11. NHÂN ĐỌC BÀI “NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ NHỮNG ĐIỀU TRẦN CỦA ÔNG” THÊM MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ “THIÊN HẠ ĐẠI THẾ LUẬN” CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Lê Cung (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh)
Bài “Nguyễn Trường Tộ và những điều trần của ông” của PGS. TS. Nguyễn Phan Quang đăng trên Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số.......................2009 gợi cho tôi nhiều ý tưởng. Bởi lẽ từ trước tới nay Nguyễn Trường Tộ được đánh giá như là một nhân vật có đầu óc canh tân nhằm cứu nguy đất nước trước họa xâm lăng của thực dân Pháp. Gần đây, có tác giả còn nâng Nguyễn Trường Tộ thành một “nhà thiết kế vĩ đại của đất nước ở thế kỷ XIX”. Điều này có nghĩa chỗ đứng của Nguyễn Trường Tộ trong lịch sử dường như đã được khẳng định.
Song điều làm chúng tôi ngạc nhiên nhất là tác giảNguyễn Phan Quang, sau khi phân tích chủ trương tạm hòa của Nguyễn Trường Tộ, đã kết luận : “Vậy thì nên chăng vấn đề Nguyễn Trường Tộ với những điều trần của ông cần được giới nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu thêm – dù có phải tốn thêm nhiều thời gian và giấy mực” . Lời kết này khiến chúng tôi phải tìm đọc 58 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã gửi cho triều đình Tự Đức, xem có gì mà “cần được giới nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu thêm”.
Trong giới hạn của một bài báo, chúng tôi chỉ xin nêu một số suy nghĩ của mình qua đọc bản điều trần thứ nhất của Nguyễn Trường Tộ “Thiên hạ đại thế luận” (Bàn về những việc lớn trong thiên hạ) dựa trên văn bản được chép trong công trình “Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo » của tiến sĩ Trương Bá Cần(Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998).
Vấn đề sôi động và bức xúc nhất ở nước ta khi Nguyễn Trường Tộ viết Thiên hạ đại thế luận là làm thế nào và bằng cách nào để giữ vững được nền tự chủ của đất nước trước họa xâm lăng của thực dân Pháp. Lúc này triều đình Huế đã ký hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất vào tay Pháp, vua Tự Đức đang nóng lòng khôi phục chủ quyền ba tỉnh đã mất và đã cử một phái đoàn sang Pháp xin chuộc lại vùng đất này. Trong lúc đó, nhiều nhà yêu nước đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến, quyết sống chết với quân xâm lược nhằm giành lại giang sơn đất nước, như Trương Định, Thủ khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, ... Sử sách dân tộc đã ghi công những bậc tiên liệt này; ở khắp các địa phương Nam Bộ, nhân dân đã tôn vinh, bằng việc xây dựng các tượng đài để tưởng nhớ sự nghiệp xã thân cứu nước của những người con trung liệt.
Nhằm góp sức vào việc giải quyết nỗi bức xúc lúc này của dân tộc, Nguyễn Trường Tộ viết bản điều trần thứ nhất ( Thiên hạ đại thế luận) , gửi đến triều đình Tự Đức với những đề nghị canh tân, cải cách. Thật thú vị biết bao khi đọc những dòng này của Nguyễn Trường Tộ : “Trộm nghĩ trong thiên hạ chỉ có chữ ‘thế’ mà thôi. Chữ ‘thế’ là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên người biết rõ ‘thế’ thì không trái trời, không mất thời, không hại người, không hỏng việc” , bởi vì người đọc đang mong chờ Nguyễn Trường Tộ đưa ra những kế sách hữu hiệu nhằm giúp triều đình Tự Đức tạo được ‘thế’, để Việt Nam vươn lên xoay chuyển tìnhthế, nhằm lật ngược thế cờ, lấy lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất hoặc ít ra cũng không mất tiếp những phần đất còn lại.
Nhưng người đọc đã nhanh chóng thất vọng khi Nguyễn Trường Tộ sử dụng một cách máy móc “học thuyết ngũ hành” để đi đến kết luận việc Việt Nam mất nước như là một điều hợp qui luật. Nguyễn Trường Tộ viết: “Hãy nói về thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo Hà đồ thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây, mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy” .Không cần bàn luận thêm ở đây, chúng ta cũng thừa hiểu Nguyễn Trường Tộ muốn nói đến ‘ai’ diệt ‘ai’ rồi.
Như để khẳng định cho lập luận của mình, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt các quốc gia, các khu vực trên thế giới bị thực dân phương Tây xâm chiếm rồi đi đến kết luận: “Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như thế, nếu đó không phải là ý trời định, địa thế xoay vần, thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người phường Tây? Huống hồ người Việt ta là một nước nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được” .
Rõ ràng, theo Nguyễn Trường Tộ, Việt Nam mất nước là trời định, lấy lại nước, khôi phục độc lập cho dân tộc là trái đạo trời. Nhiều tác giả viết bài ca ngợi Nguyễn Trường Tộ là người thông làu Đông Tây kim cổ và ngay cả Nguyễn Trường Tộ cũng tự cho mình như thế. Vậy tại sao Nguyễn Trường Tộ không hay biết đến việc Nho giáo đề cập về thiên mệnh (mệnh trời). Thiên mệnh của Nho giáo được luận giải một cách uyển chuyển đối với đời sống chính trị - xã hội, bởi “tận nhân lực mới tri thiên mệnh”.Nguyễn Trường Tộ trước lúc viết Thiên hạ đại thế luận đã từng chu du châu Âu, sao lại không biết ở Thế kỷ Ánh sáng (thế kỷ XVIII), Montesquieu đã khẳng định: “Xã hội loài người phát triển có quy luật khách quan, không phải tùy theo ý muốn của Thượng đế”.Đây là một trong những luận điểm mang tính cách mạng sâu sắc, góp phần hết sức quan trọng trong việc xé bỏ “hào quang thần thánh” của giáo hội, cởi trói nhân dân về mặt trí tuệ, làm tiền đề cho cuộc Cách mạng tư sản Pháp 1789 đi đến thắng lợi.
Với lịch sử nước ta, chắc hẳn Nguyễn Trường Tộ không thể nào không biết đến lời thơ vang lên từ đền Trương tướng quân thời dân tộc ta kháng chiến chống Tống thế kỷ XI:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
“Định phận tại thiên thư” là phải giữ được nước, chứ không như cách luận giải như Nguyễn Trường Tộ rằng: “Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống,phục binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ không đánh được xa... Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm dáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưởi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước chảy xiết. Lúc dừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi ... Nay biết họ có thể tất thắng, ta có cơ dễ thua, lại không biết phép ra quân của họ biến hóa như thế nào mà đem quân nhút nhát của mình ra đánh lại quân vô địch của họ thật chẳng khác nào như bắt muỗi đội núi, đem dê đấu hổ ... Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc thang, đường hầm, xe kiếm, bao đất, mà đại pháo bắn ra thì núi lở, gò sập ..., trèo thành như lên đệm gối, sở dĩ lâu nay họ chưa dùng đến là vì cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu ... ” .
Trước Nguyễn Trường Tộ không lâu, Nguyễn Du cũng đã khẳng định: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Không lẽ một người với cái sở học thông làu Đông Tây kim cổ như Nguyễn Trường Tộ há lại không biết đến! Và cũng xin nói thêm là nếu lập luận như Nguyễn Trường Tộ: “Huống hồ người Việt ta là một nước nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được” thì Việt Nam đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới ở thế kỷ XIII rồi .
Để lập luận của mình có thể thuyết phục được triều đình Tự Đức, Nguyễn Trường Tộ viết tiếp: “Hoặc giả có người nói đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác. Như vậy là quá câu chấp mà để hỏng việc nước. Sao không xem xưa nay có ai chủ giang sơn mãi đâu. Nhà Tấn bị Hồ gây loạn, Tống mất vào tay Nguyên, Minh mất vào tay Thanh, họ này thay thế họ kia chẳng phải là do số trời sắp đặt đó sao? Vả lại đất Quảng Nam xưa là đất cũ của Chiêm Thành, Gia Định xưa là cố đô của Chân Lạp, đâu phải là đất cũ của bản triều? Ta chiếm đoạt của người, thì cớ sao người lại không chiếm đoạt của ta?” .
Người đọc không hiểu tại sao Nguyễn Trường Tộ lại lờ đi truyền thống trân quý giang sơn “tấc đất, tấc vàng” mà tiền nhân đã truyền lại cho muôn đời sau . Trong công cuộc mở nước về phía Nam , từ thế kỷ XI, ông cha chúng ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, có khi cả máu xương, đổi cả phận liễu yếu, đào tơ để có được một giang sơn hình chữ S diệu kỳ. Vua Lê Thánh Tông từng dặn dò : « Ta phải giữ gìn lãnh thổ cho cần thận, đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của ông cha để lại ». Vậy mà Nguyễn Trường Tộ lại chủ trương “Ta chiếm đoạt của người, thì cớ sao người lại không chiếm đoạt của ta?”.
Vấn đề đã rõ như ban ngày, như hai với hai là bốn, không phải cần đến trí tuệ ở chốn cửu trùng, mà ngay người dân bình thường ở nơi thôn dã cũng nắm bắt được đúng sai trong cách lập luận của Nguyễn Trường Tộ. Thật vô cùng ngạc nhiên, khi biết bao học giả đã bỏ ra công sức, tốn nhiều giấy mực để nghiên cứu, luận bàn về những điều trần của Nguyễn Trường Tộ, nhưng cách lập luận trên đây của ông chưa thấy một ai bình phẩm, đánh giá.
Để kết thúc cho bài viết nhỏ này, chúng tôi xin dẫn một đoạn trong bài viết: “Lịch sử, sự thật và sử học” của GS. Hà Văn Tấn để chúng ta cùng suy ngẫm: “Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử mácxít ra đời, khám phá ra cơ chế của sự phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính chất thể-năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện qui luật và, nhờ đó, sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện những chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.
Nhưng biết sự thật không dễ, và nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư mà Lê Quý Đôn đã dẫn, nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này: Muốn viết sử, phải biết phương pháp sử học, và trước hết, phải là người trung thực chứ không phải tên cơ hội ” .
. PGS.TS. Sử học, Trường Đại học Sư phạm Huế.
. Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Trường Tộ và những điều trần của ông, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số đã dẫn.
. Nguyễn Trường Tộ viết “Thiên hạ đại thế luận” vào tháng 2-3, Tự Đức năm thứ 16, tức tháng 3-4 năm 1863.
. Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 107.
. Trương Bá Cần, Sđd., tr. 107.
. Trương Bá Cần, Sđd., tr. 107.
. Trương Bá Cần. Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1998, tr. 109.
. Ở thế kỷ XIII, đế chế Mông – Nguyên đã thôn tính hoặc đánh bại nhiều nước ở hai lục địa Âu - Á, kể cả những nước lớn như Trung Hoa, Nga, ... ; nhưng ba lần đế chế này xâm lăng Đại Việt thì cả ba lần chúng đã đều bị đại bại trước tinh thần kháng chiến mãnh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các vị vua Trần anh minh.
. Trương Bá Cần, Sđd., tr. 111.
. Khi đề cập đến tư cách của người viết sử, Yết Hề Tư đời Nguyên viết: “Việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc. Người có văn học mà không biết cách chép sử thì không thể cho vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự” (Hà Văn Tấn. Lịch sử, sự thật và sử học. Tạp chí Xưa & Nay, số 332, Tháng 5, 2009, tr. 17)
. Hà Văn Tấn. Lịch sử, sự thật và sử học. Tạp chí Xưa & Nay, số đã dẫn, tr. 17.
15.
Nguyễn Trường Tộ: giấc mộng chưa thành
Vĩnh Sính
Cách đây đúng 120 năm (ngày 22 tháng 11.1871), Nguyễn Trường Tộ, tác giả những bản điều trần lịch sử đã từ trần, thọ 41 tuổi. Giấc mộng chưa thành, song hoài bão, cái nhìn của ông và những vấn đề ông nêu ra từ hơn một thế kỷ, ngày nay vẫn nóng bỏng tính thời sự.
Nhân ngày giỗ của nhân vật kiệt xuất này, Diễn Đàn giới thiệu bài viết của sử gia Vĩnh Sính, giáo sư Trường đại học Alberta ( Canada). Nguyên thuỷ, đây là bài biên khảo dài 11 trang, tựa đề Giấc mộng chưa thành – Vài suy nghĩ nhân đọc cuốn “Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo” của linh mục Trương Bá Cần, đăng trên báo Đất Mới (Canada), số tháng 1.1991. Chúng tôi đã có mấy dịp giới thiệu công trình của nhà sử học Trương Bá Cần. Mặt khác, bài viết của giáo sư Vĩnh Sính có một số phần chuyên môn, vượt quá khuôn khổ của Diễn Đàn. Vì vậy, chúng tôi đã xin phép, và được tác giả chấp thuận, trích đăng hai phần chính: phần thứ nhất nêu bật tầm cỡ của tư tưởng Nguyễn Trường Tộ so với trí thức Việt Nam cùng thời (số này), phần thứ hai soi sáng câu hỏi mà ta thường đặt ra: Nguyễn Trường Tộ đã tìm ở đâu những hiểu biết sâu rộng về thế giới bên ngoài? Phần này, còn giúp ta so sánh tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ với tư tưởng của các nhà duy tân Trung Quốc và Nhật Bản (số sau). Chúng tôi thành thực cảm ơn tác giả Vĩnh Sính.
Đã từ lâu lắm, có lẽ từ khi cụ Phan Bội Châu và các hội viên của Duy Tân hội đang còn tìm cách gửi thanh niên Việt Nam sang Nhật du học qua phong trào Đông Du, các tên Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) thỉnh thoảng lại gợi lại cho người Việt Nam một niềm tự hào, tin tưởng vào giấc mộng canh tân đất nước. Ta tự nghĩ, nếu từ thập niên 1860, khi Việt Nam vừa mới chạm trán với những thách đố đầu tiên của Tây phương mà trong nước chúng ta đã có người nhìn xa thấy rộng như Nguyễn Trường Tộ thì quả thật nước ta đâu có thiếu nhân tài. Thoạt nhìn sang các nước láng giềng vào lúc đó thì số phận của họ đâu có gì sáng sủa hơn Việt Nam! Ở Trung Hoa, sau thất bại nhục nhã trong chiến tranh Nha phiến (1839-1842), quan viên triều đình nhà Thanh vừa phải đương đầu với loạn Thái bình Thiên quốc, vừa phải tìm cách chấn hưng đất nước qua chính sách “tự cường”. Ngay số phận của Nhật Bản trước Minh Trị Duy tân (1868) cũng như ngàn cân treo sợi tóc: việc chính quyền Tokugawa ký kết một loạt hiệp ước bất bình đẳng với các nước Tây phương vào năm 1858 không có sự thoả thuận của Thiên hoàng đã trở thành lý do để các nhóm chống đối (mà tụ điểm là các vũ sĩ cấp dưới ở Satsuma và Choshu) buộc tội; bên ngoài thì Pháp, Anh nhòm ngó: Pháp ủng hộ chính quyền Tokugawa và Anh ủng hộ nhóm Satsuma và Choshu. Nếu những tranh chấp và mâu thuẫn nội bộ của Nhật Bản không được khôn khéo giải quyết nhanh chóng và kịp thời để đối phó hữu hiệu với tình hình quốc tế lúc bấy giờ thì Nhật Bản cũng đã trở thành một miếng mồi ngon cho các nước Tây phương, chẳng khác gì số phận các nước Á châu khác.
Nhìn gương canh tân của Nhật Bản kể từ Minh Trị Duy tân, ta thường ấm ức, than trách vua quan nước ta hồi đó đã không thức thời lắng nghe những lời trần tình của Nguyễn Trường Tộ, đến nỗi bỏ lỡ vận hội canh tân nước nhà. Mặc dù ta thường nói và nhắc nhở nhiều đến Nguyễn Trường Tộ, nhưng kỳ thật thì sự hiểu biết của chúng ta về nhân vật lịch sử này rất có giới hạn. Trước công trình nghiên cứu của Trương Bá Cần, chúng ta thường chỉ lặp lại những kiến thức sơ sài tản mạn về Nguyễn Trường Tộ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không mấy ai có thể trình bày một cách có mạch lạc, hệ thống nội dung tư tưởng của nhân vật lỗi lạc này, hoặc giả phân tích và đánh giá vì sao tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ đi vượt tầm suy nghĩ của những trí thức Việt Nam lúc bấy giờ. Vì ta không biết học hỏi những lỗi lầm của người đi trước, thêm vào đó lại có khuynh hướng ưa trách người nhưng không chịu trách mình, cho nên ta thường chỉ biết oán trách vua quan triều Nguyễn đã thủ cựu, không tạo đất dụng võ để cho những nhân tài như Nguyễn Trường Tộ phải bị mai một. Mặc dầu những phê phán này thường xác đáng, nhưng vô tình trong lúc đó trên thực tế, nhiều khi không ai khác hơn là chính ta, lại đang dẫm chân trên lỗi lầm của những thế hệ trước. Bởi vậy, cái tên Nguyễn Trường Tộ không chỉ gợi cho ta niềm tự hào nhưng còn mang cái gì ấm ức, uất nghẹn của một giấc mộng mà cả dân tộc đã ấp ủ từ lâu nhưng vẫn chưa thành.(...)
Sở học của Nguyễn Trường Tộ bao quát nhiều ngành, về khoa học kỹ thuật cũng như về các ngành nhân văn và khoa học xã hội. Chính Nguyễn Trường Tộ đã viết:“Về việc học, không môn nào tôi không để ý tới: cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để ý nghiên cứu về sự thế dọc ngang, tan hợp trong thiên hạ. Thường những người h ọc được như vậy hay dùng đó làm phương tiện cầu vinh, để tiến thân, còn tôi thì dùng để báo đáp lại cái mà trời đã cho tôí học được, chứ không mong kiếm chác một đồng tiền nào” (tr. 120).
Trước hết, về khoa học kỹ thuật, là người chủ trương thực học, Nguyễn Trường Tộ chính là nhà kiến trúc sư phụ trách xây cất tu viện Dòng thánh Phaolồ ở Sài Gòn (khởi công từ tháng 9 năm 1862 và hoàn thành vào tháng 7 năm 1864), một kiến trúc có tầm cỡ, và cũng là một biểu tượng của văn hoá Tây phương ở ngay Sài Gòn mà ngay chính người Pháp lúc bấy giờ rất lấy làm hãnh điện. Một linh mục người Pháp, trong bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques (Hội truyền giáo Công giáo) vào năm 1876 đã viết về vai trò của Nguyễn Trường Tộ trong việc xây cất tu viện như sau: “ Chính ông ta đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu...” (trích dẫn ở tr. 29). Ngoài ra, Nguyễn Trường Tộ cũng chính là người chỉ huy đào Thiết Cảng để làm Kênh Sắt (còn gọi là kênh Nguyễn Trường Tộ), nối liền sông Cấm, hay sông Cửa Lò, với sông Vinh. Tương truyền là từ xưa Cao Biền khi sang đô hộ nước ta và Hồ Quý Ly đời nhà Hồ đều có dự định đào kênh này, nhưng cả hai đều không thực hiện được vì dưới đất có nhiều đá cuội. Khi được tổng trấn Nghệ An lúc bấy giờ là Hoàng Tá Viêm mời ra giúp đào kênh, Nguyễn Trường Tộ đi xem xét rồi tìm ra cách giải quyết ngay. Ông nói là nếu ở Pháp thì người ta dùng cốt mìn để phá, còn như ở nước ta không có mìn, chỉ cần đào tránh khúc có nhiều đá lớn là xong (tr. 36). Về máy móc, hình như Nguyễn Trường Tộ cũng biết khá nhiều, trong bản điều trần về việc mua và đóng thuyền máy, Nguyễn Trường Tộ khẳng định: “ Theo tôi thiết nghĩ hiện nay người Nam ta biết qua các loại máy tàu và các lý thuyết điều chỉnh tu sửa, không ai hơn được tôi, từ nay về sau thế nào thì không dám nói” (tr. 155).
Về khoa học xã hội, Nguyễn Trường Tộ tỏ ra bén nhạy trên nhiều lĩnh vực, ông có cái nhìn vừa bao quát, liên ngành, vừa thông suốt và tận gốc. Những bản điều trần của ông bao gồm nhiều lĩnh vực: đại thế trong thiên hạ, kế hoạch làm dân giàu nước mạnh, cần nắm vững tình hình chính trị ở Pháp, canh tân và mở rộng quan hệ ngoại thương, thực học, cải cách phong tục, tự do tôn giáo, sử dụng quốc âm v.v... Học giả Trương Bá Cần trong phần “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ”đã phân tích tường tận, sâu sắc – nhưng không thiếu tế nhị – chương trình cải cách có hệ thống, toàn diện của Nguyễn Trường Tộ.
Đọc những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ gửi cho triều đình Huế từ 1861 cho đến khi ông từ trần, chúng tôi không khỏi liên tưởng đến những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha (Minh lục xã, tức là hội thành lập vào năm thứ sáu [1873] đời Minh Trị) đăng ở tập san Meiroku Zasshi(Minh lục tạp chí). Thành viên của Meirokusha gồm có những trí thức lừng danh lúc bấy giới như Fukuzawa Yukichi (Phúctrạch Dụcát, 1835-1901; người sáng lập ra trường Keio Gijuku và cũng là một nhân vật có ảnh hưởng vô cùng lớn rộng trong công cuộc đổi mới giáo dục và tư tưởng của người Nhật) cùng nhiều nhân vật khác, hầu hết là cha đẻ của nhiều ngành khác nhau như chính trị học, luật học, triết học, thống kê, canh nông... ở Nhật Bản thời Minh Trị. Họ bàn về những vấn đề bức thiết ở Nhật lúc bấy giờ như vai trò của trí thức trong công cuộc mở mang dân trí và canh tân đất nước, cần phải dựa vào công luận (thay vì chính quyền) để phát triển văn minh, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do mậu dịch, cải cách tài chính, cải cách giáo dục, khái luận về văn minh Tây phương, vấn đề sử dụng chữ hiragana... Điều khác nhau giữa Nhật Bản và Việt Nam là lúc bấy giờ hội Meirokusha quy tụ có gần 30 trí thức (đó là chưa kể vô số học giả khác ở ngoài hội) được dân chúng và chính phủ nể vì, còn ở nước ta, không những hầu như chỉ có một mình Nguyễn Trường Tộ, mà chính ông ta lại còn bị đình thần nghi ngờ đố kỵ, bởi vậy những lời điều trần của ông chẳng khác gì một tiếng kêu tuyệt vọng trong bãi sa mạc, không thay đổi được gì vận mệnh của đất nước như ông mong ước.
Một điểm khác biệt giữa Nguyễn Trường Tộ và các trí thức Việt Nam cùng thời là ông có thể nhìn, đánh giá và tìm cách giải quyết một cách năng động hiểm hoạ mất nước của Việt Nam dựa trên những phân tích về tình hình thế giới, tình hình chính trị ở Pháp, mâu thuẫn giữa Pháp và các nước Tây phương khác, xác định đâu là “đại thế” và xu hướng văn minh trên thế giới lúc bấy giờ, để cuối cùng đưa ra chủ trương hoà hay chiến tuỳ theo điều kiện và thời điểm cụ thể. Trình bày về quan điểm của Nguyễn Trường Tộ về phương pháp cứu nguy cho Việt Nam lúc bấy giờ, ông Trương Bá Cần nhận xét: “Qua các di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta thấy là ông không hề mơ hồ về ý đồ của thực dân Pháp đối với đất nước chúng ta (...), âm mưu xâm lược của chúng đã có từ rất lâu, vì vậy chỉ có thể trên cơ sở đánh mạnh, khiến chúng phải khốn đốn, thì chúng m ới chịu hoà, và trong điều kiện ấy, ta mới có thể hoà một cách có lợi” . Cuối cùng, tác giả kết luận: “ Đối với Nguyễn Trường Tộ, vấn đề canh tân phát triển đất nước là vấn đề hàng đầu. Do đó, Nguyễn Trường Tộ chủ trương m ở rộng giao thương với các nước và tạm hoà với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp”(tr. 84-86).
Chủ trương của Nguyễn Trường Tộ trên thực chất không khác chủ trương đối ngoại của Nhật Bản vào những năm cuối thời Tokugawa (Đức Xuyên) và đầu thời Minh Trị. Mặc dầu Nhật Bản đã phải ký kết những hiệp ước bất bình đẳng với các nước Tây phương dưới chính quyền Tokugawa, sau khi chính quyền này bị lật đổ, những nhà lãnh đạo của chính phủ mới (Minh Trị) đã tạm thời nhượng bộ. Năm 1871, chính phủ Minh Trị cử một phái bộ cao cấp, đoàn viên có gần 50 người, gồm cả những người có trách nhiệm lớn nhất trong chính phủ lúc bấy giờ, do Iwakura Tomomi dẫn đầu với tư cách là đại sứ đặc mệnh toàn quyền sang thăm viếng 15 nước Âu Mỹ trong thời gian gần hai năm với mục đích chính là thương lượng nhằm sửa đổi các điều ước này. Tuy mục tiêu thương lượng hoàn toàn thất bại, phái bộ Iwakura qua lần công du này được quan sát tận mắt tình hình của các nước trên thế giới, và khi trở về Nhật càng tập trung vào nỗ lực canh tân đất nước. Ta cũng nên để ý rằng, trên thực tế, phải đợi đến 40 năm sau (1911), liệt cường mới hoàn toàn xoá bỏ các điều khoản bất lợi cho Nhật, và khi đó – hay nói đúng hơn, vì khi đó – Nhật Bản đã trở thành một cường quốc, về kinh tế cũng như về quân sự.
Nói tóm lại, lối nhìn của Nguyễn Trường Tộ khác hẳn với lối suy nghĩ thụ động, cứng cỏi, và rập khuôn của hầu hết sĩ phu trong nước lúc bấy giờ. Do ảnh hưởng của thế giới quan Nho giáo, họ cứ khư khư quan niệm, hoặc ý thức hoặc vô ý thức, rằng nước ta là trung tâm của vũ trụ, hay một tiểu vũ trụ (giống như người Trung Hoa quan niệm nước họ là trung tâm của thế giới, chỉ có điều là nước ta nhỏ hơn nhiều, và họ là Bắc triều còn ta là Nam triều), xem Trung Quốc ( Thiên triều) là nước duy nhất có thể trông cậy để cứu ta khỏi hiểm hoạ mất nước 1. Họ quên rằng chính bản thân Trung Quốc lúc đó cũng đang bị liệt cường xâu xé, đâu còn sức nào để giúp đỡ cho Việt Nam.
1 Người viết đã có dịp trình bày điểm này chi tiết hơn trong bài Japanese and Vietnamese Attitudes toward China : a Comparison (Thử so sánh lối nhìn của Nhật Bản và Việt Nam đối với Trung Quốc) đăng ở tập san Asian and Pacific Quarterly,XXI, 2 ( Autumn 1989), tr. 1-13.
Vai trò của Tân thư trong việc mở rộng kiến thức của Nguyễn Trường Tộ
Tân thư là gì? Tân thư đi từ chữ Hán hsin-shu 新書 gọi nôm na là Sách mới, từ trước đến bây giờ được người Việt ta dùng để chỉ những sách chữ Hán do các nhà cải lương Trung Hoa như Khang Hữu Vi (Kang Yu-wei) và Lương Khải Siêu (Liang Ch’i-ch’ao) trước tác và được đưa vào nước ta vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Các chí sĩ hoạt động trong các phong trào duy tân đất nước sau Nguyễn Trường Tộ, như Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tiểu La Nguyễn Thành... đều chịu ảnh hưởng không ít của những cuốn sách này. Tân thư nói rộng ra bao gồm cả những cuốn sách do người Trung Hoa trước tác hay dịch thuật từ sách báo Tây phương kể từ thập niên 1840, sau khi Trung Hoa bị Anh đánh bại trong chiến tranh Nha phiến và muốn tìm hiểu Tây phương để đáp ứng nhu cầu “biết thêm về đối phương”. Trong thời kỳ này, cũng có một số sách Tân thư do các nhà truyền giáo Tin Lành trước tác bằng chữ Hán. Khi xuất bản những sách này, họ muốn chứng minh cho người Trung Hoa thấy rằng nếu các nước Tây phương có một nền văn minh tiên tiến như vậy thì tín ngưỡng của họ (đạo Kitô) ắt phải có gì đáng chú ý 2.
Chúng tôi đồng ý với hai ông Đào Duy Anh và Trương Bá Cần là “những sách bằng chữ Hán thuộc loại Tân thư” đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng kiến thức cận đại của Nguyễn Trường Tộ. Ông Đào Duy Anh cho biết là trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều loại sách này, nhưng hình như không ai ghi lại tên những cuốn sách đó. Thật đáng tiếc, vì phải gì nếu có được một danh sách đầy đủ của tên những cuốn Tân thư, cùng những loại sách khác, trong tủ sách đó, thì chúng ta đã có thể tra cứu để biết rõ hơn về quá trình cấu tạo tư tưởng khải mông của nhân vật lỗi lạc này!
Khi đọc lại các di thảo của Nguyễn Trường Tộ để mong tìm một vài tia sáng cho vấn đề này, tình cờ chúng tôi thấy Nguyễn Trường Tộ có nhắc đến cuốn Doanh hoàn chí lược (Ying-huan chih-lueh, nghĩa là Khái lược về địa lý thế giới), mà may mắn từ trước chúng tôi đã được biết là một Tân thư rất nổi tiếng, không chỉ ở Trung Hoa mà còn ở Nhật Bản trong hai thập niên 1850 và 1860. Để có một nhận thức về ý nghĩa cuốn Doanh hoàn chí lược nói riêng và Tân thư nói chung đối với Nguyễn Trường Tộ, xin giới thiệu đôi hàng về những nhận xét sơ bộ của chúng tôi.
Trước hết, chúng ta hãy xem Nguyễn Trường Tộ đã nhắc đến cuốn Doanh hoàn chí lược trong trường hợp như thế nào. Trong bản điều trần về “Bàn về những thế lớn trong thiên hạ” (Thiên hạ đại thế luận),đề ngày 3.4.1863, ông viết: “Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hoà với Pháp là thượng sách. Hơn nữa ở châu Âu, việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hàng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả. Họ lại có tính khảng khái, hiếu chiến, với uy phong của một quân đội có xe sắt. Tuy dùng binh nhưng cũng biết trọng nghĩa giữ lời, không như các nước chỉ chuyên thủ lợi. Khi thắng trận thì cả nước hoan hô, dù tổn thất nghìn m uôn người chẳng tiếc, chỉ sao cho uy danh hùng tráng, quốc thể được bảo toàn làm trọng. Các tướng thì gan dạ, nhiều mưu trí, theo binh pháp, thuỷ chiến, lục chiến đều rất giỏi. Thật đúng như sách Doanh hoàn chí lược đã chép vậy”. Sau đó, trong bài điều trần về “Tám điều cần làm gấp (Tế cấp bát điều) đề ngày 15.11.1867, khi bàn đến sự cần thiết chỉnh đốn những vùng sát biên giới phía tây của Việt Nam và khuyên triều đình nên cho các nhà truyền giáo đến giảng đạo và giúp đỡ dân chúng các vùng đó, Nguyễn Trường Tộ viết: “Phương Tây xưa có nhiều giống dân hung dữ chưa khai hoá, như dân Bồn Man, Vạn Tượng ngày nay, phần nhiều đều nhờ các giáo sĩ chịu khó mở mang giáo hoá mà về sau dần dần trở nên thịnh lợi. Chuyện ấy sử sách các nước phương Tây còn giữ và sáchDoanh hoàn chí lược của Trung Quốc cũng nói đến chứ không phải tôi dám bịa ra hùa theo nói tốt cho họ đâu” (tr. 272) .
Trong hai đoạn trích ở trên, Nguyễn Trường Tộ đã nhắc đến Doanh hoàn chí lược khi bàn về một khía cạnh của dân tộc tính, hay tâm lý người Pháp (trích dẫn đầu), và tình hình ở Lào (trích dẫn hai). Dĩ nhiên Nguyễn Trưởng Tộ đã trích dẫn để nói lên tính khách quan trong luận điểm của ông, nhưng mặt khác, qua sự trích dẫn này chúng ta thấy được phần nào ý nghĩa của Tân thư trong quá trình tìm hiểu tình hình trên thế giới lúc bấy giờ của Nguyễn Trưởng Tộ (vào thời điểm này có lẽ Nguyễn Trường Tộ chưa đi Pháp và các nước châu Âu, nên những “sử sách các nước phương Tây” mả ông nói ở trên có lẽ là những sách đã dịch ra hoặc giới thiệu bằng chữ Hán). Bây giờ chúng ta hãy thử xem cuốn Doanh hoàn chí lược mà Nguyễn Trưởng Tộ đã trích dẫn ở đây là cuốn sách gì, và đã có ảnh hưởng như thế nào ở Trung Hoa và Nhật Bản?

Doanh hoàn chí lược do Từ Kế Dư (Hsu Chi-yu, 1795-1873) biên soạn dưới triều vua Đạo Quang (Tao-kuang) nhà Thanh, vào những năm 1843-1848 khi Từ được bổ nhiệm về tỉnh Phúc Kiến, lúc đầu để trông coi việc buôn bán với các nước Tây phương, và sau đó với tư cách là tuần vũ (giống như chức tỉnh trưởng). Từ sinh ở Sơn Tây trong một gia đình khoa bảng, ông đỗ cử nhân năm 1813 nhưng phải đến 13 năm sau mới đỗ tiến sĩ. Sau đó, Từ được bổ làm án sát tỉnh Thiểm Tây (1836) và nổi tiếng là một quan viên có khả năng giải quyết những vấn đề hóc búa. Vua Đạo Quang nghe tiếng, triệu Từ về kinh để hỏi về phương sách chấn hưng Trung Hoa. Tương truyền khi nghe Từ trình bày, nhà vua xúc động đến rơi nước mắt. Một năm sau khi hoà ước Nam Kinh (1842) được ký kết, Từ được bổ nhiệm về Phúc Kiến, và theo lệnh vua, bất đầu tìm hiểu về tình hình nước ngoài.
Ở Phúc Kiến, Từ thường có dịp tiếp xúc với các viên chức Tây phương ở Hạ Môn (Amoy) và Phúc Châu (Foochow), trong đó có đại uý Henry Cribble, lãnh sự đầu tiên của Anh ở Hạ Môn, và thông dịch của ông là David Abeel (tên chữ Hán là Nhã-bì-lý 1804-1846), một giáo sĩ người Hoa Kỳ, cùng những nhân viên ngoại giao người Anh khác như George Tradescent Lay và Rutherford Alcock. Sau khi được Abeel cho xem tập bản đồ thế giới, Từ Kế Dư bắt đầu tập trung sưu tập những bản đồ xuất bản ở các nước Tây phương, biên soạn thêm lại chú giải dựa trên những tư liệu về kinh tế và chính trị Tây phương để hoàn thành cuốn sách này. Như đã đề cập ở trên, các giáo sĩ Tin Lành ở Trung Hoa lúc bấy giờ đang đẩy mạnh kế hoạch truyền giáo và xuất bản nhiều sách để giới thiệu văn minh Tây phương bằng chữ Hán. Đây là nguồn tài liệu chính yếu để Từ tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Trong số những tài liệu này, đặc biệt quan trọng là cuốn Universal Geography (Địa lý thế giới) viết bằng chữ Hán của Karl Gutzlaff (1803-1851), một giáo sĩ gốc người Phổ thuộc Giáo hội Hà Lan. Trong khi biên soạn, Từ đã kiểm chứng những kiến thức của ông về tình hình thế giới bên ngoài với những người Tây phương mà ông có dịp tiếp xúc.
Từ soạn xong cuốn Doanh hoàn chí lược vào khoảng cuối tháng tám hay tháng chín năm 1848, nhưng hình như đến cuối hè năm sau sách mới được xuất bản. Nhờ lối làm việc nghiêm túc dựa trên quan điểm khảo chứng của Từ Kế Dư, cuốn Doanh hoàn chí lược đã chiếm địa vị là một trong những tài liệu chính yếu về thế giới bên ngoài trong suốt hàng chục năm sau đó ở Trung Hoa 3. Cũng nên nói thêm rằng Khang Hữu Vi, nhà cải lương Trung Quốc nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, bắt đầu đọc Doanh hoàn chí lược vào năm mười bảy tuổi, và đối với Khang, sách này là một trong những cuốn sách gốí đầu giường về tình hình các nước Tây phương 4.
Bộ Doanh hoàn chí lược xuất bản năm 1849 gồm 10 quyển, có gần 145.000 chữ và 42 bản đồ. Trong sách, Từ không chỉ nói về địa lý, mà còn bàn về bản đồ chính trị thế giới ở thế kỷ XIX, hiện tình của các nước, và giải thích các vấn đề nóng hổi lúc bấy giờ như sự bành trướng của các nước Tây phương sang Á châu và ảnh hưởng của nó đối với Trung Hoa và các nước triều cống chung quanh 5.
Ngoài Doanh hoàn chí lược còn có một Tân thư quan trọng khác là cuốn Hải quốc đồ chí (Hai kuo t’u-chih, 1842) của Nguỵ Nguyên (Wei Yuan). Hai cuốn này được truyền sang Nhật và in lại vào cuối đời Tokugawa ( Doanh hoàn chí lược được in lại ở Nhật năm 1861) 6 . Đối với các chí sĩ (shishi) đang bôn ba hoạt động để tìm phương cách cứu nguy cho Nhật Bản, nhờ hai cuốn sách này mà họ biết được về tình hình bên ngoài trong lúc Nhật đang còn thi hành chính sách bế quan toả cảng. Sau đó, người Nhật đã tự mình đi học hỏi, điều tra các nước bên ngoài để ngày càng cập nhật hoá kiến thức của họ về thế giới, nên đã bỏ xa Trung Quốc. Có điều đáng để ý là vào năm 1874, khi kiến thức về nước ngoài ở Nhật nói chung đã vượt hẳn Trung Quốc, vẫn có người dịch lại cuốn Doanh hoàn chí lược sang tiếng Nhật để làm tài liệu tham khảo. Tên sách dịch sang tiếng Nhật này được đổi là Eikan shiryaku (Doanh hoàn sử lược, tên sách ở trang đầu vẫn giữ nguyên là Doanh hoàn chí lược) và có thêm phụ đề là Zokkai eiri, tức là tục giải (giải thích theo ngôn ngữ thông thường để ai cũng có thể lãnh hội) và có thêm minh hoạ 7.
Tuy chúng ta không thấy Nguyễn Trường Tộ trực tiếp nhắc đến tên sách Hải quốc đồ chí trong các di thảo, nhưng vì (a) ý nghĩa quan trọng của sách này (tương đương với Doanh hoàn chí lược) so với các Tân thư lúc bấy giờ, và (b) trong di thảo của Nguyễn Trường Tộ có dấu vết của các luận điểm đề ra trong sách này, có khả năng là Nguyễn Trường Tộ đã đọc sách Hải quốc đồ chí. Điều đáng tiếc là vì tài liệu về Nguyễn Trường Tộ bị thất lạc quá nhiều nên chúng ta không có phương tiện để xác minh là giả thuyết này có đúng hay không. Nhưng, dầu sao đi nữa, để có một khái niệm tổng quát về vai trò của Tân thư ở Trung Hoa và Nhật – và dựa trên đó ta có thể đi đến một nhận định khách quan hơn về vị trí đặc thù của Nguyễn Trường Tộ trong giới trí thức Việt Nam trong hai thập niên 1850 và 1860 – ta cần biết sơ lược về cuốn Hải quốc đồ chí.
Nguỵ Nguyên, tác giả Hải quốc đồ chí, là bạn thân của Lâm Tắc Từ (Lin Tse-shu, 1785-1850), người thay mặt triều đình nhà Thanh giải quyết vấn đề Công ty Đông Ấn Độ của người Anh nhập cảng thuốc phiện vào Trung Hoa. Chính Lâm đã uỷ thác cho Nguỵ soạn cuốn sách này. Sách Hải quốc đồ chí xuất bản lần đầu tiên (1842) có 50 quyển, khi in lại năm 1847 được bổ sung thành 60 quyển, và có 100 quyển khi tái bản lần thứ hai vào năm 1852. Sách có khoảng 88 vạn chữ, 75 bản đồ, và 42 trang vẽ biểu đồ các pháo thuyền Tây phương. Hải quốc đồ chí không chỉ cung cung cấp những kiến thức khách quan mà còn đề xuất những biện pháp chiến lược để đối phó với sự bành trướng như tằm ăn dâu của Tây phương. Nguỵ Nguyên chủ trương dĩ di công di (dùng Tây phương đánh Tây phương), dĩ di khoán di (dùng Tây phương để lung lạc Tây phương) và sư chi di trường kỹ dĩ chế di (học cái sở trường của Tây phương để chặn đứng xâm lược của Tây phương) 8. Sự thay đổi lập trường của Nhật từ joi (nhượng di: chống đối Tây phương bằng vũ lực) sang kaikoku (khai quốc: mở cửa để giao thương) và cuối cùng là học hỏi Tây phương, bắt kịp Tây phương, đi vượt Tây phương trong những năm cuối đời Tokugawa và đầu thời Minh Trị trùng hợp với chủ trương của Nguỵ Nguyên. Dĩ nhiên, cũng từ một nhận thức tương tự với Nguỵ Nguyên mà Nguyễn Trường Tộ đã điều trần về sự cần thiết tiếp thu văn minh tiên tiến của Tây phương để cứu Việt Nam khỏi nạn mất nước, hoặc bàn về phương sách khống chế người Pháp bằng cách nhờ kẻ khác để ngăn chặn họ, xui kẻ khác gây sự với họ, nhờ kẻ khác để ly gián họ, nhờ nước khác lấy danh nghĩa mà áp chế họ, dùng người khác để đánh họ, hoặc nhờ các nước đểđề phòng các nước trong điều trần về Lục lợi từ (khoảng tháng 6 hoặc tháng 7.1864, tr. 145-51) và trong nhiều điều trần khác 9.
Khi mới xuất bản, Hải quốc đồ chí được sự chú ý của một số trí thức Trung Hoa, nhưng sau đó sách bị tuyệt bản và khi Binh bộ thị lang của nhà Thanh là Vương Mậu Ấm (Wang Mu-yin) dâng tấu xin tái bản sách để các thân vương và đại thần mỗi nhà đều có một cuốn, và dùng sách làm tài liệu để dạy cho quân đội, thì đề nghị này bị bỏ qua. Ở Trung Hoa, không những các biện pháp do Nguỵ Nguyên đề ra không được thực hiện, mà ngay bản thân Nguỵ Nguyên cũng không được trọng dụng. Ông chỉ làm đến chức tri huyện ; sau khi triều đình bị Thái Bình Thiên quốc uy hiếp ông mới được thăng lên chức trichâu, và cuối cùng đã chết trong hiu quạnh. Trong khi đó ở Nhật, giống như Doanh hoàn chí lược,Hải quốc đồ chí có ảnh hưởng sâu rộng và thực tiễn đối với giới trí thức trong và ngoài chính quyền. Ấn bản Hải quốc đồ chí in lần thứ hai (60 quyển, 1847) được truyền sang Nhật 3 bộ năm 1851 và 2 bộ năm 1852; ấn bản in lần thứ ba (100 quyển, 1852) được truyền sang Nhật 15 bộ vào năm 1854, trong đó 7 bộ được chính quyền Bakufu trưng dụng, và 8 bộ được đem bán trên thị trường. Kawaji Toshiakira, viên chức phụ trách tài chính và hải phòng10 của chính quyền Bakufu đã uỷ thác cho Shioya Toin chọn lọc những phần quan trọng để in lại. Bản in lại ở Nhật được xuất bản năm 1855, trong đó các địa danh, tên các loại thảo mộc... được học giả Mitsukuri Gempo chú thêm tên gọi theo các tiếng Tây phương. Chỉ nội trong ba năm từ 1854 đến 1856 ở Nhật có tất cả đến 21 ấn bản khác nhau về Hải quốc đồ chí 11, qua đó chúng ta thấy sự quan tâm về tình hình thế giới và phản ứng thức thời, nhanh chóng của người Nhật để cứu nguy cho đất nước họ.
Năm 1862, khi Takasugi Shinsaku (Cao sâm Tấn tác, 1839-67) – môn đệ của Yoshida Shoin (Cát điền Tùng lâm, 1830-59), người đi tiên phong và biểu tượng của phong trào chống Bakufu để tiến đến Minh Trị Duy tân – bí mật sang Thượng Hải để điều tra tận mắt về tình hình Trung Hoa, hình như ông ta phải vất vả lắm mới tìm ra được một bộ Hải quốc đồ chí. Sau một thời gian ở Thượng Hải, ông có dịpbút đàm với trí thức Trung Hoa, Takasugi cho rằng việc người Trung Hoa đã để một cuốn sách do người Trung Hoa trước tác có giá trị chiến lược thực tiễn như cuốn Hải quốc đồ chí tuyệt bản mà không chịu in lại là một trong ba lý do khiến Trung Hoa suy yếu. Hai lý do khác mà Takasugi đã nêu là: (a) trước nạn Tây xâm, thái độ người Trung Hoa là hững hờ, mặc kệ, không cần ai nghĩ đến ngay cả việc bàn luận về phương cách ngăn chặn hiểm hoạ đó; và (b) người Trung Hoa không biết trang bị súng thần công có tầm xa để ngăn chặn tàu bè Tây phương 12. Sự phổ biến Tân thư ở Việt Nam hình như lại còn giới hạn hơn ở Trung Hoa. Nhưng đối với những sĩ phu Việt Nam nào có dịp đọc Tân thư (dĩ nhiên chỉ một thiểu số), thì phải nói ảnh hưởng của Tân thư rất sâu rộng. Điều đó được xác minh qua chứng từ của cụ Phan Bội Châu trong hai tự truyện của cụ. Ngay cả những di thảo của Nguyễn Trường Tộ, trước đây số người được đọc rất giới hạn, nhưng đối với ai là người có tâm huyết mà có đọc được thì những di thảo này sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến sự chuyển biến tư tưởng của họ. Chúng tôi muốn nói đến trường hợp của Nguyễn Lộ Trạch, tác giả Thiên hạ đại thế luận, một tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng đối với phong trào Đông Du và phong trào Đông Kinh nghĩa thục vào đầu thế kỷ XX. Nguyễn Lộ Trạch có lẽ là một trong số ít trí thức hiếm hoi có “diễm phúc” đọc các di thảo của Nguyễn Trường Tộ. Lý do khá đơn giản: ông là con rể của Trần Tiễn Thành. Chúng tôi đề cập đến điểm này để muốn nói rằng những hạn chế trong sự phổ biến kiến thức mới về thế giới bên ngoài là một trong những nguyên nhân chính yếu ngăn chặn sự phát triển dân trí và đà tiến hoá của nước ta.
Vĩnh Sính
2 xem Suzanne W. Barnett, Protestant Expansion and the Chinese Views of the West (sự bành trướng của Giáo hội Tin Lành và nhận thức của Trung Hoa về Tây phương), Modern Asian Studies, 6, 2 (1972). Có khá nhiều tài liệu bằng tiếng Anh về vai trò của Giáo hội Tin Lành trong thời kỳ này, chẳng hạn như: Alexander Wylie, Memorials of Protestant Missionaries to the Chinese (Những bản điều trần của các Giáo sĩ Tin Lành gửi người Trung Hoa), nguyên bản sách này ra đời năm 1867, sau đó được Ch'eng-wen Publishing Company (Đài Loan) in lại năm 1967; hoặc Chang Hsì-t'ung, The Earliest Phase of the Introdution of Western political Science into China (Sự du nhập khoa chính trị học Tây Phương vào Trung Hoa vào giai đoạn đầu tiên), Yenching Journal of social studies, V.1 (July 1950).
3 Xem Fred W. Drake, A Mid-nineteenth-century Discovery of the Non-ChineseWorld, (Sự khám phá của người Trưng Hoa về thế giới bên ngoài vào giữa thế kỷ XIX), Modern Asian Studies, 6, 2 (1972); Saneto Keishu hiệu đính và Tam Yue-him (Đàm Nhữ Khiêm) chủ biên, Nihon'yaky Chugokusho song mokurokuu (Mục lục tổng hợp của những sách Trung Quốc đã dịch sang tiếng Nhật), Hong Kong, Chinese University of Hong Kong (Trung Văn đại học). Theo Drake, Doanh hoàn chí lược được tái bản 1ần thứ hai vào năm 1850, lần thứ ba 1859 (chưa được xác minh), và lần cuối cùng 1866. Không rõ cuốn mà Nguyễn Trường Tộ có được xuất bản năm nào, nhưng chắc chắn là phải trước năm 1866. Trong Ssu-yu Teng và John K. Fairbank, China's Response to the West (Phản ứng của Trung Quốc đối với [sự bành trướng] của Tây phương), có trích dịch một đoạn của Doanh hoàn chí lược,tr. 42-46.
4 Xem Sakade Yoshinobu, Ko Yu-i (Khang Hữu Vi), Tokyo, Shueisha, 1985, tr. 35-36.
5 Drake, tài liệu đã dẫn, tr. 217.
6 Tức là năm 1853 khi chiến hạm Hoa Kỳ do Đô đốc Perry đến Nhật đòi mở cửa thông thương cho đến khi chính quyêền Tokugawa bị lật đổ và bắt đầu Minh Trị Duy tân (1868).
7 Saneto và Tam, sách đã dẫn, tr. 100.
8 Xem Lu Wan-he (Lữ Vạn Hoà), Meiji ishin to Chugoku (Minh Trị Duy tân và Trung Quốc), Tokyo,Rokko Shuppan, 1988, tr. 123-25.
9 Trong điều trần về Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh (Lục lợi từ), Nguyễn Trường Tộ nói về tư tưởng dĩ di trị di nhưng qua lời của vua Đạo Quang: “Vua Đạo Quang nhà Thanh có nói ‘Cái kế hay nhất để đánh địch không gì bằng lấy địch đánh địch’ "(tr. 144).
10 Phòng vệ đường biển.
11 Tài Liệu trong đoạn này chủ yếu dựa trên Lu Wan-he, sđd., tr. 123-127. Về chi tiết của các ấn bản của Hải quốc đồ chí ở Nhật, xem Saneto và Tam, sđd., đặc biệt các trang 4, 98-99, 101, 103, 136 và 206.
12 Trích ở sách Joshua Fogel, Politics and Sinology: The Case Naito Konan (1866-1934) (Dây liên hệ giữa chính trị và Trung quốc học: Trường hợp Naito Konan (1866-1934)), Cambridge (Mass.),Harvard University Press, 1984, tr. 15.
16. Vài ý kiến đóng góp vào việc tìm hiểu và đánh giá Nguyễn Trường Tộ
Vĩnh Sính
Đã từ lâu lắm, có lẽ từ khi cụ Phan Bội Châu và các hội viên của Duy Tân Hội đang còn tìm cách gởi thanh niên Việt Nam sang Nhật du học qua phong trào Đông Du, cái tên Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) thỉnh thoảng lại gợi đến cho người Việt một niềm tự hào, tin tưởng vào giấc mộng canh tân đất nước. Ta tự nghĩ, nếu từ thập niên 1860, khi Việt Nam vừa mới phải trạm chán với những thách đố đầu tiên của Tây phương mà trong nước chúng ta đã có người nhìn xa thấy rộng như Nguyễn Trường Tộ, thì quả thật nước ta đâu có thiếu nhân tài. Thoạt nhìn sang các nước láng giềng vào lúc đó thì số phận của họ đâu có gì sáng sủa hơn Việt Nam cho lắm. ! Ở Trung Hoa, sau thất bại nhục nhã trong chiến tranh nha phiến (1839-1842), quan viên triều đình nhà Thanh vừa phải đương đầu với loạn Thái bình Thiên quốc, vừa phải tìm cách chấn hưng đất nước qua chính sách “tự cường”. Ngay số phận của Nhật Bản trước Minh Trị Duy Tân(1868) cũng như ngàn cân treo sợi tóc: việc chính quyền Tokugawa ký kết một loạt hiệp ước bất bình đẳng với các nuớc Tây phương vào năm 1858 không có sự thoả thuận của Thiên hoàng đã trở thành lý do để các nhóm chống đối (mà tụ điểm là các vũ sĩ cấp dưới ở Satsuma và Chôshu) buộc tội; bên ngoài thì Pháp Anh nhòm ngó; Pháp ủng hộ chính quyền Tokugawa và Anh ủng hộ nhóm Satsuma – Chôshu. Nếu những tranh chấp và mâu thuẫn nội bộ của Nhật Bản không được khôn khéo giải quyết nhanh chóng và kịp thời để đối phó hữu hiệu với tình hình quốc tế lúc bấy giờ thì Nhật Bản cũng đã trở thành một miếng mồi ngon cho các nước Tây phương, chẳng khác gì số phận các nước Á châu khác.
Nhìn gương canh tân của Nhật Bản kể từ Minh Trị Duy Tân, ta thường ấm ức, than trách vua quan nước ta hồi đó đã không biết thức thời để lắng nghe những lời trần tình của Nguyễn Trường Tộ, đến nỗi bỏ lỡ vận hội canh tân nước nhà. Mặc dầu chúng ta thường nói và nhắc nhở nhiều đến Nguyễn Trường Tộ, nhưng kỳ thật thì sự hiểu biết của chúng ta về nhân vật lịch sử này rất có giới hạn. Từ trước tới nay, nói chung chúng ta chỉ thường lặp đi lặp lại những kiến thức sơ sài, tản mạn về Nguyễn Trường Tộ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không mấy ai có thể trình bày một cách có mạch lạc, hệ thống nội dung tư tưởng của nhân vật lỗi lạc này, hoặc giả phân tích và đánh giá vì sao tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ đi vượt tầm suy nghĩ của những trí thức Việt Nam lúc bấy giờ. Vì ta không biết học hỏi lỗi lầm của những người đi trước, thêm vào đó lại có khuynh hướng ưa trách người nhưng không chịu trách mình, cho nên ta thường chỉ biết oán trách vua quan triều Nguyễn đã thủ cựu, không tạo đất dụng võ để cho những nhân tài như Nguyễn Truờng Tộ phải bị mai một. Mặc dầu những lời phê phán này thường xác đáng, nhưng vô tình trong lúc đó trong thực tế, nhiều khi không ai khác hơn là chính ta, lại đang giẫm chân trên những lỗi lầm của những thế hệ trước. Bởi vậy, cái tên Nguyễn Trường Tộ không chỉ gợi cho ta niềm tự hào nhưng còn mang cái gì ấm ức, uất nghẹn của một giấc mộng mà cả dân tộc đã ấp ủ từ lâu nhưng vẫn chưa thành.
Để tiến đến một nhận thức khách quan và toàn diện hơn về Nguyễn Trường Tộ, dĩ nhiên chúng ta cần tiếp cận, phân tích, và đánh giá nhân vật lịch sử này qua nhiều góc độ. Trong bài này, từ góc độ của một người nghiên cứu về lịch sử tư tưởng và giao lưu văn hoá giữa Nhật với các nước Đông Nam Á và Tây phương vào nửa sau thế kỷ XIX, chúng tôi xin đóng góp ý kiến chủ yếu trên hai vấn đề mà các thức giả đã bàn luận từ trước đến nay : (1) “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu?”, và (2) “Phải chăng Nguyễn Trường Tộ đã gặp Y-Đằng Bác-Văn?”. Trước hết, thiết tưởng chúng ta cần đi lược qua những nét chính trong tư tưởng Nguyễn Trường Tộ.
I. NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Nguyễn Trường Tộ hồi nhỏ được thân phụ dạy chữ Hán ở nhà, sau đó theo học các cụ đồ nho ở vùng lân cận. Ông nổi tiếng thông minh phi thường nên thường được gọi là “trạng Tộ”. Mặc dầu không đi theo đường khoa bảng (vì là người Công giáo nên Nguyễn Trường Tộ không được đi thi), vốn liếng Hán học của ông có thể nói là chẳng thua kém gì các nhà khoa bảng trong triều đình lúc bấy giờ. Điều này được xác minh qua kiến thức uyên bác về những điển tích Đông phương và bút pháp Hán văn già giặn của ông trong những bản điều trần gởi cho triều đình.
Lên mười tám, muời chín tuổi, Nguyễn Trường Tộ bắt đầu thụ giáo những bài học vỡ lòng về Tây học, chủ yếu là tiếng Pháp và những kiến thức khoa học thường thức của Tây phương, từ các giáo sĩ thừa sai người Pháp. đặc biệt Giám mục Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu), người phụ trách giáo phận Xã Đoài từ năm 1846. Theo nhân định của ông Trương Bá Cần trong công trình nghiên cứu công phu Nguyễn Trường Tộ : Con người và di thảo, căn cứ trên những tài liệu hiện có chúng ta chỉ có thể biết chắc là Nguyễn Trường Tộ đã sang Pháp và các nước Âu châu vào năm 1867, còn trước đó thì hình như chỉ đi quanh quẩn ở Hương Cảng, Mã Lai, tức là những nơi có trụ sở của HộI Truyền giáo nước ngoài của Paris (Missions Etrangères de Paris).1 Tuy nhiên, những chuyến đi thăm viếng các nước Á châu láng giềng cũng đã giúp Nguyễn Trường Tộ bồi đắp thêm sở học của mình và mở rộng kiến văn về tình hình thế giới bên ngoài, như ông đã ghi lại trong ‘Bài trần tình” (đề ngày 13 tháng 5 năm 1863) gởi cho Trần Tiễn Thành: “Đến lúc lớn lên tôi chu du các nước, những điều mắt thấy tai nghe góp lại thành một sự ích dụng lớn”2
Sở học của Nguyễn Trường Tộ bao quát nhiều ngành, về khoa học kỹ thuật cũng như về các ngành nhân văn và khoa học xã hội. Điều này được chứng minh qua nội dung các bản điều trần mà Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho triều đình. Tóm tắt về sở học của mình, Nguyễn Trường Tộ đã viết: “Về việc học, không môn nào tôi không để ý tới : cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là để ý nghiên cứu về sự thế dọc ngang, tan hợp trong thiên hạ. Thường những người học được như vậy hay dùng đó để làm phương tiện cầu vinh, để tiến thân, còn tôi thì dùng để báo đáp lại cái mà trời đã cho tôi học được, chứ không mong kiếm chác một đồng tiền nào”.3
Trước hết, về khoa học kỹ thuật , là người chủ trương thực học, Nguyễn Trường Tộ chính là nhà kiến trúc sư phụ trách xây cất tu viện Dòng Thánh Phaolồ ở Sài Gòn (khởi công từ tháng 9 năm 1862 và hoàn thành vào tháng 7 năm 1864), một kiến trúc có tầm cỡ, và cũng là một biểu tượng của văn hoá Tây phương ở Sài Gòn mà ngay chính người Pháp lúc bấy giờ rất lấy làm hãnh diện. Một linh mục người Pháp, trong bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques (Hội Truyền Giáo Công Giáo) vào năm 1876 đã viết về vai trò của Nguyễn Trường Tộ trong việc xây cất tu viện như sau: “Chính ông ta đã vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”4. Ngoài ra, Nguyễn trường Tộ cũng chính là người chỉ huy đào Thiết Cảng để làm Kênh Sắt (còn gọi là kênh Nguyễn Trường Tộ), nối liền sông Cấm, hay sông Cửa Lò, với sông Vinh. Tương truyền là từ xưa Cao Biền khi sang đô hộ nuớc ta và Hồ Quý Ly đời nhà Hồ đều có dự định đào kênh này nhưng cả hai không thực hiện được vì dưới đất có nhiều đá cuội. Khi được Tổng trấn Nghệ An lúc bấy giờ là Hoàng Tá Viêm mời ra giúp đào kênh, Nguyễn Trường Tộ đi xem xét một hồi rồi tìm ra cách giải quyết ngay. Ông nói là nếu ở Pháp thì người ta đã dùng cốt mìn để phá, còn như ở nước ta không có mìn, chỉ cần đào tránh khúc có nhiều đá lớn là xong5. Về máy móc, hình như Nguyễn Trường Tộ cũng biết khá nhiều, trong bản điều trần về việc mua và đóng thuyền máy, Nguyễn Trường Tộ khẳng định: “Theo tôi thiết nghĩ hiện nay người Nam ta biết qua các loại máy tàu và các lý thuyết điều chỉnh tu sửa, không ai hơn được tôi, từ nay về sau thế nào thì không dám nói”.6
Về khoa học xã hội, Nguyễn Trường Tộ tỏ ra rất bén nhậy trên nhiều lãnh vực, ông có cái nhìn vừa bao quát, liên ngành, vừa thông suốt và tận gốc. Những bản điều trần của ông bao gồm nhiều lãnh vực: đại thế trong thiên hạ, kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh, cần nắm vững tình hình chính trị ở Pháp, canh tân và mở rộng, quan hệ ngoại giao, thực học, cải cách phong tục, tự do tôn giáo, sử dụng quốc âm, v.v…
Đọc những bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ gởi cho triều đình Huế từ 1861 cho đến khi ông từ trần, chúng tôi không khỏi liên tưởng đến những đề án có tính cách khải mông của những học giả trong hội trí thức Meirokusha (Minh-Lục-Xã, tức là hội thành lập vào năm thứ sáu [1873] đời Minh Trị) đăng ở tập san Meiroku Zasshi (Minh -Lục Tạp-Chí). Thành viên của Meirokusha gồm có những trí thức lừng danh lúc bấy giờ như Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát, 1835-1901; người sáng lập ra trường Keiô Gijuku và cũng là một nhân vật có ảnh hưởng vô cùng lớn rộng trong công cuộc đổi mới giáo dục và tư tưởng của người Nhật) cùng nhiều nhân vật khác, hầu hết là “cha đẻ” của nhiều ngành khác nhau như chính trị học, luật học, triết học, thống kê, canh nông,v.v… ở Nhật Bản thời Minh-trị. Họ bàn về những vấn đề bức thiết ở Nhật lúc bấy giờ như vai trò của trí thức trong công cuộc mở mang dân trí và canh tân đất nước, cần phải dựa vào công luận (thay vì chính quyền) để phát triển văn minh, cải cách tài chánh, cải cách giáo dục, tự do mậu dịch, tự do báo chí, tự do tôn giáo, khái luận về văn minh Tây phương, vấn đề sử dụng chữ hiragana, v.v…Điều khác nhau giữa Nhật và Việt Nam là lúc bấy giờ hội Meirokusha quy tụ có gần 30 trí thức (đó là chưa kể vô số học giả khác ở ngoài hội) được dân chúng và chính phủ nể vì, còn ở nước ta không những hầu như chỉ có một mình Nguyễn Trường Tộ, mà chính ông lại còn bị đình thần nghi ngờ và đố kỵ; bởi vậy những lời điều trần của ông chẳng khác gì một tiếng kêu tuyệt vọng trong sa mạc, không thay đổi được gì vận mệnh đất nước như ông hằng mong ước.
Một điểm khác biệt giữa Nguyễn Trường Tộ và các trí thức Việt Nam cùng thời là ông có thể nhìn, đánh giá, và tìm cách giải quyết một cách năng động hiểm hoạ mất nước của Việt Nam dựa trên những phân tích về tình hình thế giới, tình hình chính trị ở Pháp và các nước Tây phương khác, xác định đâu là “đại thế” và xu hướng văn minh trên thế giới lúc bấy giờ, để cuối cùng đưa ra chủ trương hoà hay chiến tuỳ theo điều kiện và thời điểm cụ thể. Trình bầy về quan điểm của Nguyễn Trường Tộ về phương sách cứu nguy cho Việt Nam lúc bấy giờ, ông Trương Bá Cần đã nhận xét: “Qua các di thảo của Nguyễn Trường Tộ, chúng ta thấy là ông không hề mơ hồ về ý đồ của thực dân Pháp đối với đất nước chúng ta…”, “âm mưu xâm lược của chúng đã có từ rất lâu, vì vậy chỉ có thể trên cơ sở đánh mạnh, khiến chúng phải khốn đốn, thì chúng mới chịu hoà, và trong điều kiện ấy, ta mới có thể hoà một cách có lợi… Đối với Nguyễn Trường Tộ vấn đề canh tân phát triển đất nước là vấn đề hàng đầu. Do đó Nguyễn Trường Tộ chủ trương mở rộng giao thương với các nước và tạm hoà với Pháp, tạm nhượng bộ Pháp”.7
Chủ trương của Nguyễn Trường Tộ trên thực chất không khác chủ trương đối ngoại của Nhật Bản vào những năm cuối thời Tokugawa (Đức Xuyên) và đầu thời Minh Trị. Mặc dầu Nhật Bản đã phải ký kết các hiệp ước bất bình đẳng với các nước Tây phương dưới chính quyền Tokugawa, sau khi chính quyền này bị lật đổ những nhà lãnh đạo của chính phủ mới (Minh Trị) đã tạm thời nhượng bộ. Năm 1871, chính phủ Minh Trị cử một phái bộ cao cấp, đoàn viên có gần năm mươi người, gồm cả những người có trách nhiệm lớn nhất trong chính phủ lúc bấy giờ, do Iwakura Tomomi dẫn đầu với tư cách là Đại Sứ Đặc mệnh Toàn quyền sang thăm viếng 15 nước Âu Mỹ trong thời gian gần hai năm với mục đích chính là thương lượng nhằm sửa đổi các điều ước này. Tuy mục tiêu thương lượng hoàn toàn thất bại, phái bộ Iwakura qua lần công du nàycó dịp quan sát tận mắt tình hình của các nước trên thế giới, và khi trở về Nhật càng tập trung nỗ lực canh tân đất nước. Ta cũng nên để ý rằng , trên thực tế, phải đợi đến bốn mươi năm sau (1911) liệt cường mới hoàn toàn xoá bỏ các điều khoản bất lợi cho Nhật, và khi đó – hay nói đúng hơn, vì khi đó - Nhật Bản đã trở thành một cường quốc, về kinh tế cũng như về quân sự.
Nói tóm lại, lối nhìn của Nguyễn Trường Tộ khác hẳn với lối suy nghĩ thụ động, cứng cỏi, và rập khuôn của hầu hết sĩ phu trong nước lúc bấy giờ. Do ảnh hưởng của thế giới quan Nho giáo, họ cứ khư khư quan niệm, hoặc ý thức hoặc vô ý thức, rằng nước ta là trung tâm của vũ trụ, hay một “tiểu vũ trụ” (giống như người Trung Hoa quan niệm nước họ là trung tâm của thế giới, chỉ có điều nước ta nhỏ hơn nhiều, và họ là “Bắc triều” còn ta là “Nam triều”.), xem Trung Quốc (“Thiên triều”) là nước duy nhất có thể trông cậy để cứu ta ra khỏi hiểm hoạ mất nước.8 Họ quên rằng chính bản thân Trung Quốc lúc đó cũng đang bị liệt cường xâu xé, đâu còn sức nào để giúp đỡ cho Việt Nam.
II. “NGUYỄN TRƯỜNG TỘ HỌC Ở ĐÂU?
Khi bàn đến nhân vật Nguyễn Trường Tộ, một trong những thắc mắc đối với chúng ta là tại sao trong khi sĩ phu Việt Nam lúc đó đang còn ngày đêm giùi mài cái học từ chương những mong đỗ đạt làm quan để đạt giấc mộng “vinh quy bái tổ”, “áo gấm về làng”, Nguyễn Trường Tộ lại có thể trau giồi cho mình một sở học uyên bác, thực tiễn, một tầm mắt xa rộng để nhận chânđược những hiểm hoạ đang đe doạ đất nước, cùng một óc phân tích chuẩn xác, sâu sắc hơn hẳn những trí thức cùng thời ?
Gần năm mươi năm trước đây, học giả Đào Duy Anh qua bài “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu ?” trong các tập san Tri Tân (số 7; 18-7-1941) và Bulletin des Amis du Vieux Huế (Đô thành hiếu cổ; số 2 tháng 4-6, 1944) cũng đã đặt câu hỏi này và cung cấp nhiều ý kiến quý giá. Ông Đào Duy Anh là người đã được đọc nhiều tư liệu của gia đình Trần Tiễn Thành 9 – viên chức của triều đình Huế nhận nhiều văn thư của Nguyễn Trường Tộ - và cũng đã từng có đến sưu tập tài liệu tại nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở Bùi Chu. Ông Đào Duy Anh đã gợi ý là cái sở học uyên bác của Nguyễn Trường Tộ không thể chỉ thu thập được lúc Nguyễn Trường Tộ ở Pháp vì khoảng thời gian này tương đối ngắn ngủi 10, do đó ông phỏng đoán là Nguyễn Trường Tộ đã có dịp đọc “nhiều tân thư của người Tàu nhất là những sách về khoa học và chính trị học” qua những chuyến du lịch ở Đông Nam Á, đặc biệt ở Hương Cảng 11. Ông Trương Bá Cần cũng đã nhận xét là “để có các kiến thức chuyên môn, Nguyễn Trường Tộ đã phải tự học, nghĩa là phải đọc sách báo, phải biết quan sát để tiếp thu và vận dụng”, bởi lẽ “ về Tây học, thì ông quả có được các linh mục thừa sai và, đặc biệt, Giám mục Gauthier dạy cho tiếng Pháp và truyền đạt một số kiến thức khoa học, chỉ có thể là, rất phổ thông… vì các thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Nước ngoài (M.E.P.) tuyệt đại bộ phận chỉ học xong chương trình phổ thông, rồi vào các đại chủng viện học làm linh mục để được gởi đến các nước truyền đạo”.12 Tóm tắt về sở học của Nguyễn Trường Tộ, ông Trương Bá Cần viết: “…ngoài vốn liếng về Hán học, Nguyễn Trường Tộ đã sớm tiếp xúc với văn hoá Tây phương, trước tiên có thể là qua các giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là giám mục Gauthier. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, nếu không qua các nước Tây Âu, thì cũng qua các nước Đông Nam Á, nơi đây ông đã được đọc sách báo của Tây phương, băng tiếng Pháp, tiếng Anh và nhất là đọc các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc. Theo ông Đào Duy Anh và những người đã tới tham khảo các tài liệu tại nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, thì trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều quyển sách bằng chữ Hán thuộc loại Tân thư. Nhờ đó mà vào đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đã có một kiến thức khá rộn lớn về khoa học kỹ thuật cũng như về khoa học xã hội của Tây phương”.13
Sau khi đọc xong các di thảo còn lại của Nguyễn Trường Tộ, người viết bài này đồng ý với những nhận xét trên của hai học giả Đào Duy Anh và Trương Bá Cần, và muốn đóng góp thêm một vài ý kiến liên quan đến vấn đề này.
(1) Về thế đứng của Nguyễn Trường Tộ:
Trước hết, hãy trở lại câu hỏi vì sao sở học của Nguyễn Trường Tộ khác xa lối học “bát cổ văn chương” (văn chương tám vế) của những sĩ phu cùng thời. Đã đành chúng ta đều biết ngay từ nhỏ Nguyễn trường Tộ đã nổi tiếng thông minh xuất chúng, nhưng ngoài cái “thiên bẩm” đó, chắc hẳn phải có những yếu tố khác không kém phần quan trọng. Việc Nguyễn trường Tộ có trau giồi Hán học nhưng không phải để lặn lội trong chốn quan trường, theo thiển ý của chúng tôi, cần phải được nhấn mạnh. Sự cấm đoán không cho Nguyễn Trường Tộ đi thi vô hình trung đã tạo cho ông một lợi thế không mấy ai có được lúc đó. Nhờ vậy, ông có thể suy nghĩ tự do phóng khoáng, vượt khuôn khổ của xã hội đương thời, không phải bị gò bó bởi những lối mòn trong lối học khoa cử từ chương bắt nguồn từ Trung Hoa từ hơn ngàn năm trước. Đây chính là một trong những điểm khác biệt quan trọng giữa Nguyễn Trường Tộ và những trí thức cùng thời. Chính nhờ lợi thế đó mà ông đã nhận thức được một cách sâu sắc lối học khoa cử là cái học rỗng tuếch (“hư học”) và chủ trương phải nhấn mạnh “thực học’, tức là nền học vấn thực tiễn không tách xa đời sống hàng ngày.
Nhìn sang các nước láng giềng, ta thấy các trí thức Nhật Bản đầu thời Minh Trị (mà Fukuzawa Yukichi là đại biểu) tuy có căn bản Hán học nhưng không suy nghĩ như những trí thức Trung Hoa và Việt Nam cùng thời vì họ không bị ràng buộc bởi lối học khoa cử, do đó bén nhạy và thích ứng hơn trong việc tiếp thu những kiến thức cận đại. Nói một cách tổng quát, với tư cách là một trí thức Công giáo và không học để đi thi, Nguyễn Trường Tộ đã có thế đứng rất đặc biệt trong khoảng thời gian từ 1850 cho đến khi tạ thế (1871), khác hẳn những sĩ phu cùng thời.
Cũng nên nói rằng Nguyễn Trường Tộ không phải là một trường hợp đơn độc trong lịch sử, bởi lẽ không phải riêng gì xã hội Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX mà trong bất cứ thời đại nào, hay ở các xã hội khác cũng vậy, những trí thức “đứng bên lề” (marginal) như Nguyễn Trường Tộ thường chính là những người nhận chân được những tệ hại trong xã hội của họ và có lối nhìn phê phán sâu sắc nhất. Tuy nhiên, không phải vì thế đứng bên lề đó mà Nguyễn Trường Tộ đã hờ hững với vận mệnh của đất nước. Trên thực tế, chúng ta đã thấy là ngược lại, vì ông đã ý thức sâu sắc mối hiểm hoạ của đất nước và cảm thấy mình có thể đóng góp vào phương sách cứu nguy cho đất nước, nên lòng yêu nước của ông lại càng biểu lộ đậm nét, cho dầu trong đó có cái gì xót xa, dằn vặt vì bị người đời và đình thần ganh ghét, nghi ngờ. Tâm sự đó đã được gởi gấm trong những vần thơ Nguyễn Trường Tộ gởi cho Phan Thanh Giản:
Dung chức tây thôn khởi vị bần,
Biệt gia cơ trữ nhận lai chân.
Đông lân cung cấm như tương vấn,
Tận bã kim châm tử tế trần.
Dệt mướn thôn Tây chẳng phải nghèo,
Khung cửi nhà ngươi sẵn đấy theo.
Gấm vóc cung Đông như hỏi đến,
Kim vàng trân trọng nắn đường thêu. 14
Hoặc:
Nhật ngự tuy vô hồi chiếu xứ,
Quỳ tâm nhưng vẫn hướng dương thầm.
Mặt trời cho dẫu không soi đến.
Hướng dương xin vẫn nép hoa quỳ. 15
(2) Vai trò của Tân thư trong việc mở rộng kiến thức Nguyễn Trường Tộ:
Tân thư là gì? Tân thư đi từ hai chữ Hán là hsin-shu gọi nôm na là “sách mới”, từ trước đến bây giờ được người Việt ta dùng để chỉ những sách chữ Hán do các nhà cải lương Trung Hoa như Khang Hữu Vi (Kang Yu-wei) và Lương Khải Siêu (Liang Ch’I-ch’ao) trước tác và được đưa vào nước ta vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Những sĩ phu có tư tưởng duy tân sau Nguyễn Trường Tộ như Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tiểu La Nguyễn Thành, v.v…đều chịu ảnh hưởng không ít của những cuốn sách này. Tân thư nói rộng ra bao gồm cả những cuốn sách do người Trung Hoa trước tác hay dịch thuật từ sách báo Tây phương kể từ thập niên 1840, sau khi Trung Hoa bị Anh đánh bại trong chiến tranh Nha phiến và muốn tìm hiểu Tây phương để đáp ứng nhu cầu “biết thêm về đối phương”. Trong thời kỳ này cũng có một số sách Tân thư do các nhà truyền giáo Tin Lành trước tác bằng chữ Hán. Khi xuất bản những sách này , họ muốn chứng minh cho người Trung Hoa thấy rằng nếu các nước Tây phương có một nền văn minh tiên tiến như vậy thì tín ngưỡng của họ (đạo Ki Tô) ắt hẳn phải có gì đáng chú ý.16
Như đã nói ở trên, chúng tôi đồng ý với hai ông Đào Duy Anh và Trương Bá Cần là những “sách bằng chữ Hán thuộc loại Tân thư” đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng kiến thức cận đại của Nguyễn Trường Tộ. Ông Đào Duy Anh có cho biết là trong tủ sách của Nguyễn Trường Tộ có rất nhiều loại sách này, có điều là hình như không ai đã ghi lại tên những cuốn sách đó. Thật đáng tiếc thay, vì phải gì nếu chúng ta được biết đầy đủ hơn về những cuốn Tân thư cùng những loại sách khác trong tủ sách đó thì chúng ta đã có thể tra cứu để biết rõ hơn về quá trình cấu tạo tư tưởng khải mông của nhân vật lỗi lạc này !
Khi đọc lại các di thảo của Nguyễn Trường Tộ để mong tìm một vài tia sáng cho vấn đề này, tình cờ chúng tôi thấy Nguyễn trường Tộ có nhắc đến cuốn Doanh hoàn chí lược (Ying-huan chih-lueh; có nghĩa là Khái lược về địa lý thế giới), mà may mắn từ trước đó chúng tôi đã được biết là một Tân thư rất nổi tiếng không chỉ ở Trung Hoa mà còn ở Nhật Bản trong khoảng hai thập niên 1850 và 1860. Để có một nhận thức về ý nghĩa của cuốn Doanh hoàn chí lượcnói riêng và Tân thư nói chung đối với Nguyễn Trường Tộ, xin giới thiệu đôi hàng về những nhận xét sơ bộ của chúng tôi.
Trước hết, chúng ta hãy xem Nguyễn trường Tộ đã nhắc đến cuốn Doanh hoàn chí lược trong trường hợp như thế nào. Trong bản điều trần “Bàn về những thế lớn trong thiên hạ” (Thiên hạ đại thế luận) đề ngày 3-4-1863, ông viết : “Tôi thường nghiên cứu sự thế trong thiên hạ mà biết rằng hoà với Pháp là thượng sách. Hơn nữa ở Âu châu việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hùng mạnh nhất không thua ai cả. Họ lại có tính khẳng khái, hiếu chiến, với uy phong của một quân đội có xe sắt. Tuy dùng binh nhưng cũng biết trọng nghĩa giữ lời, không như các nước chỉ chuyên môn thủ lợi… Khi thắng trận thì cả nước hoan hô, dù tổn thất nghìn muôn người chẳng tiếc, chỉ sao cho uy danh hùng tráng, quốc thể được bảo toàn làm trọng. Các tướng thì gan dạ nhiều mưu trí, thạo binh pháp, thuỷ chiến, lục chiến đều rất giỏi. Thật đúng như sách DOANH HOÀN CHÍ LƯỢC đã chép vậy”.17 Sau đó, trong bài điều trần về “Tám điều cần làm gấp” (Tế cấp bát điều) đề ngày 15-11-1867, khi bàn đến sự cần thiết chỉnh đốn những vùng sát phía Tây của Việt Nam và khuyên triều đình nên cho các nhà truyền giáo đến giảng đạo và giúp đỡ dân chúng các vùng đó, Nghuyễn Trường Tộ viết: “Phương Tây xưa có nhiều giống dân hung dữ chưa khai hoá, như dân Bồn Man, Vạn Tượng ngày nay, phần nhiều đều nhờ các giáo sĩ mở mang giáo hoá mà về sau dần dần trở nên thịnh lợi. Chuyện ấy sử sách các nước phương Tây còn ghi và sách Doanh hoàn chí lược cũng nói đến chứ không phải tôi bịa ra hùa theo nói tốt cho họ đâu.”18
Trong hai đoạn trích trên, Nguyễn Trường Tộ đã nhắc đến Doanh hoàn chí lược khi bàn đến một dân tộc tính, hay tâm lý, người Pháp (trích dẫn đầu) và tình hình ở Lào (trích dẫn hai). Dĩ nhiên Nguyễn Trường Tộ đã trích dẫn để nói lên tính khách quan trong luận điểm của ông, nhưng mặt khác, qua sự trích dẫn này chúng ta cũng thấy phần nào ý nghĩa của Tân thư trong quá trìng tìm hiểu tình hình trên thế giới lúc bấy giờ của Nguyễn Trường Tộ (vào thời điểm này có lẽ Nguyễn Trường Tộ chưa đi Pháp, và các nước Âu châu, nên những “sử sách các nước Tây phương” mà ông nói ở trên có lẽ là những sách đã dịch ra hoặc giới thiệu bằng chữ Hán). Bây giờ chúng ta hãy thử xem cuốn Doanh hoàn chí lược mà Nguyễn Trường Tộ đã trích dẫn ở đây là cuốn sách gì, và đã có ảnh hưởng như thế nào ở Trung Hoa và Nhật Bản?
Doanh hoàn chí lược do Từ-Kế-Dư ( Hsu Chi-yu; 1795-1873) biên soạn dưới triều vua Đạo-Quang (Tao-kuang) nhà Thanh, vào những năm 1843-1848 khi từ được bổ nhiệm về tỉnh Phúc Kiến, lúc đầu để trông coi việc buôn bán với các nước Tây phương, và sau đó với tư cách là Tuần Vũ. 19 Từ sinh ở Sơn Tây trong một gia đình khoa bảng, ông đỗ cử nhân năm 1813 nhưng phải đến mười ba năm sau mới đỗ tiến sĩ. Sau đó, Từ được bổ làm án sát tỉnh Thiểm Tây (1836) và nổi tiếng là một quan viên có khả năng giải quyết những vấn đề hóc búa. Vua Đạo Quang nghe tiếng, triệu Từ về kinh để hỏi về những phương sách chấn hưng Trung Hoa. Tương truyền khi nghe Từ trình bày, nhà vua xúc động đến rơi nước mắt. Một năm sau khi hoà ước Nam Kinh (1842) được ký kết. Từ được bổ về Phúc Kiến, và theo lệnh vua, bắt đầu tìm hiểu về tình hình nước ngoài.
Ở Phúc Kiến, Từ thường có dịp tiếp xúc với các viên chức Tây phương ở Hạ Môn (Amoy) và Phúc Châu (Foochow), trong đó có Đại uý Henry Gribble, lãnh sự Anh đầu tiên ở Hạ Môn và thông dịch của ông là David Abeel (tên chữ Hán là Nhã-Bì-Lý; 1804-1846), một giáo sĩ người Hoa Kỳ, cùng những nhân viên ngoại giao người Anh khác như George Tradescent Lay và Rutherford Alcock. Sau khi được Abeel cho xem tập bản đồ thế giới, Từ-Kế-Dư bắt đầu tập trung sưu tập những bản đồ xuất bản ở các nước Tây phương, biên soạn thêm lời chú giải dựa trên những tư liệu về tình hình kinh tế và chính trị Tây phương để hoàn thành cuốn sách này. Như đã đề cập ở trên, các giáo sĩ Tin Lành ở Trung Hoa lúc bấy giờ đang đẩy mạnh kế hoạch truyền giáo và xuất bản nhiều sách để giới thiệu văn minh Tây phương bằng chữ Hán. Đây là nguồn tài liệu chính yếu để Từ tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Trong số những tài liệu này, đặc biệt quan trọng là cuốn Universal Geography (Địa lý thế giới) viết bằng chữ Hán của Karl Gutzlaff (1803-1851), một giáo sĩ gốc người Phồ thuộc giáo hội Hà Lan. Trong khi biên soạn, Từ đã kiểm chứng những kiến thức của ông về tình hình thế giới bên ngoài với những người Tây phương mà ông có dịp tiếp xúc.
Từ biên soạn xong cuốn Doanh hoàn chí lược vào khoảng cuối tháng tám hay tháng chín năm 1848, nhưng hình như đến cuối hè năm sau sách mới được xuất bản. Nhờ lối làm việc nghiêm túc dựa trên quan điểm khảo chứng của Từ-Kế-Dư, cuốn Doanh hoàn chí lược đã chiếm địa vị là một trong những tài liệu chính yếu về thế giới bên ngoài trong hàng suốt chục năm sau đó ở Trung Hoa. 20
Cũng nên nói thêm rằng Khang-Hữu-Vi, nhà cải lương Trung Quốc nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, bắt đầu đọc Doanh hoàn chí lược vào năm mười bẩy tuổi, và đối với Khang, sách này là một trong những cuốn “sách gối đầu giường” về tình hình các nước Tây phương.21
Bộ Doanh hoàn chí lược xuất bản năm 1849 gồm 10 quyển, có gần 145.000 chữ và 42 bản đồ. Trong sách, Từ không những nói về địa lý, mà còn bàn về bản đồ chính trị thế giới vào thế kỷ XIX, hiện tình các nước, và giải thích các vấn đề nóng hổi lúc bấy giờ như sự bành trướng của các nước Tây phương sang Á châu và ảnh hưởng của nó đối với Trung Hoa và các nước triều cống xung quanh.22 Đoạn bàn về Việt Nam chiếm một phần khá lớn của quyển 1, tóm tắt sơ lược lịch sử, văn hoá, và phong tục Việt Nam từ thời Bắc thuộc cho đến thời cận đại.
Ngoài Doanh hoàn chí lược còn có một tân thư quan trọng khác là cuốn Hải quốc đồ chí (Hai-kuo t’u-chih; 1841) của Ngụy Nguyên (Wei Yuan; 1794-1856). Hai cuốn này được truyền sang Nhật và in lại vào cuối đời Tokugawa23(Doanh hoàn chí lược được in lại ở Nhật năm 1861). Đối với các chí sĩ (shishi) lúc bấy giờ đang bôn ba hoạt động để tìm phương cách cứu nguy cho Nhật Bản, chính nhờ hai cuốn sách này mà hay bíết được tình hình bên ngoài trong lúc Nhật vẫn còn thi hành chính sách bế quan toả cảng. Sau đó người Nhật tự mình đi học hỏi, điều tra các nước bên ngoài để ngày càng cập nhật hoá kiến thức của họ về thế giới nên đã bỏ xa Trung Quốc. Có điều đáng để ý là vào năm 1874, khi kiến thức nước ngoài ở Nhật nói chung đã vượt hẳn Trung Quốc, vẫn có người dịch lại cuốn Doanh hoàn chí lượcsang tiếng Nhật để làm tài liệu tham khảo. Tên sách dịch sang tiếng Nhật này được đổi là Eikan shiryaku (Doanh hoàn sử lược, tên sách ở trang đầu vẫn giữ nguyên là Doanh hoàn chí lược) và có thêm phụ đề là Zokkai eiri; tức là “tục giải” (giải thích theo ngôn ngữ thông thường để ai cũng có thể lãnh hội) và có thêm minh hoạ.24
Tuy chúng ta không thấy Nguyễn Trường Tộ trực tiếp nhắc đến tên sách Hải quốc đồ chí
Trong các di thảo, nhưng vì (1) ý nghĩa quan trọng của sách này (tương đương với Doanh hoàn chí lược) so với các tân thư lúc bấy giờ, và (2) trong di thảo của Nguyễn Trường Tộ có dấu vết của các luận điểm đề ra trong sách này, có khả năng là Nguyễn Trường Tộ đã có dịp đọc sách Hải quốc đồ chí. Điều đáng tiếc là vì tài liệu về Nguyễn Trường Tộ bị thất lạc quá nhiều nên chúng ta không có phương tiện để xác minh là giả thuyết này có đúng hay không. Nhưng, dầu sao đi nữa, để có một khái niệm tổng quát về vai trò của Tân thư ở Trung Hoa và ở Nhật – và dựa trên đó ta có thể đi đến một nhận định khách quan hơn về vị trí đặc thù của Nguyễn Trường Tộ trong giới trí thức Việt Nam trong hai thập niên 1850 và 1860 – ta cần biết sơ lược về cuốn Hải quốc đồ chí.
Ngụy Nguyên, tác giả của Hải quốc đồ chí, là bạn thân của Lâm-Tắc -Từ (Lin Tse-hsu; 1785-1850), người thay mặt triều đình nhà Thanh để giải quyết vấn đề Công ty Đông Ấn-Độ của người Anh nhập cảng thuốc phiện vào Trung Hoa. Chính Lâm đã uỷ thác cho Ngụy soạn cuốn sách này. Sách Hải quốc đồ chí xuất bản lần đầu (1842) có 50 quyển, khi in lại năm 1847 được bổ sung thành 60 quyển, và có 100 quyển khi tái bản lần thứ ba vào năm 1852. Sách có khoảng 88 vạn chữ, 75 bản đồ, và 42 trang về biểu đồ của các pháo thuyền Tây phương. Hải quốc đồ chí không chỉ cung cấp những kiến thức khách quan mà còn đề xuất những biện pháp chiến lược để đối phó với sự bành trướng như tằm ăn dâu của Tây phương. Ngụy Nguyên chủ trương “dĩ di công di” (dùng Tây phương đánh Tây phương), “dĩ di khoán di” (dùng Tây phương để lung lạc Tây phương), và “sư di chi trường kỹ dĩ chế di” (học lấy cái sở trường của Tây phương để chận đứng xâm lược Tây phương).25 Sự thay đổi lập trường của Nhật từ jôi (nhương di: chống đối Tây phương bằng vũ lực) sang kaikoku (khai quốc: mở cửa để giao thương) và cuối cùng là “học hỏi Tây phương, bắt kịp Tây phương, đi vượt Tây phương” trong những năm cuối đời Tokugawa và đầu thời Minh Trị trùng hợp với chủ trương của Ngụy Nguyên. Dĩ nhiên, cùng xuất phát từ một nhận thức tương tự với Ngụy Nguyên mà Nguyễn Trường Tộ đã điều trần về sự cần thiết của việc tiếp thu văn minh tiên tiến của Tây phương để cứu cho Việt Nam khỏi nạn mất nước, hoặc bàn về phương sách khống chế người Pháp bằng cách “nhờ kẻ khác để ngăn chận họ”, “nhờ kẻ khác để ly gián họ’, “nhờ nước khác lấy danh nghĩa mà áp chế họ”, “dùng người khác để đánh họ”, hoặc “nhờ các nước để đề phòng các nước” trong điều trần về “Lục lợi từ” (khoảng tháng 6 hoặc tháng 7 năm 1864) và trong nhiều điều trần khác.26
Khi mới xuất bản, Hải quốc đồ chí được sự chú ý của một số trí thức Trung Hoa, nhưng sau đó sách bị tuyệt bản và khi Binh bộ thị lang của nhà Thanh là Vương Mậu Ấm (Wang Mu-yin) dâng tấu xin tái bản sách để các thân vương và đại thần mỗi nhà đều có một cuốn, và dùng sách này làm tài liệu để dạy cho quân đội, thì đề nghị này bị bỏ qua. Ở Trung Hoa, không những các biện pháp do Ngụy nguyên đề ra không được thực hiện, mà ngay bản thân Ngụy Nguyên cũng không được trọng dụng. Ngụy chỉ làm đến chức Tri huyện; sau khi triều đình bị Thái bình Thiên quốc uy hiếp ông mới được thăng lên chức Tri châu, và cuối cùng chết trong hiu quạnh. Trong khi đó ở Nhật, giống như Doanh hoàn chí lược, Hải quốc đồ chí có ảnh hưởng sâu rộng và thực tiễn đối với giới trí thức trong và ngoài chính quyền. Ấn bản Hải quốc đồ chí in lần thứ hai (60 quyển, 1847) được truyền sang Nhật 3 bộ năm 1851 và 2 bộ năm 1852; ấn bản in lần thứ ba (100 quyển, 1852) được truyền sang Nhật 15 bộ vào năm 1854, trong đó 7 bộ được chính quyền Bakufu trưng dụng, và 8 bộ được đem bán trên thị trường. Kawaji Toshiakira, viên chức phụ trách tài chính và hải phòng27 của chính quyền Bakufu đã ủy thác cho Shioya Tôin chọn lọc những phần quan trọng để in lại. Bản in lại ở Nhật được xuất bản năm 1855, trong đó các địa danh, tên các loại thảo mộc, v.v… được học giả Mitsukuri Gempo chú thêm tên gọi theo các tiếng Tây phương. Chỉ trong vòng ba năm từ 1854 đến 1856 ở Nhật có tất cả đến 21 ấn bản khác nhau về Hải quốc đồ chí,28 qua đó chúng ta thấy sự quan tâm về tình hình thế giới và phản ứng thức thời, nhanh chóng của người Nhật để cứu nguy cho đất nước của họ.
Năm 1862, khi Takasugi Shinkaku (Cao-Sâm Tấn-Tác; 1839-67) – môn đệ của Yoshida Shôin (Cát-điền Tùng-lâm; 1830-59), người đi tiên phong và biểu tượng của phong trào chống Bakufu để tiến đến Minh Trị Duy Tân – bí mật sang Thượng Hải để điều tra tận mắt về tình hình Trung Hoa, hình như ông ta phải vất vả lắm mới tìm ra được một bộ Hải quốc đồ chí. Sau một thời gian ở Thượng Hải và có dịp đàm luận (bút đàm) với trí thức Trung Hoa, Takasugi cho rằng việc người Trung Hoa đã để một cuốn sách do chính người nước họ trước tác có giá trị thực tiễn chiến lược như cuốnHải quốc đồ chí tuyệt bản mà không chịu in lại là một trong ba lý do khiến Trung Hoa suy yếu. Hai lý do khác mà Takasugi đã nêu ra là: (1) trước nạn Tây xâm, thái độ của người Trung Hoa có vẻ hững hờ, mặc kệ, không mấy ai suy nghĩ đến phương cách ngăn chặn hiểm họa đó; và (2) người Trung Hoa không biết trang bị súng thần công có tầm bắn xa để ngăn chặn tàu bè Tây phương.29
Sự phổ biến Tân thư ở Việt Nam hình như còn giới hạn hơn ở Trung Hoa. Nhưng đối với những sĩ phu Việt Nam có dịp đọc Tân thư (dĩ nhiên chỉ một thiểu số ), thì phải nói ảnh hưởng của Tân thư rất sâu rộng. Điều đó được xác minh qua chứng từ của cụ Phan Bội Châu trong hai tự truyện của cụ. Ngay cả những di thảo của Nguyễn Trường Tộ, trước đây, số người được đọc rất giới hạn, nhưng đối với ai là người tâm huyết mà có đọc được thì những di thảo này đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự chuyển biến tư tưởng của họ. Chúng tôi muốn nói đến trường hợp của Nguyễn Lộ Trạch, tác giả của Thiên hạ đại thế luận, một tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng đối với phong trào Đông du và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ XX. Nguyễn Lộ Trạch có lẽ là một trong số trí thức hiếm hoi có “diễm phúc” đọc các di thảo của Nguyễn Trường Tộ. Lý do khá đơn giản : ông là con rể của Trần Tiễn Thành. Chúng tôi đề cập đến điểm này để muốn nói rằng những hạn chế trong sự phổ biến những kiến thức mới về thế giới bên ngoài là một trong những nguyên nhân chính yếu ngăn chặn sự phát triển dân trí và đà tiến hoá của nước ta.
Xuyên qua sự so sánh về tình hình phổ biến Tân thư ở Trung Hoa và Nhật Bản, chúng ta có thể nhận thức được một khía cạnh quan trọng trong sự khác biệt giữa phản ứng của hai nước đối với những thách thức của Tây phương, và qua nhận thức đó ta thấy được vì sao Nguyễn Trường Tộ - có lẽ là trí thức Việt Nam duy nhất có cơ hội đọc nhiều Tân thư nhất lúc đó – có trình độ hiểu biết đi vượt những trí thức cùng thời. Ảnh hưởng của Tân thư đối với việc mở rộng kiến thức của Nguyễn Trường Tộ dĩ nhiên không chỉ giới hạn trong cuốn Doanh hoàn chí lược mà chúng ta có thể kiểm chứng hoặc một hai cuốn khác mà còn sâu rộng hơn nữa. Một bằng chứng cụ thể là khi bàn đến ngày tháng của một vài sự kiện lịch sử Tây phương, Nguyễn Trường Tộ đã ghi theo lịch Tàu - chắc hẳn vì ông đã dựa theo sách Tân thư - mặc dầu chúng ta biết ông là người yêu nước có ý thức cao và tinh tế về sự khác biệt giữa nước ta và Trung Hoa. Ví dụ, trong bài tựa sách Đàm thiên luận (Bàn về thiên văn), khi nhắc đến việc Newton tìm ra sức hút của quả đất, ông viết: “Năm Khang Hi thứ 5, Nại Đoan (Newton) ngẫu nhiên ở trong vườn thấy một trái cây rơi xuống đất…”.30 Thật ra những danh từ riêng dùng gọi tên người (như Nại Đoan) và địa danh ngoại quốc (như Lữ Tống : Luzon hay Trảo Oa : Java) bằng chữ Hán mà ta bắt gặp rất nhiều trong toàn bộ văn bản của Nguyễn Trường Tộ chắc chắn phải dựa trên cách gọi trong sách chữ Hán của người Trung Hoa (trong trường hợp này là Tân thư) chứ không phải do Nguyễn Trường Tộ tự ý đặt ra. Nói một cách khác, dù cho Nguyễn Trường Tộ có đọc nguyên bản bằng tiếng Tây phương đi nữa, chắc chắn ông cũng đã phối kiểm các thuật ngữ và danh từ riêng qua Tân thư để có thể viết lại bằng các văn bản chữ Hán.
Nhân tiện xin bàn thêm đôi chút về cuốn Đàm thiên luận. Người viết bài này chưa đựoc xem nguyên bản Đàm thiên luận do Nguyễn Trường Tộ viết, nhưng được biết rằng trong những Tân thư của Trung Quốc cũng có cuốn Đàm thiên luận (Tan t’ien lun) xuất bản vào năm 1859 (xem hình đăng kèm). Cuốn này là bản dịch ra chữ Hán - dịch giả là Alexanser Wylie và Lý Thiện Lan - của cuốn Outline of Astronomy (Khái lược về thiên văn) của một học giả người Anh tên là Sir John F. W. Herschel (xuất bản lần đầu tiên năm 1848). Tan t’ien lun có 18 quyển do Thượng Hải Mặc Hải Thư Quán xuất bản.31 Rất có khả năng là Nguyễn Trường Tộ đã tham khảo Tan t’ien lun khi viết Đàm thiênluận.
III. PHẢI CHĂNG NGUYỄN TRƯỜNG TỘ ĐÃ GẶP Y-ĐẰNG BÁC-VĂN?
Từ trước đến nay có nhiều ý kiến về vấn đề so sánh điều kiện nước ta thời Tự Đức với Nhật Bản thời Minh Trị. Gần đây, trong Nguyễn Trường Tộ : Con người và di thảo, ông Trương Bá Cần cũng có đề cập tới vấn đền này và đưa ra những ý kiến khác biệt giữa hai nước nói chung là xác đáng. Sau đó ông bàn đến sự quan tâm của Nguyễn Trường Tộ đối với Nhật Bản thể hiện qua các văn bản của ông, và nhắc đến giả thuyết là Nguyễn Trường Tộ có gặp Itô Hirobumi (Y-Đằng Bác-Văn; 1841-1909), một giả thuyết đã được các ông Đào Duy Anh và Đào Đăng Vỹ đề ra từ lâu.32 Cuối cùng ông Trương Bá Cần đặt câu hỏi là trong phái đoàn Nhật Bản ở Paris mà Nguyễn Trường Tộ nhắc đến trong “Tế cấp bát điều” không biết có Itô Hirobumi hay không? (Bản điều trần này đề ngày 15-11-1867, trong đó Nguyễn Trường Tộ viết “hiện có 1 hoàng tử và 35 người cùng đi với một linh mục mới đến Ba-Lê và đã thiết lập ở đó một đại học xá để phái người sang học).33 Chúng tôi xin đóng góp vài ý kiến để làm sáng tỏ vấn đề này.
Trước hết người viết đồng ý với ông Trương Bá Cần là Nguyễn Trường Tộ tỏ ra rất quan tâm về Nhật Bản. Trong các di thảo, Nguyễn Trường Tộ thường đề cập đến những diễn tiến liên hệ đến Nhật có lẽ muốn dùng những biện pháp thức thời của người Nhật để chứng minh là chính sách của triều đình nhà Nguyễn quá lỗi thời. Tuy nhiên chúng ta có thể khẳng định là trong phái đoàn Nhật đến Paris năm 1867 không có Itô Hirobumi bởi lẽ đây là phái đoàn của Bakufu (tức là chính quyền Shôgun : Tướng quân), mà Itô lại là người của phái đối nghịch.34
Phái đoàn Bakufu đến Pháp thể theo lời mời dự Hội Chợ Quốc Tế (Exposition universelle) năm 1867 ở Paris của hoàng đế Napoléon III qua công sứ Léon Roches ở Nhật . Như đã đề cập ở phần trên, lúc này Pháp đang ủng hộ Bakufu và Anh đang giúp đỡ phái Satsuma – Chôshu. Roches trình bày với Shôgun Tokugawa Yoshinobu (Đức-Xuyên Khánh-Hỷ) là “nhân dịp Hội chợ Quốc Tế Shôgun nên cử người thân thích sang Pháp để tỏ tình thân thiện ngoại giao”. Shôgun đồng ý, cử bào đệ của mình là Akitake (Chiêu-Vũ) làm trưởng phái đoàn. Akitake lúc bấy giờ mới 15 tuổi, đang giữ chúc Mimbu Tayu (Dân-bộ Đại-thừa), được Shôgun phong thêm chức juyon’I Sashôgun (Tùng-tứ-vị Tả-tướng-quân), để có thể được đối xử ngang hàng với các hoàng thất nước ngoài khi giao thiệp với họ ở Pháp. Khi phái đoàn Bakufu do Akitake dẫn đầu sang đến Pháp, báo chí Pháp nhắc nhở đến rất nhiều và tỏ ra rất có thiện cảm với chính phủ mà vị “hoàng thân” trẻ tuổi này đại diện. Chính quyền Bakufu không những gởi phái đoàn tham dự mà còn có gian hàng triển lãm (nói chung là đồ mỹ nghệ) trong Hội chợ Quốc tế 1867 ở Paris. Satsuma dẫn đầu phái đoàn đối lập cũng không chịu kém, thương lượng với Pháp để mở một gian hàng biệt lập “giống như một nước độc lập”.35
Nói tóm lại, vị hoàng thân mà Nguyễn Trường Tộ nhắc đến trong di thảo chính là Akitake, thân đệ của Shôgun Tokugawa Yoshinobu, và trong phái đoàn này mặc dầu có những nhân vật rất nổi tiếng sau này như Shibusawa Eiichi (Thiệp-Trạch Vinh-Nhất; 1840-1931),36 Itô Hirobumi không tham dự phái đoàn này. Itô lúc này đang bận rộn trong phong trào phò Thiên hoàng để lật đổ Bakufu. Ngoài ra, “Đại học xá” mà Nguyễn Trường Tộ đề cập đến chắc hẳn là Nhà Satsuma, do Satsuma chứ không phải do Bakufu thiết lập, hiện nay vẫn còn ở trong khu đại học xá Cité universitaire ở Paris.
Cần để ý là vào khoảng thời gian phái đoàn Nhật Bản đến Paris, Nguyễn Trường Tộ cũng có mặt ở Pháp: ông đến Pháp với linh mục Gauthier vào cuối tháng 3, 1867 và đã rời Pháp để trở về Việt Nam vào cuối tháng 11, 1867. Thời gian này chính là thời gian Hội chợ Quốc Tế 1867 đang khai trương ở Paris. Tuần báo Semaine Religieuse de Paris (Tuần san tôn giáo địa phận Paris) ấn hành ngày 27-7-1867 có ghi lại : “Giám mục Guathier ở Paris. Trong lúc lưu lại Paris, giám mục cần thu thập các điều cần thiết cho việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp của vương quốc An-Nam và người ta quả quyết giám mục đã đặt mua ở hội chợ hơn 100.000 francs hàng hoá vào mục đích này… trong số những người phương Đông đi theo giám mục có một kiến trúc sư công giáo với một trí nhớ phi thường. Chính con người có tài năng xuất chúng này đã xây dựng nhà thờ Chính toà của chúng ta ở Sài Gòn”.37 Người “Kiến trúc sư” nhắc đến ở đây dĩ nhiên không ai khác hơn là Nguyễn Trường Tộ. Mặc dầu từ trước đến nay không có tài liệu nào nói rõ về ý nghĩa thời điểm của chuyến đi Pháp của Nguyễn Trường Tộ và giám mục Gauthier, dựa trên những chi tiết nêu ra trên đây chúng ta có thể phỏng đoán là không phải tình cờ mà thời gian ở lại Pháp của hai người đã trùng hợp với lúc Hội chợ Quốc tế 1867 đang khai trương ở Paris. Nói một cách khác , chắc hẳn Nguyễn Trường Tộ và giám mục Gauthier đã giàn xếp lộ trình để có mặt ở Paris trong thời gian đó nhằm để quan sát tận mắt những máy móc về nông nghiệp và kỹ nghệ của các nước trưng bầy trong Hội chợ, đồng thời có thể đặt mua những dụng cụ về xây dựng trường kỹ thuật ở Huế trong một môi trường thích hợp và có hiệu năng cao nhất.
Bây giờ trở lại vấn đề “phải chăng NguyễnTrường Tộ đã gặp Itô Hirobumi ?”. Chúng ta hãy xem có khả năng đó không. Nếu hai người có gặp nhau thật, thì phải lúc Itô đang ở trên đường sang Âu châu hoặc từ Âu châu trở về Nhật, và địa điểm gặp phải là Hương Cảng hoặc Mã Lai, hai nơi mà Nguyễn Trường Tộ cũng có đến. Nguyễn Trường Tộ không thể gặp Itô trong lần đi công cán ở Pháp năm 1867 được, vì như ta đã thấy lúc đó phong trào phò Thiên Hoàng để chống Bakufu của Satsuma – Chôshu đang bước vào giai đoạn cuối cùng và Itô là một nhân vật quan trọng của phong trào đó nên không thể nào rời Nhật, và trên thực tế chúng ta biết chắc chắn là ông đã có mặt ở Nhật lúc đó. Hơn nữa, trong khoảng thời gian Nguyễn Trường Tộ còn sống (tức là cho đến ngày 10-10-1871), Itô đi ra nước ngoài chỉ có một lần : đó là khi ông được Chôshu bí mật38 gởi sang Anh du học trong khoảng hai năm 1863-1864. Hè 1864, khi nghe tin hạm đội liên hợp của các nước Anh, Pháp, Hoa Kỳ, và Hà Lan pháo kích Chôshu, Itô vội vã bỏ học để từ Anh trở về Chôshu.39 Về phần Nguyễn Trường Tộ, từ tháng 9-1862 cho đến tháng 7-1864, ông ở Sàigòn chủ yếu để trông xem công việc xây cất tu viện Dòng thánh Phaolồ. Vì ông vùa là “kiến trúc sư” vừa là người quản đốc việc xây dựng, trong suốt thời gian xây cất, Nguyễn Trường Tộ dĩ nhiên phải có mặt tại chỗ, cho nên nếu ông có gặp Itô đi chăng nữa, thì thời điểm phải là sau khi việc xây cất đã hoàn thành, Nghĩa là sau tháng 7-1864, tức là khi Itô ở trên đường từ Âu châu về Nhật. Nhưng lúc đó thì Nguyễn Trường Tộ lại bị bệnh tê thấp, phải nằm điều dưỡng ở Gia Định. Trong thư gởi Trần Tiễn Thành (không đề ngày tháng …theo ông Trương Bá Cần thì vào khoảng cuối năm 1864 - đầu năm 1865). Nguyễn Trường Tộ viết :”Nhân vì chân tôi bị tê bại sắp thành phế nhân, nằm ngửa ra mà viết, tinh thần buồn bực rối loạn, tự biết nói năng không thứ tự…”.40 Trong hoàn cảnh như vậy khả năng Nguyễn Trường Tộ rời Việt Nam để đi chu du Hương Cảng hoặc Mã Lai - để rồi tình cờ gặp Itô Hirobumi trên đường từ Anh về Nhật- phải nói là hầu như không có. Huống nữa, thư Nguyễn Trường Tộ gởi Trần Tiễn Thành đề ngày 19-3-1866 cũng đã xác nhận là bệnh tê thấp của ông đã bắt đầu ngay từ khi công việc xây cất chưa xong (hoặc vừa xong) :”Tôi trước đây bị ốm nằm ở Gia Định, điều dưỡng đã gần hai năm nay, nay mười phần đã giảm năm ,sáu”.41
Để tóm lại, chúng ta có thể nói rằng ba yếu tố quan trọng đưa đến sự khác biệt về sở học của Nguyễn Trường Tộ so với các trí thức cùng thời: (1) Nguyễn Trường Tộ tuy có trau giồi Hán học nhưng không phải để lặn lội trong đường cử nghiệp nên ông có tư duy bén nhạy, năng động và thực tiễn, không bị gò bó bởi lối suy nghĩ thụ động, cứng cỏi và rập khuôn của đa số sĩ phu cùng thời chỉ biết theo đòi nghiên bút để những mong thi đỗ làm quan ; (2) ông từng chu du nhiều nơi nên có dịp kiểm chứng những kiến thức thu thập qua sách vở với những điều mắt thấy tai nghe, biết đích thực đâu là đại thế và xu hướng văn minh trên thế giới lúc bấy giờ, nên đã ý thức sâu sắc về hiểm hoạ mất nước nếu nước nhà không sớm canh tân; (3) ông có lẽ là người Việt Nam đầu tiên có may mắn đọc được nhiều Tân thư (do người Trung Hoa và các giáo sĩ Tây phương trước tác bằng chữ Hán) chúa đựng nhiều kiến thức mới mẻ về khoa học kỹ thuật cận đại và tình hình thế giới bên ngoài lúc bấy giờ.
Chúng ta đã chứng minh rằng trái với giả thuyết mà một số nhà nghiên cứu đã đề ra từ trước tới nay, Nguyễn Trường Tộ trên thực tế đã không gặp Itô Hirobumi. Chúng ta cũng đã đề cập nhiều lần đến những điểm tương đồng giữa Nguyễn Trường Tộ và các trí thức cùng thời ở Nhật, đặc biệt qua các chủ trương chú trọng thực học, đả phá hư học, không ngần ngại học hỏi đối phương để tăng cường sức mình và từng bước lấn áp đối phương. Khi học hỏi nước ngoài, Nguyễn Trường Tộ khẳng định rằng ta nên có thái độ chủ động, mời người nước ngoài vào dạy : ta là chủ họ là khách.42 Người Nhật tiếp thu văn hoá Tây phương trên căn bản cũng dựa trên chủ trương đó. Vì họ biết chủ động gởi sinh viên đi du học nước ngoài và mời người nước ngoài vào dạy dỗ, nên họ không có mặc cảm họ là “nạn nhân” của văn hoá hấp thụ từ nước ngoài, một hiện tượng thường thấy ở “các nước trong thế giới thứ ba” ngày nay, do mặc cảm “bị ép đặt” phải hấp thụ văn hoá Tây phương. Khi đứng trong tư thế của người chủ, dầu phải hy sinh, sự hy sinh đó dầu đau đớn nhưng có thể chịu đựng được ; ngược lại, nếu đứng trong tư thế bị ép đặt, con người sẽ nghĩ mình là tôi tớ, và cho dù được người nước ngoài đến dạy không lấy công hay được họ “cho quà” đi nữa, người ta vẫn cảm thấy mất mát, thậm chí nhục nhã. Người Nhật đã làm nhiều việc khiến thế giới phải khâm phục vì họ biết chủ động. Ví dụ, để xây dựng một nền công nghiệp cận đại, chính phủ Minh Trị trong những năm đầu đã không ngần ngại thuê gần 140 chuyên viên ngoại quốc qua làm trong Bộ Công nghiệp; lương của những chuyên viên này chiếm đến một phần ba ngân sách của Bộ. Điều này nói lên quyết tâm của chính phủ Minh Trị trong việc tiếp thu văn minh tiên tiến của nước ngoài. Cần để ý là mười năm sau đó, chuyên viên người Nhật đã học được nghề và có thể thay thế các chuyên viên ngoại quốc.
Nếu nhìn vấn đề như vậy, có thể nói là không những Nguyễn Trường Tộ đã “gặp” Itô Hirobumi mà còn “gặp” rất nhiều nhân vật Minh Trị khác - đặc biệt là Fukuzawa Yukichi và các trí thức trong Meirokusha. Tuy ông đã không gặp gỡ trên thực tế nhưng đã gặp họ qua phương sách vừa để đưa đất nước lên địa vị phú cường, mà qua đó lại có thể bảo vệ độc lập dân tộc của một nước Đông Á nhược tiểu trước những thách đố không ngừng của Tây phương.
Các chú thích ở trên:
1 Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh , 1988 (sẽ viết tắt là NTT), tr. 120
2 Như trên
3 Như trên
4 Như trên, tr.29.
5 Như trên, tr. 36.
6 Như trên, tr. 155
7 Như trên, trg. 84-86
8 Người viết đã có dịp trình bày điểm này chi tiết hơn trong bài “Japanese and Vietnamese Attitudes Toward China : A Comparison” (Thử so sánh lối nhìn của Nhật Bản và Việt Nam đối với Trung Quốc) đăng ở tập san Asian and Pacific Quarterly, XXI, 2 (Autumn 1989), tr. 1-13.
9 Ông Đào Duy Anh là cháu rể của Phụ Chánh Trần Tiễn Thành.
10 Ông Đào Duy Anh viết là “non hai năm”, nhưng theo những tài liệu còn lại chúng ta chỉ có thể khẳng định là Nguyễn Trường Tộ ở Pháp khoảng 8 tháng (từ cuối tháng 3 cho đến cuối tháng 11, 1867).
11 Tri Tân, Số đã dẫn, tr. 23
12 NTT, tr. 63.
13 Như trên, tr. 22-23.
14 Trong bài này, Nguyễn Trường Tộ gợi ý là ông đi làm cho Pháp (Tây) không phải vì miếng cơm manh áo mà để tìm học tận mắt văn minh của họ, khi triều đình (Đông lân cung cấm) cần dùng thì ông sẽ đem hết tài năng ra giúp.
15 Qua hai câu này Nguyễn Trường Tộ muốn nói là cho dầu triều đình không chiếu cố đến ông, nhưng lòng ông vẫn luôn luôn hướng về triều đình như hoa hướng dương. Xem “Bài trần tình”, tr. 124; nguyên văn trích từ Dặng Huy Vận và Chương Thâu, Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX (Hà Nội : Nxb Giáo Dục, 1961), tr. 30.
16 Xem Suzanne W. Barnett, “Protestant Expansion nad the Chinese Views of the West” (Sự bành trướng của Giáo Hội Tin Lành và nhận thức của Trung Hoa về Tây phương). Modern Asian Studies, 6,2 (1972). Có khá nhiều tài liệu bằng tiếng Anh về vai trò của Giáo hội Tin Lành trong thời kỳ này, chẳng hạn như : Alexander Wylie, Memorials of Protestant Missionaries to the Chinese [Những bản điều trần của các giáo sĩ Tin Lành gởi người Trung Hoa], nguyên bản sách này ra đời năm 1867, sau đó được Ch’eng-wen Publishing Company (Đài Loan) in lại năm 1967; hoặc Chang Hsit’ung, “The Earliest Phase of the Introduction of Western Political Science into China” [Sự du nhập của khoa chính trị học Tây phương vào Trung Hoa trong giai đoạn đầu], Yenching Journal of Socials Studies, V.1 (July 1950).
17 NTT, tr. 108. Đoạn bànvề nước Pháp trên đây, Nguyễn Trường Tộ trích dẫn từ nguyên bản của Doanh hoàn chí lược, tr. 533, quyển 7. Trong nguyên bản không nói đến “xe sắt” như phần trích dẫn trên đây từ NTT.
18 Đoạn bàn về nước Lào trên đây Nguyễn Trường Tộ trích dẫn từ nguyên bản của Doanh hoàn chí lược, tr. 91, quyển 1. Trong nguyên bản không có đề cập đến các giáo sĩ, hai chức “tuên uý sứ” và “tuyên vũi tư” trong nguyên bản là hai chức quan do triều đình Trung Quốc (nhà Minh) phái sang để cai trị dân địa phương chứ không phải nghĩa như chức “tuyên úy” của các tôn giáo sau này. Cần xem lại nguyên văn chữ Hán của Nguyễn Trường Tộ để xác nhận điểm này.
19 Giống như chức Tỉnh trưởng
20 Xem Fred W. Drake, “A Mid-nineteenth – century Discovery of the Non-Chinese World” [Sự khám phá của người Trung Hoa về thế giới bên ngoài vào giữa thế kỷ XIX]. Modern Asian Studies, 6,2 (1972); Saneto Keishu hiệu đính và Tam yue-him (Đàm Nhữ-Khiêm) chủ biên, Nihon’yaku Chugokusho sôgô mokuroku [Mục lục tổng hợp của những sách Trung Quốc đã dịch sang tiếng Nhật].Hong Kong : Chinese University of Hong Kong (Trung Văn Đại Học). Theo Drake, Doanh hoàn chí lược được tái bản lần thứ hai vào năm 1850, lần thứ ba vào năm 1859 (chưa được xác minh), và lần cuối cùng vào năm 1866. Không rõ cuốn mà Nguyễn Trường Tộ có xuất bản năm nào, nhưng chắc chắn là phải trước năm 1866. Trong Ssu-yu Teng và John K. Fairbank, China’s Response to the West [Phản ứng của Trung Quốc đối với (sự bành trướng) của Tây phương] có trích dịch một đoạn của Doanh hoàn chí lược, tr. 42-46.
21 Xem Sakade Yoshinobu, Kô yu-I [Khang Hữu Vi]. Tokyo : Shueisha, 1985) tr. 35-36.
22 Drake, tài liệu đã dẫn, tr.217.
23 Tức là từ năm 1853 khi chiến hạm Hoa Kỳ do Đô đốc Perry đến Nhật đòi mở cửa thông thương cho đến khi chính quyền Tokugawa bị lật đổ và bắt đầu Minh Trị Duy Tân (1868)
24 Saneto và Tam, sách đã dẫn, tr. 100
25 Xem Lu Wan-he (Lữ Vạn-Hoa). Meiji ishin to Chugoku [Minh Trị Duy Tân và Trung Quốc] (Tokyo : Rokkô Shuppan, 1988), tr.123-25.
26 NTT, tr. 145-51. Trong bản điều trần về “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh” (Lục lợi từ), Nguyễn Trường Tộ nói về tư tưởng “dĩ di trị di” nhưng qua lời của vua Đạo Quang : “Vua Đạo Quang nhà Thanh có nói : ‘Cái kế hay nhất để đánh địch không gì bằng lấy địch đánh địch’” (tr. 144)
27 Phòng vệ đường biển.
28 Tài liệu trong đoạn này chủ yếy dựa trên Lu Wan-he, sách đã dẫn, tr. 123-127. Về chi tiết của các ấn bản của Hải quốc đồ chí ở Nhật, xem Saneto và Tam, sách đã dẫn, đặc biệt các trang 4, 98-99, 101, 103, 136, 206.
29 Trích ở sách Joshua Fogel, Politics and Sinology : The Case Naitô Konan (1866-1934) [Dây liên hệ giữa chính trị và Trung -Quốc -học : Trường hợp của Naitô Konan (1866-1934)] (Cambridge, Mass : Harvard University Press, 1984), tr.15.
30 NTT. Tr.420.
31 Xem Sakade, sách đã dẫn, tr.98.
32 Ông Dào Duy Anh đã đề cập đến giả thuyết này trong bài “Nguyễn Trường Tộ học ở đâu?” đăng ở Tri Tân, số đã dẫn ; ông Đào Đăng Vỹ đã viết về vấn đề này trong bài “Nguyễn Trường Tộ và Y Đằng Bác Văn”, Văn Đàn, số 30-11-1961, tr. 11.
33 NTT, tr.99.
34 Itô xuất thân là vũ sĩ cấp dưới ở Chôshu
35 Xem Shibusawa Eichi, Tokugawa Keiki Kô den [Truyện Công tước Tokugawa Keiki] (Tokyo : Heibonsha, 1974), tập IV, tr. 3-6. Trong Meron Medzini, French Policy in Japan During the Closing Years of the Tokugawa Regime [Chính sách Pháp đối với Nhật Bản trong những năm cuối cùng của chính quyền Tokugawa] (Cambridege, Mass. : Harvard East Asian Monographs, 1971), tr. 173-174, cũng có nhắc đến phái đoàn Bakufu.
36 Sau này trở thành một nhà lãnh đạo tài giỏi vàothời Minh Trị, thiết lập chế độ ngân hàng và Daiichi Kokuritsu Ginkô (Đệ-Nhất Quốc-Lập Ngân-Hàng).
37 NTT, tr.43-44.
38 Theo luật lệ của Bakufu tức là chính quyền trung ương lúc bấy giờ, không người Nhật nào được đi ra nước ngoài.
39 Ông Trương Bá Cần có nói là “cuối năm 1864 chúng ta đã thấy có mặt ông ở Nhật Bản để làm thông dịch cho tướng quân”. Có lẽ ông đã lầm Shôgun (tướng-quân) và daimyô (đại-danh : lãnh chúa). Itô thuộc nhóm Chôshu phò thiên hoàng chống shôgun nên không có lý gì ông ta lại đi làm thông dịch cho tướng quân.
40 NTT, tr. 31.
41 Như trên.
42 Xem điều trần về “Khai hoang từ”, như trên, tr. 159-65
15. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA ÔNG
Văn Tân
Như tập san Nghiên Cứu Lịch Sử số 23 đã nói, Nguyễn-Trường-Tộ là một trong những nhân vật của lịch sử cận đại Việt Nam mà chúng ta cần đánh giá cho đúng mức. Đối với Nguyễn-Trường-Tộ từ trước đến nay, chúng ta thường có khuynh hướng đề cao. Năm 1941, ông Từ-Ngọc Nguyễn-Lân đã viết và xuất bản cuốn Nguyễn-Trường-Tộ, ở quyển sách này, ông Nguyễn-Lân đã coi Nguyễn-Trường-Tộ là một "bậc vĩ nhân đệ nhất của nước Nam" "đáng cả quốc dân tôn sùng, tượng đồng bia đá", Nguyễn-Trường-Tộ là một nhà "đại học vấn, đại kiến thức, đại tư tưởng, đại nghị luận". Trong Lịch Sử Việt Nam, ông Đào Duy Anh để cả một chương - chương XIII - để nói về các đề nghị cải cách của Nguyễn-Trường-Tộ nhưng với thái độ dè dặt hơn. Ông cho Nguyễn-Trường-Tộ là một trong "những nhà chí sĩ thức thời hiểu rõ sự cần thiết đổi mới", là một nhà nho học, nhờ một người giáo sĩ đạo Thiên chúa dạy cho chữ Pháp và đem du lịch ở Âu Châu trong ít năm, nên lại có thêm được cái học thiết thực của một nhà tân học. Từ năm 1861 đến năm 1871, thấy việc nước mỗi ngày một khó, thế nước mỗi ngày một suy, nghỉ trù nghĩ những phương sách làm cho dân giàu nước mạnh và dùng hết lời lẽ thống thiết để đưa lên triều đình mấy chục xấp điều trần. Ở các trường đại học của ta, gần đây, mỗi khi giảng về Nguyễn-Trường-Tộ, nói chung, chúng ta cũng vẫn có khuynh hướng đề cao tác giả các đề nghị cải cách mà ta vẫn gọi là các bản điều trần.
Vai trò Nguyễn-Trường-Tộ trong lịch sử thực sự ra sao? Các đề nghị cải cách của Nguyễn-Trường-Tộ, nếu được thi hành, có khả năng làm cho nước Việt-Nam trở nên giàu mạnh như Nhật-Bản hay các nước phương Tây tư sản hay không? Đây là những vấn đề chúng ta cần thảo luận để đi đến một nhận định nhất trí đặng có thể đóng góp chút ít cho công tác biên soạn thông sử hiện đang được tiến hành tích cực.
Nguyễn-Trường-Tộ sinh năm 1828 ở làng Bùi Chu, phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông thân sinh ra Nguyễn trường Tộ là Nguyễn Quốc Thư, một nhà nho làm nghề thày lang (đông y) theo Thiên chúa giáo. Ngay từ hồi còn nhỏ, Nguyễn Trường Tộ đã nổi tiếng là Trạng Tộ, vì ông thông minh đặc biệt, học đâu nhớ đấy, hiểu đấy. Năm mười tám tuổi, Nguyễn Trường Tộ theo học ông Tú Giai ở làng Bùi nghĩa, sau ông theo học ông Cử Hữu ở Kim-khê, rồi ông đến trường của một viên tri huyện hưu trí để tập làm văn. Nếu được đi thi, rất có thể Nguyễn Trường Tộ cũng thi đỗ như các nhà nho hay chữ khác. Nhưng dưới triều Tự Đức, giáo dân Thiên chúa giáo bị phân biệt đối xử, và bị gọi là "dĩu dân" tức dân xấu đối với lương dân là những người dân không theo Thiên chúa giáo. Nguyễn Trường Tộ là tín đồ của Thiên chúa giáo, lẽ tự nhiên là ông bị liệt vào hạng "du dân", và do đó bị cấm không được đi thi. Năm 1858 tức năm Nguyễn trường Tộ ba mươi tuổi, ông được giáo đường Tân-ấp mời đến dạy học chữ Hán. Giám mục Pháp là Gô-chi-ê (Gauthier) thấy Nguyễn Trường Tộ thông minh, liền đem chữ Pháp dạy cho ông. Khi ông đã biết ít nhiều tiếng Pháp rồi, Gô-chi-ê lại dạy ông cả các khoa học tự nhiên nữa, rồi đem ông đi du lịch Hồng Kông và Xanh-ga-po. Năm 1858, chiến hạm Pháp bắn phá vào Đà Nẵng báo hiệu việc mở đầu chính sách xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực. Triều đình Huế vốn vẫn nghi ngờ các tín đồ Thiên chúa giáo, nhân dịp này quay ra đàn áp các tín đồ Thiên chúa giáo. Gô-chi-ê phải đem Nguyễn Trường Tộ đi lánh nạn, và đến năm 1860 thì đem ông sang Pháp. Nguyễn Trường Tộ được lưu học ở Pa-ri chừng hai năm. Trong thời gian ở Pa-ri, ngoài việc nghiên cứu khoa học, Nguyễn Trường Tộ còn để ý nghiên cứu các hoạt động khác của xã hội Pháp lúc bấy giờ. Chính ông đã viết: "Về học vấn, thì môn gì tôi cũng để ý đến: trên là thiên văn cao xa, dưới là địa lý sâu sắc, giữa là nhân sự phiền phức, cho đến luật lịch, binh thư, bách nghệ, cách trí, thuật số đều là nghiên cứu đến nơi cả". Không những Nguyễn Trường Tộ học sách vở, ông còn đến các nhà máy để học tập trong các hoạt động thực tế của người Pháp nữa. Nhờ vậy, sau hai năm ở Pháp ông đã thâu thái được một cái vốn kiến thức khá to. Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ đáp tầu từ Pháp về Sài-gòn là thành phố đã bị quân đội Pháp đánh chiếm từ năm 1859. Khi Nguyễn Bá Nghi được triều đình Huế cử vào Gia-định thay Nguyễn Tri Phương, Nguye6~n Trường Tộ có biên thư cho Nguyễn Bá Nghi khuyên phải tạm hòa với Pháp. Tháng 6 năm 1862, Nguyễn Trường Tộ gặp Phan Thanh Giản ở Sài-gòn trong dịp Phan ký hòa ước nhường 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường cho Pháp, và mở các cửa biển cho tầu Pháp tự do vào buôn bán ở khắp nước Việt Nam.
Tháng 3 năm 1863, Phạm Phú Thứ đến Gia Định, Nguyễn Trường Tộ có gửi Phạm một tập trần tình và ba bản điều trần đưa về triều đình Huế. Trong ba bản điều trần, thì bản I là bài "Thiên hạ phân hợp đại thế luận" chuyên nói về tình hình các nước trên thế giới; bản II là bài "Dũ tài tế cấp luận" đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề lương thực, võ khí, quốc phí, dân sinh, và khuyên triều đình Huế phải khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Anh và Pháp nhằm tăng cường địa vị của Việt Nam để cuối cùng buộc Pháp phải bỏ Gia Định; bản III là bài "Giáo môn luận" đưa ra các lý lẽ khiến cho con người phải theo tôn giáo này hay tôn giáo khác. Theo Nguyễn Trường Tộ, thì nguyên nhân mất nước không phải vì có nhiều tôn giáo. Ông cho rằng: "Những người theo Thiên chúa giáo cũng đều là người do Tạo vật sinh dục, và cũng là bộ phận của nhân dân trong nước, những người phản nghịch thì chỉ là một trong một trăm hay một nghìn. Tại sao ở trên không xét rõ mà cho là phản nghịch cả?"
Năm 1864, Nguyễn Trường Tộ gặp một người Anh ở Gia Định. Người Anh này là đại biểu một viện khoa học ở Luân-đôn. Hắn mời Nguyễn Trường Tộ sang Anh dự một hội nghị khoa học, Nguyễn Trường Tộ biên thư cho Trần Tiễn Thành khuyên Trần đề nghị với triều đình Huế phái người sang Anh giao thiệp với chính phủ Anh nhằm thực hiện chính sách ngoại giao mà ông đã trình bày trong "Lục lợi từ": Lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh và Pháp. Mùa Đông năm 1865, Nguyễn Trường Tộ gửi cho Phạm Phú Thứ hai bức thư và Trần Tiễn Thành ba bức thư khuyên Phạm và Trần lưu ý đến việc mua võ khí, việc gửi học sinh ra nước ngoài, việc khai thác các nguồn lợi trong nước và việc giao thiệp với các cường quốc. Tháng 2 năm 1866, Tự Đức triệu Nguyễn Trường Tộ đến Huế để hỏi về những đề nghị cải cách do ông đề xướng, ông được Trần Tiễn Thành tiếp đón ân cần. Nhân dịp này ông có nói cho Trần Tiễn Thành biết âm mưu của thực dân Pháp là sẽ đánh chiếm nốt ba tỉnh miền Tây đất Nam Kỳ. Rồi đột nhiên Nguyễn trường Tộ bỏ Huế đi về Quảng-bình mà không hề báo cho Trần Tiễn Thành biết. (Có thuyết cho rằng Tự Đức thấy bọn quan lại ở Huế phản đối Nguyễn Trường Tộ kịch liệt quá, phải cho người hộ tống Nguyễn về quê quán). Sau khi về Quảng bình Nguyễn Trường Tộ lại cùng với Gô-chi-ê về Xã Đoài là nơi có nhiều tín đồ Thiên chúa giáo cư trú. Rồi từ xã Đoài, Nguyễn Trường Tộ lại gửi cho triều đình Huế một tập "Khai hoang từ", một tập "Quốc vị quan vị luận", một tập "Học tập sử tài luận" và một bức thư nói về việc giáo dân ở Nghệ-an bị khủng bố. Tháng 7 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ được triều đình Huế cử đi tìm mỏ từ Quảng bình đến Hải đương cùng với viên lang trung Nguyễn Văn Long. Sau đó, ông lại được triều đình Huế phái đi Gia-định để đáp tầu sang Pháp. Ở Gia-định, Nguyễn trường Tộ thấy giữa các người Pháp có sự chia rẽ, ông biên thư về cho triều đình Huế báo cho triều đình biết tình hình đó. Trong một bức thư khác viết cho triều đình, ông có nói đến cuộc khởi nghĩa của Pu-cam-pô ở Cao-miên, và khuyên triều đình tìm cách liên minh với người Khờ-me, người Xiêm, người Anh để ngăn chặn không cho Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Cuối năm 1866, sứ bộ trong đó có Nguyễn Trường Tộ đến Pháp. Từ Pháp, Nguyễn Trường Tộ gửi về cho triều đình Huếtập "Tế cấp bát điều" (Tám điều cấp cứu) khuyên triều đình: sửa sang việc võ bị; sửa đổi các tệ hại để cứu vãn tài chính; hợp tỉnh huyện, giảm quan lại; chỉnh đốn học pháp; điều chỉnh thuế ruộng; kinh lý bờ cõi; điều tra dân số; lập dục anh viện và tế cùng viện. Giữa lúc sứ bộ Việt Nam đang ở Pháp, thì quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Năm 1868 sứ bộ về nước. Trong chuyến đi này Nguyễn Trường Tộ có đem về cho triều đình Huế 3 giáo sư, một chuyên viên kỹ thuật, nhiều sách giáo khoa và các dụng cụ thí nghiệm khoa học để triều đình lập ra một trường kỹ thuật. Việc mất 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ đặt triều đình Huế vào một tình trạng vô cùng hoang mang lo sợ. Vì vậy việc lập trường kỹ thuật bị bãi đi. Dư luận Huế lúc này rất xao xuyến về việc Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây. Nhiều người coi Nguyễn Trường Tộ là tay sai của Pháp. Có người lại xin triều đình đem Nguyễn Trường Tộ ra xử tử. Tự Đức phải sai Trần Tiễn Thành cho người hộ tống ông về xã Đoài. Từ xã Đoài, Nguyễn Trường Tộ lại viết thư cho triều đình biết rằng không có hi vọng gì thu phục được đất đai đã mất bằng con đường thương lượng, và ông khuyên triều đình Huế phải sớm duy tân tự cường, đặt quan hệ ngoại giao với các nước, chờ khi Pháp có nội loạn hay bị xâm lược, thì mới có cơ lấy lại được những đất đai đã mất. Đến năm 1871, Nguyễn lại gửi cho triều đình Huế hai đề nghị, khuyên triều đình nên đánh úp quân Pháp ở Gia định, Nguyễn lại tình nguyện vào Gia định để chỉ huy cuộc đánh úp. Đến cuối năm 1871 thì Nguyễn Trường Tộ mất.
Xét các đề nghị cải cách của Nguyễn trường Tộ, nhất là những cải cách về công nghiệp và thương nghiệp, chúng ta thấy Nguyễn muốn đưa nước Việt Nam vào con đường tư sản hóa như các nước Tây Âu, cụ thể là nước Pháp và nước Anh. Về mặt công nghiệp, Nguyễn rất lưu ý đến việc khai mỏ, Nguyễn biết đất nước Việt Nam "có rất nhiều ngũ kim bát thạch, rất nhiều thứ ngọc quý và của lạ". Hồi ấy ở Pháp có những tổ chức gọi là Hội kinh doanh ngoại quốc. Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình giao thiệp với những hội ấy để nhờ họ khai thác một số mỏ ở nước ta. Theo Nguyễn, có thể thuê mướn các hội ấy hay hợp tác với các hội ấy để chia lời. Để cho các hội trên đến kinh doanh ở nước ta, theo Nguyễn, chỉ có lợi cho nước ta. Đến kinh doanh ở nước ta, tất họ phải thuê người nước ta, những người nghèo khó ở nước ta sẽ có công ăn việc làm. Kỹ sư và công nhân các nước đến nước ta tất phải thuê nhà ở, thuê đất làm nhà ở nước ta, do đó sẽ có những thành thị mới. Điều quan trọng nhất là nhân dân ta sẽ có dịp học tập được tài nghệ của các nước: "Hiện nay, cái mà chúng ta rất thiếu thốn là sự học tập tài nghệ...Nếu họ đến khai thác một chỗ nào, thì quan quân chúng ta cũng đến đó, và mắt sẽ thấy nhiều điều mà học tập được. Còn thường dân của chúng ta thì làm cho họ, cư xử gần nhau, ăn mặc như nhau, như thế thì không ngoài mười năm, tài nghệ của dân ta sẽ không kém gì họ. Như vậy thì nhà nước không tốn một đồng tiền mà nhân dân đều học tập thành nghề cả". Để cho nhân dân Việt Nam có thể học tập được tài nghệ của nước ngoài, Nguyễn Trường Tộ chủ trương một mặt phải cho người đi du học các nước châu Âu, một mặt phải mở mang các trường kỹ nghệ trong nước. Về thương nghiệp, Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình khuyến khích các nhà buôn lớn bỏ vốn ra lập thành những hội (công ty) hợp cổ, và trọng thưởng cho hội nào tập hợp được một số vốn từ một trăm quan tiền trở lên; hội nào mua được các tầu lớn để đi buôn bán với các nước châu Âu và trung-quốc cũng sẽ được trọng thưởng. Để tiện cho việc giao thông, vận tải và giao lưu hàng hóa trong nước, Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình "đào một con kênh lớn từ Hải-dương đến kinh đô Huế để cho thuyền quan hay thuyền dân, việc lớn hay việc nhỏ đều thông hành được cả". Nguyễn Trường Tộ cho rằng nông nghiệp vẫn là nền tảng kinh tế của nước ta; nông nghiệp của nước ta suy đồi là vì kỹ thuật nông nghiệp của ta thấp kém. Nguyễn đề nghị triều đình mở khoa nông chính để dạy dân các môn: 1) Thiên văn học nông nghiệp; - 2) Địa lý học nông nghiệp; - 3) Thực vật học; - 4) Địa văn khí tượng học; - 5) Tổ chức nông nghiệp trong nước. Để khuyến khích việc cải tiến kỹ thuật, Nguyễn khuyên triều đình phải chú ý khen thưởng những người có sáng kiến hay. Nguyễn lưu tâm đặc biệt đến công tác trị thủy và công tác thủy lợi. Trong tập "Tế cấp bát điều", Nguye6~n viết: "Nước ta có nhiều núi mà ít đồng bằng, khi mưa to đổ xuống thì bị thế núi quanh co ngăn lại và gây nên úng thủy, dân gian thiệt hại rất nhiều. Nay nếu đào nhiều kênh để khơi nước, nước sẽ chia đường đi chảy đi nhiều ngả, sức nó sẽ hòa hoãn không thể tràn lan". Nguyễn trường Tộ có lẽ là người Việt Nam đầu tiên nhìn thấy sự cần thiết của Thống kê học, theo ông chỉ có Thống kê học mới cho phép chúng ta biết rõ nhân lực, vật lực, tài lực của nước ta. Chính ông đã viết: "Mỗi năm ở các thành thị, hàng hóa ra vào, thuyền bè đi lại, quán khách nhà trọ, vật giá cao thấp, cùng những mối lợi về bách cốc, lục súc, sơn dầu, cửa bể, khoáng sản, tảo tác và các việc tiêu dùng, hết thảy đều phải ghi chép rõ ràng, để biết rõ được sự thịnh suy, lợi hại". Về chính trị, Nguyễn trường Tộ chủ trương thuyết "quốc dân nhất thể": "Nước cũng như cơ thể, một bộ phận bị đau thì cả cơ thể vì thế mà không yên" - "Quốc gia với nhân dân như huyết mạch trong thân thể con người. Nếu có sự đình trệ, không lưu thông, thì tất nhiên sinh ra bệnh tật". Quốc và dân đã nhất thể, thì quốc và dân phải đối xử với nhau cho có tình. Tình, theo quan niệm của nguyễn trường Tộ, rất là cần thiết cho phép trị nước: "Trị nước phải làm cho tình được thông. Tình là cái sẵn có của dân" "Tình là cái khí hòa hoãn. Nếu trên dưới không quạt cho nhau cái khí hòa hoãn để đón lấy hạnh phúc, mà chỉ đem sự sát phạt ra để đối xử với nhau, thì chỉ càng ngày càng xơ xác mà thôi". Thuyết "Quốc dân nhất thể" "thượng hạ tinh thông" của Nguyễn trường Tộ phảng phất có cái gì giống thuyết hữu cơ thể xã hội (organisme sociale) của nhà học giả tư sản Anh là Spen-xơ (Spencer) nhằm hòa hoãn sự xung đột giữa các giai cấp xã hội, làm cho các giai cấp xã hội cộng tác với nhau đặng làm cho chế độ tư sản phồn thịnh, vững vàng. Thời Nguyễn trường Tộ là thời chữ Hán được đưa lên địa vị độc tôn và là văn tự chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam. Nguyễn trường Tộ nhìn thấy những bất tiện của việc dùng chữ Hán là văn tự của dân tộc, ông đã viết: "Nếu một người nói ra một câu, lại phải nhờ một người khác dịch ra tức là một người nước khác rồi. Một nước Nam ta mà có hai thứ âm thoại, hai thứ văn tự, chẳng hóa ra một nước mà ngăn ra hai thứ người hay sao?", "chữ mình học đã không phải chính âm của trung Hoa, mà cũng không phải âm thoại của ta, khi đi học phải dùng mục lục để xem tự hoạch, lại phải dùng tâm trí đe6? nhớ lấy các tiếng lạ, còn âm vận thì chỉ người có học biết lấy mà thôi, chứ người không học nghe đến chẳng khác gì nghe giọng quạ kêu, chim hót". "Những người thông minh ở nước ta đua nhau học chữ Hán, đương lúc trai tráng, không biết làm gì để lập công nghiệp mà cứ hao công đèn sách, cặm cụi suốt năm hình như muốn học để làm người Trung-quốc, nhưng đem tiếng ấy nói với người trung-quốc, họ không thể hiểu, mà nói với dân ngu họ cũng không biết gì. Một tờ trát văn, cắt nghĩa mỗi người một khác, một chữ trong sách luật có thể thay đổi tội tình, đơn khai từ tụng, thường bị các thày cò múa bút nói sai, dân gian khai báo không kể được sự tình phiền phức. Vả lại khi nhà nước truyền xuống một lệnh gì, phải có người văn nhân cắt nghĩa cho bình dân nghe, nhưng có khi họ cắt nghĩa không rõ ràng hoặc viện dẫn xuyên tạc, cho nên bọn dân đen không hiểu được ý tứ của triều đình, tất nhiên là bị sai lầm". Rồi Nguyễn-trường-Tộ đề nghị triều đình cải cách văn tự, hay nói đúnh hơn, sáng tạo ra một thứ văn tự để làm văn tự chính thức của dân tộc: "Nay xin lấy chữ Hán làm mẫu, lựa chữ nào tiếng đã hợp với tiếng ta, thì cứ đọc theo quốc âm, không phải đọi giảng nghĩa, còn chữ nào tương tự với tiếng ta, thì cứ đánh dấu vào một bên để đọc theo quốc âm. Lại xin đem chữ đó chia ra từng loại, đặt một quyển tự vị ban khắp các nha môn và các học đường, để người ra học tập được tiện lợi. Bất cứ người nào hễ viết một tờ giấy việc quan hay là việc riêng, cũng phải theo thứ chữ của nhà nước ban bố, chứ không được thay đổi...Ta chỉ dùng chữ Hán mà đọc ra tiếng ta, không cần phải học nghĩa. Ví dụ hai chữ "thực phạn" thì cứ đọc là "ăn cơm" để thay cho hai chữ "thực phạn", như vậy không lẽ gì cho "thực phạn" quý hơn "ăn cơm"...Nếu ta đem chữ Hán mà đọc ra tiếng ta, thì mỗi người đọc ra, mọi người có thể hiểu được, chắc là sẽ bớt được những sự phiền phức vô số".
Nguyễn-trường-Tộ nhận rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc thông minh "có nhiều tài trí, học giỏi về cơ xảo, lại có tính muốn học sự hay của người". Nhưng người Việt Nam lại ở trình độ văn hóa thấp, là vì nền giáo dục của Việt Nam là nền giáo dục chỉ chú trọng những điều không thiết thực: "Thuở bé học những tỉnh Sơn-đông, Sơn-tây mắt chưa hề trông thấy, lớn lên lại làm những việc ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ mà chân thường đi tới; thuở bé học những thiên văn, địa lý, chính trị, phong tục của trung-hoa hiện nay đã thay đổi đi rồi, mà lớn lên làm những việc thiên văn, địa lý, chính trị, phong tục của nước Nam, mỗi nơi một khác:thuở bé ho,c những việc về lễ nhạc, yến tiệc, cư xử, chiến tranh trong thời quá khứ ở Trung-hoa, mà lớn lên thì làm những việc về lễ nhạc, yến tiệc, cư xử, chiến tranh ở nước Nam hiện đại".
Những đề nghị cải cách kể trên của Nguyễn-trường-Tộ biểu thị rằng Nguyễn là một nhân sĩ phong kiến tiến bộ, muốn cho nước Việt Nam giàu mạnh và có một nền văn hóa dân tộc. Những đề nghị cải cách của ông, nếu được thi hành tất có tác dụng thúc đẩy nước Việt Nam đi vào con đường tư sản hóa như nước Nhật Bản hồi nửa cuối thế kỷ XIX vậy. Xét toàn bộ các đề nghị cải cách nói trên, chúng ta thấy rằng đồng thời với Nguyễn-trường-Tộ trong giai cấp phong kiến Việt Nam còn có những phần tử như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ ...cũng từng đua ra những đề nghị cải cách ít nhiều giống như những đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ. Sau khi đi sứ sang một vài nước ở châu Âu, Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ cũng từng khuyên triều đình Huế phải điều đình với thực dân Pháp, và phải cho người ra ngoại quốc học phép phú quốc cường binh của người phương Tây. Ngoài ra, Đinh -văn-Điền người ở Ninh-bình, và Bùi-Viện người ở Thái-bình cũng từng đề nghị triều đình Huế thi hành các cải cách để làm cho nước giầu dân mạnh. Nguyễn-trường-Tộ chỉ khác Phan-thanh-Giản, Phạm-phú-Thứ, Đinh-văn-Điền, Bùi-Viện ở chỗ các điều trần của ông có vẻ thiết tha hơn và toàn diện hơn. Đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là đề nghị của những nhân vật đang sống ở nơi tối tăm khi đi ra nước ngoài được chứng kiến những cái mới lạ của nền văn minh tư sản vào lúc nền văn minh này ở thời kỳ thịnh trị. Hồi nửa đầu thế kỷ XIX ở Nhật Bản người ta đã thấy một trường hợp tương tự như trường hợp của Nguyễn-trường-Tộ ở Việt Nam. Cao-dã Trường-Anh (Takano Choei) là một người Nhật sáng suốt đã sớm biết nền văn minh tư sản châu Âu. Ông đã học tiếng Hà-lan và làm nghề thầy thuốc của người châu Âu. Năm 1838, khi một chiếc tầu Anh đến U-ra-ga làm cho cả nước Nhật xôn xao, thì Cao-dã trường-Anh cho xuất bản quyển Chuyện một giấc mộng miêu tả tỉ mỉ nền văn minh tư sản ở châu Âu, và bài bác thái độ cổ hủ của bọn chúa phong kiến trên các đảo Nhật-bản. Tức giận, bọn chúa phong kiến bắt Cao-dã trường-Anh và kết ông vào tội tù chung thân. Ở tù được ba năm,, Cao-dã Trường-Anh trốn ra khỏi nhà tù rồi làm công tác phiên dịch cho tên chúa phong kiến ở Vũ-hòa đảo. Năm 1844, Cao đổi tên họ rồi trở về Giang-hộ (Edo) làm việc dịch các sách ở châu Âu ra tiếng Nhật. Bọn chúa phong kiến dò ra tung tic'h Cao, cho lính đến bắt ông. Cao chống cự lại rất hăng, nhưng cuối cùng ông phải tự tử sau khi giết chết hai tên lính của bọn chúa phong kiến. Cao-dã Trường-Anh chỉ khác Nguyễn-trường-Tộ ở chỗ Cao hô hào, vận động công việc tư sản hóa ở nước Nhật, khi giai cấp tư sản Nhật đã ra đời và đã bắt đầu có lực lượng. Chính vì vậy, cho nên sau khi Cao tự tử, thì phong trào đấu tranh của tầng lớp phú thương Nhật và tầng lớp đại-my-ô (Daimyo) chống chế độ áp bức, bóc lột của bọn chúa phong kiến lại càng mạnh mẽ, và cuối cùng làm bùng nổ ra cuộc vận động tôn vương đảo Mạc (tôn Nhật hoàng đánh đổ Mạc phủ Đức-xuyên). Còn ở Việt Nam, Nguyễn-trường-Tộ cũng hô hào, vận động duy tân, nhưng ông hô hào, vận động duy tân, trong lúc giai cấp tư sản Việt Nam chưa đủ điều kiện hình thành. Vì vậy, Nguyễn-trường-Tộ tốn nhiều công sức mà không đạt được kết quả nào. Bọn Vua quan triều Nguyễn là bọn hủ bại, thiển cận, tự cao tự đại một cách ngu si. Đó là điều mà hết thảy mọi người đều biết cả. Nhưng bọn vua quan nhà Nguyễn là đại biểu của giai cấp phong kiến, chúng chống lại các đề nghị cải cách nhằm tư sản hóa nước Việt Nam, thì có gì là lạ? Ở Nhật-bản hồi đầu nửa đầu thế kỷ XIX, bọn chúa phong kiến ở các địa phương và bọn Mạc-phủ Đức-xuyên chẳng chống lại các cải cách nhằm tư sản hóa nước Nhật-bản đấy ư? Cao-dã Trường-Anh người lính tiên phong tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản ở Nhật chẳng bị tù chung thân, và cuối cùng phải tự tử đấy ư? Cao-dã Trường-Anh chết, nhưng cuối cùng Mạc-phủ Đức-xuyên bị đánh đổ và các thế lực phong kiến phải rút lui, để cho nước Nhật-bản đi vào con đường tư bản chủ nghĩa. Nước Nhật-bản đi vào con đường tư bản chủ nghĩa không phải tại vua Minh-Trị yêu cải cách hơn Tự-Đức, mà chủ yếu là vì ở nước Nhật hồi thế kỷ thứ XIX, giai cấp tư sản đã ra đời và đã có lực lượng ở trường chính trị và trường kinh tế. Ở Việt-Nam trong thời Nguyễn-trường-Tộ, tình hình lại hoàn toàn khác hẳn. Trong thời gian này, giai cấp tư sản vắng mặt trên vũ đài chính trị và kinh tế. Bao nhiêu quyền lực về chính trị, kinh tế, văn hóa đều tập trung vào triều đình Huế bảo thủ và cực kỳ cận thị. Lời kêu gọi của Nguyễn-trường-Tộ sở dĩ thành lời kêu gọi trong bãi sa mạc chủ yếu là vì ở sau lưng Nguyễn-trường-Tộ không có một lực lượng xã hội tiến bộ ủng hộ cho các đề nghị cải cách của ông. Nguyễn là một nhân vật khai minh của giai cấp phong kiến. Trong khi giai cấp ông tỏ ra hoàn toàn mù quáng và phản động, thì chỉ có ông và một vài người nữa là có đủ sự sáng suốt và đủ sự can đảm để đưa ra một loạt những đề nghị cải cách, nếu được thực hiện, thì có khả năng đưa nước Việt-Nam đi vào con đường tư bản chủ nghĩa.
Nguyễn-trường-Tộ là nhân sĩ khai minh, nhưng chủ trương của ông về căn bản lại là chủ trương không tưởng. Ông muốn cho nước Việt Nam Âu hóa, nhưng ông không biết rằng nước Việt Nam chỉ có thể Âu hóa khi nó có một cơ sở kinh tế và xã hội khả dĩ cho phép nó tiếp thu những đề nghị cải cách của ông. Nguyễn-trường-Tộ kém Cao-dã Trường-Anh ở chỗ ông không nhìn thấy thực trạng của xã hội Việt Nam, và không tìm thấy một lực lượng xã hội tiến bộ sẵn sàng làm hậu thuẫn cho những đền nghị cải cách của ông. Không phải đến năm 1871, tình hình nước Việt Nam mới đòi những cải cách cần thiết. Cuộc khủng khoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Việt-Nam hồi thế kỷ XVIII đã cho mọi người thấy rằng xã hội cần phải vươn mình tiến sang một chế độ mới, thì đất nước mới giàu mạnh vững vàng. Phong tào Tây-sơn vừa hé cho chúng ta con đường phải đi lên, thì giai cấp phong kiến phản động do Nguyễn-phúc-Ánh đứng đầu lại trỗi dậy kéo nước Việt-Nam trở lại tình trạng tối tăm và khủng khoảng trầm trọng hơn hồi thế kỷ XVIII. Trong thời gian từ thế kỷ XVIII đến hết nửa đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt-Nam, nói chung, là xã hội cần cải cách. Nhưng đến khi thực dân Pháp bắt đầu thi hành chính sách xâm lược, nhất là sau khi thực dân Pháp đã đánh chiếm sáu tỉnh Nam kỳ và tích cực tiến hành âm mưu đánh chiếm Bắc-kỳ và Trung-kỳ, thì vấn đề đặt ra trước dân tộc Việt Nam - mà đây là vấn đề bức thiết như nước sôi lửa bỏng - không phải là vấn đề thi hành những cải cách để tư sản hóa nước Việt Nam, mà là vấn đề tập trung tất cả mọi lực lượng của dân tộc để đánh giặc cứu nước. Vấn đề đánh giặc cứu nước, cứu dân tộc phải đặt lên trên lợi ích của gia cấp, đó là vấn đề duy nhất phải đặt ra và cấp tốc giải quyết trong dân tộc Việt-Nam, sau khi thực dân Pháp đã đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ. Đây là nhiệm vụ phải đặt lên trên tất cả các nhiệm vụ khác. Không thi hành được nhiệm vụ chủ chốt đó, thì nước sẽ mất. Và nước đã mất thì đừng có nói đến thi hành cải cách này hay cải cách khác.
Triều đình Huế khi khước từ các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ chủ yếu là vì họ phản động, ngu dốt, tối tăm. Họ gạt bỏ các đề nghị cải cách của Nguyễn, nhưng rồi họ lại ngoan ngoãn cúi đầu dâng đất nước cho giặc. Trước lịch sử, tội lỗi của chúng là ở đấy. Nhưng giả sử các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ được thi hành, thì việc đó không những không cứu được nước Việt Nam, mà trái lại chỉ tạo điều kiện làm cho nước Việt Nam chóng mất. Như bên trên chúng tôi đã từng nói, nhiệm vụ cấp bách của nước Việt-Nam, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ, là phải tập hợp mọi lực lượng dân tộc để đánh giặc cứu nước. Ngoài nghiệm vụ này không có nhiệm vụ nào khả dĩ cứu được nước Việt-Nam. Dã tâm của thực dân Pháp sau khi chúng đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ là dã tâm của một bầy hổ đói. Hòa với chúng là mù quáng và dại dột. Năm 1861, sau khi đồn Kỳ-hòa thất thủ, Nguyễn-bá-Nghi khuyên triều đình Huế phải tạm hòa với thực dân Pháp. Thực ra từ năm 1856 khi đại bác của chiến hạm Ca-ti-na (Catinat) bắn vào các đồn lũy ở cử bể Đà Nẵng cho đến năm 1884, đối với thực dân Pháp, chính sách của triều đình Huế lúc nào cũng là chính sách "hòa" liên tiếp trước một kẻ địch lúc nào cũng sẵn sàng dùng võ lực để tấn công. Triều đình Huế muốn "hòa", nhưng thực dân Pháp lại muốn "chiến" để xâm chiếm cho kỳ hết nước Việt-Nam. Các cuộc tấn công của thực dân Pháp từ năm 1858 đến năm 1884 đều nằm trong một kế hoạch đã được nghiên cứu từ lâu. Sau mấy phát đại bác bắn vào Đà Nẵng để thăm dò lực lượng, thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam-kỳ, sau khi ngồi vững ở ba tỉnh miền Đông, chúng tiến lên một bước nữa đánh chiếm ba tỉnh miền Tây; làm chủ sáu tỉnh Nam-kỳ rồi, chúng mới tính đến việc đánh Bắ-kỳ và Trung-kỳ. Vì chính sách của thực dân là chính sách "chiến", cho nên triều đình Huế cố "hòa" mà vẫn không "hòa" được. Năm 1882 khi thấy Hăng-ri Ri-vi-e đem quân ra Hà Nội, Hoàng Diệu một mặt cho phòng thủ Hà-nội, một mặt khác xin triều đình gửi viện binh ra Bắc, thì Tự Đức đã hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu là đã "đem binh dọa giặc" và "chế ngự sai đường". Tư tưởng "hòa" - thực chất là đầu hàng - là tư tưởng chủ đạo của triều đình Huế, như vậy thì việc gì Nguyễn-trường-Tộ còn phải khuyên triều đình tạm hòa với Pháp nữa? Triều đình Huế không những muốn tạm "hòa", mà còn muốn "hòa" vĩnh viễn với Pháp để có thể cứu vãn được đôi chút cơm thừa canh cặn, nhưng khốn nỗi thực dân Pháp lại cứ một mực "chiến" mãi cho đến khi chiếm hết được nước Việt Nam mới thôi. Khi biên thư cho Nguyễn-bá-Nghi khuyên triều đình Huế phải tạm hòa với Pháp, Nguyễn-trường-Tộ tỏ ra không những không hiểu triều đình Huế, mà còn tỏ ra không hiểu cả thực dân Pháp nữa. Khi đưa ra những đề nghị cải cách về công nghiệp, Nguyễn-trường-Tộ cũng nhận rằng nhân dân Việt Nam phải làm ăn chung đụng mười năm với người Âu, thì "tài nghệ" người Việt-Nam mới bằng người Âu. Những cải cách của Nguyễn-trường-Tộ chỉ có thể thi hành được khi nước Việt-Nam có một khoảng thời gian rảnh tay chừng trên dưới mười năm (theo Nguyễn-trường-Tộ). Nhưng khốn nỗi thực dân Pháp có để cho triều đình Huế nghỉ ngơi để thi hành các cải cách đâu. Chính sách của thực dân Pháp là chính sách tàm thực, đánh chiếm hết nơi nọ lại đánh chiếm đến nơi kia, như vậy thì các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ nếu được triều đình Huế chấp nhận cũng không có thì giờ để thi hành. Nhưng giả sử các đề nghị ấy được thi hành, thì kết quả cũng không phải làm cho nước Việt Nam giàu mạnh, tư sản hóa như Nguyễn-trường-Tộ mong muốn đâu, mà trái lại lại tạo điều kiện cho thực dân Pháp dễ dàng tiến hành xâm chiếm nhanh chóng Bắc-kỳ và trung-kỳ. Thật vậy, trong điều kiện đã mất sáu tỉnh Nam-kỳ, muốn thi hành các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ, triều đình Huế không thể không trông vào sự "giúp đỡ" của thực dân Pháp. Chính Nguyễn-trường-Tộ cũng nhận thấy rằng nhờ sự "giúp đỡ" của thực dân Pháp là một tất yếu trong công cuộc cải cách nước Việt-Nam nhằm đưa nước Việt-Nam vào con đường tư bản chủ nghĩa. Nguyễn đã từng khuyên triều đình Huế nhờ các Hội kinh doanh ngoại quốc của giai cấp tư sản Pháp làm các công cuộc như tìm mỏ, khai mỏ, xây dựng cửa bể, dựng nhà máy v..v... Các Hội kinh doanh ngoại quốc mà Nguyễn-trường-Tộ muốn nhờ cậy đấy là ai, nếu không phải là các tổ chức thực dân chuyên chỉ huy và phát động các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa? Nếu chúng ta biết rằng trong chính sách xâm lược hồi thế kỷ XVII công ty thương nghiệp Đông Ấn-độ đã đóng một vai trò quan trọng, thì chúng ta thấy rằng giao các công việc tìm mỏ, khai mỏ, xây dựng cửa bể, nhà máy cho các Hội kinh doanh ngoại quốc nói trên khác nào giao vận mệnh của Tổ quốc cho bọn trùm kẻ cướp? Ở thời đại ông, Nguyễn-trường-Tộ chỉ nhìn những Hội kinh doanh là những tổ chức thương nghiệp hoặc công nghiệp, ông chưa đủ sáng suốt, và kinh nghiệm để khám phá ra rằng các Hội kinh doanh ấy chỉ là các tổ chức xâm chiếm thuộc địa dấu tên mà thôi. Như chúng ta đều biết, Nguyễn-trường-Tộ là một tín đồ Thiên chúa giáo, bản thân ông đã được các giáo sĩ giáo dục và giúp đõ rất nhiều. Không có giám mục Gô-chi-ê, Nguyễn-trường-Tộ không làm gì có cơ hội biết nước Pháp hay biết các nước khác ở châu Âu. Vì lẽ đó, Nguyễn rất tin các giáo sĩ, nhất là giáo sĩ Pháp. Chính ông đã đề nghị triều đình "cho phép các giáo hội Tây phương cứ tới nước mình mà lập hội cứu tế". Không những thế, ông còn xin "nhà nước nên cho phép mỗi tỉnh lập ra một viện dục anh, giao cho một ông giám mục quản cố" nữa. Những đề nghị này cộng với những đề nghị trông nhờ vào các Hội kinh doanh ngoại quốc để phát triển kinh tế, nếu được thi hành, sẽ mở cửa nước Việt-Nam cho người Pháp kéo vào nắm giữ các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội của nước Việt Nam. Lúc này như chúng ta đều biết là lúc thực dân Pháp đã đánh chiếm xong sáu tỉnh Nam-kỳ và đang ngấp nghé Bắc-kỳ và Trung-kỳ. Ai có thể bảo đảm rằng những người Pháp hay người Âu làm ở các ngành kinh tế, văn hóa và xã hội kia lại không ngấm ngầm làm cả cái việc mà ta gọi là gián điệp nữa? Giăng Đuy-Puy (Jean Dupuis) chỉ là một tên lái buôn, nhưng trong việc thực dân Pháp đánh chiếm Bắc-kỳ năm 1873, Giăng Đuy-Puy đã giữ một vai trò quan trọng. Ta có thể nói chính đích thân Đuy-puy đã gây ra việc đánh Bắc-kỳ năm 1873. Và cũng chính Đuy-puy là kẻ xúi dục tên Tạ-văn-Phụng đánh lại triều đình nhà Nguyễn. Nhuyễn-trường-Tộ không những không tưởng ở toàn bộ các đề nghị cải cách của ông, mà ông còn không tưởng ở từng điểm trong các đề nghị cải cách nữa. Trong bức thư viết cho Trần-tiễn-Thành, Nguyễn-trường-Tộ khuyên Trần-tiễn-Thành giao thiệp với người Anh để lợi dụng người Anh chống lại người Pháp. Khi ở Gia-định, Nguyễn-trường-Tộ đã đến thăm viên lãnh sự Tây-ban-nha, và định lợi dụng mâu thuẫn giữa thực dân Tây-ban-nha và thực dân Pháp. Đây là một thủ đoạn quỷ quyệt mà các nhà ngoại giao tư sản thường dùng. Nhưng đối với triều đình nhà Nguyễn, sau khi thực dân Pháp đã đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ, thì việc vận dụng thủ đoạn trên lại không dễ mà thi hành được. Người Việt-Nam biết hoạt động ở trường ngoại giao, thì thực dân Pháp còn có đầy đủ điều kiện để hoạt động ở trường ngoại giao bằng mười ta. Thực dân Pháp lại có phương tiện hơn ta để lung lạc người Anh hay người Tây-ban-nha. Người Anh hay người Tây-ban-nha mà Nguyễn-trường-Tộ định lợi dụng cũng chỉ là bọn thực dân như thực dân Pháp, họ cũng quỷ quyệt, tham lam và cũng đang thèm muốn thuộc địa. Lợi dụng họ không được trong nhiều trường hợp là mở đường cho họ lợi dụng mình. Nguyễn-phúc-Ánh đã lợi dụng thực dân Pháp để đánh nhà Tây-sơn, nhưng Nguyễn-phúc-Ánh có ngờ đâu rằng kẻ đánh triều đình nhà Nguyễn để cướp nước Việt-Nam không phải là nông dân, mà lại là thực dân Pháp? Hồi thế kỷ XIX, giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh rõ ràng là có mâu thuẫn sâu sắc, và mâu thuẫn này đã bùng nổ ra cuộc chiến tranh giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh, cho nên năm 1882, triều đình Mãn Thanh đã cho Tạ-kinh-Bưu và Đường-cảnh-Tăng đem quân sang Việt-Nam; quân Mãn Thanh và quân Pháp đã đánh nhau mấy trận ở Bắc-kỳ. Triều đình Huế quả đã biết khai thác mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh. Nhưng đến năm 1885, sau khi Pa-tơ-nốt (Patenôtre) ký với Lý-hồng-Chương hòa ước Thiên-tân, thì triều đình Mãn Thanh công nhiên thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên đất Việt-Nam, và ra lệnh cho quân Mãn Thanh đóng ở Việt-Nam rút về Trung-quốc. Trong việc này chúng ta thấy kẻ lợi dụng mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh là triều đình Huế, nhưng kẻ thiệt thòi nhất trong việc này cũng lại là triều đình Huế. Đủ hiểu khéo léo về ngoại giao đương nhiên là cần, nhưng khéo léo mà không có lực lượng làm hậu thuẫn cho chính sách của mình, thì khéo léo vẫn không mang lại kết quả gì. Thủ đoạn lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh và Pháp, vì vậy, không phải dễ thi hành. Thủ đoạn này khác nào con dao hai lưỡi không khéo dùng thì nó quay lại làm hại ngay chính bản thân mình. Như bên trên đã nói, Nguyễn-trường-Tộ là người tin các giáo sĩ phương Tây, chính ông đã khuyên triều đình Huế giao công việc cứu tế xã hội cho các giáo sĩ phương Tây. Nhưng trong tình hình nước Việt-Nam đang bị thực dân Pháp xâm lược, triều đình Huế làm sao có thể tin các giáo sĩ phương Tây trong đó có các giáo sĩ Pháp được? Trong số các giáo sĩ phương Tây sang hoạt động ở Việt-Nam hồi thế kỷ XIX, đương nhiên là có những người thực tâm vì đạo, nhưng cũng không ít kẻ đội lốt tôn giáo để làm việc do thám cho thực dân Pháp. Lịch sử Việt-Nam đã chứng minh rõ ràng như thế, Đề nghị của Nguyễn-trường-Tộ dựa vào các giáo sĩ phương Tây để tiến hành các công tác cứu tế xã hội, vì vậy, không phải là một đề nghị có cơ sở thực tế để thi hành được.
Về chính trị như đã trình bày, Nguyễn-trường-Tộ chủ trương thuyết "Quốc dân nhất thể" "Thượng hạ tinh thông" phảng phất như thuyết hữu cơ thể xã hội của Spen-xơ. Thuyết này nhằm điều hòa mâu thuẫn giữa các giai cấp xã hội, ở thời Nguye6~n-trường-Tộ, thì đó là một chủ trương tiến bộ. Nhìn tình hình các giai cấp trong xã hội Việt-Nam hồi thế kỷ XIX, Nguyễn-trường-Tộ đã nhìn thấy "quốc chính rất là xa kẻ dưới, mà kẻ dưới thì kiếm cách che dấu lừa dối kẻ trên", "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt nhau, ăn ở với nhau như cái mâu cái thuẫn", nhiều người giữ thái độ bàng quan chủ nghĩa "nước mặc nước, ta mặc ta, hờ hững thờ ơ, không can thiệp gì". Tại sao "kẻ trên kẻ dưới" lại ở vào cái thế "như cái mâu cái thuẫn"? Tại sao trong nước lại có nhiều người giữ thái độ thờ ơ "nước mặc nước, ta mặc ta"? Nguyễn-trường-Tộ cho rằng sở dĩ xã hội có tình trạng trên là vì "đạo học không thuần túy, tâm thuật không duy nhất, thế liên hợp không có, danh vị không được coi trọng". Nhưng tại sao đạo học lại không thuần túỷ tâm thạt lại không duy nhất? Thế liên hợp lại không có? Danh vị lại không được coi trọng? Vấn dề này mới là then chốt của tất cả các vấn đề đưa ra trong các đề nghị cải cách của nhà nhân sĩ yêu nước họ Nguyễn ở làng Bùi Chu. Giải quyết được vấn đề này sẽ tạo điều kiện để giải quyết tất cả các vấn đề do tình trạng khủng khoảng của xã hội Việt-Nam hồi nửa sau thế kỷ XIX đề ra. Nhưng ở các bản điều trần của ông, Nguyễn -trường-Tộ tỏ ra không nhìn thấy vấn đề ấy, và như vậy là vì quan điểm của ông là quan điểm duy tâm của một tín đồ Thiên chúa giáo. Đứng trên quan điểm duy tâm, Nguyễn-trường-Tộ không nhìn thấy nguyên nhân làm cho xã hội Việt-Nam hồi thế kỷ XIX sinh ra tình trạng "quốc chính rất là xa cách với kẻ dưới, mà kẻ dưới thì kiếm cách che giấu lừa dối kẻ trên", "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt nhau, ăn ở với nhau như cái mâu cái thuẫn", nhiều người giữ thái độ "nước mặc nước, ta mặc ta". Nguyên nhân ấy tuyệt đối không phải là "đạo học không thuần túy" hay "tâm thuật không duy nhất", mà chính là bản thân chế độ phong kiến cực kỳ phản động do Gia-long và Minh-mệnh đã dựng ra, và Tự-đức thừa kế. Chế độ phong kiến của nhà Nguyễn đã phá hoại nghiêm trọng sức sản xuất của xã hội, làm cho công nghiệp, thương nghiệp bị đình đốn, nông nghiệp bị suy đồi, văn hóa và giáo dục bị đẩy vào con đường công thức chủ nghĩa. Muốn đưa Việt-Nam ra khỏi tình trạng khủng khoảng hồi thế kỷ XIX, muốn tạo cho nước Việt-Nam đi vào con đường tư bản chủ nghĩa, trước hết phải đánh đổ chế độ phong kiến phản động mà triều đình nhà Nguyễn là kẻ đại biểu trung thành. Vì quan điểm duy tâm, vì cũng là nhân sĩ thuộc giai cấp phong kiến, Nguyễn-trường-Tộ không quan niện nổi sự cần thiết phải đánh đổ chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Nguyễn-trường-Tộ vẫn tin ở chế độ phong kiến, và ở chế độ quân chủ thần quyền. Lập trường giai cấp phong kiến và quan điểm duy tâm của ông khiến cho ông rất tin ở chế độ quân chủ thần quyền: "Nhân quân đối với dân, thay trời mà chăn, thế trời mà làm", "thay quyền Tạo vật để chăn nuôi nhân dân". Nhưng hồi thế kỷ XIX "đấng quân nhân" mà Nguyễn-trường-Tộ đề cao lại không hề làm cái việc "chăn nuôi nhân dân", mà thực ra chỉ ăn cướp của nhân dân mà thôi: ăn cướp gián tiếp bằng sưu cao thuế nặng, ăn cướp trực tiếp bằng quan tham lại nhũng, hối lộ công hành. Những nhân quân như thế thực sự đã tách ra khỏi nhân dân, sống thù địch với nhân dân. Đó là những kẻ thù của nhân dân. Chính Nguyễn-trường-Tộ cũng nhìn thấy như thế một phần nào khi ông viết "quốc chính rất xa lạ với kẻ dưới", "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt lẫn nhau, ăn ở với nhau như cái mâu cái thuẫn". Chúng tôi nói Nguyễn-trường-Tộ chỉ nhìn thấy tình trạng trên một phần, là vì khi Nguyễn viết "kẻ mạnh kẻ yếu nuốt nhau", thì ông vẫn có ý cho rằng người gây ra tình trạng ấy không những là trên, mà còn là người dưới nữa. Nhưng thử hỏi giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, kẻ nào nuốt kẻ nào? Ai cũng biết rằng kẻ có điều kiện để nuốt kẻ khác không phải là kẻ yếu, mà là kẻ mạnh tức bọn vua quan nhà Nguyễn và chân tay của chúng. Lập trường giai cấp phong kiến của Nguyễn-trường-Tộ đã làm cho ông lẫn lộn thị phi, định gạt bớt tội lỗi của triều đình Nguyễn sang kẻ yếu là nhân dân Việt-Nam hồi nửa cuối thế kỷ XIX. Cũng do lập trường giai cấp phong kiến của ông, Nguyễn-trường-Tộ đã viết hồ đồ rằng xã hội có nhiều người giữ thái độ "nước mặc nước, ta mặc ta". Nhưng hồi nửa cuối thế kỷ XIX, ai là kẻ giữ thái độ "nước mặc nước, ta mặc ta"? Kẻ đó nhất định không phải là nhân dân Việt-Nam, mà chính là bọn "nhân quân" ở triều đình quen cầu an hưởng lạc, chỉ biết vơ vét của nhân dân để ăn chơi cho sướng và để xây dựng điện, lăng tẩm, không quan tâm gì đến đời sống của nhân dân, không lo gì đến đánh giặc cứu nước. Chính bọn "nhân quân" ở triều đình đã để cho giặc đánh chiếm hết nơi này đến nơi khác và cuối cùng đã dâng cả đất nước cho giặc để cố cứu vãn lấy chút cơm thừa canh cặn. Còn nhân dân Việt-Nam thì không những không bao giờ giữ thái độ "nước mặc nước", mà còn luôn luôn chăm lo việc nước. Khi triều đình Huế đã ký "hòa ước" sỉ nhục dâng sáu tỉnh Nam-kỳ cho giặc cũng như khi triều đình ký "hòa ước" sỉ nhục 1884 chịu sự bảo hộ của giặc, nhân dân Việt-Nam ở khắp Bắc, Trung, Nam vẫn không ngừng chiến đấu và làm cho giặc tổn thất nặng nề. Lập trường giai cấp phong kiến khiến cho Nguyễn-trường-Tộ cố tình đề cao cái "đấng nhân quân " khi các "đấng nhân quân " ấy không những ở các nước tư sản châu Âu, mà ở cả nước Việt-Nam, đã mất hết uy tín trước nhân dân và trở thành chướng ngại vật cho tiến bộ của xã hội.
Nguyễn-trường-Tộ là người khâm phục nền văn minh tư sản của các nước phương Tây, ông đã ca tụng pháp luật của các nước tư sản là những pháp luật lý tưởng. Chính ông đã viết: "Các nước phương Tây lập pháp rất chặt chẽ, mà lại trở thành khoan dung, vì rằng người người đều ở trong vòng pháp luật, không thể lừa dối được, cho nên cũng không sinh ra sự lừa dối, trở lại thấy dễ chịu một cách bất tự giác mà cho rằng pháp luật là khoan dung". Thật ra những pháp luật tư sản mà Nguyễn-trường-Tộ ca tụng có khoan dung và không lừa dối không? Dĩ nhiên pháp luật tư sản có khoan dung, nhưng đó là khoan dung với bọn bóc lột, còn đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thì pháp luật tư sản rõ ràng là những công cụ áp bức rất dã man. Khi Nguyễn-trường-Tộ viết những dòng trên, nhân dân các nước tư sản phương Tây đã nhìn thấy tính chất áp bức của pháp luật tư sản, và đã đứng lên đấu tranh nhằm thủ tiêu những pháp luật ấy đã. Công xã Pa-ri nổ ra ngày 18 tháng 3 năm 1871 đã nói lên rằng giai cấp công nhân Pháp không những đã thấy rằng pháp luật tư sản là lừa dối, mà còn thấy rằng toàn bộ bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản cũng là công cụ áp bức hết sức nặng nề đối với giai cấp công nhân. Trong tập trần tình của ông, Nguyễn-trường-Tộ đã căn cứ vào tình hình đấu tranh giai cấp ở Pháp, và tình hình châu Âu mà đoán rằng nội chiến sẽ nổ ra ở Pháp, và chiến tranh sẽ có thể xẩy ra giữa Pháp và một nước khác ở châu Âu (nước Phổ). Như vậy là chính bản thân Nguyễn-trường-Tộ cũng nhận thấy rằng trong cái xã hội Pháp mà ông ca tụng cũng đang có cái gì là áp bức đối với nhân dân Pháp. Nếu không, thì tại sao Công-xã Pa-ri lại bùng ra? Và, khi Nguyễn-trường-Tộ đã nhìn thấy Công-xã Pa-ri, thì tại sao ông lại nói rằng pháp luật tư sản ở Pháp là "khoan dung", "không lừa dối"? Nếu pháp luật tư sản quả là "khoan dung", "không lừa dối", thì tại sao những pháp luật ấy đã đem hàng vạn công nhân Pháp (đã tham gia Công-xã Pa-ri) ra bắn chết rồi chôn vùi ở nghĩa địa Père Lachaise ở Pa-ri?
Tóm lại, Nguyễn-trường-Tộ với các đề nghị cải cách của ông, nêu lên trong tập trần tình và các bản điều trần, là một nhân sĩ phong kiến khai minh. Nguyễn là một nhân vật yêu nước muốn cho nước giàu dân mạnh. Nguyễn đã tốn nhiều công sức viết các tập trần tình và các bản điều trần nhằm hô hào triều đình nhà Nguyễn sớm duy tân tự cường. Nhưng nghiên cứu kỹ các tập trần tình và các bản điều trần, chúng ta thấy các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là những đề nghị không xuất phát từ tình hình cụ thể của nước Việt-Nam, sau khi thực dân Pháp đã đánh chiếm sáu tỉnh Nam-kỳ và đang ráo riết tiến hành âm mưu đánh chiếm Bắc-kỳ và Trung-kỳ. Sau một thời gian sống ở Pháp, Nguyễn-trường-Tộ quáng lòa về nền văn minh tư sản, ông muốn lắp lại những cái mà ông thấy ở Pháp vào xã hội Việt-Nam đang lung lay muốn đổ. Nhưng xã hội Việt-Nam hồi ấy lại chưa đủ co sở vật chất để tiếp thu những đề nghị cải cách của ông. Các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là không tưởng, không thể thực hiện được. Triều đình nhà Nguyễn không thi hành các đề nghị của Nguyễn-trường-Tộ là vì chúng là những kẻ phản động, bảo thủ một cách ngu si. Nhưng giả sử những đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ được thi hành, thì các cải cách của ông cũng không cứu được nước Việt-Nam khỏi nguy cơ mất nước, mà trái lại chỉ tạo điều kiện cho bọn thực dân xâm lược Pháp càng dễ dàng đánh chiếm nốt Bắc-kỳ và Trung-kỳ. Do thái độ của triều đình nhà Nguyễn, Bắc-kỳ và Trung-kỳ tất mất vào tay quân xâm lược Pháp, mặc dầu các cải cách của Nguyễn-trường-Tộ có được thi hành hay không. Nhưng việc thi hành các đề nghị cải cách của Nguyễn sẽ làm cho thực dân Pháp dễ tiến hành âm mưu xâm lược của chúng hơn. Nói như thế không có nghĩa là chúng tôi cho rằng các đề nghị cải cách của Nguyễn-trường-Tộ là cái bao đường để cho người ta nuốt trôi được viên thuốc đắng là sự mất nước. Khi đưa ra các đề nghị cải cách, trong ý thức chủ quan, Nguyễn-trường-Tộ mong muốn cứu Tổ quốc ra khỏi tình trạng lạc hậu về kinh tế và văn hóa để do đó mà có thể làm cho Tổ quốc không bị mất vào tay bọn xâm lược Pháp. Nhưng vấn đề của thời đại Nguyễn-trường-Tộ - thời đại thực dân Pháp đã và đang xâm lấn nước ta - lại không phải là vấn đề cải cách, mà là vấn đề tập hợp lực lượng dân tộc để đánh giặc cứu nước. Đánh giặc cứu nước là vấn đề cấp bách phải đặt lên trên các nhiệm vụ khác.
|