Rồng rắn lên mây
NGUYỄN DƯ
Nước ta nhiều núi rừng, sông lạch. Lắm thuồng luồng, rắn rết. Rắn bò vào
điện thờ, chui vào sách vở, nấp trong quán ăn.
Ảnh: internet
Trẻ con mới tập tễnh cắp sách đến trường đã phải rùng mình làm quen với
họ hàng nhà rắn:
Chẳng phải
liu điu, vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
Thẹn đèn,
hổ lửa, đau lòng mẹ,
Nay thét,
mai gầm, rát cổ cha,
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba.
Từ nay Châu, Lỗ, xin siêng học,
Kẻo
hổ mang danh tiếng thế gia.
(
Rắn đầu biếng học, Quốc văn giáo khoa thư)
Rắn đầu biếng học, có bản chép là
Trách mình biếng học,
tục truyền là của Lê Quý Đôn. Bài thơ ghép được nhiều tên rắn như vậy
thì ngoài thần đồng Lê Quý Đôn ra ai mà làm được, phải vậy không thưa
các cụ? Lãng Nhân (
Giai thoại làng Nho), Bùi Hạnh Cẩn (
Lê
Quý Đôn), Tạ Quang Phát (
Vân đài loại ngữ) và nhiều học
giả khác kể rằng:
Năm lên tám, một hôm Lê Quý Đôn bị bố mắng là đồ
rắn đầu rắn cổ
(hay
rắn đầu biếng học), bèn xuất khẩu “phun” ra bài thơ!
Rằng hay thì thật là hay, nhưng nghe không ổn, hôm nay xin bàn! Bàn về
Rắn
và
Rắn. Rắn luồn lách và rắn cứng đờ.
Rắn (con rắn) thì cả nước ta ai cũng biết. Tất cả các tự điển
tiếng Việt từ xưa đến nay đều có từ
Rắn này. Khỏi cần bàn thêm.
Rắn (cứng) mới… có vấn đề.
Từ điển Alexandre de Rhodes (1651) có từ
Rắn (cứng). Có cả
Rắn gan và
Rắn mày rắn mặt.
Đại Nam quốc âm tự vị (1895) của Huỳnh Tịnh Của không có
Rắn
(cứng). Chỉ có
Cứng (cứng lòng, cứng cổ, cứng đầu).
Tự điển Génibrel (1898) có
Rắn (raide),
Rắn mắt (têtu)
và
Rắn gan, rắn dạ (audacieux).
Việt Nam tự điển (1931) của hội Khai Trí Tiến Đức không có
Rắn (cứng) nhưng lại có
Dắn (cứng, trái với nát). Ngược
lại,
Cứng nghĩa là
Dắn (không bẻ được, trái với mềm).
Tìm trong tất cả các tự điển xưa không đâu có
rắn đầu và
rắn đầu rắn cổ.
Thực tế thì người miền Bắc thường mắng con là đồ
Cứng đầu cứng cổ
hay
Rắn mày rắn mặt. Người
đàng ngoài không nói
rắn đầu hay
rắn đầu rắn cổ. Khuyên con
chăm học
chứ không khuyên
siêng học. Đọc truyện Đông
Chu liệt
quốc, kính phục cụ Phan
Chu Trinh.
Châu, Lỗ hơi xa lạ
với họ.
Lê Quý Đôn sinh năm 1726 tại Diên Hà (Thái Bình). Mười bốn tuổi mới rời
quê, theo cha lên kinh đô Thăng Long…
Rắn đầu biếng học và
Châu, Lỗ xin
siêng học, chắc chắn không phải là khẩu khí
của cậu bé Lê Quý Đôn.
Bố Lê Quý Đôn mắng con
rắn đầu rắn cổ (Lãng Nhân, Bùi Hạnh Cẩn)
là… mắng bậy!
Rắn của
Quốc văn giáo khoa thư bò lung tung như vậy nhưng vẫn
còn kỉ luật hơn rắn của nhà Nho rất nhiều.
Sách
Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (thế kỉ 18) có truyện
Quan Phục Hầu Nguyễn Trãi:
“Quốc triều Quan Phục hầu Ức Trai tiên sinh người xã Nhị Khê, huyện
Thượng Phúc. Trong khi Thái Tổ Cao Hoàng Đế bình định thiên hạ, các hiệu
lệnh văn thư đều do tay ông thảo cả. Trong bài
Bình Ngô đại cáo
của ông có câu rằng:
Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm.
Nghĩa là: Đến nỗi đứa trẻ con giảo quyệt như Tuyên Đức nhàm võ không
chán.
Ông làm câu ấy, là vì ông oán ghét người Minh nhiễu hại nước ta, nên xỉ
vả thẳng đến vua của họ. Người Trung Quốc xem bài
Bình Ngô đại cáo
phê rằng: “Người nào làm bài này, con cháu sẽ không được toàn vẹn”. Về
sau vì việc Thị Lộ ông bị giết chết. Người ta cho lời phê của người
Trung Quốc là linh nghiệm.
Ông lấy Nguyễn Thị Lộ làm vợ lẽ. Tục truyền Thị Lộ là
yêu tinh rắn
hóa thành (…). Sau ông vì nàng mà bị tội”(1).
Vũ Phương Đề là người đầu tiên đem “sấm” Tàu và “yêu tinh rắn” vào thêu
dệt cái chết của Nguyễn Trãi. Vũ Phương Đề đã mở đường cho phong trào
viết… “lẫn lộn thực hư”. Cái chết bi đát của Nguyễn Trãi, một sự kiện
lịch sử có thật, bắt đầu được tô vẽ, thêm bớt.
Đầu thế kỉ 19, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án soạn sách
Tang thương ngẫu
lục, chép truyện
Ông Lê Trãi. Thực thực hư hư. Trần Nguyên
Hãn và Nguyễn Trãi được thần báo mộng, được Tiên Dung mách bảo vào Lam
Sơn phò Lê Lợi...
Trước khi hiển đạt, Nguyễn Trãi mở trường dạy học ở làng Nhị Khê. Một
hôm ông sai học trò dọn sạch một cái gò để dựng nhà học. Đêm hôm ấy ông
nằm mộng thấy một người đàn bà đến xin ông cho ngừng chặt phá, làm cỏ
trong 3 ngày để mẹ con bà kịp dời đi nơi khác. Tỉnh dậy, ông ra thăm thì
thấy học trò đã làm cỏ xong cái gò. Chúng khoe có đánh cụt đuôi một con
rắn và bắt được hai quả trứng.
“Ông cầm hai quả trứng về nuôi giữ. Đêm hôm ấy giong đèn đọc sách, ông
thấy một con rắn trắng leo trên xà nhà, rỏ giọt máu xuống sách, ướt chữ
“đại” (là đời), vết máu thấm xuống ba tờ giấy. Ông tự hiểu mà rằng:
- Nó sẽ báo oán ta đến ba đời sau.
Trứng rắn nở ra được hai con, một dài một ngắn, ông sai đem thả xuống
sông Tô Lịch ở làng bên, nay những rắn ấy làm thần sông.
Khi ông hiển đạt, thường mỗi ngày ở triều đình về, qua phố hàng Chiếu,
gặp một người con gái nhan sắc rất đẹp. Hai bên dùng thơ đùa cợt, rồi
ông yêu mến, lấy về làm thiếp. Trong năm Thiệu Bình, người ấy thường đi
lại vào trong cung cấm, vua Thái Tông cho làm chức Nữ học sĩ. Đến khi
vua băng hà, Triều đình đem nàng ra tra hỏi. Nàng nói là do ông xúi. Vì
thế nên ông phải tội. Khi bị hành hình người con gái ấy
hóa làm con
rắn, bò xuống mặt nước mất.
Ông có một người thiếp chạy trốn xuống vùng Sơn Nam, ẩn ở nhà người, rồi
sinh ra được một người con trai là Anh Võ (…). Nhớn lên, Anh Võ làm
quan ở Đài sảnh, rồi phụng mệnh đi sứ Tàu. Khi qua hồ Động Đình, thấy
trên mặt nước xuất hiện một
con rắn, rồi sóng gió nổi lên dữ
dội, ông khấn xin cho đi xong việc nước, sóng gió mới im. Sau khi đi
chầu vua Tàu về, đến hồ Động Đình, thuyền bị úp sấp mà chết đuối, được
truy tặng Thái Sư Sùng Quốc Công”(2).
Truyện
Ông Lê Trãi của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án được dàn dựng
công phu, có nhiều tình tiết hấp dẫn. Truyện được nhiều tác giả đời sau,
trong đó có cả người Pháp, tiếp tục thêm mắm thêm muối, “xào xáo” lại.
Năm 1886, Landes kể truyện
Ông Nguyễn Trại (Nguyễn Trãi được
Tây gọi là Nguyễn Trại). Xin tạm dịch:
“Nguyễn Trại là
ông tổ thứ nhất của Gia Long. Ông làm quan kiểm
lâm thời Lê. Một hôm ông dẫn lính vào rừng đốn cây, gặp một tổ rắn, đến
đêm nằm mộng thấy một người đàn bà (…).
Sau khi bọn lính giết con rắn cái, trên đường về ông gặp một cô bé rất
xinh đang đứng khóc. Cô bé lúc này đã bị hồn con rắn cái yêu tinh kia
nhập vào. Nguyễn Trại động lòng mang cô bé về nuôi. Lớn lên cô được
tuyển vào cung vua.
Có lần Hoàng thái hậu bị đau mắt, không lang y nào chữa nổi. Cô gái xin
chữa. Cô chỉ liếm nhẹ vào mí mắt, Hoàng thái hậu bèn khỏi.
Một hôm nhà vua bị đau lưỡi, cho vời cô gái vào chữa. Cô gái xin nhà vua
lè lưỡi cho cô xem. Vua lè lưỡi. Cô gái bỗng nhe răng cắn lưỡi vua. Vua
chết tức khắc. Đình thần ra lệnh giết cô gái. Nguyễn Trại và người lính
hầu của ông bị xử tội phải chôn sống.
Vợ người lính biết tin, lên đường đi thăm chồng. Nhưng, lúc bà đến được
cửa ngục thì chồng đã bị hành quyết.
Nguyễn Trại nói với vợ người lính: “Chồng nàng chết vì ta. Ta bị oan,
cũng sẽ chết. Chuyện đã rồi! Nàng hãy chìa tay ra để ta lưu dấu tích lại
cho hậu thế”. Người đàn bà chìa tay ra, Nguyễn Trại liền nhổ nước bọt
vào lòng bàn tay.
Trở về nhà, người đàn bà mang thai. Bà sinh được một đứa con trai nối
dõi dòng họ Nguyễn Trại”.
Landes chú thích: Có người kể rằng Nguyễn Trại từ chối những lời dụ dỗ
của con yêu tinh nhập vào cô bé. Thậm chí ông còn đánh cô bé. Con yêu
tinh trả thù bằng cách nhập vào
con gái của ông. Lớn lên, con
gái của Nguyễn Trại được tuyển vào cung vua, trở thành hoàng hậu. Về
sau, hoàng hậu phạm tội giết vua. Dòng họ Nguyễn Trại bị giết hết. Lúc
sắp chết Nguyễn Trại được vợ một người lính xin được tiếp tục lưu truyền
dòng dõi của ông”(3).
Năm 1898, Nordemann kể
Sự tích ông Nguyễn Trãi bằng chữ quốc
ngữ. Nordemann cũng nói tên
Trại bị
trại thành
Trãi!
“Đời vua Thái Tổ, nhà Hậu Lê, ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà
Nội, có một người tên là Nguyễn Trại (
tục gọi là Nguyễn Trãi)…
Nguyễn Trại nằm mộng thấy một người đàn bà xin cứu cho “
mười ba
mẹ con tôi”. Sau đó, người nhà dọn vườn chém con rắn chửa
mười hai
trứng v.v.
Truyện của Nordemann đại khái cũng giống truyện của Landes. Nhưng
Nordemann đưa ra một chi tiết cần được kiểm chứng: “Nghe có người nói
rằng
ông Nguyễn Hữu Độ, làm kinh lược Bắc Kỳ, tước là Vĩnh Lại
Quận Công, mới mất năm Đồng Khánh thứ ba,
cũng là dòng dõi ông
(Nguyễn Trại) ấy”(4).
Năm 1908, Dumoutier lại đưa thêm vài điều mới vào truyện
Vua Lê Lợi
và con rắn hồ Động Đình. Xin dịch tóm tắt:
“Ông
Phi Khanh dọn vườn sửa soạn đất làm nhà. Ông nằm mộng thấy
một người đàn bà xin ông tha chết cho ba mẹ con v.v. Phi Khanh đọc
sách, bị con rắn trên xà ngang nhỏ một giọt máu xuống sách, thấm ướt 3
tờ giấy…
Con trai Nguyễn Trãi tên là
Nguyen Dam được vua Lê Thánh Tôn cử
đi sứ sang Tàu. Thuyền đang đi trong hồ Động Đình thì một con rắn rất
lớn nổi lên vùng vẫy gây sóng gió. Nguyen Dam xin được đi bình yên, lúc
trở về sẽ nộp mình.
Đi sứ xong, lúc trở về Nguyen Dam lại gặp rắn. Ông viết 2 bức thư gửi
vua Tàu và vua ta để giãi bày hoàn cảnh, rồi nhảy xuống sông. Con rắn
cắn ông, lôi xuống đáy hồ. Vua Tàu được tin, bèn sai phù thủy dùng bùa
bắt con rắn. Mổ bụng moi xác Nguyen Dam, đem chôn cất. Thân rắn bị chặt
làm 3 đoạn, vứt xuống hồ. Trong hồ bèn nổi lên 3 hòn đảo. Vua Tàu phong
Nguyen Dam làm thần hồ Động Đình”(5).
Dumoutier mời Bố của Nguyễn Trãi nhập cuộc. Nguyen Dam (không biết tên
Việt là gì) có liên hệ gì với Anh Võ (hay Anh Vũ) không?
Ba tác giả Pháp đưa ra nhiều tên mới lạ, không hiểu nhằm mục đích gì?
Tại sao Nguyễn Trãi bị đổi thành Nguyễn Trại?
Trường hợp dấu ngã đổi thành dấu nặng chúng ta còn thấy trong một văn
bản khác. Địa danh Vỹ
Dã, Tổng
Dã Lê, xã
Dã
Lê thượng,
Dã Lê hạ của thời Lê Quý Đôn(6) đã trở thành thôn Vỹ
Dạ, làng
Dạ Lê không biết từ lúc nào.
Rất có thể mấy ông Tây đã được mấy ông thông ngôn trọ trẹ chữ quốc ngữ
“gà” cho chăng?
Truyện
Ông Lê Trãi của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án được Phan Kế
Bính đổi tên thành
Nguyễn Trãi, đưa vào sách
Nam Hải dị
nhân.
Phan Kế Bính cho biết “vua Thái Tôn nhân đi chơi qua tỉnh Bắc, vào chơi
trại
Tiêu viên, Nguyễn Trãi đi vắng, có nàng hầu là Thị Lộ, ở
nhà pha chè hầu vua, chiều hôm ấy vua mất…(7)
.
Ngô Sĩ Liên chép là vua về đến
Lệ chi viên (vườn Vải). Phan Kế
Bính chép là trại
Tiêu viên (vườn Chuối). Bao giờ thì đến lượt
vườn Chà Là, vườn Sa Bô Chê?
Nguyễn Đổng Chi đổi hẳn tên truyện thành
Rắn báo oán. Ông ngờ
rằng
Rắn báo oán của ta chịu ảnh hưởng truyện
Phương Chính
Học và truyện
Ngô Trân của Tàu.
“(
Rắn báo oán) là câu chuyện do tầng lớp Nho sĩ gần gũi giai
cấp thống trị bịa đặt ra nhằm huyền thoại hóa tấn thảm kịch của người
anh hùng Nguyễn Trãi, xóa mờ sự thật về tấn thảm kịch ấy, hòng gỡ tội
cho những kẻ đã gây ra cái chết oan khốc của ông và cả họ ông”(8).
Thưa cụ Nguyễn Trãi,
vàng thau lẫn lộn của thời xưa chưa phiền
bằng “vàng ta pha vàng tây” của đời sau đâu ạ! Cụ sống khôn thác thiêng,
xin cụ… xí xóa cho!
Thuở bé tôi thích nghe chuyện thần thánh, ma quỷ. Cho đến ngày bị thầy
mắng
Nói có sách, mách có chứng, bị cụ Mạnh bắt gặm cục xương
Tận tín thư bất như vô thư mới tỉnh người. Từ đó hết thích truyện
“vớ vẩn”.
Dân ta có truyền thống kính trọng các vị anh hùng dân tộc. Thần thánh,
ma quỷ chỉ nên
kính nhi viễn chi, xin các sử gia đừng nhập
nhằng đưa vào sử.
Vẽ rắn thêm chân nên giao cho nghệ nhân dân gian, những người
như
Thạch Sanh.
Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, kết nghĩa với Lý Thông. Trong vùng có con yêu
tinh:
Nó là rắn lớn hiện hình,
Nhờ hơi nhật nguyệt thành tinh hại người
Nhà vua treo giải thưởng tìm người giết con
Xà tinh. Thạch Sanh
vác búa đi giết được Xà tinh. Nhưng bị Lý Thông lập mưu cướp công. Một
hôm, công chúa bị
Mãng Xà Vương “tam đầu cửu vĩ (ba đầu chín
đuôi) ai nào chẳng ghê” hóa thành Đại Bàng bắt mang về hang. Thạch Sanh
giết
Mãng Xà vương, cứu được công chúa. Nhưng lại bị Lý Thông
cướp công, lấp cửa nhốt dưới hang (…). Thạch Sanh còn gặp nhiều lận đận.
Còn phải giết
Trăn Tinh, đánh
hồ tinh.
Cuối cùng, Lý Thông cũng bị trừng trị. Thạch Sanh dẹp được giặc, được
vua gả công chúa, truyền ngôi.
Xà của Tàu là
rắn của ta.
Mãng là con
trăn, một giống rắn lớn.
Trăn tinh không biết có họ hàng
gì với
Chằn tinh không?
Chằn cũng là yêu quái (Huỳnh
Tịnh Của).
Bên cạnh mấy con rắn có chân làm trò mua vui, vô thưởng vô phạt, ta còn
có mấy con rắn giúp các ông đồng bà cốt, pháp sư phù thủy kiếm ra tiền.
“
Phụ thần Bạch Xà thì dùng một con
rắn bằng rơm rồi
phù phép vào con rắn để con rắn bò quanh nhà diệt tà ma. Con rắn thường
bò được là nhờ trong ruột có bộ phận cử động bằng máy, nhưng những người
quá tin cho là thầy phù thủy cao tay có phép lạ”(9).
“Tại các điện thờ chư vị, nhất là điện thờ các ông Hoàng, bà Chúa Thượng
Ngàn, ta thường thấy ở hai bên hàng sà kèo có
cặp rắn trắng
rất lớn mào đỏ, mà các đệ tử gọi là
ngựa ngài, tức là cặp rắn
là cặp ngựa để ngài cưỡi.
Các đệ tử con hương thường thuật lại tại các đền thờ ông Hoàng bà Chúa ở
đường rừng, hay có những
cặp rắn có mào thật bò ra quấn lấy
kèo lấy cột ở trong đền, khác hẳn với các đền, điện miền xuôi, cặp rắn
chỉ là đồ mã”.
“Nói về rắn, phải kể tới loại
rắn biển, tức là
con đẻn
cũng được dân ta ở ven miền duyên hải kính sợ tôn thờ và gọi bằng
Ông (...).
Cũng là đẻn, phải kể đến
bà Lạch tức là
bà Chằng lạch
và
bà Mộc, được gọi là
Mộc trụ thần xà”(10).
“
Đẻn là loại rắn biển có nhiều sắc, nó cắn nhằm ai thì bắt ngủ
mê mà chết.
Đẻn cườm là đẻn có hoa lúm đúm, chính là đẻn độc
hơn.
Thành ngữ
Xông khói đẻn nghĩa là đốt đẻn khô làm cho chủ nhà
mắc khói nó mà ngủ mê, ấy là nghề kẻ trộm”. (Huỳnh Tịnh Của).
Có âm thì phải có dương. Có bà thì phải có ông.
“Cấu trúc không gian trong các điện thờ Mẫu, vị trí chư vị thần thánh
được bài trí sắp xếp theo ba tầng: tầng trên không, tầng ngang trên ban,
bệ thờ và tầng trệt. Đây là một điều rất riêng vì không có tôn giáo tín
ngưỡng nào bài trí như vậy. Ở tầng không là sự hiện diện của
đôi
mãng xà (còn gọi là
Ông Lốt) tượng trưng cho
quan lớn
Tuần Tranh. Một con màu trắng, một con màu sẫm quấn trên xà ngang
phía trái, bên trên ban thờ”(11).
Quan lớn tuần Tranh là ai?
“Ở huyện Vĩnh Lại (Hải Dương), về đời Trần có hai vợ chồng nghèo, không
con cái. Một hôm người chồng làm vườn bắt được hai quả trứng. Trứng nở
ra hai con rắn. Người vợ muốn giết. Người chồng bảo để nuôi. Rắn một
ngày một lớn. Vợ chồng phải đem ném xuống sông. Nước sông bỗng xoáy lại
thành vực.
Một hôm có nàng công chúa qua sông, bị nước xoáy không đi được. Người vợ
ném cơm xuống sông, khấn vái. Sông lặng sóng ngay. Dân sở tại lập miếu
thờ
thần Thuồng Luồng của sông.
Đến đời Trần Minh Tôn, có vợ quan phủ Ninh Giang Trịnh Thường Quân là
Dương Thị bị mất tích. Thường Quân phải nhờ Bạch Long Hầu dắt xuống Thủy
Cung tìm vợ.
Vợ chồng gặp lại nhau. Dương Thị kể cho chồng nghe chuyện bị hoàng tử
thứ năm của Thủy Thần Long Vương bắt về làm vợ. Thường Quân đem chuyện
khiếu nại với Thủy Thần.
Thủy thần xử cho vợ chồng Trịnh Thường Quân được đoàn tụ. Phạt hoàng tử
thứ năm, đày ra sông Tranh cho được
đới công chuộc tội.
Thủy thần vừa tuyên án xong thì trên trần gian miếu
thần Thuồng
Luồng bị đổ nát. Người ta thấy một con rắn dài hơn mười trượng, vảy
biếc mào đỏ nổi trên mặt nước đi về phía sông Tranh, hơn trăm rắn nhỏ
theo sau.
Hoàng tử thứ năm hiển linh tại sông Tranh. Dân gian lập đền thờ, gọi là
đền thờ
Quan lớn tuần Tranh. Hàng năm mở hội. Các bà các cô lên
đồng, hầu bóng rất đông”(12).
Ông Lốt là… cái gì?
Lốt nghĩa rộng là vị thần đội lốt rắn thường gọi là
ông
Lốt. Nghĩa bóng là mượn bóng mượn tiếng đi doạ nạt lừa đảo. Thí dụ:
đội lốt sư đi khuyến giáo. (
Từ điển Khai Trí Tiến Đức).
Lốt là con rắn huyền thoại, một loài rắn nước mà người ta
thường mô tả là có 3 cái đầu người và 9 tấm vẩy ở cuối đuôi. Nó dùng để
cho thủy thần cưỡi, theo đạo đồng cốt (Nordemann).
Ông Lốt là “ngựa” của ông Hoàng ba, hoàng tử thứ năm, quan lớn tuần
Tranh. Lốt sống dưới Thủy phủ.
Lốt cũng có
ba đầu chín đuôi,
giống Mãng Xà Vương của truyện
Thạch Sanh.
Nhìn sang vườn nhà hàng xóm cũng thấy rắn. Rắn thật!
Liễu Tôn Nguyên kể
truyện người bắt rắn:
“Ở Vĩnh Châu có giống rắn lạ, thân đen, vằn trắng chạm vào cây cỏ, thì
cây cỏ chết, cắn phải người, thì không thuốc gì chữa nổi. Song mà bắt
được giống rắn ấy dùng làm thuốc để chữa những bệnh như bệnh trúng
phong, bệnh co quắp chân tay, lại sát được cả trùng.
Cho nên nhà vua có lệ bắt dân gian mỗi năm phải hiến hai con rắn ấy để
dành. Ai bắt được rắn thì được trừ thuế ruộng.
Người châu Vĩnh tranh nhau mà làm nghề bắt rắn. Có nhà họ Tương cũng làm
nghề ấy đã được ba đời. Hỏi ra thì nhà họ Tương nói:
- Ông tôi chết về nghề bắt rắn, cha tôi cũng chết về nghề bắt rắn. Tôi
nối nghề ông cha tôi mới có mười hai năm, cũng đã mấy lần suýt chết.
Người ấy nói, vẻ mặt rất buồn rầu.
Ta thương và hỏi rằng:
- Nhà ngươi có thật cho nghề bắt rắn là khổ không? Ta sẽ nói với quan
trên cho nhà ngươi bỏ nghề ấy mà cứ nộp thuế ruộng như thường. Nhà ngươi
tính thế nào?
Người họ Tương vừa khóc, vừa nói:
- Ông thương tôi, muốn cho tôi sống, thì ông để cho tôi làm nghề bắt rắn
còn hơn. Nếu tôi không làm nghề này thì tôi khốn khổ đã lâu rồi. Nhà
tôi ba đời ở làng kể đã hơn sáu mươi năm, cách sinh nhai trong làng mỗi
ngày một quẫn bách. Người làng phải rút hết cả lợi hoa màu, vét hết cả
của cải trong nhà để mà nộp thuế hết, thậm chí bỏ làng, bỏ xóm, đói
khát, trôi giạt, chết đường, chết chợ kể bao nhiêu người. Những người
vào chạc tuổi ông tôi mười nhà không còn một. Những người vào chạc tuổi
cha tôi, mười nhà còn độ hai, ba. Những người vào chạc tuổi tôi mười nhà
còn độ bốn, năm. Không chết chóc thì lưu lạc cả… Tôi nhờ nghề bắt rắn
mà còn đến bây giờ. Những quan lại tàn ác về làm thuế làng tôi, xúc hết
đầu làng, cuối xóm vơ vét đến cả con gà, con chó, dân gian phải hãi hùng
kinh sợ. Những lúc ấy, về phần tôi, tôi được yên lặng, trông trong giỏ
con rắn vẫn còn là tôi được ăn no, ngủ yên. Tôi làm nghề bắt rắn một năm
sợ chết chỉ có hai lần, ngoài ra là vui vẻ, không phải lo thuế má,
không đến nỗi như người làng xóm tôi hết ngày này, sang tháng khác khốn
khổ về quan lại tàn ác. Giá tôi có chết về nghề bắt rắn, ví với người
làng xóm tôi cũng đã là chậm, đâu dám cho là rắn độc mà xin thôi.
Ta nghe câu chuyện, lại càng thương lắm. Xưa Đức Khổng nói: “Chính sách
hà khắc độc hơn hổ dữ” ta vẫn ngờ, bây giờ xem chuyện họ Tương mới cho
là thật. Than ôi! cái độc quan lại tàn ác làm thuế ở dân gian dữ hơn con
rắn độc, cho nên nói ra đây để người xem xét phong tục thấu được tình
cảnh đau khổ của dân!”(13).
Kinh Thi có câu: “Duy hủy duy xà nữ tử chi tường; duy hùng duy bi nam tử
chi tường”. (Mộng thấy rắn là điềm sinh con gái, mộng thấy gấu là điềm
sinh con trai).
Có tin đồn là bà ngoại Khổng Tử một hôm nằm mộng thấy rắn. Mẹ Khổng Tử
nằm mộng thấy một con gấu to tướng.
Ta bắt chước Tàu, cũng nằm mộng thấy rắn, thấy gấu:
Điềm lành hùng hủy hiện thân
Kể đã ba đời sinh được phu nhân
(Thiên Nam ngữ lục)(14).
Nói chung, loài người không thích rắn. Thậm chí sợ rắn.
Sợ từ ngày bà Eva bị Rắn dụ dỗ ăn trái cấm. Bà mời ông Ađam cùng ăn.
Thượng đế hay tin bèn nổi giận, đuổi ông bà ra khỏi vườn Địa Đàng. Phạt
ông bà và con cháu đời sau phải sống… như chúng ta bây giờ!
Rắn trở thành kẻ thù của loài người từ ngày đó.
Người phương Tây gọi những kẻ hay nói xấu,
chụp mũ người khác
là bọn
rắn độc (langue de serpent, langue de vipère). Cứu giúp
kẻ vô ơn, sẵn sàng quay lại hại chính mình là
ấp rắn trong ngực
(Réchauffer un serpent dans son sein).
Ta gọi bọn
khua môi múa mép là
nói rắn trong lỗ bò ra.
Dân ta căm thù, nguyền rủa bọn
cõng rắn cắn gà nhà. Nói đúng
hơn là bọn
bắt rắn về cắn gà nhà (Léopold Cadière).
Tuy nhiên, rắn phương Tây cũng có khi được cưng. Ngày nay chúng ta thấy
nhan nhản rắn trên bảng hiệu của bác sĩ, tiệm thuốc tây. Ồ, lạ nhỉ? Vì
sao vậy?
Thần thoại Hi Lạp suy tôn Asclépios là ông thần đứng đầu ngành y. Ông có
tài chữa lành cho người mù, người tàn tật. Ông
cải tử hoàn sinh
cho Glaucos, Tyndare, Hippolyte. Tâm nguyện của Asclépios là
cứu
nhân độ thế… hoàn toàn miễn phí.
Không ngờ, việc làm của Asclépios đã gây bất mãn cho vị thần cai quản
Địa ngục Hadès. Hadès lo ngại… thiếu dân để hành hạ. Hadès khiếu nại với
Zeus. Zeus mủi lòng trước cảnh đất rộng người thưa của Địa ngục, bèn
tung sét đánh chết Asclépios.
Sinh thời, Asclépios rất thích rắn vì rắn là con vật biết thay da đổi
thịt, biết
đổi mới hàng năm. Rắn lột xác giống như bệnh tật
được chữa khỏi, sức khỏe được phục hồi.
Lúc đi hành nghề, Asclépios bao giờ cũng mang theo chiếc gậy có chạm trổ
một con rắn. Vì vậy mà các bác sĩ, dược sĩ đã chọn
Rắn quấn gậy
làm biểu tượng của ngành nghề và mời rắn bò lên bảng hiệu.
Rắn của người lớn rắc rối quá.
Rốt cuộc chỉ có
Rồng rắn của trẻ con là dễ thương nhất!
Lũ trẻ thật là…
rắn gan (de Rhodes, Génibrel). Dám để cho rắn
chơi trèo với rồng. Chúng mày cho dân đen được dòm mặt vua à? Không coi
tôn ti trật tự ra cái gì.
Trò chơi
Rồng rắn chia làm hai phe. Ít đứa chơi (chuyện khó
tin!) thì chọn một đứa làm thầy thuốc, đám còn lại ôm nhau làm rồng rắn.
Thầy thuốc phải đuổi bắt cái đuôi rồng rắn. Nếu có nhiều đứa chơi thì
chia làm hai phe, mỗi phe là một rồng rắn. Đứa đứng đầu vừa phải bảo vệ,
che chắn cho cái đuôi khỏi bị đối phương bắt, vừa phải tìm cách bắt cái
đuôi của đối phương. Vào trò, rồng rắn uốn éo hát:
Rồng rắn lên mây
Có cây núc nác
Có nhà điểm binh
- Thầy thuốc có nhà không?
- Thầy thuốc không có nhà
(…)
- Xin khúc đuôi
- Tha hồ mà đuổi.
Thế là tha hồ đuổi bắt nhau. Vui nhộn, ồn ào. Người lớn bực mình thì mặc
kệ người lớn!
Gần đây bên Âu Tây nảy sinh mốt chơi rắn cảnh. Đẹp… dễ sợ! Nhưng chưa
đáng sợ bằng mốt ẩm thực đầy “tâm huyết” của đại gia nước ta.
Hôm nay mời ông món lạ. Ít hiệu có.
Khách chuyện trò mới hết nửa đĩa lạc rang thì từ nhà bếp một “thích
khách” mặt lạnh như tiền bước ra. Tay cầm dao, nách kẹp chiếc gậy nhỏ.
Một thằng tiểu đồng xách giỏ rắn theo sau. Thầy trò đến trước mặt khách
ẩm thực chờ lệnh. Ông khách quen của hiệu liếc nhìn giỏ rắn rồi hất hàm,
chỉ tay. “Thích khách” liền thò chiếc gậy gắn móc sắt vào giỏ, khoắng
một vòng, lôi con rắn được chọn ra ngoài. Tay còn lại múa một đường, cổ
rắn bị kẹp chặt. Dao lòe sáng. Tiết rắn phọt ra. Tiểu đồng nhanh tay giơ
tách hứng. Không một giọt rơi xuống mặt bàn. Thêm một đường dao. Tim
rắn bị móc ra, thả vào tách. Tiểu đồng mở chai Quốc Lủi, rót đầy tách,
đặt trước mặt khách.
Khách mỉm cười, gật đầu ra hiệu cho “thích khách” biểu diễn thêm một lần
nữa…
Tâm, huyết đã sẵn sàng.
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót
về đâu? (Nguyễn Bá Trác). Rót vào họng chứ còn rót vào đâu nữa?
Định rót vào túi à? Lộc trời cho, ta cứ nốc.
Làng Lệ Mật “có hàng trăm hộ nuôi rắn, hàng chục nhà hàng đặc sản rắn và
có nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật về rắn được tổ chức rầm rộ hàng
năm. Lệ Mật được đánh giá là trung tâm giao dịch về rắn của toàn miền
Bắc, đồng thời là làng rắn nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới”(15).
Rắn được giới ẩm thực khen là loài có
tâm, huyết. Bổ thận,
cường dương. Bảy món khề khà.
Lyon, 12/2012
N.D
(SH288/02-13)
........................................................
(1) Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký, bản dịch của Đoàn Thăng,
Nxb. Văn Học, 2001, tr. 275.
(2) Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Tang thương ngẫu lục, bản dịch của
Đạm Nguyên, 1962, Đại Nam tái bản, tr. 112-128.
(3) A. Landes, Contes et Légendes annamites, Imprimerie
Coloniale, 1886, tr. 63.
(4) Edmond Nordemann, Quảng tập viêm văn (1898), Nguyễn Bá Mão
biên dịch và chú thích bổ sung, Nxb. Hội Nhà văn, 2006, tr. 26-28.
(5) Gustave Dumoutier, Essais sur les Tonkinois, IDEO, 1908,
tr. 300-304.
(6) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của nhóm Đỗ Mộng
Khương, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa học Xã hội, 1977, tr. 79.
(7) Phan Kế Bính, Nam Hải dị nhân liệt truyện (1912), Mặc Lâm
tái bản, 1969, tr.33-39.
(8) Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4,
Nxb. Khoa học Xã hội, 1975, tr. 451-461.
(9) Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, Nam Chi tùng
thư, 1965, Xuân Thu tái bản, tr. 211.
(10) Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, quyển hạ, tr. 260 -261.
(11) Bùi Xuân Mỹ, Tục thờ cúng của người Việt, Nxb. Văn hóa
Thông tin, 2001, tr. 181.
(12) Nguyên Tử Năng, Thần thoại Việt Nam, 1966, Zieleks tái bản
1980, tr. 96-104.
(13) Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, quyển 2,
Thọ Xuân, 1962, tr. 133-135.
(14) Đinh Gia Khánh chủ biên, Điển cố văn học, Nxb. Khoa học Xã
hội, 1977, tr. 193.
(15) Quốc Văn, Làng nghề Hà Nội, Nxb. Thanh Niên, 2010, tr.
127.