Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

HÌNH TƯỢNG RẮN QUA TỤC THỜ VÀ HUYỀN THOẠI


HÌNH TƯỢNG RẮN QUA TỤC THỜ VÀ HUYỀN THOẠI
Trần Minh Hường
Loài vật đã đi vào đời sống văn hóa của nhân loại bằng nhiều cách thức và sự biểu hiện khác nhau. Mỗi loài đều mang những ý nghĩa biểu trưng nhất định và tiêu biểu cho văn hóa, tín ngưỡng, tập tục, lối sống hay đặc tính của một dân tộc, vùng miền. Nhưng, có lẽ, không có loài vật nào mà ý nghĩa biểu trưng phong phú như loài rắn.
tran-minh-huong-hinh-tuong-ran-qua-tuc-tho-va-huyen-thoai
 Hình tượng rắn không chỉ xuất hiện trong hầu hết các nền văn hóa mà còn mang nhiều ý nghĩa khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Rắn biểu trưng cho cả giới tính nam và nữ; là một vị thần sáng thế, biểu trưng cho vũ trụ thời hỗn mang nhưng đôi khi lại là một thành viên hay vị thần bảo hộ của gia đình, là nguồn nước và cũng là lửa, là vị phúc thần và ác thần, điều tốt và cái xấu, tượng trưng cho sự sống bất tử và cái chết, dương thế và âm ty, sự hủy diệt và tái sinh, tình yêu, nhục dục và tội lỗi...
1. Tục thờ rắn của một số nơi trên thế giới
Ở châu Úc, các thổ dân tôn sùng và thờ rắn khổng lồ, con rắn này được gọi bằng nhiều tên, song phổ biến hơn cả là serpent rainbow - rắn cầu vồng. Sự đồng nhất hình tượng cầu vồng với rắn xuất phát từ quan niệm liên quan đến nước và đời sống nông nghiệp. Con “rắn cầu vồng tượng trưng cho nước, là thực thể tâm linh lâu đời nhất của người dân bản địa. Là nhân vật cổ xưa được hoan nghênh nhất, thần rắn với sự hiện diện mơ hồ của mình được cảm thấy tất cả các hồ nước và dòng sông, mà ông vừa là nhà sáng tạo vừa là nhà dám hộ”(1). Vùng bắc Australia, hình tượng rắn ngũ sắc lại được gắn với các nghi lễ trưởng thành. Melentinsky cho biết, trong nghi lễ trưởng thành, người ta dựng lại hình thức chị em Vauvaluk (tổ tiên của bộ tộc Dua) với một người bị rắn ngũ sắc nuốt, sau đó rắn khạc ra đứa trẻ - tượng trưng cho cái chết tạm thời của người lên bậc trưởng thành. Tính chất của rắn ngũ sắc không chỉ là quái vật nuốt người, mà “rắn ngũ sắc này là tập hợp trong mình những biểu tượng về thủy thần, về quái vật - rắn (mầm mống của biểu tượng về con rồng)”(2).
Ở châu Phi, hình tượng rắn được thờ phụng ở rất nhiều quốc gia, dưới nhiều hình thức biểu hiện khác nhau. Tại Congo, “uy lực tối cao của trời là con rắn Điămbô, không ai có thể ngồi lên lưng nó được. Ai trèo lên là lại tụt xuống thấp ngay”(3). Người Ngbandi phía bắc Congo cũng tin rằng rắn là con vật lâu đời nhất, là tổ tiên sáng tạo. Họ thờ rắn như thờ vị thần tối cao của dân tộc.
Tại Whydah người ta đã tìm thấy những ngôi đền thờ rắn, được mô tả chỉ là “một túp lều đất sét hình trụ có mái che bằng tranh, dài, hẹp, lối vào cửa phải đối diện với nhau. Căn nhà được quét vôi trắng bên trong và ngoài. Cửa ra vào được cắm các cờ trang trí nhỏ vải bông màu đỏ, trắng, xanh. Ngoài trăn thì cá sấu là đối tượng được giám sát việc thờ cúng ở các địa phương”(4). Người ta xem mãng xà như những vị thần linh thiêng. Nếu ai vô tình giết chúng thì sẽ bị trừng phạt, thậm chí nếu đó là người ngoại quốc sẽ bị chặt đầu. Một số địa phương của Liberia lại gắn rắn với niềm tin về bói toán, tiên tri. Loài bò sát này được giám hộ và không ai dám làm hại nó. Trong nhiều huyện ở miền nam Nigeria, mãng xà là đối tượng đứng đầu của niềm tin về tiên tổ. Được biết đến dưới cái tên Ogidia, nó đại diện cho cuộc chiến tranh bộ lạc. Người dân quan niệm, mỗi con mãng xà có một linh hồn con người bên trong nó. Linh hồn được giải phóng bằng nghi lễ sau cái chết của những loài bò sát. Bất cứ hành vi phạm tội nào chống lại con rắn là một tội phạm đối với tổ tiên.
Tín ngưỡng thờ rắn ở nam Uganda còn liên quan đến tục hiến tế. Người ta tìm thấy một ngôi đền thờ rắn nằm bên bờ hồ Victoria Nyanza, trên bờ của sông Muzini. Ngôi đền hình nón lớn được lợp bằng tranh và cỏ; tầng dưới được trải thảm bằng cỏ ngọt có mùi; tầng trên là nơi thiêng liêng của rắn và người giám hộ nó. Đó phải là một phụ nữ còn trinh tiết. Người ta còn tạo ra một lỗ tròn trên mái nhà để rắn có thể dễ dàng đi đến bờ sông. Phụ nữ Uganda và Tây Phi còn đến bên các đền thờ rắn để cầu nguyện. Khi trẻ em được sinh ra, một số họ thừa nhận đã được thực hiện bởi những con rắn. Như vậy, hình tượng rắn không chỉ liên quan đến nguồn nước mà còn là biểu tượng cho sự thịnh vượng, niềm tin liên quan đến nghề cá, nông nghiệp và cả sự mắn đẻ.
Trong quan niệm của người dân Katsina, Daura và Hausa (vùng cao nguyên ở phía bắc của núi Elgon), rắn liên quan đến chữa bệnh, cầu thai. Đặc biệt, họ xem rắn như vật tổ, nếu ăn thịt con vật thì sẽ bị chết. Rắn có thể tự do vào nhà người dân mà không hề bị giết vì họ tin rằng, giết rắn là giết tổ tiên của mình. Trong trí tưởng tượng của cư dân nhiều bộ tộc ở Tây Phi thời cổ, giới tự nhiên đều có linh hồn. “Đối với họ, rắn tượng trưng cho sự sung túc. Trời mưa vừa tạnh, trên không trung cầu vồng hiện ra và trở thành thần rắn trong trí tưởng tượng của nhân dân”(5).
Trong thế giới tượng của người Nairobi (thủ đô của Kênia) motip các vị thần, những con quỷ rất phổ biến. Một trong những nét đặc sắc của tượng Makonđê là “nhiều tượng mang hình rắn. Ở tượng này rắn ngóc lên từ một thân người. Ở tượng khác, rắn vươn cao trước mặt người như để thôi miên nạn nhân của nó. Ở tượng khác nữa, rắn nằm nhũn trong tay người bắt nó”(6). Bộ tộc da đen ở Nigeria tin rằng, nếu một đứa trẻ bị tâm thần hoặc bị liệt, sau khoảng thời gian bốn năm cho phép mà không có dấu hiệu phục hồi thì bị coi là rắn và bị ném xuống sông. Còn các bộ lạc Kouyou lại dành cho Viper (rắn vipe) một sự kính trọng đặc biệt vì họ cho rằng đây là tổ tiên của các tù trưởng.
Ở một trong những quốc gia cổ xưa nhất được ghi nhận về sự hiện diện của tín ngưỡng thờ rắn Ai Cập, người ta cho rằng, “những con rắn đã nhập vào các tôn giáo Ai Cập như một biểu tượng của thánh thần, của sự mê hoặc, đôi khi nó được tin như một lời sấm, lời tiên tri, thậm chí là một đấng tối cao"(7). Atum là một vị thần nguyên thủy đã được biểu trưng dưới hình thức người rắn... Thời cổ xưa, người Ai Cập cho rằng rắn là thần hộ mạng cho các vị vua chúa, cho nên, mấy nghìn năm về trước, trên các vương miện của các pharaoh Ai Cập đa số đều có chạm trổ hình rắn Naja bằng vàng hay bằng ngọc. Điều này được lý giải là tượng trưng cho nữ thần hiền lành, có khả năng phù hộ cho nhà vua. Trước công nguyên, các sứ giả của các quốc gia ở châu Âu đều tay cầm cây trượng, trên đầu trượng có điêu khắc hình rắn, điều đó có tác dụng như là dấu ấn trong quốc thư của các sứ giả ngoại quốc.
Nhìn chung, người Ai Cập cổ xem rắn là một con vật linh thiêng, một vị thần tối linh. Nó biểu trưng cho sự khôn ngoan, thiêng liêng, cho nguồn năng lượng và sự sáng tạo, sự tái sinh, bất tử, vĩnh cửu. Dấu vết của tín ngưỡng này còn được tìm thấy qua các hình vòng tròn, quả cầu được chạm khắc trên hầu hết các cổng ngôi chùa ở Ai Cập (người Ai Cập quan niệm thế giới như một vòng tròn, con rắn đi xuyên qua tâm theo chiều ngang biểu trưng cho sự giao nhau bởi vũ trụ và đất liền).
Ở châu Âu, tục thờ rắn phổ biến trong các cư dân sống quanh lưu vực những con sông ở Hy Lạp. Tuy nhiên hình tượng rắn có nhiều sự biến đổi, được khoác thêm những dáng vẻ mới: rắn được mang thêm sức mạnh của con bò đực, dạng bò tót, rắn đầu cừu đực...(8). Dấu vết thờ rắn ở Hy Lạp chứa nhiều bí ẩn, đôi khi nó là hóa thân, là hình ảnh đại diện của các vị thần. Người ta cho rằng, thần Apollo lần đầu tiên được thờ ở Delphi dưới biểu tượng rắn. Có lẽ, tín ngưỡng nguyên thủy đã bắt đầu được tôn giáo hóa. Trong tôn giáo của người Hy Lạp, rắn luôn được xem là một biểu tượng thiêng liêng. Rắn không chỉ tượng trưng cho sự khôn ngoan mà còn là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực về khả năng sinh sản.
Một số nơi như Ba Lan, rắn được thần thánh hóa, được sùng kính và thờ cúng. Mỗi hộ gia đình thường giữ một con rắn trong nhà như là một thần bảo hộ. Ở Epirus, tại khu rừng nhỏ của Apollo, hàng năm diễn ra các lễ hội lớn, những tu nữ trinh tiết khỏa thân mang thực phẩm hiến tế rắn thiêng. Nếu chúng lấy nó một cách dễ dàng, đó được coi là dấu hiệu của một vụ thu hoạch hiệu quả, và khỏe mạnh trong năm, bằng không, các điềm báo ngược lại sẽ dẫn đến những lo âu. Niềm tin này có lẽ bắt nguồn từ các con mãng xà được thờ cúng Delphi.
Tại Bắc Âu, tín ngưỡng thờ rắn liên quan đến việc thờ thần mặt trời. John Bathurst Deane rằng, “hình thức ngưỡng này là kết quả của sự giao thoa giữa những nền văn hóa, trong đó có sự chi phối quan trọng của tín ngưỡng đa thần giáo Hy Lạp và Ai Cập...”(9).
Ở Đan Mạch và một số hòn đảo thuộc Anh quốc, tín ngưỡng thờ rắn gắn với các nghi lễ hiến tế. Người ta thường tổ chức các nghi lễ này tại các gò đất, gần hồ. Các ngôi đền vào dịp này thường được che chắn để tạo không gian thiêng liêng. Người ta sẽ hiến tế các vật cúng cho rắn. Những con rắn đã trở thành biểu tượng của thần thánh, và họ gọi chúng là vua rồng.
Ở châu Mỹ, một số bộ lạc thổ dân tôn kính loài rắn chuông (rattlesnake) như ông vua của loài rắn, những người có khả năng cung cấp nguồn năng lượng gió hoặc gây ra cơn bão lớn. Rắn chuông được thờ trong đền Natchez thờ thần mặt trời và các vị thần của Aztec. nhiều nền văn hóa Trung Mỹ, con rắn đã được coi như là cửa ngõ giao thoa giữa hai thế giới. Người ta tìm thấy các mô đất được xây dựng hình rắn thuộc dấu vết của tín ngưỡng này.
Con rắn thần Quetzalcoátl (hay rắn lông chim) chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng trong các thần điện của người Aztec. Thần rắn lông chim xuất hiện trên các cấu trúc trong thành phố cổ Teotihuacan tại Mexico. Rắn trở thành một đối tượng thờ cúng và biểu trưng ý niệm về thời gian của người Mexico cổ.Ở Mexico cũng có một ngôi đền dành riêng cho thần của không khí và cửa đền giống như miệng một con rắn. Người ta tìm thấy rất nhiều hình rắn lớn được trang trí trong các đền thờ, trong đó tiêu biểu là rắn chuông.
Không chỉ là biểu tượng của vị thần sáng thế, người Mexico cổ còn xem rắn như một vị thần bảo hộ của gia đình. Người ta có thể để nó sống như những thành viên trong nhà. Nói chung, ở Mexico, rắn được thiêng hóa, và là biểu tượng của vị thần mang nhiều tính năng. “Đối với các thổ dân, con rắn trở thành một biểu tượng của thần nội bộ chứ không dành cho những người khác bên ngoài mà cũng không đơn thuần là đại diện cho các thuộc tính chỉ riêng về một vị thần nào đó. Về sau, rắn này đã nhập vào trong tôn giáo của những người Mexico bằng những hình thức uyển chuyển khác nhau”(10).
Sự ám ảnh của loài rắn đối với con người không chỉ được thể hiện bằng các nghi lễ hàng ngày trên trần thế mà người ta còn tin rằng nó hiện hữu cả trong thế giới âm ty. “Người da đỏ Pueblo gắn nguồn gốc bài hát với âm phủ và loài rắn cõi âm khton (khi con rắn bị đốt cháy, các mảnh thân xác của nó biến thành bài hát)(11).
Ở châu Á, tại Iran, quốc gia sở hữu vườn treo Babylon huyền thoại, người ta đã tìm thấy dấu vết của của tín ngưỡng thờ con rắn thiêng qua các hình vẽ, vòng tròn được chạm khắc trên vách các hang động. Trong đền thờ thần Bel (hoặc Belus, thần ánh sáng) có hình ảnh của nữ thần Rhea (nữ thần màu mỡ, sinh sản, được xem là mẹ của các vị thần), ngồi trên ngai vàng, đầu gối quỳ trên hai sư tử, và gần một con rắn màu bạc lớn. Cũng có một hình ảnh của nữ thần Juno (người La Mã xem bà là nữ thần coi sóc tình yêu và hôn nhân) tay phải đang cầm đầu một con rắn. Tuy nhiên, trong truyền thống lịch sử, người ta vẫn đồng nhất rồng (với nghĩa là một con rắn lớn) và rắn. Sự sống của những con rắn ở Babylon được gìn giữ một cách tôn kính.
Người Ba Tư cổ thờ rắn rất thành tâm trước các đền thờ, nơi diễn ra các lễ hiến tế và lễ hội bằng sự kính trọng đối với những vị thần vĩ đại nhất của họ. Trong thần thoại của người Ba Tư, sự đấu tranh giữa hai vị thần thiện - ác, Ormuzd và Ahriman, được hình dung là hai con rắn đang tranh nhau quả trứng vũ trụ. Trong các truyện ngụ ngôn và truyền thuyết, các vị thần ác được coi là có đặc điểm của rắn. Theo John Bathurst Deane, ở Ba Tư, trong một hang động cổ, người ta tìm thấy một ngôi đền giữa hồ nước, trong đó thờ thần mặt trời. Điều đáng lưu ý là vị thần này đứng trên một đám mây và có rắn quấn quanh mình. Như vậy, tín ngưỡng thờ rắn ở Ba Tư không chỉ có mối quan hệ với các vị thần sáng tạo mà còn với nước và lửa. Tục thờ rắn còn được tìm thấy trong dấu ấn của chữ tượng hình. Hình ảnh con số 2 (     ) với đôi cánh như một vòng tròn khép kín đôi khi cũng biểu trưng cho rắn có cánh và cũng ẩn dụ cho thần mặt trời. Người ta cho rằng nguồn gốc của biểu tượng này được bắt nguồn từ sự sùng bái con rắn thiên đường và liên quan đến những bí ẩn trong quan niệm về thế giới của người bản địa. Hình ảnh rắn có cánh cuộn vòng tròn dường như có mối liên hệ với thế giới và mặt trời. Với đôi cánh, tượng trưng cho sức mạnh di chuyển của một vị thần, gắn với nước, lửa (hai vật chất ban đầu của thế giới), rắn được xem là vị thần đầu tiên, là trí tuệ và là cội nguồn của sự sống thế giới.
Đối với người Hindustan, rắn như một biểu tượng của thần thánh và đi sâu vào tôn giáo của người Balamon với lễ hội của rắn. Trong lễ hội, người ta chia phần gạo của mình cho các con rắn với hy vọng điều này sẽ giảm bớt những rủi ro và mang lại những điều tốt đẹp. Ở một số nơi thuộc Bengal (Ấn Độ), người ta tổ chức lễ hội rắn bằng nhiều cách khác nhau, nhưng thờ rắn được tổ chức hàng năm vào ngày cuối cùng của tháng Sravana Bengal (July-August). Các gia đình đều nặn một mô hình nữ thần đất sét hình đôi rắn có vành mũ trùm trên vai, thờ trong nhà, và một con dê hay lợn sẽ làm vật hiến tế. Trước khi nữ thần đất sét ngập trong nước ở phần cuối của lễ hội, rắn đất sét được gỡ bỏ khỏi vai nữ thần. Người dân tin rằng việc làm này sẽ giúp họ chữa khỏi bệnh tật, đặc biệt là bệnh trẻ em.
Tín ngưỡng thờ rắn của người Hindu còn được thể hiện trong điêu khắc, với hình ảnh các vị thần cầm rắn trên tay hay để rắn quấn ngang mình. Trên các mái, vách của các ngôi đền, hang động cổ, người ta cũng tìm thấy những hình ảnh rắn được chạm khắc tương tự. Ở Ấn Độ, rắn được xemnhư là một biểu tượng của sự bất tử. Tín ngưỡng thờ rắn đã ăn sâu trong đời sống văn hóa của cư dân nhiều vùng lãnh thổ của đất nước này. Rất nhiều địa danh được lấy tên từ âm hưởng của Naga (rắn). Không chỉ những hình ảnh, tượng trong đền đài, rắn còn hiện hữu trên cả những trang sức của người dân.
Tại Trung Quốc, tín ngưỡng thờ rắn được biết đến khá sớm và còn lưu lại trên các vách đá, chẳng hạn như tranh thần Phục Hy đầu người đuôi rắn, thần Nữ Oa đầu người mình rắn... “Các đền miếu thờ rắn ở Trung Quốc từ miền bắc tới miền nam nhiều vô kể. Đặc biệt là ở các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông thuộc miền duyên hải Hoa Đông và vùng Lĩnh Nam Trung Quốc. Ngay ở thành phố Tô Châu tỉnh Triết Giang cũng có miếu thờ xà vương, trong có tạc tượng xà vương bằng hình một vị tướng quân”(12). Tương truyền, ngày 12-4 âm lịch là ngày sinh của xà vương, người dân đi cúng tế tấp nập, nhộn nhịp. Dân gian thường cúng thần rắn bằng các loài ếch nhái, vì họ cho rằng lúc còn sống, rắn thích ăn thịt ếch nhái.
Ở Đông Nam Á, tục thờ rắn cũng rất phổ biến. Trong tín ngưỡng dân gian của người Campuchia, thần rắn Naga có một vai trò rất quan trọng. Naga không đơn thuần là một vị thần tối thiêng mà còn đồng nghĩa với tính liên tục của lịch sử đất nước này. “Họ thờ cúng một cách phổ biến thần đất và thần nước. Biểu tượng của những sức mạnh thiên nhiên, những sức mạnh có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trên đất nước này - nơi đất và nước quyết định sự no đói, giàu nghèo - là một con rắn chín đầu gọi là Naga”(13).
Trong văn hóa dân gian Việt Nam, rắn là một hình tượng phổ biến và có sức ám ảnh mạnh mẽ, phổ biến nhất của người Việt ở đồng bằng sông Hồng. Có thể thấy tục thờ rắn ở các đền dọc theo sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống... và qua các di tích, lễ hội...
Tục thờ rắn với tư cách là thủy thần không chỉ phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ mà còn có ở miền Trung, Tây Nguyên và cả miền Tây Nam Bộ.
Người Mường ở Thanh Hóa cũng có tục thờ rắn. Ngôi đền thờ thần rắn được biết đến hiện nay ở thôn Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy. Tại đây có một dòng suối rất nhiều cá. Tương truyền, cá ở đây do một thần rắn bảo hộ, che chở. Người dân tin rằng, ai làm hại tới những con cá sống ở đây thì sẽ chuốc lấy những hậu quả khôn lường. Đình làng Phú Bài, xã Thủy Phù, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế cũng lập bài vị thờ ông dài, ông cụt. Theo truyền thuyết, đây là hai con rắn, một dài một cụt vốn là con của thần gió từng hiển linh giúp đỡ dân làng, đem lại mưa thuận gió hòa, nên được dân làng tưởng nhớ, tôn xưng là thủy thần.
Với người dân miền Tây Nam Bộ, cùng với hổ, cá sấu... thì rắn cũng là đối tượng phải dè chừng, đối phó và chinh phục. Có lẽ vì thế mà ngày nay vẫn lưu truyền nhiều câu chuyện, giai thoại về rắn. Người ta sợ rắn, muốn cầu thân với rắn và do thế, thờ rắn. Tại xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, Bến Tre có một ngôi đình rắn, tại đây vẫn lưu truyền về đôi rắn thần khổng lồ, hiền lành.
Nhìn chung, tục thờ rắn là một trong những tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ. Xuất phát từ môi trường tự nhiên gắn với điều kiện sông nước, đầm lầy, hình tượng rắn đã được đồng hóa với nước, thủy thần và đi vào tâm thức dân gian từ rất sớm và thường gắn với tục thờ các vị thần tự nhiên. Trong quá trình phát triển của lịch sử, tín ngưỡng thờ Rắn đã được khoác thêm nhiều lớp văn hóa muộn hơn và ít nhiều có biến đổi cho phù hợp với từng điều kiện mới. Do vậy, “Thủy Tinh với tư cách là một đối thủ của Sơn Tinh không có mặt trong các thành hoàng có sắc phong cũng như các thần có thần tích; chỉ gặp trong những thần sắc ghi chung chung là thủy thần thời Hùng Vương”(14).
Không chỉ thờ rắn với tư cách là thủy thần, người Việt còn xem rắn là vật tổ. Tục thờ vật tổ là một hình thức tín ngưỡng nguyên thủy, tồn tại trong các thị tộc. Người ta thờ cúng các động vật, thực vật với niềm tin về một mối liên hệ của những người cùng chung sống trong một cộng đồng. Dấu vết về tục thờ vật tổ rắn của người Việt cổ cũng được ghi lại trong các văn bản xưa. Sách Thuyết văn giải tự chép: người Việt (Mân Việt) ở miền đông nam cùng với người Man hay Nam Man đều thuộc dòng giống rắn (tức coi rắn như vật tổ của mình); hay Lĩnh Nam tạp ký của Ngô Chấn Phương miêu tả cảnh tế thần rắn của người Việt ở vùng Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay (15).Ninh Viết Giao khi sưu tầm, nghiên cứu về văn học dân gian xứ Nghệ đã nói đến motip con rắn xanh cũng được kể ở khá nhiều nơi: “Rắn xanh được thờ ở nhiều nơi và được đưa thành một motip trong truyện kể, bởi rắn được tượng trưng cho thần nước trước khi là rồng”(16). Cũng chính rắn đã trở thành vật tổ của họ Ngân (ở vùng núi Nghệ An) khi giúp họ Ngân tìm ra nước giải hạn trong lúc họ chạy nạn. Trong nội dung thần thoại Lạc Việt, Đinh Gia Khánh cũng đề cập đến vấn đề thờ vật tổ của người Việt: “Lạc Long Quân thuộc nòi rồng. Chi tiết này phản ánh việc thờ giao long làm vật tổ... Do việc xăm mình theo hình giao long, lâu dần tổ tiên ta tự cho mình là con cháu giao long”(17). Phan Đăng Nhật qua phân tích hình tượng rắn trong mối quan hệ giữa rắn và con người, cũng đưa ra nhận định là giữa rắn và người có mối quan hệ thân thiết ruột thịt, thậm chí cùng chung một dòng máu. Tác giả khái quát biểu tượng rắn trong quan hệ với người thành ba dạng: rắn là con nuôi của người, mẹ người +...= rắn; hôn nhân người - rắn; mẹ người + bố rắn = trứng. Cuối cùng tác giả mô hình quá sự chuyển biến và kết hợp giữa huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu - bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng (18).
Chúng tôi cho rằng, việc thờ vật tổ của thị tộc người Việt cổ là rất phổ biến, trong đó, thị tộc thờ rắn là một trong những thị tộc mạnh thời bấy giờ. Cùng với thời gian và sự phát triển về ý thức, tín ngưỡng thờ vật tổ là cơ sở quan trọng của việc hình thành biểu tượng quốc gia sau này.
2. Rắn và những huyền thoại
Ở Trung Mỹ, huyền thoại (19) thần rắn lông chim Quetzalcoátl rất được ca ngợi. Thần Quetzalcoátl có nhiều hóa thân và tính chất của thần cũng có nhiều mặt. Quetzal có nghĩa là lông chim vừa có nghĩa là quý giá; coátl vừa có nghĩa là con rắn vừa có nghĩa là song sinh. Quetzalcoátl cũng thường được đồng hóa với một trong những vị thần rất xưa: Một con rồng trên trời thường trừng phạt con người bằng cuồng phong và lụt lội, và thưởng cho con người bằng cách giúp họ được mùa. Mặc dù có nhiều hóa thân, nhưng vị thần Quetzalcoátl chủ yếu được mô tả dưới hai hình dạng: có khi là một con rắn phủ lông chim, có khi lại là một chiến binh cao lớn, mang mũ làm bằng da mèo rừng (ocelot)...
Người Fon ở Dahomey (châu Phi) nói rằng, rắn đã có từ rất lâu đời, trước cả khi đất được tạo ra. Dưới dạng rắn thần Aido Hwedo, rắn đã phục vụ cho vị thần sáng tạo Mawu. Rắn ngậm đuôi tạo nên vòng tròn kín biểu tượng cho sự vĩnh cửu của người châu Phi. Nhiều nền văn hóa ở châu Phi cũng xem rắn là thủy tổ của mình. Người Venda kể rằng bộ lạc họ được tạo ra từ xác một con rắn. Con rắn Tharu tự chia làm hai phần: đầu (tholo) và đuôi (tshamutshila), mỗi phần bò về một hướng. Cả hai phần đều hóa thành người, trở thành những thủ lĩnh của bộ tộc. Về sau họ gặp nhau và trở lại trạng thái nguyên thủy ban đầu là rắn.
Người Ai Cập cũng có những huyền thoại về thời kỳ hỗn mang, sáng thế, trong đó rắn Apep đóng vai trò như một vị thần cội nguồn của sự sống. Nó cuộn mình trong vũng nước nguyên thủy và thụ tinh cho quả trứng vũ trụ. Huyền thoại Mexico cổ đại (người Toli, Asti và một phần của người Maia) cũng nói đến một vị thần trung tâm là con rắn lông vũ, thần Kesalkoatl. Ở vị thần này nổi lên hàng đầu là đặc tính của đấng sáng tạo và một phần anh hùng văn hóa.
Trong thần thoại Hy Lạp, hình tượng rắn cũng được miêu tả với tư cách là các vị thần. Theo huyền thoại, Python là con của Gaia được nặn bằng bùn và đất đọng lại sau trận lụt lớn Deucalion. Vì Pythong quá hung dữ không ai dám lại gần nên dân chúng xin thần Appolo trợ giúp. Thần Appolo từ núi Olympus hiện xuống, dùng cây cung bạc, bắn mũi tên vàng giết chết Python, do đó thần Appolo còn được gọi là Pythian Appolo. Một quái vật nửa người nửa rắn khác là Echidna. Đây là quái vật đã kết hôn với Tiphông - thần bị Dớt đánh bại và tống giam xuống địa ngục. Cuộc hôn nhân quái đản này đã cho ra đời những đứa con quái đản không kém. Đa số chúng kế thừa tính quái vật từ mẹ. Đó là Khimer đầu sư tử, đuôi rồng, thân dê; đứa con thứ hai là chó ngao hai đầu Orthrôx và đứa thứ ba là chó ngao ba đầu Xerber. Stephen Oppenheimer đã dẫn ra câu chuyện Ninurta và Kur các đây ít nhất 5500 năm kể lại chuyện vị thần anh hùng Ninurta chiến đấu với quái vật hình rắn Kur trong thế giới nước. Trong trận đánh, biển dâng cao và tràn ra làm mặn đất. Ninurta đã để một tảng đá lớn đè lên xác Kur tạo ra một con đê chắn biển, nhờ đó mà người Tigris có thể rửa mặt”(20).
Rắn là một hình ảnh quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ, tiêu biểu cho những huyền thoại đó phải kể đến rắn Naga. “Trong thần thoại, những con rắn thần được coi là Naga, đôi khi có biểu tượng là đầu người mình rắn. Những con rắn thần nổi tiếng là rắn Sêsa (hay Ananta) đã cuộn mình nổi trên biển vũ trụ để đỡ cho thần Visnu khi tạo dựng vũ trụ, rắn Vasuky dùng mình làm dây kéo quanh cột núi Mêru trong huyền thoại khuấy biển sữa”(21). Hình tượng thần Visnu được miêu tả rất nhiều kiểu, có sách nghiên cứu liệt kê 24 hình ảnh khác nhau của Visnu, chưa kể hàng chục kiếp hóa thân khác. Hai hình ảnh thông thường nhất là Visnu nằm nghỉ trên mình con rắn thần Sesa bồng bềnh trên mặt biển Ananta (vô biên) hoặc Visnu đứng thẳng, bốn tay nắm giữ bốn vật tượng trưng là vỏ ốc, đĩa tròn, bông sen và cái chùy. Trong kinh Vêđa, hình tượng rắn thần Vritra được miêu tả như một vị thần canh giữ những dòng sông. Nó chiếm và uống sạch các nguồn nước, làm cho mặt đất khô cạn. Cho đến khi nó bị thần Inđra tiêu diệt thì các dòng sông lại được khơi thông. Thần đã làm cho các dòng sông có nước chảy sau khi dùng quyền uy và sức mạnh giết chết Virtra - con rồng xưa nay uống sạch các nguồn nước.
Các thổ dân Australiacũng có huyền thoại về con rắn cầu vồng. Với họ rắn cầu vồng là một lực lượng thiêng liêng, gắn với các nghi lễ tôn giáo nguyên thủy. Theo Cowan, huyền thoại về con rắn cầu vồng là một phần của chủ đề tôn giáo cổ xư­a nhất được tiếp tục dẫn chứng bằng tư­ liệu qua những hình ảnh đ­ược ghi chép lại trong những bức tranh hang động từ hơn 20.000 năm tr­ước. Một huyền thoại cổ ở vùng Arnhemland kể rằng, tổ tiên vĩ đại Ngaljod tr­ước hết tạo ra chính mình như­ Ulbar, một khúc gỗ có lỗ hổng dài. Ulbar tạo ra âm thanh, đã đư­ợc dùng như­ một cái cồng trong các nghi lễ thần thánh, đư­ợc xem như­ một vật hết sức thiêng liêng. “Lỗ hổng của Ulbar hay con rắn cầu vồng, thỉnh thoảng đư­ợc đề cập đến nh­ư là tử cung của ng­ười mẹ vĩ đại và hình dáng bên ngoài đ­ược xem như­ là cơ quan sinh dục nam hay hình thể giống đực của con rắn cầu vồng”(22).
Hình tượng rắn xuất hiện trong huyền thoại khai thiên lập địa của Trung Quốc và tồn tại với rất nhiều biến thể về sau. Đầu tiên phải kể đến một vị thần khai sáng là Bàn Cổ, thần được miêu tả rất phong phú về hình dáng, trong đó có một điểm rất đáng chú ý là “Bàn Cổ có đầu rồng, mình rắn, thở ra thành gió mưa, rít lên thành sấm chớp, mở con mắt ra thì là ban ngày, nhắm con mắt lại thì là ban đêm”(23). Một số thần khác liên quan đến hình tượng rắn là thần Cộng Công và Tướng Liễu. Thần Cộng Công là một vị thần ác khét tiếng, có mặt người mình rắn, tóc đỏ, ngu xuẩn nhưng lại hung bạo. Thần Cộng Công có một kẻ bộ hạ là thần Tướng Liễu, cũng mặt người mình rắn, có chín cái đầu, tính tình độc ác tham lam (các bộ hạ của thần Cộng Công nói chung là hung ác, nham hiểm). Trời đất đang bình yên, con người đang sống yên ổn thì thần Cộng Công và thần lửa Chúc Dung xảy ra mâu thuẫn và đánh nhau. Thần Cộng Công húc đổ chiếc trụ bất chu (trụ chống trời), làm cho một nửa bầu trời phía tây bị sụp, rách nát nhiểu lỗ thủng. Mặt đất cũng bị sụt, nước dâng cao, loài người vô cùng khốn đốn. Trước cảnh đó bà Nữ Oa phải đi vá trời.
Trong huyền thoại của người Nhật, rắn là một con vật thần thánh, đầu rồng có nhiều phép thuật và có hình thể vũ trụ. Quái vật này chuyên hại người bằng cách bắt cóc các trinh nữ để ăn thịt (24). Ngoài ra, có thể kể đến một số huyền thoại về rắn như sau: truyện Động đất của người Indonesia, huyền thoại Nguồn gốc của thế giới chúng ta, Nguyệt thực của người Myanma; huyền thoại về Sự tích núi Ganlaon của người Philippin; truyền thuyết Preng Thong của Campuchia...
Hình tượng rắn trong các huyền thoại Việt Nam có thể kể đến các truyện như sau: Câu chuyện mở đầu của người Mông, cũng có một huyền thoại, Truyện rồng và người của người Lô Lô; truyện Nguồn nước khổng lồ của người Cơ ho; huyền thoại về Linh Lang; Ông dài ông cộc; truyện Thần nước, Sự tích núi Ngũ hành. Và tất nhiên phải kể đến huyền thoạiCon rồng cháu tiên. Đây chính là huyền thoại chim tổ và huyền thoại rắn bố để trở thành mẹ tiên Âu - bố rồng Lạc sinh ra bọc trứng, nở ra trăm con - cội nguồn của người Việt ngày nay.
3. Bước đầu lý giải nguồn gốc ý nghĩa biểu trưng của hình tượng rắn
Chúng ta biết rằng, thờ rắn là một hình thái tín ngưỡng nguyên thủy, ra đời trong thời kỳ mà con người chưa tách mình ra khỏi tự nhiên, nhận thức về tự nhiên còn rất sai lầm. Tất cả sự nhận thức, phản ánh của con người đều thông qua sự hình dung, tưởng tượng. Nếu sự tưởng tượng của người cổ xưa luôn xuất phát từ hiện thực cũng như các vị thần thường bắt đầu với chính bản thân con người thì, theo chúng tôi, các ý nghĩa biểu trưng của hình tượng rắn phần lớn chính là sự mô phỏng hiện thực tự nhiên này. Trong phạm vi tư liệu có được, chúng tôi xin bước đầu lý giải như sau.
Thứ nhất, các ý nghĩa biểu trưng của rắn xuất phát từ chính sự phức tạp của bản thân đối tượng. Theo lịch sử tiến hóa của các loài thì sau lớp cá là đến loài bò sát. Các nhà khoa học dự đoán rằng, rắn xuất hiện trên trái đất cùng lúc với loại khủng long vào thời đại Triassic khoảng 200 triệu năm trước đây. Căn cứ vào những bằng chứng tìm được trong thời Cretaceous cách đây khoảng 130 triệu năm, một số người đưa ra giả thuyết rắn do loại thằn lằn chuyên sống trong hang dưới đất biến thể, theo lịch trình tiến hóa biến thành. Gần đây các nhà khoa học đã phát hiện được hóa thạch của “loài trăn Titanoboa cerrejonensis dài đến 13m và nặng hơn 1 tấn. Loài trăn này được xác định đã sống tại khu vực Nam Mỹ cách đây khoảng 60 triệu năm... Titanoboa trở thành động vật cổ đại dài nhất thế giới đã từng được phát hiện”(25). Sự có mặt một cách phong phú của loài bò sát này từ rất sớm cùng với những đặc tính của nó đã ảnh hưởng đến cuộc sống và nhận thức của người nguyên thủy.
Rắn có đủ các màu sắc, kích cỡ, có thể sống được ở hầu hết các môi trường tự nhiên. Từ trên núi cao đến biển sâu, từ sa mạc đến rừng rậm, trên cây hay dưới đất, không có chân nhưng khả năng di chuyển rất nhanh mà không gây ra tiếng động. Rắn có thể di chuyển nhiều tư thế (bò ngang, thẳng, nửa dưới đất nửa thẳng đứng...). Đối với con người thì rắn vừa có hại, vừa có lợi (rắn bắt chuột bảo vệ mùa màng, rắn làm thuốc chữa bệnh)... Nói chung, rắn là đối tượng rất khó nắm bắt, luôn mang đến cho con người sự ngạc nhiên và bí ẩn, không thể giải thích được. Nó trở thành nỗi ám ảnh và kích thích trí tưởng tượng, mong muốn giải thích của người nguyên thủy, nhưng lại không đủ tri thức và sự hiểu biết để giải thích về đối tượng, nên họ thần thánh hóa con vật này.
Hình dạng và đặc điểm di chuyển của loài rắn là cơ sở để người xưa hình dung và đồng nhất rắn với những con sông - nguồn nước. Nếu nhìn con sông từ trên cao xuống thì rất giống với hình ảnh một con rắn đang bò. Một đặc điểm khác của loài rắn hổ mang (khi nổi giận) thường phát ra tiếng gió phì phì... (có lẽ đây là những lý do rắn mang ý nghĩa biểu trưng của bão). Hơn nữa loài rắn có đặc điểm ngủ đông lạnh và xuất hiện lại với mùa mưa, chúng bơi tốt, và nhiều loài được nhìn thấy trong nước, trong các hồ và sông.Hình ảnh tia chớp (dấu hiệu của mưa) có những nét tương đồng với lưỡi rắn; màu sắc và các sọc của loài rắn (nhiều loài rắn có các sọc chạy dọc theo cơ thể với các màu sắc rất sặc sỡ) chính là cơ sở để con người liên hệ rắn với cầu vồng (rắn cầu vồng). Theo các nhà sinh vật học thì loài rắn thường đẻ trứng và đẻ nhiều (một số ý kiến còn cho rằng có loài rắn đẻ thai). Rắn đực thường có dương vật to gấp hai lần bình thường; cử động của đầu rắn cũng làm cho người ta liên hệ đến cơ quan sinh dục. Có lẽ đây là cơ sở của biểu trưng cho sự mắn đẻ, các nghi lễ cầu thai. Trong một huyền thoại về nước cho biết: khi trời và đất giao phối với nhau, các tinh khí bắn ra và tạo thành mưa, làm cho vận vật sinh sôi nảy nở... Loài rắn có đặc tính lột da, do vậy nó biểu trưng cho sự tái sinh, bất tử. Với niềm tin đó, các pharaong đã mang trên mình hình ảnh rắn với mong muốn được bất tử như loài rắn. Rõ ràng đây là sự nhận thức sai lầm của người nguyên thủy về loài bò sát này. Trên thực tế loài rắn không hề bất tử như người cổ xưa tưởng tượng. Trong quá trình phát triển, lớp da bao bọc bên ngoài không còn phù hợp với kích cỡ mới nên rắn lột da, và chúng cũng có tuổi thọ như bao nhiêu động vật khác
Thứ hai, như đã trình bày, người nguyên thủy chưa có tri thức để giải thích các hiện tượng tự nhiên xung quanh mình. Về cơ bản đó là những nhận thức và lý giải sai lầm, chủ yếu bằng tưởng tượng. Một trong những cách thức phổ biến nhất lànhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên. Các hiện tượng tự nhiên như vòi rồng ở biển, các cơn lốc xoáy với hình thù uốn lượn đã được nhân cách hóa thành hình tượng rắn. “Cột nước thường xuất hiện ở bờ biển Nhật Bản được dân địa phương coi là những con rồng đuôi dài bay lên trời rất êm đềm nhưng cũng rất nhanh. Người Trung Quốc cho rằng cột do rồng bay lên và xuống nước tạo ra”(26).
Thứ ba, các ý nghĩa biểu trưng của rắn chủ yếu được hình thành bằng tư duy huyền thoại - tư duy chủ yếu tập trung vào những vấn đề siêu hình, bí ẩn, của sự sống và cái chết... các vấn đề mà không phải lúc nào sự giải thích bằng logic khoa học cũng làm cho con người thỏa mãn. Một xu hướng của huyền thoại là dần dần thể hiện cái khó hiểu bằng cái dễ hiểu, cái không thể hiểu được bằng trí tuệ thông qua cái có thể hiểu được bằng trí tuệ. Melentinsky chỉ ra rằng, “logic huyền thoại sử dụng rộng rãi các cặp đối lập nhị phân (cặp đôi) những phẩm chất cảm xúc, đồng thời qua đó khắc phục tính liên tục của tri giác về thế giới xung quanh bằng cách tách các khuôn hình riêng rẽ có dấu hiệu mâu thuẫn”(27). Qua huyền thoại và tục thờ như đã nêu, các biểu trưng của rắn thường đi theo một logic đối lập - cặp đôi. Ban đầu nó biểu trưng cho nhận thận thức đơn giản như: trên/dưới, khô/nước, nóng/lạnh... cho đến các cặp đôi mang tính phức tạp hơn như: nước/ lửa, trần gian/địa ngục, sự sống/cái chết, khổ đau/hạnh phúc... Có thể nói, để ẩn dụ, biểu trưng cho các vấn đề của giới tự nhiên, xã hội và các trạng thái phức tạp của tình cảm con người trong xã hội và trình độ nhận thức lúc bấy giờ thì rắn là một sự lựa chọn hoàn hảo.
Như vậy giữa hình tượng rắn với các hiện tượng tự nhiên (mặt trời, chớp, gió bão, mưa) và đời sống (sinh sản) có một mối liên hệ về chất. Nếu nhìn bằng trực cảm thì những hiện tượng này có vẻ như trái ngược nhau, nhưng thực tế đây là những hiện tượng tự nhiên cơ bản nhất chi phối trực tiếp và có tính quyết định đến đời sống và phương thức sản xuất vốn rất thấp kém của người nguyên thủy. Các hiện tượng nói trên là tổ hợp của những niềm tin và tín ngưỡng liên quan đến các nghi lễ nông nghiệp. Chúng không hề đối lập nhau mà thống nhất trong trí tưởng tượng và nhận thức của người nguyên thủy về thế giới. Nói cách khác đây là một hình thức tư duy đặc trưng của người nguyên thủy - tư duy nguyên hợp. Việc nhận thức và tôn thờ rắn đã thể hiện một bước tiến trong nhận thức về thế giới tự nhiên và đời sống của người thời xưa. Thế giới là sự thống nhất của những mặt đối lập. Đây là mầm mống tư tưởng biện chứng của con người trong quá trình nhận thức, phản ánh và chinh phục tự nhiên.
Nói chung, rắn là một hình tượng vô cùng phức tạp và nhiều vẻ. Chúng tôi không có tham vọng tổng kết được vấn đề qua một bài báo hay đưa ra một nhận định khái quát, mới mẻ cho toàn bộ ý nghĩa biểu trưng của con vật này. Ngay cả Propp cũng thừa nhận: “Mọi nỗ lực đưa ra cách giải thích nhất quán cho hình tượng này từ trước đến nay đều thất bại, và kết luận chung thì lại luôn dẫn đến những kiểu tán đồng và như vậy lại làm sai lệch bản chất của hiện tượng”(28). Do vậy, chúng tôi chỉ muốn xới lên vấn đề một lần nữa, bước đầu lý giải nguồn gốc của các biểu trưng và cung cấp thêm một số tư liệu về rắn trong folklore cho những ai quan tâm đến hình tượng rắn.
 Nguồn: Tạp chí VHNT số 311 (tháng 5), 312 (tháng 6) -2010
___________________________________
1. C.Sott LittLeton, Huyền thoại thế giới, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, 2006, tr.654.
2. Melentinsky, Thi pháp của huyền thoại, Song Mộc, Trần Nho Thìn dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, tr.237.
3, 5, 6. Nhiều tác giả, Văn hóa nghệ thuật châu Phi, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1982, tr.73, 74, 65, 50.
4, 7, 9, 10. Lược dịch từ The worship of the serpent, John Bathurst Deane, www.sacred-texts.com
8. Chevalier.J, Gheebrant.A (chủ biên), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Phạm Vĩnh Cư dịch, Nxb Đà Nẵng, 1997, tr.764.
11. Melentinsky, Sự nảy sinh các hình thức ban đầu của nghệ thuật ngôn từ, LS văn học thế giới, tập 1, Nxb Văn học, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, tr.56.
12, 15. Nguyễn Sang, Rắn với con người, http://vantuyen.net
13. Phạm Việt Trung (cb), Lịch sử Cămpuchia, Nxb ĐH và THCN, tr.21.
14. Nguyễn Duy Hinh, Tâm Linh Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, 2007, tr.388.
16. Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ, tr.202, 206.
17. Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên, Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Nxb ĐH và THCN, tr.67.
18. Phan Đăng Nhật, Quá trình chuyển hóa biểu tượng Chim - Rắn từ huyền thoại cổ đến truyền thuyết Hùng Vương,Tạp chí Văn hóa dân gian số 3, 1983.
19. Địa đàng ở phương Đông, 2006, tr.486.
20. Nguyễn Thừa Hỷ, Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ, NXb Văn hóa, 1986, tr.36.
21. Vũ Tuyết Loan, Văn hóa thổ dân Austraylia, vanhoahoc.edu.vn
22. Đinh Gia Khánh, Thần thoại Trung Quốc, Nxb Khoa học Xã hội, 1991, tr.13.
23. Xem Susanoo và con rồng tám đầu, truyện cổ Nhật Bản, Tạ Chí Đông Hải dịch, Nxb Trẻ, 2004.
24. Lan Chi, Phát hiện trăn khổng lồ dài 13m, http://giadinh.net
25. E.B.TyLor, Văn hóa nguyên thủy, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2001, tr.394.
26. Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr.219.
27. Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 1, Nxb Văn hóa Dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2003, tr.649.

Con Rắn trong huyền thoại và văn học

Con Rắn trong huyền thoại và văn học

Đặng Tiến - Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Về mặt biểu tượng, rắn là một hình ảnh phức tạp. Hiện nay, trong dân gian nhiều nước, rắn biểu trưng cho sự độc hại, gian hiểm. Tiếng Việt có những thành ngữ : nọc độc, khẩu phật tâm xà. Nhưng trước các hiệu thuốc tây, bảng hiệu y khoa, ta lại thấy hình ảnh con rắn quấn quanh cây gậy, nó có tác dụng cứu chữa bệnh tật, nhắc đến một câu đồng dao trong trò chơi dân gian Việt Nam : rồng rắn đi đâu / xin thuốc cho con ...
Và một số tín ngưỡng, như Ấn độ giáo, ngày nay còn thờ rắn, thần linh Naga.
Rắn không những là một biểu tượng phức tạp, mà còn tượng trưng cho các động lực tương phản : tử sinh, âm dương, thiện ác ...
Chúng ta khó bề sưu khảo tường tận về biểu tượng rắn qua các nền văn minh khác nhau, chỉ lưu ý rằng đề tài không đơn giản.
*
Ca dao ta có câu :
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu
Đây là một câu ca dao lạc hậu, quy thân phận con người vào một định luật thiên nhiên ; kỳ thật, nó chỉ là một câu vớ vẩn, mang tính cách tự hào và miệt thị giai cấp mù quáng, có ý đối lập rồng, biểu tượng cao quý cho tầng lớp giàu sang, với liu điu là loài rắn tầm thường, những phận người nghèo khó, tối tăm. Thật ra rồng và rắn cùng một nguồn gốc, thậm chí rồng là hậu thân của rắn. Ngay trong Thánh kinh Ki tô giáo, con rắn hiện thân cho cám dỗ, tội lỗi cũng là hậu duệ của rồng bị Chúa Trời trừng phạt, phải lê tấm thân bò sát và xấu xí.
Trong công trình biên khảo kinh điển : Cội rễ lịch sử của truyện truyền kỳ, Vladimir Propp đã dành một chương dài cho vai trò Rồng. Dịch giả từ tiếng Nga sang tiếng Pháp ghi chú : " Rồng (dragon) dịch từ chữ zmei là giống đực của từ zméia có nghĩa là Rắn (serpent). Từ giống đực chỉ dùng để cho nhân vật kỳ ảo trong cổ tích và huyền thoại. Có thể dịch từ này thành Rồng hay Rắn " 1.
Trong tiếng Việt Nam, nhà ngữ học Nguyễn Tài Cẩn, trên mặt báo Diễn Đàn, tết Canh thìn 2000, đã có bài vô cùng uyên bác, chứng minh rằng thời tiền sử, từ Rồng và Rắn có thể có chung nguồn gốc là từ / mahing /  ở vùng Thà Vựng ngày nay. Anh còn nhắc lại rằng : " tác phẩm nghệ thuật ở các đền chùa Lý Trần lại cho phép nghĩ rằng ta cũng vốn có cả một tên gọi Rồng Rắn theo kiểu rồng / mahing / ở vùng Thà Vựng " 2.
Điều này hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung, chuyên gia về mỹ thuật, trong một tham luận năm 1970 đã nhắc lại : con Rồng thời Lý khác con Rồng Trung quốc, nó có hình dạng Rắn, " có nhiều đường lượn. Hình loại rồng này phải có lịch sử của nó, có thể xuất hiện trước đời Lý nhiều... Nay ta gọi là Rồng, nhưng xưa chưa hẳn đã gọi là Rồng, mà có thể là một loại “ rồng rắn ”, trẻ con ta thường có trò chơi  “ rồng rắn ” 3
Ngày nay, những khám phá về dân tộc học, huyền thoại học đã đẩy kiến thức và suy luận chúng ta đi xa hơn : hình ảnh Rồng Tiên là một sản phẩm văn học xuất hiện khá muộn màng trong tư duy dân tộc, ít nhiều do ảnh hưởng Trung Quốc và Đạo giáo. Ngay chữ ‘tiên’ cũng mới xuất hiện từ đời Hán, trước đó là những ‘chân nhân’. Vật tổ của các dân tộc Việt: Kinh hay Thượng, là Chim và Rắn. Hình tượng Chim thường gặp ở huyền thoại các dân tộc anh em miền núi, hình tượng Rắn thường gặp ở truyện cổ các vùng đồng bằng gần sông gần nước. Địa danh Ngã Ba Xà, hợp lưu giữa sông Cầu và sông Đuống, nhắc đến tín ngưỡng thờ Rắn (Xà), thờ Thánh Tam Giang là thần Rắn, có nơi được nhân cách hoá thành anh em Trương Hống, Trương Hát, cai quản khúc sông từ Ngã Ba Xà đến Ngã Ba Phượng Nhãn. Học giả Phan Ngọc viết rất rõ về vấn đề này và cho biết dọc sông Cầu có đến 300 xã thờ Thánh Tam Giang. 4
Các học giả Trần Từ (Từ Chi) và Bạch Đình cho biết thêm, trong truyện cổ Mường thường có nhân vật Khú ưa xuất hiện dưới dạng rắn nước, với đặc điểm : bao giờ cũng có mào đỏ trên đầu giống như gà trống. Điều này xác nhận một tư liệu của Lê văn Lan và Trần Minh Hiên trước đây :
" Trong ngôn ngữ và khái niệm người Khmu, có một con vật gọi là prư dồng. Đó là một con vật hình rắn, có mào như mào gà, có vảy và có chân. Trong ngôn ngữ và ý niệm Thái, “ prư dồng ” tương đương với “ tu luông ” là một con vật có vảy và có bờm như ngựa. Những con vật quái đản này không có quan hệ gì về dòng họ với những người đang sống, nhưng lại có vai trò như một thứ thần chịu trách nhiệm về nắng mưa như một thứ “ ma nước ” và những con vật quái đản này cũng thường được hiểu như khái niệm thuồng luồng của người Việt ... Từ Quỳnh Nhai đến Mường la, trên sông Đà có khoảng 20 cái thác thì có 20 nơi thờ thuồng luồng như thế ; thường cúng bằng gà, lợn "  5.
Thuồng luồng là rắn nước, sách Lĩnh Nam Chích Quái ghi là Giao Long, và kể rằng vua Hùng đã dạy dân chúng " lấy mực xăm vào mình hình (Lạc) Long Quân, theo dạng thuỷ quái " để tránh nạn thuồng luồng bách hại. Nhưng đây có thể là lối giải thích thực dụng của Nho giáo. Có thể người Văn Lang thời đó xăm mình theo dạng rắn vì là thuỷ tổ của mình. Dĩ nhiên là điều này không loại trừ điều kia.
*
Trong văn học, câu chuyện Giao Long kể trên có lẽ là xưa nhất, bên cạnh chuyện Lạc Long Quân diệt Ngư Xà. " Ngư Xà dài hơn năm mươi trượng, chân nhiều như chân rết, biến hoá vạn trạng, linh dị khôn lường... (có khi) hoá thành gà trắng gáy trên đỉnh núi " (Truyện Ngư Tinh). Ngư Xà ăn thịt người, gây bão tố làm hại thuyền nhân, cuối cùng bị Long Quân giết.
Dân gian thường kể chuyện Thần thuồng luồng bắt cóc phụ nữ, hay đòi phải hy sinh nhân mạng. Nguyễn Dữ, thời Mạc, trong Truyền kỳ mạn lục kể chuyện thần Thuồng Luồng ở một đền thờ tại quận Hồng Châu, Hải Dương, bị kiện vì tội bắt cóc Trịnh Thị, bị Long Vương trị tội, phạt lưu xứ : " giữa ban ngày, không mây mà mưa, nước sông đầy, rồi có một con rắn dài mười trượng, vẩy biếc mào đỏ nổi trên mặt nước mà đi lên mạn Bắc, đàng sau có hằng trăm con rắn nhỏ đi theo, đền từ đấy không linh thiêng nữa ". Đền thờ Rắn ấy, sách gọi là ‘’dâm từ’’. Chúng ta lưu ý đến mào đỏ như trong cổ tích.
Người ta thường kể chuyện Rắn báo oán, nhân vụ án Nguyễn Trãi. Thật ra đây là truyện Tàu, chuyện Ngô Trân đời Tống và chuyện Phương Chính Học đời Nguyên, do một số nho sĩ thời Lê mô phỏng để giải thích, mờ xoá tấn thảm kịch  chính trị thời đó. Một mặt nó xuyên tạc lịch sử, mặt khác hạ thấp tư cách Nguyễn Thị Lộ, và trầm trọng hơn nữa, phản ánh thành kiến với phụ nữ, đồng hoá phụ nữ với tai hoạ. Dĩ nhiên là sai trái.
Một con rắn lừng danh là Chằn Tinh trong truyện Thạch Sanh, truyện nôm bằng thơ. Chằn Tinh là một con rắn tu luyện nhiều năm, dữ tợn và biến hoá vô cùng ; vua bắt dân phải lập miếu thờ, hằng năm phải hy sinh một người con trai cho nó ăn thịt. Năm ấy Lý Thông bị chỉ định hy sinh, bèn gạt người anh em kết nghĩa là Thạch Sanh đi thế mạng. Thạch Sanh đương đầu với Chằn :
Giở ra cơm nắm toan ăn,
Hay đâu gió thổi ầm ầm rung cây.
Lại thêm gầm rú ghê thay,
Trông ra thấy một vật nay dị kỳ.
Thạch Sanh chẳng biết vật chi,
Trắng đen, xanh đỏ, hoe hoe cả mình,
Hung hăng giơ vuốt, nhăn nanh,
Phòng toan làm giữ như hình mọi khi.
Thạch Sanh hoá phép tức thì,
Búa rìu liền phóng một khi yêu xà.
Mắng rằng “ mày giống tà ma,
Hại người ta chẳng dung tha mày nào ! ”
Xà tinh liền nhảy xốc vào,
Thạch Sanh liền lấy thần đao chém liền.
Ai rằng rắn có phép tiên,
Hoá ra lửa cháy bốn bên đỏ ngòm.
Thạch Sanh hoá nước mưa tuôn,
Tự nhiên lửa tắt kinh hồn xà tinh.
Lại e yêu nghiệt tàng hình
Trốn đi nơi khác, ắt mình uổng công.
Bủa vây lưới sắt bịt bùng,
Nguyên hình rắn phải đùng đùng hoá ngay.
Chàng dùng dao báu chém rày
Rõ ràng con rắn vừa tày một gian.
(một gian : một gian nhà).
Truyện cổ dân gian, với những tình tiết na ná như Thạch Sanh, được lưu truyền nhiều nơi khắp thế giới. Riêng ở Việt Nam, các địa phương có những thoại khác nhau. Đặc biệt đồng bào Cao Bằng xem địa phương mình là gốc gác của truyện, căn cứ vào câu mở đầu “ ngày xưa ở quận Cao Bình ”, và ở Hoà An, Cao Bằng có hang, tương truyền là nơi Thạch Sanh chém Chằn Tinh và nhiều đền thờ Thạch Sanh ở các làng xã. Giả thuyết khác cho rằng truyện Thạch Sanh chém Chằn gốc Khờ-me.
Chuyện Thạch Sanh được đưa lên sân khấu : năm 1962, Dũng Hiệp phóng tác thành Tuồng cổ Dũng Sĩ Gốc Đa, đồng thời truyện cũng chuyển thành kịch bản cải lương, có năm được trình diễn ở rạp Maubert tại Paris, vào cuối thập kỷ 1960.
Trên sân khấu dân gian, còn có tuồng hát bội Thanh xà Bạch xà được quần chúng miền Nam ham thích. Một chuyện tình cảm động : hai con rắn tu hành đắc đạo, thành đôi gái đẹp, yêu thương và lấy chung một người chồng. Sau đó, tình duyên trắc trở, người chồng lâm trọng bệnh, Bạch xà phải hiện nguyên hình làm rắn, trèo non lặn biển tìm thuốc trường sinh cứu chồng. Một chuyện tình huyền ảo, lãng mạn, xoá bỏ thành kiến về loài rắn.
Trong ca dao hình ảnh rắn thân thuộc với tuổi thơ là bài đồng dao trong trò chơi Rồng Rắn, được giới khảo cứu xem là xưa, có thể ra đời từ thời Lý Trần. Tùy địa phương, có nhiều thoại khác nhau, như ở quê tôi, miền Trung :
 
- Rồng rắn đi đâu ?
Xin thuốc cho con
Con lên mấy ?
Con lên một
Chưa ngon (...)
        (...)
- Cho xin chút lửa
Lửa tắt
Cho xin nước mắt
Nước mắt chua
Con xin càng cua
Càng cua kẹp
Cho xin chiếc nẹp
Nẹp gãy...
Suốt đời tôi bị ám ảnh bởi mấy câu đồng dao : sao lời hát cho trẻ con lại có những câu thảm thiết đến thế : cho xin chút lửa, lửa tắt. Cho xin nước mắt : nước mắt chua ... Những câu thơ u uất của cả một kiếp người, trước cuộc đời phi lý và vô vọng. Và những câu thơ thật hay.
Cuối cùng, vùng Bình Trị Thiên có câu ca dao, như lời chồng mắng vợ :
Con rắn không chưng (chân) nó lượn năm rừng bảy rú
Con gà không vú nó nuôi đặng chín mười con
Anh tưởng em má phấn môi son
Ai ngờ má mỏng môi mòn thế ni... !
Mắng vợ là chuyện dũng cảm, trần gian hiếm có. Mắng vợ bằng những lời lẽ chì chiết ‘thế ni’ quả là cổ kim hãn hữu !.
 Con Rắn không chưng.../.
 Orléans,Tết Quý Tỵ, 07.2.2013
 
1 V. Propp, Les racines historiques du conte merveilleux, tr 283, Gallimard, 1983, Paris
2 Nguyễn Tài Cẩn, Về tên gọi con rồng của người Việt, báo Diễn Đàn, Paris,  số 94, tháng 3/2000, tr. 19
3 Nguyễn đỗ Cung, Bàn về mỹ thuật Việt Nam, tr.117, Viện mỹ thuật, 1993, Hà Nội,
4 Phan Ngọc, Thử xét văn hoá, văn học bằng ngôn ngữ học, tr 61-128, nxb Thanh Niên, 2000,Hà Nội, 2000,
5 Hùng Vương dựng nước, nhiều tác giả, Cuốn III, tr.241_242, nxb Khoa học xã hội, 1973, Hà Nội,

4 bài thuốc dân gian sơ cứu rắn cắn

4 bài thuốc dân gian sơ cứu rắn cắn

Tai nạn do rắn cắn thường gặp trong khi đi rừng, làm rẫy, làm đồng hoặc do mưa bão gây ngập lụt... Đây là tai nạn bất ngờ khiến nạn nhân và người xung quanh lúng túng.

Trong lúc thuốc chưa có trong tay, thầy chưa có tại chỗ, nếu sơ cứu đúng cách sẽ giảm được tỷ lệ tử vong và biến chứng. Bài viết sau xin giới thiệu một số kinh nghiệm dân gian sơ cứu và phòng rắn cắn để bạn đọc tham khảo áp dụng khi cần thiết.

Ảnh minh họa.
Khi bị rắn cắn, cần nhận diện rắn độc hay rắn lành bằng cách nhìn vết cắn. Rắn lành cắn có vết răng vòng cung đều nhau, còn rắn độc luôn có 2 vết sâu hơn, cách nhau khoảng 5mm, đó là 2 móc độc.
Theo kinh nghiệm dân gian, khi bị rắn cắn, dù là rắn lành hay rắn độc cũng cần ngồi ngay xuống, một tay nắm chặt phía trên chỗ bị cắn còn tay kia quơ lại phía sau, vặt nắm lá nhai, nuốt nước, lấy bã đắp lên vết rắn cắn. Khoa học hiện đại cho rằng các lá tươi có nhiều chất tanin và men oxydaza được giải phóng trong khi nhai.
Mặt khác, các men tiêu hóa trong nước bọt cũng có tác dụng với nọc. Nếu có thể chọn được các loại cây như bồ bồ, bồ cu vẽ, cà gai leo, chè xanh, chìa vôi, chi tử, diếp cá, lưỡi rắn, rau dừa nước, rau má, rau răm, rượu hội, lá sắn dây, thảo quả là tốt nhất vì đây là những loại thảo dược có tác dụng nâng cao tỷ lệ sống hoặc kéo dài thời gian cầm cự với nọc độc rắn.
Tuy nhiên, những người hay phải đi rừng, làm việc ở những nơi dễ bị rắn cắn nên mang theo một số loại thuốc sau để dùng khi bị rắn cắn:
Rượu hội: gồm ngũ linh chi 24g, xuyên bối mẫu 24g, sinh nam tinh 24g, bạch chỉ 24g, xuyên sơn giáp 24g, quế chi 24g, bạch thược 24g, bạch đậu khấu 24g, hà thủ ô đỏ 40g, phèn xanh 24g, hùng hoàng 40g, rượu 400 1500ml. Tán thô các vị thuốc. Ngâm với rượu trong 10 ngày, mỗi ngày lắc kỹ 2 - 3 lần. Chiết lấy nước rượu trong để dùng.
Hoặc các vị thuốc trên cho vào sắc kỹ 2 lần, ép lấy nước, bỏ bã. Nước thuốc cô lại còn 300ml, lọc cho thêm rượu 500 để có 1,5 lít rượu. Chữa rắn cắn. Ngày uống 30 - 60ml rượu hội (khoảng 1 - 2 chén nhỏ hay 2 - 4 thìa canh). Sau 10 - 30 phút uống thêm 1 thìa canh. Có thể uống 150 - 200ml trong 1 ngày. Ngoài việc uống rượu còn dùng gạc tẩm rượu hội đắp lên chỗ rắn cắn.
Thuốc hội: rệp 200 con, phèn chua 20g, hùng hoàng 20g, hạt cau khô 10 hạt, củ chuối hột tươi 200g, lá trầu không tươi 10 lá, cỏ mực 200g, dây cứt quạ tươi 200g, rượu trắng 2 lít. Cho các dược liệu trên giã nát, ngâm trong rượu trắng, thỉnh thoảng quấy, đảo. Sau 7 ngày, chiết lấy rượu, để lắng dùng dần. Người lớn: 1 thìa cà phê, trẻ em bằng nửa; cứ nửa giờ uống 1 lần. Có thể chế thành viên, mỗi viên 0,5g, mỗi lần uống 2 viên, ngày uống 6 - 8 lần.
Thuốc hạ sốt: giun đất lớn (nâu đen hoặc xanh đen) 2 con, chuối tiêu hoặc chuối hột 1 cây con. Bổ đôi cây chuối, đặt 2 con giun vào giữa và buộc lại, đem đốt chín, vắt lấy nước cho uống để hạ sốt. Khi bệnh nhân bị rắn cắn mà sốt cao thì cho uống và đắp ngoài bằng thuốc hội.
Thuốc gây ấm: rau răm 30g, đậu xanh 30g, gừng nướng 20g. Giã nhỏ, vắt lấy nước cho uống để chống lạnh nếu người bệnh thấy rét, kết hợp uống rượu hội.
Tóm lại, khi bị rắn cắn nếu đã nhận diện là do rắn độc, cần khẩn trương sơ cứu và tìm cách nhanh nhất chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế hoặc trung tâm chống độc.  
Theo TS. Nguyễn Đức Quang (SK & ĐS

Hình tượng rắn trong tín ngưỡng dân gian ở Bắc Giang

Hình tượng rắn trong tín ngưỡng dân gian ở Bắc Giang

Mỗi loài vật đã đi vào đời sống văn hóa của con người bằng nhiều hình thức và sự biểu hiện khác nhau. Chúng mang những ý nghĩa biểu trưng nhất định tiêu biểu cho văn hóa, tín ngưỡng, tập tục, lối sống hay đặc tính của một dân tộc, một vùng miền, một con người. Trong số những loài vật ấy có lẽ con rắn mang ý nghĩa biểu trưng phong phú nhất và từ lâu đã đi vào đời sống tâm linh của loài người. Trong tín ngưỡng dân gian ở Bắc Giang nhiều làng quê có hình tượng rắn qua tục thờ gắn liền với nhân vật lịch sử đã có nhiều công lao với dân với nước.
Tục thờ ông Cộc ông Dài ở đền Hang Non và đền Nhẫm Lũng, huyện Lục Nam: Tương truyền thời Hùng Vương có người con gái ở thôn An Phú đã ướm thử bàn chân vào dấu chân trên đá bên giếng Trúc, dưới chân núi Khám bờ bắc sông Lục Nam. Thời gian sau nàng thụ thai và sinh được một bọc ba trứng nở ra ba con rắn. Nàng vẫn lầm lũi nuôi con mặc dù con mình là rắn. Thật kỳ lạ mỗi khi mẹ vắng nhà, ba con rắn lại lột xác thành hoàng tử khôi ngô tuấn tú giúp mẹ việc nhà. Thấy làm lạ một hôm bà mẹ cố tình về nhà sớm thì thấy ba hoàng tử đang làm việc nhà giúp mình. Do bị lộ, ba hoàng tử hốt hoảng vội chui vào lốt rắn và bỏ chạy lên núi Khám. Bà mẹ liền chạy theo gọi con trở lại nhưng ba con của bà vẫn chạy miết lên rừng chui vào một hang lớn. Bà mẹ tìm cách lôi con trở lại, không may dẫm phải đuôi một con. Tuy đứt đuôi nhưng con rắn ấy vẫn chui được vào hang và người đời đã gọi con rắn đó là ông Cộc và hai con kia là ông Dài. Về truyền tích này sách Lục Nam địa chí ghi: Ở bờ sông Lục Nam thuộc xã Khám Lạng có ngôi miếu thờ tam vị Đại vương, phía trước có nhiều vực sâu bên dưới thì lắm thủy tộc, trên có thạch bàn. Tương truyền thời Hùng Vương có một ngư phủ cầu thần núi Yên Phú, sinh được một người con gái, năm hai mươi tuổi ra sông tắm bị rồng cuốn rồi có mang sinh một bọc được ba con trai, lớn lên họ rất khôi ngô. Vào canh ba đêm nọ, mưa gió nổi lên, họ biến thành ba con rắn chui vào núi Lãm Sơn biến mất. Người mẹ thương khóc đi tìm chỉ thấy hai đuôi, vì thế sau gọi một ông Dài hai ông Cộc. Chỗ hang núi các con hóa thông ra sông Lục Nam thành ba cái vực, còn chỗ bà mẹ mất gọi là vực Dẫm. Bên cạnh núi Khám hiện còn cả một quần thể di tích gồm đền Trung, đền Thượng và đền Hạ, cạnh sông Lục Nam có đền Nhẫm Lũng thờ bà Mẹ hang Non và tam vị Đại vương. Đây là ngôi đền cổ phản ánh khá rõ về hình tượng rắn qua tục thờ trong tín ngưỡng dân gian của vùng đất này. Đền Nhẫm Lũng được xây dựng từ lâu đời và đã được tu sửa tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Giá trị nổi bật nhất của di tích là các tài liệu, hiện vật và tín ngưỡng về người được thờ ở đền. Theo truyền lại đền Nhẫm Lũng xưa có đến 36 đạo sắc phong từ đời Lê đến thời Nguyễn ban tặng cho các vị thần. Do sự biến lịch sử nay nhà đền chỉ còn lưu giữ được bốn đạo sắc, bốn tấm bia đá thời Lê và thời Nguyễn và nhiều đồ thờ tự khác có giá trị lịch sử văn hóa. Hàng năm tại quần thể di tích này mở hội vào các ngày 13 đến 15 tháng Ba âm lịch với nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, độc đáo nhất vẫn là đám rước rầm rộ diễn tả cảnh bà Mẹ hang Non đến tìm con.
Tục thờ đức Thánh Tam Giang ở các làng dọc ven sông Cầu và sông Thương: Theo thần tích của các làng thờ đức Thánh Tam Giang tập trung ở Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng, Lục Nam...và dọc ven sông Cầu, sông Thương từ “thượng chí Đu Đổm, hạ chí Lục Đầu giang” (có hơn 300 làng thờ) thì đức thánh Tam Giang vốn xuất thân từ loài thủy tộc. Tương truyền có người con gái họ Phùng, hiệu Từ Nhan đêm nằm mộng tắm ở sông Lục Đầu thấy rồng quấn quanh mình mà có thai, rồi sinh ra một bọc 5 con gọi là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và Trương Đạm Nương. Sự tích của đức thánh Tam Giang gắn liền với thời kỳ lịch sử cụ thể thời Triệu Quang Phục đánh giặc Lương ở nửa cuối thế kỷ VI. Đến thời Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt năm 1076, thánh Tam Giang đã âm phù giúp nhà Lý đánh thắng quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, lại âm phù giúp nhà Trần đánh thắng quân Nguyên thế kỷ XIII. Vì có nhiều công lao với dân tộc nên nhân dân dọc theo sông Cầu, sông Thương và các nơi các ông từng đóng quân đánh giặc đã lập đền thờ làm Thần và phong các ông là thành hoàng làng. Các triều vua về sau đời Lê, Nguyễn đều có sắc phong cao nhất cho Thần là “Tam Giang thượng đẳng thần”.
Hình tượng rắn và huyền thoại trong tín ngưỡng thờ Mẫu: Trong tín ngưỡng thờ Mẫu hình tượng rắn được biểu hiện rõ nhất khi được đồng nhất với Quan tam Phủ và Quan đệ ngũ Tuần Tranh. Theo bản văn dẫn sự tích các vị quan lớn vốn là con vua cha Bát Hải động đình có nguồn gốc sinh ra từ hình hài một con rắn, thủy thần gắn với sông nước. Những nhân vật này đều có cuộc đời huyền thoại trải qua các thế hệ được dân gian phủ lên nhiều lớp văn hóa trong đó có lớp văn hóa cốt lõi gắn liền với hình tượng rắn và đã được đồng nhất với nhân vật lịch sử cụ thể dưới triều Hùng Duệ Vương. Họ là những người rất tài giỏi có công giúp vua Hùng đánh dẹp quân Thục mang lại nền hòa bình cho đất nước. Các triều đại Lê- Nguyễn sau này đều có sắc phong cho các vị thần và lập đình, đền tôn thờ. Trong văn hóa thờ Mẫu, quan lớn Đệ Tam là một trong ba vị đại vương vốn là ba con rắn được sinh ra từ một cái bọc sau được dân gian đồng nhất với nhân vật lịch sử cụ thể. Vì có công trong việc chống Thục nên ngài được vua Hùng phong là Nhạc Phủ Ngư thượng đẳng thần, lại gia phong là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng thái thượng đẳng thần. Có bản thần tích do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) lưu ở đền Lảnh Giang (Hà Nam) nơi thờ ngài. Quan đệ ngũ Tuần Tranh cũng có xuất thân từ một bào thai có hình hài từ một con rắn sau được đồng nhất với nhân vật lịch sử cụ thể dưới thời vua Hùng, ngài có nhiều công lao đánh giặc cứu nước, danh tiếng lẫy lừng, được nhân dân tôn kính phụng thờ. Đền thờ chính ở Ninh Giang  (Hải Dương).
Như vậy nhìn vào tục thờ qua tín ngưỡng dân gian ở Bắc Giang có thể thấy rõ xuất xứ của các vị thần sinh ra từ sự hoài thai của thủy thần trong hình hài của một con rắn, đến tên hiệu của các vị thần cũng thấy rất rõ bản chất là một vị thần sông nước. Đó là lớp nghĩa cổ nhất mà truyền thuyết được phủ lên nhiều tầng lớp văn hóa dân gian sau này cũng không làm mờ đi lớp nghĩa cổ ban đầu. Gạt bỏ đi yếu tố huyền thoại xung quanh các nhân vật qua tín ngưỡng dân gian sẽ còn lại lớp giá trị truyền thống lịch sử văn hóa mà ở đó có những nhân vật lịch sử cụ thể, có công lao với dân với nước. Qua đó còn khẳng định chân giá trị lịch sử của dân tộc nhằm tôn vinh ghi nhớ công ơn những người đi trước có công lao mở mang bờ cõi gìn giữ chủ quyền độc lập dân tộc.
Đồng Ngọc Dưỡng

 

Biểu tượng rắn trong văn hóa một số nước phương Đông

Biểu tượng rắn trong văn hóa một số nước phương Đông

Phan Mạnh Hùng - ĐH Văn hóa Hà Nội
Rắn là loài sinh vật có mặt nhiều nơi trên trái đất. Trong một số nền văn hoá, rắn là một siêu biểu tượng, biểu trưng cho sự sống (tính đa giá trị và mâu thuẫn tự thân): cho vật tổ (totem) của tộc người, cho nước và lửa, cho linh hồn và nhục dục, huỷ diệt và tái sinh, sự linh hoạt và thụ động, quyết đoán và đa nghi… Chính nét đặc trưng sinh học của loài rắn đã góp phần quyết định ý nghĩa biểu tượng của nó: cách di chuyển uyển chuyển và sự siết chặt trong động tác bắt mồi khiến nó biểu trưng cho sức mạnh; sự lột da biểu trưng cho sự tái sinh; nọc độc của rắn có liên hệ đến đặc tính xấu; tính lưỡng giới tượng trưng cho khởi nguồn của vũ trụ; thân hình rắn là một đường ngoằn ngoèo không đầu không đuôi kéo dài vô tận hoặc là một đường tròn thể hiện tính luân hồi của sống và chết.
Ý nghĩa biểu tượng quan trọng nhất của rắn chính là sự thể hiện nguồn gốc của sự sống và vũ trụ: “Con rắn hữu hình chỉ là hiện thân thoáng chốc của một Con Rắn Vĩ đại Vô hình, mang tính nhân quả và Phi - thời gian, chủ tể của bản thể sống và tất cả các sức mạnh tự nhiên. Đó là một vị thần cổ đầu tiên ta gặp lại ở buổi khởi đầu của tất cả các truyền thuyết về hình thành vũ trụ, trước khi bị những tôn giáo trí tuệ của con người truất phế. Đấy là cái thổi sinh khí vào và cái duy trì. Trên bình diện con người, đấy là biểu tượng kép của linh hồn và nhục dục (…) Rắn là mẫu gốc quan trọng nhất của tâm hồn con người”[1]. Là mẫu gốc căn bản, gắn với cội nguồn của vũ trụ, sự sống và của trí tưởng tượng, rắn đã duy trì nơi các nền văn hoá trên thế giới các giá trị của biểu tượng. Nơi các quốc gia phương Đông, đặc biệt là các nền văn hoá gắn với nông nghiệp vốn rất quan tâm đến các hiện tượng thời tiết, rắn có một vị trí quan trọng trong thế giới biểu tượng. 
Ấn Độ được xem là một nền văn hoá lớn ở phương Đông, là cái nôi của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng và dĩ nhiên đó là nơi xuất phát của nhiều biểu tượng tín ngưỡng và tâm linh. Từ Ấn Độ, các tôn giáo và biểu tượng tâm linh được truyền nhập vào văn hoá bản địa của các quốc gia khác, đặc biệt là văn hoá một số quốc gia Đông Nam Á, làm nên bản sắc của các quốc gia.
Trong tiếng Phạn, Naga có nghĩa là con rắn lớn, cũng là tên gọi của vị thần rắn trong Ấn Độ giáo (Hindouisme). Rắn Naga được gắn với hai vị thần quan trọng là Vishnu và Shiva, với ý nghĩa cuộn tròn lấy cái gốc của trục thế gian, biểu trưng cho sự sinh thành, phát triển và huỷ diệt, nâng đỡ và bảo đảm sự ổn định của thế giới. Người Ấn cho rằng mọi ngôi nhà phải nằm ở vị trí trung tâm của thế giới và được một con rắn Naga cõng. Do vậy, muốn cất nhà, “người ta đóng một chiếc cọc vào đầu con Naga nằm dưới mặt đất tại vị trí được một thầy phong thuỷ xác định. Đôi khi những kẻ “cõng thế giới” là những con voi, bò đực, rùa, cá sấu, v.v…, nhưng đấy chỉ là những vật thay thế hay bổ sung có hình dạng hoang dã cho rắn, trong chức năng đầu tiên của nó. Cho nên từ tiếng Phạn Naga vừa có nghĩa là voi vừa có nghĩa là rắn”[1]. Ấn Độ giáo không chỉ thờ thần rắn Naga mà nhiều con vật khác. Sự thờ cúng thú vật, đặc biệt là bò cái cũng là một đặc trưng cơ bản của tổ hợp tôn giáo này. Người Ấn còn có cả lễ hội riêng về rắn. Nghi thức quan trọng trong lễ hội rắn là việc những người tham dự chia phần gạo của mình cho các con rắn sống nhằm cầu mong gặp điều lành, tránh điều dữ. Ở một số nơi thuộc Bengal, “người ta tổ chức lễ hội rắn bằng nhiều cách khác nhau, nhưng thờ rắn được tổ chức hàng năm vào ngày cuối cùng của tháng Sravana Belgan (July-August). Các gia đình đều nặn một mô hình nữ thần đất sét hình đôi rắn có vành mũ trùm lên vai, thờ trong nhà, và một con dê hay con lợn sẽ làm vật hiến tế. Trước khi nữ thần đất sét ngập trong nước ở phần cuối của lễ hội, rắn đất sét được gỡ bỏ khỏi vai nữ thần. Người dân tin rằng việc làm này sẽ giúp họ chữa khỏi bệnh tật, đặc biệt là bệnh trẻ em”[3]. Rắn không chỉ xuất hiện nơi các lễ hội quan trọng trong đời sống tâm linh mà còn in đậm nơi các kiến trúc và điêu khắc như là một biểu tượng của sự bất tử, người bảo vệ. Hình ảnh dễ bắt gặp nơi các đền đài, chùa chiền và dinh thự ở Ấn Độ là hình ảnh vị thần cầm rắn trên tay hay để rắn quấn quanh mình.
 
Nagini (công chúa rắn Naga) trên bậc thang chùa  Phra Keo, Bangkok
(Nguồn: Phan Anh Tú, www.vanhoahoc.edu.vn)
Trên thế giới, nhiều dân tộc xem rắn là chúa tể của phụ nữ. Trong quan niệm của người Ấn, người phụ nữ muốn có con thường phải nhận một con rắn hổ mang làm con nuôi. Với người Thái Lan, rắn là âm, là hồn của âm vật, là thần mẹ và trong nghệ thuật, vẻ đẹp nữ tính của người phụ nữ được gắn với vẻ đẹp của rắn. Do vậy, người Thái không giết rắn một cách bừa bãi. Trong văn hoá tâm linh của họ, rắn là con vật linh thiêng, nó mang lại những may mắn cho con người. Đó là lý do tại sao ở Thái có khá nhiều ngôi đền thờ rắn. Trong chùa, họ thường đặt một đôi rắn vàng và rắn trắng. Rắn vàng tượng trưng cho đất. Rắn trắng tượng trưng cho nước. Sự giao hoà của chúng sẽ tạo ra cuộc sống yên lành, sự no ấm của con người.
Người Khmer vốn có tín ngưỡng bản địa thờ rắn Naga (tiếng Khmer gọi là Niệk) chín đầu, là biểu tượng cho thần đất và thần nước, giúp ích cho cuộc sống con người. Về sau, dưới những ảnh hưởng của đạo Bà la môn, rắn còn mang biểu tượng nguồn gốc của các vị vua lập quốc. Truyền thuyết của người Khmer cho rằng vị vua lập quốc là con của một người Bà la môn (từ Ấn Độ đến vùng đất người Khmer bằng thuyền) tên là Kaudinya và con gái thần rắn Naga tên là Nagini. Người Khmer tin rằng: “chính Kaudinya đã truyền cho họ bí quyết nghề trồng lúa và công việc thuỷ lợi. Còn các vị vua Khmer sau này thì được tin là đã giao phối với một Nagini xinh đẹp để duy trì dòng dõi hoàng gia (…) Trong mỗi triều đại, các vị vua Khmer đều cho xây dựng các cung điện và các đền thờ khổng lồ bằng đá, mà rắn Naga được xem là vị thần canh giữ nơi thiêng liêng đó, vì vậy chúng luôn xuất hiện trên cầu thang, trên các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp để xua đuổi tà ma. Chúng còn tượng trưng cho sự phồn thực và là loài vật có khả năng bảo vệ mọi nguồn nước và các công trình thuỷ nông của người Khmer cổ” [4]. Trong kiến trúc nhiều ngôi đền cổ của người Khmer, hình ảnh cầu vồng và rắn Naga tượng trưng cho cầu nối giữa trần gian và cõi Niết bàn. Các phù điêu Naga nơi mái cuốn của ngôi chùa người Khmer có ý nghĩa trong việc trừ tà, tránh hoả hoạn và bảo vệ đạo Phật.
 
Rắn Naga ở chủa Khmer, Trà Vinh, Việt Nam 
Nguồn:  www.cpv.org.vn
 Không chỉ người Khmer, một nhóm người Tạng Miến ở vùng núi phía tây bắc của Myanmar cũng thờ vật tổ là rắn Naga, do vậy họ được gọi là người Naga. Hay vị vua đầu tiên của triều đại Sukhothai ở Thái Lan (tk. XIV) đã tự nhận là con của một thủ lĩnh Thái và một nàng tiên rắn (Nagini) để hợp thức hoá việc lên ngôi.
Ở Trung Hoa, tín ngưỡng thờ rắn được biết đến khá sớm thể hiện qua hình tượng thần Phục Hy đầu người đuôi rắn, thần Nữ Oa đầu người mình rắn. “Các đền miếu thờ rắn ở Trung Quốc nhiều vô kể. Đặc biệt ở các tỉnh Triết Giang, Phúc kiến, Quảng Đông thuộc miền duyên hải Hoa Đông và vùng Lĩnh Nam Trung Quốc. Ngay ở thành phố Tô Châu tỉnh Triết Giang cũng có miếu thờ xà vương, trong có tạc tượng xà vương bằng hình một vị tướng quân. Tương truyền, ngày 12 tháng 4 âm lịch là ngày sinh của xà vương, người dân đi cúng tế tấp nập, nhộn nhịp. Dân gian thường cúng thần rắn bằng các loài ếch nhái, vì họ cho rằng lúc còn sống, rắn thích ăn thịt ếch nhái”[3]. Ngoài rắn, người Trung Hoa còn có một biểu tượng đặc biệt là rồng. Cũng như rắn Naga, rồng cũng xuất hiện nhiều nơi kiến trúc và điêu khắc. Có điều, trong khi rắn Naga là biểu tượng của linh vật bảo vệ tôn giáo, cội nguồn của sự sống và cái chết thì rồng là biểu tượng cho quyền lực của hoàng đế. Dù cho, ở một số quốc gia (Camphuchia và một số quốc gia Đông Nam Á), rắn Naga gắn với sự xuất hiện của các vị vua khai quốc, nhưng mức độ biểu trưng quyền lực không tuyệt đối như rồng của người Trung Hoa. Con rồng của người Việt vốn xuất phát từ nguyên mẫu rắn kết hợp với những đặc trưng của cá sấu và dù có ảnh hưởng của rồng Trung Hoa thì vẫn còn còn dấu vết pha trộn rắn – rồng.
Hình ảnh rắn Naga trong các nền văn hoá được cách điệu không giống nhau: rắn Naga 3 đầu trong văn hoá Khmer tượng trưng cho quan niệm tam tài, rắn 5 đầu tượng trưng cho ngũ hành, 7 đầu tượng trưng cho sự đắc đạo trong tu hành (hình tượng rắn Naga bảo vệ đức Phật toạ thiền) và 9 đầu chính là con đường dẫn tới thiên đàng; rắn Naga trong văn hoá Lào có 7 đầu…, là những con số lẻ - số dương theo tư duy truyền thống phương Đông.
Trong văn hoá dân gian Việt Nam, rắn không được xem là biểu tượng gắn với tôn giáo (trừ trường hợp Phật giáo của người Khmer Nam Bộ) với các vị vua khai quốc. Tục thờ rắn là một tín ngưỡng nguyên thuỷ của người Việt với hai ý nghĩa chính là vật tổ và thuỷ thần.
Việc xem rắn như là thuỷ thần gắn với những ý niệm về sông nước của cư dân nông nghiệp và tương đối phổ biến ở nhiều vùng, cho đến ngày nay vẫn còn chứng tích. Các đền thờ rắn xuất hiện dọc theo các con sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống…. “Người Mường ở Thanh Hoá cũng có tục thờ rắn, ngôi đền thờ thần rắn được biết đến hiện nay ở thông Lương Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ. (…) Đình làng Phú Bài, xã Thuỷ Phù, Hương Thuỷ, Thừa Thiên Huế cũng lập bài vị thờ hai vị thần rắn là ông Dài, ông Cụt. Theo truyền thuyết, đây là hai con rắn, một dài một cụt vốn là con của thần gió từng hiển linh giúp đỡ dân làng, đem lại mưa thuận gió hoà, nên được dân làng tưởng nhớ, tôn xưng là thuỷ thần. (…) Tại xã Định Thuỷ, huyện Mỏ Cày, Bến Tre có một ngôi đình rắn, tại đây vẫn lưu truyền đôi rắn thần khổng lồ, hiền lành”[3].
Cùng với việc thờ thần rắn ông Dài và ông Cụt là truyện kể dân gian với nhiều dị bản với hình ảnh con rắn bị bố mẹ (có khi là bố mẹ nuôi) chém nhầm đứt đuôi, có khi người phụ nữ đẻ ra quả trứng rồi nở ra con rắn trong các truyện kể của các dân tộc Tày, Thái, Mường. Người Việt vùng Nghệ An có truyền thuyết về rắn ông Dài ông Cụt gắn liền với một cái giếng cổ trên đồi cao, sâu chừng một mét nhưng không bao giờ cạn. Chuyện kể rằng, có hai vợ chồng nghèo lấy nhau mãi mới sinh được một cặp rắn. Hai con rắn rất tinh nghịch và thường hay theo người cha ra đồng. Một hôm, sau trận mưa to, người cha ra đồng be bờ ngăn nước và hai con rắn theo. Rắn nghịch ngợm dùng đuôi đục lỗ cho nước chảy. Người cha vô tình chặt đứt đuôi của một con. Rắn nghĩ cha cố ý hại mình nên tức dận bỏ đi. Từ đó người dân gọi con rắn bị đứt đuôi là ông Cụt và con còn lại là ông Dài. Ông Cụt bị đứt đuôi, máu ra nhiều nên khát nước. Lúc đi qua vùng này, phát hiện thấy mạch nước liền ủi cho nước trào lên để uống và dưỡng thương đồng thời tạo nên một cái giếng được dân gian gọi là giếng ông Cụt. Người dân tôn tạo giếng thành nơi thờ phượng ông Dài và ông Cụt. Ngày giỗ mẹ của ông Dài và ông Cụt, hai ông thường về báo mộng cho dân làng tránh được những trận cuồng phong. Nếu với người Thái, rắn tượng trưng cho âm, cho thần mẹ thì với người Việt “rắn lại là dương, rắn là ông Dài - ông Cụt, là Bố Rồng” [2]
Biểu tượng rắn thuỷ thần có hai thuộc tính: tốt và xấu. Rắn là vị thần nước giúp mưa thuật gió hoà, mang điềm lành và báo điềm dữ. Rắn là con vật tinh quái phá hoại mùa màng và cuộc sống của người dân. Hình tượng con Chằn (một biến thể của rắn) trong văn hoá người Khmer Nam Bộ lại thể hiện cả hai mặt tốt và xấu: có vai trò bảo vệ con người nhưng đồng thời cũng đại diện cho tính ác, phá hoại cuộc sống bình yên của con người. Dù rắn có mang thuộc tính nào đi chăng nữa thì với cư dân vẫn một lòng kính trọng và thờ phượng.
Có thể thấy, trong truyện kể dân gian của người Việt, ở miền Bắc và Bắc Trung bộ, hình tượng rắn thể hiện trong nhóm các truyền thuyết về thuỷ thần (nhóm truyện Ông Cộc ông Dài và người anh hùng rắn); ở miền trung và Tây Nguyên hình tượng rắn thể hiện trong các truyện kể về người dũng sĩ diệt rắn ác cứu người đẹp hay hôn nhân giữa người và rắn (rắn lấy người, rắn hoá người như chuyện Chàng Rắn của người Gia Rai); trong các truyện kể ở Nam Bộ hình tượng rắn gắn với ông thầy trị rắn, nơi chốn linh thiêng và loài rắn khổng lồ. Nhìn chung, trong câu chuyện dân gian rắn có quan hệ với con người qua qua 3 dạng thức: rắn là bố của người, chồng của người và con nuôi của người.
Hình tượng rắn trong quan niệm dân gian của người Việt còn tượng trưng cho người phụ nữ trắc nết, lươn lẹo, phản trắc. Truyện về con rắn cái đã “xơi tái” tình nhân vào thời điểm con đực lột da, yếu sức hay truyện con rắn báo oán (kỳ án Lệ Chi Viên)…, có lẽ xuất phát từ những ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa và muộn hơn lớp văn hoá ảnh hưởng từ Ấn Độ.
Ngày nay, một số nền văn hoá ở phương Đông vẫn tiếp tục duy trì sống động những tín ngưỡng biểu tượng rắn. Điều này hết sức đặc biệt, có ý nghĩa tích cực trong việc định vị toạ độ văn hoá và bản sắc, như nhận xét của một học giả phương Tây: “Các nền văn hoá ấy chỉ khác nền văn hoá của chúng ta (phương Tây - PMH) ở chỗ chúng vẫn tiếp tục biểu lộ công khai những tín ngưỡng biểu tượng, mà trong xã hội chúng ta đã bị những áp lực lịch sử che khuất, nhưng còn chưa biến mất. Như vậy, cần phải sục tìm trong dòng chảy của triết học hay của tư duy gọi là song song để rút ra chức năng mẫu gốc của rắn. Ở đấy, bất chấp nhiều thế kỷ giáo dục chính thống ra sức cắt cụt tính đa giá trị của nó, ta vẫn thấy nó là vị chủ tể của phép biện chứng sống, là vị tổ tiên huyền thoại, là vị thần khai hoá, một anh chàng Don Juan chúa tể của các phụ nữ, và do đó là cha của các bán thần hay các nhà tiên tri xuất hiện ở một thời điểm nhất định của lịch sử, như Dionysos, để tái sinh nhân loại”[1]. Quả thật, có một Địa Đàng ở phương Đông [5] như nhận định của Stephen Oppenheimer.
Tài liệu tham khảo
1. Jean Chevalier - Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb Đà Nẵng.
2. Tạ Đức (1999), Nguồn gốc và sự phát triển của kiến trúc - biểu tượng và ngôn ngữ Đông Sơn, Hội Dân tộc học Việt Nam xuất bản, Hà Nội.
3. Trần Minh Hường, Hình tượng rắn qua tục thờ và huyền thoại, Văn hoá nghệ thuật, số 311+312-2010.
4. Phan Anh Tú, Truyền thuyết về rắn Naga trong văn hoá Khmer, Thông báo khoa học, số 5-2004.
5. Stephen Oppenheimer (2005), Địa Đàng ở phương Đông (Lịch sử huy hoàng của lục địa Đông Nam Á bị chìm), bản tiếng Việt của Lê Sỹ Giảng và Hoàng Thị Hà, Nxb Lao động - Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Đông Tây, Hà Nội.
 Nguồn: Tạp chí Văn hoá - Du lịch số 8 tháng 1.2013

Thú vị hình tượng rắn trong các nền văn hóa

Thú vị hình tượng rắn trong các nền văn hóa

(Dân trí) - Con người nhìn chung là sợ rắn, và vì sợ nên con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn để mong rắn bảo vệ cho mình. Trong các nền văn hóa khác nhau, loài rắn mang những nét riêng khác biệt rất thú vị.

Đối với người Việt Nam, rắn không phải là loài vật thân thiện với con người. Trong quan niệm dân gian, rắn là con vật hiểm ác, tinh quái và có phần gian xảo. Nhưng cũng chính vì những đặc tính đó mà con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn như một vị thủy thần để cầu thân với rắn, mong rắn không làm hại người.
Nhìn chung, rắn không có được hình ảnh tốt trong tâm thức của người Việt. Cứ nhắc tới rắn, bao giờ người ta cũng kèm theo những điều xấu. Thí dụ "miệng hùm nọc rắn" là chỉ nơi nguy hiểm, miệng rắn độc là miệng nói toàn chuyện ác. “Khẩu Phật tâm xà” là miệng nói điều tốt lành, nhân đức nhưng trong tâm thì vô cùng hiểm độc.

Khi người Pháp mô tả ai với cái lưỡi chẻ đôi tức là muốn nói người ấy mồm miệng toàn nói điều độc địa như loài rắn độc. Cũng với ý nghĩa đó, kẻ tiểu nhân bị ví là ở dưới thấp hơn cả bụng rắn.
Ở châu Úc, các thổ dân tôn sùng rắn vì rắn tượng trưng cho tính âm, nguồn nước, có liên hệ mật thiết với nông nghiệp.
Ở Ai Cập, rắn là biểu tượng của thánh thần, sự thông thái và khả năng tiên tri về tương lai. Rắn được coi là thần hộ mệnh cho các bậc vua chúa nên vương miện của các pha-ra-ông thường chạm trổ hình rắn.
Ở châu Âu, tục thờ rắn phổ biến quanh lưu vực những con sông ở Hy Lạp. Ở đây, rắn không chỉ tượng trưng cho sự khôn ngoan mà còn là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực về khả năng sinh sản.
Theo truyền thuyết cổ Hy Lạp, con trai của thần Apollo được xem là ông tổ của ngành y dược. Một ngày nọ, Esculape trên đường đi thăm bạn gặp một con rắn, ông đã đưa cây gậy ra và con rắn liền bám lấy rồi bò lên quấn quanh cây gậy.
Esculape thấy vậy nên cầm cây gậy đập xuống đất để giết chết con rắn. Sau đó, ông lại thấy một con rắn khác bò tới, miệng ngậm một loại thảo dược để cứu con rắn đã chết. Từ đó ông để tâm tìm kiếm các loại cây cỏ trong núi để chữa bệnh cho con người. Esculape được xem như thần bảo hộ của các thầy thuốc.
Để khắc họa thần Esculape, người ta thường để thần cầm một chiếc gậy làm bằng gỗ cây nguyệt quế và một con rắn quấn chung quanh. Ngoài ra, rắn thường lột da để lớn và để loại bỏ các ký sinh trùng trên da nên rắn cũng là biểu trưng của sự tái sinh, hồi phục, tuần hoàn luân hồi và bất tử.

Rắn trong một nghi lễ của người Hindu
Đối với người Hindu, rắn được coi như thần thánh. Trong lễ hội, người ta chia gạo cho rắn với hy vọng tai ương sẽ qua đi và những điều tốt đẹp sẽ tới. Tín ngưỡng này còn được thể hiện trong điêu khắc, với hình ảnh các vị thần cầm rắn trên tay hay để rắn quấn ngang mình. Trên các mái, vách của các ngôi đền, hang động cổ, người ta cũng tìm thấy những hình ảnh rắn được chạm khắc.

Thần rắn Naga
Ở Đông Nam Á, tục thờ rắn cũng rất phổ biến. Trong tín ngưỡng dân gian của người Campuchia, họ thờ cúng thần rắn Naga.
Pi Uy
Tổng hợp