Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội, phần 1


Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội:

Chương I_Cách mạng XHCN tháng Mười Nga

Cách mạng nổ ra ở khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản
_ Phản ánh tính quy luật phát triển đi lên của cách mạng
_ Mở ra mốc son trong thời đại mới.
+ Lý luận của chủ nghĩa Marx - Engel về tiền đề cách mạng:
- Lý luận cơ bản của chủ nghĩa Marx đó là lý luận về đấu tranh giai cấp. Marx cho rằng lịch sử loài người phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, và sự phát triển đó khi đã đi đến một mức nào đó thì nó sẽ mâu thuẫn với chủ nghĩa tư bản và mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mặc khác, sự phát triển của CNTB đã sản sinh 1 giai cấp mới - giai cấp vô sản và giai cấp này sẽ lãnh sứ mệnh lãnh đạo các giai cấp khác đứng lên xóa bỏ CNTB mở đường cho lực lượng sản xuất tiến lên.
- Lý luận chủ nghĩa Lenin: Lenin đã kế thừa và phát triển xuất sắc lý luận của Marx - Engel về cách mạng. Ông chỉ rõ 4 điều kiện sau:
+ CNTB phát triển đến 1 mức nào đó để rồi có mâu thuẫn giữa LLSX - QHSX, đặt ra vấn đề mới cần giải quyết.
+ Nơi đó tập trung đầy đủ các mâu thuẫn vốn có của xã hội cần giải quyết.
+ Cách mạng nổ ra ở khâu yếu nhất của CNTB.
+ Khả năng, sự sẵn sàng của giai cấp vô sản, đảng của nó.

1. Tiền đề:
a) Lý luận về cách mạng:
_Cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ: lật đổ phong kiến thiết lập chính quyền do tư sản cầm đầu (gọi là "chuyên chính tư sản")
_Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới: là cách mạng lúc đầu do tư sản lãnh đạo, nhưng do bản chất giai cấp của nó nên cách mạng không đến nơi, chuyển hướng lãnh đạo cho vô sản để vô sản lãnh đạo đến thắng lợi cuối cùng, tiến lên xã hội chủ nghĩa.
_Cách mạng dân chủ vô sản: là cuộc cách mạng do vô sản lãnh đạo lật đổ chính quyền tư sản đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
b) Tiền đề dẫn đến cách mạng:
+ Kinh tế: hội tụ nhiều mâu thuẫn như các đế quốc khác
   _Nga là nước tư bản phát triển trung bình, vì: trong lịch sử thế giới, khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông thôn từ sớm => nông dân, quý tộc mới >< vua, bọn quý tộc cũ lạc hậu => cách mạng tư sản và khi cách mạng tư sản giành thắng lợi, thiết lập chính quyền mới do tư sản, quý tộc mới đứng đầu. Những sự kiện này đã ảnh hưởng đến đế quốc Nga: triều đình Nga thực hiện một số cải cách quan trọng, chế độ nông nô bị bãi bỏ, công cuộc công nghiệp hóa được thực hiện, hiến pháp được cải cách => chủ nghĩa tư bản phát triển.
_ Nga có giai đoạn 150 tổ chức lũng đoạn kinh tế Nga như ngân hàng Nga Á chiếm 1/3 tổng số vốn ngân hàng của nước Nga. Nó chiếm 50% sản lượng công nghiệp, nông nghiệp của Nga, chi phối mạnh dầu mỏ, luyện kim, than đá.....Ở Nga, các ngành công nghiệp nặng phát triển như luyện kim, cơ khí, hoá dầu,… với nhiều thành tựu như từ năm 1860 đến 1890, sản lượng thép tăng lên 3 lần, than đá tăng 19 lần, chiều dài đường xe lửa tăng gấp đôi. Về trình độ công nghiệp, Nga thua kém các nước khác nhưng mức độ tập trung công nghiệp rất cao. ¾ công nhân Nga tập trung ở các thành phố lớn như Petrograd, Moskva, khu khai thác than Donetsk, khu khai thác dầu Baku.
_ Xuất hiện bọn tư bản tài chính thao túng nền kinh tế tài chính Nga, lũng đoạn nông nghiệp
_ Nga chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, cho dù có cải cách nông nô (1861), cải cách Stolypin (1906 - 1911) nâng đỡ chủ nghĩa tư bản phát triển, thế nhưng nó vẫn chưa xóa bỏ hoàn toàn quan hệ phong kiến, chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất rất nặng nề. Tình trạng địa chủ chiếm ruộng đất còn lớn. 2/3 ruộng đất trong nước nằm trong tay địa chủ, quý tộc, 30 000 đại địa chủ chiếm tới 70 triệu mẫu Nga (1 mẫu Nga = 1,09 hecta) ruộng đất. Nga hoàng đồng thời cũng là địa chủ lớn nhất với 7 triệu mẫu Nga ruộng đất. Địa chủ bóc lột nông dân hết sức nặng nề và tàn bạo, nhất là chế độ lao dịch. Trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu do đó năng suất thấp, nạn mất mùa và đói kém xảy ra thường xuyên. Nếu so sánh về công nghiệp_nông nghiệp thì Nga thua kém rất nhiều so với các nước tư bản khác. Sản lương công nghiệp của Nga chỉ chiếm 4% thế giới (Anh: 14%, Mỹ: 38%) => Nga phát triển èo uột.
Sa hoàng Nikolai II
    _ Đầu tư của tư bản nước ngoài vào Nga rất lớn. Tư bản nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào Nga như Anh, Pháp, Đức đặc biệt là Pháp với 5 tỉ Rupee => Nga phụ thuộc rất nhiều vào nước ngoài. Sau khi Cách mạng tháng Mười giành thắng lợi, chính quyền đã quốc hữu hóa, xóa bỏ nợ nước ngoài.
=> Kinh tế Nga dù lạc hậu nhưng chứa đựng nhiều mâu thuẫn phải giải quyết:

+ Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa >< quan hệ sản xuất phong kiến
+ Nhu cầu phát triển độc lập >< sự ràng buộc với các đế quốc chủ nghĩa.

+ Chính trị, xã hội:
Nga vẫn là nước theo chế độ quân chủ chuyên chế, Nga hoàng Nikolai II cầm đầu.
_ Nhân dân Nga không có một chút quyền tự do dân chủ nào, chịu nhiều tầng áp bức bóc lột. Nga còn là "nhà tù dân tộc" với hơn 100 dân tộc, trong đó dân tộ không phải Nga chiếm 57% dân số.
_Nga xâm lược, tiêu diệt các dân tộc khác, lệ thuộc quá nhiều vào đế quốc => mâu thuẫn cơ bản đều tập trung tại Nga:
  • Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Nga với chế độ quân chủ chuyên chế của Nga hoàng
  • Mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân
  • Mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản
  • Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga và các dân tộc trong đế quốc. Đế quốc Nga tồn tại hơn 100 dân tộc và các dân tộc bị đối xử tàn bạo, bị khinh rẻ và chịu nhiều áp bức do đó đế quốc Nga được gọi là “ nhà tù của các dân tộc “.
  • Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga và các đế quốc khác. Để có thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá và tăng cường lợi nhuận, đế quốc Nga thường xuyên mở những cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa và các khu vực bị ảnh hưởng do đó đế quốc Nga có mâu thuẫn với nhiều đế quốc khác như Anh về vấn đề Trung Cận Đông, đế quốc Áo-Hung về vấn đề Balkan, đế quốc Ottoman về vấn đề eo biển Dardanelles và đế quốc Nhật Bản về vấn đề phạm vi hoạt động ở Thái Bình Dương. Đỉnh điểm của các mối mâu thuẫn này là chiến tranh Nga-Nhật ( 1904-1905 ) và chiến tranh thế giới thứ nhất .
 = > dẫn đến sự đụng độ cách mạng. Cách mạng có thể nổ ra khi thời cơ đã chín mùi (nhân dân không chấp nhận chế độ hiện tại, phong kiến bị khủng hoảng nghiêm trọng).

bức ảnh thể hiện xã hội Nga trước Cách mạng tháng Mười Nga
+ Đánh giá về các tiền đề của cách mạng:
* Sử học tư sản, cải lương: 
- Cách mạng nổ ra không phải do yêu cầu khách quan của xã hội, mà là do "ý chí chủ quan" của Lenin và đảng Bolshevik, học thuyết của Lenin là học thuyết theo kiểu "chủ nghĩa duy ý chí".
Sự lạc hậu của công nghiệp Nga trước cách mạng. R. Portal trong "Nước Nga công nghiệp từ 1880 đến 1914", nhận định rằng, công nghiệp nước Nga là rất phát triển trước năm 1914 là do có điều kiện địa lý tốt, sự tập trung công nghiệp cao và có sự tham gia tích cực của tư bản công thương, Nhà nước, tuy nhiên trong điều kiện của chế độ Sa hoàng, Nga không thể biến thành "một cường quốc công nghiệp". Barel khi nghiên cứu về vấn đề này cũng chỉ cho rằng "quan hệ kinh tế Nga mang tính chất do dự". Ngoài ra, một số tác giả thì cho rằng Nga Sa hoàng không là tổ chức TBCN toàn vẹn mà là "chia cắt", và chủ nghĩa tư bản chỉ phát triển ở thành thị, nông thôn thì không có.
- Giai cấp tư sản: Một số tác giả cho rằng giai cấp này có tồn tại, nhưng chưa có tổ chức vững chắc và chỉ tồn tại ở nông thôn mà Stolypin (1906) gọi là kulak.
- Giai cấp vô sản: bị sử gia tư sản coi như nó chưa hình thành và định hình, chưa tồn tại trong lịch sử, chưa có tổ chức nào và số lượng cũng không nhiều lắm. Họ chỉ gắn bó với ruộng đất, xóm làng, một số lên thành phố làm việc trong các xí nghiệp, công trường (công nhân), và họ kết luận Nga có một xã hội kém phát triển.
* Sử học vô sản, marxid: 
Cách mạng Nga thắng lợi không phải do may rủi, mà là 1 tất yếu lịch sử do các tiền đề gây nên.
- kinh tế: Nga là một nước phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, đúng theo tiến trình lịch sử, tất yếu và thể hiện rõ trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", tuy nhiên trong quá trình phát triển, CNTB bị chế độ nông nô kìm hãm. Theo sau đó, Drugynin cũng phát triển quan điểm của Lenin, và nói rõ hơn, CNTB Nga ra đời vào thế kỷ XVI và phát triển theo quy luật khách quan, nhưng chậm chạp mặc dù về sau nó vẫn có bước phát triển mới.
c) Điều kiện khách quan của cách mạng Nga:
_ Trong quá trình làm cách mạng Lenine trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa Marx để vạch ra đường lối cho cách mạng tháng Mười. Do quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, cách mạng sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở một số nước mà đặc biệt là ở khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc.
_ Phải có chính đảng marxid - bộ tham mưu chiến đấu của công nhân để lãnh đạo cách mạng.
_ Có khối liên minh công nông vững chắc đóng vai trò quyết định giành thắng lợi của cách mạng.
_ Lenine chỉ ra khả năng chuyển biến cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

d) Đảng Xã hội Dân chủ Nga:
Hoàn cảnh: Sự ra đời của chủ nghĩa Marx với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (chỉ ra luận điểm cách mạng vô sản, vai trò sứ mệnh của giai cấp vô sản), Chủ nghĩa xã hội khoa học (đúc kết trên tinh hoa của giai cấp công nhân, chủ nghĩa vô sản phát triển chín mùi) đã có ảnh hưởng tích cực đến Nga. Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Marx được truyền bá vào Nga và được các tầng lớp nhân dân Nga tiếp thu mạnh mẽ. Năm 1883, nhóm "Giải phóng Lao động" được thành lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản. Tháng 3/1898, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga (tên tiếng Nga: Российская Социал Демократическая Рабочая Партия) được thành lập trên cơ sở hợp nhất các "Liên minh đấu tranh vì giải phóng giai cấp công nhân" ở Saint Peterburg, Matxcơva và một số nơi khác. Ngày thành lập được coi là Đại hội I nhưng không hoạt động được. Tại Đại hội II (8/1903), khi thông qua Cương lĩnh và Điều lệ, đảng chia thành 2 phái: phái đa số do Lenin đứng đầu gọi là Bolshevik ("bônsêvich") (tên tiếng Nga: большевик, nghĩa là "đa số"), phái thiểu số do L. Martov (1873_1923) cầm đầu gọi là Melshevik ("mensêvich") (Меньшевик, nghĩa là "thiểu số"). Tới Đại hội VI họp ở Praha (1912), những người bolshevik cắt đứt quan hệ với melshevich, thành lập Ban Chấp hành Trung ương do Lênin lãnh đạo và Văn phòng Nga của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga để chỉ đạo các công tác trong nước, thường gọi là Đảng bônsêvich. Đại hội VII (1918) đổi thành Đảng Cộng sản (bônsêvich) Nga. Đại hội XIV (1925) đổi thành Đảng Cộng sản (bônsêvich) toàn Liên bang.

+ Nội dung:
_ Ra "Cương lĩnh tối đa" đề ra mục đích là "thành lập chuyên chính vô sản" và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga.
_"Cương lĩnh tối thiểu": đề ra nhiệm vụ trước mắt là lật đổ chế độ Sa hoàng (царь), thành lập nền cộng hòa dân chủ với hạt nhân là Đảng Bolshevik để đưa cách mạng tiến lên giành thắng lợi.
Lợi dụng tình hình chính trị phức tạp, các lãnh tụ Bolshevik đã có thể lãnh đạo công nhân làm cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, tư sản thiết lập chuyên chính vô sản => ra đời kiểu cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới, điển hình là cách mạng tháng Hai.

2. Từ cách mạng tháng Hai đến cách mạng tháng Mười Nga:
   a) Cách mạng tháng Hai (2/1917):
  •  Tình hình:
Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra. Sa hoàng Nga chính thức tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ nhất với hi vọng có thêm thị trường và thuộc địa sau chiến tranh. Tuy nhiên quân đội Nga liên tiếp bại trận trên chiến trường do trình độ tổ chức kém và lạc hậu khiến nhân dân Nga ngày càng bất mãn, làn sóng phản đối chiến tranh lan rộng do Sa hoàng đã tốn rất nhiều sức người, sức của cho cuộc chiến.
_ Tình hình nước Nga rất rối loạn: Sa hoàng triệt tiêu thế lực của tư sản, còn bí mật liên minh với Đức để rảnh tay đàn áp phong trào cách mạng trong nước. Đồng thời, tình trạng đói rét diễn ra liên tục trong quần chúng nhân dân làm họ bất mãn và tìm cách lật đổ Sa hoàng.
  •   Diễn biến:
Đảng Bolshevik do Vladimir Ilyich Lenin lãnh đạo nhân thời cơ đó đã tổ chức những cuộc biểu tình lớn chống chiến tranh và bãi công tập thể. Sự kiện:
+ Ngày 9/1/1917 (22 tháng 1 theo công lịch), trong lễ kỷ niệm "Ngày chủ nhật đẫm máu" ở Petrograd đã xảy ra một cuộc biểu tình lớn chống chiến tranh, đòi ruộng đất, bánh mì. Cuộc biểu tình lan rộng sang Moscow (Matxcơva), Baku và nhiều thành phố khác.
+ Ngày 23/2 (8 tháng 3) nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ, 90.000 nữ công nhân của 50 xí nghiệp ở Petrograd tham gia biểu tình chống chiến tranh. Cuộc bãi công nhanh chóng chuyển sang tổng bãi công chính trị. Ngày 24/2 bãi công lan rộng khắp thành phố, lôi cuốn 20 vạn công nhân tham gia.
+ Ngày 25/ 2 (10 tháng 3), đảng Bolshevik quyết định chuyển sang tổng bãi công chính trị toàn thành phố và các cuộc xung đột giữa những người biểu tình và cảnh sát đã diễn ra. Ngày 26 tháng 2 (11 tháng 3) , theo lời kêu gọi của đảng Bolshevik, công nhân chuyển từ tổng bãi công chính trị sang khởi nghĩa vũ trang bằng cách tước vũ khí của cảnh sát. Công nhân còn kêu gọi binh lính đứng về cách mạng lật đổ Nga hoàng. Đến buổi chiều, nhiều nơi quân đội đã đứng về phía nhân dân, nổ súng bắn vào cảnh sát.
+ Phong trào "đào ngũ" trong quân đội Nga lên cao. Ngày 27/2, có 1 vạn lính bỏ ngũ, đến chiều đã tăng lên 66.000 người.
+ Trong cách mạng tháng Hai, nhiều Xô viết được thành lập như một tổ chức chính quyền mới, thể hiện là một mô hình nhà nước mới do vô sản đứng đầu.
   + Ngày 27/2 (12 tháng 3), cuộc khởi nghĩa lan ra khắp thành phố. Triều đình Sa hoàng phải huy động 60.000 binh lính từ mặt trận trở về đàn áp phong trào tuy nhiên binh lính được nhân dân vận động đã bắn vào cảnh sát, bắt các bộ trưởng và tướng tá của Sa hoàng. Sa hoàng Nikolai II thoái vị và đế quốc Nga cáo chung (1917). Cuối tháng 2, cach mạng thắng lợi khắp cả nước.


dang_bon_so_vivh_quyet_dinh_khoi_nghia_vu_trang__opetrograt_500

Đảng Bolshevich quyết định khởi nghĩa  ở Petrograd.




bai_con_go_nha_may_putilop_2-1917_500
bãi công của công nhân nhà may Putilov tháng 2/1917


bai_cn_g_pe_trograt_2-_1917_500
Bãi cộng ở Petrograd tháng 2/1917
  •      Kết quả: 
      _ Hội nghị các xô viết toàn Petrograd đã họp và bầu ra lãnh đạo thống nhất: xô viết đại biểu công nhân và binh lính Petrograd. Ngay sau khi đế quốc Nga cáo chung, xô viết đại biểu công nhân và binh lính Petrograd đã đứng ra điều hành mọi công việc của nhà nước.
      _ Trong lúc đó giai cấp tư sản nhân cơ hội đó tìm cách giành lấy chính quyền. Sau khi đàm phán với các thế lực bảo hoàng còn sót lại không thành, đại diện của giai cấp tư sản đã thỏa thuận với các lãnh tụ Menshevik lúc này đang chiếm đa số trong các xô viết, đặc biệt là xô viết Petrograd. Sau đó, các lãnh tụ Menshevik và xã hội cách mạng đã thỏa thuận trao chính quyền cho giai cấp tư sản. Ngày 2 tháng 3 (15-3), chính phủ lâm thời tư sản được thành lập do huân tước Lvov làm thủ tướng. Do đó đến thời điểm này nước Nga xuất hiện tình trạng 2 chính quyền song song tồn tại: chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản và xô viết các đại biểu công nhân và binh lính.
Thủ tướng Lvov.

Chân dung huân tước G. Lvov

Danh sách nội các chính phủ lâm thời của Lvov (1917)
  •       Tính chất: Cách mạng tháng Hai là cuộc cách mạng vô sản do đảng Bolshevik lãnh đạo với lực lượng là binh lính, công nhân và thực hiện nhiệm vụ duy nhất là lật đổ Sa hoàng lập chính quyền vô sản.
  •       Ý nghĩa:
      _ Thể hiện bước chuyển mình của cách mạng: Từ các cuộc bãi, biểu tình tiến đến tổng bãi công chính trị, lật đổ Sa hoàng => khởi nghĩa vũ trang lật đổ hoàn toàn chế độ này.
      _ Tạo tiền đề để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Nga.

      b) Từ cách mạng tháng Hai đến cách mạng tháng Mười Nga:
  •     Tình hình Nga sau cách mạng tháng Hai:
     _ Lực lượng Melshevik, xã hội cách mạng vẫn còn ở trong Đảng. Sau khi giành thắng lợi, công nhân trao trả chính quyền lại cho giai cấp tư sản chiếm tuyệt đại đa số trong Đảng. Ngày 2/3, 500 Xô viết giao chính quyền lại cho giai cấp tư sản. Được sự ủng hộ của Xô viết Petrograd (do  tư sản chiếm đa số), viện Duma đã thiết lập chính phủ mới do huân tước Nga Georgy Yevgenyevich Lvov (1861-1925) đứng đầu, thay thế thủ tướng Nga đã từ chức N. Golitsyn và Đại công tước Mikhail của Duma vừa "nghỉ hưu". Chính phủ mới này có sự gia nhập của Đảng Lập hiến (tư sản) và Đảng Tháng Mười (địa chủ) => Chính phủ này ra đời có sự góp mặt của nhóm Melshevik và Xã hội cách mạng.
    _ Ngoài ra còn có chính quyền của công nhân là các Xô viết đại biểu công nhân. Đây là chính quyền ra đời trong cách mạng, không do Hiến pháp quy định, nó đại diện cho quyền lực cho công nhân và binh lính, những người đã chiến thắng và một lòng theo cách mạng.
    _  Nguyên nhân hai chính quyền cùng song song tồn tại cho thấy sự tương quan lực lượng giữa tư sản và công nhân. Chính phủ tư sản chưa đủ sức đàn áp giai cấp công nhân, ngược lại giai cấp vô sản chưa đủ sức lật đổ tư sản, quần chúng nhân dân chưa được giác ngộ, còn nghe theo bọn Melshevik, Xã hội cách mạng; ảo tưởng vào chính phủ tư sản, không hiểu bản chất của Xô viết đại biểu cong nhân, binh lính
   _ Tình hình cách mạng tháng Hai vượt quá ngoài dự kiến: Cách mạng tháng Hai không diễn ra như là một cuộc cách mạng tư sản bình thường. Việc tồn tại song song hai chính quyền làm đảo lộn nhận thức của đảng viên , quần chúng nhân dân, cách mạng Nga bế tắc về đường lối. Vấn đề đặt ra ở đây là phải có một đường lối mới: Luận cương tháng Tư ra đời.


   Đường lối chiến lược, sách lược của Đảng Bolshevik Nga nhằm chuyển hướng cách mạng vô sản lên thành cách mạng xã hội chủ nghĩa (Cách mạng tháng Hai sang cách mạng tháng Mười). Luận cương tháng Tư của Lenin: 



     Tháng 2, từ Thụy Sĩ, Lenin viết thư gửi về nước để động viên nhân dân tham gia cách mạng, Hội đồng cách mạng ra đời. Ngày 3/4/1917, Lenine về Petrograd để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Ngày 4/4/1917, trước Ủy ban Ban Chấp hành TW và Đảng bộ, ông trình bày bản báo cáo " Những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng hiện nay". Bản báo cáo này đã đi vào lịch sử với tên gọi "Luận cương Tháng Tư" chỉ ra con đường chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

_ Lenin đánh giá tình hình sau cách mạng tháng Hai là một bước quá độ giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng nhằm đem lại chính quyền cho giai cấp vô sản lãnh đạo. Do sự giác ngộ vô sản trong nhân dân thấp nên cách mạng sẽ phải tiến lên giai đoạn thứ hai (giành lại chính quyền cho giai cấp vô sản, nhân dân).

_ Lenin chỉ ra 3 đặc điểm độc đáo của tình hình Nga:

+ Sự hoạt động công khai của các tổ chức cách mạng.
+ Chính phủ lâm thời chưa dùng bạo lực với cách mạng.
+ Quần chúng nhân dân còn ảo tưởng vào chính phủ lâm thời do sự phản bội của bọn Melshevik và Xã hội cách mạng.
_ Lenin đưa ra đường lối chuyển biến từ cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng xã hội chủ nghĩa:
+ Đảng Bolshevik và nhân dân không được ủng hộ chính phủ tư sản, phải chấm dứt nhanh chóng việc tồn tại hai chính quyền. Ông đề ra khẩu hiệu: Tất cả chính quyền về tay Xô viết" đánh trúng tình hình nước Nga trong giai đoạn này:
    Lật đổ, xóa bỏ chính phủ tư sản, tập trung quyền lực vào tay Xô viết.  Tiến hành làm thay đổi thành phần trong các Xô viết, đấu tranh mạnh mẽ giữa hai phái: Bolshevik, Melshevik, làm cho các Xô viết trở thành các chính quyền cách mạng. 
_ Lenin chỉ ra khả năng cách mạng phát triển một cách hòa bình, cho nên cần phải thực hiện tận dụng tốt thời cơ, tuy nhiên cần chuẩn bị lực lượng vũ trang khi tình hình thay đổi:
   + Tư sản, phong kiến đang nắm chính quyền. 
  + Nhân dân phải lật đổ tư sản, đề phòng chúng chống lại mình. 

* Giải thích rõ khẩu hiệu của Lenin "Tất cả chính quyền về tay Xô viết": Khẩu hiệu trên không có nghĩa là phải lật đổ ngay chính phủ lâm thời hiện tại khi tương quan lực lượng chưa cho phép. Mặc khác, chính phủ lâm thời vẫn còn chỗ dựa là bọn Melshevik, Xã hội cách mạng; quần chúng còn ảo tưởng vào chính phủ này, cho nên cách duy nhất là phải làm cách mạng, lật đổ chính phủ này thay thế vào đó là một chính phủ cách mạng (ta gọi là Xô viết). 

_ Kinh tế: tịch thu ruộng đất của địa chủ giao cho Xô viết quản lý. Dựng nông trường quốc doanh, hợp nhất các ngân hàng trong nước thành Ngân hàng Quốc gia. Chính phủ Xô viết sẽ điều phối sản xuất, phân phối sản phẩm kinh tế.

_ Xây dựng Đảng: Đổi tên Đảng Bolshevik thành Đảng Cộng sản, thành lập tổ chức của công nhân quốc tế.

    Khi Luận cương tháng Tư được công bố, nó lập tức bị gặp sự suy xét "nhiều chiều" của các nhân vật quan trọng trong Hội nghị. Nhóm Kamenev và Zinoviev phản đối chủ trương của Lenin. Nhiều người trong Đảng lúc đầu không hiểu ý đồ chiến lược trong Luận cương tháng Tư là gì nên họ lấp lửng, không biết theo hướng nào. Ngày 21-4-1917, Ủy ban Petrograd của Đảng Bolshevik thảo luận Luận cương của Lenin. Molotov kể lại trong hồi ký: Tôi chưa bao giờ phản đối Lenin, nhưng cho dù là tôi hay bất kì ai đó luôn sát cánh bên Lenin đều không hiểu rõ ngay ý tứ của Người. Tất cả những người Bolshevik khi đó đều nói về cách mạng dân chủ tư sản, nhưng Lenin lại nói về cách mạng XHCN. Khi đại đa số các đồng chí trong Đảng vẫn chưa lĩnh hội được chiến lược do mình nêu ra, Lenin đã hết sức kiên nhẫn, nhiệt tình trình bày một cách sâu sắc, căn cứ vào tính khách quan, mục tiêu chiến lược và sách lược, phản bác quan điểm sai lầm của người phản đối. Qua cuộc luận chiến, các đồng chí nhất thời chưa hiểu ra, đã thay đổi thái độ. Cuối cùng, Luận cương tháng Tư của Lenin đã được toàn Đảng chấp nhận, để chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN. 

    + Ý nghĩa Luận cương: Luận cương đã giải quyết sự bế tắt về đường lối của Đảng Bolshevik sau cách mạng tháng Hai, đập tan các quan điểm sai trái, củng cố sức mạnh của Đảng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn. 

   
lun_cuong_le_nin_lam_nhiem_v_u_cach_mang_500
Lenin công bố "Luận cương tháng Tư"
  • Quá trình vận dụng đường lối chiến lược của Lenin từ tháng Hai đến tháng Mười:
    + Giai đoạn 1 (Tháng 3 đến tháng 7/1917): đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, thực hiện khẩu hiệu: "Tất cả chính quyền về tay Xô viết":
   Mục tiêu: động viên giáo dục quần chúng, cô lập bọn phản cách mạng, thỏa hiệp, giành thế đa số trong các Xô viết, thực hiện: "Bolshevik hóa các Xô viết".
_ Ngày 18/4, Bộ trưởng Ngoại giao Nga là Pavel Nikolayevich Milyukov (1859_1943, nắm quyền từ 25/2_5/5/1917) gửi công hàm cho phe Đồng minh kêu gọi tiến hành chiến tranh đến cùng và sẽ thực hiện các hòa ước mà Sa hoàng đã ký trước đây. Chính phủ gây chiến tranh trong khi đó nhân dân bị chết đói.
_ Ngày 20 đến 21/4, hơn 10 vạn công nhân và binh lính Petrograd biểu tình phản đối công hàm trên. Chính phủ bị khủng hoảng, Bộ trưởng Ngoại giao Milyukov từ chức và Tereshchenko lên thay, đồng thời Bộ trưởng Chiến tranh là Alexander Guchkov cũng từ chức. Như vậy có thể nói mâu thuẫn tư sản và vô sản dần bộc lộ trước mặt quần chúng. Tư sản với bản tính hiếu chiến đã có những bước đi ngược hẳn với nguyện vọng của nhân dân Nga. Bọn Melshevik, Xã hội cách mạng công khai ủng hộ chính phủ lâm thời và điều này làm cho các tầng lớp tham gia "mở mắt". Chính phủ giảm sút uy tín, ngược lại uy tín của Đảng được nâng cao thêm.
_ Tư sản và vô sản hiểu rõ lực lượng của nhau và đồng thời cùng sử dụng lực lượng chính là quần chúng nhân dân để thực hiện ý đồ của mình.
_ Ngày 3/6, Đại hội Xô viết toàn Nga được thành lập ở Petrograd. Trong Đại hội, Lenin đấu tranh liên tục đòi chuyển giao chính quyền về tay Xô viết. Về sau, do sự phản bội của tư sản, Đại hội này đã phải bầu lại và phái Melshevik chiếm đa số.
_ Ngày 18/6, nhân dân xuống đường biểu tình, giương cao khẩu hiệu "Đả đảo các bộ trưởng tư sản"; "Đả đảo chiến tranh"; "Giành chính quyền về tay Xô viết". => Nhân dân thấy rõ việc làm của các Xô viết, hiểu rõ hơn bản chất của chính phủ tư sản và họ tuyên bố theo phái Bolshevik, mất lòng tin vào chính phủ tư sản.
_ Tháng 6/1917, Bộ trưởng Chiến tranh là Alexander Fyodorovich Kerensky (tháng 5 - tháng 7/1917) mở cuộc tấn công lớn vào vùng Sông Đông (Nam Nga) là nơi Đức đang bao vây rất chặt. Thực hiện cuộc tấn công này, Kerensky nhằm  mục đích: nếu thắng lợi (hay thất trận) thì ông ta sẽ giải tán các Xô viết. Cuộc chiến thất bại, quân Nga chết 6 vạn người. Tin thất bại bay về nước, nhiều cuộc biểu tình của nhân dân nổ ra chống chính phủ quyết liệt.
_ Ngày 4/7, nhân dân biểu tình mạnh mẽ, thu hút 50 vạn công nhân, binh lính tham gia. Cuộc biểu tình bị thất bại, quân chính phủ đàn áp làm 400 người chết và bị thương. Chính phủ ra luật giới nghiêm, các tăng đoàn tham gia khởi nghĩa bị tước khí giới, đàn áp khốc liệt.
 _ Ngày 6 tháng 8 (ngày 24 tháng 7) năm 1917, Alexander Fyodorovich Kerensky thay thế Lvov thành lập nội các mới do ông ta đứng đầu. Kerensky sau khi thành lập có cải tổ một chút, nhưng cũng không cải thiện được tình hình Nga lúc bấy giờ, quyền lực bị hạn chế, không thể sử dụng được cách cai trị cũ để cai trị nhân dân.




File: Вооруженное востание в Петрограде 24-25 октября (6-7 ноября) 1917, Карта-схема2.svg
bản đồ cách mạng Tháng Mười Nga.








Hồng quân tiến chiếm  Cung điện Mùa Đông




     + 2 giờ sáng ngày 25/10, quân khởi nghĩa đánh chiếm Cung điện Mùa Đông, bắt sống toàn bộ các Bộ trưởng Chính phủ (trừ Kerensky trốn thoát). Chính phủ Kerensky bị sụp đổ hoàn toàn.

Kerenski chạy trốn. Tranh của họa sĩ G.Shegal

Ngay trong đêm 25/10 Lenin ra lời hiệu triệu gửi nhân dân Nga tuyên bố chính phủ lâm thời Kerensky đã bị lật đổ và chính quyền cách mạng được tuyên bố thành lập do ông đứng đầu. Ngay trong đêm 7 tháng 11 năm 1917 (25 tháng 10 theo lịch Nga), Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ hai tuyên bố khai mạc tại điện Smoniyl và tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết do Lenin đứng đầu. Các sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô Viết đã được thông qua là Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất do Lenin dự thảo. Sắc lệnh hòa bình tuyên bố chiến tranh đế quốc là một tội ác của nhân loại và kêu gọi các nước nhanh chóng đàm phán để ký kết một hiệp ước đình chiến. Sắc lệnh ruộng đất tuyên bố thủ tiêu chế độ ruộng đất của địa chủ phong kiến, quốc hữu hóa ruộng đất.


dai_hoi_xo_viet_toan_n_ga_25-70_500 

Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ hai  đêm 25-10-1917

Sắc lệnh hòa bình


Sắc lệnh Ruộng đất


















                                                     

    Sau thắng lợi ở Petrograd, quân khởi nghĩa tấn công quân địch trên toàn nước Nga và giành thắng lợi nhiều nơi. Đến tháng 3/1918, Chính quyền Xô viết giành thắng lợi hoàn toàn trên cả nước.
+ Vai trò của Lenin trong cuộc cách mạng tháng 10 Nga:
- Dựa vào tình hình thực tế nước Nga, Lenin định ra sách lược mới cho nước Nga Xô viết. Ngoài việc định sách lược, Lenin tìm cách liên hệ mật thiết với các tổ chức Đảng ở địa phương, hướng dẫn cách tổ chức rất chu đáo, trò chuyện với nông - công nhân và tuyên truyền cho họ về tình hình thực tại và con đường giải phóng dân tộc mới cho nước Nga, đó là bằng con đường bao lực cách mạng giành chính quyền về tay mình. Chính điều đó đã cho thấy một tư tưởng lớn của Lênin là: cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể và nhất định sẽ giành được thắng lợi ở nước Nga.
- Để cổ vũ cho phong trào đấu tranh cách mạng, Lenin chỉ rõ tính chất phi nghĩa của chiến tranh đế quốc, của bọn phản động trong nước và chỉ ra rằng lối thoát duy nhất cho họ đó là tiến hành đấu tranh giành lấy chính quyền thông qua các Xô viết, kêu gọi giai cấp công nhân quốc tế ủng hộ nước Nga và tổ chức "binh vận" kêu gọi sự ủng hộ của binh lính với chính quyền mới.
- Để thúc đẩy cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ, Lenin xem việc thiết lập "liên minh công - nông" là điều cần thiết, vì ông cho rằng hai giai cấp này đều bị phong kiến bóc lột nên chịu nhiều khổ cực và nếu không đoàn kết thì sẽ không thể nào đánh bại phong kiến được. Sự liên mình này là sự liên minh tự nguyện, không áp đặt cho bên nào cả. 
- Định ra đường lối rồi, Lenin tiếp tục tuyên truyền tư tưởng vào giai cấp công nhân, kêu gọi họ củng cố vị trí của mình trong chính trị, kinh tế, coi đó là điều kiện tiên quyết đến thắng lợi.
- Lenin là người có tầm nhìn xa trông rộng. Người xem xét tinh tường mọi việc, phân tích và định ra đường lối rất đúng đắn vững vàng để áp dụng cụ thể vào tình hình nước Nga. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng Bolshevik Nga đã hòa cuộc đấu tranh của công nhân với cuộc đấu tranh của các giai cấp khác trong xã hội, các dân tộc bị áp bức vào cùng một dòng chảy cách mạng để đánh đổ chủ nghĩa tư bản, phong kiến, thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên.

+ Nguyên nhân thắng lợi:
- Sách lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng Bolshevik Nga mà lãnh đạo là Lenin, biết lợi dụng sức mạnh của quần chúng đang chịu nhiều khổ cực do chiến tranh đế quốc. Ngoài ra, cuộc cách mạng cũng biết lợi dụng hoàn cảnh quốc tế thuận lợi khi các đế quốc đang tham gia Thế chiến I, không có điều kiện can thiệp vào nước Nga.
- Với phe Cộng sản thế giới, cách mạng 1917 là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik Nga, và thắng lợi của nó đã thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, đưa nước Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Ý nghĩa lịch sử cách mạng tháng Mười Nga:
- Lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến tồn tại từ lâu đời. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động Nga đã đánh đổ sự áp bức bóc lột giành quyền làm chủ đất nước, xây dựng xã hội mới.
- Mở ra thời kỳ mới, thời kỳ nhân dân Nga đập tan xã hội phong kiến - tư bản, thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa làm cho thế giới bị chia thành 2 phe: TBCN - XHCN.
- Đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Marx - Lenin, trào lưu tư tưởng cơ hội xét lại của phong trào cộng sản quốc tế, phong trào cộng sản của công nhân quốc tế, cung cấp nhiều bài học quý giá phong trào cách mạng lúc đó.
+ Ảnh hưởng, tác động đối với cách mạng thế giới:
- Mở đầu sự khủng hoảng của hệ thống thuộc địa đế quốc chủ nghĩa, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Thức tỉnh, cổ vũ phong trào giải phóng dân ở các nước thuộc địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mỹ latinh. 
- Mở ra giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa. Dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng tháng Mười, giai cấp vô sản các nước tư bản lớn mạnh về lực lượng, tổ chức và ngày càng mạnh mẽ. Tháng 11/1918, cách mạng Đức nổ ra đã lật đổ nhà vua và thiết lập nhà nước cộng hòa, theo sau đó, một cao trào cách mạng nổ ra ở các nước tư bản khác như Anh, Ý, Pháp, Mỹ...
- Cách mạng tháng Mười không chỉ mở đầu của cách mạng XHCN mà còn là cơ sở chính trị, kinh tế vững chắc, đã chọc thủng mắt xích của chủ nghĩa tư bản để tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp vô sản thế giới, đưa hàng triệu công - nông dân tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế.
- Cách mạng tháng Mười mở đầu cho phong trào Cộng sản quốc tế, tiêu biểu là sự ra đời của các Đảng Cộng sản. Năm 1918, các Đảng Cộng sản ra đời ở Áo, Hung, Ba lan, Phần Lan, Đức. Năm 1919 - 1920, Đảng Cộng sản Mỹ, Anh, Pháp... ra đời.
+ Bài học lịch sử:
- Có một chính đảng để lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa để đi đến thắng lợi cuối cùng. Lenin khẳng định rằng chính Đảng Bolshevik mới là tổ chức duy nhất có khả năng tập hợp, giáo dục và tổ chức đội tiên phong của giai cấp vô sản để đủ sức chống lại mọi sự dao động tiểu tư sản của họ. Hồ Chủ tịch trong tác phẩm "Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội" (1976) nhận định: chỉ có sự lãnh đạo của một đảng duy nhất, biết vận dụng đúng chủ nghĩa Marx - Lenin vào nước mình thì mới có thể lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.
- Vấn đề liên minh công nông. Kinh nghiệm cách mạng Nga nói rằng, cách mạng không thể giành thắng lợi, nếu không thực hiện được liên minh công nông vững chắc. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chỉ có thành lập liên minh này mới có thể đủ sức và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng và giành lấy, củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ và đi lên chủ nghĩa xã hội. Lenin cũng nhận xét rằng, không ai khác mà chỉ có giai cấp vô sản mới có thể thực hiện sứ mệnh này và sức mạnh của họ tất nhiên sẽ lớn hơn nhiều so với các giai cấp khác cùng thời. Một điều khác nữa, đó là giai cấp vô sản không thể mạnh hơn nếu thiếu sự phối hợp, sự liên minh với các giai cấp khác, cụ thể là nông dân, binh lính để tiến hành cách mạng. Để đảm bảo thắng lợi, ngoài việc thực hiện liên minh trên, cách mạng còn phải thể hiện sự thống nhất giữa các giai cấp, các phong trào của công - nông, nhân dân lao động để họp thành một dòng thống nhất cùng chống phong kiến, đế quốc giành tự do, hạnh phúc. Đấu tranh dân chủ trở thành một bộ phận của đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.
- Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, liên minh công nông ngày càng vững chắc, dẫn đến thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi, thực hiện thống nhất hành động giữa các lực lượng để chống kẻ thù chung. Hồ Chí Minh, khi nghiên cứu về phong trào cộng sản thế giới đã cho rằng, giai cấp vô sản trước đây bị nhiễm nhiều tư tưởng hữu khuynh, tả khuynh bên ngoài, nên khi xây dựng lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản phải biết giác ngộ công nhân, nông dân, liên minh với các nhóm, các chính đảng, các tầng lớp ngoài  công - nông như tiểu tư sản, trung nông... và Đảng phải vận dụng sách lược cho phù hợp với năng lực, tinh thần đấu tranh và chiến thắng cho giai cấp vô sản.
- Trong đấu tranh cách mạng, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Thực tế chứng minh, tùy tình hình cách mạng mà Đảng phải vận dụng sách lược cho phù hợp. Nhà nước tư sản là nhà nước của giai cấp thống trị, và vì lợi ích của mình chúng sẵn sàng đàn áp mọi sự chống đối của giai cấp vô sản để được yên ổn. Chính vì vậy, để cứu giai cấp vô sản thì không còn cách nào hơn là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại nó. Khi nghiên cứu Công xã Paris, Marx chỉ ra rằng sở dĩ công xã thất bại là quá nhân đạo với chính quyền tư sản. 
   Lenin, từ tình hình thực tế ở Nga đã cho rằng, giai cấp vô sản phải dùng bạo lực cách mạng để giành lấy chính quyền và bảo vệ sự nghiệp của chính quyền. Kinh nghiệm cách mạng Nga, nội chiến chỉ ra rằng, sự tất yếu dùng bạo lực cách mạng xuất phát từ đặc điểm bên trong (đấu tranh giai cấp vì dân chủ, CNXH) mà còn do hoàn cảnh quốc tế mà ra. Khái niệm bạo lực ngoài việc dùng vào hoàn cảnh thực tế thì còn phụ thuộc hình thức chính quyền tư sản, khả năng chống trả của nó với cách mạng, trình độ tổ chức của giai cấp công nhân, tương quan lực lượng trong và ngoài nước.
- Không ngừng tăng cường, củng cố nền chuyên chính vô sản. Trong các tác phẩm của mình, Marx chỉ ra rằng chỉ có chuyên chính vô sản mới đưa loài người thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tư bản, và đó là quy luật quan trọng để quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội. Qua kinh nghiệm cách mạng tháng Mười, Lenin đã khái quát lý luận trên của Marx và nêu rõ hơn, đó là phải thay đổi, xóa bỏ nhà nước cũ di và thay bằng nhà nước mới mà Lenin gọi là các Xô viết đại biểu công nhân, nông dân và binh lính. Lenin vạch ra ý nghĩa quốc tế của các Xô viết, đó là chúng (các Xô viết) đã thực sự trở thành mẫu chính quyền, nhà nước vô sản kiểu mới trên thế giới.
- Tinh thần cách mạng triệt để, giương cao ngọn cờ chủ nghĩa anh hùng cách mạng kiên quyết đưa cách mạng đi đến cùng là chủ nghĩa xã hội. Có thể nói, chưa có nơi nào diễn ra nhiều cuộc cách mạng như nước Nga. Sau cách mạng 1905 - 1907, Lenin kêu gọi nhân dân cầm vũ khí, tiến hành nốt 2 cuộc cách mạng cuối để giành độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm cách mạng chứng tỏ rằng, chỉ có cách mạng XHCN mới có khả năng xóa bỏ mọi ách áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị; mặc khác phải tiến hành cải cách dân chủ triệt để để xóa bỏ sự bất bình đẳng, bóc lột để tiến tới XHCN.
- Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản. Thực tế chứng minh, sau khi thành lập nhà nước, Nga Xô viết đưa ra một mẫu mực thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản, sẵn sàng chịu mọi hi sinh để cứu thế giới thoát khỏi chiến tranh khủng khiếp. Bằng việc ký hòa ước Brest - Litopsk, nhà nước Xô viết đã đặt vấn đề chuyên chính vô sản, lợi ích của nhân dân thế giới lên đầu, mặc cho có sự hi sinh, mất mát khá lớn. Từ thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, Hồ Chủ tịch chỉ ra rằng, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng thế giới, và chính nó (CMGPDT) phải phát triển thành cách mạng XHCN thì sẽ thắng lợi. Thắng lợi của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do dân tộc phải gắn liền với sự ủng hộ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa.

3. Cuộc đấu tranh để xây dựng chính quyền Xô viết

    a. Công cuộc xây dựng Chính quyền Xô viết
Chính trị:nhiệm vụ hàng đầu của chính quyền Lenin là phải đập tan hoàn toàn bộ máy thống trị cũ, khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước mới cho giai cấp lao động.
- Ngày 28/10/1917, chính phủ thành lập cơ quan cảnh sát công nông, thay thế cho cảnh sát Sa hoàng trước đây. Các cơ quan của bọn tư sản, địa chủ bị lật đổ và bãi bỏ.... Đến năm 1918, Ban Chấp hành Xô viết toàn Nga, Hội đồng các ủy viên chính phủ và các xô viết các cấp được thành lập. Ở địa phương, các xô viết đại biểu nông dân kết hợp với các xô viết đại biểu công nhân hình thành một cơ quan chính quyền duy nhất.
- Ngày 15/1/1918, Lenin ký sắc lệnh Về tổ chức Hồng quân công nông và 29/1, sắc lệnh thành lập Hạm đội Đỏ được ban hành, Ngày 20/12/1917, Ủy ban đặc biệt toàn Nga - cơ quan an ninh quốc gia ra đời. Ủy ban này đã có công lớn trong việc đập tan các tổ chức phản cách mạng và hành động phá hoại của chúng để bảo vệ nhà nước Xô viết.
  Vấn đề dân tộc cũng được nhà nước Nga Xô viết chú trọng. Ngày 2/11/1917, Chính phủ ra Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc nước Nga. Tuyên ngôn khẳng định các nguyên tắc cơ bản của dân tộc:
- Bình đẳng và chủ quyền của các dân tộc.
- Khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Nga, kể cả quyền tách ra và thành lập các quốc gia độc lập.
- Xóa bỏ các đặc quyền, hạn chế về dân tộc, tôn giáo - dân tộc.
- Các dân tộc thiểu số, các nhân chủng sống trên lãnh thổ Nga được phát triển tự do.
     Trung thành với Tuyên ngôn này, chính quyền Xô viết thừa nhận nền độc lập của Phần Lan (độc lập ngày 5/12/1917), thừa nhận "đường biên giới Curzon" của Ba Lan (10/1920); thiết lập quan hệ ngoại giao bình đẳng với Iran (2/1921); Thổ Nhĩ Kỳ (3/1921). Nước Nga Xô viết là tấm gương sáng trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc. Ngày 31/12/1922, Liên bang Xô viết được thành lập, lúc đầu chỉ có 4 nước (Nga, Belarus...). Đến năm 1918 - 1920 khi đế quốc can thiệp vào nội tình Nga Xô viết, các nước ngoài Nga nhận thấy mình khó có thể đương đầu với đế quốc (thực lực yếu), nên đồng ý gia nhập Liên xô.
   Ngày 6/1/1918, chính quyền Xô viết giải tán Quốc hội lập hiến, cơ quan đại diện của bọn địa chủ, tư sản trước đây. Bốn ngày sau, Đại hội III của Đảng Bolshevik khai mạc đã quyết định hợp nhất các Xô viết đại biểu công nhân với nông dân và binh lính, ra Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột. Ngày 10/7/1918, chính phủ thông qua Hiến pháp nước Nga Xô viết (17 chương, 90 điều) và cải tổ Cộng hòa Xô viết Nga thành Cộng hòa Xô viết xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga.
Kinh tế:
 Thi hành nhiều chính sách phát triển kinh tế:
- Ngày 14/11/1917, chính phủ ban hành "Điều lệ về chế độ kiểm soát của công nhân", cho phép công nhân được phép vào kiểm soát các nhà máy, xí nghiệp của giai cấp tư sản.
- Cuối tháng 11/1917, chính quyền tiến hành quốc hữu hóa các xí nghiệp của tư sản. Trong vòng 1 năm (1917 - 1918), bằng biện pháp kiên quyết, chính phủ quốc hữu hóa được gần 3000 xí nghiệp. Ngày 14/12/1917, chính quyền ra Sắc lênh quốc hữu hóa các ngân hàng của tư sản và thiết lập Ngân hàng nhà nước thống nhất. Cũng trong tháng 12, Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao để quản lý nền kinh tế quốc dân, thực hiện các chức năng tổ chức kinh tế của Nhà nước. Tháng 1/1918, chính quyền tuyên bố xóa bỏ các khoảng nợ mà chính phủ Sa hoàng vay của nước ngoài (khoảng 50 tỉ rup). 
- Tháng 4/1918, chính quyền tuyên bố độc quyền ngoại thương; đồng thời công bố "Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xô viết" của Lenin, chỉ thị cho toàn dân cần kiểm soát chặt chẽ với sản xuất, phân phối sản xuất, lôi kéo chuyên gia tư sản và đề ra các nguyên tắc, biện pháp xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

-  Năm 1918, Sắc lệnh ruộng đất bắt đầu được thi hành ở các vùng nông thôn. Hầu hết nông dân trên cả nước đã nhận được 150 triệu ha ruộng đất từ tay địa chủ, gia đình Sa hoàng và họ không còn phải nộp tô, thuế cho địa chủ nữa. Tuy nhiên, sắc lệnh này vấp phải sự chống đối kịch liệt của bọn nông dân giàu có (còn gọi là phú nông). Chúng từ chối không chịu bán bánh mì cho chính quyền Xô viết, dẫn đến tình trạng khẩu phần bánh mì của công nhân giảm xuống trầm trọng, nông dân bị đói kém triền miên và mâu thuẫn xã hội tăng lên. Để giải quyết, chính quyền tiến hành ra sắc lệnh cấm đầu cơ lúa mì, kiểm kê chặt chẽ; thành lập các Ủy ban bần nông để phân phối lại lúa mì cho nông dân. Đến năm 1918, chính quyền thành lập được 105.000 ủy ban này. Các tổ chức Bolshevik được phục hồi nhanh chóng.
Phú nông đầu cơ lúa chống
chính quyền Xô viết
 


+ Ngoại giao:
- Sau Cách mạng tháng Mười, chính quyền Nga Xô viết ra "Sắc lệnh hòa bình" kêu gọi các nước tham chiến trong Thế chiến I hãy chấm dứt chiến tranh, tiến hành đàm phán để đi đến ký kết hiệp ước hòa bình. Nhưng các nước thuộc phe Hiệp ước (Entente) đã bác bỏ đề nghị trên của chính quyền Xô viết. Trong khi đó, do tình hình có khó khăn nên Đức chấp nhận đề nghị của chính quyền Xô viết. Kết quả, ngày 2/12/1917, Đức cùng với Bulgaria, Áo - Hung và Ottoman, đã ký với Trotsky (Liên Xô) một hiệp ước đình chiến để chấm dứt chiến tranh giữa hai bên.
- Ngày 9/12, cuộc đàm phán bắt đầu. Phía Liên Xô yêu cầu rút toàn bộ quân đội nước ngoài ra khỏi các lãnh thổ bị chiếm đóng của Ba Lan, Litva và các vùng khác của Nga. Phía Đức thì bác bỏ, đòi lấy 150.000 km2 (Ba lan, Litva, Latvia, Ucraina). Trước tình hình đó, Lenin chủ trương chấp nhận yêu sách để có hòa ước, nhưng Trosky lại phản đối và cho rằng "không hòa, không chiến", giải tán quân đội là có hòa ước. 
  Cuộc đàm phán tan vỡ. Quân Đức tấn công mạnh vào nước Nga Xô viết. Trước tình hình đó, Lenin được Đảng Bolshevik Nga trao toàn quyền quyết định chiến tranh và ký hòa ước. Hồng quân Xô viết được thành lập (23/2/1918) đã đánh bại quân Đức ở Petrograd, buộc Đức trở lại đàm phán. Ngày 3/3/1918, Hòa ước Brest - Litopsk được ký kết, theo đó Nga Xô viết bị mất 750.000 km2 lãnh thổ với hơn 50 triệu dân, bồi thường cho Đức 6 tỉ mác. Thế nhưng đến tháng 11/1918, nước Đức sụp đổ, chính phủ Xô viết tuyên bố xóa bỏ hiệp ước này.
Tập tin:Brest treaty Barry Kent.jpg
Lễ ký kết hiệp ước Brest - Litopsk.
Tập tin:Armisticebrestlitovsk.jpg
Bản đồ nước Nga Xô viết sau hòa ước 1918 (phần màu hồng là phần mất đi sau hòa ước)

+ Nội chiến Nga: 1918 - 1920
* Nguyên nhân:
- Nga Xô viết là nhà nước công nông đầu tiên có đường lối mới, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, phục vụ lợi ích cho nhân dân Nga cũng như nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới, điều này xâm phạm lợi ích của các nước tư bản đang đầu tư ở Nga.
- Địa chủ, tư sản mất nhiều quyền lợi sau Cách mạng 1917, cho nên chúng liên kết với nước ngoài tiêu diệt Xô viết.
- Nga sau Cách mạng 1917 đã ký hiệp ước Brest - Litopsk rút khỏi chiến tranh, không tham chiến, cho nên đi ngược lợi ích của phe Liên minh.
* Diễn biến:
+ Giai đoạn 1917 - 1919:
- Năm 1917, quân đội của 14 nước đế quốc (Anh, Pháp, Mỹ. Nhật,...) hợp sức với bọn Bạch vệ phản động, Quân đoàn Tiệp Khắc tấn công vào nước Nga Xô viết:
 + Tháng 12/1917, quân Rumani (có Pháp hỗ trợ) chiếm Bessarabia.
  + Tháng 3/1918, 1 vạn quân Anh, Pháp đánh vào nước Nga, chiếm Murmansk, Arkhangelsk. Chúng chém giết dã man những người cộng sản Xô viết, tiến thẳng vào Petrograd và Moskva và xây dựng cái gọi là "chính phủ phương Bắc" của Bạch vệ.
 + Tháng 4/1918, quân Nhật từ Vladivostok, liên quân Anh - Pháp - Mỹ tấn công dồn dập vào nước Nga. Các chính quyền sở tại bị lật đổ. Quân Bạch vệ lần lượt chiếm Yakutsk, Sita và nhiều thành phố khác.
  + Ngày 25/5/1918, quân đoàn Tiệp Khắc nổi loạn chống chính quyền, chiếm  thành phố Samaran và Ural, cả một vùng rộng lớn từ Ural tới Siberie, và kho bạc 600 triệu rup của chính quyền, và chính cuộc nổi loạn này khơi màu thời kỳ mở rộng can thiệp vũ trang của các đế quốc.
  + Theo sau đế quốc, các thế lực phản động trong nước nổi dậy khắp nơi, lập các chính quyền phản cách mạng ở Arkhangelsk, Siberie (Vladivostok, Omsk), Ural (Ekaterinodar).

- Ngoài ra, các đế quốc còn mua chuộc lãnh đạo Xô viết, xúi họ nổi loạn. Ngày 25/5, chúng nổi dậy chiếm thành phố Samaran và Ural, cả một vùng rộng lớn từ Ural tới Siberie lọt vào tay chúng. Bọn phú nông, địa chủ thừa cơ nổi dậy.
- Tình thế trở nên căng thẳng. Quân địch khống chế nhiều vùng phong phú về nguyên liệu và khoáng sản và hầu hết các nhà máy phải đóng cửa. Lương thực cũng trở nên khan hiếm, ở Moskva mỗi người dân chỉ được cung cấp 1/8 đến 1/4 bánh mì trong ngày.
- Ngày 31/3/1918, Đảng Xã hội Cách mạng lập kế hoạch ám sát Lenin. Hôm đó, Lenin diễn thuyết ở nhà máy Michelson. Sau khi diễn thuyết xong, ông ra về thì bất ngờ bị một phụ nữ tên là Kaplan rút súng bắn 2 phát đạn (có tài liệu nói 3 phát) vào Lenin làm Người bị thương.
- Bộ mặt phản động của bọn đế quốc bị vạch trần. Ngay trong năm 1918, Đảng Bolshevik ra lời kêu gọi công, nông gia nhập Hồng quân. Tháng 8, Hồng quân có 80 vạn người. Tháng 9, họ xuất quân đánh tan 2 quân đoàn phiến loạn số 2 và số 5. Tháng 10, hai tập đoàn quân số 1 và số 5 đánh tan Quân đoàn Tiệp Khắc. Ở phía Nam, Stalin và Frunze đem quân đánh tan quân phỉ Petlura, Kozac. 
Năm 1919, chính quyền ban hành "Chính sách cộng sản thời chiến". Nội dung chủ yếu của chính sách này là:
* Nông nghiệp:
+ Nhà nước trưng thu lương thực thừa đối với nông dân theo nguyên tắc "không thu một chút gì của nông dân nghèo, thu của trung nông với mức độ vừa phải và thu của phú nông nhiều hơn".
+ Nhà nước độc quyền lúa mì, cấm tư nhân buôn bán lúa mì.Nhà nước kiểm soát toàn bộ công nghiệp với quy mô lớn và nắm trong tay công nghiệp hạng vừa và nhỏ. Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao (12/1917) là cơ quan tập trung quản lý, điều hành sản xuất công nghiệp cũng như nền kinh tế quốc dân.
* Lực lượng lao động: thi hành chế độ cưỡng bức toàn dân. Tất cả công dân từ 16 - 50 tuổi đều phải tham gia lao động công ích theo phương châm "Ai không làm thì không hưởng".
  Thực hiện chế độ trả lương bằng hiện vật (lúc này đồng tiền bị mất giá) theo nguyên tắc bình quân. Trẻ em, công nhân công nghiệp, đường sắt được ăn uống tự do không phải mất tiền.
  Mặc dù chính sách này thực hiện khá thành công, nhưng nó để lại nhiều hậu quả nặng nề:
- Nông dân từ chối cung ứng sản phẩm do chính phủ lấy quá nhiều sản phẩm của họ.
- Công nhân bỏ việc ở thành thị, về nông thôn sinh sống làm giảm đáng kể lực lượng lao động ở các thành thị. Năm 1920, Petrograd mất 75% dân số, trong khi đó Moskva mất 50%. Thị trường chợ đen mọc lên rầm rộ, đồng rup Nga bị phá giá, công nghiệp nặng suy giảm còn 20% và đói lớn xảy ra làm khoảng 10 triệu người chết. Kết quả là công - nông dân nổi dậy, tiêu biểu là vụ loạn Kronstad làm rung chuyển nội tình chính phủ. Sau khi kết thúc nội chiến, chính sách này được thay bằng chính sách kinh tế mới (NEP).




  

Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2012

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA : QUAN NIỆM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN


KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA : QUAN NIỆM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GS.TS. NGUYỄN PHÚ TRỌNG – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
I – Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?
1- Như mọi người đã biết, kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạn phát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng. Bên cạnh mặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa chi phối. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngày mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xã hội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo. Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó còn ràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ “trung tâm – ngoại vi”. Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày nay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa số các nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo.
Chính vì thế mà, như C. Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải nhường chỗ cho một phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân đạo hơn. Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự thích nghi bằng cách phát triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thị trường xã hội”, tạo ra “chủ nghĩa tư bản xã hội”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “nhà nước phúc lợi chung”…, tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiều hơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giải quyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi. Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tự tiến hóa để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa. Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội. Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
2 – Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh chóng xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh, hiện đại hơn chủ nghĩa tư bản. Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân Liên Xô. Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật (muốn xóa bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), không năng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công.
Thực ra, khi mới vận dụng học thuyết Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lê-nin cũng đã từng chủ trương không áp dụng mô hình kinh tế thị trường mà thực hiện “chính sách cộng sản thời chiến”. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, Người đã phát hiện ra sai lầm, khắc phục sự nóng vội bằng cách đưa ra thực hiện “chính sách kinh tế mới” (NEP) mà nội dung cơ bản của nó là khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa, chấp nhận ở mức độ nhất định cơ chế thị trường. Theo V.I.Lê-nin, để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước còn tương đối lạc hậu về kinh tế như nước Nga, cần phải sử dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặc biệt là sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước để phát triển lực lượng sản xuất. Tuy chỉ mới thực hiện trong thời gian ngắn nhưng NEP đã đem lại những kết quả tích cực cho nước Nga: hồi phục và phát triển nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, nhiều ngành kinh tế bắt đầu hoạt động năng động, nhộn nhịp hơn. Tiếc rằng, tư tưởng của V.I.Lê-nin về xây dựng chủ nghĩa xã hội với chính sách NEP đã không được tiếp tục thực hiện sau khi Người qua đời. Sự thành công và sự phát triển mạnh mẽ suốt một thời gian khá dài của Liên Xô trong công cuộc công nghiệp hóa đất nước bằng mô hình kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoạch hóa tập trung cao độ; phân phối thu nhập mang tính bình quân; kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường bị loại bỏ đã có sức hấp dẫn lớn đối với nhân loại và làm cho giới lý luận kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển tuyệt đối hóa, biến thành công thức để áp dụng cho tất cả các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Cũng cần nói thêm rằng, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, giới lý luận ở một số nước cũng cảm thấy có cái gì “chưa ổn”, cũng đã đưa ra những kiến nghị, những đề xuất, đại loại như quan điểm “chủ nghĩa xã hội thị trường”,… nhưng không được chấp nhận.
Vào cuối những năm 70 của thế kỷ XX, những hạn chế, khuyết tật của mô hình kinh tế Xô-viết bộc lộ ra rất rõ cộng với sự yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý lúc bấy giờ đã làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Một số người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước Liên Xô lúc đó muốn thay đổi tình hình bằng công cuộc cải cách, cải tổ, nhưng với một “tư duy chính trị mới”, họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng cực đoan, phiến diện (ở đây chưa nói tới sự phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa của họ và sự phá hoại thâm hiểm của các thế lực thù địch), dẫn tới sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõ những khuyết tật của mô hình kinh tế cứng nhắc phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đó không phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến sự sụp đổ.
3 – Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm.
Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”. Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
II – Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trườngchủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có thể nói kinh tế thị trường là “cái phổ biến”, còn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “cái đặc thù” của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam.
Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bởi vì như trên đã nói, Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa có vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật – công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác – Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng, không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không thể dung hợp với nhau, nếu đem “ghép” định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường thì chẳng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra một cơ thể “đầu Ngô mình Sở”. Theo chúng tôi, ý kiến này không đúng. Không đúng là vì, hoặc ý kiến này muốn trì kéo Việt Nam trong quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản, phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa, không muốn Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là điều trái với quy luật khách quan, không thể chấp nhận. Hoặc ý kiến này không thoát ra được khỏi tư duy cũ, đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, cho kinh tế thị trường là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, từ đó “dị ứng” với kinh tế thị trường, không thấy hết những yếu tố mới, xu hướng mới của kinh tế thị trường trong điều kiện mới của thời đại, lặp lại sai lầm của một thời trước đây.
Cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biến của kinh tế thị trường, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng, những cái đặc thù của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó chưa tin là kinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốc doanh là chủ đạo; rằng trong kinh tế thị trường không thể có kế hoạch, không thể thực hiện được công bằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thị trường, v.v.. Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thêm định ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cũng chỉ là để cho yên lòng, cho có vẻ “giữ vững lập trường” mà thôi, trước sau gì thì cũng trượt sang con đường tư bản chủ nghĩa.
Chúng tôi cho rằng, những băn khoăn này là dễ hiểu, bởi vì đây là những điều còn rất mới mẻ, chưa có tiền lệ, nếu không xác định rõ nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa và kiên trì vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường thì những điều đó rất dễ xảy ra. Chúng tôi còn phải vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm. Nhưng có điều cần khẳng định là: trong điều kiện mới của thời đại ngày nay, nhất định không thể duy trì mãi mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, không thể đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản. Chính C.Mác đã phê phán sự lầm lẫn giữa kinh tế hàng hóa với kinh tế tư bản chủ nghĩa của phái kinh tế học tầm thường. C.Mác khẳng định rằng : “… sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau… Chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy”(1). Phải chăng việc nhận thức cho đúng và nói cho được những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất đặc thù ấy là trách nhiệm mà C.Mác giao cho và gửi gắm các thế hệ ngày nay?
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải đơn giản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại, văn minh nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được con đường đi của mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được những khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạchthị trường. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ thống kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính tính chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trường, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
III – Làm thế nào để phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ?
Đây là một câu hỏi lớn mà muốn trả lời được đầy đủ và chính xác phải qua từng bước thử nghiệm, tổ chức thực hiện trong thực tế rồi đúc rút, bổ sung, hoàn chỉnh dần.
Hơn 10 năm qua, kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu đáng mừng, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất nước chẳng những giữ vững được ổn định chính trị trước những chấn động lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân 7% /năm. Nông nghiệp phát triển liên tục, đặc biệt là về sản xuất lương thực, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,5%/năm. Hệ thống kết cấu hạ tầng được tăng cường. Các ngành dịch vụ, xuất khẩu và nhập khẩu phát triển. Quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế không ngừng được mở rộng,… Tuy nhiên, cũng có nhiều vấn đề mới đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu và giải quyết.
Từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua và căn cứ vào yêu cầu phát triển trong thời gian tới, có thể xác định những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như sau:
1 – Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Không nên có thái độ định kiến và kỳ thị đối với bất cứ thành phần kinh tế nào.
Kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật.
Đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước; đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bao cấp; doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh; nộp đủ thuế và có lãi; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp.
Kinh tế tập thể gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học và công nghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, bao gồm cả các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn.
Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động.
Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào các sản phẩm xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài.
Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới dạng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh tế. Chú trọng các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và ngoài nước. Phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội.
2 – Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mới được bắt đầu, trình độ còn thấp, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh chưa cao. Nhiều thị trường còn sơ khai, chưa đồng bộ. Vì vậy, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy hơn nữa, đẩy mạnh việc hình thành các loại thị trường. Đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ, đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị trường trong nước, cả ở thành thị và nông thôn, chú ý thị trường các vùng có nhiều khó khăn. Chủ động hội nhập thị trường quốc tế. Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Mặt khác, phải đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để định hướng phát triển kinh tế – xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại.
Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách, luật pháp, đổi mới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường công tác thông tin kinh tế – xã hội trong nước và quốc tế, công tác kế toán, thống kê; ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác dự báo, kiểm tra tình hình thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp.
3 – Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng xã hội, coi đây là một nội dung rất quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Điều đó chẳng những tạo động lực mạnh mẽ nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động mà còn thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng và hợp pháp, điều tiết các quan hệ xã hội.
Trong tình hình cụ thể hiện nay ở Việt Nam, phải bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều việc làm mới. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Từng bước mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm cho người lao động thất nghiệp. Cải cách cơ bản chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, khuyến khích người có tài, người làm việc giỏi, khắc phục tình trạng lương và trợ cấp bất hợp lý; tôn trọng thu nhập hợp pháp của người kinh doanh.
Tiếp tục thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc những người có công với nước, thương binh, bệnh binh, cha mẹ, vợ con liệt sĩ, gia đình chính sách – một yêu cầu rất lớn đối với một đất nước phải chịu nhiều hậu quả sau 30 năm chiến tranh. Đồng thời đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự và kỷ cương xã hội, ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm, lối sống không lành mạnh, những hành vi trái pháp luật và đạo lý. Kiên quyết đấu tranh với tệ tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chính, kinh doanh không hợp pháp, gian lận thương mại… cùng với những tiêu cực khác do mặt trái của cơ chế thị trường gây ra. Kết quả cụ thể của cuộc đấu tranh này là thước đo bản lĩnh, trình độ và năng lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
4 – Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và là nhân tố quyết định nhất bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, cũng như toàn bộ sự nghiệp phát triển của đất nước. Đây cũng là một trong những bài học lớn nhất được rút ra trong những năm đổi mới.
Càng đi vào kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế càng phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực tế ở một số nước cho thấy, chỉ cần một chút mơ hồ, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng là lập tức tạo điều kiện cho các thế lực thù địch dấn tới phá rã sự lãnh đạo của Đảng, cướp chính quyền, đưa đất nước đi con đường khác.
Hiện nay, có ý kiến cho rằng, đã chuyển sang kinh tế thị trường – tức là nền kinh tế vận động theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… thì không cần phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng nhiều khi cản trở, làm “vướng chân” sự vận hành của kinh tế (?). Ý kiến này không đúng và thậm chí rất sai lầm. Bởi vì như trên đã nói, Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế thị trường nhưng không phải để cho nó vận động một cách tự phát, mù quáng mà phải có lãnh đạo, hướng dẫn, điều tiết, phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, vì lợi ích của đại đa số nhân dân, vì một xã hội công bằng và văn minh. Người có khả năng và điều kiện làm được việc đó không thể ai khác ngoài Đảng Cộng sản – là đảng phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, thật sự đại diện và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chiến lược phát triển của đất nước nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chính trị, tính định hướng đúng đắn trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ tăng trưởng và năng suất lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng lớn mạnh mà còn đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là hạn chế được bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Trên cơ sở đường lối, chiến lược đó, Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và guồng máy xã hội, trước hết là Nhà nước, tổ chức thực hiện bằng được phương hướng và nhiệm vụ đã đề ra.
Đương nhiên, để có đủ trình độ, năng lực lãnh đạo, Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin cậy và ủng hộ. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng, có trí tuệ, có kiến thức, giữ gìn đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh, đấu tranh khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng và các hiện tượng thoái hóa, hư hỏng trong Đảng và trong bộ máy của Nhà nước.
Tóm lại, sự hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ đơn thuần là sự tìm tòi và phát kiến về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự lựa chọn và khẳng định con đường và mô hình phát triển trong thực tiễn mang tính cách mạng và sáng tạo của Việt Nam. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tất yếu phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, đây là sự nghiệp vô cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, bởi lẽ nó rất mới mẻ, chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng về mặt lý luận cũng còn không ít vấn đề phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, làm sáng tỏ. Chẳng hạn như: các vấn đề về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế; về lao động và bóc lột; về quản lý doanh nghiệp nhà nước ra sao để nó đóng được vai trò chủ đạo; làm thế nào để thực hiện được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn thấp kém; vấn đề bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế nhiều thành phần; các giải pháp tăng cường sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham nhũng, v.v..
Với phương châm “Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ cho câu trả lời”, hy vọng rằng từng bước, từng bước, thực tiễn sẽ làm sáng tỏ được các vấn đề nêu trên, góp phần làm phong phú thêm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời đại ngày nay