Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI, phần 3

 VII. Văn minh Trung Quốc:
    1. Điều kiện tự nhiên:


bản đồ Trung Quốc
Lãnh thổ Trung Quốc ngày nay rộng mênh mông nhưng Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ nhiều. Địa hình Trung Quốc đa dạng, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp.
Trong hàng ngàn con sông lớn nhỏ ở Trung Quốc, có hai con sông quan trọng nhất là Hoàng Hà (dài 5464 km) và Trường Giang (Dương Tử, dài 5800 km). Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc.
Tập tin:Landzhou 07-2005.jpg

Hoàng Hà đoạn chảy qua Lan Châu
File:Changjiang-seen-from-Hubei-S334-4857.jpg
Trường Giang






Do  điều kiện địa lý thuận lợi, xa xưa trên lãnh thổ Trung Quốc đã có ngươì sinh sống. Khoảng thế kỷ XXI TCN, các bộ tộc Hạ, Thương (vốn có gốc từ Mông Cổ) là những cư dân đầu tiên đến lưu vực Hoàng Hà. Vào thế kỷ XI, tộc Chu diệt Thương, và đồng thời diễn ra quá trình đồng hoá giữa Hạ_Thương tiến tới hợp nhất thành bộ tộc duy nhất: tộc người Hoa-Hạ (tiền thân của tộc Hán sau này). Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay.(Dân núi Hoa sông Hạ), và họ là chủ nhân sáng tạo nền văn minh Hoa Hạ nổi tiếng.


   Phía tây và tây nam là nơi cư trú của các bộ tộc thuộc ngữ hệ Hán_Tạng, Môn_Khmer (người Tạng, Naxi, Nộ tử...), phía đông và đông bắc là nơi sinh sống của các bộ tộc thuộc ngữ hệ Tungut. Con cháu của họ sau này là các dân tộc ít người như Mông Cổ (lập nhà Nguyên), Mãn (lập nhà Thanh), Choang, Duy Ngô Nhĩ... Các dân tộc trên cùng với người Hán đã sáng tạo ra nền văn minh Trung Quốc rực rỡ và độc đáo.

   Trong 94 dân tộc hiện sinh sống trên đất Trung Quốc ngày nay, có 5 dân tộc đông người nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng.

Con người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Chu Khẩu Điếm ( gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây hơn 500 000 năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời.

Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kì Tam Hoàng ( Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông ) và Ngũ Đế ( Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế ). Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thuỷ

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/54/Territories_of_Dynasties_in_China.gif.
Bản đồ vùng lãnh thổ chiếm đóng qua các triều đại khác nhau.


Thời Tam đại ở Trung Quốc trải qua ba triều đại:
    Nhà Hạ (2205_1767 TCN). Nhà Hạ do vua Vũ (tức Đại Vũ, 2205_2197 TCN) sáng lập, truyền ngôi 17 đời vua. Trong lịch sử, triều Hạ được coi như triều đại mở đầu chế độ nô lệ ở Trung quốc. Nhà nước, quân đội, luật pháp (Vũ hình, 3000 điều) ra đời nhưng còn đơn giản. Vua Hạ chia quý tộc thành Lục khanh (6 chức khanh tước), trong đó có một số chức như: Lục chính (quản lý chăn nuôi), Xa chính (quản lý xe),Bào chính (quản lý việc dâng thức ăn cho vua).


    Lúc cường thịnh nhất, Hạ đã thống trị vùng đất rất rộng ở trung lưu Hoàng Hà, kinh đô An Ấp (Sơn Đông). Thời kỳ này, người Trung quốc chưa có chữ viết, tuy nhiên họđã biết đồng đỏ, biết chế tạo đồ gốm, đồ đồng với kỹ thuật khá cao đã đánh dấu bước tiến mới so với thời đại trước đó.
    
Chân dung của Hạ Vũ     Cuối đời nhà Hạ, tình hình chính trị trong triều đình hỗn loạn, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Đặc biết sau khi nhà vua cuối cùng là Kiệt (1818_1767 TCN) kế vị cha là Phát không chịu cải cách, ăn chơi sa đoạ. Ông ta suốt ngày chỉ uống rượu làm tình với người phi Muội Hỷ được sủng ái, bất chấp sự khổ cực của nhân dân. Có đại thần nào khuyên ông, ông đều giết họ. Bởi vậy các nước chư hầu lần lượt dựng cờ tạo phản. Lúc đó một trong các nước chư hầu là Thương đã thừa cơ diệt Hạ, cuối cùng đánh thắng quân Hạ, nhà vua Hạ Kiệt lẩn trốn và sau chết ở Nam Sào,  nhà Hạ bị diệt vong từ đây.
Vũ, người thành lập nhà Hạ



Hình ảnh vua Kiệt mang cây kích trên vai và ngồi trên hai người phụ nữ, thể hiện sự tàn ác và hoang dâm.

Hình ảnh vua Kiệt mang cây kích trên vai và ngồi trên hai người phụ nữ, thể hiện sự tàn ác và hoang dâm


Trung Quốc thời nhà Hạ

  
Đồ đồng thời Hạ.




    Nhà Thương ( còn được gọi là Ân-Thương) từ 1766_1122 TCN: Tương truyền, thuỷ tổ của tộc Thương là Khế, hậu duệ của ông từng làm tư đồ thời Thuấn, Hạ, được phong ở đất Thương (huyên Thương Khâu, Hà Nam) truyền đến đời 14 là Thành Thang. Nhờ dùng hiền tài như Y Doãn nên nhân lúc Hạ suy yếu, Thang đem quân đánh Hạ, khiến Kiệt phải chạy trốn đến Nam Sào và tự tử. Thang lên ngôi, hiệu là Cao tổ (1766_1761 TCN), đổi tên nước là Thương, đóng đô ở đất Bạc (gần Thương Khâu ngày nay).  Các vua Thương mở rộng lãnh thổ bằng cách chinh phục các bộ lạc xung quanh. Trong 300 năm sau , vì nội loạn và lũ lụt ở Hoàng Hà , nên triều Thương phải nhiều lần dời đô . Năm 1401 TCN (có tài liệu viết là 1374 TCN), Bàn Canh đã  
chuyển kinh đô về đất Ân và từ đó ổn định ở nơi này. Vì vậy, nhà Thương còn được gọi là nhà Ân và đóng tại đó 270 năm.
   Thời Thương, người dân đã đào kênh khai nước vào ruộng đồng, biết làm bia (từ kê), mở rộng thương mại và sử dụng tiền dưới dạng vỏ ốc. Tới đầu năm 1300 TCN một nền công nghệ đúc đồng đã phát triển. Công nghệ đúc đồng này muộn hơn so với châu Âu và Tây Á nhưng lại phát triển nhất trên thế giới.
    Thời vua cuối cùng là Trụ (1154_1123 TCN) con của Đế Ất đóng ở Triều Ca, nhà Thương đã suy yếu, chính sự ngày một nát bét. Ông ta có sức khoẻ hơn người, văn võ song toàn nhưng cai trị rất tồi. Ông mê Đát Kỷ đến quên việc triều chính. Ông cho xây Lộc đài, Nhục lâm_Tửu trì, đặt ra hình phạt Sái bồn (bỏ phạm nhân vào hố sâu có rắn cho rắn giết chết), Bào lạc (cho phạm nhân vào ống đồng rỗng ruột nung đỏ bằng lửa của củi đốt, dí thân thể phạm nhân vào ống đồng cho thịt da cháy khét, nạn nhân giãy chết rất thê lương. Ông ta giết các người trong hoàng tộc như Khương Vương Hậu và 2 con trai; Bá Ấp Khảo (con trai Cơ Xương), moi tim của người chú là Tỷ Can - một đại thần trong triều - cho Đát Kỷ ăn...
    Trụ Vương và Đát Kỷ để lại sự căm hận cho đời sau. Căm hận Trụ, Cơ Xương và con là Phát phát triển lực lượng. Năm 1124 TCN, Cơ Phát khởi binh gồm 300 cỗ xe, 45000 quân mặc giáp, 3000 dũng sĩ đi đánh Ân. Tháng 12 âm lịch năm 1124 TCN, chư hầu đều đến hội ở Mạnh Tân. Cơ Phát viết thiên “Thái thệ” để hiểu dụ mọi người, nêu rõ tội ác của Trụ vương để có lý do khởi binh. Ông tay cầm búa lớn mày vàng, ra lệnh tấn công. Quân Trụ tan rã, Trụ cùng đường phải tự tử. Cơ Phát thiết lập triều đại mới: triều Chu.

Văn minh Thương




Một chiếc vại bằng đồng cuối thời Thương.

Nhà Chu (1122_256 TCN) do Vũ Vương (Cơ Phát) sáng lập. Nhà Chu có 2 thời kỳ :Tây Chu (1122_771 TCN, đóng ở Cảo Kinh) và Đông Chu (771_256 TCN, đóng ở Lạc Ấp).
    Thời Tây Chu, vua tiến hành phân phong ruộng đất cho anh em họ hàng và công thần để họ lập nước trị dân. Theo thư tịch, vua Chu (đại diện là Chu Công) đã phân phong 71 chư hầu, trong đó có 53 chư hầu họ Chu, 18 là các công thần các họ khác và quý tộc Thương quy thuận. Đồng thời, Chu Công xác định địa vị chính trị và quyền thừa kế tài sản của con trưởng đối với cha, gọi là chế độ Tông pháp.

Nền văn minh Tây Chu.

Bình gốm Tây Chu với các mảnh khảm thủy tinh, thế kỷ thứ 4-3 TCN, Bảo tàng Anh.
File:AltechinesischeMuenzen.jpg
đồ đồng thời Chu
File:Chinese inscription on a bronze ware.jpg
chữ viết thời Chu.

    Trong nước, vua tự xưng là Thiên Tử, cha truyền con nối. Vua lập ra triều đình gọi là thiên triều, đặt ra các chức quan để trị quốc. Các nước chư hầu có quân đội riêng, triều đình riêng nhưng vẫn phải bị vua Chu điều đi đánh dẹp các nơi khác.
    Từ đầu thế kỷ IX, nhà Tây Chu suy yếu, vua luôn phải chống trả các cuộc xâm lược từ các bộ tộc bên ngoài, quý tộc và nhân dân. Năm 771 TCN, Tây Chu  bị Khuyển Nhung phá tan, vua Chu là Bình Vương phải dời đô về Lạc Ấp, từ đó về sau, nhà Chu bước vào giai đoạn thứ hai gọi là Đông Chu, hay còn gọi là thời Xuân Thu(chép trong kinh Xuân Thu).
    Thời Xuân Thu (770_475 TCN) :  Ở giai đoạn này, quyền lực được tập trung hoá. Giai đoạn này xảy ra rất nhiều các trận chiến và sự sáp nhập khoảng 170 nước nhỏ. Sự sụp đổ dần dần của giới thượng lưu dẫn tới sự mở rộng học hành; trí thức gia tăng lại thúc đẩy tự do tư tưởng và tiến bộ kỹ thuật. Thời kỳ này cũng là thời kỳ xưng bá của các nước chư hầu. Bá chủ đầu tiên (tạm thời) là :Trịnh Trang Công (743_721 TCN): Ông là người đầu tiên làm bá chủ, giúp vua Chu tránh được sự cướp phá cùa các tộc bên ngoài.
   + Ngũ bá thời Xuân Thu: Thời kỳ này, do chiến tranh liên tục diễn ra nên một số nước mạnh lên, một số nước yếu bị tiêu diệt. Các bá chủ lúc đó là:
     

    Thời Chiến Quốc (475_256 TCN): là thời kỳ hỗn loạn nhất Trung quốc. Tên gọi Chiến Quốc xuất phát từ cuốn Chiến Quốc sách được biên soạn đầu thời nhà Tần. Thời Chiến Quốc, trái với thời Xuân Thu, là một giai đoạn mà các lãnh chúa địa phương sáp nhập các tiểu quốc nhỏ hơn xung quanh để củng cố quyền lực.  Bảy nước lớn thời Chiến Quốc ( Chiến Quốc thất hùng), gồm có Tề , SởYên , HànTriệu , Nguỵ  và Tần. Một dấu hiệu khác của sự tăng cường quyền lực là sự thay đổi danh hiệu: trước kia các lãnh chúa vẫn xếp mình vào bậc công (公) hay hầu (侯), chư hầu của vua nhà Chu; nhưng trong giai đoạn này họ đã lần lượt tự xưng vương (王), có nghĩa là họ ngang hàng với vua nhà Chu.
    Thời kỳ này, đồ sắt đã thế đồ đồng làm vũ khí chiến tranh. Tư tưởng, học thuật phát triển mạnh mẽ như Pháp gia, Mặc gia...

bản đồ Trung Quốc thời chiến quốc khoảng năm 350 TCN








Thời phong kiến:
trung_quoc_thoi_phong_kien_500_01 bản đồ Trung quốc thời phong kiến
_ Nhà Tần ( 221-206 TCN): Năm 221 TCN, Tần Thuỷ Hoàng đánh bại 6 nước khác thời Chiến quốc, thống nhất đất nước. Tần Thuỷ Hoàng tiến hành một loạt cải cách quan trọng:


Qinshihuang.jpg
Tần Thuỷ Hoàng
   + Chính trị: 
       * Trung ương: Đầu tiên là vua, sau ông là 3 vị quan trong triều là Thừa tướng, Ngự sử đại phu, Thái uý. Dưới 3 người này là 9 người khác phụ trách các công việc như thuế khoá, hình pháp...
       * Địa phương: chia nước thành 36 quận, huyện rồi cử quan lại tới cai trị. Quan lại lớn nhỏ đều không truyền lại cho đời sau, mà là do Hoàng đế đích thân bổ nhiệm. Ông còn đưa các quý tộc cũ chuyển về thủ phủ Hàm Dương để tiện giám sát quản lý.
    + Kinh tế:
       * Nông nghiệp: ưu đãi ruộng đất cho nông dân, được phép mua bán tự do. Chế độ đó gọi là danh điền, tạo nên một giới địa chủ có những cơ sở rất lớn, dần dần thành một giai cấp có quyền hành tương tự như các chư hầu nhỏ thời trước.
       * Thương nghiệp: đày phú thương đi xa để triều đình nắm quyền lợi.
       * Thống nhất tiền tệ, đo lường, tư tưởng Pháp gia.
    + Xã hội: ra hình phạt nặng nề để trừng phạt nhân dân, thi hành "đốt sách chôn nho".


Năm 210 TCN, Thuỷ Hoàng chết, Nhị thế lên thay, đế chế Tần suy yếu. Nhân đó, cuộc khởi nghĩa lớn do Trần Thắng lãnh đạo nổ ra làm Tần sụp đổ.



Chân dung của Hán Cao Tổ.
Chân dung của Hán Cao Tổ.
S-114 W Han wuzhu, Han Wudi, 140-87, 25 5mm.jpg

đồng tiền thời Hán

bản đồ Trung quốc thời Hán


   _ Nhà Hán ( 206 TCN - 220 ): Lưu Bang lập nên nhà Hán. Giai đoạn đầu, nhà Hán đóng đô ở phía tây Trung Quốc - Tây Hán. Sau loạn Vương Mãng, nhà Hán dời đô sang phía đông - Đông Hán. Thời Hán, Trung Quốc có nhiều thành tựu rực rỡ:
    + Phát triển mạnh về kinh tế, thương mại (dân số là 50 triệu người), thống nhất Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, mở rộng ảnh hưởng văn hoá ra bên ngoài như Việt Nam, Triều tiên, Mông Cổ và Trung Á.
    + Văn học phát triển mạnh mẽ, nổi bật nhất là Sử ký của Tư Mã Thiên. Mặc khác ở thời kỳ này, người Trung Quốc đóng góp một phát minh lớn cho nhân loại: nghề làm giấy
    + Nhà Hán còn nổi tiếng về thành tích quân sự. Bằng nhiều chiến dịch lớn, nó đã mở rộng đến vùng Tarim, kiểm soát con đường tơ lụa.


Cuối thời Đông Hán, chính sự suy yếu, khởi nghĩa Hoàng Cân (Trương Giác lãnh đạo) làm nó sụp đổ.

   File:Eastern Han Dynasty tomb fresco of chariots, horses, and men, Luoyang 2.jpg
vua Hán tuần du ra bên ngoài.

File:Gentlemen in conversation, Eastern Han Dynasty.jpg
quan lại Trung Quốc thời Tây Hán
File:HanForeigner3rdCentury.jpg
tượng thương nhân Trung Quốc thời Hán,

Hành trình 138 TCN126 TCN của Trương Khiên về phía tây, Hang Mộ Cao, tranh tường 618–712.



   _ Thời Tam quốc (220 - 280 ), đây là thời kì Trung Quốc bị chia xẻ ra làm ba nước Nguỵ, Thục, Ngô. Các nước này đánh nhau liên miên giành làm bá chủ Trung Nguyên. Cuối cùng, Tấn thống nhất toàn cõi Trung Quốc. Thành tựu chủ yếu:
    + Kinh tế: Ở nước Nguỵ là phát triển nhất. Các vua Nguỵ tiến hành làm thuỷ lợi, đồn điền phục
vụ cho mình (và nhân dân). Mặc khác, Ngụy sau khi dùng tiền Ngũ thù và thi hành trở lại chính sách hàng đổi hàng. Thục cũng khá phát triển, tiền tệ tương đối ổn định. Ngô thì tương tự. Vua cũng phát hành tiền lớn và sau đó lại phát hành tiền lớn ăn 1000 đồng đổi lấy tiền nhỏ của dân.. Về sau, ông thu hết tiền lớn lại.
    + Xã hội: Dân số các nước không đồng đều. Nguỵ đông nhất. Khi nhà Ngụy mất (265), quốc gia này có hơn 663.423 hộ gia đình và 4.190.891 người trong phạm vi biên giới của mình. Nhà Thục có 280.000 hộ dân số 940.000 người. Đông Ngô có 523.000 hộ, 2.558.000 người. Chắc có lẽ do dân số quá đông nên khả năng chống cự yếu, dẫn đến Ngô và Thục lần lượt mất về tay Ngụy và Tấn.
    + Thương mại: phát triển, đường giao thông chính là Đại Vận Hà, sông Dương Tử, con đường tơ lụa.
    + Văn hoá, nghệ thuật: 
      _ Vương Túc (con Vương Lãng) là tác giả của bộ Cổ văn Thượng thư truyện. Con Vương Túc là Vương Bật được đánh giá là thiên tài, người đã chú giải Lão tử, sau đó lại dùng Lão tử giải thích Kinh dịch.
      _ Ba cha con Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực đều là những nhà thơ nổi tiếng. Ngoài thơ ca, Tào Thực còn nổi tiếng với bài phú đài Đồng Tước. Tào Phi tuy kém Tào Thực một bậc nhưng chính là người mở đầu cho thể thơ thất ngôn. Về tiểu thuyết, thời Tam Quốc có Lục dị ký và truyện ma quỷ Sưu thần ký, cũng được cho là của Tào Phi.
      _ Cam Bảo viết tác phẩm Ngụy Tấn Xuân thu;  Ngư Quyền viết Ngụy lược, Vi Chiêu viết Ngô thư và Tiêu Chu nhà Thục Hán viết Cổ sử khảo.
      _ Hiện nay ở bảo tàng mỹ thuật Boston còn lưu giữ tranh về hai người du xuân rất sinh động. Trong nghệ thuật kiến trúc, các chùa Phật giáo, miếu của Đông Ngô rất phát triển: Vũ Xương có chùa Tuệ Bảo, Kiến Nghiệp có viện Thủy Tướng và chùa Bảo Ninh, Ngô huyện có chùa Thông Huyền, huyện Cần có chùa Đức Nhuận. Ở miền bắc, Tào Tháo dựng đài Đồng Tước sau khi thua trận Xích Bích.
      _ Về khoa học, thời Tam Quốc đã bắt đầu ứng dụng ma túy và dùng thủ thuật lấy sỏi mật ra. Tên tuổi của danh y Hoa Đà (145_208) còn truyền đến nhiều đời sau. Người nước Ngụy là Về khoa học, thời Tam Quốc đã bắt đầu ứng dụng ma túy và dùng thủ thuật lấy sỏi mật ra. Tên tuổi của danh y Hoa Đà còn truyền đến nhiều đời sau. Người nước Ngụy là Mã Quân có công phát minh ra xe chỉ nam, xe bắn đá; đồng thời cũng được xem là người phát minh ra guồng nước. Ngoài ra, còn có nhà toán học Lưu Huy, tác giả của bộ Hải đảo toán kinh có công phát minh ra xe chỉ nam, xe bắn đá; đồng thời cũng được xem là người phát minh ra guồng nước. Ngoài ra, còn có nhà toán học Lưu Huy, tác giả của bộ Hải đảo toán kinh.
  

Bản đồ Tam Quốc năm 262 (Đỏ:Ngụy, Vàng:Ngô, Xanh:Thục)

   _ Nhà Tấn
( 265 - 420 ). Năm 265, cháu Tư Mã Ý ( tướng quốc nước Nguỵ ) là Tư Mã Viêm bắt vua Nguỵ phải nhường ngôi, lập ra nhà Tấn. Sau khi thành lập, vua Tấn là Vũ đế tiến hành phân phong chư hầu với điều kiện: 

  • Nước phong có 2 vạn hộ là nước lớn, quân sĩ 5000 người;
  • Có 1 vạn hộ là nước vừa, quân sĩ 3000 người
  • Nước có 5000 hộ là nước nhỏ, quân sĩ có 500 người.
Do việc tăng binh lực cho các chư hầu nên người được phong dễ gây ra nội chiến và đây chính là một sai lầm cực đoan. Ông ta còn cải cách nhưng bất thành.

Bản đồ Trung Quốc thời Tây Tấn (màu vàng) năm 280
Tấn Vũ Đế qua nét vẽ của Diêm Lập Bản, họa sĩ thời Đường.
Tấn Vũ Đế qua nét vẽ của Diêm Lập Bản, họa sĩ thời Đường.

Người cưỡi ngựa thời Tấn trên mặt bình
File:CMOC Treasures of Ancient China exhibit - figure of a senior clerk.jpg
tượng đất sét hình người thời Tấn.

Thời Tấn, quân ngoại tộc xâm nhập liên tiếp làm cho nó chống đỡ rất khổ sở. Bên cạnh đó, Loạn Bát vương xảy ra làm Tây Tấn sụp đổ. 
Năm 317, Nguyên đế lập ra nhà Đông Tấn,và phải chống đỡ quân ngoại tộc. Về sau, nhờ tể tướng Vương Đạo có đường lối cai trị đúng đắn, nhà Đông Tấn dần đi vào ổn định, nhưng không bền vững và bị vướng vào vụ loạn của Vương Đôn, Tô Tuấn. Đối với Ngũ Hồ, Đông Tấn cử Tổ Địch, Dữu Lượng, Hoàn Ôn Bắc phạt và giành nhiều thắng lợi quan trọng. Đỉnh cao nhất của Bắc phạt thời này là chiến thắng Phì Thuỷ (383). Năm 383, Tạ Huyền của Đông Tấn đem 5000 quân đánh tan 82000 quân Tiền Tần của Phù Kiên làm ông ta phải cuốn gói về nước.

Cuối thời Đông Tấn, do việc Tư Mã Đạo Tử làm tể tướng và Hoàn Huyền soán ngôi vua đã làm cho triều đình suy yếu dần. Nhân đó, nhiều cuộc khởi nghĩa lớn, tiêu biểu là của Tôn Ân nổ ra làm nó suy yếu nữa. Cuối cùng, Lưu Dụ, một bộ tướng của Đông Tấn đã hạ bệ vua cuối cùng của Đông Tấn là Cung đế đoạt ngôi, lập ra nhà Nam Tống, bắt đầu thời Nam_Bắc triều.




   _ Thành tựu:

    + Chính trị: ra đời bộ Tấn luật (264) do Đỗ Dự, Trương Bùi biên soạn. Tấn luật có 21 thiên, 2306 điều, có giảm nhẹ hình phạt thời Hán nên giảm bớt tội phạm (luật này có chỗ viết là luật Thái Thuỷ, 20 chương, 620 điều). Ngoài ra, ông còn cho ra lịch :Nhị nguyên càn độ.
    + Kinh tế: các vua Tấn ban hành chế độ ruộng đất, quy định:
           

  • Nông dân trong đồn điền được biên chế theo hộ tịch của quận huyện và chia ruộng theo hộ; nếu chủ hộ là đàn ông thì được chia 70 mẫu, chủ hộ là đàn bà thì được chia 30 mẫu;
  • Chế độ nộp khóa điền: nộp tô ruộng đất cho Triều đình. Người từ 16 đến 60 tuổi, là nam thì phải làm 50 mẫu khóa điền, là nữ thì phải làm 20 mẫu. Người từ 13-15 tuổi và từ 60-65 tuổi thì làm bằng nửa số khóa điền tương ứng theo giới tính.
  • Mỗi hộ phải nộp 3 thạch lúa và 3 cân bông 1 năm.
      Quan lại nhà Tấn từ nhất phẩm đến cửu phẩm, tùy đẳng cấp được cấp ruộng và tá điền, thấp nhất là 10 khoảng và cao nhất là 50 khoảnh - mỗi cấp hơn nhau 5 khoảnh. Ngoài ra, quan nhất phẩm đến tam phẩm còn được thêm ruộng thái điền (vua ban) từ 6 đến 10 khoảnh. Người có tước vương, công và hầu thì được chiếm ruộng đất không hạn chế tại nước mình được phong, ngoài ra còn được xây 1 tòa nhà tại Kinh đô. Nước lớn được 15 khoảnh ruộng gần Kinh đô, nước vừa 10 khoảnh, nước nhỏ 7 khoảnh.


    _ Ngoài ra, nhà Tấn thi hành chính sách cấp đất cho người ngoại tộc di cư vào Trung quốc, thu thuế trả cho nhà nước. Nhà nước tiến hành đánh thuế từng nhà dân. Đời Thành đế thi hành chế độ tô tức chế để tăng thu cho Triều đình, bình quân mỗi mẫu lấy 1/10 sản lượng là 3 thăng gạo. Về sau do bị phản đối nên giảm xuống còn 1 thăng.
   _ Quý tộc vẫn đóng thuế. Vua quy định mỗi đinh nam từ 16 tuổi trở lên phải nộp thuế toàn đinh 3 hộc, từ 13-16 tuổi là nửa đinh. Ngoài ra, họ còn phải nộp 2 trượng vải, 2 trượng lụa, 3 lạng tơ và 8 lạng bông nữa thì đủ.

Ngoài ra, Triều đình còn định ra các thứ thuế:
  • Xi thuế: là thuế đánh vào tài sản
  • Hưu thuế: thuế đánh vào việc mua bán hàng, dù lớn hay nhỏ phải nộp 4%. Loại hàng giá cao như nhà cửa, nô tỳ thì người bán nộp 3%, người mua nộp 1%.
  • Thuế chợ, thuế bến tàu, bến xe, mọi hàng hóa đều đánh thuế 1%

    _ Nhà Tấn thi hành chế độ sỹ tộc rất ngặt. Từ vương - công - hầu - bá là nhất phẩm tới tứ phẩm, hàng quý tộc, t tức là sĩ tộc bậc cao. Từ các bậc ngũ phẩm đến cửu phẩm, chủ yếu là các quan văn võ, gọi là sĩ tộc. Dân thường gọi là hạ phẩm. Vua còn quy định khách của sỹ tộc:  Từ nhất phẩm, nhị phẩm được sở hữu 40 hộ (cửu phẩm thời Tây Tấn có 50 hộ), mỗi bậc sau giảm 5 hộ, đến cửu phẩm cũng có 5 hộ (cửu phẩm thời Tây Tấn chỉ có 1 hộ) Dù triều đình ban hành số lượng hạn định về ruộng đất và tá điền nhưng trên thực tế có nhiều sĩ tộc chiếm số lượng vượt quy định.
   

Nhà Đông Tấn quy định chặt chẽ về môn đăng hộ đối trong hôn nhân, nếu làm trái là phạm tội nặng.


File:魏晉墓磚畫 耕犁圖.jpg
người dân cày ruộng thời Tấn.


   Văn hoá, nghệ thuật: 


   _  Tây Tấn xuất hiện nhiều nhóm nhà văn hoá lớn, tiêu biểu là nhóm Trúc Lâm thất hiền, gồm 7 danh sĩ: Kê Khang (223-262), Nguyễn Tịch (210-263), Nguyễn Hàm (cháu Nguyễn Tịch), Sơn Đào (205-283), Hướng Tú (227-273), Vương Nhung (234-285), Lưu Linh. Bảy danh sĩ thường tụ tập trong rừng trúc, bàn luận về chính sự và học vấn, rất hợp ý nhau.

Bảy Bậc Hiền Thánh của phái Trúc Lâm thất hiền ,một bức tranh thời Đông Tấn khai quật ở 1 ngôi mộ từ Nam Kinh , bây giờ nằm trong Bảo tàng tỉnh Thiểm Tây .

    Sau Trúc Lâm thất hiền là hàng loạt các danh sĩ theo lối Phong khí thanh đàm (bàn luận suông) chú trọng việc bình phẩm nhân vật, như Nhạc Quảng, Trương Hoa (232-300), Phó Huyền (217-278), anh em Lục Cơ (261-303) - Lục Vân (262-303).
    Các nhà văn, nhà thơ đáng kể có anh em họ Lục, Phan An, Phan Nê (hai chú cháu), Thái Phân, Tả Xung, Lý Mật.
    Trên lĩnh vực sử học, đáng kể nhất là Trần Thọ (233-297) với công trình sử học Tam Quốc chí. Cha con Bùi Ngỗi, Bùi Tú với bộ bản đồ lịch sử Vũ Cống cương vực đồ. Danh tướng Đỗ Dự còn là người có công chú giải sách Tả truyện trong Xuân Thu Tả truyện kinh truyện tập giải.
    Về y học có Vương Thúc Hòa với công trình y học Mạch kinh và nổi bật là Hoàng Phủ Mật (215-282) với bộ Châm cứu Giáp Ất kinh, được xem là tác phẩm chuyên về châm cứu đầu tiên.
    Công thần khai quốc Vệ Quán (220-291), cùng con trai Vệ Hằng và con gái Vệ Thước là những nhà thư pháp nổi tiếng thời Tây Tấn.
    Về cơ giới, Mã Hoàn (200 – 265, người nước Ngụy, Tam quốc) thiết kế lại xe chiến mã năm 255, thiết kế guồng nước, cải tạo khung dệt. Ông cải tạo máy dệt thoi tăng năng suất lên 5 lần, chế tạo guồng nước để tưới tiêu gọi là phiên xa (guống nước hình xương rồng) có khả năng đưa nước từ thấp lên cao một cách liên tục với hiệu suất cao có tác dụng nhất định trong phát triển sản xuất của xã hội đương thời. 
       Năm 254, ông phát minh ra xe chỉ nam. Nhờ có một bộ truyền động bánh răng vi sai, pho tượng trên xe luôn chỉ hướng nam, dù xe được kéo đi theo bất cứ hướng nào, sau đó được Tổ Xung Chi (429 -500) thời Lưu Tống cải tiến, áp dụng trong lĩnh vực giao thông đường bộ và thủy.
     Về Toán học, năm 263,  Lưu Huy đã chỉ ra rằng "chu tam kinh nhất" chỉ là tỉ lệ chu vi của hình lục giác đều nội tiếp và đường kính của đường tròn. Về sau, khi dùng phương pháp cát tuyến, ông đã tính được chu vi của hình 3072 cạnh nội tiếp, ống tính ra được giá trị của π là 3,1416.


   Đông Tấn: đạt nhiều thành tựu.
     Cát Hồng (283-363) được xem là nhà khoa học nhiều môn. Ông để lại tác phẩm Bão Phác Tử đề cập rất nhiều lĩnh vực: y học, hóa học, thuật luyện kim ở mức độ sơ khai.
     _ Nhà thiên văn học Ngu Hỷ đã phát hiện 1 năm hằng tinh hoàn toàn không nhất trí với 1 năm mặt trời cho nên thời gian khoảng 50 năm thì sai biệt nhau 1 độ. Việc phát hiện hiện tượng này đã giúp cho các nhà tính lịch pháp có thể soạn lại bộ lịch mới. Sau này Tổ Xung Chi đã dựa vào thành quả đó để làm ra lịch Đại Minh.
     _ Về thư pháp và hội họa, thời Đông Tấn đóng góp nhiều hơn cả, nổi bật nhất là Vương Hi Chi (cháu Vương Đạo), Vương Dị, Cố Khải Chi, Đới Quỳ. Vương Hi Chi nổi tiếng nhờ học được thuật thư pháp của Vệ Thước - con gái nhà thư pháp Vệ Quán thời Tây Tấn. Vương Hi Chi (303 – 361) đã viết Lan Đình thiếp, được coi là một báu vật đương thời. 
     _ Về sử học có Can Bảo và Điêu Tạc Xỉ là nổi danh nhất. Can Bảo soạn Tấn kỷ về sử nhà Tấn, sau này có nhiều đoạn được Tư Mã Quang dẫn lại khi soạn Tư trị thông giám. Điêu Tạc Xỉ soạn sách Hán Tấn Xuân Thu theo lối biên niên, từ Hán Quang Vũ Đế tới Tấn Mẫn Đế (25-316).
     _ Về thơ ca và văn học, lớn nhất là tên tuổi Đào Tiềm (365 - 427). Ông là chắt nội danh tướng Đào Khản, không những chỉ là nhà thơ lớn thời Đông Tấn mà còn được thừa nhận là một trong những nhà thơ, nhà văn hóa lớn của Trung Quốc. Các tác phẩm Đào Hoa nguyên ký và Ngũ Liễu tiên sinh truyện của ông được truyền tụng đến nhiều đời sau.

Vương Hi Chi - nhà thư pháp nổi tiếng thời Đông Tấn
File:Wang Yi-zhi 001.JPG
một bài thư pháp của Vương Hi Chi

Cát Hồng







Nam - Bắc triều ( 420 - 581 ). Thời kì này, Trung Quốc lại chia làm hai triều đình riêng biệt là Bắc triều và Nam triều. Hai nhà nước này đánh nhau liên tục. Từ năm 422-451, Bắc Ngụy 4 lần tiến đánh Nam Tống nhưng bất phân thắng bại. Thời kỳ này, quá trình Hán hóa các dân  tộc du mục phương Bắc lại diễn ra mạnh mẽ, tiêu biểu là cải cách của Hiếu Văn đế triều Bắc Ngụy. Mặc dù vậy, ở cả hai miền kinh tế và chính trị khá ổn định, về sau nội loạn đã làm sụp đổ các triều đại khác nhau ở hai miền.

   _ Thành tựu:
     + Luật pháp: Vua Bắc Ngụy ra luật "Hiếu Văn đế" gồm 20 chương, 832 điều để quản lý quốc gia.
      + Kinh tế:ban hành chế độ quân điền, về sau các triều đại khác điều chình thêm và đến thời Đường thì hoàn chỉnh.
      + Y học:  Đào Hoằng Cảnh (457 – 536) với việc chỉnh lý quyển Thần Nông Bản Thảo Kinh (sách có từ thời Hán).Quyển sách đề cập đến 365 loại dược vật, 252 loại thực vật, 67 loại động vật, và 46 loại khoáng vật. Trong Thần Nông Bản Thảo Kinh, Đào Hoằng Cảnh liệt kê các dược tính của dược liệu tương tự theo hệ thống hành chính trong vương quốc.  
      + Nông học: Giả Tư Hiệp viết sách "Tế dân yếu thuật" (92 chương, 10 tập, 120.000 chữ) trình bày về phương pháp, cách thức trồng cây trong nông nghiêp, cải tiến,cách thức chăn nuôi gia súc. Thời kỳ này, người dân chủ yếu dùng xe bò; phát minh ra chiếc vòng tròn tròng vào cổ ngựa làm cho sức kéo của những cỗ xe ngựa được nâng cao hơn. Phát kiến này sớm hơn châu Âu 500 năm
      + Địa lý: Bùi Tú (Tây Tấn) hoàn thiện kỹ thuật vẽ bản đồ, đề xuất lý luận bản đồ theo nguyên tắc chế độ lục thể. Đến thời Bắc Ngụy, Lê Đạo Nguyên biên soạn Thủy kinh chú, ghi chép về 1.252 con sông, núi cao, đồng bằng, thành thị, bến đò, phong thổ, con người là quyển sách vĩ đại nhất thời cổ về mặt địa lý.

      + Thiên văn: kế thừa thành tựu có từ thời Tấn, Tổ Xung Chi sáng tạo ra lịch Đại Minh (462). Trong lịch này, ông tính được độ dài năm giữa hai lần xuân phân kế tiếp là 365,24281481 ngày (sai lệch 50 giây so với tính toán hiện đại), và độ dài của tháng mặt trăng là 27,21233 ngày (lệch 9 giây). Ông đề ra quy luật cứ 391 năm thì có 144 tháng nhuận.. Lịch Đại Minh là bộ lịch chính xác nhất trong vòng hơn 700 năm sau. Ông phát hiện thấy sự tiến động của ngày xuân phân khiến cho năm chí tuyến ngắn hơn so với năm mặt trời thực 21 phút, cũng như thấy rằng sau 7 chu kỳ 12 năm, sao Mộc lại dôi ra khoảng 1/20 quỹ đạo của nó.Ông là người đầu tiên tính ra số π = 355/113 <=> 3,1415926 < π < 3,1415927. Ông tìm ra số π dựa trên thuật toán của Lưu Huy tính với đa giác nội tiếp 12288 cạnh. Số π do Tổ Xung Chi tìm ra chính xác nhất trong vòng 900 năm sau đó. Ngoài ra, ông còn phát minh ra loại thuyền cơ khí chuyển động bằng sức người gọi là Thiên lý thuyền. Con trai ông là Tổ Hằng cũng là nhà số học, phát hiện ra công thức tính thể tích của hình cầu.

Tổ Xung Chi

Nghệ thuật có nhiều thành tựu rực rỡ.




Nhà Đường ( 618 - 907 ) do Lý Uyên sáng lập. Đây là thời kì phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Thời Đường, nhà nước thi hành các chính sách sau:
    _ Một: cử người thân tín cai quản các địa phương, đặc biệt là cử những người thân tộc và các công thần giữ chức Tiết độ sứ, cai trị các vùng biên cương (đây là chức quan chỉ huy, cai quản cả dân sự và quân sự).
    _  Hai: đặt các khoa thi để tuyển chọn người làm quan. Không phải chỉ có dòng dõi quý tộc, mà con em địa chủ, nếu học giỏi có tài, thi đỗ cũng có thể ra làm quan, được phong tước vị. 
    Như thế, chế độ phong kiến đã tạo điều kiện cho các tầng lớp phong kiến được tham gia bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương. Chính quyền phong kiến đến thời Đường đã được tăng cường nhằm nâng cao quyền lực tuyệt đối của Hoàng đế.
    _ Ban hành chế độ quân điền gồm các nội dung sau:
- Nhà nước đem ruộng đất do mình trực tiếp quản lý chia cho nông dân cày cấy.
- Các quan lại, tuỳ theo chức vụ cao thấp, được cấp ruộng đất làm bổng lộc
- Ruộng trồng lúa, người làm thuê đến 60 tuổi phải trả lại cho nhà nước; ruộng trồng dâu được cha truyền con nối.

Khi nhận ruộng, nông dân phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước theo chế độ tô, dung, điệu (tô: thuế ruộng - bằng lúa; dung: thuế thân – bằng lao dịch; điệu: thuế hộ khẩu - bằng vải lụa).

     _ Đối ngoại, các vua Đường tiếp tục đi xâm chiếm đất đai. Nhà Đường đã đem quân lấn chiếm vùng Nội Mông ở phía bắc, chinh phục Tây Vực ở phía tây (nay là Tân Cương), xâm lược bán đảo Triều Tiên, củng cố chế độ thống trị ở “An Nam” (lãnh thổ nước ta thời ấy), ép nước Tây Tạng phải thần phục. Trải qua các thời Tần, Hán, nhất là thời Đường, lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng.
    _ Văn hoá: Phật giáo đã thịnh hành. Các nhà sư như Huyền Trang, Nghĩa Tĩnh đã tìm đường sang Ấn Độ để tìm hiểu giáo lí của đạo Phật. Ngược lại, nhiều nhà sư của các nước Ấn Độ, Cham-pa lại đến Trung Quốc truyền đạo. Kinh Phật được dịch ra chữ Hán ngày một nhiều.



    _Thời kì Ngũ đại - Thập quốc ( 907 - 960 ): Trong suốt thời kỳ này, 5 triều đại đã thay nhau tồn tại ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà và hơn 12 nhà nước độc lập đã được xây dựng chủ yếu ở vùng đất Hoa Trung, Hoa Nam và một phần Hoa Bắc


Ngũ đại thập quốc năm 923

  5 triều đại là:
  1. Hậu Lương (907-923): của người Hán
  2. Hậu Đường (923-936): của người Sa Đà
  3. Hậu Tấn (936-947): Sa Đà
  4. Hậu Hán (947-951) Sa Đà
  5. Hậu Chu (951-960): Hán
10 nước là:
  1. Ngô ở An Huy ngày nay, vua là người Hán
  2. Tiền Thục ở Tứ Xuyên ngày nay, vua là người Hán
  3. Ngô Việt ở Triết Giang ngày nay, vua là người Hán
  4. Sở ở Hồ Nam ngày nay, vua là người Hán
  5. Mân ở Phúc Kiến ngày nay, vua là người Hán
  6. Nam Hán ở Quảng Đông ngày nay, vua là người Hán
  7. Nam Bình ở Hồ Bắc ngày nay, vua là người Hán
  8. Hậu Thục ở Tứ Xuyên ngày nay, vua là người Hán
  9. Nam Đường ở Giang Tô ngày nay, vua là người Hán
  10. Bắc Hán ở Sơn Tây ngày nay. Riêng nước này ở vùng Hoa Bắc. Vua là người Sa Đà.

    _ Nhà Tống ( 960 - 1279 ). Giai đoạn đầu nhà Tống đóng đô ở phía bắc ( Bắc Tống ), sau bị bộ tộc Kim tấn công quấy phá phải chạy về phía nam ( Nam Tống ). Đến năm 1279 thì bị nhà Nguyên diệt. Thời Tống, chính quyền ngày càng tập trung vào tay hoàng đế. Chức tiết độ sứ (có từ thời Đường) bị bãi bỏ.


Tống và các nước xung quanh, thế kỷ 11
    Ở thời Tống, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhiều vấn đề cấp bách được đặt ra cần phải giải quyết. Được nhà vua đồng ý, năm 1069 Vương An Thạch đã đề ra một chương trình cải cách toàn diện, mạnh dạn. Trong đó có điểm đáng chú ý là: Nhà nước sẽ đứng ra cho dân chúng vay nợ trong kì giáp hạt, giảm nhẹ khoản đóng góp của nhân dân, khuyến khích khẩn hoang, làm các công trình thuỷ lợi để phát triển sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình cải cách không được bao nhiêu, mặc dù chính sách cải cách của Vương An Thạch vẫn được thi hành cho đến khi Tống Thần Tông chết (1085) mới bãi bỏ
    Thời Tống, Nho giáo được phát triển thêm một bước về lí luận. Các vua Tống đề cao Nho học, đồng thời cũng làm cho Nho giáo đượm thêm màu sắc tôn giáo. Thể thơ Từ phát triển.
Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp được mở rộng hơn. Nghề dệt có nhiều tiến bộ

   _ Nhà Nguyên ( 1279 - 1368 ). Sau khi diệt Tây Hạ, Kim, Nam Tống, Hốt Tất Liệt thống nhất toàn bộ Trung Quốc và lập ra nhà Nguyên. 
Nhà Nguyên bắt chước cách tổ chức bộ máy nhà nước của Trung Quốc, đồng thời thi hành chính sách áp bức, chia rẽ dân tộc. Các chức quan cao cấp đều dành cho người Mông Cổ. Họ chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân, thu thuế rất nặng nề. Do đó, mâu thuẫn dân tộc ngày một sâu sắc. Nhà Nguyên đã ba lần kéo quân xâm lược Đại Việt, nhưng đều thất bại.
File:Yuen Dynasty 1 2 9 4.png

  bản đồ đế quốc Nguyên năm 1294   


   _ Nhà Minh ( 1368 - 1644 ). Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo người Hoa khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, lập ra nhà Minh.

Vị trí của Triều đại Minh
Trung Quốc dưới thời Minh Thành Tổ



   bản đồ TQ thời Minh
Minh Thái Tổ rất quan tâm đến việc xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền nhằm chấm dứt tình trạng hỗn chiến và mưu phản. Năm 1380, ông quyết định bỏ các chức Thừa tướng, Thái uý trước đây và thay thế vào đó là các quan Thượng thư phụ trách các bộ. Nhà Minh đã lập ra sáu bộ: Lễ, Binh, Hình, Công, Lại, Hộ, phụ trách các việc về lễ nghi, quân sự, luật pháp, xây dựng, bộ máy nhân sự và dân sự; hoàn chỉnh bộ máy triều đình. Các quan lại ở tỉnh chịu sự chỉ đạo của các bộ ở triều đình. Hoàng đế tập trung mọi quyền hành trong tay, trực tiếp nắm quân đội. Hoàng đế còn tăng cường phong tước và ban cấp đất đai cho con cháu trong hoàng tộc, cho công thần thân tín để làm chỗ dựa của triều đình.
   Kinh tế, văn hoá phát triển và đạt nhiều thành tựu rực rỡ, nhất là tiểu thuyết như Thuỷ hử, Tây du ký...   Cuối thời Minh, mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, khởi nghĩa Lý Tự Thành bùng nổ. Nhân cơ hội đó, người Mãn chiếm toàn bộ Trung Quốc, lập ra nhà Thanh (1644 – 1911). 


   _ Nhà Thanh (1644 - 1911 ). Người Mãn vốn là một nhánh của tộc Nữ Chân, năm 1636 họ lập nước Thanh. Năm 1644, nhân sự loạn lạc ở vùng Trung Nguyên, người Mãn đã kéo quân vào đánh chiếm Bắc kinh, lập ra triều đại cuối cùng của phong kiến Trung Quốc. Vua đầu tiên là Thuận Trị. Cùng với quá trình chinh phục, nhà Thanh ra sức củng cố bộ máy chính quyền và thực hiện việc áp bức dân tộc. Nhà Thanh cũng cho người Hán làm quan, thi hành chính sách mua chuộc giai cấp địa chủ người Hán, thu hút nhiều trí thức Hán tộc vào bộ máy quan lại. Tuy nhiên, quyền hành vẫn tập trung vào tay người Mãn.
Tiếp tục con đường mà những triều đại trước đã đi, các hoàng đế  Thanh đều đem quân đi xâm lấn các nước láng giềng. Vua cử sứ giả đến các nước Đông Nam Á, Nam Á để phô trương sức mạnh

Trung quốc thời Thanh
bản đồ nước Thanh trong thời kỳ các đế quốc phương Tây xâm nhập vào.
Những thành tựu chủ yếu của văn minh Trung Hoa 

Trung Quốc là một trong những nơi xuất hiện nền văn minh sớm thời cổ -trung đại. Văn minh Trung Hoa thời cổ-trung đại có ảnh hưởng rất lớn tới các nước phương Đông.

Chữ viết:
   _
Từ xa xưa, người Trung Hoa đã trao đổi và truyền thông tin cho nhau thông qua truyền miệng
   _ Thời Hoàng Đế, 
sử quan là Thương Hiệt đã sáng tạo ra chữ viết cổ (nhưng chưa tìm thấy). 
   _Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Chữ này thường được viết trên mai rùa, xương thú để bói toán, ghi chép về khí tượng, địa lí, thiên văn, tôn giáo… phục vụ cho tầng lớp vua chúa. Ngày nay, người ta kiếm được 15 vạn mảnh xương, 4500 chữ, đã đọc được khoảng 1/3.
Bảng đối chiếu một số chữ giáp cốt

chữ giáp cốt


Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn
     _ Thạch cổ văn (văn khắc trên trống đá) tương truyền do Thái sử Lựu thời nước Tần sáng tạo ra. Thạch Cổ Văn có bút pháp vuông vắn hài hòa, được nhiều người dân thời đó luyện thư pháp yêu thích.
     _ Kim văn có từ cuối đời Thương, đầu Tây Chu. Kim văn thường được viết trên các vật bằng đồng, 
đặc biệt là trên những chiếc chuông và vạc. Vì thể loại văn tự này được tìm thấy dưới dạng đúc hoặc khắc trên đồ kim khí nên mới có tên gọi như vậy.
Kim văn.                                                                                                                                                   Kim văn được chia làm 4 loại, dựa theo 4 thời kì phát triển:

  _Ân kim văn (khoảng năm 1300-1046 trc.CN): Ân kim văn có khá ít, thực chất cũng chỉ từ sau khi Bàn Canh rời đô mà thôi. Nội dung kim văn khá ngắn, chủ yếu là tên của người đúc hoặc tổ tiên người thợ đúc, bài dài nhất khoảng hơn 40 chữ.

  _ Tây Chu kim văn (khoảng năm 1046-771 trc.CN): thời Tây Chu, Kim văn bắt đầu hưng thịnh, ghi chép những việc đi tuần, săn bắn của vua chúa.

  _ Đông Chu kim văn (năm 770-222 trc.CN): thời kì Đông Chu, đồ sắt xuất hiện, đồ đồng cũng nhiều lên, vì thế kim văn phong phú hơn trước rất nhiều, ghi chép những việc của vương công đại thần, việc chiến sự, âm nhạc…

  _ Tần Hán kim văn (năm 221-219 trc.CN): Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ, tiến hành thống nhất văn tự. Kim văn chỉ còn xuất hiện trong các đồ đồng ở dân gian, đến đời Hán thì dần biến mất.








 _ Thời Xuân Thu_Chiến Quốc, chữ viết ngày càng đẹp hơn, được gọi là chữ Đại Triện (hay Cổ văn). Chữ này hiện vẫn còn viết trên đá, thẻ tre.
Lược sử chữ Hán 3: Đại triện – 大篆 (Dàzhuàn)
Thư pháp đại triện



   Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, Lý Tư (thời Tần) thống nhất chữ viết trong khuôn hình vuông được gọi là chữ Tiểu triện. Chữ này có bút pháp hoa mỹ, nghiêm cẩn, bố cục chặt chẽ.

tiểu triện
Tác phẩm “Thất ngôn thi – Vịnh Oa” viết bằng tiểu triện


   _ Thời Hán,  xuất hiện Hán tự, có chữ lệ (nghĩa là "lệ thuộc" vào chữ Triện) vuông vức, ngay ngắn (chỉ có 8 nét cơ bản, tốc độ viết được nâng cao hơn), là dạng quá độ để phát triển thành chữ
chân (tức chữ Hán) và chữ Khải (kết cấu chặt chẽ, nét bút chỉnh tề, dễ viết, vô cùng quy phạm) và chia thêm ra chữ Hành (viết một cách thoải mái, không quá trang trọng) và chữ Thảo (chữ được viết giản lược, nhưng từng chữ một rất rõ ràng, giản lược không nhiều).

Hoa Sơn miếu biBia miếu Hoa Sơn – chữ  Lệ  
Khải thư









Chữ khải của Âu Dương Tuân

chương thảo



Một tác phẩm chương viết bằng chữ thảo
Tóm lại, sự phát triển của Chữ Hán gồm các giai đoạn: Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải → Chữ Thư

Văn học: 
Kinh thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh thi gồm có 3 phần: Phong, Nhã, Tụng.

Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả nổi bật lên ba nhà thơ lớn đó là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.




Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần...trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất.
   + La Quán Trung (1330_1400) viết Tam quốc diễn nghĩa dựa vào câu chuyện được lưu truyền trong dân gian về Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi đã kết nghĩa ở vườn đào. Nội dung cơ bản của tác phẩm miêu tả cuộc đấu tranh về quân sự, chính trị phức tạp giữa ba nước Nguỵ, Thục, Ngô.
Sanguo2.PNG
Minh họa tích Tào Tháo và Lưu Bị uống rượu luận anh hùng trong Tam quốc diễn nghĩa

   + Tác phẩm Thuỷ hử của Thi Nại Am (1296_1370) tường thuật lại diễn biến của cuộc khởi nghĩa nông dân do Tống Giang làm thủ lĩnh tại vùng Lương Sơn Bạc. Tác giả đã ca ngợi tài mưu lược, lòng quả cảm của những người anh hùng áo vải nên đã bị chính quyền đương thời cấm lưu truyền. Nhưng hình ảnh của các anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc vẫn ăn sâu vào lòng dân và đã tạo thêm nguồn sức mạnh tinh thần, cổ vũ cho cuộc đấu tranh chống phong kiến của nông dân Trung Quốc.

Một bức tranh minh họa trong tiểu thuyết Thuỷ hử
   + Ngô Thừa Ân (1500_1581) kể chuyện sư Huyền Trang và các đồ đệ vượt 81 kiếp nạn tìm đường sang Ấn Độ lấy kinh Phật trong bộ Tây du kí nổi tiếng. Tính cách của những nhân vật được thể hiện trong suốt cuộc hành trình đầy nguy nan trắc trở. Cuối cùng, thầy trò Huyền Trang đã đạt được mục đích. Ai đã đọc Tây du kí đều không thể quên được nhân vật Tôn Ngộ Không hết sức thông minh, mưu trí, dũng cảm.

Evl53201b pic.jpg

Bìa bản Tây du ký chữ Hán thế kỉ XVI
   + Liêu trai chí dị
của Bồ Tùng Linh (1640_1715) là tập đoản thiên tiểu thuyết có 490 truyện. Tác giả đã mượn chuyện hồ li ma quái để chỉ không khí hiện thực hắc ám đương thời, bày tỏ nhân tình thế thái. Tác phẩm xứng đáng là tập đoản thiên truyện nổi tiếng của Trung quốc.
   + Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử (1705_1754) là bộ tiểu thuyết châm biếm nhằm đả kích nền luân lý phong kiến cổ hủ và chế độ khoa cử thời đó.
   + Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần (1706_1763) viết về câu chuyện hưng suy của một gia đình quý tộc phong kiến và tình yêu của đôi trai gái. Qua đó, tác giả đã vẽ lên bộ mặt của xã hội phong kiến Trung Quốc trong giai đoạn suy tàn. Tào Tuyết Cần xây dựng cho Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc – hai nhân vật chính trong truyện – tính cách chống đối chế độ thi cử, chế độ quan trường, đạo đức và lễ giáo phong kiến, khát vọng tự do hạnh phúc, đồng thời dành cho những người thuộc tầng lớp bị coi là thấp kém những tâm hồn cao đẹp và những tình cảm chân thành.


Sử học: 

Người Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử. Từ thời Xuân Thu_Chiến quốc các tác phẩm sử học ra đời. Các tác phẩm tiêu biểu:

    + Kinh Xuân Thu (Chūnqiū), cũng được gọi là Lân Kinh, dài 16.000 từ, là bộ biên niên nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 TCN tới năm 481 TCN. Nó do Khổng Tử biên soạn. Tác phẩm đề cập đến các quan hệ ngoại giao giữa các nước chư hầu phong kiến, các liên minh và các hành động quân sự, cũng như những sự kiện sinh tử bên trong gia đình hoàng gia. Cuốn biên niên sử cũng ghi chép về các sự kiện thảm hoạ thiên nhiên như lũ lụt, động đất, nạn châu chấu và nhật thực, bởi vì những sự kiện đó được xem là phản ánh sự ảnh hưởng của trời đối với thế giới loài người.
 
    Các sự kiện được miêu tả theo trật tự thời gian, đầu tiên là niên hiệu của vua nước Lỗ, mùa, mùa, tháng và ngày theo năm can chi. Kết cấu biên niên được tuân thủ chặt chẽ, tới mức liệt kê bốn mùa trong mỗi năm thậm chí khi không có sự kiện nào xảy ra ở thời điểm đó.
    Văn phong ngắn gọn và khách quan, và không giúp ích gì cho việc xác định tác giả chính xác của nó
   
    + Tả truyện , tương truyền do Tả Khâu Minh biên soạn, là lời bình cho kinh Xuân Thu. Nó co nhiều sử liệu hơn đề cập giai đoạn Xuân Thu.
    + Sử ký, còn có tên khác là sách của ông Thái sử là cuốn sử của Tư Mã Thiên được viết từ năm 109 TCN đến 91 TCN, ghi lại lịch sử Trung Quốc từ thời Hoàng Đế thần thoại cho tới thời ông sống. Vì là văn bản lịch sử Trung Quốc có hệ thống đầu tiên, nó ảnh hưởng cực lớn tới việc chép sử và văn chương Trung Quốc sau này, có thể so sánh Tư Mã Thiên với Herodotus và Sử Ký với cuốn Historiai của ông (theo quan điểm người phương Tây
    Cuốn sử này được viết theo phong cách viết sử tự do và có chủ đích của Tư Mã Thiên, về sau đã được nhiều nhà thơ và tiểu thuyết sau này học tập. Văn phong miêu tả rất sống động các nhân vật và sự kiện, có sự điều chình cho đúng với thực tế. Ngoài việc phản ánh chân thực lịch sử, cuốn sử còn ngụ ý sâu xa là lên án sự tàn bạo của tầng lớp thống trị (Tần Thủy Hoàng, Lưu BangVũ Đế), ca ngợi những nhà thơ yêu nước như Khuất Nguyên, đề cao các dũng sĩ khởi xướng khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc như Trần Thiệp.
Cấu trúc Sử ký Tư Mã Thiên: 
      Sử ký gồm trên 52 vạn chữ, 130 thiên, xếp loại các thông tin thành 5 phần khác nhau: Bản kỷ, Biểu, Thư, Thế gia và Liệt truyện 
Khoa học tự nhiên và kĩ thuật:

Toán học:


Người Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông.

Thời Đông Hán, đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc1, đã có cả khái niệm số âm, số dương.

Thời Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so với thế giới hồi đó.

Thiên văn học:

Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao có tới 800 vì sao. Họ đã xác định được chu kì chuyển động gần đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi. Thế kỉ IV TCN, Can Đức đã ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời. Thế kỉ II, Trương Hành đã chế ra dụng cụ để dự báo động đất.

Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời Nguyên) đã soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn Châu Âu thế kỉ XIII.

Y dược học: 
Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lí Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latinh và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó. Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung Quốc.

Kĩ thuật: 

Có 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân. Nghề in bằng những chữ rời đã được Tất Thăng sáng tạo vào đời Tuỳ.

Đồ sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Từ thế kỉ VI, họ đã chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện dụng.


Hội hoạ:

Hội hoạ Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ.

Điêu khắc 

Ở Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán ( pho tượng cao nhất thế giới ), tượng Phật nghìn mắt nghìn tay.

Kiến trúc 

Cũng có những công trình rất nổi tiếng như Vạn lí trường thành ( tới 6700 km ), Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh.

Triết học, tư tưởng:

Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia:

Âm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đã nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là âm và dương ( lưỡng nghi).

Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới: Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm), Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (hồ). Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất.

Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội .

Về tư tưởng:

Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lí thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của cuộc sống( Bách gia tranh minh ).

Nho gia: Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người.

Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo.

Đạo gia:

Đại biểu cho phái Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử . Hai ông đã thể hiện tư tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo Lão Tử, “Đạo” là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất. Qui luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là “Đức”. Lão Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau.

Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại “đạo trời”, từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh đời.

Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lão Tử làm “Thái thượng lão quân”. Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh.

Pháp gia:

Ngược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương “pháp trị”, coi nhẹ “lễ trị”. Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng.

Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điều:

• Pháp: đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quí tộc hay dân đen.

• Thế: Muốn thực thi pháp luật thì các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia xẻ cho kẻ khác.

• Thuật: đó là thuật dùng người. Thuật có 3 mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và lòng trung thành, không cần dòng dõi, đức hạnh. Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên. Thưởng phạt thì chủ trương “ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng phạt thật nặng, bất kể là quí tộc hay dân đen”, trọng thưởng, trọng phạt.

Mặc gia:

Người đề xướng là Mặc Tử (Khoảng giữa thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ IV TCN ). Hạt nhân tư tưởng triết học của Mặc gia là nhân và nghĩa.

Mặc Tử còn là người chủ trương “ thủ thực hư danh” (lấy thực đặt tên). Tư tưởng của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng. Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không còn đáng kể.



















Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á MỘT NỀN VĂN HÓA THỐNG NHẤT TRONG SỰ ĐA DẠNG


VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
MỘT NỀN VĂN HÓA THỐNG NHẤT TRONG SỰ ĐA DẠNG
- - - ˜  - - -
* Quá trình nhận biết về khu vực văn hóa Đông Nam Á
     Khu vực Đông Nam Á từ xưa, trong các sách cổ của Ấn Độ đã được nói đến với những cái tên như Suvarnabhumi (đất vàng) hay Suvarnadvipa (Đảo vàng), người Trung Hoa thì gọi là Nam Dương, tương tự người Nhật Bản củng dùng từ Nan Yo để chỉ Đông Nam Á, tức Nam Dương như Trung Hoa, người Ả Rập gọi là Zabag, còn người Hy Lạp, La mã từ giữa thế kỷ II TCN cũng gọi là Chryse (đất vàng). Như vậy là từ xa xưa, thế giới đã biết đến khu vực văn hóa Đông Nam Á. Sở dĩ như vậy là vì tầm quan trọng về mặt vị trí địa lý của khu vực Đông Nam Á, vốn đã được chú ý đến từ rất lâu. Đông Nam Á thường được gọi là “ngã tư đường”“hành lang” hay “cầu nối” giữa thế giới Đông Á với Tây Á và Địa Trung Hải.

     Tuy vậy, từ trước thế kỷ XIX Đông Nam Á vẫn chưa được nhìn nhận rõ rệt và đầy đủ như một khu vực địa lí - lịch sử - văn hóa - chính trị riêng biệt. Bởi nó đã bị lu mờ giữa hai nền văn minh phát triển rất rực rở là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, khu vực văn hóa Đông Nam Á ngày càng được công nhận rộng rải trong khoa học. Nhưng không chỉ dừng lại ở việc dựng lại các vương triều, các nền văn minh cổ ở đây, mà Đông Nam Á đang từng bước được xem xét như một khu vực lịch sử - văn hóa – kinh tế - chính trị thật sự.
     Người ta đã khẳng định được rằng: trước khi  tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ thì cư đân Đông Nam Á đã có một nền văn hóa bản địa khá phát triển. Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, một nền văn hóa Đông Sơn phát huy hết sức rực rở mà biểu tượng là những chiếc trống đồng rất nổi tiếng được tìm thấy ở khắp Đông Nam Á. Đông Nam Á cũng là nơi thuần dưởng các loài thú sớm nhất thế giới (trâu, bò, chó).
Văn hóa Đông Nam Á, một nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng
- Tính thống nhất, tính khu vực của Đông Nam Á trước hết được thể hiện ở chủ thể của văn hóa Đông Nam Á. Ngay từ buổi bình minh của lịch sử _ Đông Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người, đây là địa bàn hình thành của đại chủng phương Nam (Australoid).
     Vào khoảng 10.000 năm trước (thời đại đồ đá giữa), có một dòng người thuộc đại chủng Mongoloid từ phía dảy Himalaya thiên di về hướng Đông Nam, tới vùng Đông Nam Á thì dừng lại và hợp chủng với cư dân Melanesien bản địa (thuộc đại chủng Australoid), dẫn đến sự hình thành chủng Indonesien (cổ Mã Lai _ Đông Nam Á tiền sử). Với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, nhỏ, thấp. Từ đây chủng này lan tỏa, họ có mặt trên toàn bộ Đông Nam Á cổ đại. Đông Nam Á cổ đại được xác định trên một khu vực địa lý rộng lớn. Ngoài 11 nước Đông Nam Á hiện nay thì Đông Nam Á cổ đại được xác định phía Bắc gồm toàn vùng Hoa Nam Trung Quốc (phía Nam sông Dương Tử), đảo Đài Loan, một số lảnh thổ ở Đông Bắc Ấn Độ, quần đảo Andaman và Nicoba trong vịnh Bengal, châu Đại Dương và cả đảo Madagasca ở Đông Nam châu Phi (tổ tiên chính là người Mã Lai di cư sang).
     Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của khu vực văn hóa Đông Nam Á. Sự thống nhất do cùng một cội nguồn là một loại hình Indonesien, chính điều đó đã tạo ra bản sắc chung cho văn hóa Đông Nam Á.
- Tính thống nhất về mặt văn hóa của khu vực và tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao hàm trong nó rất nhiều thành tố cả về vật chất lẩn tinh thần của văn hóa Đông Nam Á. Đơn nhiên, trong quá trình phát triển, văn hóa Đông Nam Á đã tiếp thu nhều yếu tố mới từ bên ngoài mà tiêu biểu nhất là từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây. Nhờ sự giao lưu này, văn hóa Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu mới mẻ trong quá trình phát triển của mình. Sau đây là một số điểm tiêu biểu được thể hiện:
     Về ngôn ngữ - chử viết: Sự đa dạng của ngôn ngữ được thể hiện ở chổ các quốc gia Đông Nam Á hiện có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm ngôn ngữ khác nhau. Như ở Indonesia có đến 200 ngôn ngữ dân tộc khác nhau cùng tồn tại; ở Philippin củng có tới 80 ngôn ngữ dân tộc khác nhau (1998). Tương tự, các quốc gia Đông Nam Á khác củng là các quốc gia đa ngôn ngữ. Tuy nhiên, các ngôn ngữ Đông Nam Á đều chỉ thuộc về một trong số 4 ngữ hệ sau đây: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán – Tạng. Và xa hơn nữa, chúng đều bắt nguồn từ một nguồn gốc chung là ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử. Đó là một sự thống nhất cao độ. Về chữ viết, từ đầu công nguyên, khi cần ghi chép các dân tộc Đông Nam Á đã vay mượn chữ Hán (như ở Việt Nam) và chữ Pali – Sanskrit (ở các nước khác) của Trung Hoa, Ấn Độ để xây dựng chử viết riêng cho dân tộc mình. Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII , chử viết Ả Rập đã ảnh hưởng mạnh mẻ đến các quốc gia hải đảo như Malaysia, Indonesia. Từ thế kỷ XVI, với sự can thiệp của các quốc gia phương tây, chử viết của các quốc gia Đông Nam Á được chuyển đổi theo hướng Latinh hóa (chữ viết Brunay, Malaysia, Indonesia, Philippin và Việt Nam) được sử dụng ngày nay.
     Về phong tục tập quán: Ở Đông Nam Á có đến hằng trăm dân tộc khác nhau, vì thế phong tục, tập quán rất đa dạng, tạo nên một bức tranh đa sắc. Mặc dù rất đa dạng, song những tập tục ấy vẫn có nét gần gủi, tương đồng nhau, là mẩu số chung quy tụ, giao thoa trên nền tảng của cơ sở văn hóa bản địa Đông Nam Á _ Một nền tảng văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Đó là cách ăn mặc với một bộ trang phục chung là Sàrông (váy), khố, vòng đeo tai, vòng đeo cổ,… Đó là tục ăn uống với các thức ăn chính là cơm, rau, cá và hoa quả (hiện nay, thịt ngày càng quan trọng trong cuộc sống hiện đại). Đó là tục ăn hỏi trước khi tổ chức đám cưới linh đình. Tục chôn theo người chết những thứ cần thiết cho cuộc sống mà khi còn sống họ thường ưa thích. Đó là tục nhai trầu, cưa và nhuộm răng đen, xăm mình; rồi đến cả các trò vui chơi giải trí như thả diều, thi chọi gà, bơi thuyền,… Trong cách ăn ở, ngôi nhà chung của các dân tộc Đông Nam Á là nhà sàn “cao cẳng” thích hợp với mọi địa hình của khu vực và phù hợp với khí hậu nóng ẩm của khu vực Đông Nam Á.
     Về lể hội: Củng giống như sự đa dạng của phong tục, tập quán. Có thể nói, ở mổi dân tộc mùa nào, tháng nào trong năm củng có lể hội. Nếu thống kê con số lể hội thì chắc chắn sẽ có đến con số hàng trăm. Tất nhiên, trong sự đa dạng ấy, các lể hội ở Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào ba hình thức chính: Lễ hội nông nghiệp (Như lễ xuống đồng của người Việt, lễ mở đường cày đầu tiên của người Thái, lễ dựng chòi cày của người Chăm,…), lễ hội tôn giáo (như lễ hội chùa Keo, chùa Hương ở Việt Nam,…), lễ tết (như tết nguyên đán, tết phật,…).
     Về tín ngưỡng bản địaTrải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng sinh ra và lớn lên trong một khu vực địa lí, văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước. Tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á dù hết sức đa dạng, nhiều vẽ nhưng vẫn thuộc về ba loại chính: Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (Các cư dân Đông Nam Á như ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma, Indonesia,… thờ cả hạc, rùa, rắn, voi, cá sấu,…), tín ngưỡng phồn thực (thờ sinh thực khí tượng trưng cho cơ quan sinh dục nam, nữ; các tục tóe nước, tục cầu mưa, tục đánh đu,…), tín ngưỡng thờ cúng người đã mất (tục thờ cúng tổ tiên, ông bà). Cái chung đó xuất phát từ thuyết vạn vật hữu linh, tức thuyết mọi vật đều có hồn.
     Tóm lại, ở mọi thành tố của văn hóa Đông Nam Á, chúng ta đều có thể thấy một sự thống nhất trong muôn hình muôn vẽ sự tồn tại đa dạng của chúng ở các dân tộc Đông Nam Á.
     Văn hóa Đông Nam Á ngày nay vừa là sự kế thừa và phát huy vốn văn hóa bản địa truyền thống vừa là sự tiếp thu có chọn lọc những yếu tố mới từ bên ngoài, cả phương Đông lẩn phương Tây. Trong kho tàng văn hóa đồ sộ của Đông Nam Á có rất nhiều yếu tố chung, làm nên cái “khung” Đông Nam Á, song củng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mổi quốc gia, mổi dân tộc. Nói cách khác văn hóa Đông Nam Á là nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng.
     Có thể khẳng định Đông Nam Á có có một bản sắc văn hóa riêng và ngày càng tiến bộ. Đông Nam Á hiện nay đang phát triển kinh tế, đất nước hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ. Mà văn hóa là động lực quan trọng nhất của của sự phát triển một nước, một khu vực. Với bề dày văn hóa mang bản sắc chung, đặc sắc, các quốc gia Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ tiến xa hơn nửa, đạt được nhiều thành tựu mới trong tương lai, Đông Nam Á sẽ trở thành một khu vực hòa bình, ổn định, một khu vực phát triển, thịnh vượng của thế giới.

TÀI LIỆU KHẢO CỨU
  1.       Văn hóa Đông Nam Á – Mai Ngọc Chừ (1999).
  2.       Lược sử Đông Nam Á – Phan Ngọc Liên (2002).
  3.       Văn hóa Đông Nam Á – (khoa sư phạm – bộ môn lịch sử trường Đại học An Giang – 2010).
  4.       Cơ sơ văn hóa Việt Nam – Trần Ngọc Thêm (1999).
  5.       Dân tộc học đại cương – Ts. Nguyễn Thành Phương – trường Đại học An Giang.

LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI, phần 6

VIII. Văn minh Hy Lạp: 


I. Cơ sở hình thành nền văn minh Hy Lạp cổ đại

1.1. Địa lí, dân cư:

Vùng đất của thế giới Hy Lạp cổ đại lớn hơn nước Hy Lạp ngày nay rất nhiều, nó gồm miền Nam bán đảo Bancăng (Balkans), các đảo trên biển Êgiê (Aegean) và phía tây Tiểu Á. Trung tâm của thế giới Hy Lạp cổ đại nằm ở phía nam bán đảo Bancăng.

Đất đai Hy Lạp không được phì nhiêu, không thuận lợi cho việc trồng cây lương thực, địa hình lại còn bị chia cắt thành nhiều vùng đồng bằng nhỏ hẹp. Nhưng bù lại, Hy Lạp có nhiều vũng, vịnh, thuận lợi cho việc lập những hải cảng. Ở đây còn có nhiều khoáng sản lại tương đối dễ khai thác như đồng, vàng, bạc...Chính vì vậy, kinh tế Hy Lạp cổ đại chú trọng phát triển về công, thương nghiệp hơn nông nghiệp, nhất là buôn bán đường biển. Đặc điểm này của kinh tế cũng làm cho nền văn minh Hy Lạp cổ tuy phát triển sau văn minh Ai Cập cố, nhưng những lái buôn Hy Lạp trong quá trình ngang dọc trên Địa Trung Hải cũng học được nhiều điều hay từ Ai Cập và Lưỡng Hà.

Về dân cư, dân Hy Lạp cổ đại gồm nhiều tộc người như người Êôliêng (Eolien), Akêăng (Acheen), Đôriêng (Dorien)...Lúc đầu các tộc người này đều gọi theo tên riêng từ thời bộ lạc của mình, tới thế kỉ VIII-VII TCN các tộc người đó đều tự gọi một tên chung là Helen (Hellenes) và gọi đất nước mình là Hella (Hella) tức Hy Lạp .

1.2. Sơ lược lịch sử:

Lịch sử Hy Lạp cổ đại có thể chia làm các thời kì chính sau đây:

Thời kì văn hoá Cret-Myxen (Crete-Mycenae): Tại đảo Cret và Myxen, phía nam bán đảo Bancăng người ta đã tìm thấy dấu tích của một nền văn minh tồn tại từ khoảng thiên niên kỉ III TCN tới thế kỉ XII TCN. Chủ nhân của nền văn hoá này là người Akêang. Nền văn hoá Cret-Myxen còn để lại dấu tích các thành cổ, cung điện và một số hiện vật bằng đồng thau. Cuối thế kỉ XII TCN, người Đôriêng với vũ khí bằng sẳt từ phương Bắc tràn xuống tấn công, người Akêang chống đỡ không được và các quốc gia của người Akêang đã bị tiêu diệt. Thời kì Cret-Myxen kết thúc.

Thời kì Homer (thế kỉ XI-IX TCN): đời sau biết về giai đoạn này chủ yếu qua hai tập sử thi của ông già mù Homer nên người ta lấy tên ông để đặt cho thời kì này. Qua hai tập Iliát và Ôđixê, người ta nhận thấy xã hội Hy Lạp được mô tả trong giai đoạn này là một xã hội nguyên thuỷ đang trên đường tan rã, xã hội có nhà nước đang hình thành.

Thời kì thành bang (thế kỉ VIII-IV TCN): Đây là thời kì hình thành ở Hy Lạp hàng trăm nhà nước nhỏ mà người ta gọi là các thành bang. Trong hàng trăm thành bang thời đó thì quan trọng nhất là Aten và Xpác. Rất nhiều thành bang ở Hy Lạp thời đó sồng bằng nghề công thương nghiệp. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của văn minh Hy Lạp. Thế kỉ V TCN, các thành bang của Hy Lạp cũng đã phải chống lại sự xâm lượccủa đế quốc Ba Tư và họ đã chiến thắng. Nhưng cuối thế kỉ V TCN thếgiới Hy Lạp đã nổ ra một cuộc nội chiến. Cuộc nội chiến này đã làm tất cả các thành bang suy yếu. Nhân cơ hội đó, một thành bang ở phía bắc bán đảo Bancăng là Makêđônia (Macedonia) đã bắt tất cả các thành bang khác phải thuần phục mình và Makêđônia cầm đầu thế giới Hy Lạp tấn công Ba Tư.

Thời kì Hy Lạp hoá ( từ năm 337 đến 30 TCN): Sau khi đánh bại đế quốc Ba Tư, các đội quân của Hy Lạp đã mang văn hoá Hy Lạp truyền bá khắp vùng tây Á và Bắc Phi. Vì vậy người ta gọi thời kì này là thời kì Hy Lạp hoá. Đến thế kỉ I TCN, đế quốc La Mã đang phát triển hùng mạnh đã thôn tính các vùng đất quanh Địa Trung Hải, Hy Lạp trở thành một phần của đế quốc La Mã.

II. Những thành tựu chủ yếu của văn minh Hy Lạp cổ đại:

Tuy xuất hiện muộn hơn nền văn minh Ai Cập nhưng nhờ tiếp thu được nhiều giá trị từ Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại và phát triển lên, nâng lên tầm khái quát, nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại đã có rất nhiều đóng góp giá trị.

2.1. Chữ viết, văn học:

Về chữ viết, người Hy Lạp cổ đại đã dựa trên hệ thống chữ viết của người Phênixi (Phoenicia) rồi cải tiến, bổ xung thành một hệ thống chữ cái mới gồm 24 chữ cái. Từ chữ Hy Lạp cổ sau này đã hình thành nên chữ Latinh và chữ Slavơ. Đó là cơ sở chữ viết mà nhiều dân tộc trên thế giới ngày nay đang sử dụng.

Văn học Hy Lạp cổ đại có thể chia ra làm ba bộ phận chủ yếu có liên quan với nhau, đó là thần thoại, kịch, thơ.

Người Hy Lạp có một hệ thống thần thoại rất phong phú để mô tả thế giới tự nhiên, nói lên kinh nghiệm cuộc sống và cả tâm tư sâu kín của con người. Hầu như trong cuộc sống thời đó có việc gì thì đều có thần bảo trợ, lo về công việc đó. Kho tàng thần thoại Hy Lạp mãi tới ngày nay còn được nhiều môn nghệ thuật ở các nước trên thế giới khai thác. Đây là một dân tộc có một kho tàng thần thoại mà nhiều dân tộc lớn trên thế giới phải ghen tị. Về sau, khi có chữ viết, kho tàng thần thoại này được Hêdiốt ( nhà thơ Hy Lạp sống vào thế kỉ VIII TCN ) hệ thống lại trong tác phẩm Gia phả các thần.

Thơ ca là thể loại văn học rất phát triển, đặc biệt nó có thế mạnh khi chưa có chữ viết. Tiêu biểu nhất phải kể đến tác phẩm Iliat và Ôđixê của Homer ( thế kỉ IX TCN ). Tới thế kỉ VII-VI TCN xuất hiện nhiều nhà thơ được công chúng ưa thích như Acsilôcút, Xôlông, Xaphô, Anacrêông...

Hy Lạp là quê hương của kịch nói phương Tây. Ở đây có cả bi kịch lẫn hài kịch. Những nhà viết kịch nổi tiếng thời đó như Etsin, Sôphôclơ, Ơripit...

2.2. Sử học:

Từ thế kỉ VIII-VI TCN, lịch sử Hy Lạp chỉ được truyền lại bằng truyền thuyết và sử thi. Đến thế kỉ V TCN lịch sử ở Hy Lạp mới trở thành một bộ môn riêng biệt. Các nhà viết sử tiêu biểu của Hy Lạp thời đó là Hêrôđôt (Herodotus) với cuốn Lịch sử chiến tranh Hy-Ba , Tuyxiđit (Thuycudides) cuốn Lịch sử chiến tranh Plôpônedơ.

2.3. Kiến trúc, điêu khắc:

Những công trình kiến trúc của Hy Lạp cổ đại không hùng vĩ như của Ai Cập cổ đại nhưng nó lại nổi bật ở sự thanh thoát, hài hoà. Các công trình kiến trúc ở Hy Lạp cổ đại thường được xây dựng trên những nền móng hình chữ nhật với những dãy cột đá tròn ở bốn mặt. Qua nhiều thế kỉ, người Hy Lạp cổ đại đã hình thành ra ba kiểu cột mà ngày nay người ta vẫn thể hiện trong trường phái “cổ điển”.Kiểu Đôric(thế kỉVIITCN ), trên cùng là những phiến đá vuông giản dị không có trang trí; kiểu Lônic (t.kỉ V TCN) cột đá tròn thon hơn, có đường cong ở bốn góc phiến đá hình vuông như hai lọn tọc uốn; kiểu Côranh ( thế kỉ IV TCN ) có những cành lá dưới những đường cong, thường cao hơn và bệ đỡ cầu kì hơn.

Các công trình kiến trúc tiêu biểu thời bấy giờ là đền Pactơnông (Parthenon) ở Aten, đền thờ thần Dớt (Zeus) ở núi Olempia, đền thờ nữ thần Atena (Athena).

Các nhà điêu khắc ở Hy Lạp cổ đại cũng để lại nhiều tác phẩm tới bây giờ vẫn xứng đáng là mẫu mực cho điêu khắc như các pho tượng Vệ nữ ở Milô, tượng Lực sĩ ném đĩa, tượng nữ thần Atena, tượng thần Hecmet...Những nhà điêu khắc tiêu biểu thời đó như Phiđat ( Phidias), Mirông( Miron),Pêliklêt,(Polykleitos)...

2.4. Khoa học tự nhiên:

Thế giới Hy Lạp cổ đại còn cống hiến cho nhân loại nhiều nhà bác học mà đóng góp của họ tới nay vẫn còn giá trị như: Ơclit (Euclide), người đưa ra các tiên đề hình học đặt cơ sở cho môn hình học sơ cấp. Pitago ( Pythagoras), ông đã chứng minh định lí mang tên ông và ngay từ thế kỉ V TCN ông đã đưa ra giả thuyết trái đất hình cầu. Talét (Thales), người đã đưa ra Tỉ lệ thức (Định lí Talét). Đặc biệt là Acsimet (Archimede), người đã đề ra nguyên lí đòn bẩy, chế ra gương cầu lõm, máy bắn đá và phát hiện ra lực đẩy tác động lên một vật nếu vật đó trong lòng chất lỏng (lực đẩy Acsimet).

2.5. Triết học:

Hy Lạp cổ đại là quê hương của triết học phương Tây, ở đây có cả hai trường phái triết học duy vật và duy tâm. Đại diện cho trường phái duy vật là các nhà triết học nổi tiếng như: Talét (Thales), Hêraclit (Heracleitus), Đêmôcrit (Democritus)... Đại diện cho trường phái duy tâm là các nhà triết học: Platôn, Arixtôt.

2.6. Luật pháp và tổ chức nhà nước:

Các quốc gia ở phương Tây chịu ảnh hưởng nhiều về hệ thống pháp luật và cách tổ chức nhà nước từ Hy Lạp cổ đại.

Nhà nước ở Hy Lạp cổ đại hình thành trên cơ sở sự tan rã của xã hội thị tộc. Nhà nước dân chủ chủ nô ở Hy Lạp ngày càng được hoàn thiện qua những cải cách của Xôlông (Solon), Clisten (Clisthenes) và Pêliclêt (Pericles).

Về luật pháp, bộ luật cổ nhất của Hy Lạp là bộ luật Đracông (Dracon), bộ luật này có những hình phạt rất khắc nghiệt, có khi chỉ ăn cắp cũng bị xử tử. Sau này, nhờ những cải cách của Xôlông, Clisten, luật pháp Hy Lạp ngày càng mang tính dân chủ hơn (nhưng cũng chỉ công dân tự do mới được hưởng, nô lệ thì không).





   VIII. Văn minh La Mã:
VĂN MINH LA MÃ CỔ ĐẠI

I. Cơ sở hình thành nền văn minh La Mã cổ đại

1.1. Địa lí, dân cư :

Bán đảo Italia, nơi hình thành nhà nước La Mã cổ đại nằm ở Nam Âu như một chiếc chân người chìa ra Địa Trung Hải.

Bán đảo Italia có nhiều đồng bằng, tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, trong lòng đất lại chứa nhiều khoáng sản, thuận lợi cho nghề luyện kim. Địa hình ở đây lại không bị chia cắt, tạo điều kiện cho sự thống nhất. Bờ biển ở phía nam bán đảo có nhiều vịnh, cảng thuận tiện cho tàu bè trú ẩn khi thời tiết xấu. Do điều kiện địa lí như vậy nên bán đảo Italia có điều kiện tiếp xúc với những nền văn minh phát triển sớm ở phương Đông.

Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia được gọi là Italiot, trong đó bộ phận sống trên đồng bằng latium được gọi là người Latinh (Latin), ngoài ra còn có một số nhỏ người gốc Gôloa, gốc Hy Lạp.

1.2. Sơ lược các mốc lịch sử :

Theo truyền thuyết, năm 753 TCN người dân ở đồng bằng Latium đã dựng nên một toà thành bên bờ sông Tibơrơ (Tiber), họ đã lấy tên người cầm đầu là Romulus để đặt cho toà thành đó, vì vậy có tên là Roma.

Giai đoạn 753 - 510 TCN, đứng đầu nhà nước là vua, dưới vua có Viện nguyên lão và Đại hội nhân dân. Vì vậy thời kì này còn được gọi là thời kì Vương chính.

Thời kì cộng hoà ở La Mã vào khoảng từ năm 510 đến thế kỉ I TCN. Giai đoạn này quyền lực tối cao nằm trong tay Viện nguyên lão do dân bầu, đứng đầu Viện nguyên lão là hai quan chấp chính có quyền lực ngang nhau. Từ đó, việc chính quyền trở thành việc chung của dân (res publica). Đây cũng là giai đoạn La Mã sử dụng sức mạnh quân sự của mình để mở rộng lãnh thổ. Thế kỉ VIII TCN, La Mã chỉ là một thành bang nhỏ bé năm ở miền trung bán đảo Ý thì đến thế kỉ I TCN, La Mã đã trở thành một đế quốc rộng lớn bao trùm toàn bộ những vùng đất quanh bờ Địa Trung Hải.

Thời kì Đế chế ở La Mã từ thế kỉ I TCN đến thế kỉ V. Do hàng thế kỉ sử dụng chiến tranh để mở rộng bờ cõi nên vai trò các tướng lĩnh ở La Mã ngày càng tăng, xu hướng độc tài đã xuất hiện. Năm 47 TCN, một viên tướng nhiều công lao của La Mã là Xêda (Ceasar) định nắm hết quyến lực vào tay mình nhưng không thành, ông ta bị những người bảo vệ cho nền cộng hoà ám sát. Năm 27 TCN, cháu của Xêda là Ôctaviut, bằng những biện pháp khôn khéo hơn đã lôi kéo dần những nhân vật của Viện nguyên lão, loại trừ những người không thể lôi kéo. Năm 27 TCN, Viện nguyên lão đã suy tôn Ôctaviut là August (Đấng tối cao). Vậy là từ thế kỉ I TCN nền cộng hoà La Mã đã bị xoá bỏ.

Thế kỉ III TCN, chính quyền La Mã bắt đầu bước vào giai đoạn suy yếu. Chiến tranh quanh Địa Trung Hải không còn cung cấp đủ số lượng nô lệ cho các đại điền trang và các khu mỏ để bù lại số lượng nô lệ đã chết . Số nô lệ còn lại do cuộc sống quá cực khổ nên cũng nổi loạn hay bỏ trốn rất nhiều. Nền kinh tế bị khủng hoảng, quân đội suy yếu. Nhân cơ hội đó, các bộ tộc Giecmanh từ bên ngoài tràn vào cuớp phá. Năm 395, đế quốc La Mã bị chia ra làm hai . Năm476, kinh thành Rôma bị người Giecmanh đánh hạ. Còn ở Đông đế quốc La Mã thì đến năm 1453 bị đế quốc Thổ Nhĩ Kì thôn tính.

II. Những thành tựu chủ yếu của văn minh La Mã cổ đại

Người La Mã không chỉ kế thừa nền văn minh của người Hy Lạp thời cổ đại mà còn có những đóng góp đáng kể, tạo thành nền văn minh Hy-La, cơ sở của văn minh Tây Âu sau này.

2.1. Chữ viết, văn học:

Từ chữ Hy Lạp cổ, người La Mã đã đặt ra một loại chữ riêng của mình mà ngày nay ta quen gọi là chữ Latinh. Đây là một thứ chữ viết đơn giản, thuận tiện nên đã được sử dụng rộng rãi trong toàn bộ đế quốc và sau này đã trở thành chữ viết của nhiều quốc gia trên thế giới.

Văn học La Mã cổ đại cũng có nhiều thể loại như thơ, kịch, sử thi với các tác giả nổi tiếng như Xixêrông (Xixeron), Viêcghin (Vergil), Hôratiut (Horatius).

2.2. Sử học:

Từ thế kỉ III TCN, người La Mã đã có viết sử nhưng họ viết bằng chữ Hy Lạp. Người đầu tiên viết sử La Mã bằng chữ Hy Lạp là Phabiut.

Người viết sử La Mã bằng chữ Latinh đầu tiên là Cato(234-149 TCN). Sau đó còn nhiều người khác như Plutac, Tacitus.

2.3. Triết học:

Các nhà triết học La Mã cũng đã kế thừa truyền thống của triết học Hy Lạp, kế thừa những tư tưởng duy vật của Đêmôcrit. Những nhà triết học tiêu biểu thời kì đó như: Lucretius, Ciceron.

2.4. Luật pháp:

Bộ luật thành văn cổ nhất ở La Mã là bộ Luật 12 bảng. Nó được gọi như vậy vì được khắc vào 12 bảng đá vào năm452 TCN.

2.5. Khoa học tự nhiên:

Các nhà khoa học người La Mã cũng có công sưu tập, tổng hợp những kiến thức khoa học khắp vùng Địa Trung Hải. Những nhà khoa học nổi tiếng thời đó như Plinius, Ptôlêmê, Hêrôn .

2.6. Y học:

Ông tổ của Y học phương Tây là Hipôcrat (Hippocrates). Ông đặc biệt được đời sau luôn nhớ tới bởi lời thề Hypôcrat khi nhắc những người bước chân vào ngành y. Cuốn Phương pháp chữa bệnh của Ông để lại đã được dùng làm sách giáo khoa cho nhiều trường đại học ở châu Âu mãi tới thời cận đại.

2.7. Kiến trúc, điêu khắc:

Một trong những giá trị kiến trúc của người La Mã thể hiện qua các cầu vòm bằng đá. Nhờ những chiếc cầu này mà hệ thống giao thông nối liền các vùng của đế chế La Mã trở nên thuận lợi.

Công trình kiến trúc La Mã nổi tiếng hay được nhắc đến là đền Pactơnông, đấu trường Côlidê và Khải hoàn môn. Kiến trúc sư La Mã nổi tiếng thời đó là Vitorius.

Điêu khắc La Mã có cùng phong cách với điêu khắc Hy Lạp. Những bức tượng còn lại ở thành Rôma và những phù điêu trên Khải hoàn môn là hiện vật tiêu biểu cho điêu khắc La Mã.

2.8. Tôn giáo:

Nói đến tôn giáo ở đế quốc La Mã phải nói đến đạo Kitô, mặc dù đạo Kitô không phải ra đời tại La Mã.

Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Kitô là Jesus Crit, con của chúa Trời đầu thai vào người con gái đồng trinh Maria. Jesus Crit ra đời vào khoảng thế kỉ IV TCN tại Béthleem (Palestin ngày nay). Đến năm 30 tuổi, Jesus Crit bắt đầu đi truyền đạo.

Đạo Kitô khuyên con người nhẫn nhục chịu đựng đau khổ nơi trần gian để khi chết sẽ được hưởng hạnh phúc nơi thiên đàng. Chúa Trời sáng tạo ra thế giới này. Chúa Trời, chúa Jesus, thành thần tuy ba mà là một ( tam vị nhất thể ). Đạo Kitô cũng có quan niệm thiên đường, địa ngục, thiên thần, ma quỉ...

Giáo lí của đạo Kitô gồm có Kinh cựu ước (tiếp nhận của đạo Do Thái) và Kinh tân ước (kể từ khi chúa Jesus ra đời). Luật lệ của đạo Kitô thể hiện trong 10 điều răn.

Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công xã vừa mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đến thế kỉ II, các công xã Kitô dần phát triển thành Giáo hội.

Khi mới ra đời, đạo Kitô bị các hoàng đế La Mã và bọn quí tộc địa phương đàn áp rất tàn bạo. Vụ đàn áp đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nêrông, máu của biết bao nhiêu tín đồ đã đổ. Nhưng số người theo đạo Kitô không những không giảm mà ngày càng tăng lên. Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa trời” tức là tôn giáo không dính dáng đến chính trị. Thấy đàn áp mãi không có tác dụng, các hoàng đế La Mã nghĩ tới biện pháp chung sống. Năm 311, một hoàng đế La Mã đã ra lệnh ngưng đàn áp các tín đồ Kitô. Năm 313, đạo Kitô được hoàng đế La Mã công nhận là hợp pháp. Năm 337, một hoàng đế La Mã lúc đó là Cônxtantinut đã gia nhập đạo Kitô.

Hoàng đế theo đạo Kitô thì đương nhiên các quan lại đua nhau theo Đạo. Ngân quĩ quốc gia cũng được chi ra để đóng góp cho Nhà thờ. Đạo Kitô được truyền bá rộng khắp trong vùng đất quanh Địa Trung Hải. Sau này, khi đế quốc La Mã tan vỡ thì đạo Kitô đã ăn sâu, lan rộng khắp châu Âu.