Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN


NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN
Th.S Hoàng Thị Tố Nga
Khoa SP Tiểu học- Mầm non
            Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên - Địa - Nhân. Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh...
1. Tết Nguyên Đán   
            Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Nguyên nghĩa của chữ "Tết" chính là "tiết". Hai chữ "Nguyên Đán" có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán" (Tết NguyênĐán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).
            Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.
            Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơnTết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
2. Nguồn gốc Tết Nguyên Đán 
            Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vươngnhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.
            Đời Đông ChuKhổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán,Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.
            Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.
            Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy.
3. Ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán Việt Nam
3.1. Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh
            Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết - do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông - có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì", người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời... người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.
3.2. Tết Nguyên Đán là ngày đoàn viên của mọi gia đình
            Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,... được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. "Về quê ăn Tết", đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.
            Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri...
            Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một  vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.
            Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.
3.3. Tết Nguyên Đán là ngày ” làm mới”
            Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn... Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.
            Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng. 
            Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.
3.4. Tết Nguyên Đán là ngày tạ ơn
            Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết...
4. Những biến đổi do tác động tiếp xúc văn hoá Đông - Tây trong Tết Nguyên Đán ở Việt Nam
            Với một hệ thống lễ nghi vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tết Nguyên Đán đã trở thành ý thức hệ dân tộc, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tết Nguyên Đán là một phong tục đẹp mà nhân dân ta còn duy trì tới ngày nay. Thế nhưng trong thời kỳ toàn cầu hoá như hiện nay cách ăn Tết của người Việt Nam phần nào đã thay đổi. Một số tập tục trong ngày Tết xưa không còn phù hợp với  hội hiện đại đã dần bị loại bỏ.
            Ngày nay người dân ăn Tết đã có phần đổi khác hơn so với trước kia, dường như dân ta ăn Tết  “tây hoá”dần đi, sự thay đổi đó phần nào được thể hiện qua cách đón tết và trong việc sắm tết.
             Đời sống kinh tế được nâng cao đi kèm với những giá trị hưởng thụ về văn hoá tinh thần và vật chất, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp là tự nhiên và có thể đáp ứng ngay khi cần chứ không phải đợi đến Tết như ngày xưa. Hơn nữa, ngày nay trong một năm có rất nhiều ngày lễ khác đang chi phối tầm quan trọng của ngày Tết cổ truyền. Vì vậy, dường như Tết bây giờ có phần nhạt hơn so với Tết xưa.
Trong đời sống hiện đại, việc sắm Tết cũng ”hiện đại” theo và sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây rất rõ nét. Giờ đây người dân ít hào hứng với việc mua thực phẩm về tự chế biến mà đặt mua đồ đã chế biến sẵn cho tiện. Mâm cỗ ngày Tết giờ cũng phong phú hơn và đa dạng hơn. Bên cạnh những món ăn truyền thống của người Việt như bánh chưng xanh, giò, các món rau, món xào thì còn có những món ăn được du nhập từ Phương Tây.     
Trải qua bao biến thiên của thời đại, đến nay, quan niệm về Tết đã có nhiều thay đổi cả về mặt khái niệm lẫn hành vi. Bây giờ người ta quan niệm là “nghỉ Tết”, “chơi Tết” chứ không còn là “ăn Tết”. Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề quan trọng trong ngày Tết thì người ta hướng đến tinh thần nhiều hơn. Tết hiện đại mọi người thích nghỉ ngơi thoải mái, đi chơi nhiều hơn, nhân dịp Tết nhiều gia đình đã lên lịch trình cho một chuyến du lịch với người thân trong nhà hoặc cùng bạn bè, đồng nghiệp.
   Quà Tết bây giờ cũng khác. Trước đây, mọi người có thể chúc Tết nhau bằng cặp bánh, cân giò, với tấm lòng trân trọng mến thương. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà có giá trị cao nhưng tình cảm trong đó hầu như không có mà xen vào đó là lợi ích cá nhân, lợi ích kinh tế.
   Quả thật, quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây đã làm cho Tết thay đổi, những đồ ăn nhanh, làm sẵn đã làm mất đi không khí chuẩn bị vui tươi của ngày tết. Trẻ con không còn ngồi xem bố mẹ, ông bà gói bánh chưng và mong chờ còn ít gạo vét để gói chiếc bánh ống với nhiều đậu và một miếng thịt to, không còn vui thú khi vùi củ khoai nướng trong lúc trông nồi bánh chưng, các cô thiếu nữ đã dần quên thói quen đi ngắm hoa đào, hoa mai trên phố chợ. Những điều thay đổi đó khiến nhiều người không khỏi chạnh lòng “bao giờ cho đến Tết xưa”.
   Tuy nhiên, tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã làm cho ngày Tết của người Việt có nhiều thứ mới lạ hơn, thực phẩm vừa ngon vừa phong phú đa dạng, những đồ ăn sẵn thật là thuận tiện, mâm cỗ cúng gia tiên có thêm chai rượu vang thì thật là sang trọng. Ngày Tết được đi du lịch với cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp khiến mọi người cảm thấy nhẹ nhõm, gạt bỏ được những căng thẳng trong một năm làm việc vất vả, tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn.
   Chúng ta không thể phủ nhận mặt tích cực của hội nhập văn hoá đem lại. Nếu chúng ta “khép” cửa “ăn Tết” với nhau thì Tết Việt đương nhiên chỉ là một sản phẩm của văn hoá thuần tuý đơn lẻ, nó sẽ không thể trở thành sản phẩm văn hoá đặc trưng của quốc gia trong mối quan tâm của bạn bè quốc tế. Sự mở cửa giao lưu, tiếp xúc lại chính là những phương thức tốt nhất giúp chúng ta giới thiệu đến bạn bè quốc tế về Tết cổ truyền của người Việt Nam. Vấn đề ở đây là chúng ta phải làm chủ được quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây để tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của mình mà không bị “ Tây hoá”.
   Có thể nói, Tết Nguyên Đán vẫn là một sinh hoạt văn hoá vừa lưu giữ những giá trị truyền thống vừa thích nghi với nhịp sống hiện đại. Trong ngày Tết vẫn còn nhiều phong tục tốt đẹp và đậm tính nhân văn mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy để Tết Nguyên Đán mãi là nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
2. Đinh Gia Khánh. Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB KHXH, 1993.
3. Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
4.Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD
5. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1996.
6. Trương Thìn (biên soạn). 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam,  NXB Thời đại, 2010.

Thuyết minh về truyền thống phong tục cổ truyền ngày tết


Thuyết minh về truyền thống phong tục cổ truyền ngày tết


Trải bao năm tháng,từ đời này truyền qua đời khác, cứ mỗi khi đông tàn, tiết xuân lại đến thì toàn thể dân tộc Việt và cả một số dân tộc khác ở phương Đông Châu Á lại rộn rịp chuẩn bị Tết. Một trong những phong tục cổ xưa nhất của người Việt làm trong những ngày Lễ Tết nguyên đán chính là trồng cây nêu.

Dù là người thành thị hay nông thôn, mỗi khi nghe câu ca dao đều thấy lòng mình xốn xang rộn rã. Hình ảnh cây nêu được dựng trước cửa ngôi nhà mái tranh luôn gợi cho ta cảnh đón xuân ấm cúng và gia đình xum họp.Ngày nay, người Việt Nam đã bỏ thói quen dựng nêu ngày Tết. Nhưng xưa kia, mỗi lần năm mới đến là phải cắm nêu: Cao nêu, kêu pháo, bánh chưng xanh là những biểu tượng đón xuân không thể thiếu được. Nhưng nêu là thế nào? Vì sao phải dựng nêu? Câu chuyện thực ra cũng không đơn giản.

Cây nêu đã cùng với tổ tiên người Việt theo cha ông trong lịch sử dựng nước; giữ nước và mở nước đầy bi tráng.
Ngày xưa, có một cuộc chiến tranh giữa người và ma quỉ. Loài người được Đức Phật từ bi giúp đỡ. Ma quỉ thua trận; đồng ý nhựơng lại đất cho loài người trong khoảng không gian mà chiếc bóng áo cà sa của Đức Phật phủ trên cây nêu. Chúng chỉ nghĩ rằng: Với chiếc áo cà sa bé tý phủ trên cây nếu; thì bóng của nó trên mặt đất không thể lớn hơn cái miếu cô hồn. Nhưng bằng pháp thuật; Đức Phật đã làm cho cây nêu vươn lên; cao vút đến tận trời xanh và bóng chiếc áo cà sa lớn đến mức phủ kín mặt đất. Giống quỉ thua cuộc phải ra biển Đông ở. Nhưng Dức Phật từ bi cho phép chúng được trở về đất liền trong những ngày Tết. Để quỉ không xâm phạm vào đất đai có chủ là người ở; Ngài bảo vào những ngày Tết; mỗi nhà đều trồng trước cửa một cây nêu làm dấu để lũ quỉ ma biết mà tránh xa.

Từ đấy; trải hàng ngàn năm qua – mỗi năm khi Tết đến; mỗi gia đình người Việt và một số dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; lại trồng một cây nêu cho đến tận bây giờ. Hình ảnh cây nêu cũng như chiếc bánh chưng; bánh dầy đã cùng lịch sử văn hoá thăng trầm trải hàng thiên niên kỷ và đi vào hồn người dân nước Việt. Truyền thuyết về cây nêu mang dấu ấn của Phật giáo; nhưng chúng ta có thể nhận thấy: không hề có một nền văn hoá ảnh hưởng Phật giáo nào của các dân tộc khác trên thế giới có cây nêu; ngoài Việt Nam. Bởi vậy; có thể khẳng định rằng: Cây nêu là di sản văn hoá phi vật thể đặc thù của riêng văn hoá Việt và có cội nguồn thuần Việt. Từ đó; có thể nói rằng: Hình ảnh Đức Phật chỉ là sự chuyển hoá của một vị thánh nhân Lạc Việt; sau hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Nhưng cũng có thể nói rằng: Chính hình ảnh chiếc áo cà sa của Đức Phật từ bi phủ lên cây nêu; cũng là một hình tượng rất độc đáo thể hiện sự che chở; bảo vệ nền văn hoá Việt của Phật pháp khi lịch sử Việt ở lúc thăng trầm bi tráng.
Cùng với hình tượng “Hạc và Rùa”; tục ăn trầu; bánh chưng bánh dầy…Sự phổ biến của tục trồng nêu trong văn hoá Việt đã chứng tỏ đây là một biểu tượng được lựa chọn có ý thức cho một giá trị minh triết độc đáo của nó.
Về hình tượng cây nêu – mà người viết biết được – thì có ba hình tượng còn đến bây giờ. Cả ba hình tượng này đều dùng một thân cây tre trồng thẳng trên mặt đất; sự khác nhau của hình tượng là phần phía trên cây nêu. Đó là:
Một loại cổ xưa nhất ; phía trên ngọn tre là một vòng tròn cũng làm bằng tre; nhỏ bằng cái nia; với 2; 3 hoăc 4 thanh tre buộc ngang qua tâm tạo thành hình 4; 6 hoặc 8 điểm trên vòng tròn. Ở những điểm này; người ta treo nhiều hình tượng; đôi đũa; giải bùa tua; giỏ tre …
Còn một hình tượng nữa là phía trên ngọn tre treo một hình vuông hoặc chữ nhật. Hình chữ nhật này được làm bằng bốn thanh tre sổ xuống và năm thanh tre ngang. Bốn thanh tre buông thẳng xuống tượng cho tứ tung; năm thanh ngang tượng cho Ngũ hoành. Đây cũng là một loại bùa trừ tà trong Đạo giáo biến thể về sau này.
Trên hình chữ nhật; người ta cũng treo một đôi đũa trời tượng cho Âm Dương; một giỏ tre trong đó có một túi gạo muối được gói trong vài hoặc giấy điều; là hai vật thiết yếu cho đời sống con người và cũng tượng cho sự phú túc. Trong giỏ còn 12 lá trầu tượng cho 12 tháng; năm nào nhuận có 13 lá. Khi hạ nêu vào ngày mùng 7 tháng Giêng; những lá trầu đước lần lượt lấy ra khỏi giỏ tre. Lá thứ nhất là tháng Giêng; lá thứ hai là tháng 2,…cho đến hết 12 lá. Người ta cho rằng: Lá nào héo là tháng đó trong năm không tốt. Trong giỏ tre còn được bỏ một đòn bánh Tét cũng tượng cho sự phú túc.
Ngoài hai dạng cây nêu được trình bầy ở trên; còn một hình tượng cây nêu nữa chỉ có một thân cây tre duy nhất vút cao lên trời xanh. Trên thân cây tre có trang trí; giấy mầu và từng khúc có gắn những tua trang trí.

Như vậy; với những hình tượng cây nêu còn lưu lại có những khác biệt đã cho thấy dấu ấn của những thăng trầm trong lịch sử Việt. Nhưng dù là có sự khác biệt về chi tiết thì bản thân sự phổ biến của cây nêu trong văn hoá Việt; đã chứng tỏ sự lựa chọn có ý thức của tổ tiên cho một biểu tượng văn hoá. Như vậy; cây nêu phải là một hình tượng minh triết của cha ông truyền lại cho đời sau.
Người viết bài này cho rằng:
Có thể chỉ có một trong hai hình tượng cây nêu có tán phía trên; hoặc cả hai; có sự xuất xứ nguyên thuỷ chứa đựng ý nghĩa minh triết. Nếu không phải cả hai cùng xuất hiện đồng thời thì cây nêu có vòng tròn phía trên có xuất xứ nguyên thuỷ hơn. Hình tượng cây nêu này; gần như hoàn toàn trùng khớp với hình tượng một tôn giáo được hình thành trong văn minh Lạc Việt đó chính là chiếc nón và cây gậy của ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung tạo nên vương quốc tâm linh đầy huyễn ảo.
Với hình tượng thân cây tre vút cao; vươn thẳng lên trời xanh; xuyên tâm vòng tròn phía trên cây tre là hình tượng của sự thăng hoa tư tưởng; đạt tới sự viên mãn và trở về với bản thể nguyên thuỷ của vũ trụ; tức là “Mẹ tròn”; là sự khởi nguyên của vũ trụ. Hình tượng rất minh triết này gần gũi với quan niệm của Phật Giáo là sự giải thoát và trở về với bản tính chân như. Với cây Nêu mà người viết cho rằng là nguyên thuỷ này; thể hiện một sự nhận thức sâu sắc bản tính và sự giải thoát; có lẽ đã ra đời trong thời cực thịnh của nền văn hiến Lạc Việt; một thời huy hoàng ở miền nam sông Dương Tử.
Cây nêu với hình tượng “Tứ tung Ngũ hoành”; có thể xuất hiện sau khi Đạo giáo của Ngài Chử Đồng Tử khi bị biến thể; trở thành một môn tu luyện với bùa phép huyền bí; nhằm thoả mãn những nhu cầu của đời sống con người nhằm trừ bệnh tật; đem lại sự phú túc bình yên. Đó là lý do để người viết cho rằng: Cây nêu với hình tượng “Tứ tung Ngũ hoành” có sau.
Còn hình tượng cây Nêu chỉ có một thân tre thẳng đứng; vì tính tương tự phổ biến của loại hình này trong đời sống thường ngày - một cột mốc ruộng; chiếc cột đèn…Bởi vậy; người viết cho rằng; có thể đây chỉ là dấu ấn còn lại trong ký ức của người Việt về cây nêu; nhằm giữ lại di sản văn hoá tâm linh của tổ tiên; nhiều hơn là một biểu tượng minh triết nguyên thuỷ của nó.

Với hình tượng cây nêu đã trình bày ở trên; đã cho thấy một hình tượng được lựa chọn có ý thức làm biểu tượng cho sự minh triết Lạc Việt từ một cội nguồn văn hiến của nước Văn Lang dưới thời các vua Hùng dựng nước. Sự vươn lên đạt tới chân tính; hoà nhập với thiên nhiên trong sự an nhiên tự tại và tình yêu con người. Đây chính là thông điệp của tổ tiên truyền lại từ hàng ngàn năm trước cho đời sau; hình tượng của một giá trị minh triết Việt.

Dịch viết
“Trí thì cao siêu; lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước trời; thấp là bắt chước đất”
Chỉ với cây tre đơn sơ và rất phổ biến trong đời sống của người Việt; tổ tiên đã gửi lại đời sau sự nhắn nhủ của cội nguồn lịch sử gần 5000 năm văn hiến. Trải bao thăng trầm bi tráng trong lịch sử giống nòi; hình ảnh cây nêu vẫn còn trong tâm tưởng của người Việt như một sự kết nối với cội nguồn một thời oanh liệt vàng son và đầy tính nhân bản.
Tục trồng nêu ngày Tết không chỉ ở dân tộc Kinh mà còn rải rác một số dân tộc khác trên đất Việt hiện nay. Điều này đã chứng tỏ tục trồng nêu đã có từ rất xa xưa trong truyền thống văn hoá Việt qua tính phổ biến của nó trong các dân tộc anh em. Sự giải thích hợp lý cho tục trồng nêu - một di sản văn hoá phi vật thể của người Việt - là: Tục này có từ thời Hùng Vương dựng nước.
Hình ảnh cây nêu truyền thống; trong lòng mỗi người con đất Việt; chính là di sản của tổ tiên để lại nhắc nhở lòng tự hào của của dòng dõi Tiên Rồng của cha ông với danh xưng 5000 năm văn hiến.
Nguồn: Lính Chì

Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của người Khmer: Tết đoàn kết cộng đồng các dân tộc


Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của người Khmer: Tết đoàn kết cộng đồng các dân tộc


Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây năm 2012 của đồng bào dân tộc Khmer diễn ra vào ngày 13, 14 và 15-4-2012 (nhằm ngày 23, 24, 25 tháng 3 năm Nhâm Thìn). Đã từ lâu, những ngày này không chỉ là ngày Tết cổ truyền của đồng bào dân tộc Khmer nữa mà đã trở thành ngày Tết đoàn kết các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc ở các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ở hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh – nơi có 30% dân số là đồng bào Khmer. Tết năm nay, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh - Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ về thăm và cùng vui Tết với bà con Khmer.


Đua ghe ngo là môn thể thao đặc trưng của người Khmer trong các dịp lễ, Tết
Ảnh: Quốc Trung

Hàng năm vào trung tuần tháng 4 dương lịch, bà con Khmer lại tổ chức đón Tết Chôl Chnăm Thmây truyền thống, tức là Tết chịu tuổi dân tộc Khmer. Từ xưa đồng bào Khơmer vẫn quan niệm, đây là thời kỳ chuyển giao giữa hai mùa mưa – nắng, cây cỏ tốt tươi, thiên nhiên tràn đầy sức sống, nên họ đã coi đây là sự khởi đầu một năm mới, gọi là Tết Chôl Chnăm Thmây (vào năm mới).

Những ngày Tết Chôl Chnăm Thmây, mọi công việc ruộng rẫy đều dừng lại để mọi người được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, thăm viếng nhau. Vào dịp này, con cháu dù ở xa hay gần đều trở về sum họp cùng gia đình trong mấy ngày Tết.

Từ huyện Càng Long đi Tp. Trà Vinh, chúng tôi thấy các ngôi chùa đều đông vui, nhộn nhịp. Càng gần đến ngày Tết, các chùa và gia đình trong các phum, sóc càng rộn ràng không khí phấn khởi đón mừng.


Tết tại các chùa Khmer ở Cần Thơ

Tại Văn phòng Tỉnh ủy Trà Vinh, ông Thạch Hel - Phó Bí thư Thường trực Thành ủy cho biết: Tết năm nay bà con Khmer nhìn chung đã trúng vụ hoa màu, sau vụ lúa Đông Xuân. Nhiều bà con áp dụng kỹ thuật mới nên các rẫy hoa màu cho thu nhập khá cao. Từ sáng nay (13-4), tại mỗi ấp, các con đường và cổng nhà đều sạch sẽ, phong quang để đón năm mới. Tại các cổng chào đầu phum, sóc, đồng bào còn trang trí cờ hoa, khẩu hiệu rực rỡ để mừng cho nhau năm mới sẽ may mắn, mưa thuận, gió hòa.

Ngoài việc trang hoàng nơi ăn chốn ở, đồng bào Khmer còn giúp nhau chuẩn bị gạo nếp để xay bột, đậu các loại, lá chuối, lá dừa để làm các loại bánh trái như: num chruk (bánh tét), num tean (bánh ít), num knhậy (bánh gừng), num trom, num tom be (bánh men)... tất cả được gói cẩn thận, để cúng Phật và ông ba, tổ tiên và để tiếp khách trong những ngày Tết.

Những ngày này ở Sóc Trăng, không khí chuẩn bị Tết cổ truyền của bà con Khmer hết sức rộn ràng. Các hộ gia đình chuẩn bị trang hoàng nhà cửa, mua sắm quần áo mới, lo nguyên liệu làm bánh tét để đón Tết cổ truyền của dân tộc. Cô Diệp Thị Ngọc Thanh (ở xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên) cho biết: "Năm nay nhờ trúng mùa lúa Đông Xuân nên không khí đón tết của bà con ở đây nhộn nhịp hẳn lên. Mọi người đều sửa sang nhà cửa sạch sẽ, khang trang.” Nhiều người dân ở xã Đại Tâm cũng cho biết: Năm nay, nhà nào cũng có điện thắp sáng và có nước sạch sinh hoạt do Nhà nước cấp cho miễn phí. Nhiều gia đình nhận được đất, nhận nhà mà cứ như vừa từ một giấc mơ bước ra.


Các thành viên đang chế biến món ăn trong cuộc thi
"Bữa cơm ngày tết cổ truyền”

Ở tỉnh Vĩnh Long, đến hẹn lại lên, từ ngày 11 đến 13-4, tỉnh tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao đồng bào Khmer nhân Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây.

Có mặt tại xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình vào đúng dịp tổ chức Ngày hội văn hóa, thể thao đồng bào Khmer lần thứ 3, không khí nơi đây tưng bừng, náo nhiệt hẳn lên, đặc biệt tại giải đua ghe ngo (một bộ môn thể thao đặc trưng của người dân tộc Khmer) được tổ chức tại ấp Sóc Rừng. Hàng ngàn người, già trẻ lớn bé các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa khắp nơi của tỉnh Vĩnh Long kéo về đông nghịt dọc hai bên bờ sông để xem đua ghe ngo. Ngoài ra, tỉnh còn tổ chức cuộc thi "Bữa cơm ngày tết cổ truyền đônồng bào Khme” trong lễ hội văn hóa ẩm thực đồng bào Khmer thu hút 6 đội tham gia. Mắm bò hóc, lươn om lá nhào, bún nước lèo... là những món truyền thống của người Khmer sẽ xuất hiện trong hội thi.

Ông Trần Văn Thảo - Trưởng ấp Sóc Rừng (xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình) cho biết: Mấy ngày nay, bà con từ khắp nơi đổ về chùa. Người Khmer ăn Tết cổ truyền có điều thú vị hơn người Kinh đó là cứ đến ngày Tết, bà con đều tập trung vào chùa như ngôi nhà chung, tổ chức các hoạt động vui chơi. Nét đặc trưng trong ngày Tết Chôl Chnăm Thmây là âm thanh của dàn nhạc ngũ âm, bộ trống Sadăm như thôi thúc lòng người. Tết năm nay, ngoài việc thăm hỏi các nhà sư, các vị lão thành, tỉnh Vĩnh Long tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa, văn nghệ, góp phần duy trì được nét sinh hoạt truyền thống, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer.


Tiết mục bắn cung trong Liên hoan nghệ thuật quần chúng
và biểu diễn thời trang đồng bàoKhmer
Ảnh: Quốc Trung

Ở TP. Cần Thơ, tuy số lượng đồng bào Khmer ít hơn các nơi khác nhưng Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ thành phố vẫn tổ chức trọng thể các buổi họp mặt và đến từng chùa thăm hỏi, chúc Tết các vị sư sãi và bà con Khmer. Với các chủ trương, chính sách chăm lo cho đồng bào Khmer, đời sống bà con Khmer được cải thiện đáng kể.

Tết Chôl Chnăm Thmây đã trở thành ngày Tết đoàn kết của cộng đồng các dân tộc vùng ĐBSCL.

Khánh - Minh - Trung - Hà
TP. Hồ Chí Minh:
Chúc Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây 2012

Sáng 11-4, Đoàn lãnh đạo Ủy ban MTTQ TP. Hồ Chí Minh đã đến thăm và chúc Tết chư tăng ni, Phật tử và đồng bào dân tộc Khmer tại chùa Candaransì Chantarangsay (quận 3, TP. Hồ Chí Minh) nhân Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây 2012.

Đoàn đã trao tặng 50 phần quà (trị giá 400.000/phần) cho những hộ khó khăn người Khmer. Ông Trần Trung Tính – Phó Chủ tịch UB MTTQ TP. Hồ Chí Minh đã gửi tới chư tăng ni, Phật tử lời chúc năm mới thịnh vượng, tiếp tục truyền thống đạo lý "sống tốt đời, đẹp đạo” của dân tộc. Trong những ngày Tết, các tăng ni và Phật tử dân tộc Khmer tổ chức lễ hội mừng năm mới phong phú với các chương trình như: lễ đón năm mới và lễ rước chư Thiên, thuyết pháp, lễ bái Tam bảo, đại lễ cầu siêu cho anh linh các anh hùng, liệt sĩ, thai nhi bất hạnh, nạn nhân thiên tai, lũ lụt...

Cùng ngày, Đoàn lãnh đạo Ủy ban MTTQ TP. Hồ Chí Minh tiếp tục đến chúc tết chư tăng ni, Phật tử và đồng bào dân tộc Khmer tại chùa Pothiwong (quận Tân Bình) nhân dịp Tết cổ truyền.

THÀNH LUÂN

Bảo tồn và phát huy giá trị Tết cổ truyền dân tộc


Bảo tồn và phát huy giá trị Tết cổ truyền dân tộc


Tết có nghiã là “tiết”. Tiết là tiết trời, là một khoảnh khắc thời gian đánh dấu sự vận chuyển của tự nhiên trong bốn mùa của một năm.
Theo lịch âm (nông lịch) của người Trung Quốc xưa, trong năm có bốn mùa, mỗi mùa có 3 tháng, mỗi tháng có một tiết và một khí. Thí dụ, ở mùa xuân, tháng giêng có tiết lập xuân, khí vũ thủy (mưa rào), tháng 2 có tiết kinh trập (sâu nở), khí xuân phân, tháng 3 có tiết thanh minh, khí cốc vũ (mưa rào); mùa hạ, tháng tư có tiết lập hạ, khí tiểu mãn (nước đầu nguồn), tháng 5 có tiết mang chủng măng nhô lên, khí hạ chí, tháng 6 có tiết tiểu thử (nóng ít), khí đại thử (nóng nhiều); mùa thu, tháng 7 có tiết lập thu, khí xử thử (tránh nắng); tháng 8 có tiết bạch lộ (nắng nhạt), khí sương giáng (sương xuống); mùa đông, tháng 10 có tiết lập đông, khí tiểu tuyết, tháng 11 có tiết đại tuyết, khí đông chí, tháng 12 có tiết tiểu hàn, khí đại hàn.
Ở Việt Nam, cư dân nông nghiệp thường tổ chức một Tết theo chu kỳ mùa vụ. Một năm có nhiều tiết do đó cũng có nhiều Tết. Có Tết to (Tết cả) đánh dấu sự chuyển giao của một năm và Tết bé (Tết con) đánh dấu khoảnh khắc quan trọng của một mùa.
Mùa xuân - mùa mở đầu cho một năm mới có Tết cả (Tết Nguyên đán ngày 30 tháng Chạp, ngày 1 và 2 tháng Giêng), Tết Nguyên tiêu (15-1), Tết Hàn thực (3-3). Mùa hạ có Tết Đoan ngọ (5-5). Mùa thu có Tết Trung thu (15-8). Mùa đông có Tết Cơm mới (10-10).
Tết Nguyên đán to nhất trong năm nên được tổ chức trong 3 ngày, còn các Tết con chỉ được tổ chức trong một ngày.
Tết Nguyên đán là mốc chuyển giao của năm cũ sang năm mới. Năm mới bắt đầu từ mùa xuân khi khí dương ấm áp tràn đầy, trời có mưa xuân, có nắng xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái, chim hót véo von, người dân sau một năm lao động vất vả, tổ chức ăn Tết, hy vọng một năm mới tốt lành.
Từ ngàn năm nay, việc tổ chức Tết Nguyên đán đã trở thành phong tục, tập quán, là nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Theo đó, mọi hoạt động trước và sau Tết để có một cái Tết đầm ấm, sum họp đều gắn liền với từ Tết. Tết có nhiều nội dung như sắm Tết, lễ Tết, chúc Tết, ăn Tết, chơi Tết, tuy nhiên nói đến Tết - người ta thường nhắc tới nét đặc sắc nhất góp phần quyết định nhất tạo nên văn hóa Tết, đó là: “Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh/Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”.
Cây nêu là một biểu tượng mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Đó là một cây tre tươi được dựng ở trước cửa nhà, trên ngọn có treo chuông khánh và dải phướn xanh, đỏ của nhà Phật, ở phía dưới gốc được vẽ bằng vôi trắng một vòng cung, giữa có hình mũi tên. Theo người xưa, trồng cây nêu để khẳng định đất của người là do Phật đã định sẵn, lũ quỷ đừng có xâm phạm. Nếu quỷ ở xa nghe tiếng chuông khánh kêu, nhìn thấy màu cờ phướn xanh, đỏ, hoặc đến gần trông thấy vạch vôi, thì biết đó là đất người ở, không được xâm phạm. Do vậy Tết đến, nhà nào cũng trồng cây nêu để ăn Tết vui vẻ, không sợ bị quỷ quấy phá. Cây nêu phản ánh ước vọng về cuộc sống bình yên của người xưa trong cuộc đấu tranh với mọi thế lực xấu mang ý nghĩa văn hóa tâm linh sâu sắc. Thời hiện đại, còn ít gia đình dựng cây nêu, vì không mấy ai tin vào ma quỷ, tuy nhiên ước vọng về hòa bình, về cuộc sống bình yên vẫn không bao giờ hết trong đời sống của người dân Việt.
Tràng pháo (bánh pháo được kết từ nhiều quả, nối dài) là một đặc trưng của Tết Nguyên đán. Pháo được dùng trong dịp Tết nên gọi là pháo Tết. Xưa có những làng có nghề làm pháo nổi tiếng như Bình Đà ở Hà Đông cũ, Đồng Kỵ ở Bắc Ninh. Pháo tết có nhiều loại: pháo bánh, pháo lẻ từng quả, pháo đùng (quả to và tiếng nổ to), pháo dây, pháo ném... Trước Tết, trẻ con hay đốt loại pháo con, từng quả, tiếng nổ đì đẹt nghe rất vui tai. Thời điểm đốt pháo được nhiều người chọn nhất là phút sang canh (Giao thừa). Địa điểm đốt pháo tốt nhất là bậc thềm nhà. Để cho pháo nổ giòn, nổ hết, người ta phải gói và để pháo nơi khô ráo. Nếu đốt pháo mà không nổ hết, hoặc xịt nhiều là không may mắn. Pháo nổ đêm Giao thừa - thời điểm chuyển giao của năm cũ và năm mới, do hơi nóng của pháo, khí dương từ ngoài sân tràn vào nhà, tống khí âm lạnh ra, xác pháo sắc hồng tươi tắn trải ở thềm, trong nhà và ngoài sân mang hơi ấm biểu trưng cho may mắn, tốt lành của năm mới. Gia đình khá giả thì sáng mồng một Tết, lúc bình minh lại đốt một bánh nữa, và sáng mồng hai một bánh. Nếu 3 ngày Tết đều có tiếng pháo nổ giòn giã thì vận may mắn tốt lành đến nhiều. Ngày nay, vì lý do an toàn tính mạng và tài sản của người dân, Nhà nước đã bỏ tục đốt pháo Tết. Nhân dân, đặc biệt là người dân ở các làng nghề làm pháo xưa chấp hành nghiêm chỉnh vì thấy cái lợi là tiết kiệm, đỡ lãng phí, không lo cháy nhà, chết người do làm pháo, đốt pháo. Hiện nay, vẫn còn những kẻ do hám lợi, bất chấp chính sách, pháp luật của Nhà nước lén lút thực hiện hành vi mua bán, vận chuyển pháo lậu qua biên giới, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự xã hội, cần phải nghiêm khắc lên án, trừng phạt.
Sau cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh là hương vị đặc biệt của Tết Nguyên đán. Trong chuyện bánh chưng, bánh dày, người xưa quan niệm đất vuông tượng trưng cho Mẹ. Mẹ đất cho mùa màng, nuôi sống con người. Lang Liêu - hoàng tử nghèo đã dâng lên vua Hùng là người có công mở nước sản phẩm quý nhất của Mẹ đất, đó là bánh chưng để tỏ lòng biết ơn vua cha. Vậy nên, bánh chưng xanh ngày Tết không chủ có ý nghĩa ẩm thực, mà còn có ý nghĩa sâu xa là nhắc nhở mọi người nhớ ơn công cha nghĩa mẹ, nhớ về nguồn cội của tổ tiên nòi giống Lạc Hồng.
Để có bánh chưng Tết, từ tháng 10 âm lịch khi thu hoạch vụ mùa, nhà nào cũng chú ý chọn một số lượng nếp cái hoa vàng ngon để dành đến Tết. Trước Tết khoảng 10 ngày, các phiên chợ Tết được mở ra. Đi chợ Tết để sắm Tết và chơi Tết. Ở chợ Tết, dù ở nông thôn hay thành thị, những thực phẩm như lợn, gà, cá, rau quả, măng miến, mộc nhĩ, nấm hương… được mua bán nhộn nhịp. Để có nồi bánh chưng như ý, mỗi gia đình phải chuẩn bị nhiều thứ như: lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, hành, hạt tiêu, lạt giang, củi. Thứ lá để giữ cho bánh có màu xanh thắm là lá dong. Lá dong được cắt hái từ trong rừng ở các tỉnh miền núi. Lá dong phải là lá nếp, nếu ai không biết chọn, tham tàu to dễ bị mua phải lá tẻ. Bánh chưng gói lá tẻ màu sẽ trắng nhạt, là điều kiêng cần tránh.
Để gói bánh chưng, người ta có thể gói bằng khuôn cho đều, song những người gói giỏi thì không cần khuôn, họ có thể gói bằng tay không, bánh vẫn vuông và đẹp. Để có bánh chưng ngon, gạo nếp phải được chọn kỹ. Nếp cái hoa vàng được xay giã cẩn thận, vo sạch để ráo nước mới gói. Khi gói, người ta không quên sóc một ít muối cho bánh có vị đậm. Bánh ngon không chỉ cần có gạo nếp thơm mà còn phải có nhân. Nhân bánh gồm có nhiều thứ, nhưng quan trọng nhất là đậu và thịt. Đậu xanh để làm nhân cũng được chọn cẩn thận từ vụ thu hoạch trước. Đậu làm nhân có thể thổi xôi đậu, giã mịn, hoặc cũng có thể gói bằng đậu xay để sống. Thịt gói đương nhiên phải là thịt lợn ngon, nếu chọn được thịt mông là tốt nhất. Thịt thái miếng dài, to, có trộn hạt tiêu, nước mắm ngon đặt giữa hai lớp đậu và gạo, khi nấu bánh, phần mỡ cháy thấm vào bánh, chỉ còn lại nhân thịt tạo nên mùi vị thơm ngon hấp dẫn người ăn. Bánh chưng là món không thể thiếu mỗi khi Tết đến, xuân về. Có bánh chưng, trước là để dâng cúng tổ tiên, nhớ đền ơn nghĩa, sau là ăn Tết.
Mâm cơm Tết bao giờ và nhất thiết phải có đĩa bánh chưng. Tuy nhiên, thời trước cách mạng Tháng Tám thành công, không phải nhà nào cũng có gạo nếp để nấu bánh cúng tổ tiên và ăn Tết; nhà nghèo lo được ít gạo nếp thổi xôi cũng đã là quý lắm rồi. Do cuộc sống lo đủ hôm nay, có lẽ người ta không còn tâm lý lo toan hoặc mãn nguyện để có nồi bánh chưng Tết nữa. Song dù có cuộc sống có đổi thay, thì bánh chưng ngày Tết cũng đã đi vào tâm thức người dân Việt, góp phần tạo nên sự hấp dẫn kỳ lạ của văn hóa Tết cổ truyền Việt Nam. 
Trong các món ăn ngày tết thì thịt mỡ, dưa hành cũng là hai món ăn không thể thiếu. Người xưa có câu: “No ba ngày Tết, ấm ba tháng hè”. Trong ba ngày Tết, vừa được nghỉ ngơi lại vừa được ăn thức ăn có nhiều chất béo như thịt mỡ…thì để tiêu hóa tốt khi ăn thịt mỡ (mang tính âm) người ta thường có món dưa hành (hành củ già muối dưa có vị chua mang tính dương) góp phần làm tiêu mỡ, đỡ ngấy. 
Đặc biệt, cùng với cây nêu, tràng pháo, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, được chú ý nhất và cũng là đặc trưng nhất của Tết cả  chính là câu đối.
Câu đối Tết là thú chơi thanh tao của mọi người, mọi nhà (thứ nhất chơi chữ, thì nhì chơi tranh, thứ ba chơi sành, thứ bốn chơi gỗ).
Câu đối là hai vế đối nhau được treo hoặc dán trên tường hoặc cột trụ. Câu đối viết bằng chữ Hán xưa nhất gồm hai chữ “đối” và “liên”. “Đối” là chỉ sự vật thành đôi, “liên” là có hàm ý kết hợp, liên kết. Câu đối là những câu chữ thành đôi, vì thế phải có hai vế thì mới là câu đối. Câu đối Tết là một loại hình thức nghệ thuật đặc thù được sử dụng bằng ngôn ngữ sinh động, đẹp đẽ để diễn tả tư tưởng, tình cảm, sự vui mừng và cả những ước vọng của con người khi Tết đến, Xuân về.
Câu đối chúc mừng Tết Nguyên đán là câu đối Xuân (xuân liên), sử dụng vào mùa xuân có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tương truyền, vào thời Tần, Hán cách ngày nay khoảng hơn 2000 năm, cư dân của vùng Trung Nguyên đón Tết mùa xuân, thường lấy hai cành đào treo hai bên cửa ra vào, trên đó vẽ hình của hai anh em có tài bắt ma có tên là Thần Trà và Úc Lỗi, được tôn xưng là Vị Thần giữ cửa (Môn Thần). Mục đích của việc này nhằm trấn áp yêu tà, xua đuổi ma quỷ, cầu đón hạnh phúc, nghênh tiếp cát tường. Phong tục này được kéo dài hơn 1000 năm, cho đến thời kỳ Ngũ đại thế kỷ X, đặc biệt vào triều Đường, cùng với sự hưng thịnh của thể văn biền ngẫu và luật thơ, tao nhân mặc khách bắt đầu sử dụng những câu chúc mừng cát tường để thay thế cho hình ảnh vị Thần giữ cửa. Từ đó trở đi, nội dung của bùa chú cây đào đã có sự thay đổi về chất. Người ta đã viết lên trên hai cành đào những câu văn theo thể biền ngẫu. Theo ghi chép của “Tống sử Thục thế gia” (Thế gia của triều Thục, trong bộ Tống sử) thì Hoàng đế của triều Hậu Thục thời kỳ Ngũ đại là Mạnh Sưởng có thói quen: “Mỗi khi đến đêm ba mươi, sai học sĩ làm bài từ, chép vào bùa chú cây đào, đặt ở bên phải, bên trái của phòng ngủ. Cuối năm 964 sau CN, học sĩ Tân Dần Tốn theo lệnh đương kim Hoàng đế soạn một bài từ, Mạnh Sưởng thẩm duyệt cho rằng chưa được hay, bèn tự tay ngự đề: “Tân niên nạp dư khánh, Hỷ tiết hiệu trường xuân” (Năm mới thu nhiều phúc, Tết vui gọi mãi xuân). Giới nghiên cứu Trung Quốc đều coi đây là câu đối đầu tiên được xuất hiện trong quốc gia này.
Đến đời Tống (960-1279), việc treo câu đối mùa xuân mỗi khi Tết đến đã trở thành một phong tục phổ biến trong dân gian. Vương An Thạch từng viết câu thơ: “Thiên hộ vạn hộ đồng đồng nhật, Tổng bả tân đào hoán cựu phù” (Bình minh một ngày tới, muôn nhà nghìn cổng đều dùng cành đào mới thay cho bùa chú cũ). Đây chính là một sự miêu tả chân thực đối với cảnh tượng đầu năm mới treo câu đối trong dân gian. Trong đó, xuất hiện mối quan hệ câu đối xuân và cụm từ bùa chú cây đào (đào phù), vì thế đời sau gọi đào phù để chỉ câu đối mùa xuân (xuân liên). Sau này, mọi người dần dần dùng giấy để viết câu đối thay cho cành đào.
Trong thời Minh, giấy đỏ đã được sử dụng để thay cho cành đào viết câu đối, giống như câu đối ngày nay được các ông đồ bày trên phố mỗi khi Tết đến, Xuân về.
Sang thời Thanh, đặc biệt, thời gian hơn 122 năm trị vì thịnh trị của hai triều vua ông cháu là Khang Hy (1661-1722) và Càn Long (1736-1796), nghệ thuật câu đối càng trở nên hoàn mỹ, đạt đến trình độ đỉnh cao. Đương thời, từ cung điện xa hoa của triều đình cho đến những ngôi nhà lợp cỏ gianh tại các miền quê xa xôi, đều có câu đối trang hoàng ngay trước cổng ra vào. Câu đối được sử dụng rộng rãi tại mọi nơi, không chỉ vì nội dung câu đối đề cập đến mọi lĩnh vực của cuộc sống, mà nghệ thuật thư pháp cũng đạt tới tầm cao. Chính vì vậy, câu đối đã có sức lôi cuốn hàng triệu triệu người thưởng thức và yêu mến.
Ở Việt Nam, chữ Nôm hình thành từ thời Trần và có một địa vị quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần. Đến thời Lê Mạt, câu đối Nôm được nhiều người làm như Hồ Xuân Hương, Phạm Thái. Ở thời Nguyễn, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến đã để lại nhiều câu đối Nôm tuyệt tác. Câu đối Nôm với câu đối chữ Hán song song tồn tại trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam. Thời cách mạng, câu đối bằng chữ Quốc ngữ được nhiều người viết, chiếm vị trí quan trọng trong giáo dục tư tưởng trong nhân dân. Tết đến, Xuân về, nhà nhà khang thái, vui đón mùa xuân. Hình ảnh ông đồ già mài mực bên giấy điều đỏ, viết câu đối trong phiên chợ Tết đã trở thành nét đặc trưng của văn hóa Tết...
Có nhiều câu đối tết hay được treo trong các gia đình, dòng họ như:
- Trời thêm tuổi mới, người thêm thọ
Xuân khắp mọi nơi, phúc khắp nhà
- Trăm hoa đua nở đón ngày xuân
Hạnh phúc tươi vui mừng tuổi mới
- Chín chữ cù lao(1) công đức nặng
Một lòng thành kính khói hương thơm
- Trời thêm tuổi mới, năm thêm thọ                                                                                        
Xuân khắp càn khôn, phúc khắp nhà
- Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa Xuân
Người có trăm tính, hiếu thảo là trước hết
- Năm mới hạnh phúc bình an đến
Ngày Xuân vinh hoa phú quý về
- Đa phúc đa tài đa phú quý
  Đắc tài đắc lộc đắc nhân tâm
- Tết đến, rượu ngon đưa mấy chén
Xuân về, bút mới thử vài trang.
Ngoài ra để có cái Tết đầy đủ trọn vẹn người ta còn phải sắm những thứ cần thiết như chuối xanh, cam, bưởi để bày ngũ quả, hương vòng, hương nén thơm, trầu cau, áo mới cho trẻ và đặc biệt là hoa. Hoa Tết truyền thống là hoa đào và cây quất. Hoa đào thường có hai loại là cây và cành. Nhà khá giả thường chơi cây đào thế. Đào thế được trồng ngoài đồng, Tết được đánh lên đặt trong chậu. Đào thế có nhiều thế khác nhau như ngũ phúc, tam đa, rồng chầu... Có người thích màu hồng nhạt của giống đào phai, nhiều người lại ưa màu đỏ thẫm của đào bích.. Cành đào thường được cắm trong lọ lộc bình trên bàn thờ gia tiên. Hoa đào vừa có sắc lại vừa có hương, là biểu tượng cho cái đằm thắm, tươi mới của mùa xuân, mang hạnh phúc đến với mọi nhà.
Ở Hà Nội có làng đào Nhật Tân nổi tiếng. Giờ do quá trình đô thị hóa, tấc đất là tấc vàng, cảnh cánh đồng đào Nhật Tân trước đây không còn nữa, song người Hà Nội đã biết lưu giữ giống đào bích Nhật Tân bằng cách trồng ngoài bãi sông Hồng…Vì thế sắc hoa đào Tết vẫn rực rỡ trên chợ hoa phố Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Đào. Và giờ đây, nhiều địa phương ở đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định... cũng trồng đào đáp ứng nhu cầu người dân trong ngày Tết cổ truyền. Các loài hoa khác cũng được dùng nhiều trong các gia đình ngày Tết như: huệ, hải đường, lay ơn, thược dược, cúc vàng… Hoa huệ, hoa hải đường để thờ vì hương sắc được cả. Hoa dơn, thược dược, viôlet, cúc vàng, hoa hồng cắm lọ ở phòng khách. Những gia đình khá giả ở Hà Nội có thú chơi hoa thủy tiên thanh tao, biểu tượng cốt cách người quân tử. Xưa, vua thì chơi hoa lan, còn quan thời thì chơi hoa trà. Thời nay, kinh tế phát triển đời sống các tầng lớp nhân dân được nâng lên nhiều, không phân biệt đẳng cấp ai cũng có thể mua hoa trà và chậu lan chơi Tết.
Xã hội ngày càng phát triển, con người có nhiều cái vui mới, song không thể quên cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp đặc trưng nhất của văn hóa Tết cổ truyền trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt./.
-----------------------
(1)"Chín chữ cù lao" chỉ công lao trời biển của cha mẹ đối với con cái: Sinh (công sinh thành), Cúc (công chăm sóc, phục vụ), Phủ  (công ôm ấp, che chở), Súc (lòng mong mỏi con khôn lớn), Trưởng (mong con trưởng thành), Dục (công dạy dỗ), Cố (công chăm sóc, quan tâm), Phục (công uốn nắn, dạy bảo), Phúc (công bao bọc, che chắn).
 PGS.TS Trần Đăng Sinh 

Tết cổ truyền và ước vọng người dân bán đảo Triều Tiên


Tết cổ truyền và ước vọng người dân bán đảo Triều Tiên


Toquoc)-Từ hơn 50 năm nay,mỗi độ Xuân về,người dân trên bán đảo Triều Tiên ngoài cầu mong hạnh phúc,no ấm còn có ước vọng cháy bỏng: hòa bình, thống nhất và đoàn tụ.

Người dân trên bán đảo Triều Tiên giống như cư dân của một số nước châu Á khác (Trung Quốc, Việt Nam, Mông Cổ,…) đón Tết truyền thống dựa vào nông lịch (lịch mặt trăng – mặt trời), có ngày trùng hoặc gần nhau.
Những ngày mùa Đông này, khi con người bắt đầu cảm nhận được cái rét của thời tiết cũng là lúc bầu không khí chính trị trên bán đảo Triều Tiên “nóng” lên. Không chỉ là những lời đe dọa, những cuộc “khẩu chiến” giữa hai miền Nam - Bắc, tiếng súng đạn, tên lửa đã bùng lên trong đợt đấu pháo hồi cuối tháng 11. Đã có người chết, máu đổ…
Nhưng dù là vùng đất chiến tranh, xung đột, hay miền đất bình an, theo quy luật tự nhiên, Đông qua là Xuân lại đến. Mỗi độ xuân về, con người ai ai cũng cầu mong hạnh phúc, ấm no nhưng với người dân trên bán đảo Triều Tiên, từ hơn 50 năm qua, đó còn là ước vọng hòa bình, thống nhất và đoàn tụ.
Tết cổ truyền
Khác với không khí ồn ào khi tổ chức đón năm mới của các nơi khác tại châu Á, người Triều Tiên có một năm mới khá yên bình với những người thân trong gia đình. Do sự hội nhập về văn hóa, những người dân trên bán đảo Triều Tiên thường tổ chức cả 2 ngày tết là tết dương lịch và tết âm lịch. Ngày tết âm lịch ở Triều Tiên, dù là miền bắc hay Nam, được gọi là So-nal, hầu hết các thành viên trong đại gia đình từ khắp nơi trở về và cùng nhau tổ chức ngày lễ đặc biệt này.
Người Hàn Quốc cũng có phong tục lì xì đầu năm mới cho trẻ em lấy may
Ngày đầu năm, người Triều Tiên thức dậy từ rất sớm, lúc mặt trời vừa ló. Mỗi người sẽ lấy một ít tiền cho vào trong hình nộm bằng rơm, sau đó đem bỏ ra ngoài phố để đuổi tà ma, đón vận may. Đến xế chiều, người ta lấy tóc rụng được thu thập trong năm đem ra đốt, mong sự bình an cho cả năm.
Tết âm lịch là lễ hội quan trọng thứ 2 tại Hàn Quốc, chỉ sau lễ Chu’usok (lễ hội thu hoạch). Hàng năm, vào dịp lễ này các thành viên gia đình thường hành hương về nơi tổ tiên đã sống hàng thế kỷ qua. Khoảng 30 trong tổng số 48 triệu dân Hàn Quốc, phần lớn là dân thành thị thế hệ thứ 1 hoặc thứ 2, chọn việc ăn tết tại quê hương. Đây cũng là dịp mà giới trẻ đi du lịch nước ngoài hoặc đi trượt tuyết.
Trong ngày cuối cùng của năm cũ, người dân Triều Tiên chuẩn bị một chiếc rổ lớn làm bằng rơm và treo trước cửa nhà để xua đi cái xui xẻo của năm cũ cũng như đón may mắn và tốt đẹp đến với năm mới. Những đứa trẻ sẽ cố gắng thức qua thời điểm nửa đêm vì theo truyền thuyết dân gian Triều Tiên, nếu chúng ngủ quên vào thời điểm này, mắt sẽ bị biến thành màu trắng.
Tết đến, mọi người đều diện trang phục truyền thống của dân tộc Triều Tiên mới may dành riêng cho dịp tết. Những bộ trang phục này mang màu sắc riêng, chúng được trang trí bằng 5 màu chính và được gọi là Sol-bim.
Vào sáng sớm của ngày đầu tiên năm mới, các thành viên trong gia đình quây quần bên người ông cao tuổi nhất trong nhà để tổ chức nghi lễ Cha-rye (lễ tạ ơn gia tiên). Cả nhà sẽ cùng nhau dùng Ttok-kuk, món ăn được làm từ nước cơm, với chiếc bánh gạo và đậu xanh trong đó.
Ttok-kuk có ý nghĩa là “tăng xuân”, họ tin rằng vào ngày đầu tiên của năm mới nếu dùng một bát Ttok-kuk thì họ sẽ được thêm một tuổi nữa. Người Triều Tiên quan niệm khi họ thêm 1 tuổi là khi hết năm cũ chứ không phải sau ngày sinh nhật như những nơi khác.
Sau bữa sáng rất đặc biệt của ngày mồng Một tết, những người trẻ tuổi trong gia đình sẽ tổ chức nghi lễ đặc biệt chúc phúc tới ông bà trong gia đình, nghi lễ này được gọi là Sa-bae hay Sol. Nghi thức thực hiện khá cầu kỳ, đối với đàn ông, họ quỳ gối trước mặt ông bà, với 2 tay đặt trước trán, sau đó cúi thấp xuống lạy đến khi 2 tay chạm tới đất. Còn đối với phụ nữ còn phức tạp hơn thế, họ phải nhờ người đỡ để ngồi được bằng 2 tay, sau đó phải quỳ lạy ông bà bằng hông. Còn đối với những đứa trẻ, nghi lễ này thật thú vị, sau màn quỳ bái, chúng nhận được những phong lì xì nhiều màu từ ông bà, được gọi là Bok-ju-mo-ny, trong đó có những món tiền nhỏ với lời chúc mau ăn chóng lớn từ ông bà.
Sau nghi lễ chúc phúc, bọn trẻ ùa ra đường, bé trai tham gia cùng nhau thả diều và chơi quay còn các bé gái tham gia chơi bập bênh cùng nhau. Ở trong nhà, những người khác tham gia trò chơi dân gian Yut-no-ri. Những ngày tết là thời gian giải trí vui vẻ nhất của tất cả người dân tại bán đảo Triều Tiên, bời vì theo truyền thống từ ngàn đời, những ngày này cả đại gia đình sum họp, cùng nhau tổ chức ăn uống, trò truyện và vui chơi cả ngày.
Ước vọng hòa bình, thống nhất và đoàn tụ
Thế nhưng, Tết năm nay cũng như nhiều năm trong gần 6 thập niên qua, Tết với người dân trên bán đảo Triều Tiên không trọn vẹn bởi nỗi lo, ám ảnh chiến tranh luôn thường trực. Những vết thương mới chồng chất vết thương cũ, những gia đình ly tán mấy chục năm qua vẫn chưa một lần được đoàn tụ ngay cả trong những ngày Tết truyền thống.
ước mơ đoàn tụ của người dân trên bán đảo Triều Tiên
Bởi vì, chiến tranh Triều Tiên đã kết thúc năm 1953, nhưng hòa bình “vẫn chưa bao giờ đến”, theo từ ngữ của cả hai bên. Quân đội các bên đã hạ vũ khí vào ngày 27/6/1953, 3 năm sau cuộc chiến tranh đã làm 140.000 lính Hàn Quốc, 36.000 lính Mỹ và 1 triệu dân thường thiệt mạng.
Hiệp định Đình chiến được Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Il-sung (người thành lập nước và là cha đẻ của Nhà lãnh đạo Triều Tiên hiện nay Kim Jong-il), đại diện Trung Quốc (cũng là bên tham chiến, ủng hộ Triều Tiên) và một tướng Mỹ đại diện Bộ chỉ huy của lực lượng Liên Hợp Quốc ký kết.
Hiệp định Đình chiến cho đến nay vẫn có hiệu lực. Những năm qua, Hàn Quốc và Triều Tiên đã ký một loạt thỏa thuận không gây chiến và không can thiệp lẫn nhau. Năm 2000, hai bên đã đạt được một cam kết bước ngoặt kêu gọi chấm dứt nhiều năm thù địch, tiến tới hòa bình và hợp tác. Hai bên đã thực thi những dự án thương mại, mỗi năm mang lại cho Triều Tiên hàng trăm triệu USD.
Năm 2010, một loạt các sự kiện đã làm gia tăng căng thẳng giữa hai bên. Vụ chìm tàu Cheonan rồi hàng loạt các cuộc khẩu chiến, tập trận răn đe của Hàn Quốc – Mỹ - Nhật Bản “hâm nóng” quan hệ hai miền. Căng thẳng lên tới đỉnh điểm sau vụ đấu pháo hôm 23/11. Bán đảo Triều Tiên bị đẩy đến “bên miệng hố chiến tranh”, giới phân tích chính trị quốc tế nhiều lần cảnh báo về một cuộc chiến tranh nóng cục bộ có thể xảy ra bất cứ lúc nào, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc chiến toàn diện, chiến tranh thế giới lần thứ 3.
Nhưng, bất cứ người dân nào trên bán đảo Triều Tiên nói riêng và người dân tiến bộ trên thế giới nói chung, đều không mong muốn phải đối mặt với chiến tranh. Bởi ai cũng hiểu rằng, chiến tranh sẽ tàn phá mọi thứ, nếu bom đạn chiến tranh nổ trên bán đảo này thì sau đó mọi thứ sẽ bị hủy diệt.
Một tâm lý hoang mang, lo sợ không riêng gì với người dân trên đảo Yeonpyeong mà tất cả người dân trên bán đảo Triều Tiên.
Người Hàn Quốc lo sợ cuộc sống bình yên sau mấy chục năm gây dựng từ con số 0 sau cuộc nội chiến gần 6 thập kỷ trước sẽ bị chiến tranh phá hủy tan tành. Người Bắc Triều Tiên lo sợ ngay cả cuộc sống nghèo khó vốn đang bất ổn do thiên tai liên tiếp tấn công sẽ tệ hại hơn nếu chiến tranh nổ ra. Những bà mẹ Triều Tiên lo sợ cho tính mạng của những đứa con, bởi theo pháp luật, bất kể nam giới nào ở Hàn Quốc cũng phải đi lính ít nhất 2 năm, còn đàn ông Bắc Triều Tiên trung bình có thời gian phục vụ trong quân ngũ 10 năm/người.
Hơn bất kỳ người dân ở nơi đâu, khi Xuân về, người Triều Tiên gần 60 năm qua vẫn ước vọng về một nền hòa bình, thống nhất và đoàn tụ. Nhưng thống nhất trên bán đảo Triều Tiên phải đạt được trên bàn đàm phán, bằng con đường ngoại giao chứ không phải bằng súng đạn, thôn tín, xâm chiếm.
Cuộc chiến tranh 1950 – 1953 ngoài hậu quả là hàng triệu người thiệt mạng, còn khiến khoảng 80.000 người dân Hàn Quốc bị ly tán với người thân của họ tại Bắc Triều Tiên. Nhiều người trong số họ đã không thể chờ đợi đến ngày đoàn tụ do tuổi cao.
Kể từ hội nghị cấp cao liên Triều năm 2000 đến nay, hơn 20.800 người đã được tham gia vào các chương trình đoàn tụ ngắn ngủi với gia đình trong các cuộc gặp trực tiếp hoặc gặp thông qua băng hình. Lần mới đây nhất là hồi đầu tháng 11, chỉ ít ngày sau đó xảy ra cuộc đọ pháo khiến ước vọng đoàn tụ của những người ly tán đã cao tuổi ngày càng thêm xa vời bởi tuổi già, cái chết và tàn khốc hơn là chiến tranh.
Tuổi già và cái chết là quy luật tất yếu của cuộc sống. Nhưng chiến tranh do con người gây ra và chỉ con người mới có thể ngăn chặn. Những ngày gần đây, cả Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đều có những tuyên bố mềm mỏng hơn. Người dân trên bán đảo Triều Tiên và nhân dân tiến bộ thế giới vẫn nuôi hy vọng những ước vọng hòa bình, thống nhất và đoàn tụ sẽ trở thành hiện thực trên mảnh đất bị chia cắt, xung đột mấy chục năm qua.
H.Nhân