Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Hình tượng đặc biệt của loài Rắn trong lịch sử dân tộc

Hình tượng đặc biệt của loài Rắn trong lịch sử dân tộc

(Dân trí)- Trong lịch sử dân tộc, từng có nhiều vị vua, danh nhân lập nên công trạng hoặc tiêu tan sự nghiệp vì liên quan tới rắn. Có thể có nhiều câu chuyện không nằm trong chính sử, nhưng dân gian đã truyền miệng từ nhiều đời và thuộc nằm lòng.

Đau đớn nhất và khiến người ta kinh hãi nhất là truyện rắn báo thù trong vụ án Lệ Chi Viên mà Nguyễn Trãi đã bị tru di tam tộc. Chuyện bắt đầu từ lần cha của Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh cho dọn khu vườn hoang, đêm nằm mơ thấy một người đàn bà và bầy con mọn đến xin ông hãy tạm khoan phát quang bụi rậm thêm ít bữa để họ kịp dời đi. Sáng hôm sau, vì bận việc, ông chưa kịp dặn dò người nhà thì đám học trò đã đánh chết một bầy rắn con và làm bị thương rắn mẹ. Đêm đến, khi ông đang đọc sách, một con rắn bò trên xà nhà nhỏ máu xuống, thấm vào ba trang sách.
Sau đó, tương truyền, rắn đã hóa thành Nguyễn Thị Lộ, một cô bán chiếu gon giỏi tài đối đáp làm thơ cùng Nguyễn Trãi và được ông đưa về phủ làm thiếp. Sau, Nguyễn Thị Lộ đầu độc vua, bị dìm xuống sông và biến thành rắn lội xuống nước đi mất. 3 trang giấy bị thấm máu ứng với ba đời nhà Nguyễn Trãi bị chu di.
 
Loài rắn khiến câu 
chuyện thảm án Lệ Chi Viên của dòng họ Nguyễn Trãi trở nên huyền bí, bi 
thảm.
Loài rắn khiến câu chuyện thảm án Lệ Chi Viên của dòng họ Nguyễn Trãi trở nên huyền bí, bi thảm.
Rắn là loài động vật đáng sợ, nhưng theo dân gian, không ít lần rắn đã giúp người Việt lập công đánh bại kẻ thù. Nhiều truyền thuyết về rắn thần đặc biệt gắn với triều Lý ở thế kỷ 11. Tương truyền, bài thơ thần Nam quốc Sơn hà của Lý Thường Kiệt được ghi lại từ lời của hai vị thần Trương Hống và Trương Hát báo trong giấc mộng. Hai vị này được cho là hóa thân của rắn thần trong đầm lầy Dạ trạch, từng biến thành người để phò giúp Dạ trạch vương Triệu Quang Phục đánh đuổi quân Lương. Sau này, khi Lý Phật Tử cướp ngôi, họ đã tự tử bằng lá ngón. Đền thờ của họ được lập ở ngã ba Xà, phía Nam sông Cầu. Vào thế kỷ thứ 11, Lý Thường Kiệt trong trận chiến ở phòng tuyến sông Như Nguyệt đã may mắn được hai vị thần Trương Hống, Trương Hát về hứa giúp mang thần binh đến quét sạch lũ giặc. Trong giấc mộng của Lý Thường Kiệt, hai thần ngâm bài thơ:
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Tiếng ngâm vừa dứt, hai vị thần hoá thành đôi rắn có mào, trườn về phía sông Cầu. Lý Thường Kiệt liền truyền quân đốt đèn, lấy bút nghiên chép lại bài thơ thần trong trí nhớ. Cùng với giọng đọc hào sảng vang ra từ đền thờ thần Trương Hống - Trương Hát, quân ta đã tràn lên như vũ bão tiêu diệt quân Tống và giành thắng lợi.
 
Lệ Mật có hội làng về
 loài Rắn
Lệ Mật có hội làng về loài Rắn
Ở Hà Nội, ngay tại Thủ Lệ, quận Ba Đình ngày nay có đền thờ thần Linh Lang và ở gần đó cũng có phố Linh Lang, nhưng ít ai biết, ông là ai. Theo những gì còn truyền lại, Linh Lang là hoàng tử thứ tư của vua Lý Thánh Tông, sinh nhằm ngày 13 tháng Chạp năm Giáp Thìn (1064) tại làng ở Trị Chợ Thủ Lệ (Quận Ba Đình ngày nay). Ông cũng có dòng dõi từ rắn và rồng. Tương truyền, một người đàn bà hiếm muộn ở huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây nằm mơ thấy rắn mây đuổi theo mặt trăng, sau đó có mang sinh được một gái đặt tên là Hạo. Lớn lên, nàng Hạo vô cùng xinh đẹp lọt vào mắt xanh vua Lý Thánh Tông. Vào cung hầu vua được vài năm, mẹ mất, nàng Hạo xin vua về làm lễ mai táng và ở lại chăm sóc phần mộ. Một hôm Hạo ra bờ hồ Tây tắm rửa, thì một con giao long lao tới quấn chặt, hương thơm sực nức, rồi có thai tới mười bốn tháng. Vào một hôm trời nổi cuồng phong, hương thơm ngào ngạt, nàng Hạo sinh được một người con trai tướng mạo khôi ngô đặt tên là Hoàng Lang. Sau đó, giặc Trịnh Vĩnh xâm lược, Hoàng Lang vụt lớn xin đi đánh giặc và đại thắng. Đất nước yên ổn, Hoàng Lang hoá rắn bò về hồ Tây.
Cũng trong triều Lý, ở đời vua Lý Thái Tông, nhờ việc lập công giết rắn hung dữ cứu công chúa mà một chàng trai họ Hoàng đã được nhà vua ban cho ân huệ. Đó là lần công chúa đi thuyền rồng cùng với cung nữ trên sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay) thì bất ngờ một con rắn khổng lồ, hung dữ làm gió to sóng cả nổi lên lật thuyền. Một chàng trai họ Hoàng đang thả thuyền ven sông kéo lưới đánh cá, thấy vậy đã dũng cảm lao xuống sông giết thuỷ quái cứu được công chúa. Được ban thưởng, chàng chỉ xin vua cho chàng đưa dân nghèo khai hoang lập ấp mở trại quanh thành Thăng Long để làm ăn sinh sống. Dân làng Lệ Mật nhớ ơn, tôn chàng làm Thành hoàng làng và hàng năm mở hội để tưởng nhớ công đức của người xưa.
 
Nhà bác học Lê Quý 
Đôn
Nhà bác học Lê Quý Đôn
Vào thế kỷ 18, nhà bác học Lê Quý Đôn từng nổi tiếng khi còn là cậu bé Lê Danh Phương với bài thơ Rắn đầu biếng học bằng chữ Nôm. Bài thơ 8 câu 7 chữ đã nhắc đến 8 thứ rắn phổ biến ở Việt Nam (rắn liu điu, rắn hổ lửa, rắn mai gầm, rắn ráo, rắn thằn lằn, rắn hổ trâu, rắn hổ mang). Nhờ có bài thơ này mà cậu bé Lê Quý Đôn thuở nhỏ đã tránh được một trận đòn của cha vì tội biếng học, mải chơi.
Chẳng phải liu điu cũng giống nhà
Rắn đầu biếng học quyết không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da
Từ nay trâu lỗ xin siêng học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia
Bài thơ không chỉ hay về ý nghĩa, mà còn thể hiện phép chơi chữ kỳ tài của Lê Quý Đôn. Và quả nhiên, thần đồng thuở nhỏ sau này đã đỗ đạt, là quan thời Lê trung hưng, là nhà thơ, và là bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến.
Lê Nguyễn (tổng hợp)

 

Rồng rắn lên mây

Rồng rắn lên mây

NGUYỄN DƯ

Nước ta nhiều núi rừng, sông lạch. Lắm thuồng luồng, rắn rết. Rắn bò vào điện thờ, chui vào sách vở, nấp trong quán ăn.
Rồng rắn lên mây
Ảnh: internet
Trẻ con mới tập tễnh cắp sách đến trường đã phải rùng mình làm quen với họ hàng nhà rắn:

Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
Thẹn đèn, hổ lửa, đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm, rát cổ cha,
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba.
Từ nay Châu, Lỗ, xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
(Rắn đầu biếng học, Quốc văn giáo khoa thư)

Rắn đầu biếng học, có bản chép là Trách mình biếng học, tục truyền là của Lê Quý Đôn. Bài thơ ghép được nhiều tên rắn như vậy thì ngoài thần đồng Lê Quý Đôn ra ai mà làm được, phải vậy không thưa các cụ? Lãng Nhân (Giai thoại làng Nho), Bùi Hạnh Cẩn (Lê Quý Đôn), Tạ Quang Phát (Vân đài loại ngữ) và nhiều học giả khác kể rằng:

Năm lên tám, một hôm Lê Quý Đôn bị bố mắng là đồ rắn đầu rắn cổ (hay rắn đầu biếng học), bèn xuất khẩu “phun” ra bài thơ!

Rằng hay thì thật là hay, nhưng nghe không ổn, hôm nay xin bàn! Bàn về Rắn Rắn. Rắn luồn lách và rắn cứng đờ.

Rắn (con rắn) thì cả nước ta ai cũng biết. Tất cả các tự điển tiếng Việt từ xưa đến nay đều có từ Rắn này. Khỏi cần bàn thêm.

Rắn (cứng) mới… có vấn đề.

Từ điển Alexandre de Rhodes (1651) có từ Rắn (cứng). Có cả Rắn ganRắn mày rắn mặt.

Đại Nam quốc âm tự vị
(1895) của Huỳnh Tịnh Của không có Rắn (cứng). Chỉ có Cứng (cứng lòng, cứng cổ, cứng đầu).

Tự điển Génibrel (1898) có Rắn (raide), Rắn mắt (têtu) và Rắn gan, rắn dạ (audacieux).

Việt Nam tự điển (1931) của hội Khai Trí Tiến Đức không có Rắn (cứng) nhưng lại có Dắn (cứng, trái với nát). Ngược lại, Cứng nghĩa là Dắn (không bẻ được, trái với mềm).

Tìm trong tất cả các tự điển xưa không đâu có rắn đầu rắn đầu rắn cổ.

Thực tế thì người miền Bắc thường mắng con là đồ Cứng đầu cứng cổ hay Rắn mày rắn mặt. Người đàng ngoài không nói rắn đầu hay rắn đầu rắn cổ. Khuyên con chăm học chứ không khuyên siêng học. Đọc truyện Đông Chu liệt quốc, kính phục cụ Phan Chu Trinh. Châu, Lỗ hơi xa lạ với họ.

Lê Quý Đôn sinh năm 1726 tại Diên Hà (Thái Bình). Mười bốn tuổi mới rời quê, theo cha lên kinh đô Thăng Long… Rắn đầu biếng học và Châu, Lỗ xin siêng học, chắc chắn không phải là khẩu khí của cậu bé Lê Quý Đôn.

Bố Lê Quý Đôn mắng con rắn đầu rắn cổ (Lãng Nhân, Bùi Hạnh Cẩn) là… mắng bậy!

Rắn của Quốc văn giáo khoa thư bò lung tung như vậy nhưng vẫn còn kỉ luật hơn rắn của nhà Nho rất nhiều.

Sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (thế kỉ 18) có truyện Quan Phục Hầu Nguyễn Trãi:

“Quốc triều Quan Phục hầu Ức Trai tiên sinh người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc. Trong khi Thái Tổ Cao Hoàng Đế bình định thiên hạ, các hiệu lệnh văn thư đều do tay ông thảo cả. Trong bài Bình Ngô đại cáo của ông có câu rằng:

Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm.

Nghĩa là: Đến nỗi đứa trẻ con giảo quyệt như Tuyên Đức nhàm võ không chán.

Ông làm câu ấy, là vì ông oán ghét người Minh nhiễu hại nước ta, nên xỉ vả thẳng đến vua của họ. Người Trung Quốc xem bài Bình Ngô đại cáo phê rằng: “Người nào làm bài này, con cháu sẽ không được toàn vẹn”. Về sau vì việc Thị Lộ ông bị giết chết. Người ta cho lời phê của người Trung Quốc là linh nghiệm.

Ông lấy Nguyễn Thị Lộ làm vợ lẽ. Tục truyền Thị Lộ là yêu tinh rắn hóa thành (…). Sau ông vì nàng mà bị tội”(1).

Vũ Phương Đề là người đầu tiên đem “sấm” Tàu và “yêu tinh rắn” vào thêu dệt cái chết của Nguyễn Trãi. Vũ Phương Đề đã mở đường cho phong trào viết… “lẫn lộn thực hư”. Cái chết bi đát của Nguyễn Trãi, một sự kiện lịch sử có thật, bắt đầu được tô vẽ, thêm bớt.

Đầu thế kỉ 19, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án soạn sách Tang thương ngẫu lục, chép truyện Ông Lê Trãi. Thực thực hư hư. Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi được thần báo mộng, được Tiên Dung mách bảo vào Lam Sơn phò Lê Lợi...

Trước khi hiển đạt, Nguyễn Trãi mở trường dạy học ở làng Nhị Khê. Một hôm ông sai học trò dọn sạch một cái gò để dựng nhà học. Đêm hôm ấy ông nằm mộng thấy một người đàn bà đến xin ông cho ngừng chặt phá, làm cỏ trong 3 ngày để mẹ con bà kịp dời đi nơi khác. Tỉnh dậy, ông ra thăm thì thấy học trò đã làm cỏ xong cái gò. Chúng khoe có đánh cụt đuôi một con rắn và bắt được hai quả trứng.

“Ông cầm hai quả trứng về nuôi giữ. Đêm hôm ấy giong đèn đọc sách, ông thấy một con rắn trắng leo trên xà nhà, rỏ giọt máu xuống sách, ướt chữ “đại” (là đời), vết máu thấm xuống ba tờ giấy. Ông tự hiểu mà rằng:

- Nó sẽ báo oán ta đến ba đời sau.

Trứng rắn nở ra được hai con, một dài một ngắn, ông sai đem thả xuống sông Tô Lịch ở làng bên, nay những rắn ấy làm thần sông.

Khi ông hiển đạt, thường mỗi ngày ở triều đình về, qua phố hàng Chiếu, gặp một người con gái nhan sắc rất đẹp. Hai bên dùng thơ đùa cợt, rồi ông yêu mến, lấy về làm thiếp. Trong năm Thiệu Bình, người ấy thường đi lại vào trong cung cấm, vua Thái Tông cho làm chức Nữ học sĩ. Đến khi vua băng hà, Triều đình đem nàng ra tra hỏi. Nàng nói là do ông xúi. Vì thế nên ông phải tội. Khi bị hành hình người con gái ấy hóa làm con rắn, bò xuống mặt nước mất.

Ông có một người thiếp chạy trốn xuống vùng Sơn Nam, ẩn ở nhà người, rồi sinh ra được một người con trai là Anh Võ (…). Nhớn lên, Anh Võ làm quan ở Đài sảnh, rồi phụng mệnh đi sứ Tàu. Khi qua hồ Động Đình, thấy trên mặt nước xuất hiện một con rắn, rồi sóng gió nổi lên dữ dội, ông khấn xin cho đi xong việc nước, sóng gió mới im. Sau khi đi chầu vua Tàu về, đến hồ Động Đình, thuyền bị úp sấp mà chết đuối, được truy tặng Thái Sư Sùng Quốc Công”(2).

Truyện Ông Lê Trãi của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án được dàn dựng công phu, có nhiều tình tiết hấp dẫn. Truyện được nhiều tác giả đời sau, trong đó có cả người Pháp, tiếp tục thêm mắm thêm muối, “xào xáo” lại.

Năm 1886, Landes kể truyện Ông Nguyễn Trại (Nguyễn Trãi được Tây gọi là Nguyễn Trại). Xin tạm dịch:

“Nguyễn Trại là ông tổ thứ nhất của Gia Long. Ông làm quan kiểm lâm thời Lê. Một hôm ông dẫn lính vào rừng đốn cây, gặp một tổ rắn, đến đêm nằm mộng thấy một người đàn bà (…).

Sau khi bọn lính giết con rắn cái, trên đường về ông gặp một cô bé rất xinh đang đứng khóc. Cô bé lúc này đã bị hồn con rắn cái yêu tinh kia nhập vào. Nguyễn Trại động lòng mang cô bé về nuôi. Lớn lên cô được tuyển vào cung vua.

Có lần Hoàng thái hậu bị đau mắt, không lang y nào chữa nổi. Cô gái xin chữa. Cô chỉ liếm nhẹ vào mí mắt, Hoàng thái hậu bèn khỏi.

Một hôm nhà vua bị đau lưỡi, cho vời cô gái vào chữa. Cô gái xin nhà vua lè lưỡi cho cô xem. Vua lè lưỡi. Cô gái bỗng nhe răng cắn lưỡi vua. Vua chết tức khắc. Đình thần ra lệnh giết cô gái. Nguyễn Trại và người lính hầu của ông bị xử tội phải chôn sống.

Vợ người lính biết tin, lên đường đi thăm chồng. Nhưng, lúc bà đến được cửa ngục thì chồng đã bị hành quyết.

Nguyễn Trại nói với vợ người lính: “Chồng nàng chết vì ta. Ta bị oan, cũng sẽ chết. Chuyện đã rồi! Nàng hãy chìa tay ra để ta lưu dấu tích lại cho hậu thế”. Người đàn bà chìa tay ra, Nguyễn Trại liền nhổ nước bọt vào lòng bàn tay.

Trở về nhà, người đàn bà mang thai. Bà sinh được một đứa con trai nối dõi dòng họ Nguyễn Trại”.

Landes chú thích: Có người kể rằng Nguyễn Trại từ chối những lời dụ dỗ của con yêu tinh nhập vào cô bé. Thậm chí ông còn đánh cô bé. Con yêu tinh trả thù bằng cách nhập vào con gái của ông. Lớn lên, con gái của Nguyễn Trại được tuyển vào cung vua, trở thành hoàng hậu. Về sau, hoàng hậu phạm tội giết vua. Dòng họ Nguyễn Trại bị giết hết. Lúc sắp chết Nguyễn Trại được vợ một người lính xin được tiếp tục lưu truyền dòng dõi của ông”(3).

Năm 1898, Nordemann kể Sự tích ông Nguyễn Trãi bằng chữ quốc ngữ. Nordemann cũng nói tên Trại bị trại thành Trãi!

“Đời vua Thái Tổ, nhà Hậu Lê, ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội, có một người tên là Nguyễn Trại (tục gọi là Nguyễn Trãi)… Nguyễn Trại nằm mộng thấy một người đàn bà xin cứu cho “mười ba mẹ con tôi”. Sau đó, người nhà dọn vườn chém con rắn chửa mười hai trứng v.v.

Truyện của Nordemann đại khái cũng giống truyện của Landes. Nhưng Nordemann đưa ra một chi tiết cần được kiểm chứng: “Nghe có người nói rằng ông Nguyễn Hữu Độ, làm kinh lược Bắc Kỳ, tước là Vĩnh Lại Quận Công, mới mất năm Đồng Khánh thứ ba, cũng là dòng dõi ông (Nguyễn Trại) ấy”(4).

Năm 1908, Dumoutier lại đưa thêm vài điều mới vào truyện Vua Lê Lợi và con rắn hồ Động Đình. Xin dịch tóm tắt:

“Ông Phi Khanh dọn vườn sửa soạn đất làm nhà. Ông nằm mộng thấy một người đàn bà xin ông tha chết cho ba mẹ con v.v. Phi Khanh đọc sách, bị con rắn trên xà ngang nhỏ một giọt máu xuống sách, thấm ướt 3 tờ giấy…

Con trai Nguyễn Trãi tên là Nguyen Dam được vua Lê Thánh Tôn cử đi sứ sang Tàu. Thuyền đang đi trong hồ Động Đình thì một con rắn rất lớn nổi lên vùng vẫy gây sóng gió. Nguyen Dam xin được đi bình yên, lúc trở về sẽ nộp mình.

Đi sứ xong, lúc trở về Nguyen Dam lại gặp rắn. Ông viết 2 bức thư gửi vua Tàu và vua ta để giãi bày hoàn cảnh, rồi nhảy xuống sông. Con rắn cắn ông, lôi xuống đáy hồ. Vua Tàu được tin, bèn sai phù thủy dùng bùa bắt con rắn. Mổ bụng moi xác Nguyen Dam, đem chôn cất. Thân rắn bị chặt làm 3 đoạn, vứt xuống hồ. Trong hồ bèn nổi lên 3 hòn đảo. Vua Tàu phong Nguyen Dam làm thần hồ Động Đình”(5).

Dumoutier mời Bố của Nguyễn Trãi nhập cuộc. Nguyen Dam (không biết tên Việt là gì) có liên hệ gì với Anh Võ (hay Anh Vũ) không?

Ba tác giả Pháp đưa ra nhiều tên mới lạ, không hiểu nhằm mục đích gì?

Tại sao Nguyễn Trãi bị đổi thành Nguyễn Trại?

Trường hợp dấu ngã đổi thành dấu nặng chúng ta còn thấy trong một văn bản khác. Địa danh Vỹ, Tổng Lê, xã Lê thượng, Lê hạ của thời Lê Quý Đôn(6) đã trở thành thôn Vỹ Dạ, làng Dạ Lê không biết từ lúc nào.

Rất có thể mấy ông Tây đã được mấy ông thông ngôn trọ trẹ chữ quốc ngữ “gà” cho chăng?

Truyện Ông Lê Trãi của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án được Phan Kế Bính đổi tên thành Nguyễn Trãi, đưa vào sách Nam Hải dị nhân.

Phan Kế Bính cho biết “vua Thái Tôn nhân đi chơi qua tỉnh Bắc, vào chơi trại Tiêu viên, Nguyễn Trãi đi vắng, có nàng hầu là Thị Lộ, ở nhà pha chè hầu vua, chiều hôm ấy vua mất…(7).

Ngô Sĩ Liên chép là vua về đến Lệ chi viên (vườn Vải). Phan Kế Bính chép là trại Tiêu viên (vườn Chuối). Bao giờ thì đến lượt vườn Chà Là, vườn Sa Bô Chê?

Nguyễn Đổng Chi đổi hẳn tên truyện thành Rắn báo oán. Ông ngờ rằng Rắn báo oán của ta chịu ảnh hưởng truyện Phương Chính Học và truyện Ngô Trân của Tàu.

“(Rắn báo oán) là câu chuyện do tầng lớp Nho sĩ gần gũi giai cấp thống trị bịa đặt ra nhằm huyền thoại hóa tấn thảm kịch của người anh hùng Nguyễn Trãi, xóa mờ sự thật về tấn thảm kịch ấy, hòng gỡ tội cho những kẻ đã gây ra cái chết oan khốc của ông và cả họ ông”(8).

Thưa cụ Nguyễn Trãi, vàng thau lẫn lộn của thời xưa chưa phiền bằng “vàng ta pha vàng tây” của đời sau đâu ạ! Cụ sống khôn thác thiêng, xin cụ… xí xóa cho!

Thuở bé tôi thích nghe chuyện thần thánh, ma quỷ. Cho đến ngày bị thầy mắng Nói có sách, mách có chứng, bị cụ Mạnh bắt gặm cục xương Tận tín thư bất như vô thư mới tỉnh người. Từ đó hết thích truyện “vớ vẩn”.

Dân ta có truyền thống kính trọng các vị anh hùng dân tộc. Thần thánh, ma quỷ chỉ nên kính nhi viễn chi, xin các sử gia đừng nhập nhằng đưa vào sử.

Vẽ rắn thêm chân nên giao cho nghệ nhân dân gian, những người như Thạch Sanh.

Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, kết nghĩa với Lý Thông. Trong vùng có con yêu tinh:

Nó là rắn lớn hiện hình,
Nhờ hơi nhật nguyệt thành tinh hại người


Nhà vua treo giải thưởng tìm người giết con Xà tinh. Thạch Sanh vác búa đi giết được Xà tinh. Nhưng bị Lý Thông lập mưu cướp công. Một hôm, công chúa bị Mãng Xà Vương “tam đầu cửu vĩ (ba đầu chín đuôi) ai nào chẳng ghê” hóa thành Đại Bàng bắt mang về hang. Thạch Sanh giết Mãng Xà vương, cứu được công chúa. Nhưng lại bị Lý Thông cướp công, lấp cửa nhốt dưới hang (…). Thạch Sanh còn gặp nhiều lận đận. Còn phải giết Trăn Tinh, đánh hồ tinh.

Cuối cùng, Lý Thông cũng bị trừng trị. Thạch Sanh dẹp được giặc, được vua gả công chúa, truyền ngôi.

của Tàu là rắn của ta. Mãng là con trăn, một giống rắn lớn. Trăn tinh không biết có họ hàng gì với Chằn tinh không? Chằn cũng là yêu quái (Huỳnh Tịnh Của).

Bên cạnh mấy con rắn có chân làm trò mua vui, vô thưởng vô phạt, ta còn có mấy con rắn giúp các ông đồng bà cốt, pháp sư phù thủy kiếm ra tiền.

Phụ thần Bạch Xà thì dùng một con rắn bằng rơm rồi phù phép vào con rắn để con rắn bò quanh nhà diệt tà ma. Con rắn thường bò được là nhờ trong ruột có bộ phận cử động bằng máy, nhưng những người quá tin cho là thầy phù thủy cao tay có phép lạ”(9).

“Tại các điện thờ chư vị, nhất là điện thờ các ông Hoàng, bà Chúa Thượng Ngàn, ta thường thấy ở hai bên hàng sà kèo có cặp rắn trắng rất lớn mào đỏ, mà các đệ tử gọi là ngựa ngài, tức là cặp rắn là cặp ngựa để ngài cưỡi.

Các đệ tử con hương thường thuật lại tại các đền thờ ông Hoàng bà Chúa ở đường rừng, hay có những cặp rắn có mào thật bò ra quấn lấy kèo lấy cột ở trong đền, khác hẳn với các đền, điện miền xuôi, cặp rắn chỉ là đồ mã”.

“Nói về rắn, phải kể tới loại rắn biển, tức là con đẻn cũng được dân ta ở ven miền duyên hải kính sợ tôn thờ và gọi bằng Ông (...).

Cũng là đẻn, phải kể đến bà Lạch tức là bà Chằng lạch bà Mộc, được gọi là Mộc trụ thần xà”(10).

Đẻn là loại rắn biển có nhiều sắc, nó cắn nhằm ai thì bắt ngủ mê mà chết. Đẻn cườm là đẻn có hoa lúm đúm, chính là đẻn độc hơn.

Thành ngữ Xông khói đẻn nghĩa là đốt đẻn khô làm cho chủ nhà mắc khói nó mà ngủ mê, ấy là nghề kẻ trộm”. (Huỳnh Tịnh Của).

Có âm thì phải có dương. Có bà thì phải có ông.

“Cấu trúc không gian trong các điện thờ Mẫu, vị trí chư vị thần thánh được bài trí sắp xếp theo ba tầng: tầng trên không, tầng ngang trên ban, bệ thờ và tầng trệt. Đây là một điều rất riêng vì không có tôn giáo tín ngưỡng nào bài trí như vậy. Ở tầng không là sự hiện diện của đôi mãng xà (còn gọi là Ông Lốt) tượng trưng cho quan lớn Tuần Tranh. Một con màu trắng, một con màu sẫm quấn trên xà ngang phía trái, bên trên ban thờ”(11).

Quan lớn tuần Tranh là ai?

“Ở huyện Vĩnh Lại (Hải Dương), về đời Trần có hai vợ chồng nghèo, không con cái. Một hôm người chồng làm vườn bắt được hai quả trứng. Trứng nở ra hai con rắn. Người vợ muốn giết. Người chồng bảo để nuôi. Rắn một ngày một lớn. Vợ chồng phải đem ném xuống sông. Nước sông bỗng xoáy lại thành vực.

Một hôm có nàng công chúa qua sông, bị nước xoáy không đi được. Người vợ ném cơm xuống sông, khấn vái. Sông lặng sóng ngay. Dân sở tại lập miếu thờ thần Thuồng Luồng của sông.

Đến đời Trần Minh Tôn, có vợ quan phủ Ninh Giang Trịnh Thường Quân là Dương Thị bị mất tích. Thường Quân phải nhờ Bạch Long Hầu dắt xuống Thủy Cung tìm vợ.

Vợ chồng gặp lại nhau. Dương Thị kể cho chồng nghe chuyện bị hoàng tử thứ năm của Thủy Thần Long Vương bắt về làm vợ. Thường Quân đem chuyện khiếu nại với Thủy Thần.

Thủy thần xử cho vợ chồng Trịnh Thường Quân được đoàn tụ. Phạt hoàng tử thứ năm, đày ra sông Tranh cho được đới công chuộc tội.

Thủy thần vừa tuyên án xong thì trên trần gian miếu thần Thuồng Luồng bị đổ nát. Người ta thấy một con rắn dài hơn mười trượng, vảy biếc mào đỏ nổi trên mặt nước đi về phía sông Tranh, hơn trăm rắn nhỏ theo sau.

Hoàng tử thứ năm hiển linh tại sông Tranh. Dân gian lập đền thờ, gọi là đền thờ Quan lớn tuần Tranh. Hàng năm mở hội. Các bà các cô lên đồng, hầu bóng rất đông”(12).

Ông Lốt là… cái gì?

Lốt nghĩa rộng là vị thần đội lốt rắn thường gọi là ông Lốt. Nghĩa bóng là mượn bóng mượn tiếng đi doạ nạt lừa đảo. Thí dụ: đội lốt sư đi khuyến giáo. (Từ điển Khai Trí Tiến Đức).

Lốt là con rắn huyền thoại, một loài rắn nước mà người ta thường mô tả là có 3 cái đầu người và 9 tấm vẩy ở cuối đuôi. Nó dùng để cho thủy thần cưỡi, theo đạo đồng cốt (Nordemann).

Ông Lốt là “ngựa” của ông Hoàng ba, hoàng tử thứ năm, quan lớn tuần Tranh. Lốt sống dưới Thủy phủ. Lốt cũng có ba đầu chín đuôi, giống Mãng Xà Vương của truyện Thạch Sanh.

Nhìn sang vườn nhà hàng xóm cũng thấy rắn. Rắn thật!

Liễu Tôn Nguyên kể truyện người bắt rắn:

“Ở Vĩnh Châu có giống rắn lạ, thân đen, vằn trắng chạm vào cây cỏ, thì cây cỏ chết, cắn phải người, thì không thuốc gì chữa nổi. Song mà bắt được giống rắn ấy dùng làm thuốc để chữa những bệnh như bệnh trúng phong, bệnh co quắp chân tay, lại sát được cả trùng.

Cho nên nhà vua có lệ bắt dân gian mỗi năm phải hiến hai con rắn ấy để dành. Ai bắt được rắn thì được trừ thuế ruộng.

Người châu Vĩnh tranh nhau mà làm nghề bắt rắn. Có nhà họ Tương cũng làm nghề ấy đã được ba đời. Hỏi ra thì nhà họ Tương nói:

- Ông tôi chết về nghề bắt rắn, cha tôi cũng chết về nghề bắt rắn. Tôi nối nghề ông cha tôi mới có mười hai năm, cũng đã mấy lần suýt chết.

Người ấy nói, vẻ mặt rất buồn rầu.

Ta thương và hỏi rằng:

- Nhà ngươi có thật cho nghề bắt rắn là khổ không? Ta sẽ nói với quan trên cho nhà ngươi bỏ nghề ấy mà cứ nộp thuế ruộng như thường. Nhà ngươi tính thế nào?

Người họ Tương vừa khóc, vừa nói:

- Ông thương tôi, muốn cho tôi sống, thì ông để cho tôi làm nghề bắt rắn còn hơn. Nếu tôi không làm nghề này thì tôi khốn khổ đã lâu rồi. Nhà tôi ba đời ở làng kể đã hơn sáu mươi năm, cách sinh nhai trong làng mỗi ngày một quẫn bách. Người làng phải rút hết cả lợi hoa màu, vét hết cả của cải trong nhà để mà nộp thuế hết, thậm chí bỏ làng, bỏ xóm, đói khát, trôi giạt, chết đường, chết chợ kể bao nhiêu người. Những người vào chạc tuổi ông tôi mười nhà không còn một. Những người vào chạc tuổi cha tôi, mười nhà còn độ hai, ba. Những người vào chạc tuổi tôi mười nhà còn độ bốn, năm. Không chết chóc thì lưu lạc cả… Tôi nhờ nghề bắt rắn mà còn đến bây giờ. Những quan lại tàn ác về làm thuế làng tôi, xúc hết đầu làng, cuối xóm vơ vét đến cả con gà, con chó, dân gian phải hãi hùng kinh sợ. Những lúc ấy, về phần tôi, tôi được yên lặng, trông trong giỏ con rắn vẫn còn là tôi được ăn no, ngủ yên. Tôi làm nghề bắt rắn một năm sợ chết chỉ có hai lần, ngoài ra là vui vẻ, không phải lo thuế má, không đến nỗi như người làng xóm tôi hết ngày này, sang tháng khác khốn khổ về quan lại tàn ác. Giá tôi có chết về nghề bắt rắn, ví với người làng xóm tôi cũng đã là chậm, đâu dám cho là rắn độc mà xin thôi.

Ta nghe câu chuyện, lại càng thương lắm. Xưa Đức Khổng nói: “Chính sách hà khắc độc hơn hổ dữ” ta vẫn ngờ, bây giờ xem chuyện họ Tương mới cho là thật. Than ôi! cái độc quan lại tàn ác làm thuế ở dân gian dữ hơn con rắn độc, cho nên nói ra đây để người xem xét phong tục thấu được tình cảnh đau khổ của dân!”(13).

Kinh Thi có câu: “Duy hủy duy xà nữ tử chi tường; duy hùng duy bi nam tử chi tường”. (Mộng thấy rắn là điềm sinh con gái, mộng thấy gấu là điềm sinh con trai).

Có tin đồn là bà ngoại Khổng Tử một hôm nằm mộng thấy rắn. Mẹ Khổng Tử nằm mộng thấy một con gấu to tướng.

Ta bắt chước Tàu, cũng nằm mộng thấy rắn, thấy gấu:

Điềm lành hùng hủy hiện thân
Kể đã ba đời sinh được phu nhân

(Thiên Nam ngữ lục)(14).

Nói chung, loài người không thích rắn. Thậm chí sợ rắn.

Sợ từ ngày bà Eva bị Rắn dụ dỗ ăn trái cấm. Bà mời ông Ađam cùng ăn. Thượng đế hay tin bèn nổi giận, đuổi ông bà ra khỏi vườn Địa Đàng. Phạt ông bà và con cháu đời sau phải sống… như chúng ta bây giờ!

Rắn trở thành kẻ thù của loài người từ ngày đó.

Người phương Tây gọi những kẻ hay nói xấu, chụp mũ người khác là bọn rắn độc (langue de serpent, langue de vipère). Cứu giúp kẻ vô ơn, sẵn sàng quay lại hại chính mình là ấp rắn trong ngực (Réchauffer un serpent dans son sein).

Ta gọi bọn khua môi múa mép nói rắn trong lỗ bò ra.

Dân ta căm thù, nguyền rủa bọn cõng rắn cắn gà nhà. Nói đúng hơn là bọn bắt rắn về cắn gà nhà (Léopold Cadière).

Tuy nhiên, rắn phương Tây cũng có khi được cưng. Ngày nay chúng ta thấy nhan nhản rắn trên bảng hiệu của bác sĩ, tiệm thuốc tây. Ồ, lạ nhỉ? Vì sao vậy?

Thần thoại Hi Lạp suy tôn Asclépios là ông thần đứng đầu ngành y. Ông có tài chữa lành cho người mù, người tàn tật. Ông cải tử hoàn sinh cho Glaucos, Tyndare, Hippolyte. Tâm nguyện của Asclépios là cứu nhân độ thế… hoàn toàn miễn phí.

Không ngờ, việc làm của Asclépios đã gây bất mãn cho vị thần cai quản Địa ngục Hadès. Hadès lo ngại… thiếu dân để hành hạ. Hadès khiếu nại với Zeus. Zeus mủi lòng trước cảnh đất rộng người thưa của Địa ngục, bèn tung sét đánh chết Asclépios.

Sinh thời, Asclépios rất thích rắn vì rắn là con vật biết thay da đổi thịt, biết đổi mới hàng năm. Rắn lột xác giống như bệnh tật được chữa khỏi, sức khỏe được phục hồi.

Lúc đi hành nghề, Asclépios bao giờ cũng mang theo chiếc gậy có chạm trổ một con rắn. Vì vậy mà các bác sĩ, dược sĩ đã chọn Rắn quấn gậy làm biểu tượng của ngành nghề và mời rắn bò lên bảng hiệu.

Rắn của người lớn rắc rối quá.

Rốt cuộc chỉ có Rồng rắn của trẻ con là dễ thương nhất!

Lũ trẻ thật là… rắn gan (de Rhodes, Génibrel). Dám để cho rắn chơi trèo với rồng. Chúng mày cho dân đen được dòm mặt vua à? Không coi tôn ti trật tự ra cái gì.

Trò chơi Rồng rắn chia làm hai phe. Ít đứa chơi (chuyện khó tin!) thì chọn một đứa làm thầy thuốc, đám còn lại ôm nhau làm rồng rắn. Thầy thuốc phải đuổi bắt cái đuôi rồng rắn. Nếu có nhiều đứa chơi thì chia làm hai phe, mỗi phe là một rồng rắn. Đứa đứng đầu vừa phải bảo vệ, che chắn cho cái đuôi khỏi bị đối phương bắt, vừa phải tìm cách bắt cái đuôi của đối phương. Vào trò, rồng rắn uốn éo hát:

Rồng rắn lên mây
Có cây núc nác
Có nhà điểm binh
- Thầy thuốc có nhà không?
- Thầy thuốc không có nhà
(…)
- Xin khúc đuôi
- Tha hồ mà đuổi.


Thế là tha hồ đuổi bắt nhau. Vui nhộn, ồn ào. Người lớn bực mình thì mặc kệ người lớn!

Gần đây bên Âu Tây nảy sinh mốt chơi rắn cảnh. Đẹp… dễ sợ! Nhưng chưa đáng sợ bằng mốt ẩm thực đầy “tâm huyết” của đại gia nước ta.

Hôm nay mời ông món lạ. Ít hiệu có.

Khách chuyện trò mới hết nửa đĩa lạc rang thì từ nhà bếp một “thích khách” mặt lạnh như tiền bước ra. Tay cầm dao, nách kẹp chiếc gậy nhỏ. Một thằng tiểu đồng xách giỏ rắn theo sau. Thầy trò đến trước mặt khách ẩm thực chờ lệnh. Ông khách quen của hiệu liếc nhìn giỏ rắn rồi hất hàm, chỉ tay. “Thích khách” liền thò chiếc gậy gắn móc sắt vào giỏ, khoắng một vòng, lôi con rắn được chọn ra ngoài. Tay còn lại múa một đường, cổ rắn bị kẹp chặt. Dao lòe sáng. Tiết rắn phọt ra. Tiểu đồng nhanh tay giơ tách hứng. Không một giọt rơi xuống mặt bàn. Thêm một đường dao. Tim rắn bị móc ra, thả vào tách. Tiểu đồng mở chai Quốc Lủi, rót đầy tách, đặt trước mặt khách.

Khách mỉm cười, gật đầu ra hiệu cho “thích khách” biểu diễn thêm một lần nữa…

Tâm, huyết đã sẵn sàng. Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu? (Nguyễn Bá Trác). Rót vào họng chứ còn rót vào đâu nữa? Định rót vào túi à? Lộc trời cho, ta cứ nốc.

Làng Lệ Mật “có hàng trăm hộ nuôi rắn, hàng chục nhà hàng đặc sản rắn và có nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật về rắn được tổ chức rầm rộ hàng năm. Lệ Mật được đánh giá là trung tâm giao dịch về rắn của toàn miền Bắc, đồng thời là làng rắn nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới”(15).

Rắn được giới ẩm thực khen là loài có tâm, huyết. Bổ thận, cường dương. Bảy món khề khà.

Lyon, 12/2012
N.D
(SH288/02-13)



........................................................
(1) Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký, bản dịch của Đoàn Thăng, Nxb. Văn Học, 2001, tr. 275.
(2) Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Tang thương ngẫu lục, bản dịch của Đạm Nguyên, 1962, Đại Nam tái bản, tr. 112-128.
(3) A. Landes, Contes et Légendes annamites, Imprimerie Coloniale, 1886, tr. 63.
(4) Edmond Nordemann, Quảng tập viêm văn (1898), Nguyễn Bá Mão biên dịch và chú thích bổ sung, Nxb. Hội Nhà văn, 2006, tr. 26-28.
(5)  Gustave Dumoutier, Essais sur les Tonkinois, IDEO, 1908, tr. 300-304.
(6) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của nhóm Đỗ Mộng Khương, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa học Xã hội, 1977, tr. 79.
(7) Phan Kế Bính, Nam Hải dị nhân liệt truyện (1912), Mặc Lâm tái bản, 1969, tr.33-39.
(8)  Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, Nxb. Khoa học Xã hội, 1975, tr. 451-461.
(9) Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, Nam Chi tùng thư, 1965, Xuân Thu tái bản, tr. 211.
(10) Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, quyển hạ, tr. 260 -261.
(11) Bùi Xuân Mỹ, Tục thờ cúng của người Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2001, tr. 181.
(12) Nguyên Tử Năng, Thần thoại Việt Nam, 1966, Zieleks tái bản 1980, tr. 96-104.
(13) Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, quyển 2, Thọ Xuân, 1962, tr. 133-135.
(14) Đinh Gia Khánh chủ biên, Điển cố văn học, Nxb. Khoa học Xã hội, 1977, tr. 193.
(15) Quốc Văn, Làng nghề Hà Nội, Nxb. Thanh Niên, 2010, tr. 127.
 

Rắn thiêng xứ Ấn

Rắn thiêng xứ Ấn

LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG

Ấn Độ là đất nước được biết đến như nơi ngự trị của rắn, ở đây rắn là linh vật được sùng kính thứ hai sau loài bò (Nandin). Bộ kinh Veda đã nhiều lần nói đến biểu tượng tâm linh này.
Rắn thiêng xứ Ấn
Rắn nổi bật bởi sự di chuyển bằng cách trườn nhanh, đặc điểm đáng sợ của da vảy, đôi mắt thôi miên và cú cắn độc. Rắn trở thành nỗi sợ hãi của nhiều người và cũng là lí do để rắn thường là nhân vật chính trong nhiều huyền thoại và truyền thuyết. Chắc hẳn, rắn được thờ cúng với hy vọng rằng sự sùng kính sẽ làm cho con người được bảo vệ và không bị làm hại bởi rắn. Thờ cúng rắn trở thành một phần quan trọng trong đời sống tâm linh Ấn Độ, đặc biệt là ở khu vực nam Ấn.

Xứ Ấn quan niệm về rắn

Trong tiếng Phạn, rắn được gọi là sarpa, nghĩa là “sinh vật bò trườn” hay còn gọi là Naga hay cobra. Trong tiếng Hindu, rắn được gọi là Sanp. Người Ấn gọi rắn là Naga thường được miêu tả như là những con rắn hổ mang khổng lồ với những cái mang luôn bành ra khiêu khích, hay hình ảnh đầu người mình rắn rất kì dị. Chúng được xem là chúa tể các loài rắn có khả năng hóa thân thành bất kỳ người nào chúng muốn. Rắn sống nhiều ở Patala loka và thủ phủ của chúng, thành phố Bhogvati, nơi được mệnh danh là giàu nhất và đẹp nhất hành tinh.

Có rất nhiều niềm tin khác nhau về nguồn gốc của loài rắn. Niềm tin phổ biến nhất, theo các câu chuyện cổ tích Ấn Độ, rắn là con cháu của Kashyapa và Kadru. Văn bản Brahmanda Purana nói rằng, rắn là sinh linh được tạo ra từ nước, trong khi đó Linga Purana khẳng định rằng rắn được tạo ra từ những giọt nước mắt của thần sáng tạo Brahma, sau khi vị thần này nhận ra rằng ông không thể chỉ tạo ra duy nhất mỗi mình thần Hủy diệt Shiva.

Những thần rắn huyền thoại

Trong thần thoại Ấn Độ, có 8 vị thần rắn ưu việt nhất là Shesha, Adisesha hay còn gọi là Seshnaga, Ananta, Vasuki, Manasadevi, Astika, Kaliya, Padmaka hay còn gọi là Padmanabha và Kulika.

1. Shesha, Adisesha hay còn gọi là Seshnaga có nghĩa là “phần còn lại”, được người ta tin là được sinh ra từ những gì còn sót lại sau khi vũ trụ và con người được tạo ra. Seshnaga được tôn kính như là vua của loài rắn, nó có đến 1000 cái đầu tạo thành một cái đầu rắn khổng lồ. Người ta tin rằng Seshnaga phun ra ngọn lửa độc phá hủy tất cả các tạo vật vào cuối mỗi kiếp và được thờ cúng như là hiện thân của Vishnu.

2. Ananta, có nghĩa là “vô tận”, là một con rắn rất dài, vây quanh trái đất và do đó tượng trưng cho sự vĩnh cửu. Với màu xanh đen, Ananta cũng được tôn kính như là hiện thân của Vishnu.

3. Vasuki, có nghĩa là sự thiêng liêng ngự trị, có màu xanh lá, bảy đầu của vị vua rắn được ví như là sợi dây thừng quấn quanh núi Mandara. Vasuki cũng là biểu tượng hoàng gia giống như Shasha và Takshaka.

4. Manasadevi, nữ hoàng của các loài rắn, là em gái của Vasuki. Nhân vật này được cho là có sức mạnh đặc biệt để chống lại nọc độc rắn và bảo vệ những con người bị rắn cắn trong suốt Chaturmasya Takshaka.

5. Astika, một nửa Bà-la-môn và một nửa Naga. Câu chuyện này có lẽ là một chuyện thần thoại của Aryan - Dasa xung đột và hội nhập.

6. Kaliya, con quỷ có 5 cái đầu rắn, sống ở những đoạn sâu của sông Yamuna, được tin là đã gặp gỡ với Krishna và bạn bè trong thời thơ ấu của mình. Cuối cùng, Krishna nhảy múa điên cuồng, phớt lờ cả chính mình, nhưng lại dành cuộc đời tuân theo lệnh của những bà vợ.

7. Padmaka hoặc Padmanabha là con rắn năm đầu, màu xanh lá, bảo vệ vùng đất phía nam.

8. Kulika, không được biết đến nhiều, có màu nâu sẫm, với hình trăng lưỡi liềm trên đầu.

Mỗi vua rắn được thờ cúng vào một ngày riêng trong năm. Ngoài thần Bảo tồn Vishnu, rắn còn có mối liên quan đến thần Hủy diệt Shiva. Ngài khoác một con rắn trước ngực, như sợi dây thiêng liêng của ngài. Những con rắn cuộn tròn còn tô điểm mái tóc, cổ và hai cánh tay. Vì lý do này, rắn được thờ cúng rộng rãi ở khắp nơi và đặc biệt là ở nam Ấn Độ, nơi mà Shiva được tôn thờ phổ biến hơn Vishnu.



Rắn ngự trị khắp Ấn Độ

Con rắn là đối tượng tôn thờ cực kỳ phổ biến ở miền nam Ấn Độ, nơi mà chúng được tôn thờ như là nguồn gốc của sự giàu có, hạnh phúc và danh vọng. Người ta tin rằng khi chúng đang tức giận vì sự thiếu tôn trọng, chúng sẽ nguyền rủa con người, dẫn đến bệnh tật, cái chết và sự mất mát của cải. Do đó, hầu hết các gia đình đều có đền thờ rắn ngay trong góc vườn, thường đặt dưới một gốc cây, gọi là cây Neem. Họ thường thờ hòn đá có khắc một con rắn trên đó. Những hòn đá tương tự có thể được tìm thấy dưới một cây lớn ở khu vực chung của làng, hoặc trong các đền thờ.

Trong thực tế, rắn được coi như là một phần gắn liền với tài sản, ví như những hành động chuyển giao đất đặc biệt đề cập đến con rắn của gia đình như là một phần của tài sản được bán. Rắn cũng được tin là linh hồn của người chết. Vì vậy, chúng được coi là tổ tiên đáng kính và được sự quan tâm đặc biệt trong buổi lễ Shradha. Nếu một người chết vì rắn cắn, người đó sẽ bị coi là có một cái chết không tự nhiên và không được cứu rỗi. Vì vậy, lễ Shradha được cử hành cho người đó ở Hatakeshvara thì mới được độ trì và sau đó người ta mới tin rằng người chết đó đã trở thành một linh hồn được cứu rỗi.

Về thời gian, ngày thứ năm của bất kỳ tháng âm lịch nào cũng được coi là tốt lành để thờ cúng rắn. Theo Bhav- ishya Purana, Kadru nguyền rủa những cậu rắn con của bà sẽ bị hủy hoại bởi lửa vì không tuân lệnh. Tuy nhiên Brahma đã giảm nhẹ những lời nguyền và đưa họ đến sống ở âm ty. Điều này xảy ra vào ngày thứ năm của tháng. Kể từ đó, cuộc sống của những cậu rắn con đã được tự do vào ngày thứ năm của tháng, ngày này được coi là tốt lành để thờ cúng rắn.

Ở Ấn Độ, lễ hội rắn được tổ chức tại các thời điểm khác nhau trong năm, tùy thuộc vào phong tục của từng địa phương. Các đặc điểm chính của việc thờ cúng rắn là tắm các tượng thần rắn bằng sữa, hoặc thỉnh thoảng là bằng máu. Người ta còn cúng sữa cho các tượng thần, hoặc đổ sữa vào các hang rắn. Chẳng hạn, lễ Nagapanchami, vào ngày thứ năm của lễ hội Craven, là một lễ hội rắn quan trọng. Vào ngày này, rắn được thờ để mang lại tri thức, sự giàu có và danh tiếng. Rắn được vẽ lên các tấm gỗ là hỗn hợp bột gỗ đàn hương đỏ. Những hình vẽ này được thờ cúng, dâng cúng sữa cho các thần rắn. Manasadevi cũng được thờ vào ngày này. Hương trầm, hoa, sữa, và bơ sữa trâu lỏng được dâng cúng cho vị thần, và những người thờ cúng ăn lá cây Neem, như là một thứ bùa bảo vệ khỏi bị rắn cắn.

Đặc biệt, một số thần rắn được cho là có sức mạnh để tăng cường năng lượng tính dục. Người dân Ấn tin rằng, các vị thần rắn có thể ban tặng đứa con trai cho những người phụ nữ thờ cúng tượng thần trong ngày thứ năm của Shravan.

Thờ phụng rắn vẫn tiếp tục được duy trì ở Ấn Độ và một số bộ phim đã rất thành công khi khai thác chủ đề hấp dẫn này với nỗi sợ hãi, sự ngưỡng vọng và mong muốn thực hiện những điều kỳ diệu. Đây là tín ngưỡng vô cùng thiêng liêng của người dân xứ Ấn, đồng thời đã góp phần bảo vệ sinh vật nhiều giá trị thực tế và tâm linh như loài rắn.

L.V.T.G
(SH288/02-13)

Rắn Đại Nội, sự thật và huyền thoại

Rắn Đại Nội, sự thật và huyền thoại

TRỌNG BÌNH

Rắn là loài vật xuất hiện sớm và có sức ám ảnh mạnh mẽ trong hầu hết các nền văn hóa của nhân loại. Rất nhiều nơi trên thế giới có tín ngưỡng thờ rắn, tùy vào đặc điểm văn hóa của từng quốc gia, khu vực lãnh thổ mà con vật này biểu trưng cho các lớp ý nghĩa khác nhau.
Rắn Đại Nội, sự thật và huyền thoại
Vườn Cơ Hạ và động Đào Nguyên - nơi được cho là có một con rắn to như lốp xe Huê Kỳ, trên đầu có mào màu đỏ thường cất tiếng gáy như gà vào buổi sáng
Và có những câu chuyện về rắn vừa sự thật, vừa ly kỳ huyền thoại, một thời được các hộ dân sống trong Đại Nội - Huế bây  giờ vẫn còn truyền miệng nhau; hay chúng tôi mỗi khi gặp những người bạn nối khố ngày xưa đều nhắc về chuyện gặp rắn trong Đại Nội.

Ngày đó, Đại Nội hoang tàn lắm, những bức thành cổ đổ nhào vì thời gian và chiến tranh bị cỏ dại bám vào như muốn làm nhân chứng cho một chế độ quân chủ đã bị suy tàn, còn nữa, khắp các cung điện và sân rồng tranh săn1 mọc cao quá đầu người. Trong khung cảnh “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, những đứa trẻ như chúng tôi vẫn vô tư trèo qua những bức tường đổ nát để vào Đại Nội hái xoài, hái mận, hái đào… Buổi chiều, mưa lâm thâm, tôi rủ thằng Hùng ở gần nhà vô Đại Nội hái xoài; biết tôi có người thân làm trong đó nên thằng Hùng hồ hởi lắm. Không xin được mấy chú bảo vệ, chúng tôi men theo một mảng tường đổ nát để leo thành vào Đại Nội. Vào đến Triệu Miếu, nơi có vườn đào trĩu quả (bây giờ vẫn còn) nhưng xung quanh thì tranh săn mọc um tùm, sau khi rẽ qua những bụi tranh săn trước mặt, đang chuẩn bị leo lên cây, tôi với thằng Hùng phải dừng lại vì nghe tiếng sột soạt, tiếp đến là tiếng thở phì phò rất gần với nơi chúng tôi đứng. Đang nín thở để xem chuyện gì thì những bụi tranh săn dường như đều nằm rẹp xuống và ngả ra hai bên. Một con rắn đang từ từ trườn đi, nó trườn đến đâu tranh săn ngã ra đến đó, hai thằng chỉ biết há hốc mồm miệng, tôi muốn hét nhưng sao cổ họng khô khốc. Đoạn đường con rắn trườn ngang qua chúng tôi chỉ khoảng 10m, nhưng thời gian chúng tôi nín thở thì dài vô tận. Bất ngờ thằng Hùng khóc thét lên rồi vùng chạy, tôi cũng chạy theo, hai chân như muốn ngã quỵ. Về nhà, thằng Hùng ốm liệt giường ba ngày, mẹ hắn thắp hương ra giữa ngã ba đường lầm rầm khấn xin bề trên đừng bắt con bà. Còn tôi, tôi không dám kể với ba mạ tôi về chuyện thằng Hùng bị ốm là vì tôi rủ hắn vô hái đào trong Đại Nội và gặp rắn, và rắn Đại Nội đã có trong tâm trí tôi từ đó.

Năm 1984, trong Đại Nội có một võ đường karatédo do võ sư Trương Trọng Toản cán bộ của Công ty Quản lý Di tích Lịch sử và Văn hóa Huế dạy cho những người bảo vệ của cơ quan. Thời gian này, tôi được ba mạ tôi cho vào đây để tập võ. Sân tập võ không bao giờ được cố định (không biết lý do gì), khi thì tập ở Nhà hát Duyệt Thị Đường, khi thì tập ở sân Điện Cần Chánh, khi thì tập Triệu Miếu, Thế Miếu, Thái Miếu… thời gian tập bao giờ cũng bắt đầu từ 5 giờ chiều cho đến 8 giờ tối. Một lần, Huế đang giữa mùa đông, mưa lâm thâm cùng với cái lạnh cắt da cắt thịt, anh Nguyễn Khoa Đức - huấn luyện viên của võ đường xin thầy về trước vì nhà có việc. Cả võ đường đang tập thì thấy anh Đức hớt hải chạy vào, mặt xanh mét, anh nói có con rắn đang nằm chắn ngang giữa đường, sợ quá nên quay lui. Nghe vậy, thầy cho võ đường nghỉ tập để cùng về, từ Duyệt Thị Đường ra đến con đường đi ngang qua Phủ Nội Vụ, anh Đức chỉ: “Đầu nớ tề”. Trong cái màu tối lờ mờ của ánh trăng bị mây che khuất chúng tôi thấy một con rắn rất dài, đường kính cỡ như bánh xe honda đang nằm chắn ngang qua đường, mấy anh lớn tuổi lấy đèn pin hua hua rồi lấy đá ném, con vật hình như không biết sợ, nó ngóc đầu lên cao, phùng mang thở phù phù rồi từ từ trườn vào góc thành gần đó. Vội vàng đạp xe đi ngang qua khỏi nơi con rắn vừa nằm, không ai nói với ai điều gì, nhưng tôi hiểu mọi người ai cũng sợ.

Ngôi miếu phía đông Điện Thái Hòa - nơi được truyền miệng là có nhiều rắn sinh sống nhất

Anh La Hùng (con trai cố nghệ nhân tuồng cung đình La Cháu) cho biết, vì gia đình có họ hàng xa với bà Từ Cung - thân mẫu của vua Bảo Đại nên cả nhà anh được cho vào ở trong khu vực Hữu Vu - Đại Nội cho đến đầu thập niên 80. Và khi nghe chúng tôi bắt đầu câu chuyện về rắn trong Đại Nội thì anh hồ hởi bảo, từ nhỏ được sinh ra và lớn lên nơi đây nên mọi ngóc ngách của khu vực Tử Cấm Thành anh thuộc làu như lòng bàn tay. Từ ao hồ nào có nhiều cá nhất, cây cao nào chim hay đậu nhất, và đặc biệt, lùm cây, góc thành nào có nhiều rắn nhất mà tất cả “cư dân” sinh sống trong Đại Nội phải bất khả xâm phạm, anh đều nắm rõ. Bởi vì, rắn ở đây vừa nhiều, vừa to và đã trở thành huyền thoại với cuộc sống của những người dân như: o Mai, ông Bửu Tự, ông Diệp sống ở khu vực cửa Hiển Nhơn; ông Lẫm đàn cò sống ở phía đông Điện Thái Hòa; ông La Nghiêm, ông La Cháu, chị Lan sống ở Hữu Vu; ông Suyền, ông Quảng Lập và các ni cô sống ở Cung Diên Thọ…

Nói rằng, rắn ở đây trở thành huyền thoại cũng không ngoa chút nào, bởi dưới những bức thành đổ nát, cây cỏ um tùm đi đâu cũng gặp rắn thì còn có những câu chuyện truyền miệng nhau như: góc thành phía đông vườn Cơ Hạ gần động Đào Nguyên có một con rắn to như lốp xe Huê Kỳ, trên đầu có mào màu đỏ thường cất tiếng gáy như gà vào buổi sáng, đặc biệt con rắn này có thể bay từ bức thành này qua bức thành khác, và mỗi lần nó di chuyển thì gió bụi và tranh săn xào xạc một góc thành. Câu chuyện trên không biết có thật hay không, nhưng với anh La Hùng thì đã bắt gặp một đôi rắn to và dài như hai con rồng trong hồ tiểu Ngự Hà trước mặt Ngự Tiền Văn Phòng. Anh kể, cuối những năm 70 khi đó anh vẫn còn là một cậu bé khoảng hơn 10 tuổi, từ Hữu Vu anh lang thang vào Ngự Tiền Văn Phòng để hái xoài, hái xong mon men ra gần am Phổ Minh nằm bên hồ tiểu Ngự Hà. Đang nhấm nháp thưởng  thức những trái xoài vừa  hái được, bất ngờ anh nghe một tiếng ầm rất lớn, nước tung trắng xóa. Từ phía đối diện với am Phổ Minh một đôi rắn rất to, trên đầu có mào rẽ nước cùng sóng đôi phì phò lao đi tạo thành những đợt sóng nhỏ dập dềnh nước vào bờ. Anh đem chuyện này về nhà kể với ba anh - nghệ nhân La Cháu, ba anh bảo, đó là rắn ngài không được đùa giỡn. Từ đó anh không còn dám đến am Phổ Minh để chơi nữa. Ông La Nghiêm, một người bà con với Đức Từ Cung sống trong Tả Vu cũng đã có lần bắt gặp một con rắn nằm cuộn tròn to như lốp xe ôtô. Chuyện được kể lại, hôm đó trời đã về chiều ông La Nghiêm đi trồng chuối về thì tranh thủ vào khu đất trống ở phía đông Điện Thái Hòa, nơi có nhiều tranh săn mọc nhất cắt về để lợp nhà. Đang cúi gập mình chọn lựa tranh để cắt thì bất ngờ ông nhìn thấy một đống cuộn tròn đen sì lộ ra trước mặt, ông hét lên thất thanh vùng chạy và cũng như bị giật mình, đống màu đen sì kia cũng hoảng hốt chuyển mình lao vút qua bức thành đối diện. Mọi người bảo ông Nghiêm đã gặp rắn hổ gió. Từ đó ông Nghiêm không còn dám bén mảng tới khu vực gần đó để cắt tranh săn nữa. Nhắc đến câu chuyện này, những người đã từng sống trong Đại Nội cho biết, khu vực phía đông Điện Thái Hòa có một ổ rắn có hàng chục con rất to sinh sống.

Năm 1993, quần thể Di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, và cũng từ đó những bức thành đổ nát được phục hồi, cây cỏ được chỉnh trang, những bụi rậm và lùm tranh săn cũng biến mất với thời gian. Những hộ dân sống trong Đại Nội vào giữa thập niên 70 - 80 không còn nữa. Vườn Cơ Hạ, nơi rắn có mào thường cất tiếng gáy vào buổi sáng bây giờ đã trở thành một điểm tham quan rất được du khách ưa thích. Và câu chuyện những con rắn trên mình mọc đầy rễ cây trườn ra giữa đường khi trời có mưa giông bây giờ chỉ còn là ký ức trong nhiều câu chuyện mang tính huyền thoại về rắn Đại Nội một thời.

T.B  
(SH288/02-13)


--------------------
(1) Một loại tranh cỏ thường dùng để lợp nhà.
 

Biểu tượng rắn, từ ngôn ngữ đến văn hóa

Biểu tượng rắn, từ ngôn ngữ đến văn hóa
TRẦN VĂN SÁNG
Biểu tượng (symbol) là một thành tố không thể thiếu trong mỗi nền văn hóa. Xét về một phương diện nào đó, văn hóa là một hệ biểu tượng.
Biểu tượng rắn, từ ngôn ngữ đến văn hóa
Khi chúng ta đề cập đến vấn đề đặc trưng tư duy của dân tộc hay tâm thức Việt qua vốn từ vựng nói chung và qua biểu tượng “rắn” nói riêng là muốn đặt vấn đề này trong mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy, hay ngôn ngữ và văn hóa; trong đó ngôn ngữ được xem là “hiện thực trực tiếp của tư tưởng”, còn biểu tượng là “sự phóng chiếu” bức tranh văn hóa dân tộc. Khi một sự vật hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững. Chẳng hạn, “rồng” là biểu tượng văn hóa của các nước châu Á; “màu trắng” biểu trưng cho lòng thanh sạch, trinh khiết ở một số nước châu Âu. Sự liên tưởng như thế lại không xảy ra trong tư duy của những quốc gia khác. Đối với văn hóa Âu châu, “rồng” không phải là con vật thiêng, mà chỉ là con quỷ dữ luôn gây hại cho loài người trong các truyện cổ tích; “màu trắng”, trái lại, trong văn hóa Á Đông, nó lại liên tưởng đến sự tang tóc, chết chóc. Rõ ràng, biểu tượng là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc, và dĩ nhiên nó là thành tố không thể thiếu cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bài viết này, chúng tôi thử vận dụng vào việc phân tích biểu tượng “rắn” trong ngôn ngữ và văn hóa, qua đó, chỉ ra các hàm nghĩa văn hóa và lối tư duy đặc trưng của người Việt xưa và nay.

Rắn và các danh xưng trong Việt ngữ

Rắn là một loại động vật có thật, được gọi tên trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Nó là “giống động vật thuộc lớp bò sát, thân dài, có vảy, không chân, di chuyển bằng cách uốn thân”. Từ biểu niệm về loài động vật này, người Việt, trong thực tế, liên tưởng và gọi tên bằng nhiều danh xưng khác nhau. Tiếng Việt có nhiều từ ngữ để định danh loài rắn: rắn hổ, hổ mang, rắn lục, rắn nước, rắn mãng xà, rắn nập nống, rắn lồng, rắn học trò, hổ lác, hổ hèo, hổ hành, hổ ngựa, hổ sậy, hổ mây, hổ bướm, rắn cạp nia, rắn cạp nong, … Trong ngôn ngữ văn hóa dân gian, người Việt ý niệm hóa về loài rắn qua các danh xưng: rắn, trăn, chằn tinh, giao long, thuồng luồng, mãng xà, rồng. Chỉ các danh xưng này mới trở thành biểu tượng văn hóa. Các danh xưng này có tính chất trừu tượng, mơ hồ ở những mức độ khác nhau. Trăn được xem là loài rắn lớn sống ở rừng nhiệt đới, không có nọc độc, còn di tích chân sau, có thể bắt ăn cả những thú khá lớn. Thuồng luồng được tri nhận như giống vật dữ ở nước, trông bề ngoài giống như con rắn to, theo truyền thuyết nó hay hại người. Còn giao long lại được ý niệm hóa như con thuồng luồng. Chằn tinh được người Việt tưởng tượng như một loài yêu quái trong các truyền cổ tích thần kì. Mãng xà được giải thích như một loài trăn sống thành tinh chuyên làm hại người trong các truyện cổ. Rồng được ý niệm hóa một cách tưởng tượng là loài vật mình dài, thân có vảy, có chân, biết bay, được coi là cao quý nhất trong các loài vật trên thế gian, thường được cụ thể hóa qua hình tượng con rắn. Trong các danh xưng trên, rắn, trăn được gọi tên một cách cụ thể, trực quan, còn rồng, thuồng luồng, giao long, mãng xà,… đều được ý niệm hóa bằng các danh xưng mơ hồ, trừu tượng. Xét ở góc độ ngôn ngữ - văn hóa học, rõ ràng có một mối tương quan nào đó giữa các danh xưng vừa nói trên. Điều này phản ánh quá trình tri nhận thế giới khách quan về loài rắn của người Việt truyền thống qua cách gọi tên. Về mặt ngôn ngữ, chúng ta có thể lí giải sự biến âm của các tên gọi, chẳng hạn, trăn, rắn có thể được phục nguyên bằng quá trình biến đổi ngữ âm: *thlăn/tlăn > trăn > rắn > thằn lằn, chằn,… và có thể chỉ là sự biến âm của rắn mà thôi. Về mặt văn hóa, tất cả các con vật trên đều giống nhau về hình dáng và tính khí (thân dài, hung dữ), môi trường cư trú (thường gắn với nước) và đặc biệt thường được ý niệm hóa bằng hình tượng “thủy quái”, gắn với nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Điều này phản ánh tín ngưỡng thờ thủy thần - thần rắn của người Việt cổ.

Từ ngôn ngữ đến văn hóa hay từ danh xưng đến biểu tượng, các từ ngữ đó phải trở thành các word - symbols (từ - biểu tượng). Những từ - biểu tượng này không phải mang trong nó tất cả ý nghĩa của “mẫu gốc” của một nền văn hóa mà tùy theo sự tri nhận của mỗi dân tộc mà chỉ một số ý nghĩa biểu tượng của “mẫu gốc” được hiện thực hóa ở các từ - biểu tượng. Chính điều này tạo nên một sự khác biệt về cấp độ trong sự chuyển hóa của các “mẫu gốc” thành các biểu tượng ngôn ngữ - văn hóa ở các dân tộc khác nhau. Chẳng hạn như, cử động của đầu rắn làm cho người ta liên hệ đến cơ quan sinh dục, có lẽ đây là cơ sở biểu trưng cho sự mắn đẻ, các nghi lễ cầu thai. Hay loài rắn có đặc tính lột da, do vậy nó thường biểu trưng cho sự tái sinh, bất tử, dù đó chỉ là quan niệm dân gian.

Rắn, một biểu tượng xuyên văn hóa

Phương Đông và phương Tây đều xem rắn là một trong những biểu tượng văn hóa gắn với nhiều hàm nghĩa khác nhau. Trong đó, sự “thiêng hóa” loài rắn gắn với niềm tin tôn giáo là phổ biến và có tính vĩnh hằng nhất. Người Ấn Độ có biểu tượng rắn Naga, gắn với niềm tin của Ấn Độ giáo. Trong tiếng Phạn, Naga có nghĩa là rắn hổ mang lớn. Người Ấn Độ quan niệm Naga là linh hồn thiên nhiên và bảo vệ các con suối, giếng nước và các con sông. Chúng mang theo mưa và có khả năng sinh sản nhưng đôi khi cũng gây nên lũ lụt. Trong ý niệm về rắn Naga đối với người Ấn Độ, chúng là hiện thân cho sông ngòi, biển, các nguồn nước. Naga chỉ gây hại cho con người khi chúng bị ngược đãi. Rắn Naga là hình tượng cực kỳ phổ biến trong văn hóa Khmer và Phật giáo Nam Tông ở Việt Nam và Đông Nam Á. Như các biểu tượng kiến trúc khác, biểu tượng rắn đã hóa thành các mô típ rắn, thằn lằn, cá sấu, rồng... có mặt ở các yếu tố khác nhau của kiến trúc Đông Nam Á. Trong “Chân Lạp phong thổ kí”, có đoạn viết rằng: “Hàng đêm quốc vương đều có đến ngủ với một nàng tiên rắn”. Người Campuchia coi rắn Naga là vị thần canh giữ nơi vua chúa ngự.

Trong Kinh Thánh, thoạt kỳ thủy, rắn là con vật mang ý niệm tốt lành. Thế nhưng, rắn là con vật tinh ranh nhất trong các loài thú mà Thượng Đế tạo nên. Chính nó là nguyên nhân làm cho cặp vợ chồng đầu tiên là Ađam (người đàn ông đầu tiên) và Eva (người đàn bà đầu tiên) đang sống hạnh phúc trên Vườn Thiên Đàng phải nếm mùi đau khổ, hổ ngươi vì sự yếu đuối của bản thân. Con rắn tinh ranh mà Thượng Đế tạo nên đã cám dỗ Eva ăn trái cây ở giữa Vườn Thiên Đàng, để rồi “mắt cả hai đứa đã mở ra, và chúng biết là chúng trần truồng. Chúng đã khâu lá vả làm khố cho mình”. Khi biết con rắn đã cám dỗ Eva, Thượng Đế đã phán rằng: “Bởi ngươi đã làm thế, thì ngươi hãy là đồ chúc dữ, giữa mọi thú vật, cùng dã thú hết thảy! Ngươi hãy lê bụng và ăn đất bụi mọi ngày đời ngươi! Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” [Kn 3:14-15]. Từ đấy về sau, rắn bị coi là loài thú dữ, kẻ thù của con người. Con rắn ở đây tượng trưng cho Satan, là bộ mặt một địch thù của Thiên Chúa và loài người. Dấu chỉ này được lưu lại qua biểu tượng tôn giáo: tượng Đức Mẹ Ban Ơn đều được vẽ, tạc, đắp, bàn chân trần của Người đạp lên con rắn đang lè lưỡi cố cắn lại Người. Đó cũng là lí do vì sao trong văn hóa phương Tây, chúng ta tìm thấy hình tượng con rắn lửa được mô tả như một loài rắn có cánh hay một con rồng chuyên gây hại và cắn chết nhiều người; và hình tượng con rắn đồng được gương trên cán cờ của Môsê là biểu tượng cho sự chữa lành vết thương (tâm hồn và thể xác) cho loài người. Đó cũng là nguyên nhân tại sao ngày nay ngành y học lấy hình ảnh con rắn đồng trên cán cờ làm biểu tượng cho việc chữa bệnh. Từ Kinh Thánh đến tâm thức văn hóa, người phương Tây đã có phương châm sống cho riêng mình: hãy khôn ngoan như con rắn và hãy hiền lành như con chim bồ câu. Nghĩa là không phải để trở thành “tinh ranh” như con rắn trong Vườn Thiên Đàng, mà phải biết trườn đi, thoát thân khỏi những âm mưu thâm độc, những tấn công xảo quyệt của những điều xấu, kẻ xấu như con rắn có tài tránh né nguy hiểm và luôn giữ cái đầu cho khỏi bị đánh khi gặp kẻ thù, nhưng trước hết, chúng ta hãy sống chân thực, đơn sơ và hiền lành như chim bồ câu.

Biểu tượng rắn trong tâm thức người Việt

Tục thờ rắn là một trong những tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ. Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, đầm lầy, hình tượng rắn đã được đồng hóa với nước, thủy thần và đi vào tâm thức dân gian từ rất sớm. Trước tiên, rắn là con vật có đời sống dưới nước, dưới đầm lầy. Hơn thế nữa, rắn “là thần của nước khởi nguyên, nó là thần của tất cả các loại nước [Jean Chevalier, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.764]. Người Việt thường lập miếu, đền, đình ở gần nguồn nước như: các bến sông, cửa sông, các suối, khe để thờ rắn như một vị thủy thần. Người Việt không chỉ thờ rắn với tư cách là thủy thần, mà còn xem rắn là vật tổ. Ở một góc độ nào đó, xu hướng tôn vinh, linh thiêng hóa rắn trong tiềm thức lịch sử văn hóa, rắn được coi là tổ họ, là gốc, là tiền thân của rồng - giống nòi của cha ông. Từ đó rắn rồng, rồng rắn luôn đi đôi thành một cặp trong văn hóa Việt. Huyền thoại “Con rồng cháu tiên” chính là huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu - bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng, nở ra trăm con - cội nguồn của người Việt ngày nay. Rồng, rắn là hai phạm trù, hai khái niệm phản ánh những mối quan hệ tình cảm của con người trong gia đình, xã hội. Chẳng hạn: “Vóc rồng thì để phần vua, bao nhiêu vải rắn thì lừa cho dân”, “Lấy chồng thì phải theo chồng, chồng đi hang rắn hang rồng cũng theo”, “Rồng rắn lên cây, có cây núc nác, có nhà hiển vinh”.

Rắn là biểu tượng đa nghĩa, đa diện trong văn hóa Việt Nam. Trong nó luôn đồng hành tồn tại các mặt đối lập như những thuộc tính bản thể tự nhiên nhất. Jean Chevalier cũng cho rằng: “rắn vừa là hiện thân cho tâm hồn hạ đẳng, cho cái tâm tăm tối”, với tính dữ dằn, hung hãn lại vừa là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp với những biểu hiện nhân tính, biết trả ơn, có tình có nghĩa. Những mặt đối lặp của biểu tượng rắn được thể hiện rất rõ trong các truyền thuyết dân gian. Hình tượng con rắn hung tợn hoặc ác tâm, chuyên làm hại dân lành, phá phách đời sống của nhân dân trong Rắn báo oán, Ông Dài ông Cộc hay là sự tích thần sông Kỳ Cùng, Rắn cụt đuôi, Cây đa và cây lội. Chúng ta cũng bắt gặp hình tượng con rắn với bản thể thiện nhân từ, xả thân cứu dân lành, đầy tiết nghĩa trong truyền thuyết trong Sự tích đầm Mực, Họ Hà và con chim quốc, Bà Khó (Thằng nghèo), Sự tích lễ hội Bưa Lừa.

Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, rắn thường được liên tưởng đến cái xấu xa.Thành ngữ về rắn trong tiếng Việt thường mang hàm ý xấu: “Ngoằn ngoèo như rắn bò”, “Thẳng như rắn bò”, “Lừ đừ như hổ đất”, “Len lét như rắn mùng năm”, “Oai oái như rắn bắt nhái”,… Biến thể của rắn là “chằn” thì cũng chẳng mang hàm ý gì tốt đẹp. Nó thường được liên tưởng đến một thứ lực gây hại, xấu xa. Người Việt thường nói “Dữ như chằn” hay “Dữ như bà chằn” để chỉ những người phụ nữ có tính khí dữ dằn, không được dịu dàng trong cách ứng xử. Những kẻ hay bịa đặt, ba hoa, chẳng được tích sự gì lại bị ví von qua hình ảnh “Vẽ rắn thêm chân”, “Vẽ rồng vẽ rắn”; những người tâm địa xấu xa, giả tạo lại bị ám chỉ qua các hình ảnh “Hang hùm, miệng rắn”, “Ấp rắn trong lòng”, “Khẩu Phật tâm xà”, “Rắn đổ nọc cho lươn”,… Những kẻ phản bội, vô liêm sỉ, quên mất cội nguồn bị người Việt coi là kẻ “Cõng rắn cắn gà nhà”, phản bội dân tình, giết hại đồng bào, đồng chí.

Những người hung ác, hiểm độc như rắn rết thì nên tránh xa, không thể cùng chung sống như một quy luật điều hiển: “Rắn rết bò vào, cóc nhái bò ra”. Đối phó với cái xấu giống như cách đối phó với rắn dữ. “Đánh rắn đánh bằng đầu”, những người biết sử dụng đòn chí mạng đối với kẻ hung ác như ta đánh rắn phải đánh đúng chỗ, trúng huyệt để khỏi bị báo thù. Người xấu thường được che đậy bằng những mánh khóe tinh vi như con rắn tinh ranh biết che cái đầu của mình vậy. Vì chỉ khi “Rắn mất đầu” thì cơ thể của nó mới không hoạt động được nữa, chẳng khác nào tướng lãnh ra trận bị thương, binh sĩ hoảng loạn không ai chỉ huy. Sống ở đời đừng có nuôi dưỡng kẻ xấu, bởi “Rắn đến nhà không đánh thành quen”, có ngày “Rắn đổ nọc cho lươn”, đổ lỗi, gán ghép trách nhiệm cho người khác. Đó cũng là điều người xưa muốn dạy hậu thế: mình làm sai thì nhận, chớ nên theo kiểu rắn đổ nọc cho lươn, như những kẻ vô lương tâm, lọc lừa. Người xưa từng nói “sống gửi, thác về”, “rắn lột da, người lột xác”, đời người không ai vĩnh viễn, sống làm sao đó mà để lại tiếng thơm ngàn đời cho hậu thế.

Nghĩ về biểu tượng rắn trong tâm thức văn hóa nhân loại, chúng ta càng thấy rõ đặc trưng văn hóa, lối tư duy của mỗi dân tộc, mỗi tộc người khác nhau trên địa cầu. Trong tâm thức Việt, rắn vừa là biểu tượng văn hóa hiện thân của cái xấu, điều dữ, vừa ẩn chứa trong nó sự bao dung, cái nhân tình nhân tính. Con rắn, một con vật thấp hèn, được người Việt gọi là “ông”, là “bà” trong “Rắn ông rắn bà”, “Ông Dài ông Cộc”; là “ngài” trong “ngài rắn”, là “thần” trong “thần xà”, là “vương” (vua) trong “mãng xà vương”. Phải chăng đó cũng là lối tư duy “nước đôi” đầy tính nhân văn và khoan dung của người Việt truyền thống tự ngàn xưa.

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Mậu Thân 1968 - Tấm lòng người nội đô

Mậu Thân 1968 - Tấm lòng người nội đô 

Kỳ 1: Chiếc bàn thờ lạ


Mấy chục năm rồi, tại căn nhà số 100/100 bis Cô Giang, Q.1, TP.HCM, bên cạnh bàn thờ gia tiên, chủ nhà đặt trang trọng thêm một bàn thờ nữa. Bàn thờ không có di ảnh, không có bài vị, chỉ có bát hương. 

Ông Nguyễn Văn Phú thắp nhang lên bàn thờ liệt sĩ Nguyễn Văn Quang - Ảnh: Mai Hương


Trong chiến dịch xuân Mậu Thân 1968 cách đây 45 năm, có một đơn vị “đặc biệt” tham gia chiến đấu trên đường phố Sài Gòn: tiểu đoàn Lê Thị Riêng (tiền thân là tiểu đoàn nữ biệt động Sài Gòn). Biết bao câu chuyện xúc động vẫn còn ghi trong ký ức người lính và cả những người dân giúp đỡ, cưu mang tiểu đoàn này.
Trước khi mất chủ nhà dặn người thân: dù nhà có bị di dời, giải tỏa đi đâu cũng phải mang theo chiếc bàn thờ. Mấy chục năm rồi, bát hương trên đó chưa lúc nào thôi đầy, tình cảm của những người thờ phụng chưa bao giờ hết ấm!
Thờ cúng người dưng 
Nằm gần khu chung cư Cô Giang, khoảng không gian 2,5x7m của căn nhà dường như càng chật hẹp hơn với vô số đồ dùng, dụng cụ làm nghề xây dựng của chủ nhà. Căn nhà nhỏ đó trước đây còn là tiệm tạp hóa. Từng khoảng trống nhỏ trong nhà hầu như đều được tận dụng để đóng kệ để đồ, đóng móc treo quần áo. Hai bên vách nhà là hai trang thờ đối diện nhau, đóng bằng ván ép. Trang thờ bên phải, ngoài bát cắm nhang có thêm bộ lư đồng nhỏ, bình cắm hoa. Tuyệt nhiên không có hình ảnh gì. Trang thờ này được lập từ giữa năm 1968, cũng chính ở vị trí này. Từ lúc đó cho mãi đến tháng 12-2012, trên trang thờ vẫn không có một dòng tên tuổi, địa chỉ. Hoàn toàn vô danh!
Người lập trang thờ bên phải giờ đã ở trong trang thờ bên trái. Từ ngoài cửa nhà nhìn vô, trang thờ bên trái có di ảnh một người phụ nữ mặc bộ áo dài màu trắng, gương mặt phúc hậu: bà Nguyễn Hồng Hoa, cũng là chủ căn nhà.
Ông Nguyễn Văn Phú, chồng bà Hồng Hoa, bộc bạch: “Nói thiệt, hồi đó tui đi làm thợ suốt ngày, bả ở nhà bán bánh bông lan, vừa đi làm cho cách mạng. Tui biết vậy thôi chứ không hỏi thêm bả làm gì, với ai vì tui hiểu nguyên tắc bí mật của hoạt động nội thành. Nhà này là cơ sở cách mạng. Cậu Quang từng ở đây. Sau đợt hai Mậu Thân, Quang bị bắt rồi hi sinh. Một hôm, tôi trở về nhà thì đã thấy có cái bàn thờ rồi. Hỏi thì bà nhà tui nói để thờ Quang. Quang bị bắt, bị đánh đến chết mà vẫn không khai báo câu nào. Từ đó, cả nhà tôi thờ Quang. Mình thờ cúng Quang, thứ nhất vì cái nghĩa đồng bào, thứ nhì vì cảm phục tấm lòng kiên trung, bất khuất. Năm hi sinh nghe đâu Quang chưa tròn 16 tuổi”.
Bao nhiêu năm nay khách khứa, bạn bè, hàng xóm tới nhà ông Phú chơi, không ai biết cái trang thờ luôn đều đặn hai cữ nhang sáng chiều đó dành để thờ ai. Chỉ có vợ chồng, con cái nhà ông là ngầm hiểu với nhau. “Hồi nào giờ không có hình, không có tên nhưng hễ bàn thờ của bả sao thì bàn thờ của Quang vậy. Tui với sắp nhỏ cúng bả cái gì cũng cúng Quang cái đó. Tới mức cả nhà quên luôn Quang với chúng tôi không phải họ hàng thân thích, cũng chưa kịp thân quen”.
Tổ quốc ghi công
Cậu thiếu niên gan dạ phi thường mà ông Phú thờ phụng bấy nhiêu năm tên là Nguyễn Văn Quang, một Việt kiều Lào, đã cùng nhiều anh em về nước tham gia chiến đấu. Là người trực tiếp dìu dắt, kết nạp anh Nguyễn Văn Quang vào Đoàn, cũng là chỉ huy trực tiếp của anh trong chiến dịch xuân Mậu Thân 1968, cô Lê Hồng Quân, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Thị Riêng, vẫn còn nhớ lần đầu tiên gặp gỡ: “Khi tôi gặp Quang thì em đang bị sốt. Vậy mà mới 2g sáng em đã phải ra chợ Bến Thành nấu nước lèo phụ hàng hủ tiếu bán sớm. Quang kể ba mẹ em còn ở Lào nhưng em thích về chiến đấu ở quê nội”.
Cô Hồng Quân kể tiếp: “Tuy còn nhỏ nhưng Quang rất sáng dạ và chịu khó. Dáng người gầy nhỏ, trắng trẻo, thư sinh nhưng Quang không từ nan bất cứ việc gì. Làm công việc tiếp phẩm, em tập gánh gạo, đồ ăn, nước tương, nước mắm. Nhận nhiệm vụ mở thêm đường đưa đón cán bộ cơ sở ra vào nội thành Sài Gòn, cứ 2-3 giờ sáng Quang đi theo những chị em mua hàng sớm để lần dò thêm nhiều đường tắt, đường vòng. Tập bắn súng, từ chỗ mỗi lần bắn là “gửi đạn về trời”, Quang luyện đến mức thành thục hai tay hai súng, bắn trúng mục tiêu di động.
Đợt 2 xuân Mậu Thân, Quang nhận nhiệm vụ xung kích ém quân tại địa bàn trọng điểm. Ngày 5-5-1968, ngày mở đầu cho đợt tổng tiến công chống phản kích, Quang cùng bộ phận chỉ huy sở tiểu đoàn đánh trả nhiều đợt bao vây phản kích của đối phương. Cuộc chiến đấu không cân sức. Trước tình hình đó, tôi làm nhiệm vụ hút hỏa lực cho đơn vị rút đi. Súng hết đạn, tôi đập vỡ khẩu súng của mình. Còn Quang bị thương vẫn không rời vị trí. Em thì thầm bên tai tôi: “Em ngồi đây với chị. Em sẽ hi sinh bên cạnh chị!”. Mảnh đạn đan chéo cày xới quanh chỗ chúng tôi ngồi. Khi bị lôi ra xe giải về ty cảnh sát, tôi vẫn còn nghe tiếng Quang hô lớn: “Hồ Chí Minh muôn năm”.
Trong phòng giam trại số 5 Bệnh viện Chợ Quán, tôi gặp lại Quang. Các vết thương trên người em rất nặng, nhất là vết thương chạm phổi chỉ được băng sơ sài. Cuộc tra tấn người đồng đội nhỏ tuổi diễn ra ngay trước mắt tôi: bốn tay mật vụ vây quanh em, ra sức vừa đánh vừa hỏi đi hỏi lại ba câu:
- “Người chỉ huy là ai?”. Quang trả lời: “Các ông hãy đến trận địa sẽ rõ”.
- “Địa điểm đơn vị ở đâu?”. Quang đáp: “Chắc các ông đã nghe thấy, đồng đội tôi đang ở những nơi có tiếng súng”.
- “Nhà ém quân, chỗ giấu vũ khí, cơ sở bí mật nội thành ở đâu”. Quang lắc đầu.
Đang tra khảo, họ thì thầm hội ý với nhau bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Đột nhiên, Quang nói với họ cũng bằng tiếng Anh, tiếng Pháp rồi bảo: “Ở đây toàn là người Việt, các ông nói tiếng mẹ đẻ hay hơn”. Mấy tay mật vụ sững người. Mấy phút trôi qua, gian phòng im phăng phắc. Sau đó, họ chuyển sang ngon ngọt dỗ dành, hứa hẹn với Quang về một tương lai huy hoàng, được chữa vết thương, được đi du học ở Mỹ. Vẫn không có kết quả.
Đến ngày thứ năm, lại một trận tra tấn khốc liệt. Đầu cây ma trắc thụt vào vết thương trên ngực Quang, máu tuôn tràn. Quang vĩnh viễn ra đi ở tuổi 16”.
Kiếm hộp quẹt đốt cây nhang, ông Nguyễn Văn Phú đến bên bàn thờ, kính cẩn cúi đầu xá mấy cái. Ông nói: “27-7, 30-4, 2-9 cúng lớn. Tết nhứt thì cúng cơm canh. Còn trái cây thì cách ít ngày là có, nhà gần chợ mà. Nhà này nằm trong khu giải tỏa. Cách đây tám năm, trước khi mất bả dặn tui dù có bán nhà hay bị giải tỏa di dời đi đâu cũng phải đem bàn thờ Quang theo. Lời bả dặn, lúc nào tui cũng nhớ. Tới chừng tui nằm xuống thì có mấy đứa nhỏ nó nhớ...”.
Sau ngày giải phóng, các đồng đội ở tiểu đoàn Lê Thị Riêng, Ban phụ vận T4 và Thành hội Phụ nữ TP.HCM đã cố gắng lần tìm tin tức gia đình chiến sĩ Quang bằng nhiều cách, nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra manh mối.
Ngày 20-7-2012, Thủ tướng Chính phủ có quyết định công nhận liệt sĩ và cấp bằng Tổ quốc ghi công cho tám liệt sĩ thuộc tiểu đoàn Lê Thị Riêng, trong đó có liệt sĩ Nguyễn Văn Quang. Ngày 21-11-2012, tại nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM, Thành ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ TP.HCM đã truy điệu tám liệt sĩ tiểu đoàn Lê Thị Riêng anh dũng hi sinh trong đợt 2 cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968.
Ngay sau khi nhận bằng Tổ quốc ghi công, cô Lê Hồng Quân đã photo thêm một bản trên giấy in màu, cẩn trọng lồng vào khung kính, mang đến đặt trên bàn thờ ở nhà ông Phú. Sau 44 năm, cuối cùng chiếc bàn thờ đã chính thức có họ tên người đã khuất.
___________
Kỳ 2: Cao thủ vùng Khánh Hội
TT - Mới hơn 8 giờ sáng 23-1, nhà cô Lê Hồng Quân, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Lê Thị Riêng, đã có khách. Khách là một bà cụ dáng người cao to, mặc bộ bà ba bằng vải bông màu sậm. Mấy năm rồi cô mới gặp lại "mợ Mười", bà chủ nhà trọ cô từng trú ngụ vào đầu năm 1966 để xây dựng lực lượng, cơ sở chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân, từ ngày mợ dọn về Gò Công, Tiền Giang.
Từ phải qua: bà Nguyễn Thị Mảnh, cô Lê Hồng Quân và bà Võ Thị Chi (mẹ chị Quân). Cả ba đều bị bắt sau chiến dịch Mậu Thân - Ảnh: Mai Hương
Đại ca Mười Bi
"Mợ Mười" Nguyễn Thị Mảnh kể chuyện bằng cái miệng móm sọm: "Hồi trước giải phóng, một cuốc xích lô từ trung tâm Sài Gòn qua quận 4 chừng vài đồng bạc. Nhưng hễ nói về khu Tôn Đản, Khánh Hội thì 7-8 ông xích lô mới có một ông dám đi. Người ta bảo khu đó toàn dân anh chị, lạng quạng không mất người thì cũng mất của". Vậy mà ở ngay chỗ bị xem là phức tạp bậc nhất nhì Sài Gòn đó, nhiều tay giang hồ mã thượng đã thành "người của Việt cộng", góp phần không nhỏ vào chiến dịch Mậu Thân.
Đưa tay lên ngực nén những cơn ho dồn đến đỏ mặt, ở tuổi 78 bà Mảnh khi nhớ khi quên. Nhưng vừa có người nhắc chuyện cao thủ Lê Văn Bi, đôi mắt đã đục mờ của bà vụt trở nên linh hoạt. Ông Lê Văn Bi, tên thường gọi là ông Mười Bi - chồng bà - ngày xưa oai lắm. Ông là một tài công giỏi của Hãng RMK của Mỹ. "Bà Năm Trầu, bà Tư bán bún ở chợ Xóm Chiếu là dân nhà giàu, sành điệu mà cũng nể ổng một nước. Lần mấy bả bị tụi cướp hăm dọa, tống tiền, bả sai người đi kiếm ông Mười Bi. Hễ nghe có hơi ổng về là tụi côn đồ tản đi hết, không dám hó hé"- bà Mảnh bắt đầu khơi được dòng nhớ.
Ngồi bên cạnh, cô Lê Hồng Quân tiếp lời bà Mảnh: "Mợ Mười nhớ hông, tháng đầu tiên con góp 200 đồng phụ sửa chái nhà, tới tháng thứ hai cậu mợ cho con ở không lấy tiền. Cậu hay kêu con bằng "nhỏ". Một bữa đang giờ làm việc mà cậu về nhà, giăng võng đưa toòng teng. Con hỏi sao cậu hổng đi làm, cậu nói: Tao nghỉ việc rồi. Tao mới đánh thằng cai thầu văng xuống sông Sài Gòn. Ai biểu nó dựa hơi Mỹ mà ăn hiếp người Việt mình chớ".
Nghe tới đó, bà Mảnh bổ sung: "Cái vụ này thì mợ nhớ. Hồi đó ổng đã nhắc nhở thằng cai đó ba lần. Ổng nói với nó: "Anh em có làm sai thì ông hướng dẫn. Cớ sao vì nịnh mấy thằng Mỹ mà nay ông đuổi người này, mai tống cổ người kia". Ổng đã nói vậy mà nó vẫn chứng nào tật đó nên ổng mới ra tay. Ổng đánh một cái răng nó gãy cắm vô tay ổng, cái thẹo còn để lại trên mu bàn tay cho tới sau này. Ổng đá thêm cái nữa, nó văng luôn xuống sông. Đánh xong, không để tụi nó chạy đi kể tội, ổng chạy lên micro tuyên bố nghỉ việc, trả thẻ, trả quần áo rồi về thẳng một nước".
Cũng phải nói thêm rằng thời đó giang hồ vùng Khánh Hội nể ông Mười Bi bởi ông rất giỏi võ, thích giúp đỡ người sức yếu, thế cô, không chịu luồn cúi, không cát cứ lãnh địa, không tham đồng tiền. Hai bữa sau, ông Mười Bi nhận được lời mời ra quán hủ tiếu nói chuyện. Khi ông ra tới nơi thì thấy ở quán đã có mặt tên cai thầu hôm trước bị đánh và 5-6 tay anh chị bên kho 5 (thời gian đó giang hồ Sài Gòn cát cứ theo từng vùng, địa giới được tính theo mốc là những kho chứa hàng của Mỹ-PV). Vừa thấy ông Mười Bi tới, nhóm giang hồ này hết sức bất ngờ. Sau khi hỏi rõ sự tình, nhóm này quay qua nói với tên cai thầu: "Tụi tui tưởng ông kêu đi thanh toán ai chứ anh Mười là đàn anh của tụi tui. Cái gì đúng ảnh mới làm. Vụ này tui không dám can thiệp". Nghe vậy, biết không làm được gì, tên cai thầu quay ra dàn hòa. Mấy ngày sau đó, bên hãng tàu mời ông Mười Bi đi làm trở lại.
Biết được tính hảo hớn, cương trực của ông, một bữa cô nhỏ ở trọ trong nhà nhỏ to tâm sự gì đó với ông. Ông Mười nghe cô nhỏ nói mà trầm ngâm. Ông trả lời: "Nhỏ nói phải. Vụ này để cậu tính lại...".
Trở thành Việt cộng
Sau đó, ông Mười Bi cùng những cao thủ bến cảng Khánh Hội đã giới thiệu với các cai bến một số cán bộ nữ nòng cốt của nhóm xây dựng lực lượng của tiểu đoàn Lê Thị Riêng vào làm công nhật ở bến cảng. Khi công nhân quân cảng Sài Gòn bước vào cuộc đình công chiếm bến, chống sa thải tập thể thì ông Mười Bi vận động công nhân cùng làm tại Hãng RMK lên tiếng phản đối.
Căn nhà của vợ chồng ông ở số B58/6 Tôn Thất Thuyết còn là nơi giấu vũ khí. Trên miếng đất sau nhà sình lầy, rác rến dập dềnh, áp sát chuồng nuôi heo là hầm giấu vũ khí. Lần cô Hai Riêng (đồng chí Lê Thị Riêng) về nhà ông họp, bà Mảnh - vợ ông - làm một đám giỗ giả mời bà con chòm xóm đến ăn để hợp thức hóa chuyện trong nhà có đông người. Ai hỏi tới cô Hai Riêng thì bà nói là chị họ của chồng. Đợt một chiến dịch Mậu Thân xảy ra xong, ông Mười Bi tham gia đánh nhiều trận. Xong đợt hai Mậu Thân, hai vợ chồng ông bị bắt. "Tui với ổng bị nhốt chung một xe. Lên xe không ai dám hó hé câu gì. Tui với ổng chỉ đạp đạp chân nhau, ý chừng dặn nhau nhất định dù thế nào cũng không khai báo"- bà Mảnh kể.
Nhắc tới đòn roi tra tấn của giặc, bà ôm đầu, nhăn mặt: "Thôi thì khỏi nói. Vô tới nha cảnh sát là 12 giờ đêm, nó đánh ổng dữ lắm. Vừa thấy mặt tui, tay cảnh sát đã nói: Bà này không vừa đâu. Bả là đầu nậu chợ Xóm Chiếu, vợ thằng Mười Bi. Ở trong này không có thì đánh cho có, có thì đánh cho chừa. Bà liệu mà khai!". Suốt gần một năm trời, cách ít lâu tụi nó lại lôi tui ra tra khảo, hỏi đi hỏi lại một câu hỏi: Bà Võ Thị Chi là Việt cộng. Còn Lê Hồng Quân có phải là con của bà Chi không? Lần nào cũng vậy, tui cứ một kiểu trả lời: Chồng tui làm cho hãng Mỹ, tui buôn bán nuôi con, nuôi mẹ chồng. Hai bên nhà tui là nhà mấy ông cảnh sát, gần nhà là bót Trần Văn Cát. Nếu tui biết bà Chi là Việt cộng, mắc gì tui không đi báo để lãnh thưởng chớ. Hỏi riết không được, tụi nó giải tui lên trại giam trên Thủ Đức nhốt thêm một năm nữa mới thả cho về". Tổng cộng, bà ở tù hai năm với một lý do hết sức mơ hồ nhưng phổ biến lúc bấy giờ: đối tượng hồ nghi.
Chuyến này ngồi xe đò một mình từ Gò Công lên Sài Gòn thăm cô Hồng Quân, bà Mảnh khoe bà đã được tặng Huy chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Chỉ có ông Mười Bi là ra đi khi chưa có được sự công nhận nào. Đòn thù tra tấn năm đó khiến ông Mười Bi từ một hảo hán vạm vỡ khỏe mạnh, giọng nói oang oang, trở thành một người nhiều bệnh tật. Ông nằm liệt 6-7 năm trời rồi mất, khi tiểu đoàn Lê Thị Riêng còn chưa được công nhận chính thức về sự hoạt động của mình.
Sau ngày Sài Gòn giải phóng, một hôm có xe quân sự đến tận nhà rước vợ chồng ông Mười Bi đi. Hàng xóm không ngớt xôn xao, đoán già đoán non: chắc ông Mười hồi trước làm cho hãng Mỹ, giờ bị cách mạng bắt đi rồi. Thì ra đó là xe do cô Lê Hồng Quân nhờ người anh họ làm trong quân đội đến chở cậu mợ Mười lên gặp mặt. Bà Mảnh móm mém: "Tới chừng đó hàng xóm mới biết tụi tui làm cách mạng. Trước đó có lần thằng con rể của tui kêu tui dẫn nó đi xem Việt cộng. Tui nói với nó: kiếm đâu cho cực vậy con. Tao với ba mày là Việt cộng nè".
MAI HƯƠNG
Kỳ 3: Cuộc diễn thuyết giữa chợ Bến Thành

Chiến dịch nổi dậy và tổng tiến công xuân Mậu Thân (1968) trên địa bàn Biên Hoà


Chiến dịch nổi dậy và tổng tiến công xuân Mậu Thân (1968) trên địa bàn Biên Hoà

Chuẩn bị cho chiến dịch xuân Mậu Thân ở Biên Hòa, đồng chí Lê Đức Anh (Tham mưu Bộ chỉ huy Miền) đã đến làm việc với Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn 5 tại căn cứ Bàu Sao (Trảng Bom) từ ngày 24 tháng 01 đến ngày 30 tháng 01 năm 1968. Mục đích đánh vào thị xã Biên Hòa nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hủy kho tàng  nhằm gây tổn thất nặng nề đối với quân Mỹ - ngụy; góp phần phá vỡ phòng tuyến phòng thủ của địch phía Đông Sài Gòn. Mục tiêu tấn công của quân cách mạng là Bộ Tư lệnh dã chiến 2 của Mỹ, sân bay quân sự Biên Hòa, Quân đoàn 3, Tổng kho Long Bình cùng với địa điểm như Tòa hành chánh tỉnh Biên Hòa, Ty cảnh sát...
Các đơn vị tham gia tấn công Biên Hòa gồm: Sư đoàn 5 chủ lực Miền, 2 tiểu đoàn đặc công Biên Hòa, trung đoàn pháo binh Biên Hòa, đội Biệt động thị xã Biên Hòa và lực lượng vũ trang Biên Hòa.
Đúng 0 giờ ngày 30 tháng 01 năm 1968, trung đoàn pháo Biên Hòa từ Hiếu Liêm  pháo tập vào mục tiêu sân bay Biên Hòa, phá hủy nhiều khu vực kỹ thuật, sở chỉ huy và kho tàng… Đồng thời, đặc công Biên Hòa tấn công địch trong sân bay làm cho sân bay này không hoạt động. Sau đó, địch cho phản kích để đánh chiếm lại sân bay. Đặc công sư đoàn 5, lực lượng biệt động thị xã Biên Hòa tấn công Sở chỉ huy Quân đoàn 3. Do tình hình chiến trường căng thẳng nên cánh quân này chuyển hướng tấn công chiếm khách sạn 57 và tấn công đoàn cố vấn Mỹ.
Ở mục tiêu Tổng kho Long Bình, tiểu đoàn 2 trung đoàn 5 và đặc công sư đoàn 5 tấn công vào bãi đậu trực thăng của Bộ Tư lệnh dã chiến Mỹ, gây cho địch nhiều thiệt hại. Thế nhưng, địch phản kích, Bộ chỉ huy Tiền phương tăng cường tiểu đoàn 3 sư đoàn 5 tiếp ứng. Quân giải phóng bám trụ triển khai chiến đấu đến ngày mùng 2 Tết mới rút ra. Lực lượng tham gia tân công Tổng kho Long Bình bị tổn thất khá nặng. Trong một hướng tấn công khác vào Tổng kho Long Bình, tiểu đoàn 2 đặc công U1 đột nhập vào cao điểm 53, dùng mìn cho nổ hủy diệt 127 kho chứa bom của địch.
Quân giải phóng không tiến đánh được một số mục tiêu theo kế hoạch như Tiểu khu Biên Hòa, Tòa Hành chánh tỉnh, Ty Cảnh sát Biên Hòa. Tại xã Tân Thành, lực lượng vũ tráng đánh chiếm công sở xã diệt đội dân vệ thu 24 súng nhưng không triển khai tấn công vào nội ô Biên Hòa được. Ở một số địa bàn nội ô và xã ngoại ô thị xã Biên Hòa, các cơ sở mật treo cờ Mặt trận, rải truyền đơn kêu gọi nhân dân nhưng không phát động được quần chúng nổi dậy .
Tham gia chiến dịch xuân Mậu Thân, mặt trận thị xã Biên Hòa đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 5.000 quân địch, phá hủy và làm hư hại 120 máy bay, 127 kho bom của địch. Trước tình hình khó khăn của chiến trường, sáng ngày 02 tháng 02 năm 1968 (mùng 3 Tết Mậu Thân), Bộ Chỉ huy Mặt trận Biên Hòa cho lệnh rút quân ra ngoài địa bàn thị xã để bảo toàn lực lượng và chuẩn bị cho những kế hoạch trong tình hình mới.