Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Người Mông đón Tết Nguyên đán


Người Mông đón Tết Nguyên đán


Dân trí) - Mây trắng giăng phủ núi rừng, tiết trời giá lạnh là đặc trưng của xã vùng cao biên giới nhưng không làm giảm không khí náo nhiệt, vui tươi của bà con đồng bào Mông xã Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn, Nghệ An) phấn chấn đón Tết Nguyên đán.

Ông Lầu Giống Dìa làm lễ cúng vía bên bàn thời gia đình.
Ông Lầu Giống Dìa làm lễ cúng vía bên bàn thời gia đình.
 Ông Lầu Giống Dìa làm lễ cúng vía bên bàn thời gia đình.
 
Tạm gác bộn bề công việc nương rẫy, trai gái xúng xích trong trang phục truyền thống trẩy hội vui xuân. Ngày Tết cũng là dịp để con cháu, anh em họ hàng sum họp, gặp gỡ cùng chúc nhau một năm mới an lành, mùa màng bội thu…
 
Gia đình ông Ông Lầu Giống Dìa, già làng ở ở bản Trường Sơn (xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn) năm nay đón Tết vui lắm. Lúa, khoai, ngô, gừng gia đình ông trồng trên rẫy được mùa nên năm nay cả nhà đón Tết no đủ hơn. Ngày đầu năm mới gia đình ông Lầu Giống Dìa lúc nào cũng tấp nập người ra vào, bà con trong bản đến chung vui mừng năm mới. Địa bàn biên giới nên thời tiết ở Nậm Cắn lúc nào nhiệt độ thấp hơn những vùng khác nên mùa đông nhà nào cũng nhóm bếp lửa sưởi ấm trong nhà.
 
Ngồi quay quần bên bếp lửa, mọi người cùng nhìn lại một năm qua đã làm được gì và những gì chưa đạt, dự tính trong một năm mới. Tết của người Mông mang đậm bản sắc của bản làng vùng cao. Bên bếp lửa hồng, ông Lầu Giống Dìa chia sẻ với chúng tôi: “Trước đây người Mông ở huyện Kỳ Sơn đón tết riêng, nhưng từ khi thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động người Mông ăn tết cùng với Tết cổ truyền của cả nước, thời gian ăn tết cũng được rút ngắn hơn. Tuy nhiên, không vì thế mà nhiều nét riêng độc đáo của đồng bào Mông bị mất đi”.
  
Sau khi làm lễ tế, con gà được đem cắt tiết.
Sau khi làm lễ tế, con gà được đem cắt tiết.
 
và lấy những giọt máu làm vía cửa vào nhà.
và lấy những giọt máu làm vía cửa vào nhà.
Sáng 30 Tết cả dòng họ đều tập trung làm cây “nêu’’(theo tiếng Mông gọi là Gô Cay) để làm lễ giải xui xua đi những điều không may mắn, cầu mong những điều tốt lành sẽ đến trong năm mới. Ngày tết, người Mông không gói bánh chưng, bánh giày mà gói bánh Mông (bánh đặc trưng của đồng bào Mông). Thứ bánh được làm bằng nếp nương. Nếp được hông chín, sau đó thanh niên trai tráng giã nhuyễn rồi đem gói vào lá dong. Bánh có thể để được hàng tháng trời, khi ăn có thể đem hấp nướng hoặc rán lại. Với người Mông ở Nậm Cắn (Kỳ Sơn) bánh Mông là thứ hết sức có ý nghĩa nó tượng trưng cho mặt trăng, mặt trời, nguồn gốc sinh ra vũ trụ và loài người.
Bàn thờ của người Mông ở Nậm Cắn được đặt giữa gian thứ 2 của nhà và bày biện đơn sơ. Đêm giao thừa mỗi gia đình thường chuẩn bị 3 con gà. Hai con gà được dùng để làm vía, một con được dùng để cúng tổ tiên. Trước khi làm thịt gà, thầy cúng làm lễ với trứng gà. Số lượng trứng gà thường bằng số người trong gia đình cộng thêm 3 quả để gọi hồn vía của tổ tiên, gia súc gia cầm và hồn vía hoa màu về ăn tết.
Sau khi gà được luộc chín, thầy cúng lại làm lễ một lần nữa. Phần lễ cúng được tiến hành rất bài bản. Người Mông quan niệm rằng 3 con gà được cúng sẽ bảo vệ cho gia đình họ suốt năm. Bên cạnh bàn thờ họ cũng đặt các dụng cụ sản xuất thường dùng trong năm cũ như quốc, cào, liềm…. Lễ cúng năm mới được giao cho người đàn ông trụ cột trong gia đình.Sau khi cúng xong mâm cỗ được hạ xuống để cả nhà sum vầy chung vui.
 Biểu diễn khèn Mông không thể thiếu mỗi khi Tết đến xuân về.
 Biểu diễn khèn Mông không thể thiếu mỗi khi Tết đến xuân về.
 
 Hay như trò chơi ném pao.
 Hay như trò chơi ném pao.
Trong 3 ngày đầu của năm mới người Mông ở Nậm Cắn- Kỳ Sơn thường kiêng không giết thịt gia súc gia cầm và không tiêu tiền, họ quan niệm tiêu tiền trong những ngày đầu năm mới cả năm sẽ không giữ được tiền. Ông Lầu Giống Dìa cho chúng tôi biết thêm về ý nghĩa của mâm cỗ ngày tết: “Tết đến người Mông ở Nậm Cắn- Kỳ Sơn thường làm thịt 3 con gà để cúng, làm lễ cúng là mong cho một năm sung túc, mời gọi tổ tiên về ăn tết, mong cho năm sau nhiều vật nuôi hơn, hoa màu tươi tốt hơn”.
Sáng mồng một Tết, các già làng và chức sắc trong bản sẽ đến từng gia đình chúc tết. Nam thanh nữ tú thì kéo nhau ra sân tụ họp. Đám đứng tán chuyện, đám chơi ném po po. Lũ trẻ con thì chơi kéo co đẩy gậy. Đây là dịp để nam nữ thanh niên tìm hiểu nhau. Những cô gái Mông xúng xính trong bộ váy sặc sỡ đủ màu, e ấp đôi má ửng hồng như đóa hoa rừng mới nở.
 
Không khí xuân rộn ràng với một hương sắc thật riêng của núi rừng. Hòa chung với niềm vui đón tết của bà con người mông, Anh Lầu Bá Chày - Bí thư xã Nậm Cắn phấn khởi cho biết: “Từ khi đón Tết Nguyên đán cùng người dưới xuôi thì tết vui hơn vì có các phương tiện truyền thông đại chúng đưa tin, rất sôi nổi. Tết đến các cấp ủy chính quyền cũng quan tâm, tặng quà cho các gia đình chính sách, hộ nghèo để họ có thể đón tết đầy đủ”.
Những bếp lửa cùng nồi bánh được đun lên để ấm cúng cùng mọi người.
Những bếp lửa cùng nồi bánh được đun lên để ấm cúng cùng mọi người.
Chúng tôi, ghé thăm gia đình anh Lầu Bá Rê ở bản Trường Sơn, có khách quý đến chơi, gia đình anh làm cơm mời khách theo phong tục đón năm mới của người Mông. Bên chén rượu thắm nồng tình nghĩa ngày xuân, niềm vui no ấm lại càng được nhân lên như bếp lửa hồng luôn cháy đỏ trong mỗi căn nhà của người Mông ở Nậm Cắn.
Cùng với gia đình Lầu Bá Rê, nhiều gia đình ở Nậm Cắn đã thoát nghèo nhờ biết biết ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi theo phương thức mới, có thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi năm. Trong niềm vui hân hoan đón chào năm mới, ông Hờ Giống Nhìa- Chủ chủ tịch UBND xã Nậm Cắn cho biết: “Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng bằng sự đóng góp công sức của nhân dân, nhiều công trình an sinh xã hội phục vụ nhân dân ở Nậm Cắn ngày càng khang trang, hiện đại hơn.
Bên cạnh đó, từ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và huy động công sức của nhân dân, xã đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đường giao thông từ trung tâm xã đến hai bản Huồi Pốc và Pà Ca với tổng chiều dài 13 km. Cùng với đó, lưới điện hạ thế cũng được đầu tư xây dựng cho một số bản trong xã. Đến thời điểm này đã có trên 60% hộ gia đình có điện thắp sáng. Không chỉ phục vụ sản xuất, điện về còn giúp bà con mở mang tầm nhìn, tiếp cận nhiều cách làm ăn mới thông qua xem truyền hình, nghe đài... Bà con đón cái Tết đầm ấm, vui tươi hơn”.
Ở Nặm Cắn, phát triển KT-XH còn gắn với nhiệm vụ bảo vệ an ninh biên giới quốc gia. Nậm Cắn có đường biên giới dài 17km giáp với huyện Noọng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng CHDCND Làocó cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn đóng trên địa bàn. Hàng năm, lưu lượng khách và hàng hóa xuất nhập, quá cảnh khá nhiều; các đối tượng buôn lậu, buôn bán hàng giả, gian lận thương mại... lợi dụng sơ hở để hoạt động thu lợi bất chính.
Những bếp lửa cùng nồi bánh được đun lên để ấm cúng cùng mọi người.
Bánh Mông là thứ hết sức có ý nghĩa nó tượng trưng cho mặt trăng, mặt trời, nguồn gốc sinh ra vũ trụ và loài người.
 
Ngày Tết người Mông quay quần bên mâm cơm đầm ấm.
Ngày Tết người Mông quay quần bên mâm cơm đầm ấm.
 
Chính vì vậy, công tác gìn giữ an ninh trật tự, bảo vệ an ninh biên giới được chính quyền địa phương hết sức quan tâm. Là một xã biên giới trọng điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, với sự phấn đấu nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân, sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo các cấp từ huyện đến tỉnh, Nậm Cắn trở thành điểm sáng vùng biên của huyện biên giới Kỳ Sơn.
Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng trong mấy ngày Tết đến xuân về, người Mông ở Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn gác lại mọi bồn bề, lo toan. Họ vui chơi thoải mái để chuẩn bị tinh thần cho một năm lao động mới. Tết ở miền xuôi đang ngày càng mất đi hương sắc cổ xưa thì ngược lên vùng đồng bào Mông người ta vẫn cảm nhận được một cái tết đơn sơ mà ấm cúng với những nét truyền thống bao đời được đồng bào lưu giữ.
Một mùa xuân mới đã về. Sắc xuân đang ngập tràn khắp mọi nẻo trên vùng biên cương của Tổ quốc. Và trên các bản làng ở xã vùng biên Nậm Cắn - Kỳ Sơn, mùa xuân năm nay sẽ càng ấm áp hơn, yên vui hơn với những thành quả mà người dân nơi đây đã nỗ lực giành được.
Cùng với sự đoàn kết, vươn lên vượt mọi khó khăn, thách thức, đời sống đồng bào các dân tộc miền biên giới này sẽ ngày càng ổn định, góp phần bảo vệ vững chắc từng tấc đất chủ quyền an ninh biên giới quốc gia.
Nguyễn Phê - Lê Thanh

NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ

NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ
Trong một năm Việt Nam có rất nhiều lễ Tết, ứng với tiết trời và mùa vụ khác nhau, nhưng lớn nhất, trọng đại nhất vẫn là Tết Nguyên đán.
Cái Tết bắt đầu cho năm mới, hy vọng về mọi sự may mắn tốt lành của mùa xuân nảy lộc đâm chồi, đồng thời cũng bỏ lại tất cả những rủi ro, đen đủi của năm cũ.
 Lẽ trời đất có thuỷ phải có chung, có bắt đầu thì phải có kết thúc, cho nên trong Tết Nguyên đán, đón lễ Giao thừa chính là thời khắc thiêng liêng nhất, giao lại cái cũ, đón nhận cái mới.
Vì vậy lễ Giao thừa còn gọi là Lễ Trừ tịch. Tết Nguyên đán của ta tiến hành vào phút cuối cùng của năm cũ, phút đầu tiên bước sang năm mới, tức là giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu thì ngày 29 tháng Chạp năm trước và Giờ Tý ngày mùng 1 tháng Giêng năm sau.
Mâm cỗ của ngày tết
Xưa kia, ở các triều đại phong kiến, ông vua nào cũng tự xưng mình là “Thiên tử” (con trời) thay trời trị dân. Vì thế vua nào tối tăm, hôn ám, trời sẽ gieo tai hoạ để trừng trị.
Điều này đã được ghi rõ trong những bộ Chính sử của Nhà nước phong kiến để giải thích những hiện tượng như sao Chổi (điềm chiến tranh), mất mùa, lụt lội… Và tất nhiên các ông Vua đều phải trai giới lập đàn sám hối…
Cũng với quan niệm trên, người xưa cho rằng trên thiên đình có 12 vị Đại vương hành khiển, mỗi người phụ trách một năm, hết một giáp tức 12 năm lại trở lại từ đầu, vì vậy các vị Đại vương này còn được gọi là Đương niên chi thần.
Trách nhiệm của mỗi vị là theo dõi nhân gian trong cả năm, xem xét việc hay, dở của từng người, từng gia đình, từng địa phương trong cả nước để định công, luận tội, tâu lên Thượng đế.
Mỗi vị hành khiển có một vị phán quan giúp việc ghi chép sổ sách cho rành mạch. Lễ giao thừa ngoài ý nghĩa “tiễn năm cũ đón năm mới” còn là lễ tiễn Đại vương hành khiển cũ và đón vị Đại vương mới, cho nên nghi thức lễ giao thừa vừa linh thiêng vừa trọng đại. Lễ được làm ở đình làng, ở thôn xóm, ở nhà thờ họ và mỗi gia đình.
Hiện trong thư tịch Hán nôm còn lưu lại khá nhiều bài văn khấn trong lễ giao thừa ngoài phần niên tuế, tính danh chủ lễ, địa chỉ… Cuối cùng bao giờ cũng phải vọng bái.
- Đương niên đương cảnh Đại vương hành khiển
- Lâm tào phán quan
- Bản địa Thổ địa thần kỳ
- Bản cảnh Thành Hoàng
Sở dĩ phải khấn như trên bởi khi đức Đại Vương hành khiển đại diện cho Thượng đế đã giáng trần thì Thổ thần và Thành Hoàng phải nghênh tiếp, do đó cũng được phối hưởng.
Chắc chắn quan niệm “Thiên địa vạn vật nhất thể” hay “Thiên nhân tương dữ” trong dân gian chẳng mấy ai để tâm nghiên cứu hay tìm hiểu về “lý nọ”, “sự kia”, mà người ta làm theo lệ tục từ một lẽ rất đơn giản: "Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến một số kiêng kị trong Tết Nguyên đán xưa.
Kiêng quét nhà trong 3 ngày Tết
Họ sợ rằng sẽ quét hết vận đỏ đi. Vì thế ai cũng quét dọn nhà cửa, vườn tược, bao sái đồ thờ tự trước lúc giao thừa. Ở Nam Bộ sau khi quét dọn phải cất hết chổi, nếu trong ngày Tết bị mất chổi có nghĩa là năm đó nhà sẽ bị trộm quét sạch của cải.
Ở nông thôn ngày Tết nhà nào cũng rắc vôi bột ở bốn góc vườn, rồi vẽ mũi tên hướng ra cổng để xua đuổi ma quỷ, hung thần bốn phương kéo đến gieo tai hoạ. Còn thành thị thường hay treo “quả bùa gỗ” để trấn ma quỷ.
Tranh Tết
Kiêng không treo những tranh “xui xẻo” như đánh ghen, kiện tụng mà phải tìm bằng được những tranh lợn, gà, cậu bé, vinh hoa phú quý… hy vọng năm mới sẽ có nhiều điều tốt lành, trâu bò chật ních, thóc lúa đầy bồ. Ngày Tết nhà nào cũng có lọ hoa, tuỳ theo gia cảnh mà trang trí bày biện.
Ở nông thôn thì phần nhiều là những cành hoa giấy, hoa lông gà lông vịt màu sắc rực rỡ mua ở những phiên chợ Tết hàng tổng, hàng huyện.
Song ở thành thị nhiều nhà cầu kì và kĩ tính, kén chọn những cành đào bích không những đầy hoa mà còn phải có nhiều nụ, nhiều lộc. Hoặc những cây sung thế lúc lỉu quả.
Hình như trong sâu thẳm đáy lòng ta vẫn tin vào một sự huyền bí, siêu nhiên nào đó sẽ đáp ứng được mong mỏi và nguyện vọng của mỗi người.
Xông nhà
Xông nhà ngày Tết là một việc hết sức trọng đại vì thế hầu như nhà nào cũng kiêng kị rất cẩn thận. Bởi nếu không những điều xấu sẽ vận vào bản thân, gia đình mình. Vì sợ “dông” nên phải chọn người xông nhà, tuổi tính theo hàng can không xung với năm đó và không xung tuổi với chủ nhà.
Người ta thường chọn những người gia cảnh song toàn, con cháu đông đàn dài lũ, làm ăn thịnh vượng, vì thế mới có lệ “hẹn trước”, mời đến xông nhà.
Người Nam Bộ còn có thói quen chọn người có tên đẹp như Phúc, Lộc, Thọ, Tài, Lợi… mời đến xông nhà để cả năm sẽ thuận lợi, may mắn.
Thật không may cho nhà ai bị những người nặng vía xông nhà, hoặc mùng một Tết có người đến nhà xin lửa, xin nước. Thường thì trước khi bước sang năm mới ở nông thôn nhà nào cũng lo đổ đầy nước vào bể, vào chum hoặc vại.
Từ trong tâm thức người ta tin rằng năm mới đến sẽ đem theo của cải nhiều như nước. Chẳng thế mà sáng mùng một Tết rất nhiều nhà, nhất là ở phố phường xưa kia hay thuê người gánh nước đến. Họ được mừng tuổi đôi ba hào, thế là cả chủ nhà lẫn người quẩy thuê cả năm sẽ đều may mắn.
Một điều nữa cần nói đến là trong ngày Tết mọi người đặc biệt quan tâm đến cách ứng xử với hàng xóm láng giềng, bạn bè và những người trong gia đình.
Ai cũng tỏ ra vui vẻ, hồ hởi, thân tình trong không khí ấm áp của mùa xuân. Ai cũng ngại và sợ to tiếng hoặc xô xát thì quanh năm sẽ bị dông. Giá như điều kiêng kị này cứ giữ được trong cả năm thì hay biết bao.

Nguồn gốc tết nguyên đán cổ truyền của Trung Quốc

Nguồn gốc tết nguyên đán cổ truyền của Trung Quốc - Viện Nghiên cứu Trung Quốc
   
Tết âm lịch cuối năm (Xuất tiết), thời cổ gọi là “Nguyên nhật”, “Nguyên đán”, “Nguyên thần”, “Tuế đầu”, “Niên tiết”, v.v... “Quá xuân tiết” (Ăn tết), người Trung Quốc thường gọi là “Quá niên” hoặc “Quá đại niên”.
Tết Nguyên đán cổ truyền của Trung Quốc có nguồn gốc từ phong tục “Tế lễ tháng chạp” (lạp tế) từ thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử phát triển hơn 4000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, xã hội Trung Quốc đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”.
                                                           Xem tiếp

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN


NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN CỦA TẾT NGUYÊN ĐÁN
Th.S Hoàng Thị Tố Nga
Khoa SP Tiểu học- Mầm non
            Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên Đán Việt Nam có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên - Địa - Nhân. Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh...
1. Tết Nguyên Đán   
            Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Nguyên nghĩa của chữ "Tết" chính là "tiết". Hai chữ "Nguyên Đán" có gốc chữ Hán; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán" (Tết NguyênĐán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).
            Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.
            Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơnTết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
2. Nguồn gốc Tết Nguyên Đán 
            Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vươngnhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.
            Đời Đông ChuKhổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán,Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.
            Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.
            Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy.
3. Ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán Việt Nam
3.1. Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh
            Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết - do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông - có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì", người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời... người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.
3.2. Tết Nguyên Đán là ngày đoàn viên của mọi gia đình
            Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,... được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. "Về quê ăn Tết", đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.
            Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri...
            Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình Việt Nam, bàn thờ gia tiên có một  vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.
            Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.
3.3. Tết Nguyên Đán là ngày ” làm mới”
            Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn... Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.
            Người Việt Nam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng. 
            Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.
3.4. Tết Nguyên Đán là ngày tạ ơn
            Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết...
4. Những biến đổi do tác động tiếp xúc văn hoá Đông - Tây trong Tết Nguyên Đán ở Việt Nam
            Với một hệ thống lễ nghi vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tết Nguyên Đán đã trở thành ý thức hệ dân tộc, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tết Nguyên Đán là một phong tục đẹp mà nhân dân ta còn duy trì tới ngày nay. Thế nhưng trong thời kỳ toàn cầu hoá như hiện nay cách ăn Tết của người Việt Nam phần nào đã thay đổi. Một số tập tục trong ngày Tết xưa không còn phù hợp với  hội hiện đại đã dần bị loại bỏ.
            Ngày nay người dân ăn Tết đã có phần đổi khác hơn so với trước kia, dường như dân ta ăn Tết  “tây hoá”dần đi, sự thay đổi đó phần nào được thể hiện qua cách đón tết và trong việc sắm tết.
             Đời sống kinh tế được nâng cao đi kèm với những giá trị hưởng thụ về văn hoá tinh thần và vật chất, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp là tự nhiên và có thể đáp ứng ngay khi cần chứ không phải đợi đến Tết như ngày xưa. Hơn nữa, ngày nay trong một năm có rất nhiều ngày lễ khác đang chi phối tầm quan trọng của ngày Tết cổ truyền. Vì vậy, dường như Tết bây giờ có phần nhạt hơn so với Tết xưa.
Trong đời sống hiện đại, việc sắm Tết cũng ”hiện đại” theo và sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây rất rõ nét. Giờ đây người dân ít hào hứng với việc mua thực phẩm về tự chế biến mà đặt mua đồ đã chế biến sẵn cho tiện. Mâm cỗ ngày Tết giờ cũng phong phú hơn và đa dạng hơn. Bên cạnh những món ăn truyền thống của người Việt như bánh chưng xanh, giò, các món rau, món xào thì còn có những món ăn được du nhập từ Phương Tây.     
Trải qua bao biến thiên của thời đại, đến nay, quan niệm về Tết đã có nhiều thay đổi cả về mặt khái niệm lẫn hành vi. Bây giờ người ta quan niệm là “nghỉ Tết”, “chơi Tết” chứ không còn là “ăn Tết”. Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề quan trọng trong ngày Tết thì người ta hướng đến tinh thần nhiều hơn. Tết hiện đại mọi người thích nghỉ ngơi thoải mái, đi chơi nhiều hơn, nhân dịp Tết nhiều gia đình đã lên lịch trình cho một chuyến du lịch với người thân trong nhà hoặc cùng bạn bè, đồng nghiệp.
   Quà Tết bây giờ cũng khác. Trước đây, mọi người có thể chúc Tết nhau bằng cặp bánh, cân giò, với tấm lòng trân trọng mến thương. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà có giá trị cao nhưng tình cảm trong đó hầu như không có mà xen vào đó là lợi ích cá nhân, lợi ích kinh tế.
   Quả thật, quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây đã làm cho Tết thay đổi, những đồ ăn nhanh, làm sẵn đã làm mất đi không khí chuẩn bị vui tươi của ngày tết. Trẻ con không còn ngồi xem bố mẹ, ông bà gói bánh chưng và mong chờ còn ít gạo vét để gói chiếc bánh ống với nhiều đậu và một miếng thịt to, không còn vui thú khi vùi củ khoai nướng trong lúc trông nồi bánh chưng, các cô thiếu nữ đã dần quên thói quen đi ngắm hoa đào, hoa mai trên phố chợ. Những điều thay đổi đó khiến nhiều người không khỏi chạnh lòng “bao giờ cho đến Tết xưa”.
   Tuy nhiên, tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã làm cho ngày Tết của người Việt có nhiều thứ mới lạ hơn, thực phẩm vừa ngon vừa phong phú đa dạng, những đồ ăn sẵn thật là thuận tiện, mâm cỗ cúng gia tiên có thêm chai rượu vang thì thật là sang trọng. Ngày Tết được đi du lịch với cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp khiến mọi người cảm thấy nhẹ nhõm, gạt bỏ được những căng thẳng trong một năm làm việc vất vả, tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn.
   Chúng ta không thể phủ nhận mặt tích cực của hội nhập văn hoá đem lại. Nếu chúng ta “khép” cửa “ăn Tết” với nhau thì Tết Việt đương nhiên chỉ là một sản phẩm của văn hoá thuần tuý đơn lẻ, nó sẽ không thể trở thành sản phẩm văn hoá đặc trưng của quốc gia trong mối quan tâm của bạn bè quốc tế. Sự mở cửa giao lưu, tiếp xúc lại chính là những phương thức tốt nhất giúp chúng ta giới thiệu đến bạn bè quốc tế về Tết cổ truyền của người Việt Nam. Vấn đề ở đây là chúng ta phải làm chủ được quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây để tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của mình mà không bị “ Tây hoá”.
   Có thể nói, Tết Nguyên Đán vẫn là một sinh hoạt văn hoá vừa lưu giữ những giá trị truyền thống vừa thích nghi với nhịp sống hiện đại. Trong ngày Tết vẫn còn nhiều phong tục tốt đẹp và đậm tính nhân văn mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy để Tết Nguyên Đán mãi là nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
2. Đinh Gia Khánh. Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB KHXH, 1993.
3. Phan Kế Bính. Việt Nam phong tục, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
4.Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD
5. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống - loại hình, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1996.
6. Trương Thìn (biên soạn). 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam,  NXB Thời đại, 2010.