Thứ Năm, 20 tháng 10, 2011

tập ảnh lịch sử thế giới


lịch sử thế giới:


1. Lịch sử cổ đại:

a) Công xã nguyên thủy:


 Những nơi tìm thấy dấu tích của Người tối cổ
Người vượn Bắc Kinh


 vuon_co__nguoi_toi_co_nguoi_hien_dai_500
                            Vượn cổ     -->     Người Tối cổ      -->     Người hiện đại .

su_dung_lua_500_01
Biết sử dụng lửa
che_tao_cong_c_500
 Chế tác công cụ kim loại  

Đời sống bầy người Nguyên thuỷ

nha_cua_500
Cư trú nhà cửa

do_da_moi_500
Đồ đá mới
__mi_500
Đồ đá mới :mài đục ,khoan đá
 ng_sao_bang_xuong_500
Ống sáo bằng xương  dùi lỗ
vong_co_500
Đồ trang sức: vòng cổ
 nhung_11_500
Bay_dan_nguoi_nguyen_thuy.jpg

Những chiếc rìu đã cổ của người vượn Trung Quốc

Những sọ đầu người vượn cổ được tìm thấy ở Chu Khẩu Điếm

Mô tả cách sinh hoạt của người vượn cổ
(hình minh họa người vượn được tìm thấy ở Chu Khẩu Điếm (Trung Quốc)

b) Lịch sử các quốc gia cổ đại:

phuongdong_500_01
Lược đồ các quốc gia cổ đại phương Dông

+ Lịch sử Ai Cập cổ đại (có hình minh họa),xem trong trang:
www.bachkhoatrithuc.vn - Sự hình thành...

History-oF-Egypt

thần Thoth (Ai cập)
các vị thần Ai cập cổ
Pepi I Meryre.
Senusret I
Amenhotep IV.


Amenhotep III and Queen Tiye

bắt chim








quân thủy Ai cập tấn công nước láng giềng.

Vua Menes giết nô lệ
aicape
vua Ti đang đi săn.

Pharaoh săn thú rừng.

chan_nuoi_500
Chăn nuôi
lấy nước tưới đồng ruộng.
chu_ai_cap_co 
Chữ tượng hình Ai Cậo cổ
cay_pa_pirur
Cây papyrus




Giấy papyrus (Cổ đại)

tu_1_den_10_cua_nguoi_ai_cap_picture16_500 
Người Ai Cập cổ  đại  nghĩ ra phép đếm từ 1 đến 10


 + Lịch sử Lưỡng Hà cổ đại:
Bản đồ tổng quan Lưỡng Hà cổ đại



Hình ảnh một phần cột đá khắc toàn văn bộ luật Ham-mu-ra-bi



Tượng một tu sĩ Lưỡng Hà (khoảng 2900-2600 B.C.)



Thần Khorsabad

babylon-ishtar-gate_500
Cổng Ishtar của thành Ba-by-lôn, được trưng bày trong Bảo Tàng Viện Nê-bu-cát-nết-xa tại Berlin, nước Đức
 
Điêu khắc hành lễ tìm thấy ở Tell Asmar (Iraq), có tuổi từ 2750 tới 2600 trước Công Nguyên (Nguồn: Wikipedia)
thần Geb và Nut - hai vị thần sáng tạo muôn loài.
Marduk - thần tối cao của Lưỡng Hà cổ đại
chữ hình đinh của người Lưỡng Hà
Das Quarks Pharaonen Bierngười Lưỡng Hà uống bia bằng ống hút.
Vườn treo Babilon cổ đại.

 + Lịch sử Trung Quốc cổ đại:
Pekingthr.jpg
Skull pekingman.jpg

Di tích xương sọ Người vượn Bắc Kinh

Tập tin:Territories of Dynasties in China.gif
Bản đồ vùng lãnh thổ chiếm đóng qua các triều đại khác nhau.




Chữ viết trên mai rùa

 chu_giap_cot
Chữ giáp cốt
 chu_tren_the_tre
Thẻ tre
chuviet_argile2_500
 Chữ viết trên đá huyền thạch
 chu_viet_tren_xuong_thu_01
 Chữ viết trên xương thú

 + Lịch sử Ấn Độ cổ đại:

Thành phố Harappa

3. Lịch sử cận đại:

a)Cách mạng Hà Lan (1566_1648):



ha_l_an_1609_01
Bản đồ Hà Lan năm 1609




hình ảnh cuộc khởi nghĩa năm 1566 ( Dirk van Delen vẽ)

Veen01.jpg
Phụ Nữ Leiden sau khi cuộc bao vây, 1574.


 Bản đồ của Hà Lan sau Hiệp định Ghent, cho biết Liên hiệp Utrecht (màu xanh)  Atrecht (màu vàng)










William I đã bị ám sát tại nhà riêng của Balthasar Gérard ngày 10 /7/ 1584















Việc phê chuẩn Hiệp ước Munster, Gerard Ter Borch (1648) jpg
Việc phê chuẩn Hiệp ước Hòa bình Münster(1648)
Maurice NassauHoàng tử của Orange từ 1584_1625, người




b) Cách mạng tư sản Anh :

kinh_te_anh_truoc_cm_500_01
 Lược đồ kinh tế Anh trước cách mạng  




Cromwell giải thể Nghị viện Dài (1652)

một cuộc họp của Nghị viện Dài.

Trận Naseby (14/6/1645)





Trận Marston Moor, 1644.png 
Cromwell trong trận Marston Moor


Trận chiến Marston Moor, bởi J. Barker




















luoc_do_cuoc_noi_chien_o_anh_500_02


Lược đồ cuộc nội chiến ở Anh



dien_biem_cm_anh_500_01


 Lược đồ diễn biến cách mạng tư sản Anh

sac_li_01
  Charles I (Sac lơ I)
Oliver Cromwell (1599-1658)
Ngồi người đàn ông xây dựng mỏng với ngực, chiều dài mái tóc đen xoăn
Charles II
Charles mặc một vương miện và chức vị quan tòa lót mũi
Charles II trong lễ đăng quang của mình. 



Click!
William III của Orange

File:Arrival of William III of Orange in England - alt.jpg

Willam III đổ bộ vào Anh quốc, thực hiện cuộc "cách mạng vinh quang" cho nước Anh (1688).


c) Chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ:
bản đồ nước Mỹ năm 1750 sở hữu của Anh (màu hồng), Pháp (màu xanh), và Tây Ban Nha (màu cam) trái ngược với biên giới đương đại của Canada và Hoa Kỳ
Một bản đồ của thành phố New Amsterdam năm 1660

Lược đồ 13 thuộc địa Anh ở Bắc mĩ

nhân dân Băc Mỹ phản đối đạo luật Tem của Quốc hội Anh 1765

Nhân dân Boston ném trà của Anh xúông biển trong sự kiện Boston 1773

carpenters' hall- nơi diển ra hội nghị lục địa I

Hội nghị lục địa lần thứ nhất 1774

Đại hội 13 thụôc địa Anh thông qua Tuyên ngôn Độc lập (4-7-1776)

Tuyên ngôn độc lập của hoa kì

CỤc diện chiến tranh 1776 - 1777

CỤc diện chiến tranh ở miền Nam 1778 - 1781


Trận saratoga 1777

Trận york town 1781

Ký kế hiệp ước kết thúc chiến tranh cách mạng.


George Washington tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ
oa_xinh_tn
George Washington - Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.
 quan hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ nhất:

picture2_500_03
Tập tin:Treaty of trianon negotiations.jpg
Cảnh kí kết hoà ước Trianông (Trianon)

Tập tin:Österreich-Ungarns Ende.png
 Hungary trước và sau Hoà ước Trianon
Tập tin:Bulgaria after Treatry of Neuilly-sur-Seine.png
Bản đồ Bulgaria sau Hòa ước Neuilly

Tập tin:TreatyOfSevres (corrected).PNG
 Bản đồ thể hiện những vùng lãnh thổ của đế quốc Ốttôman mất sau hiệp ước Sevres (những vùng bị gạch chéo)

picture1_500_03

Tập tin:Brest treaty Barry Kent.jpg
Lễ kí kết hòa ước Bret_Litovsk vào ngày 3/3/1918
Tập tin:Armisticebrestlitovsk.jpg
   Bản đồ  nước Nga sau hòa ước Brest-Litovsk( phần màu hồng là phần mất đi sau hòa ước)


Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

Vài nét về quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô trong những năm 1945-1948 Vài nét về quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô trong những năm 1945-1948


Vài nét về quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô trong những năm 1945-1948



1. Sự kiện bản Hiến pháp đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai của Nam Tư được thông qua ngày 31 tháng 1 năm 1946, trong đó qui định Nam Tư là „một nhà nước xã hội chủ nghĩa” (1)  đã mở ra một bước ngoặt mới trong lịch sử của một Nhà nước liên bang mới với 6 nước cộng hòa (Serbia, Croatia, Macedonia, Slovenia, Montegegro, Bosnia - Herzegovina) và 2 tỉnh tự trị (Kosovo và Vojvodian). Có thể thấy, việc nước Cộng hòa Liên bang Nhân dân Nam Tư (Federal Peope′l Republic of Yugoslavia – FPRY) lựa chọn đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội là một thắng lợi của phong trào cách mạng thế giới, góp phần hình thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới sau chiến tranh.
 Trong cuộc chiến tranh ái quốc chống lại ách chiếm đóng phát xít Đức và chư hầu, Đảng Cộng sản Nam Tư ít nhiều đã nhận được sự trợ giúp của Liên Xô, bản thân Iosip Broz Tito, lãnh tụ Đảng Cộng sản Nam Tư, cũng được đào tạo ở Liên Xô trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tuy nhiên, việc Đảng Cộng sản Nam Tư tự xác lập được quyền lực của mình, giành được quyền lãnh đạo đất nước thời hậu chiến mà không cần sự „bảo trợ” của Liên Xô đã khiến cho mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô sau năm 1945 có những điểm khác biệt rất lớn so với mối quan hệ giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu khác. Trong bài viết này, chúng tôi mong muốn phác họa lại mối quan hệ giữa hai nhà nước XHCN lớn ở châu Âu trong những năm 1945 - 1948, qua đó hy vọng góp phần làm phong phú thêm những nhận thức về hệ thống XHCN trong thế kỷ XX.
 2. Những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, công cuộc xây dựng CNXH ở Nam Tư có nhiều điểm tương đồng so với Liên Xô, và cũng có thể coi là được mô phỏng theo mô hình Xô viết. Có thể kể ra đây một số ví dụ minh họa. Cuối năm 1945, quá trình xác lập quyền sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước được đẩy mạnh ở Nam Tư. Kết quả là có đến 82% các ngành công nghiệp chủ yếu thuộc quyền kiểm soát của nhà nước. Đồng thời nhà nước còn nắm quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên rừng; quyền sở hữu đất đai tư nhân được giới hạn ở mức tối đa 30 ha.
 Ngày 31 tháng 1 năm 1946, Nam Tư có bản hiến pháp mới, được xây dựng theo bản Hiến pháp năm 1936 của Liên Xô (2).  Trong giai đoạn này, lãnh tụ của nhà nước Nam Tư, Iosip Broz Tito, đã quyết định „sao chép đến từng chi tiết” (3)  mô hình xây dựng CNXH ở Liên Xô (từ thể chế nhà nước, luật pháp, cách thức thực hiện, mô hình Cộng hòa liên bang...). Tito là đồng minh quan trọng của Stalin trong những vùng lãnh thổ thuộc khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, khi đó đang nằm dưới sự kiểm soát của Hồng quân. Tito thể hiện rõ quan điểm ủng hộ mọi chính sách đối ngoại cũng như đối nội của Liên Xô (4) . Ngày 11 tháng 4 năm 1945, trong một buổi lễ long trọng có sự chứng kiến của I. V. Stalin, người đứng đầu Đảng và Nhà nước Nam Tư, I. B. Tito và Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô, Molotov đã cùng nhau kí "Hiệp định hữu nghị, tương trợ và phối hợp thời hậu chiến giữa Liên Xô và Nam Tư”. Theo nội dung Hiệp định, hai nước cam kết là „một mặt trận chung trên chính trường quốc tế”, khi ký hòa ước với các nước vốn là kẻ thù (Áo, Hunggari, Bungari, Italia); hai bên cùng lên án „Học thuyết Truman” và cùng cự tuyệt „Kế hoạch Marshall” của Mỹ; tương tự hai bên còn thống nhất một đường lối chung trong việc giải quyết vấn đề Đức(5) .
 Trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, mô phỏng theo mô hình Xô viết, Nam Tư bắt đầu thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa. Cuối năm 1946, kế hoạch 5 năm đầu tiên được thông qua cho giai đoạn 1946 - 1951. Lĩnh vực trọng yếu của kế hoạch 5 năm, nhằm hướng tới xây dựng nền kinh tế XHCN, được xác định là thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa (ưu tiên phát triển công nghiệp nặng) và điện khí hóa. Trong lĩnh vực nông nghiệp, kế hoạch phát triển 5 năm xác định phương hướng xây dựng ngành nông nghiệp phát triển theo hướng hợp tác hóa thông qua việc thiết lập các nông trang tập thể theo mô hình Xô viết. Kế hoạch 5 năm đầu tiên của Nam Tư đề ra mục tiêu phải nâng cao trình độ phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân ở các nước cộng hòa kém phát triển (Montenegro, Macedonia, Bosnia - Herzegovina) (6) . Cuối năm 1946, đạo luật quốc hữu hóa đã được ban hành, đánh dấu sự kết thúc của quá trình xác lập quyền sở hữu của nhà nước XHCN ở Nam Tư (7) . Trên thực tế, những mục tiêu mà kế hoạch 5 năm đề ra rất khó hiện thực hóa. Bởi lẽ, Nam Tư vốn là nước đang phát triển, lại phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề bởi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Thêm vào đó, những khó khăn về nguồn vốn phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa cũng không dễ gì tháo gỡ.
Theo chúng tôi, sự diễn biến phức tạp của bối cảnh quốc tế sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã có ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô. Sự căng thẳng, đối nghịch giữa Liên Xô và các nước phương Tây sau chiến tranh đã có buộc Liên Xô phải điều chỉnh đường lối và chính sách đối ngoại của mình, không chỉ trong mối quan hệ với các nước phương Tây mà ngay cả trong mối quan hệ với các nước được xác định là thuộc khu vực ảnh hưởng của nước này. Tuyên bố chống Liên Xô của cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill trong buổi diễn thuyết tại giảng đường của Học viện Westminter, thành phố Fulton (Mỹ) ngày 5 tháng 3 năm 1946 (8)  đã cho thấy một điều rõ ràng rằng, sau Potsdam và Ialta, sự hợp tác giữa ba trụ cột của khối Đồng minh chống phát xít đã kết thúc (9) . Sự kiện ngày 5 tháng 6 năm 1947, tại Harvard, Ngoại trưởng Mỹ Marshall đọc bài diễn văn đưa ra cái gọi là “Phương án phục hưng châu Âu” (10)  trong đó nhấn mạnh “chỉ cần một bộ phận hoặc toàn bộ các nước châu Âu cùng nhau xây dựng một kế hoạch “phục hưng” thì Mỹ sẽ vui lòng mở rộng “viện trợ” đến châu Âu” (11) , đã khiến cho Liên Xô ngày càng lo ngại về mưu đồ của Mỹ đang tìm cách lôi kéo các nước Đồng minh vào các tổ chức kinh tế, chính trị, quân sự do Mỹ thành lập nhằm bao vậy, cô lập Liên Xô. Ngay trong tháng 12 năm 1947/tháng 1 năm 1948, Quốc hội Mỹ đã thông qua khoản tiền 13 tỷ đô la Mỹ giúp cho việc tái thiết châu Âu (12) .
Để đối phó với “Chủ nghĩa Truman” và “Kế hoạch Marshall”, Liên Xô đã quyết định tăng cường sự phối hợp hành động giữa các đảng cộng sản ở châu Âu. Theo các nguồn tài liệu Xô viết, ý tưởng thành lập một tổ chức quốc tế mới thay thế cho vai trò và ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản (giải tán năm 1943) là do đề xuất của lãnh tụ Đảng Cộng sản Nam Tư - Iosip Broz Tito - trong cuộc hội đàm với Stalin vào tháng 4 năm 1945 (13) . Hơn một năm sau đó, trong cuộc gặp mặt tiếp theo (và cũng là cuối cùng) vào tháng 5 - tháng 6 năm 1946, Stalin đã hỏi ý kiến của Tito về việc có nên hiện thực hóa ý tưởng mà Tito đã từng nêu ra, Tito khẳng định sự cần thiết và hào hứng triển khai kế hoạch. Ngay sau đó, trong cuộc gặp tay ba Stalin - Tito - Dimitrov (cựu lãnh tụ của Quốc tế Cộng sản) các bên đã đi đến quyết định rằng “tổ chức ra đời trong tương lai sẽ có tính chất thông tin, nhằm trao đổi kinh nghiệm và nó không thể thông qua các quyết định mang tính bắt buộc đối với các đảng cộng sản tham gia” (14) .
Theo sự ủy nhiệm của Đảng Cộng sản (Bônsêvích) Liên Xô, hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản Liên Xô, Bungari, Hunggari, Ba Lan, Rumani, Tiệp Khắc, Nam Tư, Pháp và Italia đã được tổ chức trong các ngày 22 - 27 tháng 9 năm 1947 tại Szklarska - Poreba, gần Wroclaw (Ba Lan). Tại hội nghị, vai trò điều khiển các phiên họp và định hướng hành động của các đảng thuộc về hai đoàn đại biểu: Liên Xô và Nam Tư. Đại diện của Đảng Cộng sản Liên Xô, Andrei Jdanov đã trình bày trước hội nghị bản báo cáo nổi tiếng có nhan đề: “Những đánh giá về tình hình quốc tế” (15)  trong đó chỉ rõ việc thế giới bị phân chia thành hai trận tuyến: “trận tuyến đế quốc chống dân chủ, đứng đầu là Mỹ” và “trận tuyến dân chủ chống đế quốc, đứng đầu là Liên Xô”. Trận tuyến đế quốc do Mỹ cầm đầu có mục tiêu “chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa mới”, nhằm mục đích “đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội và dân chủ”; Trận tuyến dân chủ do Liên Xô lãnh đạo cần “chiến đấu để bảo vệ hòa bình và dân chủ”. Để giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, trận tuyến dân chủ chống đế quốc cần thống nhất hành động nhằm cố kết hàng ngũ. Hội nghị quyết định thành lập cơ quan thông tin của một số đảng cộng sản và công nhân gọi là Cục Thông tin quốc tế (KOMINFORM) với nhiệm vụ tổ chức việc thông tin, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp đấu tranh cách mạng giữa các Đảng một cách tự nguyện. KOMINFORM sẽ xuất bản một tạp chí có nhan đề “Vì một nền hòa bình vĩnh cửu, vì dân chủ nhân dân”. Trụ sở của KOMINFORM được đặt ở thủ đô Belgrad của Nam Tư (16) .
Sự tham gia tích cực của những người cộng sản Nam Tư, đứng đầu là Tito, nhằm khôi phục lại vai trò và ảnh hưởng của Quốc tế Cộng sản thông qua việc thành lập KOMINFORM  không chỉ củng cố mối quan hệ giữa hai nhà nước XHCN lớn mà còn cho thấy Nam Tư là đồng minh quan trọng của Liên Xô ở Bancăng cho đến trước khi bùng phát mâu thuẫn giữa hai đảng. Sự nhiệt huyết của ban lãnh đạo Nam Tư trong kế hoạch thành lập một tổ chức quốc tế mới của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới được thể hiện rất rõ. Đảng Cộng sản Nam Tư là một trong số ít các đảng cộng sản “đã phê phán mạnh mẽ chính sách của các Đảng Cộng sản Tây Âu là đã không chống lại “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” và đã không cố gắng để chinh phục quyền lực” (17) . Vai trò và sự “tận tụy” của Đảng Cộng sản Nam Tư trước chính sách đối ngoại của Liên Xô đã được trả công (trụ sở của KOMINFORM được đặt ở Belgrad, số đại diện của Nam Tư trong bộ máy lãnh đạo của tổ chức được tăng lên gấp đôi trong so sánh với các đảng cộng sản khác - trừ Liên Xô; trong Thông cáo chính thức của hội nghị, vị trí của Đảng Cộng sản Nam Tư chỉ xếp sau Đảng Cộng sản Liên Xô; cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Liên Xô, tờ “Pravda” cũng đã đăng toàn văn bài phát biểu của Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô, A. Jdanov và Trưởng đoàn đại biểu Nam Tư, E. Kardelj (18) ). Cho đến cuối năm 1947,   Tito vẫn là một “đồng minh trung thành” của Stalin, Nam Tư vẫn tuân theo sự chỉ đạo của Liên Xô trong các vấn đề quốc tế giống như các nước XHCN Đông Âu khác (19) .
Vậy thì vì sao đến mùa hè năm 1948, mối quan hệ đồng minh, hữu nghị giữa Đảng Cộng sản Nam Tư và Đảng Cộng sản Liên Xô lại bị phá vỡ; vì sao chỉ sau khoảng thời gian ngắn ngủi, Tito từ chỗ là “đồng minh trung thành” đã bị Stalin, trong bài phát biểu ngày 27 tháng 3 năm 1948, coi là “một trong những tội đồ lớn nhất của chủ nghĩa cộng sản, một kẻ theo chủ nghĩa Trốtki, chủ nghĩa Mensêvích, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa đế quốc” (20) ? Và ngay sau đó, ảnh của Stalin biến mất ở Nam Tư và ảnh của Tito cũng biến mất ở Liên Xô. Như một tiếng sét đánh ngang tai, ngày 29 tháng 6 năm 1948 (tức là chưa đầy một năm kể từ ngày thành lập KOMINFORM) Cục Thông tin quốc tế họp tại thủ đô Bucuresti của Rumani từ ngày 20 đến 22 tháng 6 năm 1948 đã thông qua bản Quyết nghị về “Tình hình Đảng Cộng sản Nam Tư” mà nội dung của nó không chỉ làm cho các nước xã hội chủ nghĩa mà cả thế giới phải sửng sốt (21) . Với những ngôn từ mạnh mẽ và cứng rắn nhất, Quyết nghị của KOMINFORM đã buộc tội ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Nam Tư là “đã phản bội chủ nghĩa xã hội và thi hành một chính sách thù địch chống lại Liên Xô” (22) . Chỉ sau một đêm, Tito đã bị cáo buộc là kẻ thù của “quê hương của chủ nghĩa xã hội”, là kẻ phản bội, một tên tội phạm; còn ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Nam Tư thì bị cáo buộc là “một băng đảng gián điệp và phản bội” (23) .
Ngay sau đó, theo sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, tất cả các Đảng Cộng sản đã tiến hành chiến dịch tuyên truyền chống lại ban lãnh đạo Nam Tư, đứng đầu là Tito. Trụ sở cơ quan báo chí của Cục Thông tin quốc tế được chuyển từ Belgrad sang Bucuresti (Bucaret - thủ đô Rumani). Không chỉ dừng ở đó, ngay trong nội bộ các Đảng Cộng sản và trong các nước “dân chủ nhân dân” Đông Âu đã diễn ra chiến dịch thanh lọc  những đảng viên bị cho là “theo Tito”. Hệ quả là nhiều người đã bị bắt, bị lưu đày do bị buộc tội là ủng hộ và làm gián điệp cho Tito. Trong khoảng thời gian 5 năm (cho đến khi Stalin mất vào tháng 3 năm 1953), bộ máy tuyên truyền của các Đảng Cộng sản đều có chung một nhiệm vụ là đả kích, phê phán Tito và ban lãnh đạo Nam Tư. Liên Xô và các nước “dân chủ nhân dân” Đông Âu cắt đứt mọi mối quan hệ với Nam Tư, đường biên giới với Nam Tư bị đóng cửa, tại khu vực biên giới hàng loạt các căn cứ quân sự được dựng lên, những cư dân thuộc các dân tộc Nam Tư bị cưỡng bức di chuyển ra khỏi khu vực biên giới (24) .
Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân cơ bản nhất đã làm cho mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô nảy sinh những bất đồng và đưa đến sự chia rẽ.
Thứ nhất, đó là tham vọng của Tito về thiết lập quyền bá chủ của Nam Tư ở bán đảo Bancăng đã làm đảo lộn những toan tính của Liên Xô ở đây. Ngay trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Iosip Broz Tito đã dành cho lực lượng kháng chiến Cộng sản Hy Lạp sự trợ giúp về vũ khí và trang thiết bị quân sự. Trong thời gian diễn ra cuộc nội chiến ở Hy Lạp, các đơn vị quân đội Nam Tư còn vượt biên giới, trợ giúp cho những người Cộng sản Hy Lạp chinh phục quyền lực. Để không làm căng thẳng hơn mối quan hệ với các nước phương Tây (25) , trước hết là Anh, người đứng đầu ngành ngoại giao Liên Xô, Molotov, đã can thiệp, yêu cầu chấm dứt sự hiện diện của lực lượng không quân Nam Tư trong khoảng không của Hy Lạp. Tuy nhiên, ngay cả khi Liên Xô ngừng sự ủng hộ cho những người cộng sản Hy Lạp (26)  thì Tito vẫn tiếp tục giúp đỡ họ và Nam Tư cũng là nơi lánh nạn của các đơn vị của lực lượng vũ trang cộng sản Hy Lạp sau khi họ phải từ bỏ quê hương (27) .
Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Tito đã tìm cách mở rộng quyền lực ở khu vực xung quanh khoảng không gian Nam Tư, với tham vọng tiến tới thành lập một liên bang các nhà nước XHCN ở trên bán đảo Bancăng. Tito nuôi tham vọng biến Anbani thành nước cộng hòa thứ bảy trong Cộng hòa Liên bang Nhân dân Nam Tư  (FPRY) (28) . Tuy nhiên, mưu đồ này của Tito đã không thể trở thành hiện thực do bắt gặp phải sự phản ứng quyết liệt của Stalin và người đứng đầu Đảng Cộng sản Anbani, Enver Hodja (29) .
Không chỉ có vậy, Tito còn đưa ra đề nghị thành lập một nhà nước Đại Slavơ phương Nam, trải rộng từ Biển Ađriatích đến Biển Đen, bao gộp cả Nam Tư và Bungari. Tất nhiên, nhà nước này sẽ do Tito lãnh đạo. Những bước đi đầu tiên nhằm hiện thực hóa tham vọng này đã được tiến hành. Ý tưởng của Tito đã nhận được sự chấp thuận của một số nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bungari. Ngay cả Gheoghi Dimitrov - người từng đứng đầu Quốc tế Cộng sản - cũng ủng hộ ý tưởng để Bungari trở thành một nước cộng hòa trong liên bang Nam Tư, giống như 6 nước thành viên của FPRY, với điều kiện   Liên Xô đồng ý (30) .
Sau một thời gian thương lượng, tháng 8 năm 1947, Nam Tư và Bungari kí kết Hiệp định hữu nghị mà không tham khảo ý kiến của Liên Xô. Không chỉ có vậy, lãnh tụ của hai nước, Tito và Dimitrov còn nhất trí với nhau về một thỏa thuận “trong một thời gian ngắn Nam Tư và Bungari sẽ thống nhất về mặt chính trị trong một liên bang” (31) .
Để hiện thực hóa kế hoạch thành lập một nhà nước liên bang ở bán đảo Bancăng dưới sự lãnh đạo của mình, Tito tìm mọi cách để thao túng Anbani (tương tự như tham vọng của Stalin muốn áp đặt ý muốn của mình đối với Nam Tư). Điều đáng nói là cách thức ứng xử của Tito đối với Anbani cũng tạo ra sự phản ứng “tiêu cực” từ phía các nhà lãnh đạo Anbani giống như cách phản ứng của Tito đối với Stalin. Trong các tháng 5 và 6 năm 1947, một phái đoàn cấp cao Anbani đã có cuộc viếng thăm Mátxcơva nhằm tìm kiếm sự trợ giúp của Liên Xô trong những nỗ lực đối phó với sức ép từ phía Nam Tư. Kết quả của chuyến đi đã đưa đến việc Liên Xô quyết định gửi các chuyên gia của mình sang Anbani (32)  (việc chưa từng xảy ra cho đến thời điểm đó).
Sự can thiệp của Liên Xô ở Anbani theo lời kêu cứu của Enver Hodja - lãnh tụ cộng sản Anbani - đã khiến cho các nhà lãnh đạo Nam Tư lo lắng, bất mãn về những diễn biến mới trên bán đảo Bancăng, nhất là quan điểm cứng rắn và độc đoán của Stalin. Phía Liên Xô đã yêu cầu Nam Tư phải giải thích về chính sách đối nội và đối ngoại của nước này. Ngay sau đó, Nam Tư đã cử Milovan Djilas dẫn đầu phái đoàn Nam Tư sang Mátxcơva, song chuyến đi không những không làm sáng tỏ được tình hình, ngược lại, nó lại làm bùng phát cuộc khủng hoảng. Stalin “chấp thuận yêu cầu của Nam Tư được quyền bao gộp Anbani vào bên trong đường biên giới của nước này, nhưng yêu cầu trì hoãn việc thống nhất về chính trị” (33) . Chỉ chờ có vậy, Tito đã nhanh chóng tận dụng cơ hội, ép buộc Enver Hodja, phải chấp nhận để một số đơn vị quân đội Nam Tư đóng ở miền nam Anbani, với lý do phòng thủ trước khả năng một cuộc xâm lược từ phía Hy Lạp (34) . Hành động này cho thấy rõ tham vọng của Tito là muốn Nam Tư có ảnh hưởng lớn nhất ở bán đảo Bancăng, muốn nước này tự kiểm soát được toàn bộ khu vực được cho là phạm vi ảnh hưởng của Nam Tư. Tuy nhiên, Liên Xô cũng cho thấy họ không dễ gì từ bỏ ảnh hưởng ở khu vực chiến lược này. Theo chúng tôi, Kế hoạch Marshall đã buộc Liên Xô thay đổi về cơ bản cách đối xử trong mối quan hệ với các nước Đông Âu - khu vực được xác định là phạm vi ảnh hưởng sau chiến tranh của nước này.
Những tham vọng của Tito ở Bancăng đã khiến cho Stalin lo lắng. Kế hoạch thành lập một nhà nước liên bang ở trên bán đảo Bancăng do Nam Tư khởi xướng sẽ đe dọa trực tiếp đến vị thế của Liên Xô không chỉ trong hệ thống XHCN mà còn làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa các nước XHCN và phương Tây. Tham vọng bành trướng thế lực của Tito là một sự thách thức nghiêm trọng đến chính sách đối ngoại mà Liên Xô đang theo đuổi - làm sao phải kiểm soát chặt chẽ các nước và khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của mình. Đầu năm 1948, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Molotov đã gửi hàng loạt bức điện đến Belgrad, nhấn mạnh việc Liên Xô không đồng ý với cách đối xử của Nam Tư trong mối quan hệ với Anbani.
Thứ hai, trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh ngày càng leo thang, sự “độc lập” và “tự chủ” trong chính sách đối nội và đối ngoại của Nam Tư đã bị Stalin coi như một “hành động thách thức” ý muốn độc đoán của người đứng đầu Đảng và Nhà nước Xô viết (35) , một sự ngạo mạn không thể chấp nhận, và cũng có thể coi Tito đã động chạm vào “lòng tự ái” của Stalin. Vị trí địa - chính trị chiến lược của Nam Tư luôn thu hút được sự quan tâm của Liên Xô. Stalin “rất khó chấp nhận” sự hình thành một trung tâm mới trong thế giới cộng sản” (36) . Nhằm khống chế Nam Tư, Liên Xô cũng đã thực hiện những biện pháp mà nước này từng áp dụng ở các nước “dân chủ nhân dân” Đông Âu khác. Cụ thể, nhiều phái đoàn cố vấn Liên Xô được gửi đến thủ đô Nam Tư và nhiều địa phương khác. Một số đơn vị Hồng quân đã thiết lập các căn cứ đồn trú tại Nam Tư. Điều đáng chú ý là “các đơn vị này đối xử với Nam Tư giống như với một nước thù địch” (37) . Trong lĩnh vực kinh tế, núp dưới vỏ bọc tăng cường sự hợp tác giữa Liên Xô và Nam Tư, khai thác thế mạnh của mỗi nước, một số xí nghiệp hỗn hợp Nam Tư - Liên Xô cũng đã được lập ra. Không chỉ dừng lại ở đó, Liên Xô còn can thiệp cả vào trong lĩnh vực đối nội của Nam Tư, như những sự vụ liên quan đến tài sản, an ninh của người dân. Trong bối cảnh đó, Tito và những cộng sự của mình đã tìm cách hạn chế bớt sự can thiệp của Liên Xô vào các công việc nội bộ của đất nước.
Tháng 9 năm 1946, trong một phiên họp của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Nam Tư, các nhà lãnh đạo Nam Tư đã tỏ rõ thái độ bất mãn cách thức hoạt động của các xí nghiệp hỗn hợp, cho rằng, thông qua các tổ chức này, Liên Xô không theo đuổi mục tiêu nào khác ngoài ý đồ triệt để khai thác nguồn tài nguyên của Nam Tư, Liên Xô cũng không trợ giúp cho Nam Tư về  vốn, máy móc và các thiết bị công nghiệp như đã hứa hẹn (38) . Hệ quả của sự mâu thuẫn đó đã đưa đến việc Nam Tư quyết định giải tán mọi xí nghiệp, đơn vị kinh tế hỗn hợp Nam Tư - Liên Xô vào tháng 7 năm 1947.
Khi mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô ngày càng căng thẳng thì tuyên bố của Gheorghi Dimitrov vào ngày 17 tháng 1 năm 1948 về khả năng thành lập một liên bang của các nước Đông Âu, trong đó sẽ bao gộp cả Hy Lạp đã gây ra một cú sốc cho Liên Xô (39) . Ngay lập tức, lãnh đạo của Nam Tư và Bungari được triệu tập sang Mátxcơva để giải thích rõ ràng trắng đen một sự việc “không nhận được sự cho phép” của Liên Xô. Tito chấp nhận lời “mời” của Stalin, song không trực tiếp sang Liên Xô mà cử Edvard Kardelj, cánh tay phải của ông ta đi thay. Tại Mátxcơva, Nam Tư và Bungari phải ký một văn kiện, trong đó “cam kết sẽ xin phép ý kiến của Liên Xô đối với bất kỳ một hành động nào trong quan hệ đối ngoại” (40) . Trước tình hình này, Tito buộc phải chấp nhận thỏa hiệp, từ bỏ ý tưởng thành lập một liên bang với Bungari. Có thể thấy, trước sức ép của Liên Xô, tham vọng bá chủ của Nam Tư ở bán đảo Bancăng đã bị phá sản. Sự kiện này, có thể coi như giọt nước làm tràn ly, đánh dấu chấm hết cho mối quan hệ “hữu nghị, anh em” giữa Liên Xô và Nam Tư. Chỉ một khoảng thời gian ngắn sau đó, Nam Tư đã thi hành nhiều biện pháp nhằm thoát khỏi vòng cương tỏa của Liên Xô. Cuộc khủng hoảng trong quan hệ Nam Tư - Liên Xô ngày càng bộc lộ rõ.
Thông qua lời buộc tội Tito là một người theo chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa đế quốc… vào tháng 3 năm 1948, Stalin tin tưởng rằng sẽ tạo ra một cuộc lật đổ Tito trong nội bộ Đảng Cộng sản Nam Tư do những người chống đối Tito và trung thành với Mátxcơva tiến hành; đồng thời với việc xóa bỏ quyền lãnh đạo của Tito, Stalin còn hy vọng sẽ buộc ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nam Tư sẽ tuân thủ theo sự định hướng và chỉ đạo của Liên Xô. Tuy nhiên, việc các nhà lãnh đạo Liên Xô đưa ra ý tưởng loại bỏ Tito và những người thân cận, vốn không có chung quan điểm với Stalin, ra khỏi bộ máy lãnh đạo Nam Tư và buộc Nam Tư phải “hòa nhập đầy đủ” vào khối XHCN dưới sự lãnh đạo của Liên Xô, không chỉ không đưa lại kết quả như Stalin mong đợi mà ngược lại, từng bước một, nó như một chất xúc tác kích thích chủ nghĩa dân tộc và tinh thần dân tộc phát triển ở Nam Tư (41) . Với Liên Xô, Tito là một kẻ cứng đầu, song trong con mắt của người dân Nam Tư thì “Tito là một nhà độc tài dân tộc, chứ không phải là con rối của điện Kremlin như những lãnh tụ Đông Âu khác cùng thời” (42) . Lần đầu tiên trong lịch sử của chủ nghĩa xã hội, sự kiện Tito - một lãnh tụ cộng sản, người đứng đầu một nhà nước xã hội chủ nghĩa lớn, từng nổi tiếng thế giới với vai trò là người lãnh đạo xuất sắc trong cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa phát xít, giải phóng dân tộc - lại dám đối đầu với Stalin, dám thách thức vai trò bá chủ của Liên Xô đã gây ra một chấn động lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới khi đó.
Tham vọng của Liên Xô muốn kiểm soát chặt chẽ các nước thuộc khoảng không gian Nam Tư, khiến Nam Tư phải lệ thuộc Liên Xô về kinh tế, chính trị, quân sự (giống như các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác (43) ) đã gây phản ứng mạnh mẽ từ phía Tito. Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Nam Tư đã kiên quyết chống lại, quyết tâm bảo vệ nguồn tài nguyên, tiềm lực kinh tế của đất nước. Đỉnh cao của sự khác biệt về quan điểm giữa Nam Tư và Liên Xô chính là năm 1948 khi Iosip Broz Tito quyết định đáp trả lại những hành động cứng rắn của Stalin nhằm buộc Nam Tư phải phục tùng Liên Xô.
Trong năm 1948, trong con mắt của người dân Nam Tư, ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản đứng đầu là Tito được nhìn nhận như những người dũng cảm, dám đấu tranh để bảo vệ lợi ích của dân tộc. Sự phản ứng mạnh mẽ và cứng rắn của Stalin và ban lãnh đạo Liên Xô đã khiến cho Tito và những người thân cận nhận thấy Nam Tư cần phải nhìn nhận lại con đường phát triển của mình, mà cụ thể là tìm ra một cách đi mới trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Như một biểu hiện của sự tỏ thái độ, ngay trong những tháng đầu năm 1948, ban lãnh đạo Nam Tư đã quyết định ngừng quá trình tập thể hóa nông nghiệp ở các vùng nông thôn (cho đến khi đó đã thành lập được 7.000 tổ sản xuất tập thể), phục hồi lại các phong tục tập quán truyền thống cũ của Nam Tư, khơi dậy niềm tự hào dân tộc như một cách thể hiện việc không chấp nhận mọi sự áp đặt của Stalin, từ bỏ việc xây dựng đất nước rập khuôn theo mô hình của Liên Xô (44) .
Mùa hè năm 1948, ở Mátxcơva, Belgrad và thủ đô các nước XHCN Đông Âu khác, những lời buộc tội lẫn nhau được tung ra với cường độ ngày càng lớn - một sự kiện chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Liên Xô đòi hỏi phải loại bỏ Tito và những người thân cận ra khỏi bộ máy lãnh đạo Nam Tư và bao gộp đầy đủ Nam Tư vào trong hệ thống XHCN. Trong bối cảnh khó khăn đó, Tito đã biết tận dụng sức ép từ bên ngoài để tăng cường quyền lực trong nước, thiết lập chế độ độc tài và sự sùng bái cá nhân theo đúng mẫu hình của Stalin. Chủ nghĩa Tito dần dần hình thành. Từng bước một, Tito đã hành động như một người dân tộc chủ nghĩa (45)  trên nền tảng của chủ nghĩa cộng sản.
Việc cắt đứt mối quan hệ chính trị và nhà nước giữa Nam Tư và Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu diễn ra năm 1948 đã để lại những hệ quả to lớn (46) . Do mất đi sự hỗ trợ tài chính của Liên Xô và thị trường của các nước xã hội chủ nghĩa nên Nam Tư phải từ bỏ việc phát triển theo kế hoạch 5 năm và thực hiện một đường lối mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (47) . Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Pháp, Jean - Marie Le Breton, sau khi Nam Tư từ bỏ con đường phát triển theo mô hình Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Stalin thì chuyển biến quan trọng nhất trong chính sách quản lý kinh tế của đất nước này chính là sự ra đời của cái gọi là “tự quản lý”. Về nguyên tắc, “tự quản lý” được xây dựng dựa trên sự lựa chọn của công nhân, trong mỗi một doanh nghiệp, một hội đồng và một ủy ban lãnh đạo, các tổ chức này đã giới hạn đáng kể quyền lực của các giám đốc do chính quyền trung ương cử đến. Đồng thời để hạn chế bớt những tác động tiêu cực của sự thù địch từ phía Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu khác, Nam Tư buộc phải định hướng quan hệ kinh tế đối ngoại về phía các nước phương Tây, trước tiên là Mỹ và Italia (48) .
 Trong những thập niên sau đó, Nam Tư đã đưa ra một đường lối đối ngoại mới, mà nội dung của nó là dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản, kết hợp với lợi ích dân tộc để thành lập một tổ chức quốc tế mới, tập hợp các quốc gia mong muốn không bị lôi cuốn vào một trong hai cực (Liên Xô và Mỹ) trong cuộc Chiến tranh lạnh. Đây có thể coi là một trong những cơ sở quan trọng đưa đến sự ra đời của Phong trào Không liên kết.
3. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa Nam Tư và Liên Xô trong giai đoạn 1945 - 1948 cho thấy những lí do cơ bản khiến cho hai Đảng, hai nhà nước XHCN nảy sinh mâu thuẫn, sự bất đồng gia tăng đến mức độ không thể đi cùng nhau trên một con đường. Theo chúng tôi, sự rạn nứt, chia rẽ bắt nguồn từ cả hai phía. Về phía Nam Tư, đường lối độc lập, tự chủ trong chính sách đối ngoại của Tito bắt nguồn từ uy tín của Tito và Đảng Cộng sản Nam Tư trong con mắt của người dân Nam Tư, nhờ có công lao to lớn trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa phát xít; mặt khác, chính tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đã nuôi dưỡng cho tham vọng bá chủ của Nam Tư ở trên bán đảo Ban căng. Hệ quả là, ban lãnh đạo Nam Tư đã hành động dựa trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích dân tộc, chứ không hoàn toàn tuân theo tinh thần của “chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Khi quyết định đối đầu với Stalin, Tito và các nhà lãnh đạo Nam Tư muốn khẳng định một chân lý là, mỗi một đảng cộng sản, dù lớn hay nhỏ, đều có quyền tự xác định cho mình một đường lối chính trị phù hợp với lợi ích dân tộc. Về phía Liên Xô, chính ý muốn kiểm soát chặt chẽ tất cả các đảng cộng sản, các nước XHCN vốn nằm trong khu vực ảnh hưởng của nước này, đã khiến Stalin rất khó chấp nhận sự tồn tại một con đường khác trong công cuộc xây dựng CNXH. Trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh ngày càng diễn biến phức tạp, Liên Xô càng muốn thiết lập “kỷ luật sắt” trong hàng ngũ các đảng cộng sản và các nước XHCN; mặt khác, vị trí địa - chính trị chiến lược của Nam Tư nói riêng và bán đảo Ban căng nói chung khiến cho Liên Xô cũng không dễ gì từ bỏ ảnh hưởng của mình ở khu vực này. Hệ quả là, những ai, quốc gia nào đi ngược lại với con đường CNXH mà Liên Xô đã vạch ra đều bị coi là “lạc loài”, cần phải loại bỏ. Sự mâu thuẫn trong quan hệ Nam Tư - Liên Xô trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, theo chúng tôi, xét cho cùng, đều xuất phát từ lợi ích dân tộc và tư tưởng nước lớn.
Bài đăng trên tạp chí “Nghiên cứu châu Âu” số 6 (105), tr. 36 – 48

                                                                 PGS. TS. Đào Tuấn Thành
                                                              

(1) Gheorghe Zbuchea, Două săbii într - o singură teacă. Stalinism şi Titoism (Hai thanh gươm trong một cái vỏ. Chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Tito), trong “Dosarele istoriei” (Những hồ sơ lịch sử) số 3 (19), 1998, tr.   tr. 7 (tiếng Rumani).
(2) Stelian Tănase, Tito: Drumul spre putere (Tito: Con đường đến quyền lực), trong “Dosarele istoriei” (Những hồ sơ lịch sử) số 3 (19), 1998, tr. 14 (tiếng Rumani).
(3) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 14.
(4) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 14.
(5)Vasile Şandru, Conflictul dintre generalissimul I. V. Stalin şi mareşalul I. B. Tito. Prima breşă în monolitul comunist (Cuộc xung đột giữa Nguyên soái I. V. Stalin và Thống chế I. B. Tito. Vết nứt đầu tiên trong sự cố kết của chủ nghĩa cộng sản), trong  “Dosarele istoriei” (Những hồ sơ lịch sử) số 3 (19), 1998, tr. 17 (tiếng Rumani).
 (6) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 7.
(7) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 7.
(8) Xem thêm, Lý Kiện, Ngọn lửa chiến tranh lạnh (bóng đêm xuất hiện), quyển I, II, III, người dịch: Ngô Văn Tuyển, Thái Hoàng, Chu Quý, NXB. Thanh Niên, 2002.
(9) Tại buổi diễn thuyết ở Fulton, cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill đã cho rằng: “Từ Slêdin bên bờ Bantích đến Ricaxtơ bên bờ biển Ađriatích, một bức màn thép, đó là thủ đô của các quốc gia cổ kính Trung Âu, Đông Âu -Vácsava, Béclin, Praha, Viên, Buđapét, Bêôgrát, Bucarét và Xôphia. Toàn bộ dân chúng của các thành phố nổi tiếng đó và các vùng chung quanh đều nằm trong phạm vi thế lực của Liên Xô. Tất cả, hoặc bằng cách này, hoặc bằng cách khác, không chỉ rơi vào vòng ảnh hưởng của Liên Xô mà ngày càng bị Mátxcơva khống chế chặt chẽ” (Lý Kiện, sách đã dẫn, tr. 181).
(10) Thường được biết đến với tên gọi “Kế hoạch Marshall”.
(11) Dẫn theo, Nguyễn Anh Thái (cb), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB. Giáo Dục, 2002, tr. 235 - 236.
(12)Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 14.
(13)Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 16.
(14)Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 16.
(15) Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 16 - 17.
(16) Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 17.
(17) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 8.
(18) E. Kardelj là nhân vật số hai trong trật tự hàng ngũ ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nam Tư và là cánh tay phải của I. B. Tito.
(19) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 14.
(20) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 9.
(21) Dư luận thế giới bất ngờ và sửng sốt bởi lẽ, chỉ một khoảng thời gian ngắn trước đó,  Tito vẫn được Stalin và các nhà lãnh đạo Liên Xô đánh giá rất cao, là đồng chí thân cận, có công lao to lớn. Tháng 9 năm 1944, Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô đã quyết định trao tặng I. B. Tito Huân chương “Suvorov” hạng nhất và đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Tito còn được Liên Xô trao tặng Huân chương “Pobeda” (Chiến thắng) do “có công lao đặc biệt trong quá trình lãnh đạo các chiến dịch quân sự góp phần đem lại chiến thắng của Hội Quốc Liên trước phát xít Đức Hitler” (Dẫn theo, Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 17).
(22) Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 17.
(23) Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 17.
(24) Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 17.
(25) Trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Stalin và Churchill đã thỏa thuận với nhau về khu vực ảnh hưởng ở bán đảo Bancăng. Theo đó, Hy Lạp nằm ở khu vực ảnh hưởng của Anh.
(26) Trong cuốn hồi ký của mình, cựu Thủ tướng Anh, Winston Churchill, đã viết rằng: “… trong chuyến thăm của chúng ta đến Mátxcơva vào tháng 10 (1945 - chú thích của Đ.T.T), tôi nhận thấy rằng, Nga cần có một vai trò áp đảo ở Rumani và Bungari, trong lúc chúng ta có ưu thế ở Hy Lạp. Stalin đã tuân thủ nghiêm ngặt thỏa thuận, không can thiệp ở Hy Lạp trong thời gian 6 tuần diễn ra cuộc chiến đấu chống lại lực lượng cộng sản ở thành phố Aten, tuy đây là điều không thú vị gì cho Stalin và những cộng sự của ông ta. Hòa bình đã được tái lập, tôi hy vọng trong vòng vài tuần lễ, chúng ta có thể tổ chức một cuộc tuyển cử tự do, trong sạch, dưới sự giám sát của người Anh, người Mỹ và người Nga, và sau đó thể theo nguyện vọng của người dân Hy Lạp, sẽ xây dựng một bản Hiến pháp và một chính phủ” (Winston Churchill, The second world war, Pinguin Books, England, 1989. Phiên bản dịch sang tiếng Rumani có nhan đề Al doilea război mondial (Chiến tranh thế giới thứ hai), NXB. SAECULUM I.O, Bucuresti, 1997, tập II,  tr. 431 (tiếng Rumani).
(27) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 8.
(28) Tito đã thành công trong việc nắm quyền kiểm soát một bộ phận đảng viên trẻ của Đảng Cộng sản Anbani; Tito cũng đã gửi sang Anbani một số đơn vị quân đội Nam Tư (Dẫn theo, Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 8).
(29) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 8.
(30) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 8.
(31) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(32) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(33) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(34) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(35) Trong bản “Báo cáo mật” trình bày trước Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, vào tháng 2 năm 1956 – N.S. Hrusciov  (N. S. Khơrútxốp) đã dẫn ra rằng: “Khi tôi từ Kiev lên Mátxcơva, Stalin mời tôi đến gặp ông ta, cho tôi xem bản sao những bức thư mới gửi trước đó không lâu cho Tito, Stalin hỏi tôi: “Anh đã đọc nó chưa?” và không cần đợi tôi trả lời, ông ta nói: “Hãy nhìn đây, tôi chỉ cần cử động ngón tay út, Tito sẽ biến mất…”. Chúng ta đã trả giá đắt cho những lần “cử động ngón tay út”. Tuyên bố này phản ánh quan điểm của Stalin, nhưng cũng là cách hành động của ông ta: cử động ngón tay út và Kosiar biến mất; cử động ngón tay út lần nữa, Postisev  và Ciubar đã không còn; lại một lần nửa cử động ngón tay út, Voznesenski, Kuznetov và nhiều người nữa đã không còn. Nhưng với Tito thì cách làm đó đã không có kết quả. Dù Stalin có cử động ngón tay út như thế nào đi chăng nữa, và cử động với tất cả sức lực ông ta có, song Tito không biến mất. Tại sao vậy? Bởi vì, trong cuộc tranh đấu với các đồng chí Nam Tư, Tito có ở đằng sau lưng Nhà nước, nhân dân đã từng trải qua trường học của cuộc đấu tranh gian khổ vì tự do và độc lập của mình, nhân dân đã ủng hộ người lãnh đạo của mình” (Dẫn theo, Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 16 ).
(36) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 9.
(37) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 9.
(38) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(39) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15;
(40) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(41) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 10.
(42) Stelian Tănase, sách đã dẫn, tr. 15.
(43) Một điều đáng chú ý là trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, lực lượng kháng chiến cộng sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Nam Tư và lãnh tụ Iosip Broz Tito đã giành được những thắng lợi to lớn và quan trọng cuộc chiến tranh giải phóng chống lại ách chiếm đóng và thống trị của chủ nghĩa phát xít Đức và chư hầu, thiết lập được quyền kiểm soát 90% lãnh thổ thuộc không gian Nam Tư (ra đời năm 1918), thành lập bộ máy chính quyền trong khu vực giải phóng. Đảng Cộng sản Nam Tư giành được quyền lực mà không cần sự trợ giúp và bảo trợ của Liên Xô. Đây là “hiện tượng lạ” khác hẳn so với ở các nước Đông Âu khác, nơi thuộc khu vực ảnh hưởng của Liên Xô sau chiến tranh, Liên Xô có vai trò quyết định trong việc giúp đỡ các Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh loại bỏ các đảng phái chính trị truyền thống tư sản để nắm quyền lãnh đạo xã hội, hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trong những năm 1945 - 1948. Tuy Hồng quân Liên Xô có tham gia cùng giải phóng thủ đô Belgrad, song Nam Tư lại luôn cho rằng họ tự giải phóng đất nước và thủ đô của mình. Theo chúng tôi, chính sự giúp đỡ về vật chất và sự ủng hộ về tinh thần của các nước Đồng minh phương Tây (trước tiên là Anh) trong thời gian chiến tranh đã khiến cho Liên Xô mất đi lợi thế ảnh hưởng ở Nam Tư sau chiến tranh. Mặt khác, bản thân Tito cũng biết khai thác triệt để bối cảnh quốc tế (sự căng thẳng giữa Liên Xô và các đồng minh phương Tây sau chiến tranh) để tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc vào Liên Xô và sự thao túng của Stalin - người muốn áp đặt tham vọng là làm sao phải dựng lên và kiểm soát được các chính quyền cộng sản ở các nước Đông Âu.
(44) Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 10.
(45) Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Pháp Jean - Marie Le Breton, thì: “Tito luôn hành động vì Nam Tư, ông là người chống lại chủ nghĩa dân tộc Croat (mặc dù Tito là một người Croat), và ông cũng là người chống lại chủ nghĩa dân tộc Serbia ở Serbia” (Jean - Marie Le Breton, Ľ Europe centrale et orientale de 1917 à 1990, Collection “Fac histoire” publiée par Editions NATHAN, Paris, 1994,  được dịch sang tiếng Rumani có nhan đề Europa centrală şi orientală între 1917 şi 1990 (Trung Âu và Đông Âu giữa năm 1917 và 1990), NXB. Cavallioti, 1996, tr. 268).
(46) Trong cuốn hồi ký của mình xuất bản tại Belgrad – Ljublijana, năm 1980,  Edvard Kardelj - từng là trợ thủ đắc lực của Tito - đã nêu rõ những thiệt hại do việc Liên Xô bao vây, cô lập Nam Tư: tổng thiệt hại lên tới 429 triệu đô la Mỹ. Số này cộng với số tiền 1.408 triệu đô la Mỹ phát sinh trong việc Nam Tư buộc phải tăng chi tiêu quân sự trong giai đoạn 1948 - 1952 nhằm tăng cường phòng thủ đất nước, đối phó với khả năng xảy ra cuộc tấn công từ Liên Xô và các nước đồng minh. Trong giai đoạn 1 tháng 7 năm 1948 - 1 tháng 9 năm 1949, đã xảy ra 219 vụ xung đột quân sự tại đường biên giới của Nam Tư tiếp giáp với Anbani, Bungari, Rumani và Hunggari (số liệu này Edvard Kardelj cũng đã đưa ra trong bài phát biểu tại phiên họp của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1949) [Dẫn theo, Vasile Şandru, sách đã dẫn, tr. 18].
(47) Từ năm 1949, Nam Tư đã từ bỏ nền kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp theo kiểu Xô viết, tiến hành cải cách kinh tế theo hướng tự do, tuân thủ theo cơ chế thị trường. Do nhu cầu cải thiện nền kinh tế (sau khi Nam Tư bị mất đi thị trường khối XHCN), đồng thời thể theo nguyện vọng của nông dân, Tito đã cho phép nông dân giành lại quyền sở hữu những diện tích đất mà họ đã đưa vào các nông trang tập thể. Trong tổng số 2,6 triệu ha đất của các nông trang tập thể, có đến 2 triệu ha đã được trả lại cho nông dân; trong tổng số 7000 tổ sản xuất tập thể chỉ còn tồn tại dưới 1000 (hoạt động nhờ sự bao cấp và trợ giúp của nhà nước). Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, Nam Tư đẩy mạnh quan hệ với các nước phương Tây (nhận được sự trợ giúp của các nước tư bản về vốn, trang thiết bị kĩ thuật, thị trường tiêu thụ hàng hóa). Nhà nước chỉ nắm quyền kiểm soát trong các lĩnh vực then chốt, giao quyền tự chủ cho công nhân trong quản lý nhà máy, thực hiện chế độ tự hạch toán kinh tế. Tuy Đảng Cộng sản vẫn nắm độc quyền lãnh đạo, song một số hình thức dân chủ trong quản lý kinh tế và đời sống chính trị đã được áp dụng. Đường lối phát triển kinh tế trên khác biệt rất lớn so với mô hình kinh tế của Liên Xô và các nước XHCN khác vào cùng thời điểm [Dẫn theo, Gheorghe Zbuchea, sách đã dẫn, tr. 10 - 11].
(48) Jean - Marie Le Breton, sách đã dẫn, tr. 272 - 273.


Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cập nhật lúc 15:50, Chủ Nhật, 22/05/2011 (GMT+7) Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước 1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế… Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước. Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920. Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920. Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”. Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh …nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ. 2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng. Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL 3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cập nhật lúc 15:50, Chủ Nhật, 22/05/2011 (GMT+7)
Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước
 
1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…

Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.
Nguyễn Ái Quốc ở Pháp năm 1920.
Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh …nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.
 
Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL
Con tàu La Towche Treville chở Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: TL

3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.
 
 
Những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc (tiếp theo)

Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.
 
Khách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TL
Khách sạn trung tâm Max-cơ-va, nơi Nguyễn Ái Quốc ở trong những ngày sang Liên Xô (1923 – 1924). Ánh: TL

Sống hòa mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin... Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người - từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

Ý nghĩa lịch sử to lớn:

- Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

- Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.
 
 
 
IV. Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản thế giới.

1. Hồ Chí Minh - nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế: Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hoà mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người - với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác - Lênin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.
 
Cuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TL
Cuốn sách “Đường Kachs mệnh” của Nguyễn Ái Quốc. Ảnh: TL

2. Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác - Lênin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủỷ viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập đảng cộng sản ở Việt Nam.

3. Sức lan toả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lênin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Các Mác, Ăngghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lênin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân - giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân - cùng với công nông là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù đã dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hoá, nhân văn.
 
 
 
Tiếp tục triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
1. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…
 
Những văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài. Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TL
Những văn bản do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo trong thời gian hoạt động ở nước ngoài. Cuốn sách “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Bản án yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Véc xây đòi các quyền tự do, độc lập cho các dân tộc thuộc địa” (1919), Báo Le Paria. Ảnh: TL


3. Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp uỷ, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

4. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam... Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 100 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 121 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.


TS (Theo tài liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương)

 

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN PHƯƠNG TÂY VÀ PHƯƠNG ĐÔNG



NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
PHƯƠNG TÂY VÀ PHƯƠNG ĐÔNG[*]
                                                                    Võ Minh Tập
Về quá trình chuyển biến sang chế độ phong kiến.
Sự hình thành chế độ phong kiến, nhà nước phong kiến là cả một quá trình và có hai con đường:
+ Một là, có những nước là chế độ chiếm hữu nô lệ và trong lòng nó ở thời kì cuối đã có mầm mống quan hệ phong kiến, dần dần chuyển sang chế độ phong kiến, nhà nước chiếm hữu nô lệ chuyển sang nhà nước của giai cấp phong kiến như ở đế quốc Đông La Mã (By-giăng-xơ), Trung Quốc, Ấn Độ…
+ Hai là, những nước từ chế độc công xã nguyên thủy đang tan rã, bỏ qua chế độ chiếm hữu nô lệ tiến thẳng lên chế độ phong kiến và thiết lập nhà nước phong kiến. Bước nhảy vọt như vậy, trước hết là do yếu tố nội sinh bên trong (Sự phát triển của lực lượng sản xuất và kinh tế, mầm mống của giai cấp và nhà nước). Nhưng một yếu tố khác rất quan trọng là sự tiếp thu ảnh hưởng của chế độ phong kiến của các nước khác như các quốc gia Đông Âu, Triều Tiên, Việt Nam…Trong đó, những cuộc chiến tranh chinh phục giúp cho việc tiếp thu ảnh hưởng ấy một cách nhanh chóng như trường hợp bộ tộc người Giéc man chinh phục đế quốc Tây La Mã, Mông Cổ chinh phục Trung Quốc…
Giữa châu Á và châu Âu, sự hình thành chế độ phong kiến và nhà nước phong kiến có những điểm khác nhau rõ rệt:
Về thời gian.
Chế độ phong kiến hình thành sớm và tan rã muộn hơn phương Tây.
Ở châu Á, chế độ phong kiến hình thành sớm nhất ở Trung Quốc (thế kỉ III TCN). Ở châu Âu, nó được hình thành sớm nhất là thế kỉ V sau công nguyên (Ở Tây Âu). Tuy nhiên trong từng khu vực cũng có những nhà nước phong kiến ra đời muộn như Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kì, Lào… (thế kỉ XII), như ở Đông Âu (thế kỉ VII-X).
Về không gian.
Ở châu Âu, chính thể phong kiến ra đời trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ đã từng phát triển đến đỉnh cao, quan hệ nô lệ mang tính chất điển hình. Còn ở châu Á, chế độ phong kiến ra đời trên cơ sở chế độ nô lệ phát triển không đầy đủ, quan hệ nô lệ mang tính chất gia trưởng.
Ở Phương đông chế độ phong kiến ra đời sớm là do yêu cầu làm thủy lợi phục vụ nông nghiệp, đoàn kết chông ngoại xâm nên đã hình thành những quốc gia lớn. Còn ở phương Tây, do công cuộc chinh phục của bộ tộc Giéc man đã thúc đẩy quá trình phong kiến hóa, hình thành những thế lực lãnh chúa cát cứ.
Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn tới quán trình phát triển của chế độ phong kiến và nhà nước phong kiến.
Về cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước phong kiến.
Trong chế độ phong kiến có hai giai cấp cơ bản là địa chủ (ở châu Âu gọi là Lãnh chúa hoặc chúa đất) và nông dân (ở châu Âu là nông nô), có phương thức bóc lột đặc trưng là địa tô. Ngoài ra còn có tầng lớp thợ thủ công, tầng lớp thị dân.
Nhưng cũng tương tự như thời cổ đại, cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước phong kiến châu Á và châu Âu có một số điểm rất khác nhau:
Thứ nhất, ruộng đất là tư liệu sản xuất chính trong chế độ phong kiến.
Ở châu Âu, chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển triệt để từ thời cổ đại. Trong thời phong kiến, chế độ tư hữu ruộng đất không những vẫn như vậy, mà còn phát triển thành tư hữu rất lớn (các lãnh chúa). Hầu hết nông dân mất hết ruộng đất và trở thành nông nô.
Ở châu Á, chế độ ruộng đất không thuần nhất như ở châu Âu. Hiện tượng phổ biến về ruộng đất của chế độ phong kiến tồn tại quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước (của vua), đồng thời đối với ruộng đất tư nhân, vua cũng có quyền sở hữu tối cao. Tư hữu ruộng đất (hầu hết là của địa chủ, một phần nhỏ của nông dân) phát triển chậm.
Tóm lại, trong khi ở châu Âu, ruộng đất hoàn toàn thuộc sở hữu tư nhân (lãnh chúa) thì ở châu Á tồn tại song song sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân (chủ yếu là địa chủ phong kiến). Có thể nói, đặc điểm về chế độ sỡ hữu ruộng đất luôn luôn là chìa khóa để đi vào tìm hiểu những đặc điểm khác.
Thứ hai, về định tính và định hình giai cấp. Địa chủ phong kiến là những người có nhiều ruộng đất riêng của mình và bóc lột bằng địa tô.
Lãnh chúa phong kiến ở châu Âu là chủ sở hữu ruộng đất lớn, nguồn lợi thu hầu hết bằng địa tô. Vì vậy, hình ảnh của vị địa chủ phong kiến phương Tây rất nổi, hay nói cách khác, định tính và định hình của giai cấp địa chủ phong kiến ở phương Tây rất rõ ràng và đậm nét. Nông nô phương Tây hoàn toàn không có ruộng đất, phải hoàn toàn lĩnh canh ruộn đất của lãnh chúa và nộp địa tô cho chủ. Người nông nô đúng 100% là người tá điền, hoàn toàn lệ thuộc vào chủ.
Ở phương Đông, ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, một phần được phân phong cho quý tộc quan lại (thường ruộng đất loại này, người được phong không có quyền mua bán), một phần được cấp cho nông dân theo định kì cày cấy để nhà nước thu thuế, như chế độ quân điền ở Trung Quốc, Việt Nam, chế độ ban điền ở Nhật Bản…từ đó có hai hệ quả:
+ Địa chủ phong kiến không chỉ bóc lột bằng địa tô từ số ruộng đất tư của mình, mà còn bóc lột bằng thuế được hưởng từ ruộng đất được phân phong.
+ Người nông dân tuy phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ và nộp tô, nhưng cũng nhận được một phần ruộng đất của nhà nước và phải nộp thuế. Một số ít nông dân còn có ruộng đất riêng để cày cấy. Chính vì vậy, người nông dân phương Đông còn có quyền tự do thân thể hơn người nông nô phương Tây-người hoàn toàn bị lệ thuộc vào lãnh chúa.
Như vậy, định tính và định hình của giai cấp ở phương Đông không sắc nét như ở phương Tây.
Thứ ba, trong khi châu Âu cho đến thế kỉ XIV, văn hóa, giáo dục vẫn bị giáo hội lũng đoạn kìm hãm, cả xã hội sống trong vòng lạc hậu, tối tăm, thì ở phương Đông, Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập là những trung tâm văn minh lớn của thế giới, với những thành tựu to lớn về văn học, triết học, nghệ thuật, khoa học tự nhiên…với những phát minh quan trọng của Trung Quốc (Giấy, in, thuốc súng, la bàn). Khác hẵn với phương Tây, tập đoàn vua chú phong kiến ở phương Đông thường là những nhà tri thức lớn trong xã hội. Trường hợp vua không biết chữ học ít học thức chỉ là cá biệt.
Trong dân gian cũng có không ít người có học thức. Từ rất sớm phong cách văn minh, lịch sử, tao nhã đã trở thành nếp sống bình thường của người người phương Đông. Chính người phương Tây đã học tập nếp sống văn minh đó từ những cuộc viễn chinh sang phương Đông  của thập tự chinh cuối thế kỉ XI-XIII.
Về tư tưởng,  nhìn chung cả phương Đông và phương Tây đều lấy tôn giáo làm  cơ sở lý luận cho chế độ thống trị. Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt rõ rệt:
Ở Phương Đông, chế độ quân chủ chuyên chế rất mạnh và có nhiều tôn giáo trong cùng một nước. Các tôn giáo đều không có tổ chức giáo hội mang tính quốc tế. Mặc dù vậy nhưng gần như suốt trong quá trình tồn tại của chế độ phong kiến, nhà nước luôn sử dụng những giáo lý của tôn giáo để xây dựng và cũng cố một nhà nước quân chủ chuyên chế và bành trướng xâm lược ra bên ngoài như Nho giáo (Trung Quốc), Hồi giáo (Ấn Độ),…
Ở phương Tây, Đạo cơ đốc-Thiên chúa giáo ra đời đầu công nguyên, nhưng sang thời phong kiến, Thiên chúa giáo đã trở thành một thế lực rất mạnh, là chỗ dựa vững chắc cho vương quyền phong kiến phương Tây, giáo lý-hệ tư tưởng của nó mà Tòa án giáo hội thật sự là công cụ tinh thần của tập đoàn phong kiến thế tục và nhà thờ để thống trị quần chúng, mặc khác, giáo hội Thiên chúa luôn luôn tìm cách can thiệp, chi phối chính quyền phong kiến để cũng cố địa vị và quyền lợi của giáo hội. Có thể nói, ở phương Tây, sự kết hợp giữa thần quyền và vương quyền đã tạo nên sức mạnh không phải là ở cấp số cộng mà là cấp số nhân của các thế lực áp bức và bóc lột trong xã hội.
Như vậy, Ở phương Đông nhìn chung tôn giáo chỉ là lực lượng hổ trợ cho giai cấp thống trị, chứ không trở thành lực lượng chi phối, can thiệp công khai, chặt chẽ được chính quyền nhà nước phong kiến rõ nét như ở phương Tây.
Nhìn chung, kinh tế tự cung tự cấp giữa vai trò chủ yếu trong chế độ phong kiến. Nhưng đến cuối thời kì phong kiến ở phương Tây kinh tế tư bản chủ nghĩa nảy sinh và phát triển, đưa phương Tây vượt lên hẳn phương Đông. Các nước phương Đông (trừ Nhật Bản) dần dần trở thành thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây.
Về hình thức và chức năng của nhà nước.
Ở phương Tây, hình thức kết cấu của nhà nước phổ biến và bao trùm là phân quyền cát cứ với những biểu hiện và được quyết định bởi những nguyên nhân khác nhau. Có thể kể hai nguyên nhân chính sau đây:
+ Nguồn gốc xâu xa là đế quốc Frang  được dựng lên do kết quả của những cuộc chiến tranh xâm lược và được duy trì bằng bạo lực, không có cơ sở kinh tế, chỉ là một liên hiếp tạm thời không vững chắc. Trong phạm vi Tây Âu và trong phạm vi từng nước, các cộng đồng dân cư ở vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau. Do đó đều có khuynh hướng phát triển riêng, muốn tách ra khoie ràng buộc của chính quyền trung ương.
+ Nguyên nhân cơ bản, có tính quyết định là yếu tố kinh tế. Trong đó, trước hết phải nói đến chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất. Đó là sở hữu tư nhân rất lớn của phong kiến được hình thành (chế độ phân phong, thừa kế, bảo hộ ruộng đất…).
Hình thức chính thể quân chủ chuyên chế chỉ xuất hiện ở thời kì cuối-thời kì suy vong của chế độ phong kiến và chỉ ở một số nước như Pháp, Anh, Tây Ban Nha…còn ở một số nước như Đức, Ý, tình trạng cát cứ phong kiến tồn tại suốt cả chế độ phong kiến. Tính chuyên chế  không cao như ở phương Đông. Ngoài ra còn có hình thức chính quyền tự trị thành phố là chính quyền cục bộ, tồn tại trong những khoảng thời gian không lâu. Nó là chính quyền cộng hòa phong kiến, nằm trong phạm trù nhà nước phong kiến.
Ở phương Đông, hình thức, kết cấu của nhà nước phong kiến là trung ương tập quyền, phát triển thành hình thức chính thể quân chủ chuyên chế và mang tính chuyên chế cực đoan. Chính thể này tồn tại trong suốt thời kì chế độ phong kiến. Trong chính thể đó, vua có uy quyền tuyệt đối, là đấng tối cao vô thượng và được thần thánh hóa là thiên tử (con trời), thiên hoàng (vua nhà trời)…Chính thể quân chủ chuyên chế phương Đông hình thành và phát triển do những yếu tố sau:
+ Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhà vua và sự tồn tại của các công xã nông thôn.
+ Do đòi hỏi của cuộc xâm lược bành trướng hoặc trong công cuộc chống chinh phục.
+ Do tập quán chính trị và tâm lý chính trị truyền thống. Nhà nước quân chủ chuyên chế phong kiến là sự kế thừa và phát triển chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô.
+ Do truyền thống kết hợp chặc chẽ giữa vương quyền và thần quyền.
Cũng như trong thời kì chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến ở phương Đông còn có một chức năng đặc biệt và rất quan trọng, chức năng tổ chức công cuộc trị thủy và thủy lợi.
Dù phương Đông và phương Tây có những điểm khác nhau, nhưng bản chất của nhà nước phong kiến dù ở đâu cũng chỉ là một. Nhà nước phong kiến là công cụ của giai cấp phong kiến để đàn áp, bóc lột nhân dân lao động, bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị.
Tài liệu tham khảo
1. Lương Ninh (cb, 2003), Lịch sử thế giới trung đại, Nxb.GD.
2. Chiêm Tế (1977), Lịch sử thế giới trung đại, tập 1-2, Nxb.GD.
3. Cao Liên (2003), Phát thảo lịch sử thế giới, Nxb.Thanh niên.
4. Vũ Dương Ninh (cb, 2005), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb.GD.
5. Vũ Dương Ninh (cb, 2000), Một số chuyên đề Lịch sử thế giới, Tập 1, Nxb.ĐHQG, H.
6. Phạm Điềm, Vũ Thị Nga (cb, 2007), Giáo trình Lịch sử nhà nước và Pháp luật thế giới, Nxb. CAND, HN.