Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

tài liệu về vụ khủng bố 11/9/2001 ở Mỹ


Diễn biến ngày đen tối nhất lịch sử nước Mỹ

Người Mỹ sẽ không bao giờ quên ngày 11/9/2001 khi nước Mỹ bị tấn công. Toàn bộ diễn biến của ngày đen tối nhất trong lịch sử cường quốc số một thế giới được cô đọng trong 22 sự kiện chính sau đây.
Nhiệm vụ lịch sử của phi công Mỹ ngày 11/9
Công trình đặc biệt tưởng niệm vụ 11/9

Abdulaziz al-Omari và Mohammed Atta (áo xanh). Ảnh: FBI
5h45: Nhóm không tặc bắt đầu kế hoạch tấn công của chúng. Tại sân bay quốc tế Portland, thuộc bang miền đông bắc Maine, hai trong số 19 kẻ tấn công làm thủ tục lên máy bay. Hình ảnh của Abdulaziz al-Omari và kẻ cầm đầu Mohammed Atta bị camera an ninh ghi được khi chúng đi qua cổng kiểm tra an ninh sân bay, để từ đây bay tới Boston, nơi chúng sẽ lên chuyến bay mang số hiệu 11 của hãng hàng không American Airlines. Ba tên không tặc khác đã chờ sẵn tại đó để cùng al-Omari và Atta cướp chiếc máy bay.
7h18: Tại sân bay quốc tế Dulles ở ngoại ô thủ đô Washington, hình ảnh của nhóm không tặc thứ hai gồm 5 tên được ghi nhận bởi camera an ninh, khi chúng trải qua các thủ tục kiểm tra an ninh trước khi lên chuyến bay số hiệu 77 của hãng hàng không American Airlines có đích đến là Los Angeles. Khalid al-Midhar và Nawaf al-Hazmi là những kẻ bị nhận mặt rõ nhất. Trong vài ngày trước đó, cả hai kẻ này đều nằm trong danh sách theo dõi, nhưng an ninh sân bay lại không biết điều này.
5 tên không tặc
5 tên không tặc cướp chiếc máy bay số hiệu 11 của American Airlines và sơ đồ cho thấy chiếc phi cơ bị đổi hướng để lao tới New York. Đồ họa: BBC
8h14: Chuyến bay số hiệu 11 của American Airlines bị tấn công. Khoảng 15 phút sau khi máy bay cất cánh, nhóm không tặc dùng dao đâm ít nhất hai thành viên phi hành đoàn và một hành khách khi tìm cách giành quyền kiểm soát chiếc phi cơ. Báo động được phát đi 5 phút sau đó bởi tiếp viên hàng không Betty Ong. Cô dùng điện thoại trên máy bay để gọi về cho hãng American Airlines, thông báo: "Buồng lái của phi công không trả lời. Ai đó đã bị đâm tại khoang thương gia, và tôi e rằng đang có một cuộc tấn công."
8h38: Kiểm soát không lưu liên lạc với giới chức quân sự sau khi nhận được một thông tin từ chuyến bay số hiệu 11, được cho là nhằm vào các hành khách: "Nếu các người hòng tạo ra bất cứ cản trở nào, các người sẽ tự gây nguy hiểm cho bản thân và chiếc máy bay này. Hãy ở nguyên vị trí." Một cuộc bắt cóc máy bay rõ ràng đang xảy ra. Hai chiến đấu cơ F-15 cất cánh 5 phút sau đó.
Nhóm không tặc cướp chiếc phi cơ số hiệu 175 của hãng United Airlines và sơ đồ hành trình bị đổi hướng của chiếc máy bay này. Đồ họa: BBC
8h46: Chuyến bay số hiệu 175 của hãng hàng không United Airlines bị cướp. Các phi công bị giết trong khi nhóm không tặc đe dọa đánh bom khi giành quyền kiểm soát chiếc máy bay. Khoảng 12 phút sau, nó được hướng tới New York. Một hành khách gọi cho cha của mình và nói: "Con không nghĩ là các phi công đang lái máy bay. Con cho là những kẻ tấn công định lái máy bay tới Chicago, hoặc đâu đó khác, rồi lao vào một tòa nhà. Nhưng cha đừng lo, nếu điều đó xảy ra, nó sẽ rất nhanh thôi."
8h46: Chiếc máy bay số hiệu 11 của American Airlines lao vào Tháp Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC), tại Manhattan, New York, với tốc độ 700 km/giờ. Toàn bộ 92 hành khách và 9 thành viên phi hành đoàn có mặt trên chiếc Boeing 767 đều thiệt mạng. Rất nhiều người đang làm việc tại Tháp Bắc cũng cùng chung số phận. Những người ở phía trên tầng 92 của tòa tháp 110 tầng, nơi chiếc máy bay lao vào, bị mắc kẹt vì không thể xuống phía dưới để thoát thân. Nhiên liệu từ chiếc Boeing bốc cháy và tạo nên một quả cầu lửa khổng lồ. Sức nóng từ lửa lan nhanh xuống tận các tầng thấp nhất của tòa tháp.
8h52: Ngay sau đó, rất nhiều lính cứu hỏa được điều động tới hiện trường vụ cháy ở Tháp Bắc. Họ tìm thấy rất nhiều cửa sổ bị thổi tung và nhiều người bị bỏng. Lính cứu hỏa bắt đầu một sứ mệnh giải cứu và đi dần lên các tầng cao hơn bằng cầu thang bộ. Vào khoảng 9h00, người đứng đầu lực lượng cứu hỏa New York có mặt tại hiện trường, trong khi tổng cộng 235 lính cứu hỏa được điều động.
Nhóm không tặc cướp chiếc máy bay số 77 của American Airlines
Nhóm không tặc cướp chiếc máy bay số 77 của American Airlines và sơ đồ hành trình bị đổi hướng của nó. Đồ họa: BBC
8h54: Chuyến bay mang số 77 của American Airlines bắt đầu đổi hành trình khi những kẻ không tặc giành được quyền kiểm soát. Đây là chiếc phi cơ thứ ba bị cướp. Hệ thống thu phát tín hiệu của chiếc Boeing 757 bị ngắt chỉ hai phút sau đó. Hành khách bắt đầu gọi cho người thân của họ bằng điện thoại đi động, để thông báo về tình hình khẩn cấp trên máy bay. Họ nói rằng những tên không tặc dùng dao để tấn công.

8h58: Lực lượng cảnh sát New York (NYPD) huy động gần 1.000 nhân viên để đối phó với thảm họa đang diễn ra. Hai máy bay trực thăng được điều động tới WTC. Các nhân viên cảnh sát có mặt tại Tháp Bắc khi chiếc Boeing 767 lao vào tòa tháp này trực tiếp giúp đỡ người dân thoát thân. Cho tới 9h00, cảnh sát yêu cầu toàn bộ dân thường tại WTC đi di tản.
9h04: Nhưng khi việc sơ tán người dân còn đang diễn ra, Tháp Nam của WTC đã bị chiếc máy bay số hiệu 175 của United Airlines đâm vào theo kịch bản tương tự cú đâm ở Tháp Bắc. Vận tốc của máy bay khi lao vào Tháp Nam là 870 km/giờ. Nó tạo ra một lỗ thủng lớn từ tầng 77 tới tầng 85 của tòa tháp. Toàn bộ 65 hành khách và phi hành đoàn thiệt mạng ngay khi đó. Một cầu thang dẫn tới các tầng phía trên vẫn còn có thể sử dụng được, và đây chính là lối đi mà nhiều người sử dụng để chạy lên tầng thượng, với hy vọng được giải cứu.

9h05: "Chiếc máy bay thứ hai đã đâm vào tòa tháp còn lại. Nước Mỹ bị tấn công", Chánh văn phòng Nhà Trắng Andrew Card nói với Tổng thống George Bush. Trong vòng 5 tới 7 phút sau đó, ông Bush vẫn nán lại phòng học ở trường tiểu học Emma E Booker, tại Saratosa, bang Florida. Ông tới thăm các trẻ em ở đây trong một giờ đọc sách.
Nhóm
Nhóm không tặc cướp chiếc máy bay mang số hiệu 93 của hãng United Airlines và hành trình bị đổi hướng của nó. Đồ họa: BBC

9h28: Giới chức hàng không lúc này đã biết việc 3 chiếc máy bay chở khách bị cướp. Một nhân viên điều hành của hãng United Airlines cảnh báo chuyến bay số hiệu 93 của hãng này về an ninh buồng lái, nhưng thông điệp này tới quá muộn. Những tên không tặc đã hành động trước đó. Các nhân viên kiểm soát không lưu nghe được những tiếng động tại buồng lái của chiếc máy bay và cả tiếng la thất thanh: "Ra khỏi đây ngay, ra khỏi đây ngay, ra khỏi đây ngay."
9h30: Trong tuyên bố đầu tiên về các cuộc tấn công trên đất Mỹ, Tổng thống Bush thề sẽ "tiến hành một cuộc điều tra toàn diện để tìm ra những kẻ chịu trách nhiệm cho hành động tấn công". "Chủ nghĩa khủng bố chống lại đất nước của chúng ta sẽ không thể tồn tại", ông Bush nói. Sau đó, cựu tổng thống Mỹ nghĩ tới việc từ Florida trở về Washington.

9h37: Lo sợ nguy cơ chiếc máy bay số hiệu 77 của American Airlines đang hướng tới Nhà Trắng, Cơ quan Mật vụ Mỹ quyết định đưa Phó tổng thống Dick Cheney vào hầm trú ẩn. Sau đó, ông Cheney khuyên Tổng thống Bush quay trở về thủ đô Washington ngay lập tức.

9h38: Nhưng mục tiêu của chiếc phi cơ số hiệu 77 của American Airlines không phải là Nhà Trắng, mà lại là Lầu Năm Góc - trụ sở của Bộ Quốc phòng Mỹ. Nó đã lao vào tòa nhà này với tốc độ cao nhất, khiến toàn bộ 64 hành khách và phi hành đoàn thiệt mạng. 125 nhân viên dân sự và quân sự làm việc tại Lầu Năm Góc cũng cùng chung số phận.
Những đám khói bụi bốc cao sau khi Tháp Nam sụp đổ hoàn toàn. Ảnh: NY
Những đám khói bụi bốc cao sau khi Tháp Nam sụp đổ hoàn toàn. Ảnh: NY Police Authority

9h59: Chưa đầy một giờ sau khi bị đâm phải, tòa Tháp Nam 110 tầng của WTC đổ sụp hoàn toàn chỉ trong vòng 10 giây. Không một ai có mặt trong tòa tháp khi đó còn sống sót. Những đám bụi lớn bốc cao tại phía nam của Manhattan, New York. Khoảng 600 người ở trong và quanh tòa nhà thiệt mạng. Hầu hết trong số này là những người làm việc tại tòa tháp hoặc quanh khu vực bị ảnh hưởng bởi vụ Tháp Nam đổ sụp.
10h04: Chiếc máy bay số hiệu 93 của hãng United Airlines lao xuống một cánh đồng ở Shanksville, bang Pennsylvania. Nhiều giả thiết được đưa ra về nguyên nhân dẫn tới việc này, trong đó nhiều người tin rằng nhóm không tặc bị mất quyền kiểm soát chiếc máy bay khi đụng độ với các hành khách.
Trước khi chiếc phi cơ lao xuống mặt đất, các hành khách và phi hành đoàn đã gọi cho những người thân yêu của họ, và được cho biết về những vụ tấn công ở New York. Có lẽ đây là lý do dẫn tới việc họ quyết định giành quyền kiểm soát chiếc máy bay để ngăn chặn thảm kịch tiếp theo xảy ra, nhưng phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình. Sau này, một bộ phim mang tên "Chuyến bay số 93" đã được làm, với nội dung thuật lại các diễn biến trên chiếc máy bay của hãng United Airlines vào cái ngày định mệnh ấy.
Lính cứu hỏa New York đang làm việc ở hiện trường đổ nát của hai tòa tháp WTC. Ảnh: AP
Lính cứu hỏa New York đang làm việc ở hiện trường đổ nát của hai tòa tháp WTC. Ảnh: AP
10h29: Tòa Tháp Bắc của WTC đổ sụp với tốc độ nhanh đến bất ngờ, giống như điều đã xảy ra với Tháp Nam. Khoảng 1.400 người thiệt mạng trong và xung quanh tòa nhà. Chỉ có 16 người tại cầu thang B của Tháp Bắc sống sót sau khi cả tòa kiến trúc hơn 100 tầng này sụp xuống.
12h30: Hơn 4 giờ sau khi các vụ tấn công bắt đầu xảy ra, nước Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử phải đóng không phận. Tất cả các máy bay dân sự không ở trong tình thế khẩn cấp đều bị buộc phải hạ cánh. Hàng trăm nghìn người vì thế bị kẹt lại tại khắp các sân bay trên toàn nước Mỹ.
18h54: Tổng thống George Bush về tới Washington, khoảng 9 giờ sau khi ông rời bang Florida. Ông dành phần lớn thời gian ngày hôm đó để di chuyển giữa các địa điểm an toàn khác nhau trên siêu chuyên cơ Air Force One.
20h30: Tổng thống Bush đọc bài diễn văn từ Nhà Trắng, với nội dung về ngày đen tối nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Ông nói: "Những hành động giết người hàng loạt được thực hiện nhằm mục đích khiến chúng ta sợ hãi và đẩy đất nước của chúng ta vào hỗn loạn. Nhưng chúng đã thất bại."
21h00: Sau khi đọc bài diễn văn nói trên, ông Bush tổ chức một cuộc họp với Hội đồng An ninh Quốc gia. Ông nói rõ ý định trừng phạt những tổ chức đã lên kế hoạch và thực hiện các cuộc tấn công, cũng như bất cứ quốc gia nào chứa chấp những tổ chức này.Hà Giang (Theo BBC

2. 


10 sự thật ít biết về vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ

Thứ ba, 06 Tháng 9, 2011
Phía sau vụ tấn công khủng bố gây hậu quả tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ là những sự thật mà không phải ai cũng được biết.
Một người đàn ông đứng giữa đống đổ nát sau sự sụp đổ của tòa tháp đôi WTC. Ảnh: AFP
1. Có tới 3.051 trẻ em bị mất cha hoặc mẹ sau vụ 11/9. Bên cạnh đó, có 17 em bé đang nằm trong bụng mẹ khi những người cha của chúng thiệt mạng trong các vụ tấn công. Khoảng 9 tháng sau vụ khủng bố, số ca sinh ở thành phố New York tăng tới 20% so với cùng thời điểm điều tra vào năm 2000.
2. Tổng giá trị của các tác phẩm nghệ thuật bị mất đi sau khi hai tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) sụp đổ đã vượt quá 100 triệu USD. Trong số này có cả những bức tranh của danh họa Pablo Picasso.
3. Người ta ca ngợi những chú cảnh khuyển tham gia tìm kiếm người còn sống sau thảm họa mà quên mất một chú chó phi thường khác. Đó là Roselle, một chú chó săn dòng Labrador chuyên làm nhiệm vụ dẫn đường cho người chủ bị mù là Michael Hingson. Roselle đã đưa Hingson đi thang bộ từ tầng 78 của Tháp Bắc WTC xuống đường và tới nhà một người bạn một cách an toàn.
4. Các công nhân đã phải thu dọn khoảng một triệu tấn vật liệu vụn nát để tìm kiếm những người còn mắc kẹt và tư trang của những nạn nhâu xấu số. Họ đã tìm thấy khoảng 65.000 vật dụng, trong đó có 437 đồng hồ và 144 nhẫn cưới.
5. Ba giờ trước khi các vụ tấn công xảy ra, một chiếc máy có tên gọi Máy phát sinh Sự kiện Ngẫu nhiên đặt tại trường đại học Princeton đã tiên đoán được một sự kiện khủng khiếp sắp xảy ra.
6. Trong một cuộc tập trận mang tên "Người bảo vệ cẩn mật", Trung tâm Chỉ huy Phòng vệ Vũ trụ Bắc Mỹ (NORAD), đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ không phận Mỹ, đã giả định ít nhất 4 vụ cướp máy bay trong tuần trước khi xảy ra vụ 11/9, và thậm chí còn dự định tiến hành một cuộc giả định nữa vào buổi sáng mà nước Mỹ bị tấn công.
7. Có tới 5 trong số 19 không tặc tham gia vụ tấn công 11/9 đã nghỉ lại tại một khách sạn ngay gần cổng dẫn vào Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), trong những ngày trước khi tiến hành cướp 4 máy bay chở khách.
8. John Patrick O’Neill, một đặc vụ từng lãnh đạo Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) và tham gia điều tra về liên hệ của Al-Qaeda trong vụ đánh bom WTC năm 1993, đã rời FBI vì những bất đồng về chính sách. O'Neill đảm nhận công việc mới trong vai trò người phụ trách an ninh tại WTC, và mất trong ngày định mệnh 11/9.
9. Chỉ có 291 thi thể được tìm thấy nguyên vẹn tại hiện trường đổ nát của hai tòa tháp WTC. Cha mẹ của Lisa Anne Frost, 22 tuổi và là một hành khách trên chuyến bay số hiệu 175 của hãng United Airlines lao vào Tháp Nam, đã phải chờ gần một năm mới được nhận lại những gì thuộc về con gái họ.
10. Lính cứu hỏa mất tới 100 ngày mới có thể dập tắt hoàn toàn các đám cháy bị gây ra bởi các vụ tấn công nhằm vào hai tòa tháp WTC.
 
Theo VNE




)

QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI CỦA XIÊM VỚI CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI RAMA III (1824 - 1851)


QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI  CỦA XIÊM  VỚI CÁC NƯỚC

PHƯƠNG TÂY DƯỚI THỜI RAMA III (1824 - 1851)
                                                                      Đặng Văn Chương
          Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế

Khi nghiên cứu về quan hệ đối ngoại của Xiêm với các nước phương Tây thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, người ta thường chú ý đến những thành công nỗi bật trong chính sách đối ngoại khôn khéo của Xiêm dưới thời vua Mongkut (Rama IV) và vua Chulalongkon (Rama V) mà hầu như không đề cập đến thời Rama III trước đó, vì  một số nhà sử học phương Tây cho rằng Rama III là một con người cứng nhắc và thiếu cởi mở. Vương quốc Xiêm dưới thời Mongkut (1851-1868) và Chulalongkon (1868-1910) đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác với các nước phương Tây, dần dần đi theo quỹ đạo của các nước phương Tây và từng bước hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, khi nhìn lại mối quan hệ của vương quốc Xiêm với các nước phương Tây dưới thời Rama III (1824 – 1851), Xiêm cũng đã đạt được những kết quả rất quan trọng trong việc giữ gìn nền hòa bình và đã kiên quyết bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ trước những đòi hỏi ngang ngược của các nước đế quốc, thực dân phương Tây mà nhiều nước chung quanh ở khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ đã không thể thực hiện được. Chính thành công đó mở đường cho thắng lợi ngoại giao của Xiêm trong các giai đoạn tiếp theo.
I. Nền tảng chính trỊ, kinh tế - quân sự  của đường lối đối ngoại của Xiêm dưới thời Rama III (1824 - 1851)
Trước những áp lực và thách thức ngày càng gia tăng đối với Xiêm từ các thế lực thực dân và tư bản phương Tây thì Rama II qua đời (7-1824) không để lại di chúc về người kế vị. Trước tình hình đó, buộc triều đình Xiêm (sau mấy lần thảo luận) phải chọn hoàng tử Chet-xa-bô-đin, là con trai trưởng của Rama II nhưng không phải là con của Chính cung hoàng hậu lên ngôi vua lúc 37 tuổi - tức là Rama III (1824-1851), thay vì theo luật là phải chọn hoàng tử Mongkút là con của Chính cung hoàng hậu. Điều đó được giải thích là, lúc bấy giờ, nước Xiêm cần có một ông vua cứng rắn, quyết đoán, kiên quyết nhưng linh hoạt trong ứng xử với các thế lực phương Tây đầy tham vọng đang toan tính can thiệp, xâm lược nước Xiêm. Hoàng tử Chet-xa-bô-đin được triều đình lựa chọn vì ông ta lớn hơn hoàng tử Môngkút 17 tuổi, "lại rất giỏi việc nước, đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng, đã từng thay vua cha điều hành đất nước" [8, tr.127], còn hoàng tử Môngkút vẫn tiếp tục tu hành ở trong chùa.
Chính sách đối ngoại có mối quan hệ mật thiết với đường lối đối nội và nó cũng phản ánh sức mạnh, vị thế và khuynh hướng của quốc gia trong mối quan hệ với các nước khác. Do vậy, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi cũng đề cập đến những nét khái quát về chính trị - tổ chức nhà nước, kinh tế, quân sự và vị thế của Xiêm dưới thời Rama III. Đó chính là cơ sở, là tiền đề cần thiết để Xiêm thực hiện đường lối đối ngoại ''mềm dẻo'' nhưng cũng rất ''kiên quyết'' trong việc bảo vệ nền hòa bình, độc lập và quyền lợi của vương quốc Xiêm đối với các nước lớn phương Tây mà trực tiếp là Anh và Mỹ.
1. Về chính trị - tổ chức bộ máy Nhà nước:
Ngay từ khi vương triều Chakri thành lập, quá trình xác lập và tập trung hóa cao độ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã được các vua đầu triều đặc biệt chú ý. Dưới thời Rama I (1782-1809) và Rama II (1809-1824), việc xây dựng, củng cố tổ chức hành chính, tăng cường sức mạnh quyền lực của nhà vua đã được đẩy mạnh. Hệ thống các quan hệ họ hàng huyết thống được củng cố, hình thành nên một nhóm các gia đình hoàng tộc và quý tộc hùng mạnh, nắm trong tay các quyền lực chủ yếu của nhà nước phong kiến. Đó là hệ thống các Bộ do các hoàng tử, hoàng thân cầm đầu. Rama I đã đưa 11 hoàng thân và công chúa đứng đầu các bộ ngành trong bộ máy nhà nước Xiêm [1, tr.55].
Dưới thời Rama III, quá trình tập trung hóa cao độ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền càng được đẩy mạnh hơn. Sau khi đăng quang (1-8-1824), vua Rama III đã cho tổ chức lễ tuyên thệ “thề trung thành với nhà vua cho các hoàng tử và quan chức cao cấp. "Một vị quan chức cao cấp nhất của triều đình (Brahman) đọc lời tuyên thệ thề trung thành với nhà vua và lời nguyền rủa những ai không trung thành với nhà vua" [9, tr.5]. Sau khi đọc lời tuyên thệ, các hoàng tử và quý tộc uống "nước trung thành" (the water of allegiance).
Việc làm đầu tiên sau khi đăng quang, Rama III bổ nhiệm các quan chức vào bộ máy Nhà nước trung ương. Ở Xiêm, có hai tầng lớp quan chức chính: quan chức hoàng gia (gồm các hoàng tử) và quan chức quý tộc. Chỉ có các hoàng tử mới được bổ nhiệm đứng đầu các bộ. Quan chức quý tộc cũng được phong chức tước. Số quan chức quý tộc chiếm một phần lớn trong công việc hành chính của chính phủ. Họ đã thực sự người thực thi các chính sách, chủ trương của Nhà nước.
 Hoàng tử Krom Mun Sakdiphonlasep (chú và cũng là người bạn thân của Rama III) được chọn giữ chức vụ Upparat (phó vương), quyền lực chỉ sau nhà vua. Nhà vua phong chức Hoàng thái hậu cho mẹ của mình và bổ nhiệm 8 hoàng tử (trong đó 2 người chú, 3 em trai) vào các chức quan cao trong triều đình.
Đến năm 1830, để hoàn thiện các bộ, ngành, Rama III đặc biệt quan tâm đến ba bộ quan trọng nhất: Bộ Nội vụ (Mahatthai), Bộ Chiến tranh (Kralahom) và Bộ Tài chính (Phraklang) phụ trách cả ngoại thương. Ông cử Chao Phraya Bodinthondecha (thường gọi tắt là Phìa Bođin), một viên tướng có tài và là người chỉ huy quân sự nổi tiếng vào chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. (Bođin giữ chức vụ này cho đến lúc chết, 1849). Rama III cử Chao Phraya PhraKhlang (thường gọi tắt là PhraKhlang), người đã có công lao vận động các phe phái dưới thời Rama II để ủng hộ ông lên ngôi vua, nắm giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và ông còn giao cho PhraKhlang kiêm luôn chức Bộ trưởng Bộ Chiến tranh. PhraKhlang giữ hai chức vụ này cho đến hết thời Rama III [3, tr.70-71].
Càng về sau, ông càng có khuynh hướng tập trung quyền lực vào tay mình và hoàng gia. Vào năm 1832, phó vương mất, triều đình Xiêm xôn xao chưa biết ai sẽ được chọn là người kế vị. Song Rama III không chọn ai cả với lý do không một người nào có đủ khả năng [2, tr.134]. Thế là mọi quyền hành càng tập trung vào tay nhà vua. Cùng năm đó, ông đã thăng chức cho 7 hoàng tử: 3 người chú, 3 anh trai và 1 người anh họ.
Như vậy dưới thời Rama III nền quân chủ chuyên chế Xiêm đạt đến đỉnh cao và Xiêm thực sự  trở thành một quốc gia hùng mạnh trong khu vực Đông Nam Á lục địa lúc bấy giờ. Đây là cơ sở cho chính sách đối ngoại “mềm dẻo” nhưng rất “cứng rắn” của  Xiêm trước áp lực của các nước phương Tây đầy tham vọng, đang lăm le xâm chiếm các nước Đông Nam Á trong đó có Xiêm.
2. Về kinh tế và quân sự:
Dưới hai triều vua đầu tiên (Rama I, Rama II) của vương triều Chakri, Xiêm đã khắc phục hậu quả chiến tranh xâm lược của Miến Điện (Mianma), từng bước phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh quân sự, củng cố và nâng cao vị thế của họ đối với các nước chung quanh mà trước hết là đối với Miến Điện, các tiểu quốc Lào, Campuchia và các tiểu quốc Hồi giáo ở bán đảo Malaixia...
Xiêm từng bước đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhất là sản xuất lúa và đường, không chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu và số lượng xuất khẩu ngày càng tăng. Đây là thành tựu vượt bậc so với các nước khác trong vùng. Ngay sau khi giành lại độc lập (1767), Taksin và các vua đầu tiên của vương triều Chakri đã rất quan tâm đến vấn đề ngoại thương. Cũng như các triều vua trước, Rama III càng đẩy mạnh việc buôn bán với Trung Quốc, một bạn hàng truyền thống của Xiêm, luôn chiếm một vị trí lớn nhất trong ngoại thương của Xiêm, kế đến là khu vực các nước Đông Nam á như các tiểu quốc ở bán đảo Mã Lai, quần đảo Inđônêxia, Singapo, Campuchia, Việt Nam (Hà Tiên, Gia Định, Hội An)... Nhờ vậy, trong khoảng 20 năm cuối của thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, ngoại thương của Xiêm phát triển hết sức mạnh mẽ (nhất là dưới thời Rama III), mang lại nguồn thu nhập lớn cho Nhà nước. Vào nửa đầu thế kỷ XIX, tổng giá trị buôn bán hằng năm trong xuất khẩu của Xiêm có năm lên tới 5.500.000 bạt, còn nhập khẩu là 4.300.000bạt [5, tr. 122]. Giá trị xuất khẩu năm 1850 là 5.585.000 bạt, vượt xa giá trị nhập khẩu 1.200.000 bạt [7, tr.43]. Từ thu nhập của Nhà nước dưới thời Rama II là 5.169.000 bạt tăng lên 14.000.000 bạt (khoảng 8,5 triệu US lúc bấy giờ) vào cuối thời Rama III [4, tr.16].
Cùng với việc phát triển nhanh chóng về ngoại thương, Rama III tiến hành cải cách việc thu thuế. Trước đây thu thuế bằng thóc nay thu thuế bằng tiền, thêm vào đó nhà nước cho đấu thầu việc thu thuế (nhiều người Hoa thắng thầu trong việc thu thuế), nên nguồn thu của nhà nước đã tăng lên đáng kể. Việc thu thuế bằng tiền thay thế cho thuế bằng hiện vật, chứng tỏ sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Từ đó, Xiêm càng có điều kiện thuận lợi để đầu tư cho quốc phòng , tăng cường đối phó với sự đe doạ xâm lược ngày càng tăng từ chủ nghĩa thực dân phương Tây đối với các nước ở khu vực Đông Nam Á, mà Rama III đã sớm nhận thức được. Chống lại sự xâm lược của phương Tây chứ không bài xích phương Tây, Rama III đã mạnh dạn thuê các chuyên gia quân sự châu Âu huấn luyện cho quân đội Xiêm theo mô hình và chiến thuật quân sự của phương Tây. Họ còn giúp Xiêm chế tạo các loại tàu chiến mới. Nhờ đó, đến cuối năm 1830 Xiêm có một lực lượng bộ binh 10.000 người và lực lượng pháo binh đã được huấn luyện theo kỹ thuật tác chiến của châu Âu. Về hải quân, Xiêm có 4 chiến hạm, 12 hải phòng hạm và khoảng 500 chiến thuyền cải tiến [4, tr.16]. Bờ biển và cửa sông Mê Nam của Xiêm đều được bảo vệ bởi các công sự, đồn bốt được xây dựng theo kiểu mới nhất lúc bấy giờ.
Như vậy, ngay từ khi vương triều Chakri được thành lập, các vị vua đầu tiên từ Rama I đến Rama III đã đặc biệt quan tâm đến việc phát triển kinh tế, mở rộng ngoại thương, nỗ lực xây dựng an ninh quốc phòng. Dưới thời Rama III, nhằm xây dựng quân đội hiện đại, hùng mạnh, nhà vua chú trọng đến việc tổ chức huấn luyện quân sự, trang bị vũ khí và kỹ thuật phương Tây cho quân đội. Đây thực sự là một nét mới của quân đội Xiêm so với các nước khác trong khu vực. Ông xem đó như là một trong những mục tiêu quân sự quan trọng cần đạt tới. Đó không những là cơ sở quan trọng để Xiêm bảo tồn nền độc lập của mình mà còn là điều kiện thuận lợi để Xiêm có thể mở rộng bành trướng lãnh thổ và uy thế của mình đối với các nước chung quanh, đặc biệt là ở Lào và Campuchia cũng như việc tranh giành ảnh hưởng một cách quyết liệt với Miến Điện về một số công quốc ở phía Bắc, như Chiềng Mai, Keng Tung...
II. Quan hệ với các nước phương Tây:
Xiêm có một vị trí chiến lược quan trọng trên con đường giao thương từ châu Âu sang châu Á. Xiêm như nơi trung chuyển giũa các nước Tây Âu với các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Ngay từ thế kỷ XVI, nhiều phái bộ truyền giáo, thương nhân châu Âu  đã đến Xiêm  và từ đó họ đi đến các nước khác trong vùng và ngược lại. Các nước như: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, sau đó là Hà Lan rồi Anh, Pháp, Đức... đã từng có mặt ở Xiêm để tranh giành quyền lợi và có những lúc đã xung đột quyền lợi với nhau. Trong quan hệ với các nước phương Tây từ thế kỷ XVI cho đến khi Ayuthaya (thủ đô của Xiêm) bị sụp đổ 1767, Xiêm đã khá thành công, có nhiều kinh nghiệm trong việc dựa vào nước này để chống lại nước khác nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Xiêm đã từng biết cách dựa vào Hà Lan để chống lại thế lực ngày càng lớn của Tây Ban Nha, nhưng khi thế lực của Hà Lan ngày càng chi phối  mạnh mẽ ở Xiêm thì họ lại  tìm cách dựa vào Anh để chống lại Hà Lan... Và cũng như vậy, họ đã biết cách liên kết với Nga để đi đến tiếp xúc với Pháp, Anh, Đức, Bỉ vào thế kỷ XIX...
1. Quan hệ Xiêm - Anh, từ bất hợp tác đến hợp tác:
Quan hệ đối ngoại của Xiêm dưới thời Rama III với các nước phương Tây đáng chú ý hơn cả là quan hệ với nước Anh. Người Anh đã đến Xiêm lần đầu tiên vào năm 1512, một năm sau khi người Bồ Đào Nha đặt chân đến Malacca, sau khi đã thành công trong các cuộc phát kiến địa lý đầy mạo hiểm và gian truân. Sau đó, công ty Đông Ấn của Anh đã thiết lập quan hệ thương mại và ngày càng có ảnh hưởng to lớn tại Xiêm. Sau một thời gian bị ngưng vì các cuộc cách mạng tư sản và chiến tranh Napoléon nổ ra ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, nước Anh lại đẩy mạnh việc xâm chiếm khu vực Đông Nam Á (sau 1815). Sau khi chiếm được Singapo (1819), Anh lại tập trung sự chú ý vào bán đảo Mã Lai (Malaixia) và thị trường Xiêm. Năm 1822, một chiến hạm chở đại sứ Anh Jôn Krâu-phéc-đơ lên đường và nhanh chóng thả neo ở sông Mê-nam (Xiêm). Trong quá trình đàm phán, phía Xiêm đề nghị Anh bán vũ khí cho mình, còn phía Anh yêu cầu được hoàn toàn tự do buôn bán và quyền tối huệ quốc. Kết quả là ngày 10/6/1822 hai bên đã đi đến kí hiệp ước, theo đó tàu của Anh được phép đi sâu vào sông Mê-nam nhưng với điều kiện là phải tháo dỡ đại bác cùng các vũ khí khác lên bờ và phía Xiêm được phép kiểm tra tàu Anh. Về phần mình cơ quan hải quan của Xiêm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán của người Anh và đảm bảo không tăng thuế trong tương lai.
Tuy nhiên, hai năm sau tình hình trở nên phức tạp hơn khi thực dân Anh phát động chiến tranh xâm lược Miến Điện (3-1824). Ngay sau khi lên cầm quyền (8-1824), Rama III đã điều ngay 3 đạo quân tới biên giới Miến - Xiêm và một đạo quân khác tới Li-go để chờ cơ hội mở rộng lãnh thổ trong trường hợp Anh bị sa lầy trong cuộc chiến tranh với Miến Điện.
Trước tình hình đó, Anh đề nghị Xiêm tấn công Miến Điện từ phía đông bắc, nơi quân Anh chưa thể vươn tới được, để phân tán lực lượng của quân Miến Điện, tạo điều kiện cho lực lượng Anh tấn công từ phía biển lên; đồng thời, gây sức ép buộc Xiêm phải từ bỏ tham vọng ở các tiểu quốc trên bán đảo Mã Lai, nơi có vị trí thương mại quan trọng đối với cả Xiêm lẫn Anh. Biết được ý đồ "một mũi tên bắn trúng hai đích" của Anh nên lúc đầu Xiêm không tham gia. Đến năm 1825, Anh cử một phái bộ do đại uý Hăng-ri Bơ-ni (Henry Burney) cầm đầu đến Xiêm xin tiếp viện. Vua Rama III đồng ý giúp Anh đánh Miến Điện, nhưng không phối hợp với quân Anh mà độc lập tác chiến, bằng cách cho quân tiến đánh Mo-ta-ma, nơi trước đây Miến Điện thường tập trung quân trước khi tấn công Xiêm và một số nơi khác. Trước sự tấn công mạnh mẽ của quân Anh và Xiêm, vua Miến Điện, Bagyido, (tiếng Thái gọi là Chặc-cai-nung) phải đầu hàng và phải ký với Anh hiệp ước gồm 10 điểm. Theo hiệp ước, Miến Điện phải nhường các địa phương ven biển và các đảo cho Anh, đồng thời phải nộp phạt 10 triệu ru-pi. Trong hiệp ước này còn ghi rõ "vua Xiêm là đồng minh rất trung thực của nước Anh sẽ được hưởng nhiều quyền lợi" [8, tr.134].
Nhờ chủ động và tham chiến một cách khôn khéo, Xiêm vừa góp phần tiêu diệt Miến Điện, kẻ thù lâu đời của mình vừa không bị rơi vào mưu đồ của Anh, ngược lại được chia phần "thắng lợi" và trở thành đồng minh với Anh trong cuộc chiến chống lại Miến Điện. Điều đó mang lại cho Xiêm một vị thế mới trong quan hệ với Anh.
Nhớ đó, ngày 20 - 6 -1826, Xiêm đã kí với Anh một hiệp ước mới trong tư thế hoàn toàn bình đẳng với Anh. Nội dung chủ yếu của hiệp ước là hai bên thỏa thuận phân chia ảnh hưởng trên bán đảo Mã Lai. Cụ thể là:
1. Anh thừa nhận quyền bảo hộ của Xiêm đối với Patani, Trengganu, Kedah và Kelantan. Ngược lại, Xiêm đồng ý không cản trở việc buôn bán của người Anh ở những tiểu quốc này và không can thiệp vào công việc nội bộ của họ, các tiểu quốc này tiếp tục gửi cây vàng, cây bạc đến triều cống Xiêm như trước đây.
2. Người Anh được phép buôn bán ở Kedah mà sẽ không phải trả thêm thuế quan. Anh không được tìm cách giúp đỡ Sultan Ahmad Tajuddin (người đã bị Xiêm trục xuất) để trở lại ngôi vua. Anh phải buộc ông ta rời khỏi vùng Penang, nơi người Anh đang kiểm soát.
3. Xiêm đồng ý không can thiệp vào Perak và Anh cũng đồng ý không can thiệp vào chính quyền của Perak và Selangor.
4. Thương nhân Anh được tự do mua, bán hàng hóa tại Bangkok và chỉ trả thuế hải quan.
5. Xiêm thừa nhận quyền kiểm soát của Anh ở Penang và các tỉnh phía tây [6, tr.188].
Hai bên khẳng định một nền hòa bình vững chắc Xiêm - Anh, tự do buôn bán với nhau. Ngoài ra, hiệp ước này còn quy định: nhà nước Xiêm từ bỏ độc quyền của mình trong thương mại, thay toàn bộ các loại thuế đánh vào tàu Anh bằng một thuế duy nhất là 750 bạt đối với mỗi mét chiều dài và rộng của tàu, khoản thuế mà cả Xiêm và Anh đều chấp thuận.
   Như vậy, Xiêm không hề bị thua thiệt trong bất cứ một điều khoản nào cả đối với Anh. Chính vì vậy, sau này khi Anh thắng lợi trong cuộc chiến tranh thuốc phiện ở Trung Quốc vào những năm 40 của thế kỷ XIX, Anh đòi Xiêm xét lại, ký lại các điều khoản của hiệp ước này theo chiều hướng có lợi hơn đối với Anh. Nhưng Anh không đạt được điều này dưới thời Rama III mà chỉ đạt được vào năm đầu tiên của Rama IV trị vì (1851).
2. Quan hệ Xiêm - Mỹ, khởi đầu tốt đẹp nhưng đầy thách thức:
Trên cơ sở đạt được một hiệp ước bình đẳng với nước Anh hùng mạnh, đầy tham vọng, Rama III đã chủ động thiết lập quan hệ với Mỹ, một thế lực mà Xiêm cho là “dễ chịu“ hơn so với các thế lực phương Tây khác lúc bấy giờ. Về phía chính phủ Mỹ cho rằng "Thái Lan không thành kiến với người Âu” như Trung Hoa và tất nhiên Mỹ cũng rất quan tâm đến vị trí chiến lược và tầm quan trọng của thị trường Xiêm. Chính phủ Mỹ đã cử phái bộ đầu tiên do Edmund Roberts cầm đầu đến Bangkok, mở đầu cho quá trình thiết lập mối quan hệ giữa 2 nước Xiêm - Mỹ. Phái đoàn đã được chính vua Rama III tiếp đón trọng thể. Xuất phát từ nhận thức về vị thế và tầm quan trọng của Mỹ lúc bấy giờ, Rama III đã nhanh chóng ký hiệp định thương mại với Mỹ (20-3-1833) với những điều khoản tương tự như hiệp ước với Anh. Ngoài ra người Mỹ được phép truyền bá đạo Tin Lành (Protestant) ở Xiêm.
Hiệp định thương mại chưa mang lại nhiều lợi lộc cho Xiêm nhưng họ đã thu được nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật trong một số lĩnh vực như in ấn, y tế, đóng tàu và kể cả việc học tiếng Anh miễn phí từ các nhà truyền đạo của Mỹ. Nhóm truyền giáo đạo Tin Lành đầu tiên đến Băng Cốc vào ngày 23-8-1828, gồm có, một bác sĩ người Đức thuộc Hội truyền giáo Hà Lan tên là Khan-kút-stáp, mục sư người Anh thuộc Hội truyền giáo London. Hai người này trước đây đã truyền đạo ở Trung Hoa rồi đến truyền đạo cho người Hoa ở Băng Cốc. Họ nhận thấy ở Xiêm không có sự kỳ thị về tôn giáo và các tôn giáo đều được tự do hoạt động, nên họ viết báo cáo gửi về Hội truyền giáo ở Mỹ. Từ đó nhiều nhóm truyền đạo Mỹ lần lượt sang Xiêm. Nhóm American board of commissioner for foreign mission đến Băng Cốc vào các năm 1831, 1843, 1835, 1840. Nhóm  American Baptist mission đến Xiêm vào năm 1833. Nhóm Presbyterien đến Băng Cốc vào các năm 1840, 1847 [8, tr.139]. Trong các nhóm truyền đạo nói trên có nhiều bác sĩ cấp phát thuốc và chữa bệnh miễn phí và giúp cho Xiêm cách tiêm chủng đậu mùa. Ngày 18-7-1835, nhà truyền đạo Wyliam đã mang theo máy in. Nhờ đó, tháng 6 năm  1835, thầy giảng Robinson đã chế tạo ra máy in chữ Thái đầu tiên ở Băng Cốc. Năm 1849, chính phủ Xiêm lần đầu tiên đã in thông báo cấm buôn bán thuốc phiện. Năm 1833, thông qua các nhà truyền giáo Xiêm đã chế tạo tàu thủy chạy bằng máy trên sông Chao-phray-a...[8, tr.140].
Sau đó, Rama III còn chủ động đề nghị ký một hiệp ước tương tự như trên với Pháp nhưng không thành. Bảy năm sau, năm 1840 Xiêm chủ động ký với Mỹ một hiệp ước khác nhằm đẩy mạnh trao đổi thương mại giữa hai nước. Từ 1826 – 1840, Rama III đã sáu lần tiếp sứ thần phương Tây đã giúp ông nhận thức được rằng là một nước nhỏ, đứng trước các đối thủ lớn như vậy, phải biết cách để sinh tồn. Từ đó, Rama III thận trọng và dè dặt hơn trong quan hệ đối ngoại với Mỹ.
Sau hiệp ước 1833 và 1840 giữa Mỹ và Xiêm, cũng như Anh, Mỹ không thoả mãn tham vọng của mình. Mỹ muốn lấn tới hơn nữa. Các hiệp ước Mỹ ký với Trung Quốc năm 1844 đem lại cho họ những món lợi khổng lồ, điều đó thôi thúc Mỹ tiếp tục tìm kiếm thị trường và đỏi hỏi ở nước Xiêm nhiều hơn nữa. Năm 1850, tổng thống Mỹ Taylor đã cử Josep Barestier đến Băng Cốc yêu cầu Xiêm xét lại hiệp ước đã ký năm 1833. Triều đình Xiêm một mặt tỏ ra nhu mì,  tiếp thu những ý kiến phía Mỹ đưa ra, song mặt khác soạn thảo một công hàm gửi tới Josep Barestier với nội dung từ chối những yêu cầu của Mỹ. Trước sự từ chối của Xiêm, Mỹ đe doạ sẽ tấn công Xiêm, Mỹ tuyên bố rằng: Mỹ sẽ cấm thương nhân Xiêm tới Mỹ buôn bán, kế tiếp Mỹ phát động phong trào bài trừ hàng hóa của Xiêm. Mỹ đóng cửa không thông thương buôn bán với Xiêm, mục đích của Mỹ là cô lập Xiêm về kinh tế, buộc Xiêm chấp nhận các điều khoản của Mỹ.
Đứng trước tình hình đó, những nhà ngoại giao Xiêm vẫn tỏ ra bình tĩnh. Vì họ cho rằng Mỹ không thể độc chiếm thị trường Xiêm. Vì nếu Mỹ độc chiếm Xiêm, sẽ gặp phải sự kháng cự quyết liệt của cường quốc Anh, Hà Lan và một số nước tư bản khác vì những nước này đã ký với Xiêm nhiều hiệp ước thương mại. Kết quả là đúng như người Xiêm dự đoán, Mỹ chỉ nói như vậy nhưng sau đó họ lại tiếp tục đặt quan hệ với Xiêm.
Như vậy, Xiêm đã khôn khéo tìm cách thiết lập quan hệ bang giao và thương mại với một số nước lớn phương Tây trong bối cảnh chung chủ nghĩa thực dân đang mở rộng chiến tranh xâm chiếm thuộc địa khắp các châu lục Á, Phi, Mỹ La tinh nửa đầu thế kỷ XIX. Đó là một thành công to lớn của Xiêm và nhờ đó họ đã giảm được áp lực về sự đe dọa đối với nền độc lập của mình từ phía các nước thực dân và tư bản phương Tây, tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp tục khống chế các nước chung quanh.
III. Một vài  nhận xét:
   1. Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về bối cảnh quốc tế và tình hình khu vực cũng như nhanh chóng phát triển thực lực của đất nước, Xiêm dưới thời Rama III biết cách "lựa chiều" nhằm cân bằng quyền lực giữa các nước lớn, để tồn tại và phát triển.
   2. Trong quan hệ với Anh, Rama III đã đi từng nước cờ khôn khéo để đưa vương quốc Xiêm, nước mà Anh muốn lợi dụng và xâm chiếm, trở thành đồng minh với Anh, cùng hưởng lợi trong cuộc chiến tranh Anh - Miến và đã thực sự bình đẳng với Anh trong hiệp ước thương mại Anh - Xiêm 1826.
   3. Tuy là một ông vua độc tài chuyên chế nhưng Rama III khá mềm dẻo, linh hoạt trong quan hệ với các cường quốc phương Tây. Rama III không dành cho các cường quốc đó nhiều quyền lợi (như người kế nhiệm Mongkut và Chulalongkon) mà chỉ dành cho họ những quyền lợi vừa đủ để chính phủ các nước đó không thể gây ra cuộc chiến tranh xâm lược đối với Xiêm. Ngược lại, ông đã tranh thủ tiếp nhận được một số thành tựu về khoa học và kỹ thuật tiên tiến của phương Tây. Có thể đó là lý do mà một số học giả phương Tây cho rằng Rama III “là người bảo thủ và cứng rắn”.
   4. Nhờ những thành tựu to lớn trong lĩnh vực đối nội và đối ngoại mà Xiêm đạt được dưới thời Rama III đã tạo điều kiện thuận lợi cho vương quốc Xiêm thực hiện cải cách, đổi mới trong thời Mongkút và Chulalongkon, đồng thời giúp Xiêm tiếp tục giữ vững độc lập, phát triển đất nước theo con đường hiện đại của các nước phương Tây.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

5.       Akin Rabibhadawa. The organization of Thai Society in the early Bangkok period, 1782-1873, Amarin Printing & Publishing Public Compagny limited, Bangkok (1996)
6.       B.J. Terwiel. A history of modern Thailand 1767 - 1942, University of Queensland Press, London (1983)
7.       Đặng Văn Chương. Quan hệ Xiêm - Việt từ 1782 đến 1847 (Luận án tiến sĩ), Hà Nội (2003)
8.       Đào Minh Hồng. Chính sách đối ngoại của Thái Lan (Xiêm) nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX (luận án tiến sĩ lịch sử), Thành phố Hồ Chí Minh (1999).
9.       Lê Văn Quang. Lịch sử vương quốc Thái Lan, Nxb Tp Hồ Chí Minh (1995).
10.   Nigel Kelly. History of Malaya & South - East Asia, Heinemann Asia, Singapore (1995).
11.   Nguyễn Khắc Viện. Thái Lan - Một số nét về chính trị, kinh tế xã hội, văn hóa và lịch sử, Hà Nội  (1988).
12.   Viện Đông Á. (Bản dịch viết tay), Lịch sử nền thống trị Thái Lan, tập 2
13.   W. Vella. Siam under Rama III. Locust Valley, New York (1957)

TÓM TẮT

Vua Xiêm nói chung đã rất khôn khéo trong việc thiết lập quan hệ với các nước lớn trên thế giới từ Trung Quốc láng giềng cho đến cường quốc phương Tây thời cận đại. Họ biết cách “lựa chiều” nhằm cân bằng quyền lực giữa các nước lớn để tồn tại và phát triển. Rama III rất khôn khéo trong quan hệ với Anh, nồng nhiệt trong quan hệ với Mỹ. Nhưng ông chỉ dành cho các nước phương Tây những quyền lợi vừa đủ để chính phủ các nước đó không thể gây ra cuộc chiến tranh xâm lược đối với Xiêm, để bảo vệ nền độc lập và phát triển đất nước.


RELATIONSHIP OF SIAM WITH WESTERN COUNTRIES
UNDER RAMA III (1824 - 1851)
Dang Van Chuong
College of  Pedagogy, Hue University
SUMMARY
The kings of Siam in general were very clever in their building the relationship with powerful nations in the world from China, its neighbor, to the distant western countries in their contemporary time. They knew how to ‘wait for the cat to jump’ among those powerful countries for their nation’s existence and development. King Rama III behaved quite cleverly in the relation with Great Britain and showed his warm attitude towards the USA. He, however, gave the western countries the benefits only to such a degree sufficient enough to prevent them from invading Siam so that Siam could maintain its independence and development.


Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975


Vai trò của hậu phương miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975


VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH CỦA HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC ĐỐI VỚI TIỀN TUYẾN LỚN MIỀN NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

Khi bàn về chiến tranh cách mạng, Lênin có một luận điểm nổi tiếng: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh phải có một hậu phương tổ chức vững chắc”. Hậu phương và tiền tuyến có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Hậu phương mạnh thì tiền tuyến mạnh. Tiền tuyến đánh thắng sẽ bảo vệ được hậu phương, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để hậu phương cũng cố và xây dựng. Ngược lại, việc xây dựng hậu phương vững mạnh có tác dụng quyết định đến thắng lợi ở tiền tuyến.
Như chúng ta đã biết, sau hiệp định Giơnevơ đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội khác nhau. Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng đã hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đang tiến hành cách mạng XHCH và xây dựng CNXH. Đó là một chuyển biến cực kì trọng yếu quyết định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong khi đó, Miền Nam nước ta còn bị đặt dưới ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai Ngô Đình Diệm, nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chưa hoàn thành. Nằm trong nhiệm vụ chiến lược chung của cả dân tộc – nhằm chấm dứt tình trạng dất nước bị chia cắt, Đảng đã xác định Miền Bắc là hậu phương lớn và Miền Nam là tiền tuyến lớn. Miền Bắc tiến lên CNXH, thực hiện cải tạo CNXH và bước đầu phát triển kinh tế, xã hội, làm cơ sở tiền đề vững chắc cho cách mạng miền Nam phát triển. Miền Bắc –hậu phương lớn, có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất đất nước. Vì thế, Miền Bắc phải có mối quan hệ gắn bó, phối hợp với miền Nam tạo điều kiện cho nhau phát triển. Thắng lợi giành được ở mỗi miền là thắng lợi chung cho cách mạng hai miền.
Ngay sau khi hiệp đinh Giơnevơ về Đông Dương được kí (7/1954), Mĩ đã tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt (1960 – 1965), chiến tranh cục bộ (1965 – 1968). Đến năm 1968, khi bước vào Nhà Trắng, Nichxơn đề ra chiến lược toàn cầu mang tên mình – “Học thuyết Nichxơn”, Học thuyết này thực hiện đầu tiên ở miền Nam Việt Nam với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong khi đó, ở Miền Nam lúc này quân và dân ta gặp không ít khó khăn về vũ khí, lương thực thực phẩm, lực lượng chiến đấu... Để giữ vững và phát triển phong trào tấn công địch Đảng và Hồ Chí Minh đã xác định: xây dựng miền Bắc thật sự “vững mạnh và tiến bộ”, “thiết thực chiếu cố miền Nam”, “là nền tảng là gốc rễ của lực lượng đấu tranh”,“Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải củng cố”, “Muốn thực hiện cương lĩnh của Mặt Trận, thì chúng ta phải ra sức cũng cố Miền Bắc về mọi mặt, ….Nền có vững, nhà mới chắc, gốc có mạnh, cây mới tốt”. Thực hiện chủ trương chi viện lực lượng, vật chất cho miền Nam, ngay từ tháng 7 năm 1954, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập đoàn vận tải trên biển Đông, đặt tên là Đoàn 759. Bộ Chính trị cũng quyết định tổ chức tuyến giao liên vận tải quân sự trên bộ và trên biển (sau này là tuyến đường Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển)để vận chuyển hàng quân sự vào miền Nam, tổ chức đưa cán bộ, bộ đội, chuyển công văn, tài liệu đi lại giữa hai miền. Như vậy, ngay từ đầu Đảng và nhà nước đã nhận thấy được tầm quan trọng, vai trò quyết định của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn Miền Nam. Đây là một đường lối hoàn toàn đúng đắn của Đảng.
Từ khi hòa bình lập lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta ở miền Bắc đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành cải tạo ruộng đất, kết thúc thắng lợi thời kì khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và hăng hái thi đua ra sức thực hiện kế hoạch nhà nước “3 năm”, “5 năm”, cải tạo kinh tế, phát triển kinh tế, văn hoá, văn hoá… để nâng cao thêm một bước đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân và hơn hết làm nhiệm vụ hậu phương chi viện cho miền Nam, cùng miền Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc từ đó làm cơ sở vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Miền Bắc khẩn trương tổ chức động viên sức người, sức của nhằm chi viện nhanh chóng, kịp thời, liên tục đáp ứng yêu cầu của chiến trường miền Nam trong các cuộc tiến công và nổi dậy.Công tác động viên lực lượng ở miền Bắc được thực hiện trên quy mô lớn nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh chiến đấu cho quân đội, đáp ứng yêu cầu bổ sung quân số cho chiến trường miền Nam. Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chí Minh “Mỗi người làm việc bằng hai”, “vì miền Nam ruột thịt” nhân dân miền Bắc từ thành thị tới nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, đã hăng hái thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm tiêu dùng, chi viện cao nhất cho đồng bào và chiến sĩ Miền Nam. Khẩu hiệu “Tay cày tay súng” với các phong trào thi đua như “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp, “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, “Cờ Ba Nhất” trong lực lượng vũ trang, “Hai tốt” trong trường học, “Thầy thuốc như mẹ hiền” trong ngành y tế, “Ba cải tiến” trong các cơ quan, “Ba đảm đang” trong phụ nữ, “Ba sẵn sàng” trong thanh niên…phát triển rộng khắp, trở thành cao trào.
“Trong 15 năm qua Miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới” (Hồ Chí Minh). Miền Bắc đã tạo cơ sở mới về chính trị, kinh tế, quốc phòng để chi viện lực lượng và vật chất cho miền Nam. Với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh cùng với sự hậu thuẫn của quốc tế Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, tạo tiền đề cho cách mạng miền Nam Việt Nam chuyển hướng, giúp miền Nam vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, vùng lên đúng lúc, trụ vững trong những lúc ác liệt nhất, hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cả ba vùng chiến lược. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta cũng cố và nâng cao quyết tâm chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược.
Nhận thấy vai trò của hậu phương lớn miền Bắc đối với chiến trường miền Nam, đế quốc Mĩ đã hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại với quy mô lớn, với mức độ đánh phá ác liệt đối với Miền Bắc và đối với tuyến giao thông vận tải chiến lược hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn đối với miền Nam. Mĩ muốn phá hoại tận gốc tiềm lực quân sự kinh tế của Việt Nam, “kéo lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kì đồ đá”, làm cho ta không còn khả năng chiến đấu.
Miền Bắc đã tập trung lớn khả năng về lực lượng, phương tiện để khắc phục tại chổ và kịp thời hậu quả của chiến tranh, vượt qua vòng vay phong tỏa của địch để tiếp nhận tốt hàng viện trợ của bên ngoài và tiếp viện theo yêu cầu của tiền tuyến miền Nam. Cuộc chiến tranh phá hoại của Mĩ đến đỉnh cao và hết sức ác liệt vẫn không ngăn được miền Bắc làm nghĩa vụ hậu phương. Dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù, miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khói lửa chiến tranh; duy trì, phát triển tiềm lực về mọi mặt, tiếp tục tăng cường lực lượng ngày càng lớn cho tiền tuyến, đồng thời về cơ bản vẫn giữ vững đời sống nhân dân hậu phương ổn định, đảm bảo càng đánh càng mạnh. Từ năm 1965 đến năm 1975, miền Bắc đã động viên hàng triệu lao động, mở rộng lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên ở miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng gấp 4 đến 5 lần so với trước. Nhu cầu về nhân lực của nhiều ngành trực tiếp phục vụ chiến tranh cũng tăng lên rất lớn. Nhân lực động viên đến cuối năm 1972 cần tới trên 2 triệu người, chiếm khoảng 30% lao động xã hội miền Bắc, trong đó 70% là nam giới. Tỉ lệ tuyển quân ở xã cao nhất là trên 10% dân số; 70% số hộ gia đình ở miền Bắc có người thân chiến đấu trên các chiến trường. Trên đồng ruộng, phụ nữ chiếm 63% trong số lao động sản xuất trực tiếp. Giai đoạn 1973 – 1975: 50% số quân bộ đội tập trung ở miền Nam là lực lượng do miền Bắc tăng cường. Hai năm 1973-1974, miền Bắc tiếp tục động viên 25 vạn thanh niên vào lực lượng vũ trang, bổ sung cho chiến trường 15 vạn quân; chuyển hàng vạn thương binh, bệnh binh từ các chiến trường về điều trị và giải quyết nhanh chính sách. Năm 1975, năm cuối của cuộc kháng chiến, tổng số nhân lực Miền Bắc động viên theo nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động xã hội ở miền Bắc, 60 – 65% số đó vào lực lượng vũ trang. Trên 80% quân số, 81% vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, 85% xe vận tải trong cuộc tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 là do miền Bắc đưa vào.
Về vật chất: phần lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, lương thực, thuốc men… phục vụ công tác chiến đấu và ổn định vùng giải phóng ở miền Nam là do miền Bắc chi viện. Miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất phương tiện kĩ thuật do nước ngoài viện trợ chuyển vào Miền Nam bằng mọi cách có thể. Trong những năm 1965 – 1968, miền Bắc đã tổ chức vận chuyển vào miền Nam khối lượng vật chất gấp 10 lần so với những năm 1961 – 1964. Trong năm 1970, lắp đặt đường ống dẫn xăng từ miền Bắc vào miền Nam dài 500km, đến cuối năm 1971 nâng lên gần 1000km. Nhờ tuyến dường ống, mùa khô năm 1070.1971, Miền Bắc đã chuyển vào chiến trường khối lượng xăng dầu gấp 10 lần mùa khô 1969 – 1970.
Ngày cũng như đêm, trên mọi nẻo đường từ hậu phương đến tiền tuyến, hàng chục vạn nhân dân và bộ đội sát cánh đánh địch, mở đường và vận chuyển với tinh thần anh dũng, bền bỉ, thông minh và sáng tạo vô song; đảm bảo cho chiến trường đủ súng, đủ đạn, đủ quân, ăn no đánh thắng. Các tuyến đường chiến luợc: Trường Sơn, Hồ Chí Minh trên biển… đã góp phần phát huy sức mạnh của miền Bắc XHCH bằng nhân tố quyết định nhất, kết hợp với sức mạnh tại chỗ của cách mạng miền Nam – nhân tố quyết định trực tiếp, tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn của cả nước, của dân tộc để đưa kháng chiến chống Mĩ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Đường Trường Sơn, đương Hồ Chí Minh là địa bàn chiến lược vững chắc nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn, nó là biểu hiện sự liên minh chiến đấu tiêu biểu cho chủ nghĩa dân tộc trở thành một phương hướng chiến lược quan trọng trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành huyền thoại bất tử, gắn liền với những chiến công hiển hách của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Số hàng do tuyến vận tải đường biển giao cho tiền tuyến lớn Miền Nam tuy không nhiều và bị tổn thất, nhưng có ý nghĩa rất lớn.
Số lượng trên có thể còn nhiều, nhiều hơn nữa, chưa tính những thiệt hại do bị quân địch phát hiện, hàng trăm con thuyền phải tự chiềm xuống đấy đại dương để khỏi bị địch phát hiện, con số thống kê này không nói lên điều gì khác ngoài việc chứng minh vai trò quyết định của hậu phương miền lớn Miền Bắc đối với tiền tuyến lớn Miền Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Trên nền tảng chế độ xã hội mới được xây dựng trong 10 năm hòa bình (1954 – 1964) được cũng cố và bảo vệ vững chắc trong 10 năm chiến tranh (1965 – 1975), Đảng và nhà nước đã ban hành và thực hiện các biện pháp nhằm làm cho Miền Bắc phát huy đầy đủ, liên tục vai trò tác dụng có ý nghĩa quyết định đối với cộng kháng chiến chống Mĩ.Miền Bắc với khẩu hiệu: “Miền Nam gọi, miền Bắc trả lời”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, “Một thân không thể chia đôi/Lửa gươm không thể cắt rời núi song”… đã cũng cố niền tin và nâng cao quyết tâm chiến đấu cho nhân dân miền Nam đấu tranh đánh bại mọi chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mĩ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, kí Hiệp định Pari, tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975.
Như vậy, có thể kết luận lại rằng: Bên cạnh hậu phương tại chổ: vùng giải phóng và căn cứ vững chắc, "căn cứ lõm", các "cơ sở" ở sâu trong vùng địch, "căn cứ trong lòng nhân dân", hậu phương Miền Bắc là một hậu phương lớn phục vụ đắm lực cho công cuộc đấu tranh chống Mĩ xâm lược ở tuyền tuyến lớn Miên Nam. Lực lượng và vật chất là những nhân tố chiến lược quan trọng trong chiến tranh đã được hậu phương lớn Miền Bắc đáp ứng kịp thời, đầy đủ và liên tục. Nhờ vậy mà lực lượng chiến đấu được khôi phục, thế trận của cách mạng cũng được lấy lại. Mỗi bước ngoặt của chiến tranh, phong trào cách mạng ở Miền Nam gặp không ít khó khăn, nhưng có hậu phương lớn chi viện và chia sẽ đã làm cho cách mạng ở miền Nam phát triển và có bước nhảy vọt. Sự lớn mạnh không ngừng của Miền Bắc không những nâng cao lòng tin tưởng và cổ vũ tinh thần hăng hái cách mạng của đồng bào yêu nước ở Miền Nam mà còn làm cho lực lượng so sánh giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi cả nước càng nghiêng về phía cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ và giành thắng lợi cuối cùng.
Nhìn lại lịch sử ta có thể khẳng định rằng: Miền bắc là hậu phương lớn mà không thể phân biệt đâu là tiền tuyến, đâu là hậu phương. Cả dân tộc đã kết thành một khối vì khát vọng hòa bình và độc lập, tự do. Không giống như mọi hậu phương của chiến tranh mà chúng ta đã thấy, hậu phương Miền Bắc vừa xây dựng, vừa tích lũy, cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến, vừa chiến đấu bảo về hậu phương vừa cùng miền Nam chiến đấu chống Mĩ xâm lược. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa luôn là chiếc cầu nối giữa cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Miền Băc là chổ dựa vững chắc cho cách mạng Miền Nam, đặc biệt những thời kì cách miền Nam bị tổn thất nặng nề.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc không ngừng tăng cường sức mạnh cho miền Nam, quân và dân miền Bắc đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân hiếm có trong lịch sử các cuộc chiến tranh, với một nền nghệ thuật quân sự rất sáng tạo và có hiệu lực lớn. Đánh bại các bước leo thang chiến tranh của không quân, hải quân Mĩ, làm thất bại các mục tiêu chiến lược chủ yếu của cuộc chiến tranh của Mĩ, quân và dân hậu phương Miền Bắc đã góp phần rất quan trọng cùng tiền tuyến lớn miền Nam đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai. Vai trò của miền Bắc XHCN trong cuộc chống Mỹ, cứu nước được Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc XHCN suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”.

NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Về đại thắng mùa xuân năm 1975,Bộ nội vụ các cục văn thư và lưu trữ nhà nước trung tâm lưu trữ quốc gia II, NXB Chính trị Quốc Gia, Năm 2009
Đại cương lịch sử Việt Nam, Trương Hữu Quýnh, NXB Giáo dục, Năm 2003.
Đại cương lịch sử Việt Nam, Đinh Xuân Lâm, NXB Giáo dục, Năm 2003.
Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay : Giáo trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở hệ cao đẳng sư phạm, Trần Bá Đệ, NXB Giáo dục, Năm 2002.
Tiến trình lịch sử Việt Nam/ Nguyễn Quang Ngọc, NXB Giáo dục , Năm 2007.
Web: http://www.cpv.org.vn/cpv/
http://www.lichsuvietnam.vn/
http://www.lichsuvietnam.info/


2. TÌM HIỂU CÔNG CUỘC XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG TRONG CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965 – 1968)
Nguyễn Thị Hồng Quyên (Đh Sư phạm Thái Nguyên, 2009)
1. Lý do chọn đề tài
Hậu phương là nhân tố thường xuyên, quyết định đến thắng lợi của cuộc chiến tranh.
Đó là vấn đề cấp thiết không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn đối với việc phát huy sức mạnh của toàn dân, trong công cuộc xây dựng  đất nước hiện nay.
Khi cuộc chiến tranh đã qua đi, đất nước bước vào thời kỳ hoà  bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta càng có thời gian nhìn nhận và đánh giá lịch sử một cách chính xác và khách quan hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề hậu phương tiêu biểu như:
Tác phẩm “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975, thắng lợi và bài học” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000)
Tác phẩm “Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập 4” của Giáo sư Trần Văn Giàu (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1970)
Tác phẩm “Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954 - 1975” của Giáo sư, Tiến sĩ Phan Ngọc Liên (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005)
Tác phẩm “Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam 1945 - 1975” (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997)
Đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề về công cuộc xây dựng hậu phương trong chiến đấu chống “Chiến lược chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ (1965-1968) trên các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế... nhưng đây là nguồn tư liệu quý để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện vấn đề nghiên cứu .
3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
3.2. Nhiệm vụ
3.3. Phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic.
4.2. Nguồn tài liệu
5. Kết  cấu đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề xây dựng hậu phương trong chiến tranh
Chương 2: Công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ (1965 - 1968)

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG 
HẬU PHƯƠNG TRONG CHIẾN TRANH
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng hậu phương trong chiến tranh
Khái niệm và nhận định về vấn đề xây dựng hậu phương
Theo “Từ điển thuật ngữ lịch sử  phổ thông” do Giáo sư Phan Ngọc Liên (chủ biên): Hậu phương là “vùng giải phóng trong nước có nhiệm vụ kết hợp chặt chẽ với mặt trận làm cơ sở để cung cấp sức mạnh vật chất - quân sự, cổ vũ tinh thần - chính trị cho cuộc chiến đấu” .
Những nhận định của Mác - Lênin và các Nhà nghiên cứu sử học. Nhận định của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về vấn đề xây dựng hậu phương trong đường lối chiến tranh nhân dân
1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề xây dựng hậu phương trong chiến tranh
1.2.1. Công cuộc xây dựng hậu phương trước kháng chiến toàn quốc (tháng 9/1945 - tháng 12/1946)
1.2.2. Công cuộc xây dựng hậu phương trong kháng chiến
Hậu phương chiến tranh nhân dân phải được củng cố, xây dựng toàn diện trên tất cả các mặt: Chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế...
Về chính trị:
Có thể nói xây dựng hậu phương về chính trị là kết quả tổng hợp của các lĩnh vực công tác lớn của Đảng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế... Đó là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hơn bao giờ hết.
Kinh tế
-  Nông nghiệp
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
-  Thương nghiệp .
Về văn hoá, giáo dục, y tế...
Có những bước phát triển mạnh mẽ góp phần đắc lực vào sự nghiệp kháng chiến.
Như vậy, công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương kháng chiến trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, 
văn hoá, giáo dục, y tế... đã góp phần cung cấp sức người sức của, nhân tài vật lực phục vụ đắc lực cho 
tiền tuyến chiến đấu và chiến thắng. Hậu phương kháng chiến vững mạnh còn thể hiện tài năng lãnh đạo 
của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đồng thời là kết tinh của lòng yêu nước, trí thông 
minh, sức mạnh đoàn kết của toàn quân, toàn dân ta - đó là sức mạnh vô địch đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.
. Chương 2:  
CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ HẬU PHƯƠNG TRONG CHIẾN ĐẤU
CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MĨ (1965 – 1968)
2.1. Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội 
và làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam (1965 - 1968)
2.1.1. Miền Bắc chiến đấu chống “Chiến tranh phá hoại” lần thứ nhất của Mĩ
2.1.2. Miền Bắc tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn (1965 - 1968)
2.1.2.1. Về chính trị
Nhờ tiến hành công tác giáo dục chính trị cho nhân dân có hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và 
củng cố được hệ thống chính trị vững mạnh trong xã hội miền Bắc.
2.1.2.2. Về kinh tế   
Nông nghiệp:
Với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” “Tất cả cho tiền tuyến” 
“Tất cả vì miền Nam ruột thịt ” miền Bắc quyết tâm hoàn thành sứ mệnh hậu phương lớn của mình. 
Ngành nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Trong công nghiệp, sản xuất căn bản được giữ vững. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp đã tạo 
điều kiện cho ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh theo phương châm “Tích cực bảo 
vệ và duy trì sản xuất”.
Trên cơ sở các ngành nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mà các ngành kinh tế khác như thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải... cũng được tạo đà phát triển. Qua đó đảm bảo  cuộc sống, chiến đấu cho nhân dân miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam.
2.1.2.3. Về văn hoá, giáo dục, y tế.
Ngành văn hoá, văn nghệ thời kỳ này hoạt động sôi nổi phục vụ đắc lực cho  sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ, đáp ứng nhu cầu tinh thần, văn hoá của cán bộ và dân ta.
 Miền Bắc - hậu phương không những đứng vững trước thử thách ác liệt mà còn vươn lên đáp ứng mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến.
2.1.3. Hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ (1965 - 1968)
Thắng lợi to lớn của quân dân miền Nam trong chiến đấu, chiến thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ (1965 - 1968) không thể không nhắc tới hậu phương miền Bắc. Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam.
2.2. Công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương ở miền Nam, trực tiếp chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ”của đế quốc Mĩ ( 1965 - 1968)
2.2.1. Khái quát về chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ và chủ trương của Đảng ta trong giai đoạn mới
2.2.2. Công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương ở miền Nam trực tiếp chống “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ (1965 - 1968)
 Về kinh tế
Trong điều kiện cuộc chiến tranh diễn ra ác liệt, Mĩ - Ngụy luôn tìm cách phá hoại kinh tế, phá hoại vùng giải phóng và ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc, thì việc duy trì và đẩy mạnh sản xuất, xây dựng vùng kinh tế miền Nam là cuộc chiến tranh quyết liệt.
. * Nông nghiệp 
Cùng với việc thực hiện các chính sách khuyến khích sản xuất, các cấp Uỷ đảng và chính quyền cách mạng đã lãnh đạo và tổ chức nhân dân bám đất, giữ làng, đấu tranh chống địch lấn chiếm và chống địch phá hoại kinh tế.
Nhờ vào những chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp của Đảng và Mặt trận, cùng với tinh thần lạc quan, chăm chỉ cần cù, vừa anh hùng trong kháng chiến, vừa anh dũng trong lao động nhân dân ta đã góp phần làm cho bộ mặt đời sống kinh tế vùng giải phóng được cải thiện.
* Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành khác
        Nhờ có sự phát triển của các ngành nông nghiệp và sản xuất mà công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng có những bước chuyển biến mạnh mẽ.
 Về chính trị
Xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị còn là kết quả tổng hợp của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá... Thắng lợi của công cuộc xây dựng hậu phương về chính trị còn là kết quả của tinh thần chiến đấu ngoan cường dũng cảm, thông minh sáng tạo, dám xả thân vì nước của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên khắp chiến trường. Điều đó đã tạo nên sức mạnh áp đảo kẻ thù để giành thắng lợi về mình.
Về văn hoá, giáo dục, y tế
Sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế... được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam quan tâm và chú trọng hơn bao giờ hết.
Thắng lợi có ý nghĩa to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (30 và 31/1/1968) đã khẳng định vị trí to lớn của công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương trong chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của quân và dân ta. Đó là một hậu phương được tổ chức chặt chẽ theo một đường lối đúng đắn, sáng tạo và bằng những biện pháp có hiệu quả. Vì thế trong những năm (1965 - 1968) ta càng đánh càng mạnh và càng thắng lớn, hậu phương kháng chiến của ta được củng cố, xây dựng và bảo vệ ngày càng vững chắc, toàn diện. Nó góp phần to lớn quyết định vào thắng lợi chung của toàn dân tộc.
KẾT LUẬN 
Xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn đất nước, tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nghệ thuật quân sự và chiến tranh cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí minh hết sức coi trọng công cuộc xây dựng và củng cố hậu phương trong kháng chiến.
Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh quân dân miền Bắc kiên cường, hăng hái thi đua vừa chiến đấu vừa sản xuất làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn, góp phần cùng quân dân miền Nam làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.
Hậu phương miền Nam có vai trò quyết định lớn tới thắng lợi trên chiến trường. Đảng và Mặt trận giải phóng không ngừng củng cố và xây dựng hậu phương tại chỗ ngày càng vững mạnh, toàn diện.
Đảng ta còn hết sức quan tâm phát triển về kinh tế kháng chiến xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, cân đối.
    Củng cố và xây dựng hậu phương trên các mặt giáo dục, văn hoá, y tế... cũng được Đảng ta hết sức chăm lo coi trọng. Nó góp phần nâng cao dân trí, nâng cao sức khoẻ, đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân. Một hậu phương có nền văn hoá tiên tiến, lành mạnh, văn minh cũng chính là yếu tố làm cho hậu phương ngày càng vững mạnh.
Như vậy, vai trò của hậu phương là vô cùng quan trọng không chỉ trong kháng chiến mà còn có ý nghĩa trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay.