Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947

1. Thế trận chiến tranh toàn dân trong Chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947
( trích Tạp chí Quốc phòng toàn dân)
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), để đánh thắng một đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn hẳn, có đạo quân viễn chinh xâm lược nhà nghề, được tổ chức tốt, trang bị hiện đại, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân, dân ta tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, thực hiện khẩu hiệu: “Toàn dân đoàn kết. Quân dân một lòng. Kháng chiến khắp nơi. Triệt để dùng chiến thuật du kích. Mỗi phố là một mặt trận. Mỗi làng là một pháo đài”, hình thành thế trận chiến tranh toàn dân trên từng khu vực, chiến trường và trên địa bàn cả nước, thực hiện đánh bại từng bước chiến tranh xâm lược của địch, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Chiến dịch Việt Bắc- Thu Đông 1947 không chỉ là chiến dịch phản công đầu tiên của quân dân ta trong 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng chống Pháp và Mỹ xâm lược. mà còn đánh dấu sự hình thành và phát triển nghệ thuật tổ chức xây dựng và chuyển hoá thế trận chiến tranh toàn dân trong chiến dịch của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam. Ta có thể nghiên cứu khái quát những nội dung cơ bản, diễn biến chiến dịch Việt Bắc-Thu Đông 1947 để thấy rõ vấn đề này.
Về địch, trước Thu Đông 1947, sau khi chiếm được các thành thị, phần lớn vùng đồng bằng, một phần vùng trung du và Tây Bắc, Đông Bắc Bắc Bộ, thực dân Pháp ra sức củng cố vùng đã chiếm; đồng thời, xúc tiến việc chuẩn bị một cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt lực lượng chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta bằng chiến lược “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.
Để thực hiện kế hoạch tiến công Việt Bắc, địch sử dụng 12.000 quân tinh nhuệ (cả hải, lục, không quân) gồm 5 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, một thuỷ đội 40 tàu và một số lính thuỷ đánh bộ, do tướng Xa-lăng (Salan), Tư lệnh chiến trường Bắc Đông Dương, chỉ huy, hình thành ba mũi tiến công chính. Hai mũi tiến công theo hướng đường số 4 và sông Lô, bao vây toàn bộ căn cứ Việt Bắc. Mũi thọc sâu nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn và vùng xung quanh - nơi được coi là “Thủ đô kháng chiến” - để “bắt gọn Chính phủ Hồ Chí Minh”. Sau đó, càn quét tiêu diệt lực lượng kháng chiến và chiếm đóng cả vùng Việt Bắc. Phạm vi chiến dịch đã mở rộng tới 12 tỉnh với những gọng kìm dài ba, bốn trăm ki-lô-mét, hình thành thế bao vây lớn và mũi thọc sâu bất ngờ bằng quân dù vào ngay sau lưng ta.
Sáng 7 - 10 - 1947, địch bắt đầu cho quân nhảy dù xuống Bắc Cạn. Trong hai ngày 7 và 8 tháng 10, gần 2.000 quân địch nhảy dù xuống khu vực Thị xã, Chợ Mới, Chợ Đồn. Sau đó, từ thị xã Bắc Cạn chúng kéo lên chiếm Phủ Thông rồi chiếm đóng huyện lỵ Chợ Rã. Đồng thời, binh đoàn bộ binh thuộc địa theo đường số 4, từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, vòng xuống Bắc Cạn, bao vây Việt Bắc ở phía đông và phía bắc.
Binh đoàn hỗn hợp bộ binh thuộc địa và lính thuỷ đánh bộ từ Hà Nội ngược sông Hồng và sông Lô lên Việt Trì, Phú Thọ, Tuyên Quang, Chiêm Hoá, bao vây Việt Bắc ở phía tây.
Địch còn cho một lực lượng quân nhảy dù xuống Thái Nguyên để bao vây Việt Bắc từ phía nam.
Với ưu thế về binh lực và vũ khí, phương tiện chiến tranh, với một kế hoạch hoàn bị và bất ngờ, Bộ chỉ huy chiến tranh thực dân tin chắc vào thắng lợi.
Về  ta, yêu cầu chiến lược đặt ra lúc này là phải kiên quyết đánh bại cuộc tiến công chiến lược của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ địa kháng chiến của cả nước, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và làm thất bại chủ trương “ đánh nhanh, giải quyết nhanh” của địch, buộc chúng phải chấp nhận đánh kéo dài theo đúng ý định chiến lược của ta đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta sang một giai đoạn mới. Để thực hiện yêu cầu, các trận đánh riêng lẻ không thể đảm đương nổi mà tất yếu phải tổ chức chiến dịch. Nhận rõ, lực lượng vũ trang tập trung là lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến dịch, song nếu chỉ có bộ đội chủ lực mà không có bộ đội địa phương và dân quân, du kích phát triển cân đối thì nghệ thuật chiến dịch cũng không có điều kiện phát triển và hoàn thành tốt những nhiệm vụ do chiến lược đề ra. Nếu không hình thành được thế trận chiến tranh toàn dân trong chiến dịch, không có các lực lượng vũ trang địa phương tác chiến rộng khắp để phân tán và dàn mỏng lực lượng địch, thì bộ đội chủ lực khó có thể tập trung lực lượng đánh những đòn tiêu diệt địch ở nơi và vào lúc quyết định. Chính vì thế, từ tháng 9 - 1947, Trung ương Đảng đã dự báo về hoạt động quân sự của địch và chỉ thị “Sửa soạn phá những cuộc tấn công lớn của địch". Cả Việt Bắc hình thành thế trận toàn dân rộng khắp, vững chắc. Trong đó, các đơn vị bộ đội chủ lực là lực lượng chủ yếu, phối hợp chặt chẽ cùng lực lượng dân quân, du kích làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Cụ thể được bố trí như sau: ở Mặt trận đường số 3 có Trung đoàn 121, Trung đoàn 72, Trung đoàn 165; ở Mặt trận đường số 4 có Trung đoàn 74, Trung đoàn 11; ở Mặt trận sông Lô có Trung đoàn của Khu 10 và một tiểu đoàn chủ lực của Bộ. Các địa phương thành lập Uỷ ban bảo vệ cách mạng và các tổ chức Tỉnh đội, huyện đội, xã đội dân quân. Tính đến giữa năm 1947, hầu hết các xã thuộc Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đã xây dựng được những trung đội, đại đội dân quân, trong đó có cả đại đội nữ dân quân. Có huyện trọng điểm như Bạch Thông (Bắc Cạn) có tới 6 đại đội dân quân1. Địa phương nào cũng tổ chức các đội du kích thoát ly sản xuất. Dân quân, du kích được huy động canh phòng khu căn cứ, các địa bàn trọng điểm, các điểm xung yếu. Hệ thống giao thông liên lạc được tổ chức theo cách báo động dây chuyền xã nối xã, huyện nối huyện.
Nhân dân các địa phương, cả nông thôn và đô thị, theo chỉ thị “Tiêu thổ kháng chiến" của Chính phủ đã tiến hành “vườn không nhà trống”, cất giấu, tích trữ lương thực, thực phẩm, chuẩn bị đánh địch. Tại thị xã Bắc Cạn và vùng xung quanh, đề phòng địch nhảy dù, nhân dân đã cắm chông trên các ruộng, bãi trống trải. Mặc dù đời sống còn túng đói, nhưng trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, đồng bào các dân tộc Việt Bắc vẫn hăng hái quyên góp tiền bạc, trâu, bò, lợn, gạo đóng góp cho kháng chiến. Chị em các dân tộc còn khâu túi đựng quân trang, quân dụng ủng hộ bộ đội.
Sáng 7 tháng 10, binh đoàn đổ bộ đường không do Sô-va-nhắc (Sauvagnac) chỉ huy nhảy dù xuống Bắc Cạn. Tối hôm đó, Thường vụ Trung ương Đảng đã điện ra lệnh cho các Khu uỷ, Quân khu uỷ chỉ huy bộ đội đánh mạnh để chia cắt lực lượng địch và phá kế hoạch của chúng. Ngày 8 tháng 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn thể đồng bào đoàn kết kháng chiến, ra sức giết giặc. Người phân tích, địch đánh ta tạo ra hai gọng kìm bao vây và hội quân ở Bắc Cạn, tạo cái ô cụp lấy Việt Bắc. Nhưng địch chỉ mạnh ở hai gọng kìm, gọng kìm mà gẫy thì cái ô cụp xuống sẽ thành cái ô rách ...
Ngày 15 - 10 - 1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp". Chỉ thị nêu rõ: Cuộc tiến công này của địch không tỏ ra chúng mạnh, mà tỏ ra chúng yếu, chỉ ồ ạt lúc đầu. Chúng ta không sợ địch nhưng cũng không được khinh địch. Chỉ thị đề ra nhiệm vụ quân sự cho các chiến trường toàn quốc, trong đó nhấn mạnh phát động chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, giam chân, bao vây và đột kích các cứ điểm địch, khiến cho địch không thể tập trung quân đánh Việt Bắc; chặt đứt giao thông liên lạc, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế cho nhau; ra sức chế tạo vũ khí thô sơ cấp cho dân quân và các làng chiến đấu; củng cố các căn cứ địa về mọi mặt.
Để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ trên, bản Chỉ thị đặt ra một yêu cầu quan trọng là xây dựng tình đoàn kết giúp đỡ và phối hợp đánh giặc giữa bộ đội, dân quân du kích với nhân dân. Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chỉ thị của Trung ương Đảng và quyết tâm chiến dịch của Bộ Tổng chỉ huy, quân dân Việt Bắc với khí thế và ý chí quyết chiến, quyết thắng đã đồng loạt đánh địch trên tất cả các hướng tiến công của chúng.
Ở Bắc Cạn, ta có phần bị bất ngờ về chiến thuật của địch, nên gặp một số  tổn thất, nhưng khi địch vừa nhảy dù, bộ đội và dân quân du kích đã đổ ra đánh địch. Đoàn cảnh vệ Bắc Cạn, đại đội độc lập huyện Bạch Thông, dân quân du kích Thanh Mai, Yên Đĩnh, Cao Hoà, tự vệ chiến đấu các công binh xưởng C4, C6 toả đi chặn đánh các toán quân địch đi lùng sục, diệt những tên nhảy dù bị lạc, quấy rối các nơi giặc chốt lại. Trung đoàn Vệ quốc quân Cao Bằng bắn rơi tại chỗ máy bay địch, diệt quan năm Lăm-be (Lambert) cùng cơ quan tham mưu chiến dịch của địch. Toàn bộ bản kế hoạch tiến công của giặc Pháp rơi vào tay ta. Quân Pháp tuy chiếm được thị xã và một số huyện lỵ ở Bắc Cạn nhưng không đạt được mục tiêu “bắt gọn”  Chính phủ Hồ Chí Minh, diệt quân chủ lực Việt Minh, lại bị tiêu hao nặng nề và bị bao vây, cô lập giữa núi rừng trùng điệp trong khu căn cứ kháng chiến.
Trên Mặt trận đường số 4, binh đoàn bộ binh thuộc địa do Bô-phơ-rê (Beaufré) chỉ huy từ Lạng Sơn tiến lên Cao Bằng, đã bị các đơn vị bộ đội chủ lực phối hợp cùng dân quân du kích địa phương phục kích, tập kích đánh địch trên suốt đường hành quân của chúng, diệt hàng trăm tên, phá huỷ nhiều xe quân sự. Đường số 4 trở thành “con đường máu” của giặc Pháp.
Trên Mặt trận Sông Lô, binh đoàn hỗn hợp bộ binh thuộc địa và lính thuỷ đánh bộ do Com-muy-nan (Commuynan) chỉ huy, ngược sông Hồng, sông Lô tiến quân cũng bị bộ đội cùng dân quân, du kích phục kích, gây cho chúng thất bại nặng nề. Ta bắn chìm tàu chiến địch ở bến Bình Ca, Đoan Hùng, Khe Lau và đánh bộ binh địch trên bờ, cắt đứt đường tiếp tế của địch từ Hà Nội lên. Gọng kìm Sông Lô của chúng bị bẻ gãy.
Trên trục đường số 3, các đơn vị chủ lực đã phối hợp với tự vệ quân giới và dân quân địa phương tập kích nhiều vị trí đóng quân của địch, diệt hàng trăm tên. Đường tiếp viện của địch từ Cao Bằng xuống Bắc Cạn bị cắt đứt.
Chiến dịch Việt Bắc- Thu Đông 1947 diễn ra và giành thắng lợi trong thời gian tương đối ngắn trong cuộc kháng chiến trường kỳ, đã khẳng định đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, cùng nghệ thuật quân sự đặc sắc của Đảng ta, trong đó nổi bật là nghệ thuật xây dựng, tạo lập thế trận toàn dân đánh giặc rộng khắp, vững chắc ngay từ đầu và suốt quá trình chiến tranh. Thế trận đó, đã tạo điều kiện có lợi cho các mặt trận và các lực lượng: cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân, du kích đều phát huy cao nhất khả năng tác chiến, phối hợp chặt chẽ với nhau để đánh địch, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ chiến dịch. Chiến dịch cũng đã khơi dậy vai trò to lớn của nhân dân. Nhân dân không chỉ trực tiếp đánh giặc mà còn phục vụ chiến đấu hiệu quả,  góp hàng chục vạn ngày công phá đường, dựng vật chướng ngại ngăn cản bước tiến công của địch. Kết quả, trong chiến dịch, ta đã diệt, làm bị thương và bắt trên 7000 tên , bắn chìm 38 ca nô, 16 tàu chiến, hạ nhiều máy bay địch. Việt Bắc trở thành “mồ chôn giặc Pháp”.
 Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của quân và dân ta trong kháng chiến chống Pháp, giành thắng lợi to lớn. Đây là mốc khởi đầu sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa ta và địch, làm phá sản hoàn toàn chiến lược “đánh nhanh, giải quyết nhanh” của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới. Có được thắng lợi to lớn đó (trong điều kiện tương quan lực lượng quân sự bất lợi cho ta), điều căn bản là do Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân và dân ta xây dựng được thế trận toàn dân đánh giặc trên nền tảng vững chắc của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, để triệt phá thế trận áp đảo về quân sự của địch. Đây cũng là một bài học thắng lợi được vận dụng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Kỷ niệm 60 năm chiến thắng Việt Bắc- Thu Đông 1947, bài học về xây dựng thế trận chiến tranh toàn dân vẫn tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
Đại tá, PGS , TS. Vũ Như Khôi
Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự

 (Trích Thư viện tỉnh Đồng Nai)
Chiến thắng Việc Bắc nhờ chủ trương đường lối sáng suốt của Đảng, tinh thần dũng cảm, kiên cường của quân và dân ta, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đấu tranh ngoại giao để vãn hồi hoà bình. Mặc dù kháng chiến toàn quốc đã bùng nổ nhưng Người vẫn kiên trì tìm cách ngoại giao với Quốc hội và Chính phủ Pháp nhằm chấm dứt chiến tranh xâm lược của Pháp. Theo Người, nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn: “Tự do, hoà bình và độc lập”. Người kêu gọi nhân dân và binh lính Pháp, nhân dân các nước đồng minh hãy tìm cách ngăn chặn bàn tay của bọn thực dân hiếu chiến Pháp. Trong thư gửi Chính phủ và nhân dân Pháp nhân dịp đầu năm mới 1947, Hồ Chí Minh viết: “Tôi kêu gọi nhân dân Pháp để chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và năm 1947 mang lại nền hoà bình và tình hữu ái giữa nước  Pháp và nước Việt Nam”1
Từ ngày  1-1 đến ngày 1-10-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 21 lần trực tiếp hoặc gián tiếp đề nghị Chính phủ Pháp thương lượng để chấm dứt chiến tranh.
Ngày 1-10-1947, Hồ Chí Minh lại gửi điện trả lời chi bộ Đảng Xã hội Pháp ở Sài Gòn, đề nghị Chính phủ Pháp giữ “tinh thần hữu hảo, sự tin cậy và sự hợp tác giữa hai dân tộc Việt – Pháp”. Đồng thời, chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột”.
Đáp lại thực dân Pháp xua quân đánh vào căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy nhân dân Việt Nam buộc phải cầm súng chống lại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Việt Bắc làm căn cứ kháng chiến hậu phương của cả nước. Trong lịch sử dân tộc ta có nhiều kinh nghiệm và xây dựng căn cứ địa hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng. Tháng 5-1945 từ Cao Bằng về Tuyên Quang, Người đã chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm căn cứ để lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự kiến trước thực dân Pháp sẽ quay lại xâm lược nước ta. Vì thế, trước khi về Thủ đô Hà Nội, Người đã chủ trương tiếp tục xây dựng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Tháng 11-1946, khi thực dân Pháp khiêu khích ở Hải Phòng và Hà Nội, Người gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc thì Hà Nội giữ được bao lâu? Đại tướng thưa rằng Giữ được một tháng, các thành phố khác ít khó khăn hơn, vùng nông thôn nhất định ta giữ được. Suy nghĩ trong giây lát, Người nói “Ta lại trở về Tân Trào”. Sau đó, Người đã cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị căn cứ địa kháng chiến. Trong thời gian ngăn, các cơ sở chính trị của ta được củng cố, hoàn thiện. Hệ thống thông tin liên lạc, phòng gian bảo mật và lực lượng vũ trang cũng được xây dựng và củng cố đồng bộ. Hơn 42.000 tấn máy móc, nguyên liệu để sản xuất vũ khí và 20.000 tấn muối đã đưa lên Việt Bắc. Trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cơ quan lãnh đạo của Đảng và Chính phủ di chuyển lên Việt Bắc an toàn.
Sau khi vồ hụt cơ quan lãnh đạo của ta ở Hà Nội cuối năm 1946, thực dân Pháp vẫn nuôi mộng bắt bằng được cơ quan lãnh đạo cao nhất của cuộc kháng chiến. Ỷ vào binh hoả lực mạnh, sức cơ động cao thực dân Pháp định nhảy vào Việt Bắc bắt Chính phủ Hồ Chí Minh. Nhưng núi rừng Việt Bắc đã trở thành mồ chôn giặc Pháp. Đúng như Hồ Chí Minh nhận định: Căn cứ địa Việt Bắc có thế chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Nhờ vậy, mỗi chiến khu, mỗi tỉnh, thậm chí huyện cũng có thể xây dựng được căn cứ địa, căn cứ du kích. Tiêu biểu như các căn cứ Lang Tài (Bắc Ninh), Kim Môn (Hồng Quảng), Bác Ái (Ninh Thuận). Các làng chiến đấu như: Cự Nẫm, Cảnh Dương (Quảng Bình), Chi Lăng (Lạng Sơn), Xi Tơ (Tây Nguyên), Cao Pha (Tây Bắc), Nguyên Xá (Thái Bình). Căn cứ địa Việt Bắc là một đóng góp lớn của Hồ Chí Minh. Hậu phương Việt Bắc đã góp phần tạo lên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Tư tưởng chiến lược chính trị, quân sự thiên tài Hồ Chí Minh toả sáng trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947. Thiên tài đó đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kiêm nghiệm. Trước Cách mạng tháng Tám, Người đã quyết định nhiều vấn đề quân sự quan trọng như hoãn cuộc khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng, chỉ thị xây dựng Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và chỉ đạo tổng khởi nghĩa năm 1945.
Trong những năm củng cố chính quyền cách mạng sau tổng khởi nghĩa, Người lo tổ chức chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang và kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng BCHTƯ Đảng vạch ra đường lối Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Lúc đầu thế địch mạnh muốn nhanh chóng bóp chết lực lượng vũ trang nhỏ bé, trang bị thô sơ của ta. Người chỉ đạo: Nhanh chóng tổ chức đánh du kích giam chân địch trong các thành phố, tiêu thổ kháng chiến tổ chức tản cư lên vườn không nhà trống; chuyển toàn bộ đất nước từ thời bình sang thời chiến.
Mùa hè 1947 từ khu V trở ra ta có 12 vạn quân trong đó chỉ có 1/4 chiến sĩ được trang bị súng. Riêng chiến trường Việt Bắc, ta chỉ có 20 tiểu đoàn quân chủ lực. Trong khi đó thực dân Pháp tập trung gần 30 tiểu đoàn tinh nhuệ có phi pháo mạnh yểm trợ. Người phân tích: Âm mưu của địch là hội quân ở Bắc Cạn tạo thành cái ô bọc lấy Việt Bắc, hai cánh quân tạo thành hai gọng kìm. Một theo đường số 4 ở phía Đông; hai theo đường sông Hồng, sông Lô ở phía Tây kẹp chặt lấy Việt Bắc. Chúng chỉ mạnh ở hai gọng kìm Đông và Tây. Nếu ra cùng lực lượng bao vây chặt và tiêu hao quân dù ở Bắc Cạn tập trung lực lượng kiên quyết phản công tiêu diệt các cánh quân địch ở Đông và Tây thì cái ô sẽ cụp xuống thành cái ô rách.
Ta không chủ trương đem quân chủ lực ra chọi nhau với địch mà dùng lực lượng nhỏ thực hiện phương châm: “đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung”, phục kích đánh địch trên các địa hình hiểm trở. Bằng phương thức đó, ta đã vô hiệu hoá sức mạnh phi pháo và đội quân vừa đông vừa thiện chiến của địch. Rừng Việt Bắc trở thành “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Cuộc tấn công lên Việt Bắc của Pháp bị thất bại nặng nề làm cho chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng bị phá sản. Buộc chúng phải đánh theo cách đánh của ta – đánh lâu dài.
Kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “…bọn quân phiệt thực dân khoe miệng rằng chóng thì dăm tuần, chậm th2i ba tháng chúng sẽ chinh phục được ta”. Đến nay, “Lực lượng của chúng cũng như mặt trời vào lúc hoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ… lực lượng của ta ngày càng thêm mạnh, như suối mới chảy, như lửa mới nhóm, chỉ có tiến, không có thoái”2
Thắng lợi Việt Bắc, Thu – Đông 1947 là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Đảng ta, thể hiện rực rỡ nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình, sắc bén, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi này của quân và dân ta đã làm cho quân Pháp từ chủ động sang thế bị động.
Tìm hiểu vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chiến thắng Việt Bắc, Thu – Đông 1947, chúng ta càng thấy: Tư tưởng quân sự của Người, một trong những nền tảng tư tưởng quân sự của Đảng ta, đã được phát triển trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954).
1, 2. Hồ Chí Minh Toàn tập, CTQG, H, 1995, T.5, tr.3, 313.
Nguồn Lịch sử Đảng. -1997. –Số 11. –Tr. 25-26, 32.

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945) - Th.s Lê Tùng Lâm·


VẤN ĐỀ LƯƠNG THỰC
TRONG CHÍNH SÁCH CỦA NHẬT BẢN Ở NAM KÌ (1940 – 1945)
                                                                                   Lê Tùng Lâm·
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tháng 9.1940, Nhật Bản chính thức xâm chiếm Việt Nam. Từ đó, nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh“một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của Pháp - Nhật. Sự thống trị tàn bạo của Nhật Bản đã làm cho hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc Việt Nam chết đói cuối năm 1944 – đầu năm 1945. Vậy mục đích của Nhật Bản khi nhảy vào Việt Nam là gì? Chính sách của Nhật Bản đối với Nam Kì như thế nào? Hậu quả của những chính sách đó ra sao?
Nhiều nhà sử học cho rằng “việc buôn bán lương thực của Nhật Bản ở Việt Nam (Đông Dương) - một nguyên nhân chủ yếu đưa tới nạn đói khủng khiếp này”[9, 364]. Không thể phủ nhận nguyên nhân của nạn đói năm 1944 – 1945 ở Việt Nam là xuất phát từ chính sách bóc lột của đế quốc Pháp-Nhật. Đã 65 năm trôi qua, tội ác của Nhật Bản vẫn còn đó. Chúng ta không nên cứ ôm mãi quá khứ nhưng cũng không được phép quên quá khứ đau đớn này. Do đó, việc tìm hiểu, lý giải rõ chính sách của Nhật Bản về vấn đề lương thực ở Nam Kì là điều cần thiết.
II. NỘI DUNG
1. Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương
Năm 1937, Nhật Bản mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Từ năm 1939, Nhật Bản cũng đẩy mạnh quá trình tiến xuống miền Nam châu Á. Tháng 2.1939, Nhật Bản chiếm đảo Hải Nam (Trung Quốc) và chiếm luôn quần đảo Hoàng Sa (Việt Nam) vào tháng 3.1939. Đây là bước khởi đầu cho quá trình mở rộng xâm lược xuống vùng Đông Nam Á – đầu tiên là Đông Dương vì đây là một khu vực có vị trí rất quan trọng về mặt chiến lược. Nếu chiếm được Đông Dương, Nhật Bản sẽ đạt được hai mục tiêu:
- Thứ nhất: Ngăn chặn sự tiếp viện từ bên ngoài cho Trung Quốc bằng con đường từ Hải Phòng tới Côn Minh và nếu có thể, dùng con đường này để xâm nhập miền Nam Trung Quốc.
- Thứ hai: Nhật Bản có thể loại bỏ tất cả các cường quốc phương Tây ra khỏi thuộc địa của họ ở Đông Nam Á để thiết lập “Khu thịnh vượng chung Đại Đông Á”[1, 225].
Như vậy, việc chiếm được Đông Dương sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc thôn tính toàn bộ Trung Quốc cũng như để thực hiện kế hoạch thiết lập “Khu thịnh vượng chung Đại Đông Á” là một vùng rộng lớn “bao gồm Đông Dương và Indonesia (quần đảo Nam Dương-ND) thuộc Hà Lan” [7, 137] của Nhật Bản.
Để thực hiện kế hoạch này, ngày 1.8.1940, Bộ Tham mưu Hải quân Nhật Bản công bố tài liệu “Nghiên cứu những chính sách đối với Đông Dương” đã nêu lên 3 điều khiến Nhật Bản phải nhanh tay làm chủ Đông Dương:
- Làm căn cứ tiến hành đánh chiếm Miến Điện và Mã Lai.
- Đóng giữ Cam Ranh – cảng quân sự vào loại tốt nhất thế giới, nằm giữa đường đi Singapore đến Hồng Kông và cũng có vị trí như vậy từ Biển Đông đến Bangkok, đến Manila, đến các cảng ở Sarawak và Bắc Borneo.
- Thuận lợi cho việc tập trung quân nhanh chóng chuyển đến mặt trận Thái Bình Dương một khi chiến tranh nổ ra [9, 367-368].
Nhằm đẩy nhanh hơn tiến trình xâm chiếm toàn bộ Đông Nam Á, ngày 2.8.1940 Nhật gởi cho Toàn quyền Đông Dương – Đô đốc Jean Decoux một yêu cầu tối thiểu về việc di chuyển những nhóm người Nhật ở Bắc Đông Dương và tự do về bầu trời hàng không.
Ngày 30.8.1940, Đại diện cho chính phủ Vichy ở Nhật là Arsène Henry và Matsouka – Bộ trưởng Ngoại giao của Nhật đã ký kết Hiệp ước về việc bảo vệ chủ quyền Pháp ở Đông Dương với nội dung:
- Chính phủ Nhật cam kết tôn trọng và nhìn nhận chủ quyền của Pháp trên toàn cõi Đông Dương.
- Chính phủ Pháp chấp nhận cho quân đội Nhật tạm đóng ở Bắc Kỳ để sớm giải quyết vấn đề Trung Quốc.
- Hai bộ tư lệnh Pháp và Nhật họp tại Hà Nội sẽ ký một thỏa ước quân sự ấn định thể thức thi hành thỏa hiệp chính trị [1].
Hiệp ước này đã đánh dấu sự nhượng bộ của thực dân Pháp trước Nhật Bản và cũng mở đầu cho quá trình hợp tác Pháp-Nhật tại Đông Dương. Sở dĩ chính quyền Vichy chấp nhận điều kiện đó của Nhật v쌠Đông Dương là cửa sổ bên ngoài của chính phủ Tưởng Giới Thạch khi rút về Trùng Khánh, là chiếc chìa khóa chiến lược để đi vào toàn bộ vùng Đông Nam Á […]. Sự riệu rã đột ngột của chế độ thực dân Pháp do sự sụp đổ về quân sự và chính trị vào tháng 6.1940 ở chính quốc [3, 51].
Trong khi đó, ở Đông Dương, Jean Decoux vẫn kiên quyết không chấp nhận những yêu cầu của Nhật Bản với lý do: chưa nhận được chỉ thị từ chính phủ Vichy. Trước sự cứng rắn của Toàn quyền Decoux,đúng 23 giờ ngày 22.9.1940, quân Nhật từ miền Nam Trung Quốc tấn công vào các đồn binh Pháp ở Bắc Kỳ. Quá thất vọng trước sự lưỡng lự của Pháp cho họ tự do đi qua thuộc địa, những chỉ huy địa phương của Nhật đã nhanh chóng xua quân tràn vào hai đồn binh ở Lạng Sơn và Đồng Đăng đánh bại lực lượng hỗn hợp Pháp – Việt trong vài trận đánh ác liệt nhất mà quân Nhật tham gia tại Việt Nam. Sự thất thủ của Đồng Đăng và Lạng Sơn đã cho chính quyền Pháp cả ở thuộc địa và lẫn chính quốc thấy rằng, bất chấp những tuyên bố mạnh miệng, họ vẫn không thể chống lại sức mạnh của quân Nhật. Cộng tác và thỏa hiệp là lựa chọn thực tế duy nhất nếu Pháp muốn duy trì quyền kiểm soát Đông Dương [5, 49]. Sự kiện này được Hồ Chí Minh giải thích như sau: Người Nhật trở thành chủ nhân đích thực. Người Pháp trở thành một dạng nô lệ được tôn trọng. Và người dân Đông Dương phải chịu cảnh một cổ hai tròng – làm nô lệ không chỉ cho người Nhật mà còn là nô lệ của nô lệ”[5, 51].
Như vậy, sau thắng lợi ở Lạng Sơn, Đồng Đăng, phát xít Nhật đã chính thức nhảy vào Đông Dương. Từ đây, nhân dân Việt Nam phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”  dưới sự thống trị của Pháp - Nhật. Mục tiêu thật sự của Nhật khi nhảy vào Đông Dương là gì?
2. Vấn đề lương thực trong chính sách của Nhật ở Nam Kì  từ 1941 – 1945
Trong quá trình xâm lược xuống Đông Nam Á, nỗi bận tâm lớn nhất của giới cầm quyền Nhật Bản chính là nguồn lương thực để phục vụ cho chiến tranh. Ngay sau khi độc chiếm Việt Nam, Nhật thực hiện triệt để chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, nhằm cướp đoạt đến cùng sức người, sức của, của nhân dân ta trên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội” [10, 357] để phục vụ cho các hoạt động quân sự của họ.
Tháng 1.1941, Nhật Bản yêu cầu Toàn quyền Decoux ký thỏa thuận: “xuất 100 tấn gạo từ Sài Gòn sang Nhật và trong 1 năm vận chuyển 1 triệu tấn gạo cho quân đội Nhật, bao gồm số gạo cung cấp cho hàng chục vạn quân Nhật đang đóng ở Đông Dương”[13, 178].
Tháng 7.1941, Hiệp định mới “Hoạch định phòng thủ chung Đông Dương” (Darlan-Kato) được ký kết. Theo đó, Pháp cho Nhật được quyền đóng quân và sử dụng các căn cứ, các hệ thống giao thông tại phía Nam Đông Dương, từ đó, vài tháng sau họ sẽ hành quân chống lại đế quốc Anh [11, 35]. Để thực hiện kế hoạch này, Tư lệnh Trưởng quân đội Nhật Bản – Terauchi kéo quân vào Nam Việt Nam mà không gặp phải kháng cự nào. Đến tháng 11.1941, đã có khoảng 80.000 quân Nhật (trong tổng số 100.000 quân Nhật ở cả Bắc và Nam Kì) ở vùng này [13,179]. Rõ ràng, việc có đến 80% quân đội Nhật ở Việt Nam đóng tại Nam Kì đã nói lên được vai trò quan trọng của khu vực này trong chính sách của Nhật Bản.
Ngay khi vào miền Nam, “quân đội Nhật giành quyền kiểm soát các sân bay và hải cảng, bao gồm khu vực xung quanh vịnh Cam Ranh và các sân bay quanh Sài Gòn. Nhật sử dụng căn cứ Đông Dương để hậu thuẫn cho cuộc tấn công mở rộng Đế chế Mặt Trời mọc xuống Đông Nam Á” [5, 50].
Như vậy, từ năm 1941, Nam Kì trở thành căn cứ xuất phát của quân Nhật đi đánh chiếm xuống vùng Đông Nam Á. Để đảm bảo cho thắng lợi quân sự, Nhật Bản đã đẩy mạnh việc buộc thực dân Pháp phải cung cấp nguồn lương thực cho quân Nhật. Gạo Việt Nam được sử dụng để nuôi quân Nhật và xuất khẩu sang đảo quốc này. Gạo và ngô còn được dùng để chưng cất thành cồn bù vào sự thiếu hụt xăng dầu [5,53].
Tác giả Futura Motoo cũng cho rằng “tài nguyên quan trọng nhất mà Nhật trông đợi ở Đông Dương là gạo, việc nhập khẩu gạo từ Đông Dương sang nước Nhật trong tổng lượng nhập khẩu năm 1940 là 25,9%, năm 1941 là 25,2%, năm 1942 là 37%, năm 1943 là 56,3% và chiếm tỉ lệ cao nhất trong thời kì có thể vận chuyển bằng tàu biển […]. Gạo Đông Dương được cấp thêm cả cho quân đội Nhật triển khai ở khu vực thiếu lương thực” [6, 117]. Do đó, nguồn lương thực của Việt Nam là mục tiêu quan trọng nhất trong cuộc xâm lược cũng như sự tồn tại của Nhật Bản.
Ngày 9.12.1941, Pháp – Nhật đã ký kết “Hiệp ước phòng thủ chung”, thừa nhận sự chiếm đóng của Nhật trên toàn Đông Dương” […]. Riêng về gạo, Pháp phải nộp cho Nhật năm 1941 là 585.000 tấn, năm 1942 là 973.000 tấn, năm 1943 là 1.023.000 tấn, năm 1944 là 900.000 tấn [13, 177]. Những chính sách này của Nhật đã được cụ thể thành các hiệp định sau:
Hiệp định ngày 18.7.1942 (được ký kết tại Sài Gòn): Theo đó, “chính phủ Liên bang Đông Dương cam kết giao cho chính phủ Nhật Bản 1.050.000 tấn gạo và tấm trước ngày 31.10.1942 và 45.000 tấn bột gạo trắng vào trước ngày 31.12.1942. […] nhưng không bao gồm số dư nợ của đợt giao 30.000 tấn dự kiến vào tháng 12.1941, được mang sang tháng 1.1942 lên tới khoảng 24.000 tấn. Như vậy, số gạo xuất cho Nhật trong năm 1942 sẽ là 1.074.000 tấn” [15, 585].
          -  Hiệp định ngày 25.1.1943 với nội dung: “chính phủ Đông Dương cam kết giao nộp cho chính phủ Nhật Bản 1.050.000 tấn gạo và tấm cùng 66.000 tấn bột gạo trắng trước ngày 31.12. Số kết toán của hạn mức gạo, tấm phải nộp năm 1942 chưa nộp tính đến 31.12.1942 lên đến 75.904 tấn phải được giao nộp vào năm 1943, không nằm trong hạn mức 1.050.000 tấn”. Như vậy, khối lượng toàn bộ số gạo và tấm phải xuất lên đến 1.125.904 tấn [15, 586].
          -  Hiệp định ngày 5.1.1944 (được ký tại Sài Gòn) bao gồm các điều khoản chủ yếu: “chính phủ Đông Dương cam kết giao nộp cho chính phủ Nhật 900.000 tấn gạo và tấm. Tuy nhiên, chính phủ Đông Dương cam kết sẽ giao tối thiểu một khối lượng gạo 585.000 tấn gồm các loại 1-2-3 (tức loại 25%, 40% và 50% tấm) và một khối lượng tối đa gồm: 135.000 tấn gạo trắng có chất lượng bằng hay hơn loại gạo tròn và dài 20% tấm; 135.000 tấn gạo cargo (gạo không đóng bao); 45.000 tấn tấm” [15, 587].
Như vậy, lương thực của Đông Dương chiếm giữ một vai trò rất quan trọng trong chính sách xâm lược, mở rộng lãnh thổ của Nhật Bản. Gạo của Việt Nam không chỉ cung cấp cho quân đội mà còn cung cấp cho cả nước Nhật. Tuy nhiên, đây là số lượng gạo quá lớn so với sức cung cấp của Đông Dương. Do đó, thường thực dân Pháp không cung cấp đủ số lượng cho Nhật. Theo Đào Phiếu, số lượng gạo Việt Nam cung cấp cho Nhật như sau:
Năm
Tổng số yêu cầu (tấn)
Tổng số xuất cảng cho Nhật (tấn)
1940
Không rõ
408.000 tấn
1941
700. 000 tấn
585. 000 tấn
1942
1.074. 000 tấn
973. 000 tấn
1943
1.125. 000 tấn
1.023.471 tấn
1944
900. 000 tấn
498.525 tấn
1945
Không rõ
44.807 tấn
Nguồn: [10, 359].
Theo bảng số liệu trên, năm 1941, số lượng gạo Việt Nam cung cấp cho Nhật đạt 83,6%; năm 1942 đạt 90,6%; năm 1943 đạt 90,9%; năm 1944 đạt 55,4%. Rõ ràng, số lượng gạo Việt Nam cung cấp cho Nhật nhiều nhất là hai năm 1942, 1943. Sang năm 1944, tình hình mặt trận Thái Bình Dương có nhiều thay đổi, con đường vận chuyển trên biển của Nhật bị cắt đứt. Do đó, số lượng gạo xuất sang Nhật bị giảm sút đáng kể.
Cùng với gạo, ngô là nguồn lương thực quan trọng cũng bắt buộc phải xuất khẩu sang Nhật Bản:
Năm 1941, xuất cảng 124.923 tấn
Năm 1942, xuất cảng 98.700 tấn (chiếm 46% tổng sản lượng của Việt Nam)
Năm 1944, xuất cảng 18.263 tấn (chiếm 45% tổng sản lượng của Việt Nam)
Năm 1945, xuất cảng 12.134 tấn (chiếm 9% tổng sản lượng của Việt Nam)[10, 360]. Vậy là, gạo đã bị đem đi xuất khẩu, nhân dân Việt Nam ăn không đủ no, nay lại phải xuất khẩu ngô. Do đó, đời sống nhân ngày càng thêm cơ cực.
Bên cạnh gạo, ngô, Nhật Bản còn tăng cường vơ vét các loại ngũ cốc. Đông Dương cũng là nơi cung cấp ngũ cốc chính cho Nhật. Trong những năm 1940 – 1945, Đông Dương xuất khẩu sang Nhật một lượng ngũ cốc (ngoài gạo) như sau:
- Năm 1940: 149.000 tấn (chiếm 55,4% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1941: 135.000 tấn (chiếm 50,6% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1942: 125.000 tấn (chiếm 15,2% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1943: 634.000 tấn (chiếm 84,5% số ngũ cốc nhập vào Nhật)
- Năm 1944: 335.000 tấn (chiếm 70,0% số ngũ cốc nhập vào Nhật)[9, 379].
Rõ ràng, Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là nguồn cung cấp lương thực quan trọng nhất cho Nhật Bản. Số lượng gạo của Việt Nam nhập vào Nhật Bản chiếm đến 56,3% và 84,5%  số lượng ngũ cốc nhập vào Nhật năm 1943 là minh chứng rõ ràng nhất về vị trí của Việt Nam trong việc cung cấp lương thực cho Nhật. Do đó, việc Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương không phải chủ yếu từ mục tiêu chính trị là ngăn chặn tiếp tế từ bên ngoài cho Trung Quốc mà là do nguồn cung cấp lương thực của Đông Dương cho Nhật trong cuộc tồn tại và xâm lược của họ. Những hiệp định đã được ký kết giữa Nhật với Pháp cùng những số liệu về việc cung cấp lương thực cho Nhật đã chứng minh mục tiêu của Nhật khi xâm chiếm Đông Dương. Vậy hậu quả của chính sách lương thực của Nhật như thế nào?
3. Hậu quả chính sách lương thực của Nhật Bản
Việc Nhật buộc chính phủ Pháp ở Đông Dương cung cấp lương thực với một số lượng lớn như trên đã gây ra những hậu quả vô cùng to lớn đối với nhân dân Việt Nam.
Thứ nhất: Pháp cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp cho Nhật. Báo cáo Mật của Giám đốc Sở Mễ cốc Lalanne ngày 22.4.1942 đã nêu: “(…) Theo quy định, từ nay đến ngày 31.5, Sở Mễ cốc phải nộp cho hãng Mitsui Bussan Kaisha trung bình mỗi tháng 120.000 tấn gạo. Thế nhưng hiện nay Sở Mễ cốc chỉ có thể cung ứng 100.000 tấn gạo và tấm mà thôi. (…)”[13, 153].
Hoặc Báo cáo của Sở Mễ cốc ngày 4.5.1942 “ (…), như vậy tổng cộng từ tháng 1 đến tháng 5.1942(Pháp phải nộp cho Nhật-ND) là 490.000 tấn. Tính đến nay, Sở Mễ cốc đã nộp cho hãng này (Mitsui Bussan Kaisha) 379.000 tấn. Như vậy, trong tháng 5 còn phải nộp tiếp cho Nhật 109.724 tấn gạo và tấm” [13, 164]. Rõ ràng, thực dân Pháp không có đủ lượng gạo cần thiết để cung cấp cho Nhật. Tuy nhiên, vì mục tiêu chính trị nên Sở Mễ cốc phải ra sức thu mua lúa trong nhân dân để đảm bảo cung cấp cho Nhật. Báo cáo của Chủ tỉnh Gò Công Ropion ngày 9.5.1942 đã nêu “(…) Tôi đã ra lệnh cho các chủ vựa khác phải bán gấp số lúa của họ trong thời gian ngắn nhất. Các chánh tổng cũng đã được lệnh phải đích thân đến các vựa lúa để kiểm tra và đốc thúc các chủ vựa bán ngay số lúa đã được quy định” [13, 155].
Hoặc Báo cáo của chủ tỉnh Rạch Giá Pierre Kresser ngày 14.5.1942 viết: “(…) Sau cuộc họp từ ngày 5-5 ở Sài Gòn trở về, tôi đã ra lệnh khẩn cấp cho các tổng, xã trong tỉnh buộc các điền chủ phải bán lúa của họ cho nhà nước với khối lượng lớn và trong một thời hạn khẩn cấp”[13, 156].
Như vậy, thực dân Pháp đã dùng mọi biện pháp để bắt nhân dân ta bán lúa, gạo cho họ để đủ cung cấp theo yêu cầu của Nhật. Thậm chí, để thắt chặt thị trường lúa gạo, Toàn quyền Đông Dương còn ban hành các Nghị định ngày 12.3.1942 và 31.3.1943 quy định: “những người có hai tấn lúa và 1 tấn gạo trở lên đều phải khai báo và bán lại cho chính quyền thông qua Thương cục Gạo và Bắp” [12,192]
Nghị định của Thống đốc Nam Kì Hoeffel ký ngày 17.4.1943 quy định rõ “ai có 4 tạ thóc hay 2 tạ gạo đều phải khai báo và bán cho nhà nước thấp hơn giá thị trường 1 đồng/tạ” [10, 361]
Ngày 17.4.1944, thay mặt Thống đốc Nam Kì, Thanh tra Vụ Chính trị và hành chính Dufour ký “Nghị định khẩn” gồm 7 điều. Theo đó quy định:
Điều 1:  Trên toàn lãnh thổ Nam Kỳ (ngoại trừ vùng Sài Gòn – Chợ Lớn) yêu cầu tất cả những người hiện đang chứa trữ lúa gạo và tấm (gồm điền chủ, nông gia, chủ ghe bầu, người vận chuyển, người bán lúa, chủ nhà máy xay, người xuất khẩu) phải khai báo trong ngày 5.5.1944, hạn chót trước 16 giờ. […][13, 161-162].
Có thể nói, chính quyền Đông Dương đã thực hiện mọi biện pháp khắc nghiệt để tận thu lúa gạo trong nhân dân, thương buôn, điền chủ…Tuy nhiên, Pháp vẫn không thỏa mãn được yêu cầu của Nhật. Thông tri ngày 21.9.1942, Thống đốc Nam Kỳ Rivoal viết: “Trên thực tế, con số dự kiến 800.000 tấn nộp cho Nhật đã là một dự kiến sai lầm. Thế mà phía người Nhật vẫn cho rằng chúng ta thiếu thiện chí và thành thật, và họ đã tăng lên 1.050.000 tấn, ép buộc chúng ta phải chấp thuận”… [13, 158].
Bên cạnh những biện pháp ép buộc các nhà nông, điền chủ, chủ vựa lúa gạo…phải khai báo và bán theo quy định của nhà nước, thực dân Pháp còn quy định giá mua thấp hơn rất nhiều so với giá cả thị trường. “Năm 1943, giá gạo chính thức do chính quyền thuộc địa ấn định có 26 đồng/tạ (100kg), trong khi giá thị trường lên đến 57 đồng. Rồi tới năm 1944, giá chính thức thu mua vẫn không tăng nhưng giá thị trường lên đến 350 đồng – 400 đồng/tạ…” [14, 402].
Như vậy, chính sách vơ vét, bóc lột lương thực của Nhật đã gây nhiều khó khăn cho thực dân Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, xét cho cùng, chính nhân dân Việt Nam là đối tượng gánh chịu tất cả những khó khăn đó.
Thứ hai: chính sách trên của Nhật đã tạo nên cơn sốt giá cả trầm trọng ở Việt Nam vào những năm 1944-1945. Trong suốt thời gian bị quân Nhật chiếm đóng, giá cả một số sản phẩm cần thiết tăng lên kinh khủng, làm phát sinh nạn chợ đen, khiến cho những người có thu nhập thấp không thể nào với tới hàng hoá.
Cho đến giữa tháng 5.1942, khắp các tỉnh Nam Kì giá thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác tăng trung bình từ 10% đến 30%, có lúc lên đến 70%. Theo báo cáo của chủ tỉnh Sa Đéc (tháng 5.1942), giá thực phẩm của tỉnh so với cùng kì năm 1941 tăng ít nhất 11% và cao nhất là 77% như: Cá khô tăng 11%; Các loại rau tăng 35%; Hàng tiêu dùng tăng 47%; Gà vịt tăng 77%... Trong khi đó, giá cả ở Long Xuyên cùng kì (5.1942) cũng tăng lên đáng kể như: gạo tăng 20%; rau tăng 30%; nước đá tăng 60%..[13, 253-254].
Sự gia tăng nhanh chóng giá cả các mặt hàng thực phẩm thiết yếu đã tác động rất lớn đến đời sống của nhân dân ta. Tình hình này ngày càng tội tệ hơn vào vụ mùa năm 1944 – 1945. Trong giai đoạn này, từ Nam đến Bắc Việt Nam, hầu như gia đình nào cũng bị đói. Chi phí sinh hoạt tại Sài Gòn tăng lên 450%, tại Hà Nội, chi phí sinh hoạt tăng lên đến 2000% [4, 135].
Trong khi đó, chính quyền Pháp còn tung ra lượng tiền giấy ngày càng nhiều để làm đòn bẩy trong quan hệ làm ăn với Nhật, vừa trả chi phí để duy trì quân đội Nhật tại Đông Dương, vừa trả lương cho công chức và binh lính. Kết quả, lượng tiền lưu thông tăng từ 180 triệu đồng vào năm 1939 lên đến 1tỷ 364 triệu đồng vào năm 1944 [14, 402-403]. Tình hình này làm cho nạn lạm phát tăng cao và làm cho đời sống nhân dân ngày càng cơ cực nhiều hơn.
Thứ ba: chính sách thu mua lương thực cưỡng bức với giá rẽ mạt, bắt nhân dân nhổ lúa, trồng đay phục vụ chiến tranh…là nguyên nhân gây nên nạn đói năm 1945 ở Việt Nam.
Toàn bộ số gạo mà Nhật mua của Việt Nam với giá quy định thấp hơn thị trường rất nhiều. “Tháng 7.1945, giá chính thức thu mua do Nhật ấn định là 55 đồng/tạ, thì giá thị trường là 700 – 800 đồng/tạ” [14, 402]. Như vậy, giá lúa Nhật thu mua chưa bằng 1/12 giá thị trường. Trong khi đó, nhân dân nghèo muốn có “cơm ăn” phải mua lại với giá đắt gấp 12 lần.
Trong khi đó, than đá từ miền Bắc không chở vào Nam được để cho các nhà máy hoạt động. Do đó, gạo, ngô đã được dùng đốt thay cho than đá. Ngược lại, gạo của Nam Kì cũng không thể chở ra Bắc Kì được. Số lượng gạo chuyển từ Nam ra Bắc đã bị giảm sút nghiêm trọng. Năm 1941 là 185.620 tấn; năm 1942 là 126.670 tấn; năm 1943 là 29.200 tấn; năm 1944 là 6.830 tấn [10, 357]. Rõ ràng, số lượng gạo vận chuyển ra miền Bắc trong năm 1944 chỉ bằng 3% so với năm 1941. Hệ quả tất yếu là trong những tháng đầu năm 1945, hàng trăm ngàn người lang thang, ăn xin và chết đói khắp các vùng quê miền Bắc và Miền Trung Việt Nam.
Mặt khác, để giải quyết tình hình khó khăn về nguồn nhiên liệu phục vụ cho sinh hoạt và chiến tranh, chính phủ Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu. Ngày 22.1.1945, Thống đốc Nam Kì gởi các chủ tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc một công văn mật:
[…] Phái bộ Nhật yêu cầu Phủ Toàn quyền cho phép hãng Memka KK và hãng Mitsui Bussan Kaisha được lĩnh thầu việc trồng đay ở miền Nam Đông Dương. Riêng Nam Kì, người Nhật yêu cầu 1.400ha diện tích trồng đay phân cho:
- Tokyo Menka KK: 700 ha ở Châu Đốc
- Mitsui Bussan Kaisha:      300 ha ở Long Xuyên ; 300 ha ở Sa Đéc
                                                100 ha ở Cần Thơ [13, 199]
Nếu tính trung bình mỗi hecta thu hoạch 1,3 tấn thóc thì Nam Kì đã mất đi hết: 1400 x 1,3 tấn = 1.820 tấn thóc. Nếu trung bình mỗi người tiêu thụ tối thiểu 120kg thì phải có hơn 15.000 người không có gì ăn.
Ngoài ra, Nhật còn lấy đất ruộng để trồng cây có dầu, lấy dầu trộn với dầu cá, dầu dừa, dầu đậu phọng để làm dầu máy. Tính đến cuối năm 1944, diện tích đất bị Nhật chiếm để trồng đay, thầu dầu là 131.700 hecta [14, 400]. Như vậy, cuối năm 1944, số thóc bị mất trắng khoảng: 131.700 x 1,3 tấn = 171.210 tấn, tương đương gần 1,5 triệu người không có gì ăn.
Tóm lại, chính sách cưỡng bức thu mua lương thực với giá rẻ mạt của Nhật Bản cùng với tình trạng lạm phát tăng cao, giá cả thị trường đặt đỏ, nhân dân mất đất trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh…đã gây nên nạn đói trầm trọng cho nhân dân Việt Nam cuối năm 1944 – đầu năm 1945.
KẾT LUẬN
Tháng 9.1940, Nhật Bản chính thức xâm chiếm Việt Nam. Nhìn bên ngoài, Nhật chiếm Đông Dương vì đây là khu vực có vị trí chiến lược để Nhật xâm nhập vào Trung Quốc từ phía Nam và là căn cứ để quân Nhật xuất phát đi đánh chiếm xuống vùng Đông Nam Á. Nhưng thực chất, Nhật Bản quan tâm nhiều hơn chính là nguồn lương thực của Việt Nam. Từ năm 1940- 1945, Nhật Bản ra sức ép thực dân Pháp phải cung cấp cho họ một số lượng khổng lồ về gạo, ngũ cốc (đỉnh cao là năm 1943) để cung cấp cho chính quốc lẫn quân đội để xâm chiếm xuống vùng Đông Nam Á, thiết lập khu Thịnh vượng chung Đại Đông Á.
Mặt khác, Nhật còn buộc nhân dân ta phải nhổ lúa trồng đay, thầu dầu để phục vụ cho chiến tranh. Hậu quả, Pháp ra sức vơ vét, bóc lột tàn nhẫn nhân dân ta để đủ lương thực cung cấp cho Nhật. Nhân dân đã đói khổ lại phải mất đất để trồng cây công nghiệp, giá cả sinh hoạt đắt đỏ, lạm phát tăng cao… Do đó, đời sống nhân dân ta vô cùng cơ cực. Hậu quả nặng nề là hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc bị chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945. Do đó, có thể kết luận là “vấn đề lương thực của Nhật Bản ở Nam Kì là một trong những nguyên nhân để Nhật nhảy vào Việt Nam và gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nhân dân Việt Nam”.
TÓM TẮT
Tháng 9.1940, Nhật Bản chính thức xâm chiếm và thống trị Việt Nam. Mục tiêu quan trọng của họ khi chiếm Việt Nam vì Việt Nam là “cửa ngỏ xâm chiếm Trung Quốc từ phía Nam và là nơi cung cấp lương thực (gạo, ngũ cốc, cây công nghiệp) cho chính quốc lẫn đội quân xâm lược của họ”. Do đó, từ 1940 – 1945, Nhật ép buộc Pháp cung cấp số lượng lớn lương thực và ra sức bóc lột tàn nhẫn nhân dân Việt Nam. Đối với Nam Kì, Nhật Bản vừa vơ vét lúa gạo, thu mua với giá rẻ mạt, bắt nhân dân Nam Kì trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh…làm cho đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, đói khổ. Mặt khác, lúa gạo Nam Kì không vận chuyển ra Bắc được đã gây ra nạn đói trầm trọng cho nhân dân Việt Nam năm 1945.
ABSTRACT
In September 1940, jump on the official Japanese invaded and ruled Vietnam. The important goal of accounting for them when Vietnam is the "gateway invaded China from the South and is a major supplier of food (rice, cereals, industrial crops) for the country and their army of invaders". Thus, from 1940 - 1945, Japan forced the French to provide large quantities of food and strive ruthlessly exploited the people of Vietnam. For the Southern Vietnam, Japan has rice plunder, and buying the cheap price, by the people of South Vietnam growing industrial war service ... make people's life extremely hard, hungry. On the other hand, Rice Southern Vietnam were not transported to the North has caused severe famine for the people of Vietnam in 1945.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thế Anh (1974), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Bộ VHGD và Thanh Niên, Sài Gòn.
2. Lý Hiệp Bình, Việt Nam dưới thời kì quân đội Nhật chiếm đóng, Tia Sáng Nhật báo, ngày 13.9.1968.
3. Daniel Hémery (2005), Hồ Chí Minh từ Đông Dương đến Việt Nam, Lê Toan biên dịch, NXB Phụ Nữ.
4. David C. Marr (1980), “World War II and the Vietnamese Revolution” in Southeast Asia under Japanese Occupation, Alfred W. McCoy [Ed], New Haven
5. Dixee R. Bartholomew-Feis (2008), OSS và Hồ Chí Minh, Đồng minh bất ngờ trong cuộc  chiến chống phát xít Nhật, Lương Lê Giang dịch, NXB Thế Giới- Công ty Văn hóa và Truyền thông Võ Thị.
6. Futura Motoo (1998), Việt Nam trong lịch sử thế giới¸ Nguyễn Văn Nguyệt dịch, NXB CTQG, HN.
7. Lê Đình Hà (2006), Cuộc đời Nhật Hoàng Hiro Hito, NXB Thanh Niên.
8. Nguyễn Văn Khánh (1999), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
9. Phan Ngọc Liên(2001), “Chiến lược cung cấp lương thực” của Nhật trong thời kì chiếm đóng Việt Nam – Một trong những nguyên nhân gây ra nạn đói 1944 – 1945 trong Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1858 – 1945, NXB Trẻ.
10. Đào Phiếu (2001), Chứng tích chiến tranh xâm lược của phát xít Nhật ở Việt Nam trong Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1858 – 1945, NXB Trẻ.
11. Philipe Devillers (2003), Paris-Sài Gòn-Hà Nội, Hoàng Hữu Đảm dịch, NXB Tổng hợp TP HCM.
12. Nguyễn Phan Quang (2004), Thị trường lúa gạo Nam Kỳ (1860 - 1945)NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.
13. Nguyễn Phan Quang (1998), Góp thêm tư liệu Sài Gòn – Gia Định từ 1859 – 1945NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
14. BS. Ngô Văn Quỹ (2001), Sinh mệnh hai triệu nông dân Bắc Kì và nạn đói 1945 – Kết quả sự đầu hàng nhục nhã của Pháp trong Chứng tích Pháp – Nhật trong chiến tranh xâm lược Việt Nam 1858 – 1945, NXB Trẻ.
15. Văn Tạo - Furuta Motoo (1995), Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam:những chứng tích lịch sử, Viện sử học Việt Nam xuất bản, Hà Nội.