- Phan Thuận An, Lăng tẩm Huế một kỳ quan, NXB Thuận Hóa, Huế, 2003.
- Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Hà Nội, 1964.
- Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, tập I và II, Hà Nội, 1958.
- Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh (tái bản), 1992.
- Đào Duy Anh, Lịch sử cách mạng Việt Nam từ 1862 đến 1930, Hà Nội, 1955.
- Nguyễn Thế Anh, Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1971.
- Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, Sài Gòn, 1971.
- Aumiphin J.P, Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương (1858 - 1939), Hà Nội, 1994.
- Samuel Baron, Description du Royaume de Tonquin, H. Deseille, không đề năm.
- Thái Bạch, Thi văn quốc cấm thời thuộc Pháp, Sài Gòn, 1968.
- Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Các tổ chức tiền thân của Đảng, Hà Nội, 1977.
- Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1961.
- Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, Nhà tù Côn Đảo 1862 - 1945, NXB Sự Thật Hà Nội, 1987.
- Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh An Giang, Bác Tôn - Cuộc đời và sự nghiệp (1888 - 1980), NXB Sự Thật, Hà Nội, 1988.
- Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, 12 tập, NXB Văn Sử Địa Hà Nội, 1956 - 1957.
- Đỗ Bang - Nguyễn Minh Tường, Chân dung các vua Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1996.
- Phạm Gia Bền, Sơ lược lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957.
- Georges Buis - Charles Daney, Quand les francaise découvrraient l'Indochine...
- Nguyễn Lương Bích, Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước, NXB Quân đội Nhân dân, 2003.
- Trần Thái Bình, Tìm hiểu lịch sử Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001.
- Nguyễn Công Bình, Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, Hà Nội, 1959.
- Bộ môn Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Trường Đại học Luật Hà Nội, Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam (từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX), tập bài giảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997.
- Brocheux - Héméry, Indonchine, Une Colonisation Ambiguê (1858 - 1954), Paris, 1995.
- Joseph Buttinger, The Smaller Dragon, New York, 1962.
- Jean Suret Canale, "Afrique Noire", Ed. Sociale Paris, 1958.
- Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ - con người và di cảo, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.
- Jean Chesneaux, Le Vietnam - etude de Politique et d’Histoire, Paris, 1968.
- Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 1995.
- 23. Phan Đại Doãn - Nguyễn Minh Tường - Hoàng Phương - Lê Thành Lân - Nguyễn Ngọc Quỳnh, Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1998.
- Tiên Đàm, Việc khẩn hoang ở Nam Kỳ dưới triều Nguyễn, Sài Gòn, 1962.
- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội; tập 1 - tập 7
- Nguyễn Khắc Đạm, Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, Hà Nội, 1957.
- Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc dân Đảng, Sài Gòn, 1965.
- Trần Bá Đệ, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
- Trần Văn Giàu, Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858, Hà Nội, 1958.
- Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1980.
- Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm, Lịch sử cận đại Việt Nam, (4 tập) NXB Giáo dục, Hà Nội, 1959, 1960, 1961, 1963.
- Trần Văn Giàu, "Vài nhận xét về thời Nguyễn", trong kỷ yếu "Những vấn đề văn hóa - xã hội thời Nguyễn, NXB Khoa học Xã hội, Tp. Hồ Chí Minh, 1992
- Charles Gosselin, L’Empire d’Annam, Paris, 1904.
- Jean Carpentier, Lebrun, Histoire de France, Éditions du Seuil, Paris, 1992
- Hoàng Xuân Hãn, Các văn cổ về Hà thành thất thủ và Hoàng Diệu, NXB Sông Nhị, Hà Nội, 1950.
- Lê Mậu Hãn (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999.
- Nguyễn Sĩ Hải, Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn sơ: 1802-1847, Luận án Tiến sỹ Luật Khoa, Sài Gòn, 1962.
- Hà Minh Hồng, Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Tủ sách Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 1997.
- Phan Khoang, Việt Pháp bang giao lược sử (từ thế kỷ XVII tới đầu thế kỷ XX), Huế, 1950.
- Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử, Sài Gòn, 1971.
- Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam - Trung tâm UNESCO Bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam, 2001.
- Nguyễn Văn Kiệm, Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003.
- Nguyễn Văn Kiệm, “Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (271) tháng 11, 12.1993.
- Thái Văn Kiểm, Đất Việt trời Nam, Nguồn Sống, Sài Gòn, 1960.
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, quyển II, trung tâm học liệu Sài Gòn, 1971.
- Lê Thành Khôi, Histoire du Vietnam des origines à 1858, Paris, 1982.
- Lê Thành Khôi, Nông dân Việt Nam trong lịch sử, Viện Sử học, Hà Nội, 1977.
- Dương Kỵ, Việt sử khảo lược, Thuận Hóa, 1949.
- Đinh Xuân Lâm, Lịch sử cận - hiện đại Việt Nam một số vấn đề nghiên cứu, NXB Thế Giới, Hà Nội, 1998.
- Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
- Đinh Xuân Lâm - Dương Lan Hải, Nghiên cứu Việt Nam - một số vấn đề lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, Hà Nội, 1998.
- Đinh Xuân Lâm, “Triều Nguyễn trước âm mưu bành trướng của tư bản phương Tây (1802-1858)”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 11-12/1993.
- Hoàng Văn Lân - Ngô Thị Chính, Lịch sử Việt Nam 1858 - cuối thế kỷ XIX, 2 tập, NXB Giáo Dục, 1979.
- Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục, NXB Mũi Cà Mau, 1995.
- Phan Huy Lê - Chu Thiên - Vương Hoàng Tuyên, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập III, Hà Nội, 1965.
- Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn, Lịch sử Việt Nam, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991.
- Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960.
- Nguyễn Hiến Lê, Đông Kinh nghĩa thục, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1968.
- V.I.Lenine, Toàn tập, NXB Tiến bộ Moscow, 1977 - 1981; các tập 6, 17, 22, 23, 25, 27, 30
- Trần Huy Liệu, Lịch sử 80 năm chống Pháp, 3 quyển (quyển 1, quyển 2 (tập Thượng, tập Hạ), NXB Sự Thật, Hà Nội, 1957.
- Karl Marx - F. Engel, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993 - 2001, tập 2. 12, 23.
- Hồ Chí Minh toàn tập, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 - 1996; tập 1, 2, 3, 6, 7, 10, 12
- Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002.
- Nhiều tác giả, Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn, NXB Khoa học Xã hội, 1992, 1995.
- Nhiều tác giả, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977.
- Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử Việt Nam giản yếu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập VIII, NXB Thuận Hóa, Huế, 1993.
- Tạ Quang Phát, “Quốc húy của triều Nguyễn”, Việt Nam khảo cổ tập san, số 4/1968.
- Nguyễn Danh Phiệt, “Suy nghĩ về bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 11-12/1993.
- Philippe Langlet, L’ancienne historiographie d’état au Vietnam, École française d’Extrême-Orient, Tome I, Paris, 1990.
- GS Nguyễn Hồng Phong, Văn hóa chính trị Việt Nam - truyền thống và hiện đại, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn phát triển, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998
- Vũ Huy Phúc, Chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1979.
- Vũ Huy Phúc (chủ biên), Lịch sử Việt Nam 1858 - 1896, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, 2003
- Vũ Huy Phúc, Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945, Hà Nội, 1996.
- Nguyễn Trọng Phúc, “70 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt nam (1930- 2000), những bài học chủ yếu”, Tạp chí Lịch sử Đảng, tháng 2/2000.
- Lê Hữu Phước, Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862 - 1930, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 1992.
- Đặng Phương, Nước Việt Nam trên đường bang giao, Việt Nam tự do xuất bản cuộc, Sài Gòn, 1959. (sách không đánh số trang).
- Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
- Nguyễn Phan Quang, Lịch sử Việt Nam (1858 - 1884), Quyển III, tập 2, NXB Giáo Dục, 1977.
- Nguyễn Phan Quang, Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1986.
- Nguyễn Phan Quang - Trương Hữu Quýnh - Nguyễn Cảnh Minh, Lịch sử Việt Nam (1428 - 1858), NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1980.
- Nguyễn Phan Quang - Võ Xuân Đàn, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.
- Nguyễn Phan Quang, Việt Nam thế kỷ XIX, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
- Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại - những sử liệu mới, tập 1, NXB TPHCM.
- Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại - những sử liệu mới, tập 2: Sài Gòn Gia Định hơn một thế kỷ trước - Hà Tĩnh Ất Dậu ký (1885), NXB TPHCM.
- Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại - những sử liệu mới, tập 3: Sóc Trăng (1867 - 1945), NXB TPHCM.
- Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003.
- Trương Hữu Quýnh, "Nhìn lại tình hình xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX", Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 3, 1998.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập III (Bản dịch của Viện Sử học), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu (bản dịch của Hoàng Văn Hòe và Nguyễn Quang Tô), Tủ sách Cổ văn - Ủy ban dịch thuật - Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, (Bản dịch của Viện Sử học), Hà Nội, 1963.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chính biên toát yếu, nhà in Đắc Lập, Huế, 1925.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, NXB Sử học, Hà Nội, 1958 - 1960.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều chánh biên, Nhóm nghiên cứu Sử Địa Việt Nam, Sài Gòn, 1969.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, tập II, NXB Thuận Hóa, Huế, 1993.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, (bản dịch của Viện Sử học), Hà Nội, 1969.
- Phạm Văn Sơn, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847 - 1945), Sài Gòn, 1971
- Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên, (quyển II), NXB Văn hóa Á châu, Sài Gòn, 1958.
- Schreiner, Đại Nam quốc lược sử, Nguyễn Văn Nhàn dịch, Sài Gòn, 1905.
- Georges Taboulet, La geste francaise en Indochine, Maisonneuve, Paris, 1955 (2 tập)
- Văn Tạo, “Sơ bộ nhận thức về nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 6 (271) tháng 11, 12.1993.
- Trần Huy Liệu - Văn Tạo (chủ biên), Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam, 12 tập, Hà Nội, 1956 - 1959.
- Phạm Đình Tân, Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tình hình công nghiệp ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, Hà Nội, 1959.
- Nguyễn Phúc Tấn, A Modern History of Vietnam (1802 - 1954), Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1964.
- Nguyễn Văn Tuân, Nguyễn triều long hưng sự tích, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1968.
- Chu Thiên, “Chính sách khẩn hoang của triều Nguyễn”, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 56, tháng 11/1963.
- Ca Văn Thỉnh, Bảo Định Giang, Nguyễn Thông - con người và tác phẩm, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1984
- Nguyễn Xuân Thọ, Bước đầu thiết lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam, Paris, 1994
- Vũ Quốc Thông, Pháp chế sử Việt Nam, Tủ sách Đại học Sài Gòn, 1968.
- Cao Huy Thuần, Christianisme et Colonialisme au Vietnam, 1857 - 1914, Luận án Tiến sĩ quốc gia, Paris, 1970.
- Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 2: 1858 - 1945, NXB Khoa học Xã hội.
- Nhượng Tống, Tân Việt cách mạng đảng, Hà Nội, 1945.
- Đinh Gia Trinh, Sơ thảo lược sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Hà Nội, 1969.
- Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, “Chuyên đề về nhà Nguyễn”, số 271, 1993.
- Nguyễn Khắc Thuần, Thế thứ các triều vua Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993.
- Hà Văn Thư - Trần Hồng Đức, Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003.
- Ưng Trình, Việt Nam ngoại giao sử (cận đại), Trí Đức Thư Xã, Hà Nội, 1953.
- Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam tập II. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985.
- Đặng Huy Vận - Chương Thâu, Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX, NXB Giáo dục Hà Nội, 1961
- Viện Sử học Việt Nam, Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, Hà Nội, 1960.
- Viện Sử học Việt Nam, Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, Hà Nội, 1990 - 1992.
- Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, Một số vấn đề về nhà Nguyễn, Kỷ yếu hội thảo khoa học, TP. Hồ Chí Minh, 1994.
- Viện Lịch sử Đảng, Côn Đảo - địa ngục trần gian (1930 - 1945), Hà Nội, 1985.
- Nguyễn Đắc Xuân, Chín đời chúa mười ba đời vua Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 2001.
- Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Đông Du, NXB Lá Bối, Sài Gòn. 1970.
- Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, NXB Đà Nẵng, 1995.
- William Foster, Đại cương lịch sử chính trị châu Mỹ, NXB Sự thật Hà Nội.
- Yoshiharu Tsuboi, Nước Việt Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, (bản dịch của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam), Hà Nội, 1993.
Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012
Tài liệu tham khảo lịch sử Việt Nam cận đại
Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012
CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
Dạy học là một quá trình lao động, có
những đặc điểm khác với bất kì quá trình lao động nào. Việc tổ chức có khoa học
quy trình khoa học công nghệ dạy học và giáo dục là yếu tố cơ bản nhất của lao
động sư phạm. Việc dạy học ở trường phổ thông trải qua những khâu của quá trình
lao động giáo dục. Vì vậy khi dạy học một bài, cả khóa trình một môn học, giáo
viên đều phải nắm được quy trình công nghệ của lao động giáo dục, tức là phải
nắm được phương pháp và nghệ thuật sư phạm.
Một bài giảng tốt là bài giảng mà
trong đó người thầy sử dụng được những phương pháp dạy học một cách linh hoạt
vừa phù hợp với nội dung bài học, đảm bảo những kiến thức cơ bản cần truyền đạt
đến học sinh. Đồng thời, các phương pháp mà giáo viên sử dụng phải phù hợp với
trình độ nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, sao cho việc truyền
đạt những tri thức lịch sử đến học sinh một cách có hiệu quả không chỉ là những
kiến thức vào khối óc học sinh mà cả vào trái tim các em. Điều này đã được các
nhà giáo dục lịch sử khẳng định “không phải ai biết lịch sử thì có thể giảng
dạy được lịch sử, cũng như không phải cứ biết nhạc là có thể dạy hát”. Qua đó,
cho thấy việc vận dụng những phương pháp dạy học vào một bài giảng lịch sử là
một nghệ thuật.
Chúng ta đã nhận thức vai trò, ý
nghĩa của phương pháp dạy học đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn.
Trong thực tế, việc đổi mới nội dung dạy học, việc trang bị các phương tiên dạy
học, về cơ bản đã được các cơ quan chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các
nhà khoa học chuyên ngành và giáo dục học tìm hiểu, hướng dẫn thực hiện. Song,
phương pháp dạy học được tiến hành cụ thể trong quá trình giáo dục ở trường phổ
thông lại phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, khả năng của giáo viên và những
điều kiện cụ thể của nhà trường và xã hội.
Tôi xin vận dụng các phương pháp đó vào một
bài giảng cụ thể ở chương trình bộ môn lịch sử ở trường phổ thông: Bài 20: Cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc 1953 – 1954, chương trình
lớp 12 – Ban cơ bản.
PHẦN NỘI DUNG
1. VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Hệ thống các phương pháp dạy học
lịch sử ở trường THPT
Xuất
phát từ những thành tựu của lý luận dạy học, đặc trưng của môn học và những căn
cứ trong nhận thức lịch sử nêu trên, chúng ta có thể xác định các phương pháp
dạy học lịch sử như sau:
Nhóm
phương pháp thông tin – tái hiện hình ảnh lịch sử là các phương pháp trình bày
tài liệu mới, cung cấp nguồn sử liệu, giúp học sinh khôi phục lại bức tranh
lịch sử đã qua. Sử dụng phương pháp này giáo viên trình bày các sự kiện một
cách chính xác được qui định trong chương trình và sách giáo khoa nhằm giúp học
sinh ghi nhớ sự kiện, quá trình lịch sử..... Học sinh nhận thức quá khứ xã hội
loài người và dân tộc bắt đầu từ việc nắm vũng sự kiện lịch sử. Chức năng chủ
yếu của nhóm các phương pháp thông tin – tái hiện lịch sử là cung cấp cho học
sinh những kiến thức cấn thiết, trên cơ sở đó tạo biểu tượng lịch sử, tức là
khôi phục lại hình ảnh của quá khứ như nó từng tồn tại. Nhóm các phương pháp
thông tin – tái hiện gồm các phương pháp sau: phương pháp tường thuật, phương
pháp miêu tả, phương pháp nêu đặc điểm của sự kiện, phương pháp giải thích sự
kiện, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
Nhóm phương pháp phát triển năng lực
nhận thức gồm các phương pháp giúp học sinh đi sâu tìm hiểu những mối liên hệ
bản chất của hiện thực quá khứ khách quan về xã hội loài người, đưa nhận thức
của các em từ biết đến hiểu sâu sắc lịch sử trên cơ sở nắm vũng các sự kiện,
hiệ tượng, quá trình lịch sử một cách cụ thể, sinh động. Chức năng cơ bản của
nhóm các phương pháp nhận thức lịch sử nhằm giúp học sinh đi sâu vào bản chất
sự kiện lịch sử, hình thành khái niệm, nêu quy luật lịch sử, rút ra bài học
kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại. Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, nhóm
phương pháp này có một vị trí vai trò quan trọng trong hệ thống các phương pháp
dạy học, được sử dụng trong tất cả các khâu của hoạt động học tập của học sinh,
đặc biệt là trong việc hình thành tri thức lịch sử cho học sinh. Nhóm phương
pháp nhận thức lịch sử bao gồm các phương pháp sau: phương pháp sử dụng sách
giáo khoa, phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo (tài liệu lịch sử, tài liệu
văn học...), phương pháp sử dụng tài liệu trên mạng internet, phương pháp sử
dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học lịch sử ở trường THPT, phương pháp trao
đổi, đàm thoại trong dạy học lịch sử.
Nhóm
phương pháp tìm tòi nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ của học sinh trong việc
biến kiến thức lịch sử đã học thành kiến thức của mình, chủ động sử dụng những
tri thức có hiệu quả trong học tập và đời sống. Các phương pháp tìm tòi nghiên
cứu được tiến hành thông qua các hình thức từ thấp đến cao của những công việc
học tập, như sử dụng sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để trả lời các câu
hỏi, hoàn thành các bài tập, thực hành, rèn luyện việc tìm tòi tùng phần và
bước đầu tập dợt nghiên cứu khoa học một số vấn đề lịch sử, phù hợp với trình
độ và yêu cầu học tập của học sinh.... Nhóm phương pháp tìm tòi – nghiên cứu
gồm các phương pháp sau: Dạy học liên môn, dạy học nêu vấn đề, thâm nhập thực
tế xã hội, tổ chức việc tự học cho học sinh.....
1.2. Mối quan hệ giữa các phương pháp
trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Các
phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT kết hợp thành một hệ thống hoàn
chỉnh, hỗ trợ cho nhau. Trong quá trình dạy học, không thể sử dụng một phương
pháp đơn nhất, song ở mỗi khâu của quá trình dạy học lại có một phương pháp
trọng tâm kết hợp với các phương pháp khác. Ví dụ, khi trình bày bài mới,
phương pháp thông tin tái hiện lịch sử cần giữ vai trò chủ yếu và kết hợp
phương pháp nhận thức lịch sử, đồng thời tiến hành việc tiến hành nghiên cứu.
Mặt khác, mỗi một nhóm phương pháp là tổng hợp
của nhiều phương pháp khác nhau nhằm thực hiện chức năng của nó. Ví dụ, khi
tiến hành việc thông tin tái hiện lịch sử phải dùng lời nói để trình bày sự
kiện, kết hợp sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, các phương tiện dạy
học để tạo biểu tượng cho học sinh.
Việc phân loại hệ thống phương pháp
dạy học lịch sử dựa vào quy luật của sự nhận thức, lý luận dạy học và đặc điểm
của bộ môn. Theo đó, việc nhận thức quá khứ lịch sử phải bắt đầu từ việc nắm
vững các sự kiện cơ bản. Do đó, phương pháp thông tin – tái hiện lịch sử cung
cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết để khôi phục lại bức tranh lịch sử,
bằng việc tạo nên các biểu tượng cụ thể, có hình ảnh. Có thể xem phương pháp
thông tin – tái hiện là phương pháp khởi đầu cho việc học tập lịch sử của học
sinh. Trên cơ sở các kiến thức ấy khôi phục lại bức tranh quá khứ đúng như nó
tồn tại, nhưng nó mới là biết sử, làm cơ sở cho việc hiểu lịch sử. Do vậy, tiếp
sau phương pháp thông tin – tái hiện là phương pháp nhận thức lịch sử. Phương
pháp này giúp học sinh đi sâu vào bản chất sự kiện, nhân vật lịch sử, rút ra
bài học kinh nghiệm lịch sử cho cuộc sống hiện tại, nó không chỉ dừng lại ở
việc nhớ sự kiện mà phải phân tích đánh giá, nêu ra các kết luận khái quát.
Việc sử dụng, kết hợp chặt chẽ phương
pháp thông tin – tái hiện lịch sử và nhận thức lịch sử đòi hỏi phải sử dụng
phương pháp tìm tòi – nghiên cứu trong dạy học lịch sử. Bản thân việc học tập
lịch sử của học sinh trường phổ thông cũng mang tính chất “phát hiện”, khám phá
của việc nhận thức lịch sử. Dĩ nhiên, tính chất và mức độ của việc nghiên cứu
sử học và học tập lịch sử cũng khác nhau. Cái mới đối với học sinh là cần tìm
tòi, nghiên cứu trong học tập lịch sử chứ không phải chủ yếu là phát hiện điều
chưa ai biết như trong nghiên cứu sử học. Ở đây học sinh phải nắm được những
kiến thức cơ bản, chính xác, đã được khoa học lịch sử xác định, mà các em chưa
biết và cần phải hiểu rõ theo trình độ và yêu cầu học tập của mình. Phương pháp
tìm tòi – nghiên cứu được tiến hành trong mọi hoạt động nhận thức lịch sử của
học sinh. Nó đan xen, hỗ trợ vào các phương pháp thông tin – tái hiện và nhận
thức lịch sử.
Điều này càng khẳng định tính hệ
thống của phương pháp dạy học lịch sử, mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng và việc
sử dụng có kết quả các phương pháp này với những biện pháp sư phạm, tương ứng
với mỗi loại phương pháp và cả hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường
THPT.
2. PHÂN TÍCH MỐI QUAN
HỆ CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỂ DẠY HỌC BÀI 20: CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN
QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP KẾT THÚC (1953 -1954).
Bài 20
trong chương trình Lịch sử lớp 12 gồm 2 tiết – đây là bài học nói về sự kết
thúc cuộc chiến 9 năm của thực dân Pháp ở Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói
chung. Vì nội dung của bài học quá nhiều nên trong bài này tôi xin phân tích
mối quan hệ giữa các phương pháp dạy học Lịch sử trong mục I: Âm mưu mới của
Pháp – Mĩ ở Đông Dương: Kế hoạch Nava và mục II – 2: Chiến dịch la Điện Biên
Phủ.
Mục I: Âm mưu của Pháp – Mĩ ở Đông Dương:
Kế hoạch Nava.
1.
Kiến thức cơ bản:
- Trải qua 8
năm kháng chiến và kiến quốc, lực lượng kháng chiến của ta lớn mạnh đáng kể.
- Sau 8 năm
tiến hành chiến tranh xâm lược ở Việt Nam , Pháp thiệt hại ngày càng to
lớn: bị loại khỏi vòng chiến đấu 39 vạn quân, ngày càng lâm vào thế bị động
trên chiến trường....
- Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến
tranh ở Đông Dương, Pháp của tướng Nava sang làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở
Đông Dương. Nava đề ra kế hoạch quân sự mới.
- Kế hoạch
Nava được chia thành hai bước:
+ Bước thứ nhất, trong thu – đông
1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ, tiến công chiến lược
để bình định Trung bộ và Nam Đông Dương, xây dựng đội quân cơ động chiến lược
mạnh.
+ Bước thứ hai, từ thu – đông 1954,
chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện tiến công chiến lược, cố
gắng giành thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải đàm phán với những điền
kiện có lợi cho chúng.
2.
Phân tích mối quan hệ giữa các phương pháp dạy học khi giảng mục này:
Trên cơ sở nội dung kiến thức cơ bản,
để truyền đạt đến học sinh những kiến thức đó, giáo viên phải lựa chọn những
biện pháp sư phạm cụ thể để góp phần nâng hiệu quả bài học và phát huy được
tính tích cực của học sinh.
Ví dụ, khi giảng về nội
dung kế hoạch Nava, giáo viên không thể bỏ qua nhân vật lịch sử này. Có rất
nhiều cách để giảng về nhân vật này nhưng cách tốt nhất là sử dụng tranh ảnh
kết hợp với tài liệu thành văn để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh. Tranh,
ảnh lịch sử là loại đồ dùng dạy học có giá trị trực quan cao trong DHLS. Bởi vì, đối với học sinh, việc quan sát hình ảnh cụ thể sẽ
mang lại nhận thức chính xác, sinh động về sự kiện, nhân vật; trên cơ sở đó tạo
cho các em những cảm xúc lịch sử mạnh mẽ, sâu sắc. Đó chính là con đường có
hiệu quả để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút bài học
lịch sử. Đồng thời, tài liệu thành văn và tranh ảnh được sử dụng để cụ thể hóa
các sự kiện nhân vật lịch sử nhằm tạo cho các em các biểu tượng rõ ràng, cụ
thể, có hình ảnh.
Dựa trên cơ sở lý luận
trên, giáo viên có thể sử dụng đoạn tư liệu thành văn sau: “Nava sinh năm 1898, tướng bốn sao – nguyên tham mưu trưởng lục quân
Pháp trong khối hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), là một sĩ quan trẻ, có tài
vượt cấp nhanh. Ông ta được ca ngợi là một vị tướng “văn võ kiện toàn”, “có
nhãn quan chiến lược”, đầy tự tin và nghị lực, có khả năng chịu đựng những đòn
dữ dội và bất ngờ, có những đức tính riêng biệt của người chỉ huy chính trị,
không hề tha thứ cho bất cứ một trở lực nào để thực hiện ý định của mình”. [2]
Kết hợp với đoạn tư liệu
trên, giáo viên sử dụng bức ảnh của Tướng Nava sẽ hình thành trong đầu học sinh
biểu tượng về nhân vật Nava. Ông là một vị tướng rất tài giỏi, văn võ song toàn
nhưng cũng là một con người rất nham hiểm mà cả Pháp và Mĩ đưa đến chiến trường
Đông Dương nhằm tạo ra một chuyển biến quân sự có lợi cho chúng trên bàn ngoại
giao.
Hay khi nói về mục đích
của Pháp – Mĩ khi thực hiện Nava, giáo viên có thể sử dụng đồ dùng trực quan
qui uớc kết hợp với câu hỏi nhận thức nhằm phát huy tính cực của học sinh.
Bởi vì, dạy học nêu vấn
đề là xu hướng tất yếu nhằm đề cao vai trò tích cực của học sinh trong quá
trình học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở
để học sinh lĩnh hội kiến thức thông qua các thao tác tư duy độc lập như: phân
tích, tổng hợp, so sánh,...
Trước khi nói về nội dung
kế hoạch Nava giáo viên có thể đưa ra câu hỏi nhận thức như sau: Vì sao kế
hoạch Nava ngay từ khi ra đời đã chứa đựng những mâu thuẩn và lúng túng? Để trả
lời câu hỏi này, giáo viên phải đưa ra những câu hỏi gợi mở nhắc lại những kiến
thức cũ phần lịch sử thế giới như: Phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây ở
khu vực Đông Nam Á được qui định như thế nào trong Hội nghị Ianta? Tình hình
nước Pháp lúc này như thế nào? Tình hình của Mĩ ra sao ở khu vực Đông Bắc Á?.
Khi học sinh trả lời được những nội dung kiến thức trên thì các em có thể tiếp
cận được mục đích của Pháp – Mĩ khi tiến hành kế hoạch Nava. Sau đó, giáo viên
cung cấp sơ đồ về mục đích của Pháp – Mĩ đề ra kế hoạch Nava:
![]() |
Như vậy, việc sử dụng sơ đồ trực quan
qui ước kết hợp với câu hỏi nhận thức có vai trò quan trọng trong việc khắc sâu
kiến thức cho học sinh, đồng thời buộc học sinh phải suy nghĩ và liên kết kiến
thức giữa lịch sử thế giới và tình hình Pháp ở chiến trường Việt Nam để trả lời
được câu hỏi nhận thức trên.
Sau khi có biểu tượng về nhân vật
Nava và nhận thức được mục đích của Pháp – Mĩ khi đề ra kế hoạch Nava, giáo
viên chỉ cần sử dụng sơ đồ về nội dung kế hoạch này học sinh sẽ hiểu rõ về nội
dung mục I.
Mục II – 2: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)
1. Kiến thức cơ bản
- Diễn biến: chiến dịch Điện Biên Phủ
được chia làm 3 đợt:
+ Đợt 1, từ ngày 13 – 3 đến17 – 3 –
1954; quân ta tiến công tiêu diệt cứ điểm Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc.
+ Đợt 2, từ ngày 30 – 3 đến 26 – 4 –
1954; quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông khu Trung tâm như E1,
D1, C1, A1, .... bao vây, chia cắt địch.
+ Đợt 3, từ ngày 1 – 5 đến ngày 7 – 5
– 1954; quân ta đồng loạt tiến công khu Trung tâm và phân khu Nam, chiều ngày 7
– 5 tướng Đờ Caxtơri cùng toàn bộ ban tham mưu của địch đầu hàng và bị bắt
sống.
- Kết quả:
Ta loại khỏi vòng chiến đấu 16.200
tên địch, trong đó có thiếu tướng, bắn rơi và phá hủy 62 máy bay các loại, thu
toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến tranh.
-Ý
nghĩa: đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược
của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều
kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi.
2.
Phân tích mối quan hệ giữa các phương pháp dạy học khi giảng mực này:
Đây
được xem là phân nội dung cơ bản của bài 20, vì với thắng lợi của chiến dịch
lịch Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải kí hiệp định Giơ – ne – vơ công nhận độc
lập, chủ quyền và nước ta có được một nửa nước được độc lập.
Do đó,
khi giảng mục II – 2: chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, giáo viên phải kết hợp
nhiều phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh,
đồng thời tạo ra được không khí sôi động trong lớp học vì đây là một mục nói về
chiến thắng quân sự, nên việc sử dụng các phương pháp về trình bày miệng và đồ
dùng trực quan qui ước (lược đồ chiến dịch Điên Biên Phủ) đóng vai trò chủ đạo.
Ví dụ
như khi nói về vị trí địa lí của Điện Biên Phủ, giáo viên có thể kết hợp đoạn
tài liệu thành văn miêu tả vị trí địa lí của Điên Biên Phủ “Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu, một thung
lũng rộng lớn nằm ở phía tây, cách Hà Nội khoảng 300 km đường chim bay, cách
Luông Pha Băng 190 km. Thung lũng Điện Biên (cánh đồng Mường Thanh) có chiều
rộng từ 6 – 8 km, chiều dài gần 20 km, nằm gần biên giới Việt – Lào, một ngã ba
của nhiều tuyến đường quan trọng. Xung quanh thung lũng là một vùng rrừng núi
trùng điệp bao bọc. Núi có độ cao trung bình 500m, có mỏm đột xuất cao 1.461 m.
Thung lũng Điện Biên là cánh đồng phẳng, đồng ruộng khô ráo, thỉnh thoảng nổi
lên những đồi cao hơn mặt ruộng 8 – 20 m, cá biệt có điểm cao tới 250m. Thung
lũng có sông Nậm Rốn chảy theo hướng Bắc Nam đổ xuống sông Nậm Hu và có sân bay
Mường Thanh được xây dựng từ năm 1899”[1, tr. 19] và sử dụng lược đồ chiến
dịch Điên Biên Phủ để tạo cho học sinh về biểu tượng địa điểm diễn ra sự kiện
lịch sử. Bởi vì, việc sử dụng tài liệu thành văn kết hợp đồ dùng trực quan qui
ước có tác dụng rất lớn trong việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, thông
qua lời giảng của giáo viên cùng với đồ dùng trực quan học sinh quan sát thì
khả năng khắc sâu kiến thức sẽ bền vững hơn.
Hay khi
giảng về diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ, giáo viên phải sử dụng kết hợp
đồ dùng trực quan qui ước (lược đồ chiến dịch Điên Biên Phủ) với phương pháp
trình bày miệng. Muốn sử dụng đồ dùng trực quan qui ước đạt hiệu quả phát huy
tính tích cực và sáng tạo của học sinh, giáo viên phải kết hợp với phương pháp
trình bày miệng (ở mục này là phương pháp tường thuật về diễn biến chiến dịch
Điện Biên Phủ)… Lời nói sinh động, có hình tượng làm cho học sinh thu nhận hình
ảnh qua đồ dùng trực quan được sinh động, cụ thể hơn, hiểu khái niệm sâu sắc.
Nhờ sự phối hợp đồng bộ phương pháp dùng lời của giáo viên với sử dụng đồ dùng
trực quan qui ước mà giáo viên huy động tối đa khả năng làm việc của học sinh
như óc phân tích, so sánh, tổng hợp…Cụ thể khi dạy mục II -2: chiến dịch lịch
sử Điện Biên Phủ khi giảng bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân
Pháp kết thúc (1953 -1954), ngoài việc chuẩn bị sẵn đấy đủ nội dung lược đồ,
hướng dẫn học sinh “đọc” lược đồ, giáo viên nên chuẩn bị một số tài liệu tham
khảo có liên quan chặt chẽ với nội dung lược đồ để có thể tường thuật, miêu tả
diễn biến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ:
“Đợt 1 (từ 13 đến 17/3): sau khi tiêu diệt
hai cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập, bức hang rào cụm cứ điểm Bản Kéo…
Đúng 18h30, bộ đội ta bắt đầu mở cửa trung đoàn 141 sử dụng
tiểu liên, đoàn 11 làm nhiệm vụ chủ công tiến công trên hướng Bắc tiêu diệt cứ
điểm 132. Tiểu đoàn 428 làm nhiệm vụ trợ công, tiến công trên hướng Đông Bắc
tiêu diệt cụm cứ điểm 101A…
Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức ác liệt, nhất là trên hướng
chủ yếu khi tiến công cứ điểm 102. Đây chính là cụm cứ điểm rắn chắc nhất của
trung tâm Him Lam, đại đoàn phải tung lực lượng dự bị vào tham gia chiến đấu,
đồng thời muốn có một mũi tên của tiểu đoàn 128 đánh từ 101A sang phối hợp mới
đánh chiếm được cứ điểm cuối cùng này. Khoảng 23h30 phút trân đánh kết thúc,
trung tâm đề kháng Him Lam hoàn toàn bị tiêu diệt, hơn 200 tên địch chết, 270
bị bắt sống, tiểu đoàn Lê Dương số 3 bị loại khỏi còng chiến đấu.
Mất Him Lam, Bộ chỉ huy Pháp bàng hoàng và liên tục thúc
giục Đờ cát tung quân ra phản kích chiếm lại. Nhưng trong suốt 14 ngày, Đờ cát
không có cơ hội làm điều đó…
Đúng 13h30 phút, đồng chí chỉ huy Trương hạ lệnh tấn công
đồi Độc Lập. Một mũi thọc sâu đã tạo điều kiện cho trung đoàn nhanh chóng đánh
sâu vào cứ điểm, diệt khu thông tin, uy hiếp sở chỉ huy. Trên hướng thứ yếu,
trung đoàn 88 lúc đầu mở cửa chưa định hướng, phải định hướng lại, do đó vào
chiến đấu bên trong chậm hơn… 6h30 phút ngày 15, ta làm chủ trung tâm đề kháng
đồi Độc Lập, tiêu diệt 438 tên, bắt sống 200 tên…
Đợt 2 (từ 30/3 đến 30/4/1954): đánh chiếm các ngọn đồi phía Đông và sân
bay Mường Thanh, xiết chặt vòng vây tạo thế trận cho tổng công kích.
Nhiệm vụ chủ yếu nhất của chúng ta trong đợt 2 chiến dịch là đánh chiếm
khu vực then chốt trên các cứ điểm cao phía Động, mở cửa thọc sâu vào tập đoàn
cứ điểm.
… Đợt 2 chiến dịch kéo dài gần một tháng. Các đơn vị của ta đều bị thương
vong khá lớn. Thời tiết lúc này vào mùa mưa, bộ đội ta sống dưới chiến hào gặp
nhiều khó khăn.
Đợt 3 (từ 1/5 đến 7/5/1954): đánh những cao điểm cuối cùng ở phía Đông,
tiến hành tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.
Ngày 1/5/1954, cuộc tiến công thứ ba bắt đầu. Ngay từ trưa, pháo cỡ lớn
của ta bắt đầu bắn mãnh liệt vào khu vực trận địa của địch. Trong đợt tấn công
này, hỏa tiễn 122 của ta lần đầu tiên xuất hiện làm cho binh lính địch càng
thêm hoảng sợ. Cụm pháo địch ở Hồng Cúm bị tiêu diệt hoàn toàn, một kho pháo
với trên 3000 viên đạn bị nổ tung, một kho lương thực, thực phẩm bốc cháy. Sau
đợt pháo kích kéo dài, bộ đội ta đồng loạt tổ chức tiến đánh nhiều vị trí.
Sau 55 ngày đêm chiến đấu liên tục, các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã
tiêu diệt toàn bộ cứ điểm”.
Với biện pháp sử dụng phối hợp giữa đồ dừng
trực quan qui ước (lược đồ) kết hợp với tường thuật sẽ giúp học sinh hiểu bài
kĩ hơn và hứng thú hơn khi tiếp thu bài mới, hiểu rõ hơn diễn biến, kết quả của
chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Ngoài những biện pháp sử dụng phối
hợp giữa các phương pháp trên trong mục này, giáo viên có thể sử dụng những
đoạn tư liệu thành văn như đoạn thơ của Tố Hữu đề tạo biểu tượng về hình ảnh
của các chiến sĩ Điện Biên dũng cảm, gian khổ như thế nào, những biểu tượng
lịch sử về chủ nghĩa anh hùng cách mạng như: Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện… đặc
biệt là hình ảnh vị Tổng tư lệnh chiến dịch Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Tóm lại, các yếu tố trong quá trình
dạy học: Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp, Kiểm tra - đánh giá có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Mục tiêu định hướng cho việc lựa chọn phương pháp và tổ chức
dạy học, phù hợp với nội dung được xác định và chuẩn bị cho việc kiểm tra, đánh
giá được tốt. Đồng thời phương pháp và tổ chức dạy học cũng không ngừng phát
triển theo trình độ của con người, xã hội. Chúng ta đang sống trong thời đại
của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học – kỹ thuật và cách mạng xã hội.
Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng
có trong lịch sử loài người, thúc đẩy tất cả các lĩnh vực và đang mở ra nhiều
triển vọng lớn lao. Đòi hỏi người giáo viên có phương pháp dạy thích hợp để giúp
học sinh tiếp thu được bài học trên lớp một cách tốt nhất và có khả năng tự học
ở nhà. Mỗi phương pháp dạy học có những ưu thế riêng. Vì vậy, trong dạy học giáo
viên không được tuyệt đối hoá hoặc tầm thường hoá bất cứ phương pháp nào, mà phải
kết hợp nhiều phương pháp với nhau để chúng hỗ trợ cho nhau. Song ở mỗi nội dung lại có một phương pháp
trọng tâm kết hợp với các phương pháp khác. Dạy
học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, người giáo viên không chỉ
giỏi về chuyên môn mà còn phải tinh thông về nghề nghiệp. Chính vì vậy, nó
đòi hỏi mỗi người giáo viên không chỉ luôn luôn học tập để nâng cao trình độ
chuyên môn, bồi dưỡng các kỹ năng, kỹ xảo mà còn bồi dưỡng cho mình những kiến
thức về lý luận dạy học bộ môn, đặc biệt là lý luận về hệ thống phương pháp dạy
học để đáp ứng với yêu cầu của công cuộc đổi mới dạy học hiện nay.
Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012
Phương pháp dạy học lịch sử
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
1. Kiến thức cơ bản:
1. Kiến thức cơ bản:
a. Khái niệm: Kiến thức cơ bản là kiến thức tối ưu, cần thiết cho việc học tập, hiểu biết của học sinh về lịch sử.
b. Đặc điểm:
- Kiến thức cơ bản bao gồm địa danh lịch sử, nhân vật lịch sử, biểu tượng, khái niệm lịch sử.
- Khi sử dụng kiến thức cơ bản cần chú ý tính hệ thống, tính toàn diện và tính hiện đại.
Tìm hiểu giúp ta xâu chuỗi một cách hệ thống các kiến thức, đồng thời có sự liên hệ phù hợp.
Trong bài học phải xác định kiến thức nào là cơ bản, không cơ bản, kiến thức nào là trọng tâm, cốt lõi của toàn bài giúp học sinh nắm cái cơ bản, cốt lõi của vấn đề bài học mà giáo viên truyền đạt.
Tìm hiểu kiến thức cơ bản là tiền đề, giúp tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh.
2. Biểu tượng lịch sử:
a. Khái niệm: Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý....được phản ánh trong óc học sinh những nét chung nhất, điển hình nhất.
b. Hình thức để tạo biểu tượng lịch sử: kể chuyện, miêu tả, đồ dùng trực quan => hình thành khái niệm lịch sử.
c. Phân loại:
- Hoàn cảnh địa lý
- Văn hóa vật chất
- Nhân vật lịch sử
- Thời gian
- Quan hệ xã hội con người
Câu hỏi:
+ Quan hệ giữa biểu tượng lịch sử và khái niệm lịch sử:
* Biểu tượng lịch sử là cơ sở hình thành khái niệm lịch sử:
Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh nhận được càng được củng cố vững chắc bấy nhiêu. Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài (cái cụ thể) mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất và mối liên hệ nhân quả của từng sự kiện. Vì vậy, biểu tượng rất gần với khái niệm đơn giản. Trong bài học, người thầy cung cấp cho học sinh những sự kiện lịch sử quan trọng (bằng nhiều cách khác nhau) để tạo biểu tượng là bước đầu trong dạy học lịch sử. Nó là điều kiện cơ bản hình thành khái niệm lịch sử.
* Khái niệm lịch sử củng cố biểu tượng lịch sử:
Về mặt nhận thức, khái niệm lịch sử giúp học sinh hiểu bản chất sự kiện, đồng thời củng cố biểu tượng lịch sử. Trong một sự kiện lịch sử cũng như trong bất cứ hiện tượng nào của thế giới vật chất, cái riêng và cái đặt thù là một bộ phận, một mặt, là sự biểu hiện của cái chung và cái hình thức bên ngoài của sự vật liên quan chặt chẽ với các nội dung bên trong nó....
Trong hai cái đó, cái nào khái quát nhất và vì sao ?
* Biểu tượng lịch sử là cơ sở hình thành khái niệm lịch sử:
Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống khái niệm mà học sinh nhận được càng được củng cố vững chắc bấy nhiêu. Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài (cái cụ thể) mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất và mối liên hệ nhân quả của từng sự kiện. Vì vậy, biểu tượng rất gần với khái niệm đơn giản. Trong bài học, người thầy cung cấp cho học sinh những sự kiện lịch sử quan trọng (bằng nhiều cách khác nhau) để tạo biểu tượng là bước đầu trong dạy học lịch sử. Nó là điều kiện cơ bản hình thành khái niệm lịch sử.
* Khái niệm lịch sử củng cố biểu tượng lịch sử:
Về mặt nhận thức, khái niệm lịch sử giúp học sinh hiểu bản chất sự kiện, đồng thời củng cố biểu tượng lịch sử. Trong một sự kiện lịch sử cũng như trong bất cứ hiện tượng nào của thế giới vật chất, cái riêng và cái đặt thù là một bộ phận, một mặt, là sự biểu hiện của cái chung và cái hình thức bên ngoài của sự vật liên quan chặt chẽ với các nội dung bên trong nó....
Trong hai cái đó, cái nào khái quát nhất và vì sao ?
2. Để thể hiện biểu tượng lịch sử, ta cần có những điều kiện nào ?
d. Cách hình thành biểu tượng lịch sử:
- Cụ thể hóa thời điểm
- Xác định địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử.
- Sử dụng tư liệu, hiện vật tạo biểu tượng lịch sử cụ thể
- Sử dụng số liệu để tạo biểu tượng, hiện tượng lịch sử.
3. Khái niệm lịch sử
a. Khái niệm: Khái niệm lịch sử là sự phản ánh đặc trưng, thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng khác nhau của hiên thực khách quan qua mối liên hệ, quan hệ giữa chúng với nhau.
Ví dụ: khái niệm về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, khởi nghĩa là khái niệm lịch sử. Khái niệm lich sử giúp khẳng định biểu tượng lịch sử, đồng thời biểu tượng cũng giúp cho khái niệm lịch sử. Hai cái này có mối quan hệ với nhau mật thiết.
4. Đổi mới trong phương pháp dạy học lịch sử
a. Khái niệm: Đổi mới trong phương pháp dạy học lịch sử là chuyển từ dạy học dựa vào trí nhớ của học sinh, sự bắt chước (thầy giảng - trò nghe, thầy đọc - trò chép) sang việc dạy học để phát triển nhân cách toàn diện, trong đó nhấn mạnh năng lực sáng tạo trong tư duy và hoạt động của học sinh. Có thể tóm tắt như sau:
+ Thông báo thông tin:
- Giáo viên thông báo thông tin
- Giáo viên cho học sinh đọc, phát hiện thông tin trong SGK.
- Giáo viên tường thuật, miêu tả sự kiện, hiện tượng lịch sử.
- Dùng bản đồ trong SGK, hoặc GV có thể cung cấp....cho học sinh quan sát
- Dùng đèn chiếu, video
- Giáo viên trích đọc các tài liệu tham khảo cho học sinh.
- Nhóm (phương pháp đổi mới): thông báo thông tin, ra mệnh lệnh và cho thời gian học sinh giải quyết vấn đề.
+ Xử lý thông tin: Ra mệnh lệnh, yêu cầu dưới hình thức bài tập nhỏ cho cá nhân, nhóm thực hiện bằng phiếu học tập. Có 4 loại phiếu học tập:
- Phiếu học tập phát triển kỹ năng quan sát, phát biểu ý kiến thông qua quan sát.
- Phiếu học tập phát triển năng lực tư duy so sánh.
- Phiếu học tập phát triển năng lực tư duy quy nạp (khái quát tư liệu => tổng hợp ý kiến)
- Phiếu học tập phát triển năng lực tư duy hệ thống hóa
Khi sử dung phiếu học tập trong bài học, phải linh hoạt, uyển chuyển thì bài học mới tốt, sinh động.
+ Đánh giá, kết luận thông tin:
- Học sinh tự đánh giá, tham gia đánh giá.
- Giáo viên đánh giá, uốn nắn lỗi sai, kết luận.
- Thảo luận.
Lưu ý: Thông báo thông tin nếu học sinh có khó khăn thì giáo viên sẽ giải quyết bằng cách chia nhỏ vấn đề, tổ chức cho học sinh thảo luận để bổ sung, khẳng định kết quả nhận thức. Cuối cùng, giáo viên sẽ đưa ra kết luận đúng làm cơ sở cho học sinh tự hoàn thiện những nội dung mà mình nhận thức.
+ Ví dụ về tạo biểu tượng, khái niệm lịch sử trong một bài học cụ thể:
Bài 15: Sự phát triển kinh tế - văn hóa thời Trần (sách Lịch sử lớp 7)
- Kiến thức cơ bản:
+ Nông nghiệp: được phục hồi nhanh chóng
Khai hoang, lập điền trang, thái ấp
Thời Trần, ruộng tư hữu chiếm tỉ lệ cao so với ruộng đất công.
+ Thủ công nghiệp:
- Thủ công nghiệp nhà nước: (là những gì, liệt kê ra)
- Thủ công nghiệp dân gian: (là những gì, liệt kê ra)
+ Buôn bán (còn gọi với từ hiện đại là Thương nghiệp): phục hồi và phát triển.
- Trong nước (có những gì)
- Ngoài nước
- Biểu tượng lịch sử:
+ Khai hoang, đồn điền
+ Đồ gốm, làng nghề
+ Đồng tiền, cảng Vân Đồn
- Khái niệm lịch sử: Điền trang, ruộng đất công, thái ấp, nhà nước phong kiến
Bài 2: (Lịch sử 9)
- Kiến thức cơ bản:
+ Nguyên nhân: khủng hoảng dầu mỏ 1973, Ban lãnh đạo Liên Xô đang tiến hành cải tổ
+ Quá trình cải tổ dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước Xô viết (xem SGK)
+ Kết quả: thành lập các nước SNG (tự trị); hệ thống Xã hội chủ nghĩa sụp đổ
+ Nguyên nhân thất bại của mô hình xhcn Xô Viết (xem SGK)
- Biểu tượng lịch sử:
+ 19/8/1991, đảo chính của Đảng Cộng sản => hình thành các nước tự trị (SNG)
+ 21/12/1991, thành lập các nước SNG.
+ 25/12/1991, trong đêm giá lạnh, Tổng thống Gorbachov từ chức, lá cờ trên điện Kremli bị hạ xuống => nước CHXNCN Xô viết sụp đổ
- Khái niệm lịch sử: cải tổ, nhà nước XHCN, tự trị.
5. Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử
a. Phân loại:
- Phương pháp cũ: học bằng cách ghi nhớ những gì giáo viên giảng dạy, truyền đạt.
- Phương pháp mới: phát huy tính tích cực, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh.
+ Ví dụ về tạo biểu tượng, khái niệm lịch sử trong một bài học cụ thể:
Bài 15: Sự phát triển kinh tế - văn hóa thời Trần (sách Lịch sử lớp 7)
- Kiến thức cơ bản:
+ Nông nghiệp: được phục hồi nhanh chóng
Khai hoang, lập điền trang, thái ấp
Thời Trần, ruộng tư hữu chiếm tỉ lệ cao so với ruộng đất công.
+ Thủ công nghiệp:
- Thủ công nghiệp nhà nước: (là những gì, liệt kê ra)
- Thủ công nghiệp dân gian: (là những gì, liệt kê ra)
+ Buôn bán (còn gọi với từ hiện đại là Thương nghiệp): phục hồi và phát triển.
- Trong nước (có những gì)
- Ngoài nước
- Biểu tượng lịch sử:
+ Khai hoang, đồn điền
+ Đồ gốm, làng nghề
+ Đồng tiền, cảng Vân Đồn
- Khái niệm lịch sử: Điền trang, ruộng đất công, thái ấp, nhà nước phong kiến
Bài 2: (Lịch sử 9)
- Kiến thức cơ bản:
+ Nguyên nhân: khủng hoảng dầu mỏ 1973, Ban lãnh đạo Liên Xô đang tiến hành cải tổ
+ Quá trình cải tổ dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước Xô viết (xem SGK)
+ Kết quả: thành lập các nước SNG (tự trị); hệ thống Xã hội chủ nghĩa sụp đổ
+ Nguyên nhân thất bại của mô hình xhcn Xô Viết (xem SGK)
- Biểu tượng lịch sử:
+ 19/8/1991, đảo chính của Đảng Cộng sản => hình thành các nước tự trị (SNG)
+ 21/12/1991, thành lập các nước SNG.
+ 25/12/1991, trong đêm giá lạnh, Tổng thống Gorbachov từ chức, lá cờ trên điện Kremli bị hạ xuống => nước CHXNCN Xô viết sụp đổ
- Khái niệm lịch sử: cải tổ, nhà nước XHCN, tự trị.
5. Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử
a. Phân loại:
- Phương pháp cũ: học bằng cách ghi nhớ những gì giáo viên giảng dạy, truyền đạt.
- Phương pháp mới: phát huy tính tích cực, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh.
Mục đích chủ yếu đó là hướng tới giúp học sinh học tập tích cực, hiệu quả, chủ động, sáng tạo. Tính chất là học lý thuyết đi đôi với thực hành.
b. Đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học lịch sử:
b. Đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học lịch sử:
Đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học lịch sử được đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đổi mới hình thức tổ chức dạy học phối hợp giữa dạy học cá nhân - dạy học theo nhóm nhỏ, dạy trong phòng học, ngoài trời, đổi mới môi trường giáo dục để học tập đi liền với thực hành; đổi mới đánh giá thông qua nội dung, hình thức kiểm tra, thi cử. Phối hợp đánh giá giữa các hình thức đánh giá như trắc nghiệm, làm bài tập nhỏ, bài tập lớn.... Dựa trên các hình thức cụ thể, người ta có các phương pháp phù hợp:
- Tri thức: trình bày miệng, SGK, đồ dùng trực quan
- Lý thuyết thông tin:
+ Thông tin tái hiện: tường thuật, miêu tả, đồ dùng trực quan...
+ Phát triển nhận thức: câu hỏi, các dạng bài tập...
+ Tìm tòi nghiên cứu: nêu vấn đề, bài tập...
+ Tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập.
c. Các phương pháp trong dạy học lịch sử:
1. Phương pháp thông tin tái hiện lịch sử:
* Phương pháp miêu tả:
+ Khái niệm: Miêu tả là dùng lời văn có thanh sắc, hình ảnh để làm hiện lên cho học sinh về hình dáng, đặc điểm của sự vật, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử. Miêu tả không có chủ đề mà chỉ có đối tượng miêu tả.
+ Trường hợp cần miêu tả: sự vật, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử.
+ Phân loại:
- Miêu tả giản đơn: chỉ ra một vài đặc điểm chủ yếu qua đó đi sâu vào phân tích cơ cấu bên trong của sự vật.
- Miêu tả tỉ mỉ: khắc họa bức tranh trọn vẹn về đối tượng được miêu tả.
+ Phương pháp miêu tả: xa - gần; ngoài - trong, khái quát - cụ thể.
+ Yêu cầu:
- Dựa vào chi tiết chân thực, cơ bản, điển hình
- Phải cụ thể, gợi cảm, có hình ảnh để kích thích sự chú ý, tưởng tượng của học sinh.
- Miêu tả không có chủ đề nhưng người giáo viên phải có thái độ dứt khoát với sự vật được miêu tả chứ không phải có thái độ dửng dưng.
- Phải tạo biểu tượng rõ nét.
* Phương pháp tường thuật:
+ Khái niệm:
Tường thuật là kể lại có đầu có cuối một cách cụ thể, tỉ mỉ về quá trình, diễn biến của sự kiện lịch sử, hành động điển hình của quần chúng, nhân vật lịch sử. Tường thuật có chủ đề, có tình tiết nhằm kích thích trí tưởng tượng, sự sáng tạo của học sinh về hình ảnh quá khứ.
Bài tường thuật được xây dựng trên cơ sở nội dụng sách giáo khoa, nhưng giáo viên phải tạo hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về biểu tượng quá khứ đang được thể hiện, vì vậy các em sẽ dễ hứng thú với việc học tập lịch sử hơn.
+ Đặc trưng:
- Có đầu có cuối cụ thể, tỉ mỉ.
- Có chủ đề, tư tưởng và tình cảm
+ Trường hợp:
- Quá trình diễn biến của sự kiện, biến cố lịch sử quan trọng có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng.
- Hành động điển hình của quần chúng, của một nhân vật lịch sử để tạo học sinh biểu tượng lịch sử chính xác, có nội dung phong phú.
- Khi cần rút ra kết luận có nghĩa là tường thuật không chỉ dừng lại ở tái hiện lịch sử mà còn là biện pháp để giải thích bản chất những sự kiện lịch sử phức tạp.
+ Cấu tạo:
- 3 phần: mở đầu => sự kiện diễn ra và lên đến đỉnh cao => kết thúc
- 5 phần: mở đầu => tình tiết phát triển => tình tiết phát triển lên đỉnh cao => sự căng thẳng giảm đi => kết thúc.
+ Yêu cầu:
- Có đầu có cuối 1 cách cụ thể, tỉ mỉ.
- Phải là bức tranh sinh động, chân thực, gợi cảm, nổi rõ chủ đề, có tính giáo dục cao và đảm bảo được tính lịch sử (thời gian, không gian, ngôn ngữ)
- Tạo biểu tượng rõ ràng, chính xác.
- Kết hợp hài hòa miêu tả - tường thuật. Hai cái này sẽ thực hiện đồng thời, phụ trợ và bổ sung cho nhau.
* Phương pháp giải thích:
+ Khái niệm: là phương pháp mà giáo viên thường dùng để tự mình chỉ rõ mối liên hệ bên trong, bên ngoài của sự vật giúp học sinh hiểu rõ về sự vật. Phương pháp này được sử dụng trong việc tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của sự vật. Người giáo viên sử dụng phương pháp này phải phù hợp với thái độ, yêu cầu học tập lịch sử ở trường trung học góp phần vào phương thức tư duy lý luận của học sinh.
+ Trường hợp:
- Đề cập nguyên nhân - kết quả (nguyên nhân trong, nguyên nhân ngoài, nguyên nhân xa, nguyên nhân gần, nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp).
- Đề cập đặc điểm của sự phát triển sự vật, hiện tượng (phát triển nhanh - chậm, phát triển đi lên, động lực phát triển...), cần giải thích lý do.
- Khi đề cập đến chủ trương, biện pháp, kế hoạch quân sự, thủ đoạn đối phó, việc làm của nhân vật lịch sử, kế hoạch, trình tự...của tập đoàn hay giai cấp thì xét xem nó đúng - sai, tích cực hay tiêu cực, thực thi hay ảo tưởng...
+ Thao tác thường dùng:
- Phân tích, so sánh và tổng hợp
- Chỉ ra mối liên hệ, lịch đại và đồng đại => rút ra kiến thức cơ bản
- Chỉ ra những thuộc tính cơ bản.
* Phương pháp trực quan
+ Khái niệm: Là phương pháp cho học sinh được quan sát trực tiếp sự vật, hình ảnh thực của sự vật, hình ảnh trừu tượng hóa của sự vật nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm và cảm xúc, thẩm mỹ, gây hứng thú cho học sinh, là cầu nối giữa quá khứ - hiện đại.
+ Tác dụng:
- Góp phần tạo biểu tượng lịch sử
- Được dùng như nguồn cung cấp tri thức mới
- Đỡ tốn thời gian miêu tả, hỗ trợ tốt cho tường thuật.
- Hình ảnh sự vật khắc sâu vào trí nhớ của học sinh.
- Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm
- Bồi dưỡng quan điểm thẩm mỹ
- Phát huy tư duy để đi đến kết quả chung, rút ra nhận định chung
- Bài giảng sinh động.
+ Các loại đồ dùng trực quan:
- Hiện vật (di tích)
- Đồ dùng tạo hình (tranh ảnh, mô hình)
- Đồ dùng quy ước (bản đồ, niên biểu, sơ đồ)
+ Yêu cầu:
- Căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để chọn đồ dùng trực quan thích hợp.
- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng đồ dùng trực quan.
- Phát huy tính tích cực của học sinh khi dùng đồ dùng trực quan.
- Kết hợp lời nói và trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh.
- Tùy theo yêu cầu của bài học, loại hình đồ dùng trực quan mà có cách sử dụng khác nhau.
2. Phương pháp phát triển khả năng nhận thức cho học sinh:
* Phương pháp sử dụng sách giáo khoa
+ Vị trí:
- Sách giáo khoa viết cho học sinh, nhưng với giáo viên sách giáo là chỗ dựa đáng tin cậy. Vì vậy, giáo viên không thỏa mãn với việc cung cấp nội dung trong sách giáo khoa mà phải nghiên cứu, tham khảo tài liệu mới để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình làm cho bài học phong phú, sâu sắc, bảo đảm tính hiện đại.
- Với học sinh, sách giáo là tài liệu bắt buộc trong học tập. Ngoài ra, nó là phương tiện quan trọng để cung cấp kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ và trả lời câu hỏi, bài tập ở nhà.
- Sách giáo khoa được dùng thống nhất trong giáo dục, học tập ở nhà trường, các cơ sở giáo dục.
- Sách giáo khoa là nguồn cung cấp tri thức mới, được sắp xếp có hệ thống, mục đích.
+ Ý nghĩa: Sách giáo khoa không chỉ dùng dể cung cấp tri thức mới mà còn dùng để củng cố, kiểm tra và đánh giá.
* Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo:
+ Các tài liệu tham khảo:
- Thư tịch cổ, sách nghiên cứu.
- Sách văn hóa, văn học, báo chí
- Sách lý luận của Mác, Lenin, các lãnh tụ cách mạng Việt Nam.
- Internet
+ Vai trò:
- Cung cấp, bổ sung kiến thức.
- Khẳng định kết luận, đánh giá về sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử
- Tài liệu tham khảo được đối chiếu, so sánh sẽ có thuyết phục cao
- Có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm
- Bồi dưỡng năng lực làm việc với sách, bồi dưỡng lòng yêu thích môn lịch sử.
+ Chú ý:
- Chọn tài liệu tốt, phù hợp.
- Nhận rõ và phân biệt chân giá trị của từng loại tài liệu sử dụng.
- Đọc vừa phải, tránh lạm dụng.
* Phương pháp trao đổi, đàm thoại:
+ Khái niệm: Là phương pháp giáo viên hay dùng để hỏi học sinh để học sinh đáp lại, trò có thắc mắc thì thầy trả lời.
+ Ưu điểm:
- Phát triển năng lực tư duy độc lập của học sinh, phát triển khả năng diễn đạt của học sinh.
- Học sinh nắm vững tri thức.
- Giáo viên biết được kết quả giảng dạy của mình.
- Lôi kéo sự chú ý của học sinh vào bài giảng. Lớp học đông, học sinh chủ động tiếp thu kiến thức ngay tại lớp.
+ Chuẩn bị câu hỏi đàm thoại:
- Câu hỏi được dựa trên vốn kiến thức cũ, kinh nghiệm sống của học sinh.
- Câu hỏi vừa sức.
- Câu hỏi được đặt ra phải vào mặt chủ yếu của vấn đề học sinh đang học.
+ Phân loại:
- Câu hỏi nêu sự phát sinh, phát triển của sự kiện, biến cố lịch sử.
- Câu hỏi nêu đặc trưng, bản chất của sự kiện lịch sử.
- Câu hỏi nêu mối quan hệ của sự vật, hiện tượng (quan hệ nhân - quả)
- Câu hỏi sử dụng kiến thức đã học để hiểu sự kiện lịch sử.
- Câu hỏi mang tính chất là bài tập
+ Lưu ý:
- Đàm thoại không phải là mục đích, nó là một phương pháp trong dạy học lịch sử
- Câu hỏi đặt ra để mục đích phát huy năng lực tự lập của học sinh, củng cố tri thức cho học sinh.
- Không lạm dụng, không coi phương pháp này là duy nhất.
3. Phương pháp tìm tòi nghiên cứu:
* Dạy học nêu vấn đề:
+ Khái niệm: Dạy học nêu vấn đề không phải là phương pháp riêng biệt mà là một sự tổng hợp của nhiều phương pháp. Dạy học nêu vấn đề giúp phát huy tư duy độc lập của học sinh, trong đó giáo viện phải tạo tình huống có vấn đề, nêu vấn đề ra và tổ chức, thúc đẩy hoạt động sáng tạo tìm tòi của học sinh để giải quyết vấn đề đặt ra.
+ Đặc điểm:
- Nghiên cứu tài liệu, học sinh phải tự giải quyết một phần, 1 số vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Thực hành dưới hình thức lời giảng nêu vấn đề, bài tập nhận thức.
- Mục đích là phát triển năng lực tư duy của học sinh.
+ Lời giảng:
- Khi giới thiệu bài, giáo viên cần tạo tình huống có vấn đề.
- Tình huống có vấn đề là điều kiện sư phạm khi học sinh đi trước sự cần thiết phải suy nghĩ để tìm ra cái mới, cái chưa biết. Ví dụ: khi dạy bài lịch sử lớp 7: Ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên, giáo viên có thể đặt vấn đề: Quân Mông - Nguyên hùng mạnh, nhiều lần đem quân đi cướp bóc, tàn phá thế giới nhưng khi ba lần tấn công Việt Nam, chúng lại thất bại. Vì sao chúng đánh các nước khác thì liên tục giành thắng lợi nhưng khi đến nước ta lại thất bại ? Vì vua tôi đồng lòng, cả nước đồng sức... thì cuộc kháng chiến mới giành thắng lợi trọn vẹn.
- Nêu vấn đề rõ ràng là câu hỏi dưới dạng bài tập nhận thức.
- Hướng dân, tạo điều kiện gợi mở các em giải quyết vấn đề.
- Những nét cơ bản chủ yếu của sự kiện, đặc trưng của nó so với những sự kiện khác ở một thời điểm khác (lập bảng so sánh)
- Nêu quan hệ quan trọng của sự kiện, các giai đoạn phát triển của sự kiện, đánh giá sự kiện.
+ Bài tập nhận thức:
- Diễn đạt dưới hình thức câu hỏi do thầy nêu ra, hoặc các ý kiến khác nhau mà câu trả lời nảy sinh ra như là một sản phẩm của hoạt động tư duy.
- Chức năng quan trọng nhất của bài tập nhận thức là dạy cho học sinh biết suy nghĩ độc lập với vấn đề mà cuộc sống đặt ra.
+ Thực hành:
- Khái niệm: là vận dụng lý thuyết, quan điểm của cá nhân, tập thể để giải quyết vấn đề
- Ý nghĩa:
# Rèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo.
# Củng cố tri thức.
# Kích thích, gây hứng thú học tập, sự học tập tích cực
4. Tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập:
a. Tổ chức
+ Các bước thực hiện
- Đề xuất, ra đề tài
- Giao nhiệm vụ cho lớp thực hiện
- Điều khiển tiến trình hoạt động học tập
- Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng.
+ Hướng dẫn tổ chức:
- Định hướng (nội dung vấn đề, hướng giải quyết vấn đề)
- Phương pháp
- Thao tác
- Tài liệu tham khảo, nghiên cứu
- Sử dụng sách giáo khoa
- Hướng dẫn cách trình bày vấn đề
+ Yêu cầu:
* Giáo viên:
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các nội dung học tập với hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng môn học, bài học với đặc điểm và thái độ của học sinh, điều kiện từng lớp, từng khóa học.
- Khuyến khích, động viên và tạo cơ hội, điều kiện cho học sinh tham gia học tập một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khai phá và lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của học sinh, tạo niềm vui, phấn khởi, thái độ tự tin trong học tập của học sinh giúp cho họ phát triển năng lực, tài năng của bản thân.
- Thiết kế, hướng dẫn các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng, hướng dẫn học sinh sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập, tổ chức tốt các giờ thực hành, hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Giáo viên sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hợp lý, hiệu quả, linh hoạt và phù hợp với đặc trưng của từng lớp, từng môn học, hình dung tính chất bài học, đặc điểm và thái độ của học sinh, thời lượng dạy học, các điều kiện dạy học cụ thể.
* Học sinh:
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá, lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, xây dựng thái độ và hành vị đúng đắn.
- Sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng học tập, thực hành bộ môn, vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống, vấn đề đặt ra từ thực tiễn, xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập phù hợp với kỹ năng và điều kiện cho phép.
- Mạnh dạn trình bày, bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân, tích cực trả lời, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, thầy cô và bạn bè.
- Tự đánh giá, đề ra quan điểm mới xuất phát từ hoạt động của bản thân và bạn bè.
6. Cấu trúc bài học lịch sử
1. Mục tiêu:
+ Kiến thức:
- Xác định được bài có mấy đơn vị kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm
- Xác định kiến thức nào là kiến thức trọng tâm để tập trung cac biện pháp sư phạm để giúp học sinh nắm vững.
Để làm tốt nhiệm vụ này, giáo viên phải nghiên cứu nội dung bài viết trong sách giáo khoa, các hướng dẫn trong sách giáo viên để tìm ra nội dung chính của bài học, sự kiện cơ bản mà học sinh cần đạt.
+ Thái độ, tình cảm, tư tưởng: Qua bài học, giáo viên cần giáo dục học sinh nội dung nào: lòng yêu quê hương - đất nước, yêu lao động, biết ơn các anh hùng liệt sĩ, lòng tự hào dân tộc, tinh thần quốc tế vô sản.... Tùy theo bài học mà giáo dục nội dung thích hợp, không cứng nhắc, gò ép.
+ Kỹ năng: Bài học rèn luyện cho học sinh khả năng đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thực hành bộ môn, so sánh, đối chiếu, lập bàng thống kê, phân tích - tổng hợp, sử dụng bản đồ. Giáo viên nên dựa vào mức độ cần đạt của chương trình lịch sử mỗi lớp, trình độ học sinh, nội dung cụ thể của bài học mà xác định cụ thể nội dung, kỹ năng cần đạt cho học sinh.
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học: Tùy theo điều kiện của nhà trường mà sẽ có hoặc không có đồ dùng dạy học (trong trường hợp này, giáo viên tự trang bị để dạy học). Giáo viên chuẩn bị băng video, đèn chiếu, bảng trong, tranh ảnh, tài liệu tham khảo... cho bài giảng.
2. Thiết kế bài giảng:
a. Ổn định lớp, tổ chức hoạt động dạy học:
Kiếm tra sĩ số, ổn định trật tự, tổ chức hoạt động để học sinh tiếp thu kiến thức trong giờ học.
b. Kiếm tra bài cũ: kiểm tra kiến thức cũ mà học sinh học ở nhà. Tùy vào điều kiện cụ thể mà có thể kiểm tra bài cũ hoặc không kiểm tra bài cũ. Khi kiểm tra cần linh hoạt, uyển chuyển trong cách đặt câu hỏi, cách học sinh trả lời và giáo viên nhận xét câu trả lời của học sinh.
c. Giới thiệu bài mới:
- Có nhiều cách giới thiệu bài mới, cụ thể như nêu tình huống có vấn đề, nếu kết quả của kiến thức cũ để dẫn vào bài mới. Việc giới thiệu bài mới giúp giáo viên nêu rõ mục tiêu mà học sinh đạt được dưới sự hướng dẫn của mình. Khi giới thiệu, cần bám sát nội dung sách giáo khoa, nói đúng nội dung bài học.
- Thiết kế bài mới theo các hoạt động (thầy - trò), chia thành nhiều mục. Mỗi mục sẽ có một hay nhiều hoạt động cụ thể tùy theo nội dung bài học. Mỗi hoạt động tiến hành:
+ Mức độ kiến thức cần đạt của hoạt động, thông qua đó học sinh nắm cái gì, mức độ như thế nào (nội dung chính, khái quát, hiểu bản chất, so sánh, đối chiếu với các sự kiện khác)
+ Tổ chức thực hiện với các hoạt động của giáo viên - học sinh:
* Thông báo thông tin: học sinh làm việc với sách giáo khoa, tài liệu lịch sử, bản đồ, tranh ảnh...có sự định hướng từ giáo viên.
* Xử lý thông tin: Với việc nêu câu hỏi, bài tập và vấn đề thảo luận thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm và cả lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
d. Sơ kết bài học
Củng cố:
- Khái quát nội dung bài học, có thể củng cố, sơ kết sau mỗi mục của bài học.
- Việc củng cố được tiến hành: giáo viên ra câu hỏi kiểm tra nhận thức của học sinh, học sinh trả lời theo câu hỏi thầy đặt ra.
e. Dặn dò, ra bài tập:
- Học sinh chuẩn bị bài ở nhà phục vụ bài mới: tìm hiểu sách giáo khoa, sưu tầm tài liệu, tranh ảnh và tài liệu tham khảo.
- Giáo viên ra bài tập, hướng dẫn học sinh làm bài tập tại lớp.
f. Những điều cần tránh khi thiết kế bài giảng (giáo án):
- Biến giáo án thành một bài phân tích các ý trong sách giáo khoa => phải uyển chuyển, linh hoạt.
- Thoát lý sách giáo khoa.
- Sử dụng giáo án dạy trong nhiều năm, không phù hợp đối tượng, không bám vào nội dung, mục tiêu bài học.
3. Hướng dẫn dạy các loại bài học lịch sử:
a. Dạng bài kinh tế:
+ Nội dung:
- Nắm vững khái niệm hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, lực lượng xã hội, kiến trúc thượng tầng.
- Kiến thức của từng giai đoạn lịch sử khác nhau.
+ Phương pháp:
- Cấu trúc: chính trị => kinh tế => xã hội; kinh tế => chính trị => xã hội
- Làm rõ quan hệ hữu cơ, biện chứng giữ các mặt kinh tế, chính trị và xã hội.
- Liên hệ quá khứ với hiện tại.
- Chiếm tỉ lệ khá lớn.
b. Dạng bài kháng chiến, cách mạng
+ Nội dung:
- Chiếm tỉ lệ lớn.
- Cấu tạo thành từng bài hoặc một số bài kế tiếp nhau.
+ Phương pháp:
- Giáo viện cho học sinh nêu nguyên nhân, diễn biến và kết quả
- Rút ra quy luật, bài học lịch sử
- Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách trần thuật, miêu tả.
c. Dạng bài văn hóa - xã hội
+ Nội dung:
- Số lượng ít nhưng nội dung phong phú.
- Đòi hỏi giáo viên có hiểu biết về nhiều lĩnh vực: triết học, văn học, tư tưởng...để giải thích, minh họa chính xác.
+ Phương pháp:
- Đi sâu vào văn hóa tinh thần của xã hội.
- Giáo viên chỉ rõ mối quan hệ chi phối giữa văn hóa - tư tưởng với sản xuất - kinh tế.
- Giáo viên có hồ sơ, tư liệu phong phú: tranh ảnh, tài liệu, bảng hình....
d. Dạng bài ôn tập, tổng kết
+ Vị trí:
- Xếp sau vài chương, giai đoạn lịch sử cụ thể
- Củng cố và hệ thống hóa các kiến thức đã học.
- Giáo viên tìm phương pháp ôn tập thích hợp với nội dung bài học cụ thể.
+ Chuẩn bị:
- Xác định mục tiệu của bài ôn tập, tổng kết.
- Phối hợp các phương pháp thích hợp.
- Dành thời gian cho học sinh làm việc.
+ Tiến hành:
- Mở đầu: nêu nhiệm vụ, phương pháp của giáo viên - học sinh
- Nội dung:
* Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp.
* Huy động cả lớp tham gia
* Kiến thức bài học được giáo viên kết luận, khái quát, tổng kết nội dung kiến thức ôn tập, kiểm tra, đánh giá.
e. Lịch sử địa phương
+ Nội dung:
- Chọn những nội dung phù hợp với từng địa phương.
- Chọn theo chủ đề: di tích lịch sử, di tích cách mạng, công trình kinh tế, công trình văn hóa - xã hội.
+ Phương pháp:
- Tuân thủ các nguyên tắc như dạy bài học lịch sử.
- Dạy học sinh biết tìm tòi (học sinh chuẩn bị trước theo chủ đề mà giáo viên tự chọn)
- Cho học sinh viết bài thu hoạch.
- Dạy tại bảo tàng lịch sử, dạ hội lịch sử, ngoại khóa.
4. Các nguyên tắc xây dựng chương trình môn lịch sử
a. Đảm bảo tính khoa học:
- Lựa chọn trình bày nhưng đúng đắn và chính xác.
- Kịp thời thay thế kiến thức, phương pháp cũ.
- Vận dụng thành tựu hiện đại, tiên tiến trong triển khai chương trình.
b. Đảm bảo tính cơ bản
- Chọn nội dung cốt lõi, then chốt nhất của bài học.
- Chọn nội dung có ý nghĩa với học sinh giúp các em phát triển vốn hiểu biết, kỹ năng học tập.
- Tạo điều kiện cho các em phát triển tư duy, tự học và vận dụng.
c. Phù hợp với thực tiễn:
- Bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội.
- Điều kiện dạy học.
- Chọn nội dung có ý nghĩa để giảng dạy, phân tích.
* Lưu ý:
- Dạy lịch sử thế giới phải dạy cho học sinh biết bước đi của lịch sử nhân loại và hiểu rõ lịch sử Việt Nam.
- Lịch sử Việt Nam chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình.
- Quan tâm lịch sử Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp, Liên Xô (nay là Liên bang Nga), Mỹ
- Đặc biệt chú ý đến sự kiện lịch sử thế giới liên quan đến lịch sử dân tộc.
- Làm rõ hình thái kinh tế - xã hội tiêu biểu, dành nhiều thời gian cho lịch sử Đông Nam Á, Lào, Campuchia.
- Coi trọng dạy học lịch sử địa phương.
d. Đảm bảo tính thực thi:
- Xác định nội dung chương trình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng của giáo viên - học sinh, thực tiễn nhà trường.
- Tạo sự mềm dẻo nhất định để điều khiển chương trình phù hợp với nhóm đối tượng học sinh không đồng đều về trình độ nhận thức.
- Khảo sát thực tiễn để điều chỉnh cho phù hợp.
- Lý thuyết thông tin:
+ Thông tin tái hiện: tường thuật, miêu tả, đồ dùng trực quan...
+ Phát triển nhận thức: câu hỏi, các dạng bài tập...
+ Tìm tòi nghiên cứu: nêu vấn đề, bài tập...
+ Tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập.
c. Các phương pháp trong dạy học lịch sử:
1. Phương pháp thông tin tái hiện lịch sử:
* Phương pháp miêu tả:
+ Khái niệm: Miêu tả là dùng lời văn có thanh sắc, hình ảnh để làm hiện lên cho học sinh về hình dáng, đặc điểm của sự vật, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử. Miêu tả không có chủ đề mà chỉ có đối tượng miêu tả.
+ Trường hợp cần miêu tả: sự vật, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử.
+ Phân loại:
- Miêu tả giản đơn: chỉ ra một vài đặc điểm chủ yếu qua đó đi sâu vào phân tích cơ cấu bên trong của sự vật.
- Miêu tả tỉ mỉ: khắc họa bức tranh trọn vẹn về đối tượng được miêu tả.
+ Phương pháp miêu tả: xa - gần; ngoài - trong, khái quát - cụ thể.
+ Yêu cầu:
- Dựa vào chi tiết chân thực, cơ bản, điển hình
- Phải cụ thể, gợi cảm, có hình ảnh để kích thích sự chú ý, tưởng tượng của học sinh.
- Miêu tả không có chủ đề nhưng người giáo viên phải có thái độ dứt khoát với sự vật được miêu tả chứ không phải có thái độ dửng dưng.
- Phải tạo biểu tượng rõ nét.
* Phương pháp tường thuật:
+ Khái niệm:
Tường thuật là kể lại có đầu có cuối một cách cụ thể, tỉ mỉ về quá trình, diễn biến của sự kiện lịch sử, hành động điển hình của quần chúng, nhân vật lịch sử. Tường thuật có chủ đề, có tình tiết nhằm kích thích trí tưởng tượng, sự sáng tạo của học sinh về hình ảnh quá khứ.
Bài tường thuật được xây dựng trên cơ sở nội dụng sách giáo khoa, nhưng giáo viên phải tạo hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về biểu tượng quá khứ đang được thể hiện, vì vậy các em sẽ dễ hứng thú với việc học tập lịch sử hơn.
+ Đặc trưng:
- Có đầu có cuối cụ thể, tỉ mỉ.
- Có chủ đề, tư tưởng và tình cảm
+ Trường hợp:
- Quá trình diễn biến của sự kiện, biến cố lịch sử quan trọng có ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng.
- Hành động điển hình của quần chúng, của một nhân vật lịch sử để tạo học sinh biểu tượng lịch sử chính xác, có nội dung phong phú.
- Khi cần rút ra kết luận có nghĩa là tường thuật không chỉ dừng lại ở tái hiện lịch sử mà còn là biện pháp để giải thích bản chất những sự kiện lịch sử phức tạp.
+ Cấu tạo:
- 3 phần: mở đầu => sự kiện diễn ra và lên đến đỉnh cao => kết thúc
- 5 phần: mở đầu => tình tiết phát triển => tình tiết phát triển lên đỉnh cao => sự căng thẳng giảm đi => kết thúc.
+ Yêu cầu:
- Có đầu có cuối 1 cách cụ thể, tỉ mỉ.
- Phải là bức tranh sinh động, chân thực, gợi cảm, nổi rõ chủ đề, có tính giáo dục cao và đảm bảo được tính lịch sử (thời gian, không gian, ngôn ngữ)
- Tạo biểu tượng rõ ràng, chính xác.
- Kết hợp hài hòa miêu tả - tường thuật. Hai cái này sẽ thực hiện đồng thời, phụ trợ và bổ sung cho nhau.
* Phương pháp giải thích:
+ Khái niệm: là phương pháp mà giáo viên thường dùng để tự mình chỉ rõ mối liên hệ bên trong, bên ngoài của sự vật giúp học sinh hiểu rõ về sự vật. Phương pháp này được sử dụng trong việc tìm hiểu bản chất, ý nghĩa của sự vật. Người giáo viên sử dụng phương pháp này phải phù hợp với thái độ, yêu cầu học tập lịch sử ở trường trung học góp phần vào phương thức tư duy lý luận của học sinh.
+ Trường hợp:
- Đề cập nguyên nhân - kết quả (nguyên nhân trong, nguyên nhân ngoài, nguyên nhân xa, nguyên nhân gần, nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp).
- Đề cập đặc điểm của sự phát triển sự vật, hiện tượng (phát triển nhanh - chậm, phát triển đi lên, động lực phát triển...), cần giải thích lý do.
- Khi đề cập đến chủ trương, biện pháp, kế hoạch quân sự, thủ đoạn đối phó, việc làm của nhân vật lịch sử, kế hoạch, trình tự...của tập đoàn hay giai cấp thì xét xem nó đúng - sai, tích cực hay tiêu cực, thực thi hay ảo tưởng...
+ Thao tác thường dùng:
- Phân tích, so sánh và tổng hợp
- Chỉ ra mối liên hệ, lịch đại và đồng đại => rút ra kiến thức cơ bản
- Chỉ ra những thuộc tính cơ bản.
* Phương pháp trực quan
+ Khái niệm: Là phương pháp cho học sinh được quan sát trực tiếp sự vật, hình ảnh thực của sự vật, hình ảnh trừu tượng hóa của sự vật nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm và cảm xúc, thẩm mỹ, gây hứng thú cho học sinh, là cầu nối giữa quá khứ - hiện đại.
+ Tác dụng:
- Góp phần tạo biểu tượng lịch sử
- Được dùng như nguồn cung cấp tri thức mới
- Đỡ tốn thời gian miêu tả, hỗ trợ tốt cho tường thuật.
- Hình ảnh sự vật khắc sâu vào trí nhớ của học sinh.
- Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm
- Bồi dưỡng quan điểm thẩm mỹ
- Phát huy tư duy để đi đến kết quả chung, rút ra nhận định chung
- Bài giảng sinh động.
+ Các loại đồ dùng trực quan:
- Hiện vật (di tích)
- Đồ dùng tạo hình (tranh ảnh, mô hình)
- Đồ dùng quy ước (bản đồ, niên biểu, sơ đồ)
+ Yêu cầu:
- Căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để chọn đồ dùng trực quan thích hợp.
- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng đồ dùng trực quan.
- Phát huy tính tích cực của học sinh khi dùng đồ dùng trực quan.
- Kết hợp lời nói và trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh.
- Tùy theo yêu cầu của bài học, loại hình đồ dùng trực quan mà có cách sử dụng khác nhau.
2. Phương pháp phát triển khả năng nhận thức cho học sinh:
* Phương pháp sử dụng sách giáo khoa
+ Vị trí:
- Sách giáo khoa viết cho học sinh, nhưng với giáo viên sách giáo là chỗ dựa đáng tin cậy. Vì vậy, giáo viên không thỏa mãn với việc cung cấp nội dung trong sách giáo khoa mà phải nghiên cứu, tham khảo tài liệu mới để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình làm cho bài học phong phú, sâu sắc, bảo đảm tính hiện đại.
- Với học sinh, sách giáo là tài liệu bắt buộc trong học tập. Ngoài ra, nó là phương tiện quan trọng để cung cấp kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ và trả lời câu hỏi, bài tập ở nhà.
- Sách giáo khoa được dùng thống nhất trong giáo dục, học tập ở nhà trường, các cơ sở giáo dục.
- Sách giáo khoa là nguồn cung cấp tri thức mới, được sắp xếp có hệ thống, mục đích.
+ Ý nghĩa: Sách giáo khoa không chỉ dùng dể cung cấp tri thức mới mà còn dùng để củng cố, kiểm tra và đánh giá.
* Phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo:
+ Các tài liệu tham khảo:
- Thư tịch cổ, sách nghiên cứu.
- Sách văn hóa, văn học, báo chí
- Sách lý luận của Mác, Lenin, các lãnh tụ cách mạng Việt Nam.
- Internet
+ Vai trò:
- Cung cấp, bổ sung kiến thức.
- Khẳng định kết luận, đánh giá về sự kiện, hiện tượng lịch sử, nhân vật lịch sử
- Tài liệu tham khảo được đối chiếu, so sánh sẽ có thuyết phục cao
- Có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm
- Bồi dưỡng năng lực làm việc với sách, bồi dưỡng lòng yêu thích môn lịch sử.
+ Chú ý:
- Chọn tài liệu tốt, phù hợp.
- Nhận rõ và phân biệt chân giá trị của từng loại tài liệu sử dụng.
- Đọc vừa phải, tránh lạm dụng.
* Phương pháp trao đổi, đàm thoại:
+ Khái niệm: Là phương pháp giáo viên hay dùng để hỏi học sinh để học sinh đáp lại, trò có thắc mắc thì thầy trả lời.
+ Ưu điểm:
- Phát triển năng lực tư duy độc lập của học sinh, phát triển khả năng diễn đạt của học sinh.
- Học sinh nắm vững tri thức.
- Giáo viên biết được kết quả giảng dạy của mình.
- Lôi kéo sự chú ý của học sinh vào bài giảng. Lớp học đông, học sinh chủ động tiếp thu kiến thức ngay tại lớp.
+ Chuẩn bị câu hỏi đàm thoại:
- Câu hỏi được dựa trên vốn kiến thức cũ, kinh nghiệm sống của học sinh.
- Câu hỏi vừa sức.
- Câu hỏi được đặt ra phải vào mặt chủ yếu của vấn đề học sinh đang học.
+ Phân loại:
- Câu hỏi nêu sự phát sinh, phát triển của sự kiện, biến cố lịch sử.
- Câu hỏi nêu đặc trưng, bản chất của sự kiện lịch sử.
- Câu hỏi nêu mối quan hệ của sự vật, hiện tượng (quan hệ nhân - quả)
- Câu hỏi sử dụng kiến thức đã học để hiểu sự kiện lịch sử.
- Câu hỏi mang tính chất là bài tập
+ Lưu ý:
- Đàm thoại không phải là mục đích, nó là một phương pháp trong dạy học lịch sử
- Câu hỏi đặt ra để mục đích phát huy năng lực tự lập của học sinh, củng cố tri thức cho học sinh.
- Không lạm dụng, không coi phương pháp này là duy nhất.
3. Phương pháp tìm tòi nghiên cứu:
* Dạy học nêu vấn đề:
+ Khái niệm: Dạy học nêu vấn đề không phải là phương pháp riêng biệt mà là một sự tổng hợp của nhiều phương pháp. Dạy học nêu vấn đề giúp phát huy tư duy độc lập của học sinh, trong đó giáo viện phải tạo tình huống có vấn đề, nêu vấn đề ra và tổ chức, thúc đẩy hoạt động sáng tạo tìm tòi của học sinh để giải quyết vấn đề đặt ra.
+ Đặc điểm:
- Nghiên cứu tài liệu, học sinh phải tự giải quyết một phần, 1 số vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
- Thực hành dưới hình thức lời giảng nêu vấn đề, bài tập nhận thức.
- Mục đích là phát triển năng lực tư duy của học sinh.
+ Lời giảng:
- Khi giới thiệu bài, giáo viên cần tạo tình huống có vấn đề.
- Tình huống có vấn đề là điều kiện sư phạm khi học sinh đi trước sự cần thiết phải suy nghĩ để tìm ra cái mới, cái chưa biết. Ví dụ: khi dạy bài lịch sử lớp 7: Ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên, giáo viên có thể đặt vấn đề: Quân Mông - Nguyên hùng mạnh, nhiều lần đem quân đi cướp bóc, tàn phá thế giới nhưng khi ba lần tấn công Việt Nam, chúng lại thất bại. Vì sao chúng đánh các nước khác thì liên tục giành thắng lợi nhưng khi đến nước ta lại thất bại ? Vì vua tôi đồng lòng, cả nước đồng sức... thì cuộc kháng chiến mới giành thắng lợi trọn vẹn.
- Nêu vấn đề rõ ràng là câu hỏi dưới dạng bài tập nhận thức.
- Hướng dân, tạo điều kiện gợi mở các em giải quyết vấn đề.
- Những nét cơ bản chủ yếu của sự kiện, đặc trưng của nó so với những sự kiện khác ở một thời điểm khác (lập bảng so sánh)
- Nêu quan hệ quan trọng của sự kiện, các giai đoạn phát triển của sự kiện, đánh giá sự kiện.
+ Bài tập nhận thức:
- Diễn đạt dưới hình thức câu hỏi do thầy nêu ra, hoặc các ý kiến khác nhau mà câu trả lời nảy sinh ra như là một sản phẩm của hoạt động tư duy.
- Chức năng quan trọng nhất của bài tập nhận thức là dạy cho học sinh biết suy nghĩ độc lập với vấn đề mà cuộc sống đặt ra.
+ Thực hành:
- Khái niệm: là vận dụng lý thuyết, quan điểm của cá nhân, tập thể để giải quyết vấn đề
- Ý nghĩa:
# Rèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo.
# Củng cố tri thức.
# Kích thích, gây hứng thú học tập, sự học tập tích cực
4. Tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập:
a. Tổ chức
+ Các bước thực hiện
- Đề xuất, ra đề tài
- Giao nhiệm vụ cho lớp thực hiện
- Điều khiển tiến trình hoạt động học tập
- Kiểm tra, đánh giá, khen thưởng.
+ Hướng dẫn tổ chức:
- Định hướng (nội dung vấn đề, hướng giải quyết vấn đề)
- Phương pháp
- Thao tác
- Tài liệu tham khảo, nghiên cứu
- Sử dụng sách giáo khoa
- Hướng dẫn cách trình bày vấn đề
+ Yêu cầu:
* Giáo viên:
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các nội dung học tập với hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng môn học, bài học với đặc điểm và thái độ của học sinh, điều kiện từng lớp, từng khóa học.
- Khuyến khích, động viên và tạo cơ hội, điều kiện cho học sinh tham gia học tập một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khai phá và lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của học sinh, tạo niềm vui, phấn khởi, thái độ tự tin trong học tập của học sinh giúp cho họ phát triển năng lực, tài năng của bản thân.
- Thiết kế, hướng dẫn các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng, hướng dẫn học sinh sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập, tổ chức tốt các giờ thực hành, hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Giáo viên sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hợp lý, hiệu quả, linh hoạt và phù hợp với đặc trưng của từng lớp, từng môn học, hình dung tính chất bài học, đặc điểm và thái độ của học sinh, thời lượng dạy học, các điều kiện dạy học cụ thể.
* Học sinh:
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá, lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, xây dựng thái độ và hành vị đúng đắn.
- Sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng học tập, thực hành bộ môn, vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống, vấn đề đặt ra từ thực tiễn, xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập phù hợp với kỹ năng và điều kiện cho phép.
- Mạnh dạn trình bày, bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân, tích cực trả lời, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, thầy cô và bạn bè.
- Tự đánh giá, đề ra quan điểm mới xuất phát từ hoạt động của bản thân và bạn bè.
6. Cấu trúc bài học lịch sử
1. Mục tiêu:
+ Kiến thức:
- Xác định được bài có mấy đơn vị kiến thức cơ bản mà học sinh cần nắm
- Xác định kiến thức nào là kiến thức trọng tâm để tập trung cac biện pháp sư phạm để giúp học sinh nắm vững.
Để làm tốt nhiệm vụ này, giáo viên phải nghiên cứu nội dung bài viết trong sách giáo khoa, các hướng dẫn trong sách giáo viên để tìm ra nội dung chính của bài học, sự kiện cơ bản mà học sinh cần đạt.
+ Thái độ, tình cảm, tư tưởng: Qua bài học, giáo viên cần giáo dục học sinh nội dung nào: lòng yêu quê hương - đất nước, yêu lao động, biết ơn các anh hùng liệt sĩ, lòng tự hào dân tộc, tinh thần quốc tế vô sản.... Tùy theo bài học mà giáo dục nội dung thích hợp, không cứng nhắc, gò ép.
+ Kỹ năng: Bài học rèn luyện cho học sinh khả năng đọc sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thực hành bộ môn, so sánh, đối chiếu, lập bàng thống kê, phân tích - tổng hợp, sử dụng bản đồ. Giáo viên nên dựa vào mức độ cần đạt của chương trình lịch sử mỗi lớp, trình độ học sinh, nội dung cụ thể của bài học mà xác định cụ thể nội dung, kỹ năng cần đạt cho học sinh.
+ Thiết bị, đồ dùng dạy học: Tùy theo điều kiện của nhà trường mà sẽ có hoặc không có đồ dùng dạy học (trong trường hợp này, giáo viên tự trang bị để dạy học). Giáo viên chuẩn bị băng video, đèn chiếu, bảng trong, tranh ảnh, tài liệu tham khảo... cho bài giảng.
2. Thiết kế bài giảng:
a. Ổn định lớp, tổ chức hoạt động dạy học:
Kiếm tra sĩ số, ổn định trật tự, tổ chức hoạt động để học sinh tiếp thu kiến thức trong giờ học.
b. Kiếm tra bài cũ: kiểm tra kiến thức cũ mà học sinh học ở nhà. Tùy vào điều kiện cụ thể mà có thể kiểm tra bài cũ hoặc không kiểm tra bài cũ. Khi kiểm tra cần linh hoạt, uyển chuyển trong cách đặt câu hỏi, cách học sinh trả lời và giáo viên nhận xét câu trả lời của học sinh.
c. Giới thiệu bài mới:
- Có nhiều cách giới thiệu bài mới, cụ thể như nêu tình huống có vấn đề, nếu kết quả của kiến thức cũ để dẫn vào bài mới. Việc giới thiệu bài mới giúp giáo viên nêu rõ mục tiêu mà học sinh đạt được dưới sự hướng dẫn của mình. Khi giới thiệu, cần bám sát nội dung sách giáo khoa, nói đúng nội dung bài học.
- Thiết kế bài mới theo các hoạt động (thầy - trò), chia thành nhiều mục. Mỗi mục sẽ có một hay nhiều hoạt động cụ thể tùy theo nội dung bài học. Mỗi hoạt động tiến hành:
+ Mức độ kiến thức cần đạt của hoạt động, thông qua đó học sinh nắm cái gì, mức độ như thế nào (nội dung chính, khái quát, hiểu bản chất, so sánh, đối chiếu với các sự kiện khác)
+ Tổ chức thực hiện với các hoạt động của giáo viên - học sinh:
* Thông báo thông tin: học sinh làm việc với sách giáo khoa, tài liệu lịch sử, bản đồ, tranh ảnh...có sự định hướng từ giáo viên.
* Xử lý thông tin: Với việc nêu câu hỏi, bài tập và vấn đề thảo luận thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm và cả lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
d. Sơ kết bài học
Củng cố:
- Khái quát nội dung bài học, có thể củng cố, sơ kết sau mỗi mục của bài học.
- Việc củng cố được tiến hành: giáo viên ra câu hỏi kiểm tra nhận thức của học sinh, học sinh trả lời theo câu hỏi thầy đặt ra.
e. Dặn dò, ra bài tập:
- Học sinh chuẩn bị bài ở nhà phục vụ bài mới: tìm hiểu sách giáo khoa, sưu tầm tài liệu, tranh ảnh và tài liệu tham khảo.
- Giáo viên ra bài tập, hướng dẫn học sinh làm bài tập tại lớp.
f. Những điều cần tránh khi thiết kế bài giảng (giáo án):
- Biến giáo án thành một bài phân tích các ý trong sách giáo khoa => phải uyển chuyển, linh hoạt.
- Thoát lý sách giáo khoa.
- Sử dụng giáo án dạy trong nhiều năm, không phù hợp đối tượng, không bám vào nội dung, mục tiêu bài học.
3. Hướng dẫn dạy các loại bài học lịch sử:
a. Dạng bài kinh tế:
+ Nội dung:
- Nắm vững khái niệm hình thái kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất, lực lượng xã hội, kiến trúc thượng tầng.
- Kiến thức của từng giai đoạn lịch sử khác nhau.
+ Phương pháp:
- Cấu trúc: chính trị => kinh tế => xã hội; kinh tế => chính trị => xã hội
- Làm rõ quan hệ hữu cơ, biện chứng giữ các mặt kinh tế, chính trị và xã hội.
- Liên hệ quá khứ với hiện tại.
- Chiếm tỉ lệ khá lớn.
b. Dạng bài kháng chiến, cách mạng
+ Nội dung:
- Chiếm tỉ lệ lớn.
- Cấu tạo thành từng bài hoặc một số bài kế tiếp nhau.
+ Phương pháp:
- Giáo viện cho học sinh nêu nguyên nhân, diễn biến và kết quả
- Rút ra quy luật, bài học lịch sử
- Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách trần thuật, miêu tả.
c. Dạng bài văn hóa - xã hội
+ Nội dung:
- Số lượng ít nhưng nội dung phong phú.
- Đòi hỏi giáo viên có hiểu biết về nhiều lĩnh vực: triết học, văn học, tư tưởng...để giải thích, minh họa chính xác.
+ Phương pháp:
- Đi sâu vào văn hóa tinh thần của xã hội.
- Giáo viên chỉ rõ mối quan hệ chi phối giữa văn hóa - tư tưởng với sản xuất - kinh tế.
- Giáo viên có hồ sơ, tư liệu phong phú: tranh ảnh, tài liệu, bảng hình....
d. Dạng bài ôn tập, tổng kết
+ Vị trí:
- Xếp sau vài chương, giai đoạn lịch sử cụ thể
- Củng cố và hệ thống hóa các kiến thức đã học.
- Giáo viên tìm phương pháp ôn tập thích hợp với nội dung bài học cụ thể.
+ Chuẩn bị:
- Xác định mục tiệu của bài ôn tập, tổng kết.
- Phối hợp các phương pháp thích hợp.
- Dành thời gian cho học sinh làm việc.
+ Tiến hành:
- Mở đầu: nêu nhiệm vụ, phương pháp của giáo viên - học sinh
- Nội dung:
* Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp.
* Huy động cả lớp tham gia
* Kiến thức bài học được giáo viên kết luận, khái quát, tổng kết nội dung kiến thức ôn tập, kiểm tra, đánh giá.
e. Lịch sử địa phương
+ Nội dung:
- Chọn những nội dung phù hợp với từng địa phương.
- Chọn theo chủ đề: di tích lịch sử, di tích cách mạng, công trình kinh tế, công trình văn hóa - xã hội.
+ Phương pháp:
- Tuân thủ các nguyên tắc như dạy bài học lịch sử.
- Dạy học sinh biết tìm tòi (học sinh chuẩn bị trước theo chủ đề mà giáo viên tự chọn)
- Cho học sinh viết bài thu hoạch.
- Dạy tại bảo tàng lịch sử, dạ hội lịch sử, ngoại khóa.
4. Các nguyên tắc xây dựng chương trình môn lịch sử
a. Đảm bảo tính khoa học:
- Lựa chọn trình bày nhưng đúng đắn và chính xác.
- Kịp thời thay thế kiến thức, phương pháp cũ.
- Vận dụng thành tựu hiện đại, tiên tiến trong triển khai chương trình.
b. Đảm bảo tính cơ bản
- Chọn nội dung cốt lõi, then chốt nhất của bài học.
- Chọn nội dung có ý nghĩa với học sinh giúp các em phát triển vốn hiểu biết, kỹ năng học tập.
- Tạo điều kiện cho các em phát triển tư duy, tự học và vận dụng.
c. Phù hợp với thực tiễn:
- Bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội.
- Điều kiện dạy học.
- Chọn nội dung có ý nghĩa để giảng dạy, phân tích.
* Lưu ý:
- Dạy lịch sử thế giới phải dạy cho học sinh biết bước đi của lịch sử nhân loại và hiểu rõ lịch sử Việt Nam.
- Lịch sử Việt Nam chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình.
- Quan tâm lịch sử Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp, Liên Xô (nay là Liên bang Nga), Mỹ
- Đặc biệt chú ý đến sự kiện lịch sử thế giới liên quan đến lịch sử dân tộc.
- Làm rõ hình thái kinh tế - xã hội tiêu biểu, dành nhiều thời gian cho lịch sử Đông Nam Á, Lào, Campuchia.
- Coi trọng dạy học lịch sử địa phương.
d. Đảm bảo tính thực thi:
- Xác định nội dung chương trình phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng của giáo viên - học sinh, thực tiễn nhà trường.
- Tạo sự mềm dẻo nhất định để điều khiển chương trình phù hợp với nhóm đối tượng học sinh không đồng đều về trình độ nhận thức.
- Khảo sát thực tiễn để điều chỉnh cho phù hợp.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
