Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Các vương quốc Ấn Độ đầu tiên trên đất Việt và vùng Đông Nam Á.


Các vương quốc Ấn Độ đầu tiên trên đất Việt và vùng Đông Nam Á.

đăng 01:59 15-12-2010 bởi Trần Ngô Du
Lời người dịch: Dưới đây là bản dịch Chương 3 của tác phẩm nhan đề The Indianized States of Southeast Asia của G. Coedès, một tác phẩm được xem như "kinh điển" bắt buộc phải học tại các đại học ngoại quốc, cho việc học hỏi và nghiên cứu về lịch sử ban sơ của vùng Đông Nam Á.

Chương này trình bày về sự thành lập của các quốc gia thời cổ trên đất Việt như Phù Nam, Lâm Ấp (tức Chàm hay Chiêm Thành sau này) nhưng lại chưa đề cập đến Chân Lạp ( tức một phần Căm Bốt sau này).
Các vương quốc đầu tiên trên đất Việt này đều chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ nên các dịa danh và nhân danh bằng tiếng Phạn (Sanskrit) hay tiếng Pali của Ấn Độ đều đã đuợc phiên âm và ký tự sang Hán ngữ trong các văn bản tham chiếu của Trung Hoa. Vì trong nguyên bản không có mặt chữ của Hán tự để tra cứu và đối chiếu mà chỉ có phần ký âm nên trừ rất ít trường hợp gặp từ ngữ thông dụng và không có gì phải nghi ngờ, người dịch giữ nguyên các địa danh hay nhân danh như đã ký âm trong nguyên bản.


CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN
Từ Khởi Thủy Cho Đến Giữa Thế Kỷ Thứ Tư

Các yếu tố khác nhau được phân tích ở chương trước đã dẫn đến sự tạo lập các quốc gia Ấn Độ nhỏ được cai trị bởi các lãnh tụ mang tên bằng tiếng Phạn (Sanskrit) (*a). Các quốc gia này bắt đầu xuất hiện vào đầu của thế kỷ thứ ba sau Dương Lịch, do đó xác nhận các dữ liệu trong các danh biểu địa dư của Ptolemy (1) (*b).

Các quốc gia này chỉ để lại một ít vết tích khảo cổ học hay văn bia từ thời kỳ trước thế kỷ thứ năm. Chúng ta biết rất ít về phần lớn các vương quốc đó trước nhật kỳ nêu trên ngoại trừ các quốc hiệu được đề cập tới bởi Ptolemy, bởi Nghĩa Thích Kinh Niddesa (*c) và quan trọng hơn hết, bởi các sử ký biên niên của các triều đại Trung Hoa ghi chép một cách kỹ lưỡng các sứ đoàn ngoại giao đến từ vùng biển Nam Hải. Vị trí của phần lớn các quốc gia này không chắc chắn hay chỉ được phỏng chừng.

Vương quốc nhỏ nhất của các xứ sở này thường sẽ lọt vào quỹ đạo của các vương quốc hùng mạnh nhất -- những vương quốc nhất thiết có một tương lai tươi sáng mà lịch sử của chúng có thể được phác họa lại từ các văn bản và văn bia của Trung Hoa.

1. KHỞI THỦY CỦA PHÙ NAM (THẾ KỶ THỨ NHẤT SAU DƯƠNG LỊCH):

Vương quốc quan trọng nhất trong những vương quốc này hiển nhiên là quốc gia mà Trung Hoa gọi là Phù Nam (Funan). Danh xưng này là sự phát âm theo Quan Thoại hiện nay của hai từ đã từng được đọc là b’iu-nâm (2), vốn là ký tự của chữ Khmer cổ bnam, có cách viết hiện đại là phnom, “núi đồi”. Các vị vua của xứ sở này bao gồm trong vương hiệu của họ thành ngữ “vua núi” (king of the mountain) –trong Phạn ngữ (Sanskrit) là parvatabhupala hay sailaraja, trong tiếng Khmer là kurung bnam (3). Người Trung Hoa đã đi đến việc chỉ danh xứ sở bằng vương hiệu này.

Trung tâm của xứ sở tọa lac tại vùng hạ lưu và đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lãnh địa của nó vào thời cực thịnh bao gồm cả miền nam Việt Nam, miền trung sông Cửu Long, và phần lớn Thung lũng sông Menam cùng bán đảo Mã Lai. Thủ đô trong một thời kỳ là Vyadhapura, “thành phố của những người săn bắn” (the city of hunters) (4) – trong Hán ngữ là T’e mu, có thể là ký tự của một từ ngữ trong tiếng Khmer (dmâk, dalmâk) có cùng một ý nghĩa (5). Thành phố tọa lạc ở vùng lân cận ngọn đồi Ba Phnom và làng Banam, hai địa điểm trong tỉnh Prei Veng của Căm Bốt mà trong danh xưng của chúng, được lưu truyền mãi đến thời đại chúng ta để ghi nhớ địa danh cổ xưa này. Theo Sử Ký nhà Lương (History of the Liang) (6) thủ đô này nằm cách bờ biển 500 lí (dặm) (200 km). Khoảng cách này gần tương đương với khoảng cách từ Ba Phnom với địa điểm Óc Eo (7), nơi tọa lạc nếu không phải là một hải cảng chính cống thì ít nhất cũng là một thị trường có các thương nhân ngoại quốc đến cư ngụ.

Những tin tức đầu tiên về Phù Nam đến từ một bản tường trình do phái bộ của các sứ giả Trung Hoa K’ang T’ai và Chu Ying là những kẻ đã đến thăm viếng xứ sở này vào giữa thế kỷ thứ ba (8) viết. Bản gốc của sự tường thuật của họ đã thất lạc, nhưng vẫn còn lại các đoạn trích dẫn nằm rải rác trong các biên niên sử và trong nhiều bộ toàn thư. Những tài liệu này cùng với một bản văn bia bằng tiếng Phạn hồi thế kỷ thứ ba đã tạo thành tư liệu căn bản tìm hiểu về hai thế kỷ đầu tiên trong lịch sử của vương quốc này.

Theo K’ang T’ai, nhà vua đầu tiên của Phù Nam là một kẻ nào đó tên là Hun-t’ien, tức là Kaundinya, đến hoặc từ India hay từ Bán Đảo Mã Lai hay các hòn đảo ở phương nam (9). Vị vua này đã nằm mơ thấy vị thần bổn mạng trao một nỏ thần cho ông ta và chỉ thị ông leo lên một thương thuyền lớn ra đi trong buổi sáng để tiến đến một ngôi đền, nơi mà ông ta tìm thấy một cái nỏ dưới gốc cây của vị thần. Rồi thì ông ta đã bước lên một chiếc thuyền mà vị thần đã cho cập bến vào Phù Nam. Vị hoàng hậu của xứ này, Liu-ye, “Willow Leaf: Liễu Diệp (?)”, muốn cướp đoạt chiếc thuyền và cầm giữ nó, vì thế Hun-t’ien đã bắn một mũi tên từ nỏ thần của mình xuyên qua chiếc thuyền của Liu-ye. Qúa sợ hãi, hoàng hậu bèn đầu hàng và Hun-t’ien đã lấy bà ta làm vợ. Nhưng, không hài lòng khi thấy bà ta trần truồng, ông đã dùng một mảnh vải gấp lại làm thành quần áo mà ông đã bắt bà ấy mặc chui qua đầu. Sau đó ông cai trị đất nước và truyền ngôi lại cho các hậu duệ của mình.

Đây là dịch bản của Trung Hoa về các nguyên ủy vương triều xứ Phù Nam. Bản dịch này rõ rệt là một bản dịch sai lệch từ một chuyện thần thoại của Ấn Đô, được kể lại một cách trung thực hơn bởi một văn bia bằng Phạn Ngữ của xứ Chàm (10). Theo bản dịch này, vị tăng lữ Kaundinya, nhận được một cây giáo (lao) dài từ vị tăng lữ Asvatthaman, con của Drona, đã phóng lao đi để đánh dấu địa điểm của kinh đô tương lai của mình, sau đó đã cưới một công chúa con của vi vua Nagas [vua Rắn trong truyền thuyết của Ấn Độ?, chú của người dịch] tên là Soma, người đã sản sinh ra một giòng dõi hoàng tộc (11) . Sự phối hôn huyền bí này -- vốn vẫn còn được truy niệm tại triều đình Angkor vào cuối thế kỷ thứ mười ba trong một nghi lễ được nhắc tới bởi vị sứ giả Trung Hoa tên Chou Ta-kuan (Châu Đạt Quan) (12), và các biên niên sử hiện đại của Căm Bốt vẫn còn lưu giữ truyền ức này (13) -- thì giống hệt với câu chuyện mà các vị vua Pallava của vùng Kanchi, miền Nam Ấn Độ, xác nhận mình là hậu duệ (14). Tuy nhiên, đã có những ý kiến khác nhau về nguồn gốc mơ hồ của chủ đề thần thọai này (15).

Trong bất kỳ trường hợp nào, các biến cố lịch sử bó buộc phải phù hợp với bố cục này đã không thể nào xảy ra sau thế kỷ thứ nhất theo Dương lịch, bởi ngay từ lúc khởi đầu của thế kỷ thứ nhì kế đó chúng ta tìm thấy các nhân vật lịch sử Phù Nam với sự xuất hiện được ghi nhận bởi văn bia và các sử gia Trung Hoa.

Theo Sử Ký nhà Lương (History of the Liang), một trong những hậu duệ của Hun-t’ien, tên là Hun-p’an-huang trong Hán ngữ đã hơn chín mươi tuổi vào lúc từ trần. Ông này được kế vị bởi “con trai thứ nhì của mình tên P’an-p’an, là kẻ đã giao thác việc trông coi sự cai trị của mình cho vị tướng quân tài giỏi là Fan Man,” (16) vốn có tên đầy đủ là Fan Shi-man, theo Sử Ký của nhà Ch’i phương Nam (History of the Southern Ch’i). (17)” Sau ba năm trị vì, P’an-p’an băng hà. Toàn thể thần dân của vương quốc đã tuyển chọn [Fan Man] làm vua. Ông ta là một người can đảm và có khả năng. Một lần nữa, với đội quân hùng mạnh của mình, ông ta đã tấn công và khuất phục các vương quốc láng giềng; và tất cả các vương quốc này đều trở thành nước thần phục ông ta. Ông tự đặt vương hiệu của mình là Đại Quốc Vương của Phù Nam. Sau đó ông ra lệnh đóng chiếc thuyền lớn, và lái thuyền trên khắp vùng biển mênh mông ông đã tấn công hơn mười vương quốc, trong đó bao gồm cả Ch’u-tu-k’un, Chiu-chihm và Tien-sun. Ông đã mở rộng lãnh thổ của mình đến năm hay sáu nghìn lý ( li: dặm)” (18)

2. CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ TẠI BÁN ĐẢO MÃ LAI TRONG THẾ KỶ THỨ NHẤT KỶ NGUYÊN THIÊN CHÚA
Rolf Stein đã tin rằng trong văn bản trên Ch’u-tu-k’un phải được đọc là Ch’u-tu, Tu-k’un, vân vân, và rằng Ch’u-tu phải được xác định là Ch’u-tu-ch’ien (hay –kan), là xứ mà ông tin là tương ứng với xứ Kattigara của Ptolemy (19). Xứ sở này, được tạo lập bởi các di dân từ vùng Chu-wu (bắc Quảng Trị, giữa Cửa Tùng và Cửa Việt), phải được truy tìm tại vùng Cochin-china, nơi mà những cuộc nghiên cứu gần nhất cũng có khuynh hướng xác định địa điểm của Kattigara (20). Nhưng có lẽ phải tách rời Ch’u-tu-k’un với Ch’u-tu-ch’ien.(21)
Tien-sun chắc chắn là đồng nhất với Tun-sun, xứ mà một bản văn thời thế kỷ thứ năm- đến thế kỷ thứ sáu mô tả như là một xứ lệ thuộc của Phù Nam (22). Chúng ta có thể chấm định xứ này với một vài xác xuất trên vùng Bán Đảo Mã Lai và một cách khá chính xác hơn trên hai bờ biển của eo đất Kra (23); các dữ liệu rải rác có được về các xứ sở khác cũng chỉ hướng về cùng chiều hướng này (24). Các cuộc chinh phục của Fan Shih-man khi đó môt phần sẽ phải xảy ra trên vùng bán đảo, nơi mà một số văn bản khác của Trung Hoa đã tiết lộ sự hiện hữu của nhiều tiểu vương quốc Ấn Độ hóa ở một thời kỳ rất sớm.
Một trong những nước cổ xưa nhất này có vẻ là nước Lang-ya-hsiu, mà sự thành lập đã được Sử Ký nhà Lương (502-556) ghi nhận vào khoảng “hơn 400 năm trước đó.” (25) Vương quốc này, sẽ tái xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ bẩy dưới các tên Lang-chia-shu, Lang-ya-ssu-chia, vân vân, chính là vương quốc Langkasuka trong các biên niên ký của Mã Lai và đảo Java (26); danh xưng của nó tồn tại trong địa dư hiện đại dưới tên của một chi lưu chảy vào nhánh thượng nguồn của giòng sông Perak River (27). Xứ này phải nằm dọc theo hai bên sườn của bán đảo và có sự tiếp cận cùng một lúc với Vịnh Thái Lan nơi miền Pattani (28) và với Vịnh Bengal, phía bắc Kedah, nhờ thế kiểm soát được một trong những con đường chuyển vận trên đất liền như đã thảo luận trong chương trước đây.
Tambralinga, nằm bên bờ biển phía đông của Bán Đảo Mã Lai giữa Chaiya ở hướng bắc và Pattani ở hướng nam, có trung tâm tại vùng Ligor (29), nơi có một văn bia bằng tiếng Phạn có nhật kỳ từ thế kỷ thứ sáu hay sau đó (30). Trong kinh Phật Giáo bằng tiếng Pali (*d) (Niddesa; Nghĩa Thích Kinh) đã đề cập đến vùng đất này bằng danh từ “Tambalingam” (31), điều này chứng tỏ rằng vương quốc đó đã hiện hữu vào khoảng thế kỷ thứ nhì.
Trường hợp tương tự cũng xảy ra với Takkola (32), được trích dẫn trong một văn bản Phật Giáo khác, với tên Milindapanha; Nhìn chung người ta cho rằng thị trấn này tọa lạc tại Takuapa nằm bên bờ biển phía tây của eo đất Kra hay có thể xa hơn về phía nam (33). Về hải cảng mà địa danh được ký tự sang Hán ngữ là T’ou-chu-li và đôi khi được đồng nhất hóa với Takkola thì, Paul Wheatley (34) đã cho thấy danh từ này trong thực tế là Chu-li và rằng nó tương đương với địa danh Koli của Ptolemy, có lẽ ở vùng cửa sông Kuantan. Chính từ địa điểm này mà sứ đoàn được Phù Nam phái đi sang Ấn Độ hồi thế kỷ thứ ba đã bước xuống tàu.
Nếu chúng ta không kể đến các ngôi mộ bằng đá tảng khổng lồ tại Perak và Pahang và những sự khám phá các ngọc trai Ấn Độ và “La Mã” tại Kota Tingi vùng Johore (35), vốn thuộc vào lãnh vực lịch sử nguyên thủy (proto-history), chính là từ vùng Kedah và vùng Perak mà các di tích khảo cổ và văn bia cổ xưa nhất của Bán Đảo Mã Lai đã được phát hiện.
Những sự khám phá đó tại Kedah thuộc về nhiều thời kỳ khác nhau. Chúng chứng thực tính cổ xưa của địa điểm này, mà chúng ta sẽ lại đựoc nghe thấy sau này dưới tên trong Phạn ngữ là Kataha và trong tên bằng Hán ngữ là Chieh-ch’a. Nhưng, như các văn bia và các khám phá khảo cổ khác (36), chúng cũng không có nhật kỳ lùi xa như của Ptolemy, của Nghĩa Thích Kinh Niddesa, hay các văn bản của Trung Hoa, tức, lùi xa mãi đến tận thời kỳ có các cuộc chinh phục của Phù Nam trên vùng bán đảo. (37)

3. PHÙ NAM (THẾ KỶ THỨ NHÌ ĐẾN THẾ KỶ THỨ BA):
Thật khó để xác định chính xác phạm vi của các cuộc chinh phục của Fan-Shih-man. Có lý do tốt để xem tên gọi của ông ta như là tiếng phiên dịch từ tên của nhà vua Sri Mara vốn được đề cập đến trong bia đá khắc chữ Phạn đầy cổ kính tại Võ Cạnh (trong vùng Nha Trang) (38). Văn bia này từ lâu được nghĩ là của người Chàm (39), nhưng vào năm 1727 Louis Finot đã gán nó cho một vương quốc chư hầu của Phù Nam (40). Nếu lý lịch của Sri Mara (41) đồng nhất với Fan Shih-man là chính xác, bia ký -- vốn phát sinh từ một hậu duệ của Sri Mara là người đã trị vì, theo phán đóan từ bản bia ký, trong thế kỷ thứ ba -- phải được xem là một trong những nguồn tư liệu về lịch sử của Phù Nam. Điều hiển nhiên từ bia ký này là vào thời điểm tấm bia đuợc khắc và tại vùng mà bia được dựng (tức vùng Khánh Hòa ngày nay), Phạn ngữ đã là ngôn ngữ chính thức của vương triều.
Các văn bản Trung Hoa đã dẫn cho chúng ta biết rằng nhà chinh phục vĩ đại Fan Shih-man đã chết trên đường viễn chinh chống lại xứ Chin-lin, hay Biên Cương Vàng (Frontier of Gold), là địa danh, mà chúng ta có lý do để tin tưởng, tương đương hoặc với Suvannabhumi, xứ Đất Vàng (the Land of Gold) trong các văn bản tiếng Pali (Ba Lị), hay với từ Suvarnakudya, Bức Tường Vàng (the Wall of Gold) trong các văn bản tiếng Phạn (vùng Hạ Miến (Lower Burma) hay Bán Đảo Mã Lai) (42). Một người cháu trai của Fan Shih-man, tên Fan Chan, hạ sát người kế ngôi chính thống, Chin-cheng, và chiếm đoạt quyền hành. Nhưng khoảng hai mươi năm sau, Fan Chan bị ám sát bỏi một người con trai của Fan Shih-man tên là Ch’ang. Sự trả thù này không phải là không có hậu quả, bởi đến lượt Ch’ang đã bị hạ sát bởi một viên tướng tên là Fan Hsun, kẻ đã tự xưng lên ngôi vua.
Những biến cố này đã xảy ra vào khoảng giữa năm 225 và năm 250 (43), và trong thời khoảng giữa hai năm này, dưới thời trị vì của Fan Chan, Phù Nam đã tiến tới sự quan hệ với triều đại Ấn Độ tại Murundas và đã gửi sứ đoàn đầu tiên đến Trung Hoa. Tôi có nhấn mạnh ở đâu đó (44) rằng tầm quan trọng của “biến cố này, vốn có liên hệ đến các sự quan tâm về thương mại nhiều hơn về các tham vọng chính trị, mang lại một tầm quan trọng nào đó cho thời trị vì của vị vua này. Trong thời này, tức thời Tam Quốc, miền nam nước Trung Hoa (nước Ngô) nhận thấy rằng nó không thể sử dụng đường bộ bị kiểm sóat bởi nước Ngụy để giao thương với phương Tây, đã tìm cách thụ đắc bằng đường biển các xa xỉ phẩm mà nó mong muốn (45). Bấy giờ Phù Nam chiếm ngụ một vị trí ưu việt trên lộ trình hải thương và tất yếu trở thành một trạm giữa đường cho các thủy thủ đi qua Eo Biển Malacca cũng như cho các thủy thủ, nhiều hơn gấp bội, đi ngang qua các eo đất của Bán Đảo Mã Lai. Có thể Phù Nam còn là trạm chót cho cho hải trình từ phía đông Địa Trung Hải, nếu quả thực Kattigara của Ptolemy nằm ở bờ biển phía tây của Cochin China.”
“Thời trị vì của Fan Chan thì quan trọng,” như Paul Pelliot viết (46); “chính kẻ tiếm ngôi này đã là người đầu tiên thiết lập các quan hệ chính thức và trực tiếp với các ông hòang của Ấn Độ. Một văn bản của thế kỷ thứ năm cho biết rằng một nhân vật nào đó tên Chia-hsiang-li, bản dân của xứ mang tên T’an-yang, có vẻ tọa lạc tại miền tây Ấn Độ, đã đến Ấn Độ và từ đó [Ấn Độ ?, chú của người dịch] sang Phù Nam. Chính nhân vật này đã truyền dạy cho nhà vua Fan Chan những điều kỳ diệu mà quốc gia này có thể phô diễn cho du khách, nhưng cuộc du hành quá lâu; vừa đi và về có thể kéo dài ba năm và có thể đến bốn năm. Có phải là nhà vua Fan Chan đã bị quyến rũ bởi sự tường thuật của Chia-hsiang-li hay không? Ít nhất chúng ta biết được từ một ngồn tư liệu đáng tin rằng nhà vua có gửi một trong những thân nhân của ông tên là Su-wu đi trong một sứ đòan sang Ấn Độ. Nhân vật này lên tàu từ T’ou-chu-li, có lẽ là Takkola (47), cho thấy rằng ảnh hưởng của Phù Nam đã vươn xa tới tận vùng Ấn Độ Dương vào lúc đó. Sứ đòan đã đến cửa sông Ganges và ngược dòng lên đến thủ đô của một ông hòang không còn gì ngờ vực, như Sylvain Lévi đã nhận ra, thuộc một triều đại Murunda. Nhà vua Ấn Độ đã dẫn các khách ngọai quốc đi một vòng thăm xứ sở của mình; sau đó nhà vua chia tay với đòan khách, gửi cho họ bốn con ngựa của xứ Indo-Scythian như một quà tặng lên vị vua của đòan khách và cho một người Ấn Độ tên Ch’en-sung đi tháp tùng. Vào lúc mà Su-wu trở lại Phù Nam, bốn năm đã trôi qua kể từ ngày khởi hành.”
Cũng chính Fan Chan, theo Sử Ký Thời Tam Quốc (History of the Three Kingdoms), là người vào năm 243 “đã gửi một sứ đòan (đến Trung Hoa) để trao tăng vật gồm các nhạc sĩ và các sản vật của xứ sở.” (48)
Liệu cũng chính ông đã là tác giả của bia ký bằng tiếng Phạn đã trích dẫn ở trên và là người mà văn bản này đã chỉ danh như là một thành viên của gia đình Sri Mara hay không? Điều này không phải là không thể xảy ra, bởi Fan Chan, con trai của người em (hay chị) gái của Sri Mara, rất có thể đã tuyên nhận là có quan hệ với vị vua tiền nhiệm.
Kẻ tiếm ngôi Fan Hsun, người kế ngôi Fan Chan sau khi đã hạ sát một người con trai của Fan Shih-man, đã tiếp kiến ở thời điểm nào đó trong khỏang giữa năm 245 đến năm 250 phái bộ Trung Hoa gồm K’ang T’ai và Chu Ying, là những người đã gặp một sứ giả của Murundas tại triều đình của vua Fan Hsun. (49)
Phái bộ Trung Hoa này đã thiết lập quan hệ với Phù Nam, điều này dẫn đến việc vua Fan Hsun cử một loạt các sứ đoàn sang Trung Hoa trong thời gian từ năm 268 đến năm 287. Những sứ đoàn này đã được đề cập đến trong Sử Ký nhà Tần (History of the Chin) (50) Ba sứ đoàn sau cùng, từ năm 285 đến năm 287, có lẽ là kết quả của sự phục sinh thương mại hàng hải sau khi có sự thống nhất Trung Hoa bởi nhà Tần vào năm 280, một sự thống nhất đã kích thích một ước muốn gia tăng về phía triều đình đối với những sản phẩm và xa xỉ phẩm nhập cảng từ những xứ sở ở phương nam.
Rõ rang là nhờ ở K’ang T’ai mà chúng ta đã có được các thông tin đầu tiên về xứ sở này: “Có những ngôi làng có tường bao quanh, các dinh thự và các nhà ở. Đàn ông đều xấu xí và đen đủi, tóc quăn; họ gần như trần truồng và đi chân không. Bản chất của họ thì đơn giản và họ hoàn toàn không có khuynh hướng ăn trộm gì cả. Họ dồn năng lực vào việc canh nông. Họ gieo hạt giống một năm và gặt hái cho ba năm [? nguyên văn không rõ nghĩa, chú của người dịch]. Ngòai ra, họ thích chạm trổ đồ trang trí và đục đẽo. Nhiều vật dụng ăn uống của họ làm bằng bạc. Thuế khóa được nạp bằng vàng, bạc, ngọc trai, dầu thơm (nước hoa). Có sách vở và các kho ký thác văn khố và các vật dụng khác. Chữ viết của họ giống như thứ chữ của người dân Hồ (Hu) [một sắc dân ở Trung Á Châu xử dụng chữ viết có nguồn gốc Ấn Độ].” (51)
4. CÁC BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA VƯƠNG QUỐC CHÀM (CHAMPA): LÂM ẤP (LIN-YI) (TỪ CUỐI THẾ KỶ THỨ NHÌ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ}

Sử Ký nhà Tần có bao gộp một báo cáo vào trong tiểu sử của T’ao Huang, thái thú Trung Hoa tại Đông Kinh [tức bắc Việt Nam ngày nay, chú của người dịch] trong đó ông ta có phàn nàn, vào khỏang năm 280, về các cuộc đột kích của Lâm Ấp. Vương quốc này, ông cho biết, “phía nam tiếp giáp với Phù Nam. Họ có nhiều bộ lạc, các nhóm thân hữu tương trợ lẫn nhau; lợi dụng địa hình trắc trở trong vùng của mình, họ không thần phục [Trung Hoa].” (52)

Lâm Ấp là trung tâm đầu tiên của xứ Chàm, đã tiến vào lịch sử vào cuối thế kỷ thứ nhì. Thực sự, các văn bản Trung Hoa xác định sự thành lập của xứ này vào khỏang năm 192. (53). Một quan chức bản xứ, tên Ch’u-lien (Khu Liên ?, chú của người dịch], lợi dụng sự suy kém quyền lực của nhà Hậu Hán, đã cắt một lãnh địa riêng cho mình khỏi chỉ huy sứ của Trung Hoa tại quận Jih-nam (Nhật Nam) (nằm giữa Hoành Sơn và đèo Hải Vân, và tự xưng làm vua tại tiểu trấn cực nam, tức xứ mang tên Hsiang-lin, tương ứng khoảng đất phía nam tỉnh Thừa Thiên ngày nay của Việt Nam. Thọat đầu tên Lâm Ấp (Lin-yi) “thủ đô xứ Lâm” được nghĩ là tên gọi tắt của chữ Hsiang-lin-yi, tức “thủ đô của xứ Hsiang-Lin” (54) nhưng gần đây một học giả có nêu ý kiến cho rằng đó là một danh hiệu có tính cách chủng tộc (55). Sự tạo lập vương quốc Lâm Ấp năm 192 đã diễn ra nửa thế kỷ trước đó, vào năm 137, bởi một mưu toan đầu tiên muốn xăm lăng vùng Hsiang-lin của một nhóm khỏang gần một ngàn dân mọi rợ bên ngòai các biên cương của quận Nhật Nam (56); tên của sắc dân này là Ch’u-lien, mặc dù được viết với mặt chữ khác, khó có thể tách biệt ra khỏi tên của kẻ tạo lập ra xứ Lâm Ấp.” (57)

Trong bất kỳ trường hợp nào, gần như chắc chắn rằng “những kẻ mọi rợ này bên ngoài các biên giới của quận Nhật Nam” đã là, nếu không hoàn toàn là người Chàm, ít ra cũng là những người Nam Dương (Indonesians) là những kẻ, nếu họ chưa bị ảnh hưởng của Ấn Độ, thì chẳng bao lâu sau cũng sẽ trở thành như thế.

Chúng ta sẽ thấy, trên dòng lịch sử, rằng xứ Chàm bị chia cắt thành một số các địa phương tự nhiên tương ứng với các đồng bằng ven biển. Tỉnh Quảng Nam ngày nay, với các địa điểm khảo cổ tại Trà Kiệu, Mĩ Sơn, Đồng Dương, trong một ý nghĩa nào đó là thánh địa của nước Chàm (58). Pho tượng đức Phật bằng đồng đẹp đẽ tìm thấy ở Đồng Dương là bằng chứng cho tính chất cổ xưa của sự xâm nhập của Ấn Độ trong vùng mang tên -- liệu có phải hòan tòan tình cờ hay không (?) – Amaravati. Phía nam của Amaravati, các trung tâm chính yếu được đề cập trong văn bia là Vijaya (Phật Thệ?) tại tỉnh Bình Định ngày nay, Kauthara tại đồng bằng Nha Trang và Panduranga trong vùng Phan Rang. Những bia ký cho thấy rằng trong thế kỷ thứ tám tiếng Chàm được nói tại các tỉnh phía nam. Nhưng nguyên thủy các tỉnh phía nam này là một phần của vương quốc Phù Nam. Điều này đã được chứng minh bởi sự hiện diện, trong vùng Nha Trang, văn bia thuộc thế kỷ thứ ba phát sinh từ một vị vua của Phù Nam -- một hậu duệ của Sri Mara (tức Fan Shih-man) có lẽ không ai khác hơn Fan Chan.

Chúng ta không có bằng chứng cổ xưa, tương tự như các bằng chứng về Phù Nam, về sự Ấn Độ hóa của người Chàm và truyền thống xây dựng triều đại của các vị vua của họ; các văn bản Trung Hoa không nói gì về hai điểm này và im tiếng cho mãi đến khi có một văn bia thuộc thế kỷ thứ chín mới thấy xuất hiện lần đầu tiên tên của Maharshi Bhrigu, nhân vật của dòng tộc Mahabharata, danh tính tổ tiên của triều đại Bhargavas, triều đại mà các vua Chàm tuyên nhận mình là các hậu duệ. Về chính danh xưng Champa, từ đó rút ra danh từ Chàm, mặc dù không xuất hiện trong văn bia cho mãi đến lúc khởi đầu thế kỷ thứ bẩy, có thể nó đã có từ rất lâu.

Những hậu duệ của Ch’u-lien lợi dụng sự tan rã của Trung Hoa vào lúc có sự sụp đổ của nhà Hán để bành trướng về phương bắc. Từ năm 220 đến năm 230, một nhà vua trong họ đã gửi một sứ đòan sang gặp Lu Tai, tổng đốc Quảng Đông và Chiao-chih [Giao Chỉ?, chú của người dịch] (Đông Kinh) [tức bắc Việt Nam, chú của người dịch], với danh nghĩa thuộc xứ Lâm Ấp, cùng với sứ đoàn của Phù Nam, đã xuất hiện lần đầu tiên trong một văn bản Trung Hoa. Lu Tai, theo Sử Ký Thời Tam Quốc (History of the Three Kingdoms), đã gửi những sứ giả để truyền bá văn minh Trung Hoa vượt qúa các biên giới phía nam. Các vua xứ Phù Nam, Lâm Ấp, và T’ang-ming (?) mỗi vua đều gửi một sứ đoàn để dâng đồ tiến cống. (59). Việc này chỉ hoàn toàn có tính cách hình thức bởi trong năm 248 các đoàn quân của Lâm Ấp nổi lên cướp bóc các làng xã và chiếm giữ luôn sau cuộc đột kích, tiếp theo sau một cuộc giao chiến lớn tại vùng vịnh phía nam mũi Ròn, lãnh thổ của Ch’u-su, tức vùng Ba Đồn [(?), chú của người dịch] trên sông Gianh (60). Sau hết nhà vua Fan Hsiung, cháu trai của Ch’u-lien bên phía họ ngọai (61), đã tái diễn các cuộc tấn công này vào khỏang năm 270, được nói có được trợ giúp bởi vua nước Phù Nam, Fan Hsun. Thái thú tại Đông Kinh [bắc Việt Nam ngày nay, chú của người dịch], tên T’ao Huang, đã mất mười năm để đẩy lui dân Lâm Ấp trở về lại bên trong biên cương của họ. Từ lúc khởi đầu, các nỗ lực của họ để bành trướng về phía bắc đã đụng độ với lực đẩy xuống của người Việt Nam để nam tiến. Các trận chiến đánh nhau bởi hai sắc dân đại biểu cho hai nền văn minh cạnh tranh nhau -- giữa người Chàm chịu ảnh hưởng Ấn Độ và người Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa -- được phát động tại vùng từ Hoành Sơn đến đèo Hải Vân; đưa đến sự triệt thoái chung cuộc của người Chàm trong thế kỷ thứ mười bốn.

Trong năm 284, Fan Yi đã phái một sứ đòan chính thức đầu tiên sang Trung Hoa -- nếu chúng ta không kể đến một sứ đòan đã được gửi đến thái thú Giao Chỉ giữa khoảng từ năm 220 đến năm 230. Trong hậu bán của thời khoảng trị vì kéo dài hơn 50 năm, Fan Yi có tuyển dụng một nhân vật tên Wen nào đó làm cố vấn. Nhân vật Wen được xác định trong nhiều văn bản là một người Trung Hoa, quê quán tại Yang-chou, Chiang-su [Dương Châu, tỉnh Giang Tô (?), chú của người dịch], đã đến định cư tại Lâm Ấp, nhưng ông ta có thể là một người dân bản xứ đã Hán hóa (62) . Ông ta đã đi sang Trung Hoa trong các năm 313 và 316, và học hỏi tại đó nhiều kỹ thuật khác nhau; kiến thức về nền văn minh vật chất của Trung Hoa của ông ta đã có một giá trị vĩ đại đối với quốc vưong chủ nhân ông. Nhờ dành được sự tin cậy của vị vua già, ông đã vận động để được bổ nhiệm là viên đại tướng tư lệnh và sau đó đã gạt bỏ các người thừa kế ngai vàng sang một bên. Khi có sự từ trần của Fan Yi, xảy ra một cách bất ngờ trong năm 336, ông ta lên ngôi kế vị Fan Yi.

Fan Wen, đặt thủ đô tại vùng thuộc Huế, đã bình định các bộ lạc man rợ và trong năm 340 đã gửi một sứ đòan sang yết kiến vua Tần để thỉnh cầu rằng biên cương phía bắc của vương quốc ông ta được ấn định tại núi Hòanh Sơn. Khi hoàng đế [nhà Tần, chú của người dịch] ngần ngại từ bỏ những phần đất phì nhiêu của Nhật Nam cho ông ta, Fan Wen đã chiếm giữ các phần đất này vào năm 347, bởi thế đã đem lại cho vương quốc của mình biên cương mà ông ta mong muốn. Fan Wen đã mất năm 349 trong một cuộc viễn chinh khác hướng về phía bắc ngòai biên cương mới của ông ta./-



Chú của người dịch:

(*a) Sanskrit : Phạn: ngôn ngữ văn chương của Ấn Độ từ thời cổ. Phần lớn các kinh tạng Phật Giáo được Trung Hoa dịch sang Hán ngữ đều có nguyên bản viết bằng tiếng Phạn.

(*b): Ptolemy (vào khỏang 85 – 165 sau dương lịch): Nhà thiên văn học và địa lý học gốc Hy Lạp và chết tại Alexandria, Ai Cập, từ thế kỷ thứ nhì, chủ truơng rằng trái đất đứng yên một chỗ và là trung tâm của vũ trụ, trong khi đó mặt trời và các vì sao chạy quanh trái đất. Danh biểu địa dư của Ptolemy cho vùng xuyên sông Ganges của Ấn Độ ghi đầy những địa danh mà các danh xưng tương ứng bằng tiếng Phạn (Sanskrit) được trích dẫn và thảo luận trong công trình nghiên cứu này của tác giả G. Coedès. Trong bài dịch này, có đề cập đến giả thuyết rằng Sàigòn ngày nay tương ứng với địa danh Kattigara mà Ptolemy đã ghi trong danh biểu địa dư của ông ta. Nếu đúng như vậy thì đây có thể là văn bản cổ xưa nhất của tây phương đã đề cập đến phần lãnh thổ của Việt Nam ngày nay.

(*c): Niddesa: Nghĩa thích kinh, gồm 2 tập: Đại Nghĩa Thích và Tiểu Nghĩa Thích, dùng để luận giải kinh tạng Phật Giáo, được viết bằng tiếng Pali, muộn lắm là vào thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Thiên Chúa. Bộ Nghĩa Thích Kinh này có liệt kê một số địa danh mà các nhà nghiên cứu đã nêu nhận xét là có thể dùng để xác minh đựoc nhiều vị trí của các miền xa hơn Ấn Độ. Có thể nói cho đến nay, chưa có những tài liệu khảo cổ hay văn bia nào lâu đời hơn tập Nghĩa Thích Kinh này.

(*d) Pāli: Ba lị, một thổ ngữ của Ấn Độ cổ xưa, nay không còn được nói nữa mà chỉ được dùng để viết kinh tạng Phật Giáo, chính yếu là các kinh tạng của Phật Giáo Tiểu Thừa ( Theravada (Hinayana) Buddhist Canon).

----------------------------------

Chú Thích của Tác Giả G. Coedès:

1. Xem bên trên, trang 16. Bởi tác phẩm này không phải là một tập chuyên khảo về địa dư mà lại là một nỗ lực để tổng hợp lịch sử, tôi sẽ chỉ đề cập trong chương này và những chương kế tiếp những danh xưng có một số ý nghĩa quan trọng trong lịch sử các biến cố hay triều đại. Một sự thảo luận nhiều ý kiến khác nhau đề cập đến vị trí của các địa danh của Ptolemy có thể tìm thấy trong bài viết của Roland Braddell nhan đề “Study of Ancient Times in the Malay Peninsula,” JRASMB (Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society), XIII (1935).
2. Đây là lối phát âm thời nhà Đường (T’ang), theo Bernhard Karlgren, Analytic Dictionary of Chinese and Sino-Japanese (n.p., n.d. [không ghi nơi và nhật kỳ xuất bản ?, chú của người dịch] ), các số 41 và 650.
3. Xem Louis Finot, “Sur quelques traditions indochinoises,” Mélanges d’indianisme offerts par ses élèves à M. Sylvain Lévi (Paris, 1911), trang 203, và “Séance du 14 Janvier 1927,” JA (Journal Asiatique) (January-March, 1927), trang 186. Coedès, “On the Origin of the Sailendras of Indonesia,” JGIS (Journal of the Greater India Society), I (1934), trang 67. Ngọn núi này hiển nhiên là một trong các ngọn núi mà trên đó, như đã nói trước đây (các trang 26-27), người sáng lập một vương quốc theo kiểu Ấn Độ đã thiết định sự thờ phượng một vị thần dân tộc, thường là một sinh thực khí nam (linga) hay một biểu hiệu nào khác của thần Siva.
4. Xem Coedès, “Les traditions généalogiques des premiers rois d’Angkor,” BEFEO (Bulletin de l’École Francaise d’Extrême-Orient), số XXVIII (1956), trang 127.
5. Xem Coedès, Inscriptions du Cambodge (Paris, 1937-), II, trang 110, n. 5. Có lẽ từ Vyadhapura có nghĩa “thành phố của ngườI đi săn (nhà vua).” O.W. Wolters, trong thực tế, đã tử tế thông tin (thư ngày 6 tháng MườI Một, 1960) cho tôi hay rằng T’ai-ping Yu-lan, trích dẫn bản tường trình của K’ang T’ai (xem dưới), có đề cập đến một vị vua của Phù Nam tên là P’an-huang-chao (cũng chính là ? Hun P’an-huang, xem dưới, trang 38) đã bắt được các con voi lớn trong rừng và đã thuần hóa được chúng, đưa đến sự thần phục của nhiều xứ sở trong đường hướng này.
6. Xem Paul Pelliot, “Le Fou-nan,” BEFEO, III, trang 263.
7. Xem chú thích trên, trang 17. Xem Pierre Courou, “Civilisations et géographie humaine en Asia des moussons,” BEFEO, XLIV (1954), trang 469, sau khi trình bày rằng “các địa điểm khai sinh của các nền văn minh thượng đẳng có vẻ như tương ứng với các giao lộ của sự lưu thông,” có bổ túc: “Hạt nhân của nền văn minh của Phù Nam, từ đó tòan thể lịch sử Khmer đã được phát triển, bắt nguồn từ bờ biển phía tây của Đông Dương (Indochina), tại địa điểm đổ bộ của các ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ.”
8. Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303; “Quelques textes chinois concernant d’Indochine hindouisée,” Et. Asiat, EFEO (Études asiatiques. Publications de l’École Francaise d’Extrême-Orient (Paris, 1925), 2 vols.), II, trang 243.
9. Xem Pelliot, “Quelques textes,” các trang 246-49. Về vai trò ưu thắng của dòng tộc Kaundinya tại miền nam Ấn Độ, xem Bijan R. Chatterjee, “Recent Advances in Kambuja Studies,” JGIS, VI (1939), trang 139, và chú thích dẫn trên, trang 30.
10. Xem Louis Finot, “Les inscriptions de Mi-sơn (No. III),” BEFEO, IV, trang 923. Xem Coedès, “L’inscription de Baksei Chamkrong,” JA (May-June, 1909), các trang 476-78, và Inscriptions du Cambodge, IV, trang 88.
11. Xem Eveline Porée-Maspero, “Nouvelles étude sur la Nagi Soma, “ JA, CCXXXVIII (1950), các trang 237-67.
12. Xem Paul Pelliot, dịch và biên tập, “Mémoires sur les coutumes du Cambodge,” BEFEO, II, trang 145.
13. Xem Finot, “Sur quelques traditions indochinoises,” trang 205.
14. Xem Coedès, “La légende de la Nagi,” BEFEO, XI, trang 391.
15. Xem Victor Goloubew (“Les légendes de la Nagi et de l’Apsaras,” BEFEO, XXIV, các trang 501-10) cho rằng nó đến từ phương tây, trong khi Jean Przyluski (“La princesse à l’odeur de poisson et la Nagi dans les tradition de l’Asie orientale,” Et . Asiat . EFEO, II, các trang 265-84) nghĩ rằng nó đã được phát sinh từ các khu vực hàng hải của Đông Nam Á. Về một phiên bản Mã Lai của thần thọai này, xem R. Ọ Winstedt, “Indra and Saktimuna,” JRASMB, XXIII (1950), trang 151.
16. Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 265. Theo R. Stein, “Le Lin-yi,” Han-hiue, II (1947), các trang 251 trở đi, từ “Fan” là tiếp đầu ngữ (prefix) đứng trước danh tính của phần lớn các vị vua của Phù Nam cũng như của Champa không tương đương với tếp vĩ ngữ varman đi theo sau để tạo thành một họ, như đã được tin tưỏng bởi Georges Maspero, Le Royaume de Champa (Paris, 1928), trang 53, n. 7 [chú thích 7 ?], và Gabriel Ferrand, “Ye-tiao, Sseu-tiao et Java,” JA (Novermber-December, 1916), các trang 524-30. Stein tin rằng đó là họ của một thị tộc, có nguồn gốc chủng tộc, để chỉ phần tử chính gốc của hòang gia. Nhân vật mang danh tính Fan, như tại xứ Chàm, ngược lại với các thành phần Ấn Độ và có vẻ được lưu giữ nắm quyền hành bởi quần chúng. Nhưng Paul Demíeville (điểm sách “Lin-yi” của Stein, TP (T’oung Pao), XL (1951), trang 344) đã bày tỏ các sự nghi ngờ đối với sự vững chắc của các nền tảng của giả thuyết này.
17. Xem Pelliot, “Le Fou-nan,”, trang 257.
18. Cùng sách dẫn trên, các trang 265-66. Một li (lí) tương đương với khỏang 576 mét. Về việc đọc là “Ch’u-tu, Tu-k’un” thay vì đọc “Ch’u-tu-k’un” (Pelliot), xem Stein, “Le Lin-yi,”
19. “Le Lin-yi,” trang 119. Nhưng Demíeville điểm sách “Lin-yi,” của Stein, trang 341, phản bác sự xác minh này.
20. Ngay từ năm 1938, Kattigara đã được chấm định nằm trong vùng Sàigòn bởi Albert Herrmann, “Der Magnus Sinus und Cattigarab nach Ptolemaus,” Compte-rendu du Congrès international de géographie (Amsterdam), các trang 123-28. Cuộc nghiên cứu gần đây nhất là của Louis Malleret, là người, tiếp theo sau các sự khám phá của ông tại Óc Eo (xem trên, trang 17), đã được dẫn dắt để đi tìm địa điểm của Kattigara trong vùng này. Quan điểm của ông đã được trình bày chi tiết trong tác phẩm L’Archéologie du delta du Mékong (Paris, 1959-63), III, các trang 421-54.
21. Về vấn đề có khá nhiều liên hệ này, và về vị trí của Chiu-chih hay Chu-li, xem Paul Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 21-25.
22. Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 279.
23. Sách dẫn trên, trang 263, n. 1, Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 15-21.
24. Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 266, n. 2 and 3. Gordon H. Luce, “Countries Neighbouring Burma,” JBRS (Journal of the Burma Research Society), XIV (1924), các trang 147-151.
25. Xem Paul Pelliot, “Deux itinéraires de Chine en Inde, à la fin du VIIIe siècle,” BEFEO, IV, trang 320, n. 7. Gabriel Ferrand, “Malaka, le Malayu et Malayur,” App . [Phụ Lục?, chú của ngườI dịch] III, JA (July-August, 1918), trang 139. Luce, “Countries Neighbouring Burma,” các trang 161-69.
26. Xem Ferrand, “Malakas”, trang 143. Xem Sylvain Lévi, “Pré-aryen et pré-dravidien dans l’Inde,” JA (July-September, 1923), trang 37.
27. Xem R. Ọ Winstedt, “A History of Malaya,” JRASMB, XIII (1935), trang 21.
28. Xem Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 252-67, thảo luận chi tiết về vị trí của Langkasuka.
29. Xem Coedès, “Le Royaume de Crivijaya,” BEFEO, XVIII, 6, trang 17. Lévi, “Pré-aryen,” trang 45.
30. Xem Coedès, Receuil des inscriptions du Siam (Bangkok, 1924-29), II, trang 51, nọ XXVII. Nhật kỳ từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ chín như được phát biểu bởi Barth là quá sớm. Bia ký tương tự như thế là những văn bia cuối cùng của Phù Nam. Xem K. A . Nilakanta nSastri, “Agastya,” TBG (Tijdschrift voor Indische Taal-, Land-, en Voikenkunde uitgegeven door het Bataviaasch Genootschap van Kunsten en Wetenschappen), LXXXVI (1936), các trang 508-09. Về Tambralinga, xem O . W. Wolters, “Tambralinga,” BSOAS (Bulletin of the School of Oriental and African Studies) (1958), các trang 587-607.
31. Xem Sylvain Lévi, “Ptolémée, le Niddesa et la Brihatkatha,” Et . Asiat . EFEO, II, trang 26.
32. Cùng sách dẫn trên, từ trang 3 trở đi.
33. Xem Roland Braddell, “Ancient Times in the Malay Peninsula,” JRASMB, XVII (1939), I, các trang 204-206, và XXII (1949), trang 1. Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 268-72, có cung cấp các luận cứ vững chắc về việc xác định vị trí của Takkola trong vùng Trang [có lẽ là (?) Nha Trang, chú của người dịch].
34. Transactions and Papers of the Institute of British Geographers, 21 (1955), trang 69. Về điểm này xin xem Wang Gungwu, “TheNanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea,” JRASMB, XXXI, 2 (1958), trang 41, n. 53.
35. Về các địa điểm này, xem Braddell, “Ancient Times,” rải rác trong tác phẩm. H.G. Quaritch Wales, “Archaeological Researches on Ancient Indian Colonization in Malaya,” JRASMB, XVIII (1940), I, các trang 56-73; “Further Work on Indian Sites in Malaya,” JRASMB, XX (1947), các trang 1-11, R.O . Winstedt, “Slab-Graves and Iron Implements,” JRASMB, XIX, (2941) I, các trang 93-98.
36. Thí dụ, các tượng đồng theo kiểu Gupta được mô tả trong quốc gia Perak và trên dòng sông Bujiang tại Kedah (H.G. Quaritch Wales, “Recent Malayan Excavations and Some Wider Implications,” JRAS (1946), trang 142). Các khám phá khảo cổ học này được phân tích bởi Wheatley, The Golden Khersonese, các trang từ trang 273 trở đi.
37. Về các nguồn văn bản Ấn Độ khác, xem Vasudeva S. Agrawala, “Some References to Katahadvipa in Ancient Indian Literature,” JGIS, XI (1944), trang 96, và K.A . Nilakanta Sastri, History of Srivijaya (Madras, 1949), các trang 25-26.
38. Về thời điểm của văn bia này, xem D.C. Sircar, “Date of the Earliest Sanskrit Inscription of Campsa,” JGIS, VI (1939) các trang 53-55. Coedès, “La date de l’inscription sanskrite de Vo-canh,” IHQ (Indian History Quarterly), XVII (1941), các trang 107-10. Emile Gaspardone, “La plus ancienne inscription d’Indochine,” JA, CCXLI (1953), các trang 477-85. K. Kumar Sarkar, “The Earliest Inscription of Indochina,” Sino-Indian Studies, V, 2 (1956), các trang 77-78. Kamalesvar Bhattacharya, “Précisions sur la paléographie de l’inscription dite de Vo-canh,” AA (Artibus Asiae) XXIV (1961), các trang 219-24. Ẹ Gaspardone, “L’inscription de Vo-canh et les débuts du sanskrit en Indochine,” Sinologica, VIII, No. 3 (1965), các trang 129-36.
39. Auguste Barth and Abel Bergaigne, ISC, No. XX, p. 191. Louis Finot, “Les inscriptions du musée de Hanoi,” BEFEO, XV, 2, trang 3.
40. “Séance du 14 Janvier 1927.” JA (January-March, 1927), trang 186. Xem Louis Finot, điểm sách Le Royaume de Champa của Maspero, BEFEO, XXVIII, các trang 286-87.
41. Jean Filliozat đã ân cần thông tin tôi hay rằng Maran “là danh hiệu thường dùng để chỉ vua Pandya, được hỗ trợ bởi một trong những bản văn bằng tiếng Tamil cổ xưa nhất tại vùng Sangam, có nhật kỳ vào khỏang khởi đầu kỷ nguyên Thiên Chúa.”
42. Lévi, “Ptolémée,” các trang từ trang 29 trở đi. Luce, “Countries Neighbouring Burma,” các trang 151-58.
43. Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303.
44. Les Peuples de la péninsule indochinoise (Paris, 1962), trang 62.
45. Wang Gungwu, “The Nan-hai Trade,” các trang 31-45.
46. “Le Fou-nan,” trang 292.
47. Xem trên, trang 39.
48. Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303.
49. Sách dẫn trên, trang 40. Xem Robert von Heine-Geldern, “The Drum Named Makalamau,” India Antiqua (Leyden, 1947), trang 176.
50. Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 252.
51. Cùng sách dẫn trên, trang 254.
52. Cùng sách dẫn trên, trang 255.
53. Cho tòan thể đọan này, ngòai những nguồn tư liệu đã được chỉ dẫn ở nơi khác, xem Maspero, Le Royaume de Champa, các trang 43-59 (điểm sách bởi L. Aurousseau, BEFEO, XIV, 9, các trang 8-43, và Louis Finot, BEFEO, XXVIII, các trang 285-92). Stein, “Le Lin-yi,” các trang 1-123.
54. Aurousseau, điểm sách Le Royaume de Champa của Maspero, trang 27.
55. Stein, “Le Lin-yi,” các trang 209-41. Nhưng Demíeville, điểm sách “Lin-yi” của Stein, có vẻ nghiêng về cách giải thích thứ nhất.
56. Cho đến nay chúng ta luôn luôn hiểu rằng họ đến từ phương nam, có nghĩa, từ tỉnh Quảng Nam ngày nay. Nhưng Stein (“Le Lin-yi”) có vạch ra rằng họ cũng có thể đến từ phía tây, và ngay cả từ những vùng thuộc Siang-lin, cách xa khỏi sự đô hộ của Trung Hoa. Sự kết tụ những dân man rợ tại một vương quốc Lâm Ấp đã xảy ra bên trong giới hạn của quận Nhật Nam.
57. Về sắc dân Ch’u, xem Stein, “Le Lin-yi,” Appendix VI, từ trang 209 trở đi.
58. Henri Parmentier, Inventaire descriptif des monuments cams de l’Annam (Paris, 1909-18), I, các trang 241-5-5. Jean Y. Claeys, “Introduction à l’étude de l’Annam et du Champa,” Bulletin des Amis du Vieux Hue, 21, (1934), các trang 46-48.
59. Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 252.
60. Stein, “Le Lin-yi,” các trang 1-54.
61. Có lẽ xuyên qua những người vợ sinh ra là người Phù Nam mà theo Stein, “Le Lin-yi,” sẽ giải thích họ của thị tộc ông ấy là Fan, về điểm này, xem sách dẫn trên, trang 276, n. 16. Eveline Porée-Maspero ghi nhận rằng các vị vua họ Fan xuất hiện tại xứ Chàm vào lúc khi mà họ đã biến mất khỏi Phù Nam sau thời trị vì của Fan Hsun. Về các “sự kiện lịch sử song hành giữa Căm Bốt và Chàm” mà bà ấy đã xác định từ thời kỳ này, xem Études sur les rites agraires des Cambodgiens (Paris, 1962), từ trang 144 trở đi.
62. Stein, “Le Lin-yi,” trang 243.

Nguồn: G. Coedès, The Indianized States of Southeast Asia, An East-West Center Book, The University Press of Hawaii, Honolulu, 1968

Ngô Bắc dịch

Tình hình kinh tế An Giang thời nhà Nguyễn (1802-1858)


Tình hình kinh tế An Giang thời nhà Nguyễn (1802-1858)
Trần Hoàng Vũ
(Bài đăng trên e-news Đại học An Giang)
 
Dưới thời các vị chúa Nguyễn, vùng đất Nam Bộ liên tục được mở rộng, dân cư đến sinh sống ngày một đông hơn từ các chính sách khuyến khích khai hoang của chúa Nguyễn. Đến thời trị vị nhà Nguyễn (1802 – 1858), đất nước được thống nhất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, riêng đối với vùng Nam Bộ ngày càng trở thành vùng đất trù phú, có lợi thế về kinh tế qua những chính sách khẩn hoang của nhà Nguyễn. An Giang là một vùng đất nằm ở cực Tây Nam của Tổ Quốc, tuy là vùng đất mới nhưng đời sống nhân dân luôn được đảm bảo ấm no, sung túc.
Vùng đất An Giang ở Nam Bộ ngày nay. (Nguồn: dayhoctructuyen.org)

1. Nông nghiệp.
Trước khi có những công trình trị thủy quan trọng, nông nghiệp An Giang chỉ phát triển ở những vùng đất cao hoặc ven chân núi: phía đông núi Ca Âm, chân núi Khê Lạp, núi Đài Tốn, ven sông Vàm Nao, bãi Năng Gù. Nông sản làm ra có lúa tẻ, lúa nếp, ngô, khoai, đậu xanh, đậu vàng, đậu ván, đậu đen, dưa bở, dưa gang, dưa hấu, mướp, hành, tỏi, kiệu, củ cải, gừng, thạch lựu, mãng cầu, chuối. Lúa (ruộng chằm) gieo vào tháng sáu âm lịch đến tháng giêng năm sau thì thu hoạch. Khoai, đậu và ngô đều gieo vào tháng tư âm lịch. Khoai thì 6 tháng cho thu hoạch, đậu 2 tháng, ngô 3 tháng. Bên cạnh lương thực còn có trồng bông, mà bông thậm chí còn sinh lợi nhiều hơn cây lúa và quan trọng hơn lúa.
Toàn tỉnh An Giang xưa có tổng cộng 88.336 mẫu ruộng. Mỗi năm đóng góp cho triều đình 55.560 hộc thóc.
2. Thủ công nghiệp.
Đại Nam hội điển sự lệ cho biết tại An Giang có nghề dệt lụa và dệt vải. Các thợ làm nghề này được quản lý thống nhất trong các hộ và phải nộp thuế. Hộ dệt lụa mỗi người một năm phải nộp một tấm lụa dài 15 thước, ngang 7 tấc; thuế thân và dây xâu tiền đều 1 quan 5 tiền. Dân đinh già cả và người tàn tật chỉ nộp một nửa. Hộ dệt vải mỗi năm nộp 2 tấm vải dài 15 thước; thuế thân và dây xâu tiền cũng đều 1 quan 5 tiền. Đến năm 1810, thuế vải được đổi thành một tấm dài 30 thước, ngang 7 tấc.
Tài liệu ấy không nói rõ các hộ dệt lụa, dệt vải này ở huyện nào. Năm 1835, số nhân đinh của hộ dệt lụa tại An Giang là 53 người, đến năm 1840 tăng lên 58 người nhưng đến năm 1850 thì giảm sút nhiều do “lần lượt trốn, chết, chết dịch”. Tự Đức phải cho xóa số thuế lụa còn thiếu và hạ lệnh chiêu mộ thêm người.
Ngoài nghề dệt, các ngành thủ công chế biến thủy sản cũng phát triển. Theo Gia Định thành thông chí, ven sông Đàm Giang có nghề ướp mắm và làm khô.
3. Ngư nghiệp.
 Ngành ngư nghiệp An Giang thời Nguyễn đặc biệt phát triển do có nguồn thủy sản ở sông Hậu cùng nhiều chằm, hồ và sông nhỏ. Chỉ riêng ở Náo Khẩu Ca Âm mà “cá mú không thể xiết ăn”. Theo Hội điển sự lệ, ở An Giang có nhiều hình thức khai thác thủy sản như: trại lưới tới đáy nước (vó gạt), giăng lưới, chứa và bắt cá ruộng (tát đìa). Riêng trại lưới tới đáy nước trong diện nộp thuế có 27 sở rưỡi nhưng có 4 sở bỏ hoang. Còn lại 23 khẩu rưỡi nộp thuế bằng tôm gạo phơi khô, trong đó 19 khẩu mỗi năm một khẩu nộp 20 cân tôm khô; 2 khẩu mỗi năm nộp 30 cân tôm khô một khẩu và 1 sở rưỡi nộp thuế 200 cân tôm khô một năm. Các hộ dăng lưới thì mỗi năm nộp tổng cộng 400 quan tiền thuế. Các nhánh sông, chằm, hồ có thể đánh bắt cá được thì đều có thuế. Tại An Giang thường xuyên có từ 10-17 sở thuế thủy lợi nhưng chỉ riêng 2 sở ở Châu Đốc là Châu Đốc thượng và Châu Đốc hạ mỗi năm đã đem về không dưới 3 vạn quan tiền thuế.
Gia Định thành thông chí chỉ ra một số địa điểm có dân cư làm ngư nghiệp. Dân ở Ba Thê “có nghề đánh cá ở chằm”. Dân quanh Náo Khẩu Ca Âm cũng “chài lưới”, “có chằm đánh cá”. Hai sản phẩm nổi bật là cá lẹp khô và tôm nõn (tôm phơi khô rồi cho vào cối giã, gạc bỏ hết vỏ gọi là tôm nõn). Giá hai mặt hàng này thuộc loại rẻ nhất so với các tỉnh Nam Kỳ khác.
Việc khai thác thủy sản ở một số nơi đã được tổ chức quy củ. Nhân dân ở Cù lao Giêng cứ 15 người họp thành một đoàn để đánh bắt cá, làm mắm, phơi khô rồi đẵn nứa làm bè tre đem bán các nơi.
4. Lâm nghiệp.
Thời Nguyễn, rừng núi An Giang có nhiều lâm sản quý. Núi Tượng có đá thủy tinh. Núi Ca Âm có giáng hương, tốc hương. Núi Nam Vi có gỗ sao, gỗ bời lời, gỗ huện. Núi Đài Tốn có trầm hương, tốc hương, sa nhân, gỗ sao, giáng hương, xam, trúc. Mặc dù vậy, việc khai thác gỗ không phát triển do nhân lực ít và nhu cầu còn thấp. Các núi Thoại Sơn, Ba Thê, Nam Vi hoàn toàn cấm chặt cây. Trầm hương, tốc hương, sa nhân hình như cũng không được khai thác. Các sản phẩm từ việc săn bắn vẫn là nổi bật. Trịnh Hoài Đức cho biết cư dân dưới núi Ba Thê “có nghề săn bắn ở núi”. Các sản phẩm có thể tìm mua ở An Giang là da tê tê, da hươu, dai nai, gân hươu và đều rẻ hơn so với các tỉnh khác.
5. Thương nghiệp.
Trong thời Nguyễn, hoạt động thương nghiệp An Giang không đáng kể. Gia Định thành thông chí cho biết chỉ có hai địa điểm họp chợ ở chân núi Ngật Sum và Chân Sum nhưng có lẽ chỉ là những chợ có quy mô nhỏ nên không được ghi nhận trong Đại Nam nhất thống chí. Tài liệu này chỉ ghi nhận trên địa bàn An Giang hiện nay có một chợ là “chợ Tú Điền ở huyện Đông Xuyên, họp gần bờ sông”. Có thể đoán rằng do dân cư còn thưa thớt và nhu cầu thấp nên thương nghiệp diễn ra phân tán, chủ yếu là do các ghe buôn mang hàng đến tận nơi bán cho người dân. Các sản phẩm làm ra như lúa gạo, cá mắm cũng do người sản xuất tự đem đi tiêu thụ.
Về ngoại thương, tuyến đường sông Hậu được nhà Nguyễn chỉ định là dành riêng cho thuyền buôn Chân Lạp. Năm 1844, vua Thiệu Trị cho mở sở buôn bán ở thượng du đồn Đa Lộc, định kỳ một tháng hai lần, mỗi lần hai ngày để các dân cư người Việt, Hoa, Chăm, Khmer đến mua bán.
Các hàng hóa mua bán tại An Giang được Đại Nam nhất thống chí liệt kê bao gồm: vải, lụa, trừu, sáp ong, da nai, gân hươu, nhung hươu, ngà voi, gạc hươu, bóng cá, da tê, sừng tê, hạt sen và tôm khô. 
Nhìn chung cơ cấu kinh tế An Giang thời Nguyễn thiên về ngư nghiệp rồi mới đến nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Đó là một nền kinh tế dựa nhiều vào tự nhiên và nặng tính tự cung tự cấp nhưng lại đảm bảo cho người dân một đời sống đủ đầy, thoải mái và không kém phần phong lưu.                                                                  
Hoàng Vũ – 6SU 
Tham khảo:
Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí.
Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí.
Quốc sử quán triều Nguyễn.
Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ.
Cao Xuân Dục. Quốc triều chính biên toát yếu.
Nội các triều Nguyễn. Đại Nam hội điển sự lệ.
 

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2011

SỰ BIẾN ĐỔI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ Ở ẤN ĐỘ CUỐI THẾ KỶ XIX – MỘT CÁI NHÌN TỪ VĂN MINH HÓA CỦA NHẬT BẢN


SỰ BIẾN ĐỔI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ Ở ẤN ĐỘ CUỐI THẾ KỶ XIX – MỘT CÁI NHÌN TỪ VĂN MINH HÓA CỦA NHẬT BẢN

Văn Ngọc Thành
(Đăng trong Kỷ yếu hội thảo về văn minh hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh, thang 12/2011)
Trong sự phát triển của lịch sử thế giới, quãng thời gian từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX có một dấu ấn khá đặc biệt, nó đánh dấu sự bùng phát của chủ nghĩa tư bản ở phương Tây và đi cùng với sự phát triển ấy là sự bùng nổ của cuộc “cách mạng thương nghiệp”, “cách mạng giá cả” và cả phong trào “lùng kiếm không gian sinh tồn”. Đồng thời, đây cũng là thời kỳ ở các nước châu Á chế độ phong kiến bước vào khủng hoảng và đối diện trước những nguy cơ mang tính thời đại. Đó là những thách thức nội tại của một xã hội đặc thù, không thể tiến đến một cuộc cách mạng, là nguy cơ xâm lược của các nước thực dân phương Tây.
Hầu hết các quốc gia châu Á đều tìm cách phản ứng trước những thách thức của họa xâm lăng bằng ý thức hệ phong kiến lạc hậu nên khó có thể thoát khỏi nanh vuốt của của các nước thực dân phương Tây. Ở Nhật Bản, giai cấp phong kiến cầm quyền đã tìm cách vượt qua những thách đố nghiệt ngã của thời đại bằng những chính sách khá chủ động và khôn khéo, còn lại các nước châu Á khác, trong đó có Ấn Độ đã bị “cưỡng bức” bước vào thời kỳ “cận đại hóa”. Nói cách khác, đây là thời kỳ các quốc gia này diễn ra hai quá trình: “cận đại hóa” và “thực dân hóa”.
1. Khác với Nhật Bản, sự thay đổi của xã hội Ấn Độ diễn ra một cách thụ động, khó khăn bởi những chính sách của chủ nghĩa thực dân.
Sự tiếp xúc của Nhật Bản với phương Tây, ngay từ đầu, đã diễn ra khá chủ động. Như chúng ta đã biết, dù tự nguyện hay cưỡng bức, người châu Á bắt đầu hòa vào dòng hải thương với người Bồ Đào Nha khá sớm. Trên cơ sở Hiệp ước Tordesillas (1494) , đến đầu thế kỷ XVI, lộ trình của con đường hàng hải quốc tế ở Đông Á buổi đầu do người Bồ Đào Nha xây dựng đã thành hình thông qua các thương điếm, cơ sở mà họ xây dựng: Sofala (bờ biển Đông Phi) năm 1505; Cochin và Goa (Ấn Độ) năm 1503, 1510; Malaca (Indonesia) năm 1511; Macau (Trung Quốc) năm 1557; Nagasaki (Nhật Bản) năm 1571. Hình hài của Estado da India (Chính thể hoàng gia Bồ Đào Nha ở Đông Ấn) được đã hiện hữu.
Năm 1543, một chiếc thuyền buôn Bồ Đào Nha gặp bão, bị thổi dạt đến Tanegasima, một hòn đảo nhỏ phía đông nam Kyushu của Nhật. Họ trở thành những người châu Âu đầu tiên đặt chân lên vùng đất “Zipangu” huyền thoại với “dòng chảy bạc” nổi tiếng trong nền thương mại thế giới lúc bấy giờ. 2 năm sau, năm 1545 quan hệ chính thức giữa Nhật Bản với Bồ Đào Nha được chính thức bắt đầu. Năm 1571, sau khi tập hợp các thương nhân Hirado, Shimabara… về Nagasaki, lãnh chúa Omura đã cho xây dựng 6 khu phố lớn ở đây, biến Nagasaki thành trung tâm buôn bán với người nước ngoài ở vùng Tây Nam Nhật Bản. Mậu dịch tơ lụa Macau – Nagasaki trở nên hết sức quan trọng đối với Bồ Đào Nha.
Từ năm 1600 trở đi, Nhật Bản bắt đầu chủ động tham gia vào hải thương quốc tế. Năm 1615, một đoàn sứ thần và thương nhân do Hasekura Tsunenaga dong buồm ra Thái Bình Dương đến Nueva Espana (New Spain) trên con thuyền buồm lớn của người Nhật San Juan Bautista. Cho đến năm 1635, Tướng quân đã cấp rất nhiều giấy phép cho các “Chu ấn thuyền” với sứ mệnh giao thương với châu Á. Mặc dù có Luật bế quan tỏa cảng năm 1635 (Tỏa quốc) nhưng người Nhật vẫn buôn bán với nhiều nước, trong đó có Hà Lan thông qua thương điếm Dejima, ngoài khơi Nagasaki. Nhờ vậy, người Nhật vẫn tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và học hỏi người phương Tây. Trên cơ sở đó, các học phái ra đời: Các học phái Nhật Bản Kokugaku (Quốc học) và Rangaku (Lan học, tức là học Hà Lan) với tư tưởng thoát Á, hòa nhập vào tư trào văn minh hiện đại của phương Tây.
Đến thế kỷ 19, người Anh đã thay thế người Bồ Đào Nha và người Hà Lan làm chủ về thương mại tại các vùng biển châu Á và những nguồn lợi buôn bán của người Anh cũng bắt đầu phát triển tại Trung Hoa. Trong khi đó Hoa Kỳ lại chú ý hơn tới Nhật Bản. Năm 1858, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ đầu tiên là Towsend Harris đã ép Nhật Bản ký một thoả ước thương mại toàn phần, có hiệu lực từ năm 1860. Nhật Bản cũng phải ký các thoả ước bất công với người Anh, người Hà Lan, người Pháp, người Nga và hải cảng Nagasaki phải mở cửa cho tầu thuyền Nga cập bến. Sau đó vào năm 1866 còn có thoả ước về thuế 5% đánh trên hàng hoá nhập cảng vào Nhật Bản. Các thương gia nước ngoài rất chú ý tới hai thành phố mới phát triển là Yokohama, rất gần kinh đô Edo, và Kobe ở phía bờ kia vịnh, đối với Osaka. Binh lính Anh và Pháp cũng đi theo các thương nhân để bảo vệ các cơ sở thương mại và nhân viên khỏi sự đe doạ của các hiệp sĩ Samurai… Những thách thức mang tính thời đại lộ rõ. Đó là sự phá sản của chính sách “Tỏa quốc” cùng những mâu thuẫn từ trong lòng xã hội cổ truyền đang kìm hãm Nhật Bản và nguy cơ xâm lược từ bên ngoài của các nước phương Tây. Trong bối cảnh đó, cuộc cải cách Meiji được triển khai.
Cải cách là hoạt động có ý thức của con người, và dĩ nhiên nó mang tính chủ động của chủ thể hoạt động. Sự kiện lật đổ Tướng quân của các Samurai và thành lập Hội đồng Hoàng gia (4-1868), công bố “Hiến chương Tuyên thệ” (Charter Oath) hay “Năm điều tuyên thệ” (Five Articles Oath)… cũng như khoảng thời gian mười năm của thời kỳ “văn minh khai hóa” (bunmei kaika, civilization and enlightenment) sau đó đã thể hiện rất rõ tính chủ động của người Nhật trong quá trình tham gia vào trào lưu chung của chủ nghĩa tư bản. Các giải pháp chủ động của chính quyền Meiji nhằm tiếp thu văn minh phương Tây bao gồm:
- Khảo sát nền văn minh phương Tây để tìm ra những thế mạnh của từng quốc gia .
- Mời các chuyên gia phương Tây làm cố vấn và giảng dạy ở Nhật .
- Đưa người Nhật sang phương Tây học tập .
Người Nhật Bản đã không chọn hẳn một quốc gia nào làm khuôn mẫu, mà học lấy những gì hay nhất của từng nước: nước Anh về hải quân và hàng hải thương thuyền, nước Pháp về luật pháp và tổ chức chính quyền địa phương, nước Đức về quân đội và y khoa, còn Hoa Kỳ được chú ý về cách khai thác thương mại… Nhờ tính chủ động trong việc tiếp thu văn minh phương Tây, trong khoảng 3 thập kỷ người Nhật đã duy tân thành công, trở thành một nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến, ngang hàng với các cường quốc trên thế giới.
Khác với Nhật Bản, Ấn Độ là một thuộc địa quan trọng nhất của thực dân Anh, được người Anh quản lý trực tiếp và hết sức chặt chẽ. Sau trận Plassey năm 1757 , Ấn Độ đã bị người Anh chính phục. Một thế kỷ sau, từ sau cuộc khởi nghĩa 1857 (Khởi nghĩa Sepoy) chính quyền Anh đã biến Ấn Độ trở thành một thuộc địa nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của chính phủ Anh thông qua Đạo luật cải tiến quản lý Ấn Độ. Công ty Đông Ấn bị giải tán, một Phó vương (Viceroy) được cử ra để thay mặt vua Anh cai trị Ấn Độ. Theo đó, ngày 1- 1-1874, Nữ hoàng Anh Victoria tuyên bố đồng thời là Nữ hoàng Ấn Độ. Mọi quyền hành nằm trong tay Phó vương, các cơ quan khác chỉ có quyền tư vấn. Để bảo vệ bộ máy thống trị này, chính phủ Anh quyết định tăng cường lực lượng quân đội Anh ở Ấn Độ từ tỷ lệ 1/6 lên 1/2 hoặc 1/3 .
Như vậy, với tư cách là một quốc gia thuộc địa, Ấn Độ hoàn toàn không có cơ hội lựa chọn trong quá trình tiếp nhận, học hỏi văn minh phương Tây. Nói cách khác, sự tiếp thu văn minh phương Tây của Ấn Độ mang tính thụ động.
2. Khác với Nhật bản, sự chuyển biến tư tưởng chính trị diễn ra từ “trên xuống”, nhằm bảo vệ nền độc lập dân tộc và hòa nhập vào dòng chảy chung của thời đại, ở Ấn Độ, quá trình này diễn ra từ “dưới lên” với mục tiêu giải phóng dân tộc.
Sự chuyển biến của xã hội Ấn Độ vào nửa sau thế kỷ XIX đã diễn ra như là kết quả tất yếu của quá trình du nhập của chủ nghĩa tư bản Anh. Sự chuyển biến này là sâu sắc và toàn diện. Sâu sắc bởi vì nó xâm nhập vào cả những khu vực khó biến đổi nhất – nông thôn Ấn Độ, toàn diện bởi vì nó biến đổi tất cả các mặt kinh tế, xã hội lẫn chính trị .
Bên cạnh sự xuất hiện và phát triển của hai giai cấp cơ bản trong xã hội hiện đại, tầng lớp trí thức tiểu tư sản Ấn Độ cũng nhanh chóng phát triển. Điều đặc biệt là tầng lớp này được hưởng nền giáo dục phương Tây nên họ đã nhanh chóng tiếp thu các giá trị tinh thần của phương Tây. Năm 1880, tổng số người Ấn Độ hưởng nền giáo dục Anh khoảng 50.000 người, số người đạt tiêu chuẩn cử nhân (B.A) được phỏng đoán chừng 5000 người. Số lượng người học tiếng Anh tăng nhanh từ 298.000 người lên 505.000 người năm 1907. Các tờ báo lưu hành bằng tiếng Anh đạt 90.000 bản năm 1885 lên 276.000 bản năm 1905 . Nếu tính cả báo chí phương ngữ thì con số đó còn lớn hơn nhiều. Những con số này cũng đã nói lên sự hiện diện đông đảo của đội ngũ phóng viên.
Sự phát triển của báo chí Ấn Độ, một mặt phản ánh sự tiến bộ về tư tưởng, chính trị của xã hội Ấn Độ, mặt khác, nó đẩy mạnh hơn nữa quá trình tiến bộ đó. Quá trình này được khởi xướng bởi một lực lượng mới trong xã hội – tầng lớp trung lưu có giáo dục. Nền giáo dục mới mà bộ phận trung lưu có giáo dục hấp thụ ở các nhà trường phổ thông, cao đẳng, đại học do người Anh thiết lập đã trang bị cho họ những kiến thức về tư tưởng dân chủ của châu Âu hiện đại và cả các cuộc đấu tranh dân tộc vì tự do đã diễn ra ở các nước khác, “những người Ấn có giáo dục đã đọc về cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân Mĩ, cuộc đấu tranh của nhân dân Italia vì sự tự do dân tộc từ sự thống trị của áo, các cuộc đấu tranh vì tự do của Ireland. Họ cũng đã nghiên cứu các tác phẩm của Thomas Paine, Spencer, Burke, Mill, Voltaire, Mazzini, và các nhà văn khác đã thuyết giáo các học thuyết về tự do dân tộc và các cá nhân. Những người Ấn có giáo dục này đã trở thành các lãnh tụ chính trị và tư tưởng của phong trào dân tộc ở Ấn Độ” .
Sự thức tỉnh ý thức dân tộc dân chủ của nhân dân Ấn Độ được biểu hiện đầu tiên dưới hình thức tôn giáo. Một mặt là những mâu thuẫn giữa những tôn giáo cũ về quan điểm, thực tế và tổ chức, mặt khác là thực tế xã hội và kinh tế mới đã dẫn đến sự phát triển của các phong trào cải cách tôn giáo khác nhau. Các phong trào này biểu thị những cố gắng phục hưng tôn giáo cũ theo tinh thần những nguyên lý mới của chủ nghĩa dân tộc, dân chủ mà nó là những điều kiện cho sự phát triển của xã hội mới. Đây không phải là hiện tượng cá biệt ở Ấn Độ, ở châu Âu cũng đã nẩy sinh trường hợp tương tự từ thế kỷ XVI. Để thiết lập nhà nước dân tộc, phong trào dân tộc ở châu Âu đã đưa chủ nghĩa dân tộc phôi thai vào các hình thức tôn giáo như Đạo Tin lành (Protestantism) và Cải cách (Reformation). Ở châu Âu trung cổ, nhà thờ Roma đã ủng hộ nền kinh tế phong kiến và hệ thống nhà nước phong kiến – nhân tố cản trở sự thống nhất kinh tế dân tộc của nhân dân trong nước trên cơ sở mở rộng những thay đổi mới quan hệ quốc gia dân tộc của kinh tế tư bản chủ nghĩa đang phát triển – cho nên đã cản trở sự thiết lập nhà nước dân tộc, nhân tố cần thiết cho tự do và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế mới tư bản chủ nghĩa. Do vậy, sự thức tỉnh của nhân dân châu Âu đầu tiên được thể hiện trong những cuộc đấu tranh chống lại tôn giáo phong kiến. Ở Pháp, Voltaire, Rousseau, Helvetins, Holbach và những người khác đã lãnh đạo cuộc nổi dậy ban đầu này để chống lại nhà thờ Roma – sự ủng hộ tinh thần của nền kinh tế và hệ thống nhà nước phong kiến. Như vậy là cuộc nổi dậy chống tôn giáo đã đi trước sự nổi dậy chính trị thế tục của dân tộc chống lại chế độ phong kiến. Ở Ấn Độ, sự thức tỉnh dân tộc tự nó thể hiện lần đầu tiên dưới hình thức một loạt các phong trào cải cách tôn giáo. Một vài phong trào này nhằm vào việc phục hưng tôn giáo dân tộc theo tinh thần những nguyên lý của chủ nghĩa tự do, một số khác nhằm vào việc duy trì nó trong hình thức trong sạch mà nó đã tồn tại trong các thời kỳ cổ đại. Chính phong trào cải cách tôn giáo đã phát động một cuộc vận động lớn chống tôn giáo trung cổ với việc thần thánh hóa chế độ đẳng cấp đã cản trở mạnh mẽ sự thống nhất dân tộc của nhân dân Ấn Độ và sự phát triển của nền kinh tế mới ở Ấn Độ. Họ tấn công vào đa thần giáo nhằm thống nhất tôn giáo để đặt cơ sở cho sự thống nhất Ấn Độ. Rõ ràng các phong trào cải cách này là dân tộc về nội dung nhưng tôn giáo về hình thức. Điều đáng chú ý ở đây là phong trào này phát triển cả trong hai cộng đồng tôn giáo lớn của Ấn Độ: Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Trong cộng đồng Ấn Độ giáo có các phong trào tiêu biểu như:
- Brahmo Samaj, thành lập năm 1828, do Raja Ram Mohan Roy lãnh đạo. Ông được xem là “Người cha của chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ”.
- Prarthana Samaj, thành lập năm 1867 ở Bombay, do M.G.Ranade lãnh đạo. Ông cũng là một trong số lãnh tụ của Đảng Quốc Đại sau này.
- Arya Samaj, thành lập năm 1875 ở Bombay, do Dayanand Saraswati lãnh đạo.
Trong cộng đồng Hồi giáo có các phong trào tiêu biểu sau:
- Phong trào Ahmadiya do Mirra Ghulam Amad sáng lập năm 1889.
- Phong trào Aligarh do Sir Sayad Ahmed Khan khởi xướng.
Như vậy, sự chuyển biến tư tưởng của xã hội Ấn Độ đã phát triển khá sâu rộng, không chỉ những người Ấn Độ giáo ở các trung tâm kinh tế mà nó đã phát triển cả trong cộng đồng người Hồi giáo vốn có trình độ phát triển thấp hơn, sống ở vùng Tây Bắc xa xôi. Chính sự trưởng thành ý thức chính trị đó, cùng với sự bóc lột, đàn áp nặng nề của thực dân Anh, đã làm cho tình trạng bất mãn của nhân dân Ấn Độ ngày càng tăng lên.
Tình trạng bất mãn của người nông dân Ấn Độ được thể hiện rõ ràng nhất qua các cuộc đấu tranh của họ ở cuối thế kỷ XIX. Trong những năm 1870 – 1880 đã có gần 30 cuộc đấu tranh vũ trang của quần chúng. Mở đầu là các cuộc khởi nghĩa ở Penjab năm 1872, chống lại “bộ ba bẩn thỉu” (gồm địa chủ, người cho vay lãi và thực dân Anh), do hội Namdari lãnh đạo. Tổ chức này xuất hiện trong nông dân người Sikh, do Maharaja Ranjit Singh – người được mệnh danh là “Sư tử của Penjab” – đứng đầu. Đồng thời với cuộc khởi nghĩa của nông dân Penjab là cuộc khởi nghĩa của nông dân Bengal trong hai năm 1872 – 1873, do Khania Bhahatgi Kenhelia cầm đầu. Cũng từ những năm 70 này phong trào nông dân đã phát triển mạnh ở nhiều vùng thuộc Trung Ấn. Đặc biệt, trong nạn đói ở những năm 1876 – 1878, khởi nghĩa đã phát triển lên một mức độ lớn ở Trung Ấn mà lịch sử ghi nhận như là những cuộc nổi dậy Deccan (Deccan Riots). Những người cầm đầu các cuộc khởi nghĩa ở khu vực này như Chendria, Dkhara, Retdi, Pkhatca đã hoạt động trên một vùng lớn với 13.000 km2. Năm 1879, phong trào đã bao trùm lên toàn cao nguyên Deccan. Nhìn chung, các cuộc khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ, liên tục nhưng do thiếu tổ chức, rời rạc và mang nặng màu sắc tôn giáo, nên tất cả đều đi đến chỗ bị thực dân Anh đàn áp.
Tình trạng bất mãn trong tầng lớp trên và tầng lớp trung lưu trí thức, tiểu tư sản Ấn Độ cũng không ngừng tăng lên vào 30 năm cuối thế kỷ XIX. Ngoài sự chèn ép của tư bản Anh, nguyên nhân của tình trạng bất mãn này do chính các đạo luật của Anh gây ra. Chẳng hạn như Đạo luật diễn kịch (Dramatic Performance Act) năm 1876, Đạo luật sửa đổi việc tuyển người Ấn vào Cục dân sự (The Indian Civil Service) (hạ tuổi từ 21 xuống 19) năm 1877, Luật báo chí phương ngữ năm 1878 (Vernacular Press Act), Luật vũ khí năm 1878 (Airms Act). Sự bất mãn của tầng lớp trên trong xã hội trước các đạo luật này rõ ràng là mang tính chính trị.
Những thay đổi trên đây đã được chính quyền Anh nhận thấy. Năm 1880, Rippon (“Tự do”) thay Lytton (“Bảo thủ”) làm Phó vương Ấn Độ. Đây là việc thay thế của “sự phiêu lưu của những người bảo thủ” bằng “cuộc thử nghiệm của những người tự do”, bởi vì như William Wedderburn đã nhận xét: “Tình trạng của sự việc vào lúc kết thúc của chế độ Lord Lytton là tiếp giáp với một cuộc cách mạng”. Chính vì vậy, chính quyền thực dân Anh đã tìm cách vượt trước phong trào dân tộc Ấn Độ bằng cách tham gia và thúc đẩy vào quá trình thành lập Đảng Quốc Đại Ấn Độ vào tháng 12 năm 1885 nhằm tạo ra một “chiếc van an toàn” để chống lại phong trào dân tộc Ấn Độ . Tuy nhiên, chính quyền thực dân đã không thể khống chế được tổ chức chính trị này, bởi lẽ những biến đổi mạnh mẽ trong xã hội Ấn Độ đã chuẩn bị điều kiện đủ cho sự thành lập một tổ chức chính trị của phong trào dân tộc và sự ra đời của Đảng Quốc Đại Ấn Độ chính là sự đáp ứng cho yêu cầu của những biến đổi đó. Nói cách khác, những biến chuyển mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội ở Ấn Độ cuối thế kỷ XIX đã chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của một tổ chức chính trị. Đồng thời chính những chuyển biến mạnh mẽ đó cũng đặt ra yêu cầu phải có một tổ chức chính trị. Thực tế này góp phần chứng minh rằng sự ra đời của Đảng Quốc Đại vào tháng 12 năm 1885 trước hết là kết quả của những chuyển biến trong xã hội Ấn Độ trong nửa sau thế kỷ XIX, còn A. O. Hume chỉ là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự ra đời của tổ chức này mà thôi .
Như vậy, sự tiếp xúc một cách “cưỡng bức” với văn minh phương Tây của người Ấn Độ đã dẫn đến hệ quả là sự ra đời của một tầng lớp xã hội lấy các giá trị phương Tây làm mục tiêu và họ đã cấu trúc hóa tư tưởng này thành một tổ chức chính trị tương ứng – Đảng Quốc Đại Ấn Độ. Điều đó có nghĩa là, những chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng chính trị ở Ấn Độ vào nửa sau thế kỷ XIX xuất phát từ yêu cầu của những biến đổi về kinh tế xã hội dưới ách thống trị của thực dân Anh cũng như yêu cầu của cuộc đấu tranh chống xâm lược. Đây là sự thay đổi từ “dưới lên”.
Khác với Ấn Độ, ở Nhật Bản, sự thay đổi được tiến hành từ “trên xuống”. Ngay từ đầu, khi những thách thức nổi lên gay gắt trong xã hội, một bộ phận của giai cấp phong kiến Nhật đã nhận thức cần có sự thay đổi để ứng phó với sức ép của các cường quốc phương Tây. Khi Chính phủ Edo không còn khả năng bảo vệ Nhật Bản, phải ký kết nhiều thoả ước và cúi đầu trước các người phương Tây, một bộ phận Samurai đã tự nhận là “Samurai không chủ”, tấn công các người phương Tây, giết chết viên thư ký của Lãnh sự Hoa Kỳ Harris vào năm 1859 và đốt toà nhà Lãnh sự Anh tại Edo vào năm 1863. Họ cũng đã phục kích và giết chết Ii Naosuke, lãnh chúa chủ trương hoà hoãn với phương Tây, bên ngoài cổng lâu đài tại Edo năm 1860.
Cuộc cải cách của Nhật Bản lấy Nhật Hoàng làm trung tâm, do đó công cuộc “văn minh hóa” được chính giai cấp phong kiến nhận thức và tiến hành. Sau khi lật đổ chế độ Tướng quân, ngày 08-4-1868 các nhà lãnh đạo mới đã nhờ Thiên Hoàng công bố Tuyên ngôn với nội dung: a. Loại bỏ tất cả các hủ tục; b. Tạo cơ hội cho mọi người một cách công bằng; c. Học hỏi các nước trên thế giới.
Dưới danh nghĩa đoàn kết chung quanh Thiên Hoàng, những nhà lãnh đạo mới đã không làm sống lại cơ chế cổ xưa hay các chức tước đã có từ trước, mà cố gắng học hỏi ở các nước phương Tây tiến bộ hơn nhằm tiến đến “Phú quốc, cường binh”. Điều này cũng có nghĩa là: Mục tiêu chính của Nhật Bản trong văn minh hóa không phải là giải phóng dân tộc như của người Ấn Độ mà chỉ ở mức độ bảo vệ nền độc lập dân tộc.
CHÚ THÍCH
Hiệp ước Tordesillas (7-6-1494), được ký kết giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, do Giáo hoàng Alexander VII làm trung gian và được Giáo hoàng Jules II xác nhận năm 1506, nhằm giải quyết cuộc tranh chấp giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đối với quyền kiểm soát các lãnh thổ mới được khám phá ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ – nơi được xem như terra nullius (đất vô chủ). Theo hiệp ước này, phạm vi ảnh hưởng của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha được phân chia bằng đường phân định là một kinh tuyến Nam – Bắc cách quần đảo Cap Vert (hồi đó thuộc về Bồ Đào Nha) 370 hải lí (1770 km), đường kinh tuyến này hiện ở 46°37′ tây. Như vậy, Bồ Đào Nha bành trướng về phía Đông, qua châu Phi, Ấn Độ cho tới Việt Nam và Trung Quốc lục địa; còn Tây Ban Nha bành trướng về phía Tây, qua lục địa châu Mỹ tới vùng quần đảo Philippine.
Estado da India (Chính thể hoàng gia Bồ Đào Nha ở Đông Ấn) là tên gọi do Quốc vương Bồ Đào Nha đưa ra. Đây không phải là một nhà nước mà là sự tập hợp của những pháo đài, những hạm đội và các cộng đồng người Bồ Đào Nha kéo dài từ Đông Phi đến Nhật Bản (G.B. Souza, The Survival of Empire, Cambridge University Press, 1986, p. 13). Cùng với hoạt động truyền giáo, mục tiêu kinh tế cơ bản của Estado da India ở phương Đông là chi phối nền hải thương châu Á trong lĩnh vực buôn bán hương liệu, đặc biệt là hồ tiêu – vốn là động lực cho sự tồn tại và phát triển của nền hải thương năng động ở Ấn Độ Dương từ nhiều thế kỷ trước. Lúc bấy giờ thương mại hương liệu có giá trị lớn hơn so với giá trị các hàng hóa xa xỉ phẩm. Estado da India
Tên gọi Nhật Bản, theo âm Hán đọc là “Nihon” hay “Nippon”, người Bồ Đào Nha khi đó nghe vậy đọc là “Zipangu”, sau biến thành “Japan”.
Về khái niệm này có thể tham khảo thêm: Vĩnh Sính, Hội trí thức Meirokusha và tư tưởng khai sáng ở Nhật Bản, Thời đại mới, số 4, tháng 3-2005 (http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai4/200504_VSinh.htm) hoặc http://vietsciences.free.fr/lichsu/lichsucacnuoc/Meirokusha.htm)
Từ năm 1871 đến năm 1873, Iwakura đã dẫn một phái đoàn thực hiện một chuyến công du, trước tiên tới Hoa Kỳ, rồi sau qua một số nước phương Tây nhằm mục đích: 1. Thăm đáp lễ các nước đã ký hiệp ước với Nhật; 2. Thuyết phục họ sửa đổi các hiệp ước bất công, đã áp đặt lên chính quyền Tokugawa do Bakufu đã ký; 3. Thị sát, nghiên cứu chế độ văn vật của các nước tiên tiến Âu Mỹ.
Việc mời các chuyên gia phương Tây làm việc được đặc biệt ưu tiên cho các lĩnh vực mà Nhật Bản còn yếu: Công nghệ, kỹ thuật, giáo dục, hải quân…
Vấn đề này được đặt ra từ năm 1869. Đến năm 1871, chính phủ Meiji đã tiến hành sửa đổi và ban hành Quy chế về lưu học sinh (Kaigai Ryugakusei Kisoku).
Plassey nằm ở Đông Bắc Ấn Độ, Tây Bengal, Tây Bắc Calcutta, nơi diễn ra trận đánh của một nhóm nhỏ quân đội Anh, dưới sự chỉ huy của Robert Clive, đánh bại quân Bengal, thiết lập sự thống trị của Anh ở đây. Giới sử học Ấn Độ xem đây là sự kiện mở đầu cho sự thống trị của người Anh ở Ấn Độ.
Vũ Dương Ninh (CB), Lịch Sử Ấn Độ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1995, tr. 90.
Văn Ngọc Thành, Sự chuyển biến ở Ấn Độ vào nửa sau thế kỷ XIX . Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Vinh, tập XXXII, số 1(2003), tr. 30 – 38 (http://user.hnue.edu.vn/index.php?page=news&uid=118&news_id=521 )
Kumar S., Modern India 1885 – 1947, Macmillian, Madras – Bombay – Delhi – Patna, 1985, pp. 65, 66.
Desai A.R, Social Background of Nationalism (ed 5th), Bombay, 1976, p. 317.
Xem: Đớt R.P. , Ấn Độ hôm nay và ngày mai, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1960, tr. 122; Nguyễn Thừa Hỷ, Ấn Độ qua các thời đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1986. Tr.90.
Văn Ngọc Thành, Sự ra đời của Đảng Quốc Đại Ấn Độ (25 – 12 – 1885), Nghiên cứu lịch sử, số 5 (330), 2003, Viện Sử học Việt Nam, tr. 70 – 79.

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2011

Công chúa Huyền Trân – trung hiếu vẹn toàn


Công chúa Huyền Trân – trung hiếu vẹn toàn


Dưới thời nhà Trần (1226 – 1400), Đại Việt là một quốc gia hùng cường có uy danh lừng lẫy, ngoại xâm phải kiêng sợ, lân bang kính nể dưới sự trị vì những vị vua anh minh như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông,… và sự góp sức của nhiều tướng tài như Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão… Bên cạnh những vị vua, vị tướng đã góp công giữ vững bờ cõi Đại Việt thì phải kể đến một công chúa đã thầm lặng hy sinh, góp công lớn trong việc bang giao với Chiêm Thành và mở rộng lãnh thổ Đại Việt về phương Nam. Đó là công chúa Trần Huyền Trân.
 Tạo trang in
Quang cảnh khuôn viên đền thờ công chúa Huyền Trân từ bên trong nhìn ra

Hoàn cảnh lịch sử bấy giờ
Từ khi nhà Nguyên do Hốt Tất Liệt lập nên tại Trung Quốc vào năm 1271, không lúc nào vương triều này nguôi ý định xâm lấn về phương Nam, sát nhập Đại Việt vào lảnh thổ Trung Quốc. Đó là hai lần quân Nguyên kéo quân sang xâm lấn Đại Việt vào năm 1285 và 1287 – 1288, nhưng cả hai lần đều bị quân dân Đại Việt dưới sự lảnh đạo của Trần Hưng Đạo đánh bại.
Kể từ năm 1253 (Hốt Tất Liệt tấn công nhà Tống) đến năm 1294 (Hốt Tất Liệt chết), mặc dù thua trận trong 3 lần tấn công Đại Việt nhưng nhà Nguyên lúc nào cũng nguôi mộng xâm lấn về phương Nam, đồng thời chờ đợi thời cơ mối quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành trở nên bất hòa sẽ kéo quân sang tấn công Đại Việt. Chính vì hoàn cảnh lịch sử đó, việc công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành sẽ làm gắn kết thêm mối quan hệ bang giao giữa hai nước.
Công chúa Huyền Trân hy sinh cho mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt và Chiêm Thành
Huyền Trân (1287 – 1340), là con gái út yêu quí của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, em gái vua Trần Anh Tông. Tháng 3 năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông tiến hành cuộc viễn du sang kinh đô Chiêm Thành. Vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu với tình bang giao hòa hiếu giữa hai nước, ngoài ra còn đưa Thượng hoàng đi xem các danh lam nơi đây như Tháp Vàng  hay Tháp Ngà… Cảm kích trước tấm lòng vị vua trẻ và cũng để tăng thêm quan hệ thân mật giữa hai nước Đại Việt – Chiêm Thành nên Thượng hoàng hứa gả con gái Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân (mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất hoàng hậu Tapasi - người Java).
Năm 1306, sau khi nhận lễ vật cầu hôn, vua Trần Anh Tông đồng ý  gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân, Vua Chiêm dâng Châu Ô, Châu Lý (còn gọi Châu Rí ) làm vật cưới phong Huyền Trân và phong làm hoàng hậu Paramecvari. Cuộc hôn nhân này nội bộ triều đình nhà Trần không tán thành vì kì thị dân tộc nhưng cũng có nhiều người (trong đó có Trần Khắc Chung) cho đó là việc tốt nên làm.
Năm 1307, vua Anh Tông thu nhận châu Ô và châu Rí, đổi thành châu Thuận và châu Hóa (Thuận Hóa – vùng đất này tương ứng với phía Nam tỉnh Quảng Trị và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay), đồng thời sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt các chức quan tại đây.
Huyền Trân về Chiêm Thành được một năm đã hạ sinh cho Chế Mân hoàng tử Chế Đa Đa. Sau khi Chế Đa Đa ra đời thì quốc vương Chế Mân băng hà, theo tục lệ nước Chiêm Thành, hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu chết theo vua. Vua Trần Anh Tông sợ em mình phải chết theo tục lệ của Chiêm Thành nên sai quan Nhập nội hành khiển Thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung và an phủ Đặng Văn tìm cách giải cứu.
Tháng 10 năm 1307, hai sứ giả đến kinh đô Chiêm Thành làm lễ viếng, nhân đó Khắc Chung đã bài kế dùng thuyền nhẹ cứu Huyền Trân, đưa Huyền Trân xuống thuyền về Đại Việt bằng đường biển.
Đến tháng 8 năm 1308, sau khoảng thời gian gần một năm, thuyền của công chúa và Trần Khắc Chung mới về đến Thăng Long bất chấp sự gièm pha của các quan lại, tôn thất triều Trần và là một vấn đề đáng chê trách đối với những người theo thuyết Nho giáo. Với vua Trần Anh Tông, vì thương em gái nên ngài không nhắc đến chuyện cũ và cũng không trách mắng Trần Khắc Chung.
Năm 1309 công chúa xuất gia Phật Giáo ở núi Trâu thuộc tỉnh Bắc Ninh, pháp danh là Hương Tràng. Năm 1311, Hương Tràng lập am ở dưới chân núi Hổ (huyện Thiên Bản, Nam Định ngày nay) để tu hành. Sau này am trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn.
Năm 1340, Hương Tràng (công chúa Huyền Trân) mất, người dân quanh vùng thương tiếc, phong bà làm “Thần Mẫu” và lập điện thờ cạnh chùa Nộm Sơn.
Hiện nay, đền thờ công chúa Huyền Trân tọa lạc dưới chân núi Ngũ Phong thuộc  phường An Tây, thành phố Huế lớn (đền thờ nằm trong khuôn viên Trung tâm văn hóa Huyền Trần với điện thờ Huyền Trân, điện thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông, Thiền viện Trúc Lâm…). Hằng năm vào ngày mất của  bà (9/1 ÂL), tại đây có diễn ra lễ hội Huyền Trân với quy mô lớn. Trong gian điện thờ Huyền Trân,  bà Trương Mỹ Hoa - nguyên phó chủ tịch nước CHXHCN VN có ghi lưu bút: “Có những vấn đề của phụ nữ phải được giải quyết từ Quốc gia, có những vấn đề của Quốc gia phải giải quyết từ người phụ nữ”.
Ngoài ra chuyện tình của Huyền Trân công chúa đã đi vào thơ ca và âm nhạc Việt Nam như Huyền Trân Công chúa, Nước non ngàn dặm, Tiễn biệt Huyền Trân…
Ngày nay, Khi nhắc đến Công chúa Huyền Trần vẫn còn nhiều ý kiến khen chê khác nhau. Nhưng chung qui lại, việc Huyền Trân thể hiện đức hy sinh cao cả của mình vì mối bang giao Việt – Chiêm, đem lại sự giao hảo về chính trị, xóa bỏ sự hiềm khích để hai dân tộc chung sống hòa bình, không chiến tranh, thể hiện ước muốn của nhân dân hai nước là một điều xứng đáng được lưu lại trong lịch sử dân tộc với ý nghĩa cao đẹp về lòng yêu nước, hy sinh về quốc gia dân tộc. Hơn nữa, với mối tình với danh tướng Trần Khắc Chung, Huyền Trân vẫn mãi là biểu tượng cho tình yêu chung thủy trong lịch sử Việt Nam.
Tham khảo:
Chuyến thực tế chuyên môn tại Huế năm 2008.
Trần Quỳnh Cư. Những chuyện tình cảm động lịch sử Việt Nam
Nguyễn Khắc Thuần. Việt sử giai thoại, tập 3
Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử lược