Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ


MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
PGS, TS NGUYỄN VIẾT THẢO
    Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị là biểu hiện của mối quan hệ giữa hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đó là lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị; liên quan mật thiết đến mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giữa cái khách quan và cái chủ quan; giữa cái tất yếu và cái có thể... Về mặt lịch sử - thực tiễn, do xử lý không đúng mối quan hệ này, nên cải tổ, cải cách đã đẩy Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu từ khủng hoảng tới rối loạn và thất bại vào cuối thế kỷ XX. Do vậy, nhất thiết phải nắm vững biện chứng giữa kinh tế và chính trị, nâng cao trình độ tư duy lý luận; đồng thời, phải sâu sát thực tiễn, biết phân tích cụ thể từng tình hình cụ thể mà công cuộc đổi mới, phát triển đất nước tạo ra.(*)
Phép biện chứng duy vật do C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin xây dựng đã vạch rõ rằng, kinh tế là yếu tố quyết định cuối cùng đối với chính trị và chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại. Trong mỗi thời đại lịch sử, sự vận động của các chế độ chính trị - xã hội, suy cho cùng, đều phụ thuộc vào sự vận động của chế độ kinh tế - xã hội, trong đó phương thức sản xuất có vai trò, vị trí hàng đầu. Mặt khác, các nhà kinh điển cũng sớm cảnh báo, điều đó hoàn toàn không có nghĩa rằng kinh tế là nhân tố duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động. Chính trị, cũng như các nhân tố khác của thượng tầng kiến trúc và của ý thức xã hội, có sự độc lập tương đối và tác động trở lại đối với kinh tế. Dưới sự tác động của chính trị, kinh tế có thể được thúc đẩy, hoặc bị kìm hãm, hoặc vừa được thúc đẩy, vừa bị kìm hãm.
Vai trò quyết định của kinh tế là điều không thể bác bỏ, nhưng điều quan trọng hơn cần nhận thức nhất quán lại là sự quyết định ấy không bao giờ diễn ra một cách trực tiếp, đơn tuyến từ kinh tế đến chính trị; mà phải thông qua nhiều tầng nấc, nhiều khâu trung gian (xã hội, văn hoá, tư tưởng...), phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người và bị khúc xạ nhiều lần. Như thực tế đã chứng minh, không phải ở đâu có đa nguyên kinh tế là tất yếu có đa nguyên chính trị; không phải ở đâu có tự do kinh tế là tự nhiên sẽ có nền chính trị dân chủ... Trên cơ sở tổng kết lịch sử chính trị thế giới, Lênin đã kết luận một cách xác đáng rằng chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế; rằng chính trị bao giờ cũng được ưu tiên hơn so với kinh tế. 
Nội dung cơ bản của đổi mới kinh tế ở nước ta là chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình chuyển dịch này bao gồm hàng loạt thay đổi sâu rộng về cơ cấu thành phần kinh tế, chế độ và hình thức sở hữu các tư liệu sản xuất, hình thức tổ chức và cơ chế quản lý kinh tế. Mặc dù mang định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng nền kinh tế thị trường của nước ta vẫn phải thể hiện đầy đủ bản chất và những đặc trưng chung của kinh tế thị trường. Về bản chất, kinh tế thị trường là hệ quả tất yếu của trình độ xã hội hoá các lực lượng sản xuất; là hệ thống các quan hệ kinh tế do nền sản xuất hàng hoá tạo ra; là kiểu tổ chức nền sản xuất có “đầu vào” và “đầu ra” đều là hàng hoá; là chuỗi sản xuất - kinh doanh trong đó các chủ thể kinh tế vừa độc lập, vừa lệ thuộc lẫn nhau, cạnh tranh và hợp tác với nhau nhằm mục tiêu đạt giá trị gia tăng ngày càng nhiều hơn. Có thể khái quát 5 đặc trưng chung của kinh tế thị trường. Một là, các hoạt động kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường, dưới sự chi phối của các quy luật thị trường, trước hết là quy luật giá trị và quy luật cung cầu. Hai là, quan hệ giữa các chủ thể kinh tế là quan hệ tiền tệ. Ba là, thị trường trở thành căn cứ chủ yếu đề phân bố các nguồn lực kinh tế. Bốn là, giá trị gia tăng và lợi nhuận tối đa trở thành động lực bên trong, trực tiếp chi phối hoạt động của các doanh nghiệp. Năm là, kinh tế thị trường là tự do hoá kinh tế, mở cửa và hội nhập.
Nội dung cơ bản của đổi mới chính trị ở nước ta là đổi mới tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó trọng tâm là đổi mới hệ thống chính trị. Nói đến hệ thống chính trị là nói đến quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, đến bộ máy chính quyền và các thiết chế quản lý xã hội. Đây là những vấn đề cơ bản, mang ý nghĩa sống còn đối với mọi cuộc cách mạng, mọi chế độ xã hội. Vì vậy, đổi mới hệ thống chính trị vừa đòi hỏi sự nhạy bén, theo kịp xu thế thời đại; vừa yêu cầu sự tỉnh táo, khôn khéo và, đặc biệt, sự tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc. Với mục tiêu thực hiện tốt hơn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, quá trình đổi mới hệ thống chính trị đã và đang được triển khai trên các hướng chủ yếu. Một là, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xã hội nói chung và các thành tố trong hệ thống chính trị nói riêng. Hai là, đổi mới hoạt động lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội. Ba là, đổi mới tổ chức, bộ máy và phương thức điều hành của Chính phủ, gắn với cải cách mạnh mẽ nền hành chính quốc gia. Bốn là, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Năm là, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Đảng ta đã khởi đầu công cuộc đổi mới bằng đổi mới toàn diện và sớm chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đại hội VII (1991) sớm xác định: “Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong xã hội, nên việc đổi mới trong hệ thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị, dẫn đến sự rối loạn. Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới hệ thống chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, bởi đó là điều kiện để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và thực hiện dân chủ”(1).
Đại hội X (2006) có nhiệm vụ tổng kết 20 năm đổi mới. Với sự từng trải của đội tiền phong dẫn dắt đất nước, dân tộc vượt qua khủng hoảng và nhiều thách thức lịch sử, Đảng ta khẳng định: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp... Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội”.(2)
Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Đảng, Nhà nước đã xử lý thành công mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trên ba vấn đề then chốt. Một là, đã xây dựng, vận hành nền kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và dân tộc. Hai là, đã xây dựng, vận hành nền kinh tế thị trường phù hợp với chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Ba là, đã xác lập hệ thống chính trị với mô hình, cơ cấu và cơ chế hoạt động phù hợp với nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng, vận hành nền kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và dân tộc là một đòi hỏi khách quan, có cơ sở lý luận và thực tiễn không thể bác bỏ. Chỉ tính riêng kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, cũng đã có kinh tế thị trường  tự do của Mỹ - Anh, kinh tế thị trường xã hội của một số nước Tây Âu, kinh tế thị trường có kế hoạch của Nhật Bản, kinh tế thị trường có sự kết hợp giữa quản lý tập trung cao của nhà nước với phát huy vai trò điều tiết của thị trường do các NIC ở Đông Á áp dụng... Sở dĩ đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế thị trường khác nhau là vì, cùng với những đặc trưng chung, còn nhiều tính chất riêng, quyết định nội dung và phương thức vận động của mỗi nền kinh tế thị trường. Các tính chất riêng gắn liền với các điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội... của mỗi nước và đặc điểm, xu thế của thế giới trong từng giai đoạn cụ thể. Cần nhấn mạnh một số điều kiện cụ thể sau:
Chế độ sở hữu và cơ cấu các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Đến nay, kinh tế thị trường đã được xây dựng và phát triển qua nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, cho nên đã thích ứng với sự đa dạng về chế độ sở hữu và cơ cấu các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất. Trong cơ cấu đa dạng đó, chế độ sở hữu nào có vị trí chủ thể và hình thức sở hữu nào có vai trò chủ đạo sẽ quyết định mục đích, mô hình và con đường cho từng nền kinh tế thị trường. Trên thực tế, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu tư bản tập thể, sở hữu tư bản nhà nước... đã từng tạo ra các biến thể là kinh tế thị trường tự do và kinh tế thị trường xã hội ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản. Do vậy, với sự tồn tại sẵn của chế độ công hữu gồm nhiều hình thức sở hữu do nhà nước và tập thể làm đại diện, các quốc gia xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có cơ sở khách quan để xây dựng một kiểu kinh tế thị trường phù hợp với đặc điểm riêng. 
Quy mô kinh tế - xã hội và đặc điểm lịch sử của từng quốc gia. Mỗi nền kinh tế thị trường cụ thể bao giờ cũng được gieo trồng trên một mảnh đất hiện thực của quốc gia- dân tộc. Quá trình hình thành dân tộc Mỹ khác xa so với các quốc gia dân tộc châu Âu; lịch sử hàng trăm năm yên bình của các nước Bắc Âu rất khác so với lịch sử Nhật Bản; quy mô kinh tế - xã hội của các “con rồng” Đông Á không thể so sánh với các cường quốc tư bản Âu - Mỹ, v.v... Các sự khác biệt này chi phối mạnh mẽ đến tính chất của mỗi nền kinh tế thị trường, như thực tế đã thể hiện một cách sáng tỏ.
Bản sắc văn hoá dân tộc. Dưới tác động của nhiều nhân tố, trong đó có đạo Tin lành, dân tộc Mỹ coi tự do, tự chủ của con người cá nhân, hành động, hiệu quả và thịnh vượng là những giá trị cao nhất. Các dân tộc châu Âu thì lại rất coi trọng công bằng, phúc lợi xã hội và dân chủ. Ở Nhật Bản có truyền thống đề cao sự đồng thuận trên mọi cấp độ gia đình, tập thể và xã hội. Những bản sắc văn hoá đó làm cho nền kinh tế thị trường này không bị lẫn lộn với nền kinh tế thị trường khác.
Đặc điểm và xu thế của thế giới. Nền kinh tế thị trường nào cũng là một nền kinh tế mở cửa và hội nhập quốc tế. Bởi vậy, nó chịu sự tác động trực tiếp và phổ biến của đặc điểm và xu thế thế giới trong từng thời kỳ lịch sử. Ngày nay, thế giới đang trở thành một chỉnh thể dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá; đang phải thực hiện mục tiêu phát triển bền vững như một mệnh lệnh của thời đại; đang lấy hoà bình, hợp tác và phát triển làm chủ đề chung... Trong bối cảnh thế giới đương đại, các quốc gia đi sau không cần trải qua tuần tự các bước hình thành và phát triển của kinh tế thị trường hàng trăm năm qua; không thể rập khuôn các mô hình kinh tế thị trường có sẵn, mà phải sáng tạo ra các mô hình mới, đáp ứng đòi hỏi của hiện thực khách quan.
Xây dựng, vận hành nền kinh tế thị trường phù hợp với chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa cũng là một đòi hỏi khách quan, phù hợp với chế độ chính trị và nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam. Toàn bộ lịch sử kinh tế thị trường trong suốt hàng trăm năm qua chứng minh rằng bản thân nền kinh tế này rất cần sự quản lý và điều tiết của nhà nước. Bàn tay vô hình của cơ chế thị trường hoàn toàn không đủ để vận hành nền kinh tế thị trường, mà phải có cả bàn tay hữu hình của bộ máy nhà nước do từng chế độ chính trị, chế độ xã hội xây dựng nên. Mỗi nhà nước quản lý, điều tiết, vận hành nền kinh tế thị trường theo mục tiêu, lợi ích của mình trên cơ sở tôn trọng những quy luật kinh tế chung. Nhà nước tư sản, dưới mọi biểu hiện khác nhau của nó, đều sử dụng kinh tế thị trường như một con đường, phương tiện và công cụ nhằm củng cố chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, làm gia tăng giá trị thặng dư, tức là phục vụ mục tiêu, lợi ích giai cấp của giai cấp tư sản. Dĩ nhiên, trong quá trình này, chúng không thể không quan tâm đáp ứng một phần lợi ích của người lao động nói riêng và của toàn xã hội nói chung.
Rõ ràng là, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa chỉ là một phương án (phương án đầu tiên xét về mặt lịch sử) của kinh tế thị trường. Lịch sử loài người không dừng lại ở chủ nghĩa tư bản. Cho nên, việc xuất hiện những mô thức mới của kinh tế thị trường, trong đó có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam... cũng là những phương án hợp lôgích.
Do nhận thức kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn rất quan trọng nêu trên, Đảng, Nhà nước ta đã chủ động và tích cực xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phù hợp với các quy luật khách quan, vừa phù hợp với các đặc điểm, điều kiện cụ thể của đất nước và chế độ xã hội ở Việt Nam. Sự phù hợp của thể chế kinh tế thị trường với chế độ xã hội, trong đó quan trọng nhất là thể chế chính trị và hệ thống chính trị, là biểu hiện nổi bật, là thực chất của mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta. Thông qua sự phù hợp này, những tất yếu kinh tế và những đòi hỏi chính trị khách quan đã đồng thời được đảm bảo, gắn kết với nhau và tạo tiền đề cho nhau trong cả thể chế kinh tế thị trường và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trong xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự gắn kết nêu trên được thể hiện ngay trong mục đích của nền kinh tế, chế độ sở hữu, phương thức vận hành, chế độ phân phối và trong phương châm kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Mục đích phát triển kinh tế thị trường ở nước ta không phải thuần túy là làm gia tăng giá trị, lợi nhuận kinh tế; mà là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một nền kinh tế đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, trong đó chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất được duy trì và kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế cả nước. Phương thức vận hành nền kinh tế là vừa theo cơ chế thị trường, vừa phát huy cao độ vai trò điều tiết và chức năng quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chế độ phân phối kết hợp phân phối theo quy mô đóng góp và hiệu quả sử dụng các nguồn lực với các chính sách tái phân phối thu nhập, đảm bảo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội do nhà nước chủ trì triển khai.
Trong xây dựng, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta, sự gắn kết nêu trên được thể hiện trước hết qua bước chuyển từ hệ thống chuyên chính vô sản sang hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, trong đó nổi bật là bước chuyển từ nhà nước chuyên chính vô sản sang nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tiếp đó, nó được thể hiện qua việc xác định cơ cấu thành phần gồm 8 thành tố hiện nay của hệ thống chính trị; cả 8 thành tố đó đều là công cụ nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh: mọi quyền hành và lực lượng đều tập trung ở nơi dân. Theo tinh thần này, Đảng và Nhà nước (hai thành tố quan trọng nhất trong hệ thống chính trị) đã nỗ lực phấn đấu để các đường lối, chủ trương, chính sách ban hành phải phù hợp với quy luật khách quan, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và phải hợp lòng dân. Mặt trận Tổ quốc được giao phó thêm một chức năng quan trọng là tổ chức phản biện xã hội đối với một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước. Nhờ vậy, hệ thống chính trị của nước ta đã thích ứng với bối cảnh mới của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Trong những năm tới, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều vận động bước ngoặt, tạo ra đòi hỏi cấp thiết về tiếp tục đổi mới toàn diện cả thể chế kinh tế và hệ thống chính trị. Bước ngoặt lớn nhất sẽ là nền kinh tế chuyển từ giai đoạn tăng trưởng để thoát nghèo kéo dài suốt 15-20 năm qua sang giai đoạn tăng trưởng để cất cánh. Giai đoạn tăng trưởng mới không cho phép tiếp tục duy trì kiểu tăng trưởng về lượng chủ yếu là nhờ tăng đầu tư, mà đòi hỏi tăng trưởng với chất lượng cao chủ yếu dựa vào sự gia tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, đảm bảo sự bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái. Trước yêu cầu mới, cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đi đôi với tích cực đổi mới hệ thống chính trị.
 Để đảm bảo mối quan hệ thuận chiều giữa hai quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị, cần dân chủ hoá và minh bạch hoá hơn nữa quá trình ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đảng lãnh đạo, nhưng không đưa ra trước các quyết định, mà trước hết là phải tạo điều kiện, cơ chế cho giới chuyên môn, cho nhân dân thảo luận, nêu các phương án khác nhau. Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong việc đưa ra quyết định cuối cùng, lựa chọn một phương án cụ thể. Kiên quyết phòng chống nguy cơ một số nhóm lợi ích chi phối quá trình hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách. Đổi mới thể chế kinh tế là để giải phóng sức sản xuất, phát triển sức sản xuất; đổi mới hệ thống chính trị là để tập hợp toàn dân, tổ chức toàn dân thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung. Chỉ như vậy, quá trình đổi mới mới tiếp tục được đẩy mạnh đồng bộ, hài hoà cả về kinh tế và hệ thống chính trị, đưa Việt Nam tới đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC KẾ CẬN  ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ CỦA HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI KỲ MỚI
(Báo cáo đề dẫn Hội thảo)

Trong hơn 55 năm xây dựng và phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Học viện đã đào tạo cho Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị hàng vạn cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ lý luận chính trị; cung cấp nhiều luận cứ khoa học có giá trị cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong mọi giai đoạn cách mạng, Học viện luôn thực hiện tốt chức năng là công cụ tổ chức và tư tưởng của Đảng. Với những thành tích đó, Học viện đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng, và gần đây nhất là danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới. Nguyên nhân của những thành công trên đã được đánh giá qua các lần tổng kết trước đây, và các đánh giá đều thống nhất nhận định: sự nỗ lực, cố gắng không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, đặc biệt là cán bộ khoa học của Học viện là nhân tố quyết định mọi thành công của Học viện.
Như chúng ta đều biết, đội ngũ cán bộ khoa học là lực lượng nòng cốt, là “đội quân chủ lực” trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện. Chất lượng của đội ngũ cán bộ khoa học quyết định chất lượng công tác của Học viện, diện mạo, “bản sắc” của đội ngũ cán bộ khoa học quyết định diện mạo, bản sắc của Học viện, uy tín của đội ngũ cán bộ khoa học quyết định đến vị thế, uy tín của Học viện trong đời sống xã hội. Nhận thức rõ vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học trong quá trình phát triển của Học viện, Ban Cán sự đảng, Ban Giám đốc, Đảng uỷ Học viện luôn quan tâm chăm lo đến công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học để đội ngũ cán bộ này đủ sức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Nhờ vậy, Học viện đã có được một đội ngũ cán bộ khoa học khá đông đảo về số lượng với chất lượng không ngừng được nâng cao.
Tính đến tháng 8 năm 2005 tổng số cán bộ khoa học có học hàm GS, PGS và học vị từ  thạc sỹ trở lên là 404 người, chiếm 48,33% tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Học viện, trong đó có 13 nhà giáo Ưu tú chiếm 1,55%; có 11 giáo sư, chiếm 1,32%; có 52 phó giáo sư, chiếm 6,22%; có 197 tiến sỹ, chiếm 23,56%; có 144 thạc sỹ, chiếm 17,22%; tổng số cán bộ, công chức, viên chức của Học viện. Số cán bộ khoa học có trình độ cử nhân chỉ có 90 người, chiếm 10,76%.
Đứng trên quan điểm lịch sử, cụ thể và toàn diện để đánh giá thì đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện có những mặt mạnh rất cơ bản như: bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa; có lối sống lành mạnh, giản dị; tâm huyết với nghề nghiệp, say mê với công tác nghiên cứu, giảng dạy; tuyệt đại đa số được đào tạo cơ bản, đã được thử thách trong hoạt động thực tiễn cách mạng và có khả năng, năng lực tốt và có kinh nghiệm trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Trên nhiều lĩnh vực chuyên ngành đã có những cán bộ có uy tín trong và ngoài Học viện, đang phát huy có hiệu quả năng lực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và giảng dạy lý luận chính trị. Một số cán bộ khoa học vừa là nhà giáo dục, nhà sư phạm, người thầy gương mẫu, vừa là nhà khoa học có nhiều công trình được đánh giá cao, có thể trở thành những nhà khoa học đầu ngành có uy tín. Một số đồng chí có khả năng sư phạm tốt, biết kết hợp một cách sáng tạo các phương pháp khác nhau, các phương tiện hiện đại cho từng môn học và từng đối tượng học viên mang lại hiệu quả cao, phát huy được tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học. Nhiều đồng chí luôn theo sát những vấn đề bức xúc nảy sinh từ thực tiễn để thu thập và xử lý thông tin, vì vậy các bài giảng luôn sống động, mang tính thời sự cao nhờ những tri thức thực tiễn và cách thức luận giải vấn đề khoa học từ thực tiễn đang đòi hỏi. Một số cán bộ khoa học được đào tạo ở nước ngoài có trình độ ngoại ngữ khá thành thạo trong nghiên cứu khoa học và trong giao tiếp. Trong những năm qua đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc; đã có bước trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và sự trưởng thành rất cơ bản đó, chuyển sang thời kỳ mới, trước những yêu cầu mới, nhiệm vụ mới, đội ngũ cán bộ khoa học còn bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập như Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ. Đó là: “Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu còn một số mặt hạn chế, nhất là về khả năng cập nhật kiến thức khoa học hiện đại, hiểu biết thực tiễn đất nước và thế giới, về khả năng ngoại ngữ, tin học và sử dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại”. Đặc biệt, do công tác xây dựng lực lượng kế cận còn chậm nên đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện đã bộc lộ rõ sự hẫng hụt giữa thế hệ cán bộ khoa học hiện đang giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động khoa học của Học viện với thế hệ cán bộ khoa học kế cận.
Một đội ngũ cán bộ khoa học mạnh là một đội ngũ có đủ về số lượng để có thể đảm đương được nhiệm vụ, có chất lượng cao để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời phải đảm bảo cơ cấu hợp lý về mặt chuyên môn, giới tính, độ tuổi,….
Cơ cấu độ tuổi nói lên khả năng phát triển liên tục, bền vững của đội ngũ cán bộ khoa học. Cơ cấu về độ tuổi của đội ngũ cán bộ khoa học Học viện hiện nay như sau: dưới 30 có 63 người; 31 - 40 tuổi có 115 người; 41 - 50 tuổi có 127 người; 51 tuổi trở lên có 154 người. Cơ cấu này bất hợp lý vì cán bộ có độ tuổi cao chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ cán bộ có độ tuổi dưới 30 quá thấp, chỉ chiếm 15,59%, không bảo đảm sự phát triển bền vững của toàn đội ngũ trong tương lai. Trên thực tế, nếu không tính đến yếu tố kéo dài thời gian công tác thì từ nay đến năm 2010 sẽ có 100 cán bộ khoa học về hưu, trong đó có: 23 GS,PGS ; 48 tiến sĩ và30 thạc sĩ. Như vậy, chưa tính đến nhân tố gia tăng về yêu cầu nhiệm vụ thì trong 5 năm tới Học viện vẫn phải đào tạo để thay thế cho số cán bộ khoa học nghỉ hưu. Trong thực tế, do sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ nên đội ngũ cán bộ khoa học cũng phải có sự phát triển tương ứng về số lượng và chất lượng thì mới có thể không bị hẫng hụt. Chính vì vậy, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận cho tương lai, trước hết là cho giai đoạn 2010 - 2015 là nhiệm vụ trọng yếu vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Bước sang thời kỳ mới, thời kỳ đất nước tiến hành đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; trong bối cảnh khu vực và thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, đặt nước ta trước những thời cơ và thách thức to lớn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, sáng suốt và nỗ lực cao để đạt tới mục tiêu đã đề ra. Trong bối cảnh đó, ngày 30 tháng 7 năm 2005 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 52- NQ/TW về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Nghị quyết yêu cầu Học viện phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn để ngang tầm với đòi hỏi của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết đã đề ra những quan điểm, định hướng lớn và chỉ ra những giải pháp cụ thể cần thực hiện trong quá trình thực hiện yêu cầu nhiệm vụ nêu trên. Về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học,  Nghị quyết của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu, đặc biệt là cán bộ khoa học đầu ngành; có biện pháp mạnh và cấp thiết để sau một số năm đáp ứng đủ số lượng, bảo đảm chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cho Học viện”.
Để triển khai thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị về Học viện trên lĩnh vực công tác cán bộ khoa học, đòi hỏi sự sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị ở Học viện, đặc biệt là sự đóng góp nhiệt tình của các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học chủ chốt, các chuyên gia đầu ngành trong Học viện. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám đốc Học viện, sự giúp đỡ của Vụ Quản lý khoa học, Vụ Tổ chức - Cán bộ tổ chức hội thảo khoa học này với mong muốn chúng ta cùng nhau trao đổi và thống nhất được phương hướng, mục tiêu và những giải pháp mạnh nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận đủ sức đảm đương được yêu cầu nhiệm vụ của Học viện trong giai đoạn 2010 - 2015.
Để có thể đề ra được phương hướng, mục tiêu và giải pháp đúng đắn, phù hợp trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận cho giai đoạn 2010 - 2015, trước hết chúng ta cần đánh giá được thực trạng của đội ngũ cán bộ khoa học trẻ hiện có.
            Như chúng ta đã biết, từ năm 1990 trở đi, Học viện đã chú trọng việc tuyển dụng những sinh viên mới tốt nghiệp loại khá giỏi các ngành khoa học xã hội và nhân văn để đào tạo cán bộ kế cận. Trong 15 năm qua chúng ta đã tuyển dụng được trên dưới 200 cán bộ trẻ theo nguồn này, trong đó có 139 cán bộ trẻ được xếp vào ngạch nghiên cứu viên và giảng viên với định hướng là sẽ đào tạo họ thành cán bộ khoa học cho các đơn vị trong Học viện. Học viện cũng đã tiến hành một số biện pháp để đào tạo, bồi dưỡng đội  ngũ cán bộ khoa học trẻ như: tổ chức các lớp đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ, tin học; lựa chọn, cử những cán bộ tỏ ra có triển vọng đi đào tạo cao học, nghiên cứu sinh trong và ngoài nước; xây dựng tiêu chuẩn để cán bộ khoa học trẻ phấn đấu, trưởng thành; giao cho các cán bộ khoa học có kinh nghiệm nhiệm vụ kèm cặp cán bộ khoa học trẻ vv…Đồng thời với các biện pháp tổ chức đó, Đảng uỷ, các tổ chức đoàn thể trong Học viện cũng thường xuyên quan tâm giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, tác phong cho đội ngũ cán bộ này. Nhờ đó, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện đã có bước trưởng thành nhất định về trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học và đã bước đầu nhập cuộc vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện. Cụ thể là: Về trình độ học vấn, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có 3 tiến sĩ, 54 thạc sĩ và có 40 em đang theo học cao học, nghiên cứu sinh trong nước và ở nước ngoài. Hầu hết cán bộ khoa học trẻ (trừ những em mới tuyển dụng) đều đã được đào tạo theo chương trình Cao cấp lý luận chính trị hoặc cử nhân chính trị. Cán bộ khoa học trẻ của Học viện có trình độ ngoại ngữ, tin học khá thành thạo trong giao tiếp, một số người có thể sử dụng được ngoại ngữ trong nghiên cứu khoa học. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ đã có sự nỗ lực cao trong học tập nâng cao trình độ và rèn luyên lập trường, tư tưởng, đạo đức cách mạng, một số cán bộ trẻ đã thể hiện được năng lực trong công tác nghiên cứu khoa học, tỏ ra có triển vọng trở thành người cán bộ khoa học thực thụ.
Tuy nhiên, so với yêu cầu thì đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện phát triển còn chậm. Sau một thời gian khá dài (10 - 15 năm), đến nay, số cán bộ khoa học trẻ có trình độ sau đại học chỉ chiếm 41%, còn 82 cán bộ khoa học trẻ vẫn chỉ có trình độ cử nhân. Quan trọng hơn, cho đến nay, số lượng cán bộ khoa học trẻ có thể đảm nhiệm được công tác giảng dạy rất ít ỏi. Một số cán bộ trẻ được bố trí báo cáo chuyên đề chủ yếu là do đơn vị tạo kiện để họ được hưởng phụ cấp đứng bục.  Đặc biệt đáng lo lắng là trong số cán bộ trẻ đã xuất hiện tình trạng thờ ơ, bàng quan với các hoạt động của Học viện hoặc nhụt chí, giảm sút tinh thần tiến thủ. Trong khi đó, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học đủ về số lượng, có năng lực trí tuệ, trình độ cao về chuyên môn, nghiệp vụ; bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất đạo đức tốt, đủ sức đảm đương được nhiệm vụ chính trị của Học viện trong giai đoạn mới. Bởi vậy, chúng ta phải có những giải pháp mạnh và đồng bộ trong tất cả các khâu từ quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ khoa học trẻ. Sau đây, chúng tôi xin nêu lên một số vấn đề có tính chất phác thảo để chúng ta cùng trao đổi, thảo luận đi đến thống nhất chung.

1. Về vấn đề tạo nguồn cán bộ khoa học bổ sung.
Để đảm bảo mục tiêu đề ra về lực lượng cán bộ khoa học kế cận, không thể không tiến hành tuyển chọn bổ sung. Nhưng trước thực trạng đội ngũ cán bộ khoa học trẻ của Học viện phát triển chậm, đã có ý kiến cho rằng, không nên tuyển dụng sinh viên để đào tạo trở thành cán bộ khoa học vì thời gian đào tạo quá lâu, lại không bảo đảm chắc chắn có thể đào tạo được những cán bộ khoa học thực thụ. Theo họ, cách tốt nhất là tuyển chọn những cán bộ đã có học hàm, học vị hoặc những cán bộ lãnh đạo quản lý về công tác tại Học viện. Theo chúng tôi, nếu làm như vậy sẽ đáp ứng được ngay nhu cầu cán bộ của Học viện, nhưng việc tuyển chọn cũng không phải dễ dàng. Hơn nữa, không thể vì công tác đào tạo cán bộ khoa học kế cận khó khăn mà chúng ta không chuẩn bị cho tương lai phát triển của Học viện. Vì vậy, phải chăng, kết hợp tuyển chọn cán bộ khoa học làm việc được ngay với tuyển chọn để đào tạo lâu dài là giải pháp tối ưu? Về nguồn tuyển chọn nên chăng cũng cần đa dạng, trong đó tập trung vào những nguồn chủ yếu sau:
- Giảng viên của các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của các trường đại học, cao đẳng có thành tích trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
 - Các đồng chí có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ đã bảo vệ luận văn, luận án ở các trường đại học trong và ngoài nước có chuyên ngành phù hợp.
- Các đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể ở Trung ương và địa phương về học tập tại Học viện, sau khi tốt nghiệp cử nhân chính trị hay cao cấp lý luận chính trị với kết quả học tập tốt, có khả năng nghiên cứu và giảng dạy.
 - Cử nhân mới ra trường có chuyên ngành phù hợp và hội đủ các điều kiện cần thiết (học lực loại khá, giỏi, có đạo đức tốt, là đảng viên hoặc có thể trở thành đảng viên).
Đối với nguồn tuyển chọn để đào tạo lâu dài, hiện cũng có những ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, tuyển rải rác với số lượng ít, chỉ cần đủ để thay thế biên chế của cán bộ nghỉ hưu. Cũng có ý kiến cho rằng, chỉ tuyển theo từng đợt với số lượng lớn để có điều kiện tập trung đào tạo. Đúng là để có điều kiện tập trung đào tạo theo quy trình thì tuyển chọn theo từng đợt là thích hợp. Cùng vì vậy mà hiện nay Học viện đang chuẩn bị cho việc tuyển dụng và đào tạo lớp cán bộ trẻ mới (với số lượng 60 em) để xây dựng lực lượng kế cận. Nhưng nên chăng, bên cạnh việc tuyển theo đợt tập trung chúng ta cũng cần luôn luôn mở rộng cửa với những tài năng trẻ thực sự muốn về công tác tại Học viện? Bên cạnh đó, quy trình tuyển chọn cũng là vấn đề cần phải có sự nghiên cứu, trao đổi để đảm bảo chọn lựa được những người thật sự có năng lực và triển vọng trở thành người cán bộ khoa học lý luận chính trị.  
2. Vấn đề xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ khoa học kế cận của Học viện.
Đây là một nội dung rất quan trọng, nhằm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao của Học viện. Hiện nay, vẫn có người cho rằng, việc xây dựng quy hoạch cán bộ khoa học là công việc của Vụ Tổ chức - Cán bộ còn các đơn vị chỉ thực hiện theo. Rõ ràng là, việc làm rõ trách nhiệm cụ thể của cơ quan tham mưu về công tác cán bộ, của các cấp uỷ Đảng cũng như của thủ trưởng và tập thể lãnh đạo đơn vị về công tác này là hết sức cần thiết. Nhưng đồng thời cũng cần khẳng định rằng, quy hoạch phải tiến hành từ cơ sở, từ đơn vị mới đảm bảo tính khoa học và sát hợp.
3. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kế cận:
Qua các lần hội nghị, hội thảo và các đề tài khoa học đã tiến hành, chúng ta đã thống nhất được một số vấn đề liên quan đến công tác đào tạo và bồi dưỡng, cán bộ khoa học và cán bộ khoa học kế cận. Chẳng hạn, về nội dung đào tạo, bồi dưỡng nhiều ý kiến đều thống nhất: cần rèn luyện cán bộ khoa học trẻ về lập trường cộng sản, đạo đức cách mạng, tác phong của người cán bộ lý luận, người giảng viên Trường Đảng……Đồng thời, cần tập trung trang bị cho cán bộ khoa học về lý luận chủ nghĩa Mác - lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, trong đó đặc biệt chú ý trang bị kiến thức về kinh điển mác xít; về kiến thức chuyên sâu của các chuyên ngành; về tri thức thực tiễn; về phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp giảng dạy; về ngoại ngữ và tin học….Về quy trình đào tạo, có thể bao gồm các khâu cơ bản sau: tuyển dụng và tập trung đào tạo cử nhân chính trị hoặc Cao cấp lý luận chính trị theo chương trình đặc biệt; tập sự ở các đơn vị khoa học; đào tạo cao học, nghiên cứu sinh; đi thực tế. Tuy nhiên, việc tiến hành khâu nào trước lại là vấn đề cần phải tính toán, cân nhắc, nhằm đảm bảo công tác đào tạo cán bộ khoa học kế cận vừa tiết kiệm được thời gian, công sức vừa đạt chất lượng cao.
Về phương thức đào tạo, bồi dưỡng, phải căn cứ vào từng nội dung và thời gian trong quy trình đào tạo, nhưng nên chăng cũng cần phải hết sức đa dạng, linh hoạt, đảm bảo phát huy tối đa những điều kiện và nguồn lực hiện có của Học viện, đồng thời, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của bản thân cán bộ trẻ trong qúa trình đào tạo, tạo điều kiện để họ biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, để họ tự hoàn thiện nhân cách của người cán bộ khoa học. Vì vậy, ngoài việc đào tạo theo các chương trình đào cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ còn phải thông qua nhiều phương thức khác nhau giúp họ làm quen và được thử thách trong môi trường khoa học và môi trường thực tiễn, như:
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các lý thuyết đương đại chuyên sâu cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có trình độ thạc sĩ, tiến sỹ ở Học viện.
- Đưa cán bộ khoa học trẻ đi xâm nhập thực tế và nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Phương thức đào tạo thông qua đi thực tế không những giúp họ tiếp cận với những vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn, rèn luyện phương pháp tổng kết thực tiễn mà còn rèn luyện bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức tác phong của người cán bộ khoa học trường Đảng.
- Đào tạo cán bộ khoa học trẻ thông qua các đề tài, chương trình, dự án khoa học trọng điểm, kể cả các chương trình hợp tác quốc tế. Chọn nhân lực cho các đề tài dự án đó, dưới sự lãnh đạo khoa học trực tiếp của các giáo sư có kinh nghiệm. Thí điểm các đề tài loại đó, mà mỗi đề tài có 1 GS làm chủ nhiệm, từ 5 đến 10 tiến sĩ, với đầu tư kinh phí thỏa đáng, ra được các công trình có giá trị khoa học cao. Mặt khác, khuyến khích các cán bộ khoa học trẻ tham gia luận chứng, làm chủ nhiệm các đề tài khoa học bằng cách giao một số đề tài, trước hết là đề tài cấp cơ sở để cán bộ trẻ đấu thầu với nhau. Sau khi trúng thầu, sẽ cử những chuyên gia giỏi phù hợp chuyên ngành làm cố vấn. Lực lượng cộng tác viên của những đề tài này bắt buộc phải là những cán bộ trẻ.
- Đầu tư các nguồn lực và điều kiện, chọn ra từ 10 đến 20 nhà khoa học có uy tín nhất, giao cho họ bồi dưỡng từ 20 đến 40 tiến sĩ trẻ (mỗi GS, nhà khoa học có uy tín lớn nhận đỡ đầu 3,4 người) thì trong khoảng 5 đến 10 năm tới, Học viện sẽ có một lực lượng khoa học nòng cốt làm cơ sở phát triển tiềm lực khoa học lâu dài.
Chỉ có mạnh dạn và quyết tâm đầu tư theo chiều sâu như vậy mới có thể đào tạo được những cán bộ khoa học giỏi và các chuyên gia.
4. Vấn đề quản lý cán bộ khoa học trẻ
Đã có những ý kiến cảnh báo rằng, nếu tiếp tục buông lỏng quản lý đối với cán bộ trẻ, thì không những không xây dựng được một đội ngũ cán bộ khoa học cho tương lai mà còn tạo nên những “kiêu binh”, những kẻ học đòi theo thói “trí thức rởm”. Ý kiến đó không phải không có cơ sở khi trong đội ngũ cán bộ trẻ đã xuất hiện những người có biểu hiện chạy theo lối sống thực dụng, chỉ biết kêu ca, phàn nàn hoặc giảm sút tinh thần tiến thủ, không chịu khắc phục khó khăn, nỗ lực vươn lên. Vì vậy, việc tăng cường công tác quản lý đối với những cán bộ trẻ là một yêu cầu cấp bách hiện nay.
Tăng cường công tác quản lý tốt đối với cán bộ khoa học trẻ là nhằm giúp họ có định hướng đúng trên bước đường học tập, rèn luyên trở thành người cán bộ khoa học lý luận thực thụ. Để quản lý tốt đối với cán bộ trẻ thì trước hết phải giao nhiệm vụ cho họ một cách rõ ràng, định thời gian hoàn thành. Ví dụ: khi được tuyển dụng, cán bộ trẻ phải cam kết hoàn thành chương trình học tập Cử nhân chính trị theo chương trình đặc biệt. Sau đó, lại giao nhiệm vụ cho họ trong vòng từ 2 - 3 năm phải thi đỗ và hoàn thành chương trình thạc sĩ v.v... Đồng thời, cần thường xuyên kiểm tra thái độ và kết quả học tập, rèn luyện, phấn đấu. Những cán bộ khoa học trẻ có tinh thần hăng say học tập, tích cực rèn luyện phấn đấu, đạt thành tích cao trong học tập, nghiên cứu khoa học cần phải được biểu dương, khen thưởng kịp thời. Mặt khăc, cần hoàn thiện Quy chế làm việc của cán bộ nói chung, Quy chế giảng viên, nghiên cứu viên nói riêng để quản lý đội ngũ, đảm bảo vừa bảo vệ được cán bộ, vừa phát huy tối đa năng lực của từng người. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện Quy chế, kịp thời phát hiện những sai lệch để có biện pháp điều chỉnh, xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm Quy chế. Việc qnản lý chủ yếu căn cứ vào kết quả và chất lượng công việc.
5. Vấn đề thực hiện chính sách đối với cán bộ khoa học kế cận:
 Đổi mới và hoàn thiện hơn nữa chế độ đãi ngộ đối với cán bộ nói chung, cán bộ khoa học nói riêng là nhân tố rất quan trọng. Họ phải được nhìn nhận, đánh giá đúng với vai trò, vị thế của họ, trên cơ sở đó mà có chế độ đãi ngộ thoả đáng, tạo động lực cho cán bộ yên tâm công tác. Tuy nhiên, cần kiến quyết chống lại tư tưởng ỷ lại, trông chờ theo cơ chế bao cấp cũ. Vì vây, việc thực hiện chính sách cần gắn liền với kết quả học tập, phấn đấu của cán bộ khoa học trẻ, tuyệt đối tránh tình trạng dàn đều. Những người có quá trình phấn đấu tốt sẽ được đãi ngộ xứng đáng, được tạo điều kiện để phát triển, như: cử đi đào tạo ở nước ngoài; tăng lương sớm, vv… Còn những người không có tinh thần vươn lên, kết quả học tập kém, vi phạm kỷ luật thì phải có biện pháp xử lý như: kéo dài thời gian tập sự, kéo dài thời gian nâng lương, ….
Bên cạnh tiền lương, Học viện cũng cần có cơ chế  thưởng cho những cán bộ có thành tích xuất sắc trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Cũng cần nhấn mạnh thêm đối với người trí thức thì bên cạnh những giá trị về vật chất, họ rất cần được tôn vinh về mặt tinh thần, danh dự, uy tín khoa học. Vì vậy, chúng ta cần chú ý đến yếu tố này để tạo ra cơ chế như động lực thúc đẩy hoạt động giản dạy và nghiên cứu.
             Trong khả năng có thể của Học viện, cần tạo điều kiện tốt nhất về nhà ở ổn định cho cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ khoa học nói riêng yên tâm công tác. Đồng thời, tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho việc tuyển chọn được những cán bộ giỏi về Học viện công tác.
            Hình thành cơ chế và vận dụng chính sách có sự ưu đãi đối với cán bộ khoa học đi thực tế dài hạn tại các địa phương địa phương
Trang bị thêm những phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy như phòng làm việc, máy vi tính, kết nối mạng Internet... .
Hình thành Quỹ hỗ trợ tài năng nghiên cứu khoa học dành cho những người trẻ tuổi (dưới 35), phát hiện và bồi dưỡng những người thực sự có năng lực.
Như vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kế cận cho Học viện đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau. Việc tổ chức thực hiện cũng không hề đơn giản, vì đây là vấn đề con người, liên quan đến lợi ích, nhân phẩm, danh dự của từng cán bộ, nên không thể tuỳ tiện thí nghiệm, thử nghiệm. Vì vậy, rất mong các nhà khoa học cùng thảo luận, trao đổi thẳng thắn để chúng ta có được các biện pháp mạnh và cấp thiết theo yêu cầu của Bộ Chính trị về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học của  Học viện trong giai đoạn mới.
            Xin trân trọng cảm ơn tất cả các đồng chí!




BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM


BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

                                                                                         Huỳnh Văn Toàn
                                                                                        Học Viện Báo chí
TÓM TẮT
Bản chất khoa học và cách mạng là nguồn gốc sức mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu có một phần nguyên nhân từ sự xa rời bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Những thành tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội thời kỳ đổi mới ở Việt Nam là minh chứng cho sức mạnh của bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
SUMMARY
Revolutionary and Scientific Nature is power source of Marxism. The socialism crisis and collapse in USSR and Eastern Europe are partly caused by keeping aloof from Revolutionary and Scientific Nature of Marxism. The great achievements of Socialism in the innovation age in Vietnam are the evidence of the power of the Revolutionary and Scientific Nature of Marxism.

1. Đặt vấn đề
            Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, vấn đề vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng được đặt ra một cách cấp thiết và với tầm mức ngày càng lớn. Từ sự thất bại của công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây đến sự thắng lợi ngày càng to lớn của sự nghiệp đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay cho thấy vấn đề nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin có một ý nghĩa quyết định đối với thành, bại của công cuộc xây dựng xã hội mới. Có thể khẳng định: cội nguồn sức mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin là nằm ở bản chất khoa học và cách mạng của bản thân học thuyết. Từ thực tiễn đổi mới chủ nghĩa xã hội Việt Nam, bài viết này nêu ra một vài ý kiến với hy vọng góp phần vào việc làm sáng tỏ vấn đề.

2. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - Lý luận nền tảng công cuộc đổi mới ở Việt Nam
             Trải qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học quan trọng mà Đảng ta rút ra là: “trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”(1). Thực tiễn phong phú và những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới hai mươi năm qua đã chứng minh giá trị to lớn của bài học đó, đồng thời cho thấy việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Tất nhiên, để làm rõ bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận ấy của Đảng ta, cần phải phân tích và làm rõ tính khoa học và cách mạng trong các luận điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là phải làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta trong tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.
            Hiển nhiên, đó là một công việc to lớn, đòi hỏi công sức nghiên cứu khoa học của rất nhiều người.
Một điều rõ ràng là, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khi thực tiễn đất nước nảy sinh hàng loạt vấn đề cần được giải đáp về mặt lý luận, Đảng ta đã luôn luôn đứng trên lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn và đưa ra được đường lối, chủ trương, chính sách cùng với bước đi và cách làm cụ thể phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta. Chẳng hạn, trong quá trình đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá, coi đổi mới kinh tế là trọng tâm và phải đi trước một bước. Đảng ta cũng khẳng định, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải gắn kết với nhau, nhưng đổi mới chính trị phải trên cơ sở thành tựu của đổi mới kinh tế và phục vụ cho tiếp tục đổi mới kinh tế, ngược lại, đổi mới kinh tế phải đúng định hướng chính trị, phải góp phần tăng cường ổn định chính trị. Thực tiễn những năm đổi mới đã mang lại nhiều bằng chứng xác nhận tính đúng đắn của những quan điểm nêu trên.
            Có thể khẳng định, chúng ta không thể đưa công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đến thành công nếu xa rời lập trường quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mặt khác, việc tìm ra những giải pháp để đưa công cuộc đổi mới đến thành công không thể không gắn liền vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn theo phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Như vậy, đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một quá trình thống nhất. Đó là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

3. Chủ nghĩa xã hội đổi mới - Thực tiễn sinh động của sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin
            Trước hết cần khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực là hoàn toàn phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử xã hội, phù hợp với tiến trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội. Cho dù đến nay, chủ nghĩa xã hội vẫn chưa xuất hiện ở những nơi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ cao. Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác thì lực lượng sản xuất, xét đến cùng, bao giờ cũng là cái đóng vai trò quyết định trong việc thay đổi phương thức sản xuất, dẫn đến thay đổi toàn bộ các quan hệ xã hội, thay đổi một chế độ xã hội mà Mác gọi là hình thái kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, Mác đi đến kết luận: xã hội loài người phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, ứng với mỗi giai đoạn của sự phát triển đó là một hình thái kinh tế - xã hội. Và tiến bộ xã hội chính là sự vận động theo hướng tiến lên của các hình thái kinh tế - xã hội, là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn. Mác khẳng định: “tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”(2). Mặc dù khẳng định quá trình lịch sử tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội là tiến trình bị quy định bởi các quy luật khách quan, nhưng Mác cũng luôn luôn cho rằng, con người “có thể rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ”. Điều đó có nghĩa là, trong quan niệm của Mác đã hàm chứa tư tưởng: quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những có thể diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn có thể diễn ra bằng con đường bỏ qua một giai đoạn phát triển nào đó, một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong những điều kiện và hoàn cảnh khách quan cụ thể nhất định.
            Như vậy về mặt lý luận, chúng ta có thể khẳng định sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là quy luật khách quan trong quá trình phát triển của dân tộc, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế phát triển của thời đại. Chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu và đã trải nghiệm những thành công của công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo chúng tôi trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây có nguyên nhân xa rời bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tách rời tính cách mạng với tính khoa học trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội.
          Có thể nói, học thuyết về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và về khả năng xây dựng chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là bộ phận quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin. Là một học thuyết khoa học và cách mạng, học thuyết Mác - Lênin đã đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng của thời đại, phản ánh chính xác những nhu cầu cơ bản cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản nhằm thay đổi thế giới và giải phóng con người. Để hoàn thành sự nghiệp vĩ đại đó, các Đảng cộng sản phải vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong tiến trình cách mạng, nhất là trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những nước lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, quá độ dần lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, đã có không ít người hoài nghi tính đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội. Các thế lực phản động quốc tế coi sự sụp đổ đó là “sự cáo chung” của toàn bộ lý luận mác xít về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ và khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong tình hình cực kỳ khó khăn phức tạp như vậy, công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã thể hiện mạnh mẽ sức sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực và thu được những thành tựu ngày càng to lớn. Thắng lợi của đường lối đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hai mươi năm qua đã cho thấy, những luận điểm, tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở lý luận, là kim chỉ nam cho mọi hành động của chúng ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề không phải là bản thân lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có nhận thức thật sự đúng đắn bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và biết vận dụng một cách sáng tạo nó trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội hay không. Thực tiễn cho thấy, công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu thì chúng ta càng phải đối diện với những vấn đề khó khăn, phức tạp mới. Đất nước hiện đang đứng trước cả cơ hội lớn và thách thức lớn. Tất cả đều đòi hỏi chúng ta phải nhận thức lại cho đúng, vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với bối cảnh mới của thế giới và trong nước hiện nay. Vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã ngày càng làm sáng tỏ con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới. Đó là con đường “phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền tảng kinh tế hiện đại”(3).
            Rõ ràng, chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa với phương thức “phát triển rút ngắn” nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, đương nhiên là một sự nghiệp to lớn, lâu dài, đầy khó khăn phức tạp. Nhưng thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn hai mươi năm đổi mới đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, đã hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ và bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta đang tiến lên phía trước, bởi chủ nghĩa xã hội đổi mới của Việt Nam là biểu hiện sinh động sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính khoa học và thuộc tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là không gì có thể ngăn cản nổi, bởi vì đó là quy luật tiến hóa khách quan của lịch sử, lại đang được Đảng ta nhận thức và vận dụng sáng tạo. Quán triệt bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy tính độc lập, sáng tạo, đồng thời kế thừa tinh hoa trí tuệ dân tộc, những kinh nghiệm và thành tựu khoa học, văn hóa của thế giới, nhất định chúng ta sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của những người cộng sản và nhân dân thế giới. Với thành công ngày càng to lớn của công cuộc đổi mới, đất nước ta, một lần nữa trở thành nơi gửi gắm niềm tin và sự kỳ vọng của bạn bè quốc tế. Việt Nam hôm nay đang được nhìn nhận một cách đầy ngưỡng mộ: “Đường lối đổi mới trong đó kết hợp kinh tế thị trường với kế hoạch, tiến lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là con đường của những người mở đường mới mẻ trong lịch sử... hy vọng rằng Đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam, đã từng chiến thắng trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ trước đây, sẽ thành công trước thách thức mới trên chặng đường mà chưa một ai đi qua”(4).

4. Kết luận
Bất chấp thăng trầm của lịch sử, từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Thực tiễn thành công và thất bại của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã minh chứng hùng hồn: bản chất khoa học, cách mạng là nguồn gốc sức mạnh của chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng ta đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chủ nghĩa xã hội đổi mới Việt Nam đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình và ngày càng thu được những thành tựu to lớn. Điều đó trước hết bắt nguồn từ bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trung thành với bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất định Đảng ta sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội của thời kỳ đổi mới gắn với dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1].       Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, HN, 2006 tr.70.
[2].       C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995, Tập 23 tr. 21.
[3].       Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, HN, 2001 tr.84.
[4].       Lời chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2001, tr.53.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2012

Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội, phần 1


Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội:

Chương I_Cách mạng XHCN tháng Mười Nga

Cách mạng nổ ra ở khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản
_ Phản ánh tính quy luật phát triển đi lên của cách mạng
_ Mở ra mốc son trong thời đại mới.
+ Lý luận của chủ nghĩa Marx - Engel về tiền đề cách mạng:
- Lý luận cơ bản của chủ nghĩa Marx đó là lý luận về đấu tranh giai cấp. Marx cho rằng lịch sử loài người phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, và sự phát triển đó khi đã đi đến một mức nào đó thì nó sẽ mâu thuẫn với chủ nghĩa tư bản và mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Mặc khác, sự phát triển của CNTB đã sản sinh 1 giai cấp mới - giai cấp vô sản và giai cấp này sẽ lãnh sứ mệnh lãnh đạo các giai cấp khác đứng lên xóa bỏ CNTB mở đường cho lực lượng sản xuất tiến lên.
- Lý luận chủ nghĩa Lenin: Lenin đã kế thừa và phát triển xuất sắc lý luận của Marx - Engel về cách mạng. Ông chỉ rõ 4 điều kiện sau:
+ CNTB phát triển đến 1 mức nào đó để rồi có mâu thuẫn giữa LLSX - QHSX, đặt ra vấn đề mới cần giải quyết.
+ Nơi đó tập trung đầy đủ các mâu thuẫn vốn có của xã hội cần giải quyết.
+ Cách mạng nổ ra ở khâu yếu nhất của CNTB.
+ Khả năng, sự sẵn sàng của giai cấp vô sản, đảng của nó.

1. Tiền đề:
a) Lý luận về cách mạng:
_Cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ: lật đổ phong kiến thiết lập chính quyền do tư sản cầm đầu (gọi là "chuyên chính tư sản")
_Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới: là cách mạng lúc đầu do tư sản lãnh đạo, nhưng do bản chất giai cấp của nó nên cách mạng không đến nơi, chuyển hướng lãnh đạo cho vô sản để vô sản lãnh đạo đến thắng lợi cuối cùng, tiến lên xã hội chủ nghĩa.
_Cách mạng dân chủ vô sản: là cuộc cách mạng do vô sản lãnh đạo lật đổ chính quyền tư sản đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
b) Tiền đề dẫn đến cách mạng:
+ Kinh tế: hội tụ nhiều mâu thuẫn như các đế quốc khác
   _Nga là nước tư bản phát triển trung bình, vì: trong lịch sử thế giới, khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông thôn từ sớm => nông dân, quý tộc mới >< vua, bọn quý tộc cũ lạc hậu => cách mạng tư sản và khi cách mạng tư sản giành thắng lợi, thiết lập chính quyền mới do tư sản, quý tộc mới đứng đầu. Những sự kiện này đã ảnh hưởng đến đế quốc Nga: triều đình Nga thực hiện một số cải cách quan trọng, chế độ nông nô bị bãi bỏ, công cuộc công nghiệp hóa được thực hiện, hiến pháp được cải cách => chủ nghĩa tư bản phát triển.
_ Nga có giai đoạn 150 tổ chức lũng đoạn kinh tế Nga như ngân hàng Nga Á chiếm 1/3 tổng số vốn ngân hàng của nước Nga. Nó chiếm 50% sản lượng công nghiệp, nông nghiệp của Nga, chi phối mạnh dầu mỏ, luyện kim, than đá.....Ở Nga, các ngành công nghiệp nặng phát triển như luyện kim, cơ khí, hoá dầu,… với nhiều thành tựu như từ năm 1860 đến 1890, sản lượng thép tăng lên 3 lần, than đá tăng 19 lần, chiều dài đường xe lửa tăng gấp đôi. Về trình độ công nghiệp, Nga thua kém các nước khác nhưng mức độ tập trung công nghiệp rất cao. ¾ công nhân Nga tập trung ở các thành phố lớn như Petrograd, Moskva, khu khai thác than Donetsk, khu khai thác dầu Baku.
_ Xuất hiện bọn tư bản tài chính thao túng nền kinh tế tài chính Nga, lũng đoạn nông nghiệp
_ Nga chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, cho dù có cải cách nông nô (1861), cải cách Stolypin (1906 - 1911) nâng đỡ chủ nghĩa tư bản phát triển, thế nhưng nó vẫn chưa xóa bỏ hoàn toàn quan hệ phong kiến, chế độ sở hữu tư nhân ruộng đất rất nặng nề. Tình trạng địa chủ chiếm ruộng đất còn lớn. 2/3 ruộng đất trong nước nằm trong tay địa chủ, quý tộc, 30 000 đại địa chủ chiếm tới 70 triệu mẫu Nga (1 mẫu Nga = 1,09 hecta) ruộng đất. Nga hoàng đồng thời cũng là địa chủ lớn nhất với 7 triệu mẫu Nga ruộng đất. Địa chủ bóc lột nông dân hết sức nặng nề và tàn bạo, nhất là chế độ lao dịch. Trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu do đó năng suất thấp, nạn mất mùa và đói kém xảy ra thường xuyên. Nếu so sánh về công nghiệp_nông nghiệp thì Nga thua kém rất nhiều so với các nước tư bản khác. Sản lương công nghiệp của Nga chỉ chiếm 4% thế giới (Anh: 14%, Mỹ: 38%) => Nga phát triển èo uột.
Sa hoàng Nikolai II
    _ Đầu tư của tư bản nước ngoài vào Nga rất lớn. Tư bản nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào Nga như Anh, Pháp, Đức đặc biệt là Pháp với 5 tỉ Rupee => Nga phụ thuộc rất nhiều vào nước ngoài. Sau khi Cách mạng tháng Mười giành thắng lợi, chính quyền đã quốc hữu hóa, xóa bỏ nợ nước ngoài.
=> Kinh tế Nga dù lạc hậu nhưng chứa đựng nhiều mâu thuẫn phải giải quyết:

+ Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa >< quan hệ sản xuất phong kiến
+ Nhu cầu phát triển độc lập >< sự ràng buộc với các đế quốc chủ nghĩa.

+ Chính trị, xã hội:
Nga vẫn là nước theo chế độ quân chủ chuyên chế, Nga hoàng Nikolai II cầm đầu.
_ Nhân dân Nga không có một chút quyền tự do dân chủ nào, chịu nhiều tầng áp bức bóc lột. Nga còn là "nhà tù dân tộc" với hơn 100 dân tộc, trong đó dân tộ không phải Nga chiếm 57% dân số.
_Nga xâm lược, tiêu diệt các dân tộc khác, lệ thuộc quá nhiều vào đế quốc => mâu thuẫn cơ bản đều tập trung tại Nga:
  • Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Nga với chế độ quân chủ chuyên chế của Nga hoàng
  • Mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân
  • Mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản
  • Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga và các dân tộc trong đế quốc. Đế quốc Nga tồn tại hơn 100 dân tộc và các dân tộc bị đối xử tàn bạo, bị khinh rẻ và chịu nhiều áp bức do đó đế quốc Nga được gọi là “ nhà tù của các dân tộc “.
  • Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga và các đế quốc khác. Để có thêm thị trường tiêu thụ hàng hoá và tăng cường lợi nhuận, đế quốc Nga thường xuyên mở những cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa và các khu vực bị ảnh hưởng do đó đế quốc Nga có mâu thuẫn với nhiều đế quốc khác như Anh về vấn đề Trung Cận Đông, đế quốc Áo-Hung về vấn đề Balkan, đế quốc Ottoman về vấn đề eo biển Dardanelles và đế quốc Nhật Bản về vấn đề phạm vi hoạt động ở Thái Bình Dương. Đỉnh điểm của các mối mâu thuẫn này là chiến tranh Nga-Nhật ( 1904-1905 ) và chiến tranh thế giới thứ nhất .
 = > dẫn đến sự đụng độ cách mạng. Cách mạng có thể nổ ra khi thời cơ đã chín mùi (nhân dân không chấp nhận chế độ hiện tại, phong kiến bị khủng hoảng nghiêm trọng).

bức ảnh thể hiện xã hội Nga trước Cách mạng tháng Mười Nga
+ Đánh giá về các tiền đề của cách mạng:
* Sử học tư sản, cải lương: 
- Cách mạng nổ ra không phải do yêu cầu khách quan của xã hội, mà là do "ý chí chủ quan" của Lenin và đảng Bolshevik, học thuyết của Lenin là học thuyết theo kiểu "chủ nghĩa duy ý chí".
Sự lạc hậu của công nghiệp Nga trước cách mạng. R. Portal trong "Nước Nga công nghiệp từ 1880 đến 1914", nhận định rằng, công nghiệp nước Nga là rất phát triển trước năm 1914 là do có điều kiện địa lý tốt, sự tập trung công nghiệp cao và có sự tham gia tích cực của tư bản công thương, Nhà nước, tuy nhiên trong điều kiện của chế độ Sa hoàng, Nga không thể biến thành "một cường quốc công nghiệp". Barel khi nghiên cứu về vấn đề này cũng chỉ cho rằng "quan hệ kinh tế Nga mang tính chất do dự". Ngoài ra, một số tác giả thì cho rằng Nga Sa hoàng không là tổ chức TBCN toàn vẹn mà là "chia cắt", và chủ nghĩa tư bản chỉ phát triển ở thành thị, nông thôn thì không có.
- Giai cấp tư sản: Một số tác giả cho rằng giai cấp này có tồn tại, nhưng chưa có tổ chức vững chắc và chỉ tồn tại ở nông thôn mà Stolypin (1906) gọi là kulak.
- Giai cấp vô sản: bị sử gia tư sản coi như nó chưa hình thành và định hình, chưa tồn tại trong lịch sử, chưa có tổ chức nào và số lượng cũng không nhiều lắm. Họ chỉ gắn bó với ruộng đất, xóm làng, một số lên thành phố làm việc trong các xí nghiệp, công trường (công nhân), và họ kết luận Nga có một xã hội kém phát triển.
* Sử học vô sản, marxid: 
Cách mạng Nga thắng lợi không phải do may rủi, mà là 1 tất yếu lịch sử do các tiền đề gây nên.
- kinh tế: Nga là một nước phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, đúng theo tiến trình lịch sử, tất yếu và thể hiện rõ trong tác phẩm "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", tuy nhiên trong quá trình phát triển, CNTB bị chế độ nông nô kìm hãm. Theo sau đó, Drugynin cũng phát triển quan điểm của Lenin, và nói rõ hơn, CNTB Nga ra đời vào thế kỷ XVI và phát triển theo quy luật khách quan, nhưng chậm chạp mặc dù về sau nó vẫn có bước phát triển mới.
c) Điều kiện khách quan của cách mạng Nga:
_ Trong quá trình làm cách mạng Lenine trên cơ sở nghiên cứu chủ nghĩa Marx để vạch ra đường lối cho cách mạng tháng Mười. Do quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản, cách mạng sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở một số nước mà đặc biệt là ở khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc.
_ Phải có chính đảng marxid - bộ tham mưu chiến đấu của công nhân để lãnh đạo cách mạng.
_ Có khối liên minh công nông vững chắc đóng vai trò quyết định giành thắng lợi của cách mạng.
_ Lenine chỉ ra khả năng chuyển biến cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

d) Đảng Xã hội Dân chủ Nga:
Hoàn cảnh: Sự ra đời của chủ nghĩa Marx với Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (chỉ ra luận điểm cách mạng vô sản, vai trò sứ mệnh của giai cấp vô sản), Chủ nghĩa xã hội khoa học (đúc kết trên tinh hoa của giai cấp công nhân, chủ nghĩa vô sản phát triển chín mùi) đã có ảnh hưởng tích cực đến Nga. Giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa Marx được truyền bá vào Nga và được các tầng lớp nhân dân Nga tiếp thu mạnh mẽ. Năm 1883, nhóm "Giải phóng Lao động" được thành lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản. Tháng 3/1898, Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga (tên tiếng Nga: Российская Социал Демократическая Рабочая Партия) được thành lập trên cơ sở hợp nhất các "Liên minh đấu tranh vì giải phóng giai cấp công nhân" ở Saint Peterburg, Matxcơva và một số nơi khác. Ngày thành lập được coi là Đại hội I nhưng không hoạt động được. Tại Đại hội II (8/1903), khi thông qua Cương lĩnh và Điều lệ, đảng chia thành 2 phái: phái đa số do Lenin đứng đầu gọi là Bolshevik ("bônsêvich") (tên tiếng Nga: большевик, nghĩa là "đa số"), phái thiểu số do L. Martov (1873_1923) cầm đầu gọi là Melshevik ("mensêvich") (Меньшевик, nghĩa là "thiểu số"). Tới Đại hội VI họp ở Praha (1912), những người bolshevik cắt đứt quan hệ với melshevich, thành lập Ban Chấp hành Trung ương do Lênin lãnh đạo và Văn phòng Nga của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga để chỉ đạo các công tác trong nước, thường gọi là Đảng bônsêvich. Đại hội VII (1918) đổi thành Đảng Cộng sản (bônsêvich) Nga. Đại hội XIV (1925) đổi thành Đảng Cộng sản (bônsêvich) toàn Liên bang.

+ Nội dung:
_ Ra "Cương lĩnh tối đa" đề ra mục đích là "thành lập chuyên chính vô sản" và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga.
_"Cương lĩnh tối thiểu": đề ra nhiệm vụ trước mắt là lật đổ chế độ Sa hoàng (царь), thành lập nền cộng hòa dân chủ với hạt nhân là Đảng Bolshevik để đưa cách mạng tiến lên giành thắng lợi.
Lợi dụng tình hình chính trị phức tạp, các lãnh tụ Bolshevik đã có thể lãnh đạo công nhân làm cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, tư sản thiết lập chuyên chính vô sản => ra đời kiểu cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới, điển hình là cách mạng tháng Hai.

2. Từ cách mạng tháng Hai đến cách mạng tháng Mười Nga:
   a) Cách mạng tháng Hai (2/1917):
  •  Tình hình:
Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra. Sa hoàng Nga chính thức tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ nhất với hi vọng có thêm thị trường và thuộc địa sau chiến tranh. Tuy nhiên quân đội Nga liên tiếp bại trận trên chiến trường do trình độ tổ chức kém và lạc hậu khiến nhân dân Nga ngày càng bất mãn, làn sóng phản đối chiến tranh lan rộng do Sa hoàng đã tốn rất nhiều sức người, sức của cho cuộc chiến.
_ Tình hình nước Nga rất rối loạn: Sa hoàng triệt tiêu thế lực của tư sản, còn bí mật liên minh với Đức để rảnh tay đàn áp phong trào cách mạng trong nước. Đồng thời, tình trạng đói rét diễn ra liên tục trong quần chúng nhân dân làm họ bất mãn và tìm cách lật đổ Sa hoàng.
  •   Diễn biến:
Đảng Bolshevik do Vladimir Ilyich Lenin lãnh đạo nhân thời cơ đó đã tổ chức những cuộc biểu tình lớn chống chiến tranh và bãi công tập thể. Sự kiện:
+ Ngày 9/1/1917 (22 tháng 1 theo công lịch), trong lễ kỷ niệm "Ngày chủ nhật đẫm máu" ở Petrograd đã xảy ra một cuộc biểu tình lớn chống chiến tranh, đòi ruộng đất, bánh mì. Cuộc biểu tình lan rộng sang Moscow (Matxcơva), Baku và nhiều thành phố khác.
+ Ngày 23/2 (8 tháng 3) nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ, 90.000 nữ công nhân của 50 xí nghiệp ở Petrograd tham gia biểu tình chống chiến tranh. Cuộc bãi công nhanh chóng chuyển sang tổng bãi công chính trị. Ngày 24/2 bãi công lan rộng khắp thành phố, lôi cuốn 20 vạn công nhân tham gia.
+ Ngày 25/ 2 (10 tháng 3), đảng Bolshevik quyết định chuyển sang tổng bãi công chính trị toàn thành phố và các cuộc xung đột giữa những người biểu tình và cảnh sát đã diễn ra. Ngày 26 tháng 2 (11 tháng 3) , theo lời kêu gọi của đảng Bolshevik, công nhân chuyển từ tổng bãi công chính trị sang khởi nghĩa vũ trang bằng cách tước vũ khí của cảnh sát. Công nhân còn kêu gọi binh lính đứng về cách mạng lật đổ Nga hoàng. Đến buổi chiều, nhiều nơi quân đội đã đứng về phía nhân dân, nổ súng bắn vào cảnh sát.
+ Phong trào "đào ngũ" trong quân đội Nga lên cao. Ngày 27/2, có 1 vạn lính bỏ ngũ, đến chiều đã tăng lên 66.000 người.
+ Trong cách mạng tháng Hai, nhiều Xô viết được thành lập như một tổ chức chính quyền mới, thể hiện là một mô hình nhà nước mới do vô sản đứng đầu.
   + Ngày 27/2 (12 tháng 3), cuộc khởi nghĩa lan ra khắp thành phố. Triều đình Sa hoàng phải huy động 60.000 binh lính từ mặt trận trở về đàn áp phong trào tuy nhiên binh lính được nhân dân vận động đã bắn vào cảnh sát, bắt các bộ trưởng và tướng tá của Sa hoàng. Sa hoàng Nikolai II thoái vị và đế quốc Nga cáo chung (1917). Cuối tháng 2, cach mạng thắng lợi khắp cả nước.


dang_bon_so_vivh_quyet_dinh_khoi_nghia_vu_trang__opetrograt_500

Đảng Bolshevich quyết định khởi nghĩa  ở Petrograd.




bai_con_go_nha_may_putilop_2-1917_500
bãi công của công nhân nhà may Putilov tháng 2/1917


bai_cn_g_pe_trograt_2-_1917_500
Bãi cộng ở Petrograd tháng 2/1917
  •      Kết quả: 
      _ Hội nghị các xô viết toàn Petrograd đã họp và bầu ra lãnh đạo thống nhất: xô viết đại biểu công nhân và binh lính Petrograd. Ngay sau khi đế quốc Nga cáo chung, xô viết đại biểu công nhân và binh lính Petrograd đã đứng ra điều hành mọi công việc của nhà nước.
      _ Trong lúc đó giai cấp tư sản nhân cơ hội đó tìm cách giành lấy chính quyền. Sau khi đàm phán với các thế lực bảo hoàng còn sót lại không thành, đại diện của giai cấp tư sản đã thỏa thuận với các lãnh tụ Menshevik lúc này đang chiếm đa số trong các xô viết, đặc biệt là xô viết Petrograd. Sau đó, các lãnh tụ Menshevik và xã hội cách mạng đã thỏa thuận trao chính quyền cho giai cấp tư sản. Ngày 2 tháng 3 (15-3), chính phủ lâm thời tư sản được thành lập do huân tước Lvov làm thủ tướng. Do đó đến thời điểm này nước Nga xuất hiện tình trạng 2 chính quyền song song tồn tại: chính phủ lâm thời của giai cấp tư sản và xô viết các đại biểu công nhân và binh lính.
Thủ tướng Lvov.

Chân dung huân tước G. Lvov

Danh sách nội các chính phủ lâm thời của Lvov (1917)
  •       Tính chất: Cách mạng tháng Hai là cuộc cách mạng vô sản do đảng Bolshevik lãnh đạo với lực lượng là binh lính, công nhân và thực hiện nhiệm vụ duy nhất là lật đổ Sa hoàng lập chính quyền vô sản.
  •       Ý nghĩa:
      _ Thể hiện bước chuyển mình của cách mạng: Từ các cuộc bãi, biểu tình tiến đến tổng bãi công chính trị, lật đổ Sa hoàng => khởi nghĩa vũ trang lật đổ hoàn toàn chế độ này.
      _ Tạo tiền đề để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Nga.

      b) Từ cách mạng tháng Hai đến cách mạng tháng Mười Nga:
  •     Tình hình Nga sau cách mạng tháng Hai:
     _ Lực lượng Melshevik, xã hội cách mạng vẫn còn ở trong Đảng. Sau khi giành thắng lợi, công nhân trao trả chính quyền lại cho giai cấp tư sản chiếm tuyệt đại đa số trong Đảng. Ngày 2/3, 500 Xô viết giao chính quyền lại cho giai cấp tư sản. Được sự ủng hộ của Xô viết Petrograd (do  tư sản chiếm đa số), viện Duma đã thiết lập chính phủ mới do huân tước Nga Georgy Yevgenyevich Lvov (1861-1925) đứng đầu, thay thế thủ tướng Nga đã từ chức N. Golitsyn và Đại công tước Mikhail của Duma vừa "nghỉ hưu". Chính phủ mới này có sự gia nhập của Đảng Lập hiến (tư sản) và Đảng Tháng Mười (địa chủ) => Chính phủ này ra đời có sự góp mặt của nhóm Melshevik và Xã hội cách mạng.
    _ Ngoài ra còn có chính quyền của công nhân là các Xô viết đại biểu công nhân. Đây là chính quyền ra đời trong cách mạng, không do Hiến pháp quy định, nó đại diện cho quyền lực cho công nhân và binh lính, những người đã chiến thắng và một lòng theo cách mạng.
    _  Nguyên nhân hai chính quyền cùng song song tồn tại cho thấy sự tương quan lực lượng giữa tư sản và công nhân. Chính phủ tư sản chưa đủ sức đàn áp giai cấp công nhân, ngược lại giai cấp vô sản chưa đủ sức lật đổ tư sản, quần chúng nhân dân chưa được giác ngộ, còn nghe theo bọn Melshevik, Xã hội cách mạng; ảo tưởng vào chính phủ tư sản, không hiểu bản chất của Xô viết đại biểu cong nhân, binh lính
   _ Tình hình cách mạng tháng Hai vượt quá ngoài dự kiến: Cách mạng tháng Hai không diễn ra như là một cuộc cách mạng tư sản bình thường. Việc tồn tại song song hai chính quyền làm đảo lộn nhận thức của đảng viên , quần chúng nhân dân, cách mạng Nga bế tắc về đường lối. Vấn đề đặt ra ở đây là phải có một đường lối mới: Luận cương tháng Tư ra đời.


   Đường lối chiến lược, sách lược của Đảng Bolshevik Nga nhằm chuyển hướng cách mạng vô sản lên thành cách mạng xã hội chủ nghĩa (Cách mạng tháng Hai sang cách mạng tháng Mười). Luận cương tháng Tư của Lenin: 



     Tháng 2, từ Thụy Sĩ, Lenin viết thư gửi về nước để động viên nhân dân tham gia cách mạng, Hội đồng cách mạng ra đời. Ngày 3/4/1917, Lenine về Petrograd để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Ngày 4/4/1917, trước Ủy ban Ban Chấp hành TW và Đảng bộ, ông trình bày bản báo cáo " Những nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng hiện nay". Bản báo cáo này đã đi vào lịch sử với tên gọi "Luận cương Tháng Tư" chỉ ra con đường chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

_ Lenin đánh giá tình hình sau cách mạng tháng Hai là một bước quá độ giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng nhằm đem lại chính quyền cho giai cấp vô sản lãnh đạo. Do sự giác ngộ vô sản trong nhân dân thấp nên cách mạng sẽ phải tiến lên giai đoạn thứ hai (giành lại chính quyền cho giai cấp vô sản, nhân dân).

_ Lenin chỉ ra 3 đặc điểm độc đáo của tình hình Nga:

+ Sự hoạt động công khai của các tổ chức cách mạng.
+ Chính phủ lâm thời chưa dùng bạo lực với cách mạng.
+ Quần chúng nhân dân còn ảo tưởng vào chính phủ lâm thời do sự phản bội của bọn Melshevik và Xã hội cách mạng.
_ Lenin đưa ra đường lối chuyển biến từ cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng xã hội chủ nghĩa:
+ Đảng Bolshevik và nhân dân không được ủng hộ chính phủ tư sản, phải chấm dứt nhanh chóng việc tồn tại hai chính quyền. Ông đề ra khẩu hiệu: Tất cả chính quyền về tay Xô viết" đánh trúng tình hình nước Nga trong giai đoạn này:
    Lật đổ, xóa bỏ chính phủ tư sản, tập trung quyền lực vào tay Xô viết.  Tiến hành làm thay đổi thành phần trong các Xô viết, đấu tranh mạnh mẽ giữa hai phái: Bolshevik, Melshevik, làm cho các Xô viết trở thành các chính quyền cách mạng. 
_ Lenin chỉ ra khả năng cách mạng phát triển một cách hòa bình, cho nên cần phải thực hiện tận dụng tốt thời cơ, tuy nhiên cần chuẩn bị lực lượng vũ trang khi tình hình thay đổi:
   + Tư sản, phong kiến đang nắm chính quyền. 
  + Nhân dân phải lật đổ tư sản, đề phòng chúng chống lại mình. 

* Giải thích rõ khẩu hiệu của Lenin "Tất cả chính quyền về tay Xô viết": Khẩu hiệu trên không có nghĩa là phải lật đổ ngay chính phủ lâm thời hiện tại khi tương quan lực lượng chưa cho phép. Mặc khác, chính phủ lâm thời vẫn còn chỗ dựa là bọn Melshevik, Xã hội cách mạng; quần chúng còn ảo tưởng vào chính phủ này, cho nên cách duy nhất là phải làm cách mạng, lật đổ chính phủ này thay thế vào đó là một chính phủ cách mạng (ta gọi là Xô viết). 

_ Kinh tế: tịch thu ruộng đất của địa chủ giao cho Xô viết quản lý. Dựng nông trường quốc doanh, hợp nhất các ngân hàng trong nước thành Ngân hàng Quốc gia. Chính phủ Xô viết sẽ điều phối sản xuất, phân phối sản phẩm kinh tế.

_ Xây dựng Đảng: Đổi tên Đảng Bolshevik thành Đảng Cộng sản, thành lập tổ chức của công nhân quốc tế.

    Khi Luận cương tháng Tư được công bố, nó lập tức bị gặp sự suy xét "nhiều chiều" của các nhân vật quan trọng trong Hội nghị. Nhóm Kamenev và Zinoviev phản đối chủ trương của Lenin. Nhiều người trong Đảng lúc đầu không hiểu ý đồ chiến lược trong Luận cương tháng Tư là gì nên họ lấp lửng, không biết theo hướng nào. Ngày 21-4-1917, Ủy ban Petrograd của Đảng Bolshevik thảo luận Luận cương của Lenin. Molotov kể lại trong hồi ký: Tôi chưa bao giờ phản đối Lenin, nhưng cho dù là tôi hay bất kì ai đó luôn sát cánh bên Lenin đều không hiểu rõ ngay ý tứ của Người. Tất cả những người Bolshevik khi đó đều nói về cách mạng dân chủ tư sản, nhưng Lenin lại nói về cách mạng XHCN. Khi đại đa số các đồng chí trong Đảng vẫn chưa lĩnh hội được chiến lược do mình nêu ra, Lenin đã hết sức kiên nhẫn, nhiệt tình trình bày một cách sâu sắc, căn cứ vào tính khách quan, mục tiêu chiến lược và sách lược, phản bác quan điểm sai lầm của người phản đối. Qua cuộc luận chiến, các đồng chí nhất thời chưa hiểu ra, đã thay đổi thái độ. Cuối cùng, Luận cương tháng Tư của Lenin đã được toàn Đảng chấp nhận, để chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN. 

    + Ý nghĩa Luận cương: Luận cương đã giải quyết sự bế tắt về đường lối của Đảng Bolshevik sau cách mạng tháng Hai, đập tan các quan điểm sai trái, củng cố sức mạnh của Đảng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn. 

   
lun_cuong_le_nin_lam_nhiem_v_u_cach_mang_500
Lenin công bố "Luận cương tháng Tư"
  • Quá trình vận dụng đường lối chiến lược của Lenin từ tháng Hai đến tháng Mười:
    + Giai đoạn 1 (Tháng 3 đến tháng 7/1917): đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, thực hiện khẩu hiệu: "Tất cả chính quyền về tay Xô viết":
   Mục tiêu: động viên giáo dục quần chúng, cô lập bọn phản cách mạng, thỏa hiệp, giành thế đa số trong các Xô viết, thực hiện: "Bolshevik hóa các Xô viết".
_ Ngày 18/4, Bộ trưởng Ngoại giao Nga là Pavel Nikolayevich Milyukov (1859_1943, nắm quyền từ 25/2_5/5/1917) gửi công hàm cho phe Đồng minh kêu gọi tiến hành chiến tranh đến cùng và sẽ thực hiện các hòa ước mà Sa hoàng đã ký trước đây. Chính phủ gây chiến tranh trong khi đó nhân dân bị chết đói.
_ Ngày 20 đến 21/4, hơn 10 vạn công nhân và binh lính Petrograd biểu tình phản đối công hàm trên. Chính phủ bị khủng hoảng, Bộ trưởng Ngoại giao Milyukov từ chức và Tereshchenko lên thay, đồng thời Bộ trưởng Chiến tranh là Alexander Guchkov cũng từ chức. Như vậy có thể nói mâu thuẫn tư sản và vô sản dần bộc lộ trước mặt quần chúng. Tư sản với bản tính hiếu chiến đã có những bước đi ngược hẳn với nguyện vọng của nhân dân Nga. Bọn Melshevik, Xã hội cách mạng công khai ủng hộ chính phủ lâm thời và điều này làm cho các tầng lớp tham gia "mở mắt". Chính phủ giảm sút uy tín, ngược lại uy tín của Đảng được nâng cao thêm.
_ Tư sản và vô sản hiểu rõ lực lượng của nhau và đồng thời cùng sử dụng lực lượng chính là quần chúng nhân dân để thực hiện ý đồ của mình.
_ Ngày 3/6, Đại hội Xô viết toàn Nga được thành lập ở Petrograd. Trong Đại hội, Lenin đấu tranh liên tục đòi chuyển giao chính quyền về tay Xô viết. Về sau, do sự phản bội của tư sản, Đại hội này đã phải bầu lại và phái Melshevik chiếm đa số.
_ Ngày 18/6, nhân dân xuống đường biểu tình, giương cao khẩu hiệu "Đả đảo các bộ trưởng tư sản"; "Đả đảo chiến tranh"; "Giành chính quyền về tay Xô viết". => Nhân dân thấy rõ việc làm của các Xô viết, hiểu rõ hơn bản chất của chính phủ tư sản và họ tuyên bố theo phái Bolshevik, mất lòng tin vào chính phủ tư sản.
_ Tháng 6/1917, Bộ trưởng Chiến tranh là Alexander Fyodorovich Kerensky (tháng 5 - tháng 7/1917) mở cuộc tấn công lớn vào vùng Sông Đông (Nam Nga) là nơi Đức đang bao vây rất chặt. Thực hiện cuộc tấn công này, Kerensky nhằm  mục đích: nếu thắng lợi (hay thất trận) thì ông ta sẽ giải tán các Xô viết. Cuộc chiến thất bại, quân Nga chết 6 vạn người. Tin thất bại bay về nước, nhiều cuộc biểu tình của nhân dân nổ ra chống chính phủ quyết liệt.
_ Ngày 4/7, nhân dân biểu tình mạnh mẽ, thu hút 50 vạn công nhân, binh lính tham gia. Cuộc biểu tình bị thất bại, quân chính phủ đàn áp làm 400 người chết và bị thương. Chính phủ ra luật giới nghiêm, các tăng đoàn tham gia khởi nghĩa bị tước khí giới, đàn áp khốc liệt.
 _ Ngày 6 tháng 8 (ngày 24 tháng 7) năm 1917, Alexander Fyodorovich Kerensky thay thế Lvov thành lập nội các mới do ông ta đứng đầu. Kerensky sau khi thành lập có cải tổ một chút, nhưng cũng không cải thiện được tình hình Nga lúc bấy giờ, quyền lực bị hạn chế, không thể sử dụng được cách cai trị cũ để cai trị nhân dân.




File: Вооруженное востание в Петрограде 24-25 октября (6-7 ноября) 1917, Карта-схема2.svg
bản đồ cách mạng Tháng Mười Nga.








Hồng quân tiến chiếm  Cung điện Mùa Đông




     + 2 giờ sáng ngày 25/10, quân khởi nghĩa đánh chiếm Cung điện Mùa Đông, bắt sống toàn bộ các Bộ trưởng Chính phủ (trừ Kerensky trốn thoát). Chính phủ Kerensky bị sụp đổ hoàn toàn.

Kerenski chạy trốn. Tranh của họa sĩ G.Shegal

Ngay trong đêm 25/10 Lenin ra lời hiệu triệu gửi nhân dân Nga tuyên bố chính phủ lâm thời Kerensky đã bị lật đổ và chính quyền cách mạng được tuyên bố thành lập do ông đứng đầu. Ngay trong đêm 7 tháng 11 năm 1917 (25 tháng 10 theo lịch Nga), Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ hai tuyên bố khai mạc tại điện Smoniyl và tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết do Lenin đứng đầu. Các sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô Viết đã được thông qua là Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất do Lenin dự thảo. Sắc lệnh hòa bình tuyên bố chiến tranh đế quốc là một tội ác của nhân loại và kêu gọi các nước nhanh chóng đàm phán để ký kết một hiệp ước đình chiến. Sắc lệnh ruộng đất tuyên bố thủ tiêu chế độ ruộng đất của địa chủ phong kiến, quốc hữu hóa ruộng đất.


dai_hoi_xo_viet_toan_n_ga_25-70_500 

Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ hai  đêm 25-10-1917

Sắc lệnh hòa bình


Sắc lệnh Ruộng đất


















                                                     

    Sau thắng lợi ở Petrograd, quân khởi nghĩa tấn công quân địch trên toàn nước Nga và giành thắng lợi nhiều nơi. Đến tháng 3/1918, Chính quyền Xô viết giành thắng lợi hoàn toàn trên cả nước.
+ Vai trò của Lenin trong cuộc cách mạng tháng 10 Nga:
- Dựa vào tình hình thực tế nước Nga, Lenin định ra sách lược mới cho nước Nga Xô viết. Ngoài việc định sách lược, Lenin tìm cách liên hệ mật thiết với các tổ chức Đảng ở địa phương, hướng dẫn cách tổ chức rất chu đáo, trò chuyện với nông - công nhân và tuyên truyền cho họ về tình hình thực tại và con đường giải phóng dân tộc mới cho nước Nga, đó là bằng con đường bao lực cách mạng giành chính quyền về tay mình. Chính điều đó đã cho thấy một tư tưởng lớn của Lênin là: cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể và nhất định sẽ giành được thắng lợi ở nước Nga.
- Để cổ vũ cho phong trào đấu tranh cách mạng, Lenin chỉ rõ tính chất phi nghĩa của chiến tranh đế quốc, của bọn phản động trong nước và chỉ ra rằng lối thoát duy nhất cho họ đó là tiến hành đấu tranh giành lấy chính quyền thông qua các Xô viết, kêu gọi giai cấp công nhân quốc tế ủng hộ nước Nga và tổ chức "binh vận" kêu gọi sự ủng hộ của binh lính với chính quyền mới.
- Để thúc đẩy cuộc đấu tranh diễn ra mạnh mẽ, Lenin xem việc thiết lập "liên minh công - nông" là điều cần thiết, vì ông cho rằng hai giai cấp này đều bị phong kiến bóc lột nên chịu nhiều khổ cực và nếu không đoàn kết thì sẽ không thể nào đánh bại phong kiến được. Sự liên mình này là sự liên minh tự nguyện, không áp đặt cho bên nào cả. 
- Định ra đường lối rồi, Lenin tiếp tục tuyên truyền tư tưởng vào giai cấp công nhân, kêu gọi họ củng cố vị trí của mình trong chính trị, kinh tế, coi đó là điều kiện tiên quyết đến thắng lợi.
- Lenin là người có tầm nhìn xa trông rộng. Người xem xét tinh tường mọi việc, phân tích và định ra đường lối rất đúng đắn vững vàng để áp dụng cụ thể vào tình hình nước Nga. Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng Bolshevik Nga đã hòa cuộc đấu tranh của công nhân với cuộc đấu tranh của các giai cấp khác trong xã hội, các dân tộc bị áp bức vào cùng một dòng chảy cách mạng để đánh đổ chủ nghĩa tư bản, phong kiến, thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên.

+ Nguyên nhân thắng lợi:
- Sách lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng Bolshevik Nga mà lãnh đạo là Lenin, biết lợi dụng sức mạnh của quần chúng đang chịu nhiều khổ cực do chiến tranh đế quốc. Ngoài ra, cuộc cách mạng cũng biết lợi dụng hoàn cảnh quốc tế thuận lợi khi các đế quốc đang tham gia Thế chiến I, không có điều kiện can thiệp vào nước Nga.
- Với phe Cộng sản thế giới, cách mạng 1917 là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik Nga, và thắng lợi của nó đã thành lập nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, đưa nước Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Ý nghĩa lịch sử cách mạng tháng Mười Nga:
- Lật đổ ách thống trị của chế độ phong kiến tồn tại từ lâu đời. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động Nga đã đánh đổ sự áp bức bóc lột giành quyền làm chủ đất nước, xây dựng xã hội mới.
- Mở ra thời kỳ mới, thời kỳ nhân dân Nga đập tan xã hội phong kiến - tư bản, thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa làm cho thế giới bị chia thành 2 phe: TBCN - XHCN.
- Đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Marx - Lenin, trào lưu tư tưởng cơ hội xét lại của phong trào cộng sản quốc tế, phong trào cộng sản của công nhân quốc tế, cung cấp nhiều bài học quý giá phong trào cách mạng lúc đó.
+ Ảnh hưởng, tác động đối với cách mạng thế giới:
- Mở đầu sự khủng hoảng của hệ thống thuộc địa đế quốc chủ nghĩa, cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Thức tỉnh, cổ vũ phong trào giải phóng dân ở các nước thuộc địa, phụ thuộc ở Á, Phi, Mỹ latinh. 
- Mở ra giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa. Dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng tháng Mười, giai cấp vô sản các nước tư bản lớn mạnh về lực lượng, tổ chức và ngày càng mạnh mẽ. Tháng 11/1918, cách mạng Đức nổ ra đã lật đổ nhà vua và thiết lập nhà nước cộng hòa, theo sau đó, một cao trào cách mạng nổ ra ở các nước tư bản khác như Anh, Ý, Pháp, Mỹ...
- Cách mạng tháng Mười không chỉ mở đầu của cách mạng XHCN mà còn là cơ sở chính trị, kinh tế vững chắc, đã chọc thủng mắt xích của chủ nghĩa tư bản để tạo điều kiện thuận lợi cho giai cấp vô sản thế giới, đưa hàng triệu công - nông dân tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế.
- Cách mạng tháng Mười mở đầu cho phong trào Cộng sản quốc tế, tiêu biểu là sự ra đời của các Đảng Cộng sản. Năm 1918, các Đảng Cộng sản ra đời ở Áo, Hung, Ba lan, Phần Lan, Đức. Năm 1919 - 1920, Đảng Cộng sản Mỹ, Anh, Pháp... ra đời.
+ Bài học lịch sử:
- Có một chính đảng để lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa để đi đến thắng lợi cuối cùng. Lenin khẳng định rằng chính Đảng Bolshevik mới là tổ chức duy nhất có khả năng tập hợp, giáo dục và tổ chức đội tiên phong của giai cấp vô sản để đủ sức chống lại mọi sự dao động tiểu tư sản của họ. Hồ Chủ tịch trong tác phẩm "Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội" (1976) nhận định: chỉ có sự lãnh đạo của một đảng duy nhất, biết vận dụng đúng chủ nghĩa Marx - Lenin vào nước mình thì mới có thể lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.
- Vấn đề liên minh công nông. Kinh nghiệm cách mạng Nga nói rằng, cách mạng không thể giành thắng lợi, nếu không thực hiện được liên minh công nông vững chắc. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chỉ có thành lập liên minh này mới có thể đủ sức và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng và giành lấy, củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc dân chủ và đi lên chủ nghĩa xã hội. Lenin cũng nhận xét rằng, không ai khác mà chỉ có giai cấp vô sản mới có thể thực hiện sứ mệnh này và sức mạnh của họ tất nhiên sẽ lớn hơn nhiều so với các giai cấp khác cùng thời. Một điều khác nữa, đó là giai cấp vô sản không thể mạnh hơn nếu thiếu sự phối hợp, sự liên minh với các giai cấp khác, cụ thể là nông dân, binh lính để tiến hành cách mạng. Để đảm bảo thắng lợi, ngoài việc thực hiện liên minh trên, cách mạng còn phải thể hiện sự thống nhất giữa các giai cấp, các phong trào của công - nông, nhân dân lao động để họp thành một dòng thống nhất cùng chống phong kiến, đế quốc giành tự do, hạnh phúc. Đấu tranh dân chủ trở thành một bộ phận của đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội.
- Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, liên minh công nông ngày càng vững chắc, dẫn đến thành lập một mặt trận dân tộc rộng rãi, thực hiện thống nhất hành động giữa các lực lượng để chống kẻ thù chung. Hồ Chí Minh, khi nghiên cứu về phong trào cộng sản thế giới đã cho rằng, giai cấp vô sản trước đây bị nhiễm nhiều tư tưởng hữu khuynh, tả khuynh bên ngoài, nên khi xây dựng lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản phải biết giác ngộ công nhân, nông dân, liên minh với các nhóm, các chính đảng, các tầng lớp ngoài  công - nông như tiểu tư sản, trung nông... và Đảng phải vận dụng sách lược cho phù hợp với năng lực, tinh thần đấu tranh và chiến thắng cho giai cấp vô sản.
- Trong đấu tranh cách mạng, phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền. Thực tế chứng minh, tùy tình hình cách mạng mà Đảng phải vận dụng sách lược cho phù hợp. Nhà nước tư sản là nhà nước của giai cấp thống trị, và vì lợi ích của mình chúng sẵn sàng đàn áp mọi sự chống đối của giai cấp vô sản để được yên ổn. Chính vì vậy, để cứu giai cấp vô sản thì không còn cách nào hơn là phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại nó. Khi nghiên cứu Công xã Paris, Marx chỉ ra rằng sở dĩ công xã thất bại là quá nhân đạo với chính quyền tư sản. 
   Lenin, từ tình hình thực tế ở Nga đã cho rằng, giai cấp vô sản phải dùng bạo lực cách mạng để giành lấy chính quyền và bảo vệ sự nghiệp của chính quyền. Kinh nghiệm cách mạng Nga, nội chiến chỉ ra rằng, sự tất yếu dùng bạo lực cách mạng xuất phát từ đặc điểm bên trong (đấu tranh giai cấp vì dân chủ, CNXH) mà còn do hoàn cảnh quốc tế mà ra. Khái niệm bạo lực ngoài việc dùng vào hoàn cảnh thực tế thì còn phụ thuộc hình thức chính quyền tư sản, khả năng chống trả của nó với cách mạng, trình độ tổ chức của giai cấp công nhân, tương quan lực lượng trong và ngoài nước.
- Không ngừng tăng cường, củng cố nền chuyên chính vô sản. Trong các tác phẩm của mình, Marx chỉ ra rằng chỉ có chuyên chính vô sản mới đưa loài người thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa tư bản, và đó là quy luật quan trọng để quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội. Qua kinh nghiệm cách mạng tháng Mười, Lenin đã khái quát lý luận trên của Marx và nêu rõ hơn, đó là phải thay đổi, xóa bỏ nhà nước cũ di và thay bằng nhà nước mới mà Lenin gọi là các Xô viết đại biểu công nhân, nông dân và binh lính. Lenin vạch ra ý nghĩa quốc tế của các Xô viết, đó là chúng (các Xô viết) đã thực sự trở thành mẫu chính quyền, nhà nước vô sản kiểu mới trên thế giới.
- Tinh thần cách mạng triệt để, giương cao ngọn cờ chủ nghĩa anh hùng cách mạng kiên quyết đưa cách mạng đi đến cùng là chủ nghĩa xã hội. Có thể nói, chưa có nơi nào diễn ra nhiều cuộc cách mạng như nước Nga. Sau cách mạng 1905 - 1907, Lenin kêu gọi nhân dân cầm vũ khí, tiến hành nốt 2 cuộc cách mạng cuối để giành độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm cách mạng chứng tỏ rằng, chỉ có cách mạng XHCN mới có khả năng xóa bỏ mọi ách áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị; mặc khác phải tiến hành cải cách dân chủ triệt để để xóa bỏ sự bất bình đẳng, bóc lột để tiến tới XHCN.
- Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản. Thực tế chứng minh, sau khi thành lập nhà nước, Nga Xô viết đưa ra một mẫu mực thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản, sẵn sàng chịu mọi hi sinh để cứu thế giới thoát khỏi chiến tranh khủng khiếp. Bằng việc ký hòa ước Brest - Litopsk, nhà nước Xô viết đã đặt vấn đề chuyên chính vô sản, lợi ích của nhân dân thế giới lên đầu, mặc cho có sự hi sinh, mất mát khá lớn. Từ thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, Hồ Chủ tịch chỉ ra rằng, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng thế giới, và chính nó (CMGPDT) phải phát triển thành cách mạng XHCN thì sẽ thắng lợi. Thắng lợi của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do dân tộc phải gắn liền với sự ủng hộ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa.

3. Cuộc đấu tranh để xây dựng chính quyền Xô viết

    a. Công cuộc xây dựng Chính quyền Xô viết
Chính trị:nhiệm vụ hàng đầu của chính quyền Lenin là phải đập tan hoàn toàn bộ máy thống trị cũ, khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước mới cho giai cấp lao động.
- Ngày 28/10/1917, chính phủ thành lập cơ quan cảnh sát công nông, thay thế cho cảnh sát Sa hoàng trước đây. Các cơ quan của bọn tư sản, địa chủ bị lật đổ và bãi bỏ.... Đến năm 1918, Ban Chấp hành Xô viết toàn Nga, Hội đồng các ủy viên chính phủ và các xô viết các cấp được thành lập. Ở địa phương, các xô viết đại biểu nông dân kết hợp với các xô viết đại biểu công nhân hình thành một cơ quan chính quyền duy nhất.
- Ngày 15/1/1918, Lenin ký sắc lệnh Về tổ chức Hồng quân công nông và 29/1, sắc lệnh thành lập Hạm đội Đỏ được ban hành, Ngày 20/12/1917, Ủy ban đặc biệt toàn Nga - cơ quan an ninh quốc gia ra đời. Ủy ban này đã có công lớn trong việc đập tan các tổ chức phản cách mạng và hành động phá hoại của chúng để bảo vệ nhà nước Xô viết.
  Vấn đề dân tộc cũng được nhà nước Nga Xô viết chú trọng. Ngày 2/11/1917, Chính phủ ra Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc nước Nga. Tuyên ngôn khẳng định các nguyên tắc cơ bản của dân tộc:
- Bình đẳng và chủ quyền của các dân tộc.
- Khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Nga, kể cả quyền tách ra và thành lập các quốc gia độc lập.
- Xóa bỏ các đặc quyền, hạn chế về dân tộc, tôn giáo - dân tộc.
- Các dân tộc thiểu số, các nhân chủng sống trên lãnh thổ Nga được phát triển tự do.
     Trung thành với Tuyên ngôn này, chính quyền Xô viết thừa nhận nền độc lập của Phần Lan (độc lập ngày 5/12/1917), thừa nhận "đường biên giới Curzon" của Ba Lan (10/1920); thiết lập quan hệ ngoại giao bình đẳng với Iran (2/1921); Thổ Nhĩ Kỳ (3/1921). Nước Nga Xô viết là tấm gương sáng trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc. Ngày 31/12/1922, Liên bang Xô viết được thành lập, lúc đầu chỉ có 4 nước (Nga, Belarus...). Đến năm 1918 - 1920 khi đế quốc can thiệp vào nội tình Nga Xô viết, các nước ngoài Nga nhận thấy mình khó có thể đương đầu với đế quốc (thực lực yếu), nên đồng ý gia nhập Liên xô.
   Ngày 6/1/1918, chính quyền Xô viết giải tán Quốc hội lập hiến, cơ quan đại diện của bọn địa chủ, tư sản trước đây. Bốn ngày sau, Đại hội III của Đảng Bolshevik khai mạc đã quyết định hợp nhất các Xô viết đại biểu công nhân với nông dân và binh lính, ra Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột. Ngày 10/7/1918, chính phủ thông qua Hiến pháp nước Nga Xô viết (17 chương, 90 điều) và cải tổ Cộng hòa Xô viết Nga thành Cộng hòa Xô viết xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga.
Kinh tế:
 Thi hành nhiều chính sách phát triển kinh tế:
- Ngày 14/11/1917, chính phủ ban hành "Điều lệ về chế độ kiểm soát của công nhân", cho phép công nhân được phép vào kiểm soát các nhà máy, xí nghiệp của giai cấp tư sản.
- Cuối tháng 11/1917, chính quyền tiến hành quốc hữu hóa các xí nghiệp của tư sản. Trong vòng 1 năm (1917 - 1918), bằng biện pháp kiên quyết, chính phủ quốc hữu hóa được gần 3000 xí nghiệp. Ngày 14/12/1917, chính quyền ra Sắc lênh quốc hữu hóa các ngân hàng của tư sản và thiết lập Ngân hàng nhà nước thống nhất. Cũng trong tháng 12, Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao để quản lý nền kinh tế quốc dân, thực hiện các chức năng tổ chức kinh tế của Nhà nước. Tháng 1/1918, chính quyền tuyên bố xóa bỏ các khoảng nợ mà chính phủ Sa hoàng vay của nước ngoài (khoảng 50 tỉ rup). 
- Tháng 4/1918, chính quyền tuyên bố độc quyền ngoại thương; đồng thời công bố "Những nhiệm vụ trước mắt của Chính quyền Xô viết" của Lenin, chỉ thị cho toàn dân cần kiểm soát chặt chẽ với sản xuất, phân phối sản xuất, lôi kéo chuyên gia tư sản và đề ra các nguyên tắc, biện pháp xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

-  Năm 1918, Sắc lệnh ruộng đất bắt đầu được thi hành ở các vùng nông thôn. Hầu hết nông dân trên cả nước đã nhận được 150 triệu ha ruộng đất từ tay địa chủ, gia đình Sa hoàng và họ không còn phải nộp tô, thuế cho địa chủ nữa. Tuy nhiên, sắc lệnh này vấp phải sự chống đối kịch liệt của bọn nông dân giàu có (còn gọi là phú nông). Chúng từ chối không chịu bán bánh mì cho chính quyền Xô viết, dẫn đến tình trạng khẩu phần bánh mì của công nhân giảm xuống trầm trọng, nông dân bị đói kém triền miên và mâu thuẫn xã hội tăng lên. Để giải quyết, chính quyền tiến hành ra sắc lệnh cấm đầu cơ lúa mì, kiểm kê chặt chẽ; thành lập các Ủy ban bần nông để phân phối lại lúa mì cho nông dân. Đến năm 1918, chính quyền thành lập được 105.000 ủy ban này. Các tổ chức Bolshevik được phục hồi nhanh chóng.
Phú nông đầu cơ lúa chống
chính quyền Xô viết
 


+ Ngoại giao:
- Sau Cách mạng tháng Mười, chính quyền Nga Xô viết ra "Sắc lệnh hòa bình" kêu gọi các nước tham chiến trong Thế chiến I hãy chấm dứt chiến tranh, tiến hành đàm phán để đi đến ký kết hiệp ước hòa bình. Nhưng các nước thuộc phe Hiệp ước (Entente) đã bác bỏ đề nghị trên của chính quyền Xô viết. Trong khi đó, do tình hình có khó khăn nên Đức chấp nhận đề nghị của chính quyền Xô viết. Kết quả, ngày 2/12/1917, Đức cùng với Bulgaria, Áo - Hung và Ottoman, đã ký với Trotsky (Liên Xô) một hiệp ước đình chiến để chấm dứt chiến tranh giữa hai bên.
- Ngày 9/12, cuộc đàm phán bắt đầu. Phía Liên Xô yêu cầu rút toàn bộ quân đội nước ngoài ra khỏi các lãnh thổ bị chiếm đóng của Ba Lan, Litva và các vùng khác của Nga. Phía Đức thì bác bỏ, đòi lấy 150.000 km2 (Ba lan, Litva, Latvia, Ucraina). Trước tình hình đó, Lenin chủ trương chấp nhận yêu sách để có hòa ước, nhưng Trosky lại phản đối và cho rằng "không hòa, không chiến", giải tán quân đội là có hòa ước. 
  Cuộc đàm phán tan vỡ. Quân Đức tấn công mạnh vào nước Nga Xô viết. Trước tình hình đó, Lenin được Đảng Bolshevik Nga trao toàn quyền quyết định chiến tranh và ký hòa ước. Hồng quân Xô viết được thành lập (23/2/1918) đã đánh bại quân Đức ở Petrograd, buộc Đức trở lại đàm phán. Ngày 3/3/1918, Hòa ước Brest - Litopsk được ký kết, theo đó Nga Xô viết bị mất 750.000 km2 lãnh thổ với hơn 50 triệu dân, bồi thường cho Đức 6 tỉ mác. Thế nhưng đến tháng 11/1918, nước Đức sụp đổ, chính phủ Xô viết tuyên bố xóa bỏ hiệp ước này.
Tập tin:Brest treaty Barry Kent.jpg
Lễ ký kết hiệp ước Brest - Litopsk.
Tập tin:Armisticebrestlitovsk.jpg
Bản đồ nước Nga Xô viết sau hòa ước 1918 (phần màu hồng là phần mất đi sau hòa ước)

+ Nội chiến Nga: 1918 - 1920
* Nguyên nhân:
- Nga Xô viết là nhà nước công nông đầu tiên có đường lối mới, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, phục vụ lợi ích cho nhân dân Nga cũng như nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới, điều này xâm phạm lợi ích của các nước tư bản đang đầu tư ở Nga.
- Địa chủ, tư sản mất nhiều quyền lợi sau Cách mạng 1917, cho nên chúng liên kết với nước ngoài tiêu diệt Xô viết.
- Nga sau Cách mạng 1917 đã ký hiệp ước Brest - Litopsk rút khỏi chiến tranh, không tham chiến, cho nên đi ngược lợi ích của phe Liên minh.
* Diễn biến:
+ Giai đoạn 1917 - 1919:
- Năm 1917, quân đội của 14 nước đế quốc (Anh, Pháp, Mỹ. Nhật,...) hợp sức với bọn Bạch vệ phản động, Quân đoàn Tiệp Khắc tấn công vào nước Nga Xô viết:
 + Tháng 12/1917, quân Rumani (có Pháp hỗ trợ) chiếm Bessarabia.
  + Tháng 3/1918, 1 vạn quân Anh, Pháp đánh vào nước Nga, chiếm Murmansk, Arkhangelsk. Chúng chém giết dã man những người cộng sản Xô viết, tiến thẳng vào Petrograd và Moskva và xây dựng cái gọi là "chính phủ phương Bắc" của Bạch vệ.
 + Tháng 4/1918, quân Nhật từ Vladivostok, liên quân Anh - Pháp - Mỹ tấn công dồn dập vào nước Nga. Các chính quyền sở tại bị lật đổ. Quân Bạch vệ lần lượt chiếm Yakutsk, Sita và nhiều thành phố khác.
  + Ngày 25/5/1918, quân đoàn Tiệp Khắc nổi loạn chống chính quyền, chiếm  thành phố Samaran và Ural, cả một vùng rộng lớn từ Ural tới Siberie, và kho bạc 600 triệu rup của chính quyền, và chính cuộc nổi loạn này khơi màu thời kỳ mở rộng can thiệp vũ trang của các đế quốc.
  + Theo sau đế quốc, các thế lực phản động trong nước nổi dậy khắp nơi, lập các chính quyền phản cách mạng ở Arkhangelsk, Siberie (Vladivostok, Omsk), Ural (Ekaterinodar).

- Ngoài ra, các đế quốc còn mua chuộc lãnh đạo Xô viết, xúi họ nổi loạn. Ngày 25/5, chúng nổi dậy chiếm thành phố Samaran và Ural, cả một vùng rộng lớn từ Ural tới Siberie lọt vào tay chúng. Bọn phú nông, địa chủ thừa cơ nổi dậy.
- Tình thế trở nên căng thẳng. Quân địch khống chế nhiều vùng phong phú về nguyên liệu và khoáng sản và hầu hết các nhà máy phải đóng cửa. Lương thực cũng trở nên khan hiếm, ở Moskva mỗi người dân chỉ được cung cấp 1/8 đến 1/4 bánh mì trong ngày.
- Ngày 31/3/1918, Đảng Xã hội Cách mạng lập kế hoạch ám sát Lenin. Hôm đó, Lenin diễn thuyết ở nhà máy Michelson. Sau khi diễn thuyết xong, ông ra về thì bất ngờ bị một phụ nữ tên là Kaplan rút súng bắn 2 phát đạn (có tài liệu nói 3 phát) vào Lenin làm Người bị thương.
- Bộ mặt phản động của bọn đế quốc bị vạch trần. Ngay trong năm 1918, Đảng Bolshevik ra lời kêu gọi công, nông gia nhập Hồng quân. Tháng 8, Hồng quân có 80 vạn người. Tháng 9, họ xuất quân đánh tan 2 quân đoàn phiến loạn số 2 và số 5. Tháng 10, hai tập đoàn quân số 1 và số 5 đánh tan Quân đoàn Tiệp Khắc. Ở phía Nam, Stalin và Frunze đem quân đánh tan quân phỉ Petlura, Kozac. 
Năm 1919, chính quyền ban hành "Chính sách cộng sản thời chiến". Nội dung chủ yếu của chính sách này là:
* Nông nghiệp:
+ Nhà nước trưng thu lương thực thừa đối với nông dân theo nguyên tắc "không thu một chút gì của nông dân nghèo, thu của trung nông với mức độ vừa phải và thu của phú nông nhiều hơn".
+ Nhà nước độc quyền lúa mì, cấm tư nhân buôn bán lúa mì.Nhà nước kiểm soát toàn bộ công nghiệp với quy mô lớn và nắm trong tay công nghiệp hạng vừa và nhỏ. Hội đồng kinh tế quốc dân tối cao (12/1917) là cơ quan tập trung quản lý, điều hành sản xuất công nghiệp cũng như nền kinh tế quốc dân.
* Lực lượng lao động: thi hành chế độ cưỡng bức toàn dân. Tất cả công dân từ 16 - 50 tuổi đều phải tham gia lao động công ích theo phương châm "Ai không làm thì không hưởng".
  Thực hiện chế độ trả lương bằng hiện vật (lúc này đồng tiền bị mất giá) theo nguyên tắc bình quân. Trẻ em, công nhân công nghiệp, đường sắt được ăn uống tự do không phải mất tiền.
  Mặc dù chính sách này thực hiện khá thành công, nhưng nó để lại nhiều hậu quả nặng nề:
- Nông dân từ chối cung ứng sản phẩm do chính phủ lấy quá nhiều sản phẩm của họ.
- Công nhân bỏ việc ở thành thị, về nông thôn sinh sống làm giảm đáng kể lực lượng lao động ở các thành thị. Năm 1920, Petrograd mất 75% dân số, trong khi đó Moskva mất 50%. Thị trường chợ đen mọc lên rầm rộ, đồng rup Nga bị phá giá, công nghiệp nặng suy giảm còn 20% và đói lớn xảy ra làm khoảng 10 triệu người chết. Kết quả là công - nông dân nổi dậy, tiêu biểu là vụ loạn Kronstad làm rung chuyển nội tình chính phủ. Sau khi kết thúc nội chiến, chính sách này được thay bằng chính sách kinh tế mới (NEP).