. Gaudot mất ở Côn Đảo vì bệnh năm 1872 (13). Rạch Chợ Lớn chảy từ Kênh Tàu Hủ lên bến Gaudot, kế đó là đến bến Foukien (quai de Foukien, nay là đường Trang Tử - bến xe Chợ Lớn) và cho đến đoạn gần rạch Lò Gốm ngày nay (đoạn này bây giờ là đường Lê Quang Sung).

Sau khi rạch Chợ Lớn bị lấp, bến Gaudot trở thành đường Quai de Gaudot (năm 1955 là đường Khổng Tử, ngày nay là đường Hải Thượng Lãn Ông). Tương truyền Quách Đàm rất mê tín, tin phong thủy được thầy bói Tàu nói là nơi trụ sở bến Gaudot là nơi “đầu một con rồng” mà khúc đuôi nằm ở biển cả. Vì thế Quách Đàm không bao giờ đổi trụ sở dù là nhà mướn, đi nơi khác sau khi rất giàu có thành công trên đường làm ăn. Nên khi xảy ra sự việc lấp kinh thành đường thì ông tin rằng cơ sản làm ăn lụn bại vào lúc thời khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 là do việc lấp kinh Chợ Lớn này (4). Rạch Chợ Lớn trên khúc Quai de Gaudot là Quai de Fou-kien (bến Phúc Kiến) sau khi lấp đi làm thành đường Trang Tử trước bến xe Chợ Lớn ngày nay. Khu đường Hải Thượng Lãn Ông, Trang Tử và Phùng Hưng là khu mà ngày nay vẫn còn nhiều người Hoa gốc Phúc Kiến cư ngụ. Ở đây, góc đường Hải Thượng Lãn Ông và Phùng Hưng, có miếu Nhị Phủ (chùa ông Bổn) của người Phúc Kiến và kế miếu là trường trung học Trần Bội Cơ (trước gọi là Ecole de Foukien). Trường, nằm trong một phần đất của miếu, được xây từ đầu thế kỷ 20 (1907) rất đẹp với kiến trúc Pháp. Gần đấy ở góc đường Hải Thượng Lãn Ông và Đỗ Ngọc Thanh ngày nay có một kênh nhỏ (nay đã bị lấp) gọi là kinh Bến tắm ngựa vì nơi đây các ngựa xe thổ mộ làm chổ nghĩ ngơi và tắm ngựa.

Đường Hãi Thượng Lãn Ông, ngày nay bắt đầu từ Đại lộ Đông Tây ở kênh Tàu Hủ, là con đường chính ở Chợ Lớn. Ở đường này vẫn còn một ít các tòa nhà cổ, to lớn và có thể được coi là đẹp nhất ở Chợ Lớn. Xưa kia, trong thập niên 1960, “vua bột ngọt”, ông Trần Thành cư ngụ trên con đường này.

ce
Hình 24 : Tòa nhà cổ vẫn còn ở đường Hãi Thượng Lãn Ông giữa sự thay đổi nhanh chóng
(ảnh Kinh Luân : Thời báo Kinh tế Sài Gòn)
cf
Hình 25 : Đường Hãi Thượng Lãn Ông đang thay đổi với các tòa nhà cổ bị áp lực
(ảnh Kinh Luân : Thời báo Kinh tế Sài Gòn)

cg
Hình 26 : Đường Hãi Thượng Lãn Ông

ch
Hình 27 : Nhà cổ trên đường Hãi Thượng Lãn Ông


ci
Hình 28 : Một góc đường trên đường Hãi Thượng Lãn Ông

Từ Sài Gòn vào Chợ Lớn vào đầu thế kỷ 19 có hai con đường chính : Nguyễn Trãi (route haute) và đường dọc theo rạch Bến Nghé - kênh Tàu Hủ (route basse). Sau này đầu thế kỷ 20, con đường Avenue Galliéni (Trần Hưng Đạo) và Rue des Marins (Trần Hưng Đạo nối dài) mới được thành lập nối chợ Sài Gòn vào Chợ Lớn.

cj
Hình 29 : Một góc phố xưa trên đường Trần Hưng Đạo nối dài
da
Hình 30 : Phố xưa trên đường Trần Hưng Đạo nối dài

Cảnh quan đường Trần Hưng Đạo ngày nay hầu hết đều biến dạng thay đổi. Các tòa nhà đầu thế kỷ 20 gần như biến hết, chỉ còn một số ít cuối đường Trần Hưng Đạo nối dài ở Chợ Lớn.


db
Hình 31 : Chợ vùng Chợ Lớn

dc
Hình 32 : Khu chợ, Chợ Lớn
dd
Hình 33 : Chợ Lớn, Nhà máy rượu, đường Gò Công ngày nay
de
Hình 34 : Xe điện dọc bến rạch Chợ Lớn, nay là bến xe Chợ Lớn


Theo Eugene Bonhoure (8), năm 1900 dân số Chợ Lớn là 121 987 người, trong đó có 41 588 người Hoa, 80 061 người Việt, 166 người Âu (trong đó có 135 người Pháp, số còn lại là người Miên, Ấn, Mã Lai, Nhật và Tagal (gốc Phi Luật Tân)). Lúc này Chợ Lớn thông thương với Sài Gòn qua 1 đường xe lửa chính, 2 đường xe lửa (tram) chạy bằng hơi nước và các đường bộ và có 9 nhà máy xay lúa sản xuất gạo mà chủ là người Hoa. Số lúa xay là 96 000 picul (1 picul, hay tạ Trung quốc là 68kg), sản xuất được 44 000 piculs gạo “cargo” (không trắng và láng) và 24200 piculs gạo trắng.


df
Hình 35 : Phú Lâm – một góc chợ
dg
Hình 36 : Phú Lâm – đường đi Mỹ Tho, tiệm cầm đồ
Người Hoa nổi tiếng ở Sài Gòn - Chợ Lớn cuối thế kỷ 19 là ông Cheung Ah Lum (Trương Á Lâm, hay Zhang Peilin, Trương Bội Lâm). Cũng như ông Ban-hap (Vạn Hòa, tên thật là Gan Wee Tin hay Nhan Vĩ Thiên), người Pháp gọi ông là Wang-Tai (Vương Thái). Wang-Tai là tên công ty ông lập ở Sài Gòn sau khi ông đến từ Hồng Kông vào năm 1862 để giao các tàu buồm (junks) mà một sĩ quan người Pháp, đại diện cho chính quyền Pháp mới thành lập ở Sài Gòn, đã đến Macao trước đó vào năm 1860 để đặt hàng đóng các tàu từ công ty của ông ở Macao (14). Sau khi giao tàu xong, ông quyết định ở lại định cư hẳn tại vùng Sài Gòn - Chợ Lớn. Có kinh nghiệm ở Hồng Kông khi người Anh đến ở đó để lập thuộc địa, công ty Wang-Tai đi ngay vào kỹ nghệ xây cất, thiết lập các xưởng gạch và xây các nhà kiểu Âu châu khi người Pháp còn chân ướt chân ráo. Các nhà này được cho mướn cho chính quyền Pháp và Phòng Thương mại mà ông là một hội viên từ lúc ban đầu. Ông trở thành phát đạt và giàu có còn hơn lúc ở Hồng Kông.

Lúc còn ở Hồng Kông, có lần ông suýt bị rơi vào vòng lao lý khi một hôm, vào ngày 15/1/1857, công ty làm bánh mì của ông (Esing Bakery) sản xuất bánh mì có chứa độc tố arsenic làm nhiều người bị ói mửa ngày đó. Trong số rất nhiều thợ mà ông không kiểm soát được, có một số đã bỏ arsenic để đầu độc đa số các người Anh ở Hồng Kông. Ông bị đưa ra tòa, nhưng vì không có chứng cớ và với luật sư giỏi ông được tha bổng, nhưng không được lui tới ở Hồng Kông trong 5 năm. Vì thế ông đến Macao (nơi ông học buôn bán lúc còn nhỏ với chú ông) mở tiệm và xưởng sau biến cố này, và chính ở Macao ông gặp đại diện Pháp nhờ ông đóng tàu (15).

Công ty Wang-Tai đi vào các lãnh vực khác của kinh tế như mua bán, sản xuất gạo. Ông Zhang Peilin (Trương Bội Lâm) sau được chọn bầu vào công ty China Merchants’ Steam Navigation Company (Công ty hàng hải tàu hơi nước của thương nhân Trung Hoa) để xuất khẩu gạo sang Trung quốc. Đến các năm của thập niên 1880, ông là chủ của nhiều đất đai nhà cửa ở Sài Gòn, trong đó có khu Wang-Tai (la cité Wang-tai), một khu nghèo và dơ mà các người di dân Trung quốc đến Sài Gòn - Chợ Lớn lúc ban đầu cư ngụ chung với gà, vịt, trái cây và các đồ nhập khẩu (14). Năm 1879, ông gởi con ông và một người Hoa Quảng Đông khác là Lưu Chap (Pháp gọi là A Chap hay “Taokhe” Tào Kê Chap) sang Cam Bốt mở tiệm cầm đồ ở Nam Vang. Sau này Lưu Chap là một người giàu có khét tiếng có thế lực ở Nam Vang.

Ông Trương Bội Lâm (Wang-Tai, hay Vương Thái) mất năm 1900, thọ 73 tuổi (sinh năm 1827). Các con trai và cháu nội ông ở Chợ Lớn mang quan tài ông về quê hương, làng Ya-kang, huyện Hoàng Sơn ở Quảng Đông để chôn cất. Rất nhiều người Hoa, Pháp, Việt và quan chức, chức sắc ra bến tàu để tiễn ông.

Sau ông Trương Bội Lâm, ở thế kỷ 20 có nhiều nhà kỹ nghệ và doanh nghiệp nổi tiếng ở Chợ Lớn và có ảnh hưởng khắp miền Nam như các ông Quách Đàm, Trương Văn Bền, Hứa Văn Bon, Trần Thành, Vương Đạo Nghĩa… Tinh thần thương mại, đầu óc mở đường, kiên trường và gan dạ trong thương trường của những người Hoa và người Việt gốc Hoa đã đóng góp to lớn vào sự hưng thịnh không những cho thành phố Chợ Lớn mà cho cả nền kinh tế Việt Nam trước kia và cho đến ngày nay.

Nguyễn Đức Hiệp








THAM KHẢO : 

(1) Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng dịch và chú giải, Nxb Đồng Nai, (bản điện tử)

(2) Jean Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Souvenirs historiques sur Saïgon et ses environs, conférence faite au collège des interprètes par M. P. Truong Vinh Ky, Éditeur : Impr. coloniale (Saïgon), 1885.

(3) Les colonies françaises : notices illustrées / publ. par ordre du sous-secrétaire d'état des colonies sous la dir. de M. Louis Henrique, Quantin (Paris), 1889-1890.

(4) Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa, 1992, Nxb Trẻ.

(5) Claudine Salmon, Tạ Trọng Hiệp, De Batavia à Sài Gòn : notes de voyage d’un marchand chinois (1890), Archipel, 1994, Vol. 47, pp. 155-191.

(6) Hình ảnh, tư liệu belleindochine 

(7) Albert Morice, Voyage en Cochinchine pendant les années 1872-73-74, H. Georg (Lyon), 1876.

(8) Eugène Bonhoure, Indo-Chine, Challamel (Paris), 1900.

(9) Lê Văn Lưu, Pagodes chinoises et annamites de Cholon (orné de 26 photogravures), Imprimerie Tonkinoise, Hanoi,1931.

(10) Séance du 2 mars 1893, Bulletin de la Société des études indochinoises, année 1893, pp. 63, 1893, Société des études indochinoises (Saïgon).

(11) Pierre Passerat de la Chapelle, L’industrie du décorticage du riz, Bulletin de la Société des études indochinoises, année 1901, 1901/1 (no. 41)-1901/6, pp. 53, Société des études indochinoises (Saïgon).

(12) Louis Finot, Les papiers de Landes, Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient,1903, Vol. 3, No. 3, pp. 657-660.

(13) Antoine Brébion, Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne de l'Indochine française, publié après la mort de l'auteur par Antoine Cabaton, 1935, Contributeur: Cabaton, Antoine (1863-1942). Éditeur scientifique. 

(14) Nola Cooke, King Norodom’s Revenue Farming System in Later-Nineteenth-Century Cambodia and his Chinese Revenue Farmers (1860-1891), Chinese Southern Diaspora Studies, Volume One, 2007. (http://csds.anu.edu.au/volume_1_2007/Cooke.pdf).

(15) Choi Chi-Cheung, Cheung Ah-Lum A biographical note, Journal of the Hong Kong. Branch of the Royal Asiatic Society, v. 24 (1984), pp. 282-7.

(16) Notice historique, administrative et politique sur la ville de Saïgon. Publiée par les soins du secrétaire général de la mairie, Impr. de l'Union (157 rue Catinat, Saïgon), 1917, 

(17) Léopold Pallu de la Barrière, Histoire de l’Expédition de Cochinchine en 1861, Berger-Levrault et Cie, Paris 5 Rue des Beaux-Arts, 1888.