Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa ở Đông Nam Á: lịch sử và hiện tại

Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa ở Đông Nam Á: lịch sử và hiện tại
Thái Nguyễn Đức Minh Quân[1]
Đông Nam Á là môt khu vực lịch sử - văn hóa đặc biệt, có nền tảng chung được sản sinh trong điều kiện tự nhiên thuận lợi ở khu vực, đồng thời nơi đây là cái nôi của nền nông nghiệp lúa nước từ lâu đời, trải dài từ phía Nam sông Dương Tử đến vùng Đông Bắc Ấn Độ và thậm chí sang cả châu Đại Dương. Trong lịch sử phát triển của mình, người dân các nước Đông Nam Á đã không ngừng củng cố văn hóa bản địa, tăng cường tiếp thu nền văn hóa bên ngoài, trong đó có văn hóa Ấn Độ, tạo điều kiện để văn hóa này giao thoa với Đông Nam Á và để lại những dấu ấn văn hóa rất riêng, đậm chất Ấn Độ ở khu vực Đông Nam Á. Chính việc giao thoa giữa Ấn Độ với Đông Nam Á đã hình thành nhiều nền văn hóa khác nhau trên vùng đất này. Tất cả đã tạo nên sự thống nhất và đa dạng của văn hóa khu vực Đông Nam Á ngày nay. Trong tham luận này, chúng tôi không có tham vọng trình bày hết về những dấu ấn tiêu biểu của Ấn Độ trong giao thoa văn hóa với Đông Nam Á, mà chỉ muốn trình bày những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Ấn Độ trong việc giao thoa, tạo dấu ấn riêng biệt ở Đông Nam Á về một số lĩnh vực chủ yếu, từ đó giúp người đọc có cái nhìn toàn cục về những dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa Đông Nam Á, từ đó giúp củng cố và phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ ngày càng bền vững và lâu dài.
1. Khái quát về khu vực Đông Nam Á và quá trình tiếp xúc văn hóa Ấn Độ vào khu vực Đông Nam Á
1.1. Khái quát về Đông Nam Á
Đông Nam Á – khu vực nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ - từ lâu được xem là một khu vực địa lý - lịch sử, văn hóa, đồng thời cũng là một trong những trung tâm văn minh phát triển nhất thế giới với nhiều nét phát triển độc đáo. Về vị trí địa lý thì đây là một khu vực khá rộng lớn với diện tích là 4,45 triệu km2, dân số là 568,3 triệu người (số liệu năm 2012); phạm vi khu vực khu vực trải dài trên một phần Trái Đất từ 92 – 140oĐ và từ 28oB đến 15oN. Về địa lý hành chính, khu vực này gồm 2 phần đất liền và hải đảo, gồm 11 quốc gia là Brunei,  Campuchia,  Đông  Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Philippines, Singapore và Việt Nam. Với vị trí địa lý và phạm vi hết sức rộng lớn như vậy, Đông Nam Á đã gần như thừa hưởng tất cả mọi đặc điểm mà hầu hết các vùng khác trên thế giới đều có: khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, cảnh quan sinh thái rất phong phú và đa dạng. Ở Đông Nam Á do điều kiện địa lý của mình nên ngay từ thời xưa, Đông Nam Á đã là nơi chịu ảnh hưởng của gió mùa (gió Tín phong, gió mậu dịch) nên thời tiết ở khu vực này tương đối dễ chịu, con người sống một cuộc sống thoải mái, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới lớn và cũng chính vì thế mà Đông Nam Á trở thành quê hương của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, cây gia vị và hương liệu. Ngoài ra, do vị trí địa lý đặc biệt của mình nên Đông Nam Á từ lâu đã là nơi đan xen của nhiều loại địa bàn quy tụ như đồi núi, duyên hải, đồng bằng, ven biển đã góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú của văn hóa tộc người ở khu vực Đông Nam Á[2]. Trong quá trình phát triển của mình, lãnh thổ Đông Nam Á gần tương đương với hiện nay cùng với nền văn hóa Nam Á đặc trưng, mang tính bản địa sâu sắc. Cư dân Đông Nam Á hiện nay là nói 4 ngữ hệ chính: Thái – Kadai, Nam Á, Nam Đảo, Tạng – Miến. Về mặt nhân chủng, cư dân Đông Nam Á thuộc tiểu chủng Mongoloid phương Nam, người Indonesiens cổ là tộc người đầu tiên và là tổ tiên của các tộc người có mặt ở khu vực Đông Nam Á rộng lớn này. Tộc người này trong quá trình phát triển (gốc gác là ở Trung Quốc, nhiều nhất ở Nam Trường Giang) đã thực hiện nhiều cuộc di cư lớn về phía Nam; nhưng tiêu biểu nhất là sự kiện quân Tần tấn công vùng Lĩnh Nam (tức nước Việt cổ) vào cuối thế kỷ III TCN. Trong cuộc tấn công này, trong khi một số nhóm người Việt trụ lại ở Bắc Việt Nam và hình thành các tộc người Việt (Bách Việt, Nam Việt, Đông Việt…) thì nhiều nhóm người Indonesiens di cư vào phía Nam và dần bị phân hóa: một nhóm Indonesiens nói ngữ hệ Nam Á chạy xuống vùng Miến Điện, Bắc Campuchia và hình thành người Môn; đại bộ phận người Indonesiens còn lại rút về phía Nam. Ở Trung Bộ (vùng Quảng Nam – Quảng Ngãi), người Indonesiens phân thành 5 tộc người là Churu, Giarai, Raglai, Edeh và Chăm. Người Chăm chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo nên sống ở miền biển, 4 tộc người còn lại dị ứng với văn hóa Ấn Độ thì rút lên Tây Nguyên ở, giữ lại tính Indonesiens bản địa, nói ngữ hệ Nam Á; một số tộc khác như Stieng, Mạ sinh sống ở vùng Đông Nam Bộ ngày nay[3]. Chính sự di cư, phân hóa giữa các dân tộc trong khu vực đã làm cho dân cư Đông Nam Á phong phú, đa dạng như ngày nay.
Do vị trí địa lý nằm ngay trên con đường hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cho nên Đông Nam Á ngay từ rất lâu đã được coi là hành lang, cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải. Ngay từ sớm, đã có nhiều thương nhân, người đi buôn đóng thuyền vượt biển sang buôn bán ở Đông Nam Á. Theo tài liệu khảo cổ học, W. G. Solheim II nhận định những người sống ở vùng duyên hải Zulu, Mindanao, Borneo là những người đầu tiên đóng thuyền vượt biển sang các vùng khác để trao đổi, buôn bán từ 9.000 năm trước đây[4]. Thư tịch cổ Trung Hoa cũng ghi nhận các sư tăng như Khang Thái, Pháp Hiển, Nghĩa Tĩnh, Trịnh Hòa, Chu Đạt Quan và Marco Polo đều đi thuyền sang Đông Nam Á với các vai trò như buôn bán, truyền đạo hay lo công việc nhà nước. Họ đã ghi chép và để lại nhiều tài liệu quý cho chúng ta nghiên cứu về Đông Nam Á. Người Trung Quốc thời xưa gọi là Nam Dương (chỉ những nước nằm ở vùng đất phía Nam Trung Quốc); Nhật Bàn gọi là Nam Yo (Nam Dương); người Arab gọi là Waq Waq, Zabag; người Ấn Độ gọi là Suvanabhumi (Đất Vàng). Trong Thế chiến 2, Lord Mountbatten (người thống lĩnh Bộ Tư lệnh tối cao của Anh ở Đông Nam Á) đã gọi vùng đất này là Southeast-Asia.
Như vậy thì với vị trí địa lý thuận lợi này đã tạo điều kiện cho cư dân Đông Nam Á phát huy những thành tựu mình đạt được trong khu vực, đồng thời còn muốn tiếp nhận và giao lưu với các nền văn hóa bên ngoài khu vực để làm văn hóa trong khu vực thêm phong phú, đa dạng hơn và tạo sự phát triển mạnh mẽ hơn trong khu vực Đông Nam Á vốn đa dạng này; trong đó nền văn hóa Ấn Độ là nền văn hóa tiêu biểu nhất và đó cũng chính là vấn đề chính mà chúng tôi muốn đề cập trong bài tham luận này. Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn do người Arya thành lập vào thiên niên kỷ II – I TCN ở miền Bắc Ấn Độ. Người Arya xâm nhập vào Ấn Độ vào năm 1500 TCN, chiếm đất của người bản địa Dravida và nhanh chóng xác lập sự thống trị của mình ở Ấn Độ ở thời kỳ Vedda (1.500 – 1.000 TCN). Đến thời kỳ thành lập nhà nước, người Arya bắt đầu tạo lập nền văn hóa Ấn Độ sơ khai: công nhận Balamon là quốc giáo, hai sử thi Mahabharata - Ramayana của Balamon và 2 tôn giáo lớn là đạo Phật, đạo Jaina ra đời[5] và cho ra nhiều thành tựu đặc sắc. Đến thời kỳ vương triều Morya của đế quốc Magadha (321 – 187 TCN) và vương triều Gupta – Harsha (320 – 647) thì văn hóa Ấn Độ mới có điều kiện thuận lợi để tràn xuống phía Nam và ảnh hưởng ra xung quanh, trong đó có vùng Đông Nam Á rộng lớn này. Đối với vùng đất Đông Nam Á này, văn hóa Ấn Độ đã xâm nhập vào sâu trong vùng đất này, phát triển và bước đầu tạo những dấu ấn riêng biệt góp phần làm cho văn hóa Đông Nam Á vốn đã đa dạng trên nền tảng nền văn hóa bản địa vốn có từ lâu đời lại càng phát triển, tạo nên nền văn hóa ở Đông Nam Á phong phú, đa dạng như hiện nay. 
1.2. Quá trình du nhập và lan tỏa của văn hóa Ấn Độ vào khu vực Đông Nam Á
Trước khi người Hồi và người phương Tây biết tới Đông Nam Á thì người Ấn Độ đã biết đến vùng đất này từ khá sớm, khoảng thiên niên kỷ II – I TCN. Nhiều tài liệu lịch sử ghi nhận, trong thời kỳ này đã có người Ấn Độ đến vùng Đông Nam Á, nhưng người ta cũng chưa rõ là họ đến đây từ sớm để làm gì (buôn bán, truyền giáo ?) mà chỉ biết rằng, họ đến nơi này để tìm vàng vì nhiều sách viết rằng, nơi đây có nhiều vàng (nhiều tài liệu gọi là Suvanabhumi – Xứ sở Vàng), nhiều hương liệu quý giá nên đã kích thích họ đến vùng Đông Nam Á này; tuy nhiên vào thời kỳ đó thì dân cư cũng còn thưa thớt (vài chục đến vài trăm nghìn người), phương tiện di chuyển còn thiếu thốn nên việc sang khu vực Đông Nam Á có phần bị hạn chế. Nhưng về sau, do nhu cầu phát triển kinh tế, cộng với dân cư tăng nhanh và phương tiện di chuyển trên biển được cải tiến nhiều, người Ấn Độ đã có thể đi sang Đông Nam Á và lúc này, mục đích rõ ràng hơn: họ không phải đến đây tìm vàng nữa mà đến để trao đổi, buôn bán với các xứ khác.
Niddesa, một thư tịch Phật giáo viết bằng tiếng Pali đã ghi nhận, người Ấn Độ đã thường xuyên qua lại ở các địa điểm: Takkola (chợ Đậu khấu) ở Bắc Malaysia, Kupuradvipa (Đảo Long não), Nakikelavidpa (Đảo Dừa) và Đảo Vàng – chỉ vùng Indonesia; với mục đích là buôn bán các sản vật quý, gia vị, hương liệu… với Đông Nam Á để trao đổi với các xứ khác. Đặc biệt thì từ sau Đại hội Phật giáo đầu tiên ở Pataliputra (242 TCN), đại đế của nước Magadha là Ashoka đã khuyến khích các nhà sư, nhà tu hành Ấn Độ sang Đông Nam Á, trước hết là Ceylan, Myanmar, Malayu (thuộc Malaysia)… mà dấu tích còn để lại ở vùng lưu vực Menam: các tượng Phật theo phong cách Dvaravati ở Myanmar; tượng Phật ở Đồng Dương, Sumatra và một số hiện vật ở Óc Eo (An Giang). Tiếp đó, từ thế kỷ I – II thì do Ấn Độ loạn lạc nên làn sóng di cư của người Ấn Độ sang Đông Nam Á ngày càng nhiều hơn, mà nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể là:
Thứ nhất, một số tiểu quốc, vương quốc lớn thấy dân cư của vương quốc mình quá nhiều nên ra chính sách di cư để đưa dân sang nơi khác để tránh sức ép về gia tăng dân số; tiêu biểu là các vương quốc Kushan, Adhra, Gupta… Dưới tác động của chính sách trên, nhiều người Ấn đã di cư sang các vùng đất mới lạ ở Đông Nam Á, thiết lập các khu định cư và thường thì các khu định cư là tên của các địa danh Ấn Độ cũ: Campuchia – tên gốc là Kambuja (một thành phố nổi tiếng ở Tây Bắc Ấn Độ cổ xưa).
Thứ hai, người Ấn Độ di cư mạnh mẽ sang Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, trước hết là do sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về cơ tầng văn minh nông nghiệp cổ xưa, sự giống nhau về phong tục tập quán, văn hóa dân gian, di tích khảo cổ…
Thứ ba, do nhu cầu tìm sản vật địa phương và mở rộng địa bàn buôn bán mới. Đúng như vậy, việc các lái buôn Ấn thi nhau sang tìm vàng ở khu vực Đông Nam Á đã đẩy nhanh tốc độ giao lưu, giao thoa văn hóa giữa hai khu vực. Do được buôn bán ở Đông Nam Á, người Ấn Độ học được của họ kỹ thuật hàng hải – nghề đi biển, một thứ kỹ thuật mà xưa kia họ chưa hề biết đến, hoặc nếu có thì biết qua sách vở chứ chưa có thực tế. Họ học được nghề đóng thuyền, đóng tàu buồm lợi dụng sức gió mùa của người Ba Tư để chở nhiều người (600 – 700 người), thực hiện chuyến đi dài ngày trên biển và vận chuyển nhiều hàng hóa hơn để sang khu vực Đông Nam Á trao đổi, buôn bán. Để tạo điều kiện cho các chuyến đi biển diễn ra thuận lợi, người Ấn Độ lập chợ búa, hải cảng ở Nam Ấn, Đông Ấn, Java, Malaya… để hoạt động đường biển được tiện lợi hơn.
Thứ tư, đó là do sự phát triển của các tôn giáo, nhất là Phật giáo; các tư tưởng của Phật giáo nhanh chóng phát triển thuận lợi là do giáo lý của nó. Trước kia, người Ấn Độ theo Balamon giáo rất sợ tiếp xúc với người bên ngoài, vì nếu tiếp xúc thì họ sẽ bị xem là “không trong sạch” và bị đuổi ra khỏi đẳng cấp. Quy định ngặt nghèo đó phần nào cản trở việc xuất dương của họ ra bên ngoài. Nhưng các tín đồ Phật giáo đã gạt bỏ những điều cấm đoán đó; dùng tư tưởng “không thành kiến về chủng tộc” của mình để mở đường cho người Ấn Độ di cư sang Đông Nam Á một cách thuận lợi. Tận dụng điều kiện thuận lợi đó, nhiều thương nhân, nhà tu hành vả thủy thủ và cả những vị tu sĩ Balamon đã vứt bỏ thành kiến đã xuất dương sang Đông Nam Á. Đông Nam Á với những mảnh đất xanh tươi màu mỡ, dân cư hiền hòa và hiếu khách đã hấp dẫn họ. Khi định cư hẳn nơi này, họ bắt đầu lập những khu định cư rồi sau đó biến những nơi này thành những trung tâm văn hóa, kinh tế với biểu hiện ngày càng rõ nét của văn hóa Ấn Độ, đồng thời có sự đan xen của văn hóa địa phương.
Ở những nơi thuận lợi, từ các tổ chức kinh tế sơ khởi thì người Ấn Độ bắt đầu hình thành các quốc gia chính trị có tổ chức; và các quốc gia này được người phương Tây gọi là các quốc gia “Ấn Độ hóa” (Hindouisés – từ dùng của Coedes) và thời kỳ này người ta gọi là thời kỳ “Ấn Độ hóa”. Mặc dù cách dùng như vậy chưa đúng lắm vì nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á còn đang thời kỳ tiền văn minh, mông muội và những nước này vẫn còn giữ lại bản sắc văn hóa dân tộc riêng mình, khác Ấn. Chúng ta dùng thuật ngữ “Ấn Độ hóa” với 2 ý nghĩa: Một là, “Ấn Độ hóa” là chỉ các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ; Hai là, “Ấn Độ hóa” còn có ý nghĩa chỉ một quá trình dài ngày diễn ra trong nhiều thế kỷ, thâm chí cho đến nay ngoài hàm ý dẫn dắt, hướng dẫn người dân hướng theo tôn giáo mới (Ấn Độ giáo, Phật giáo), còn cố gắng sàng lọc những cái gì không phải của Ấn Độ và cố gắng cho trào lưu này (ý nói: trào lưu Ấn Độ hóa) được hiện thực hóa trong cuộc sống hàng ngày từ chính trị, kinh tế đến văn hóa – nghệ thuật[6]. Về thực chất, công cuộc “Ấn Độ hóa” của người Ấn Độ đến Đông Nam Á không phải là dùng vũ lực để đánh chiếm, mà là cuộc thâm nhập hòa bình không có kế hoạch nào cả. Các quốc gia này không lệ thuộc vào Ấn Độ mà nó chỉ quan hệ với người Ấn về kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, kết quả của sự thâm nhập đó là hết sức to lớn: thúc đẩy nhanh quá trình truyền bá văn minh Ấn Độ sang Đông Nam Á, góp phần đẩy mạnh quá trình tan rã của công xã thị tộc bộ lạc và sự hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước ở đây; đồng thời thì ảnh hưởng này cũng lan rộng trong chiều dài lịch sử các nước Đông Nam Á về sau này.
2. Những dấu ấn của văn hóa Ấn Độ qua từng phương diện trong giao thoa văn hóa với khu vực Đông Nam Á
Ở phần trên chúng ta đã đề cập thì, do tình hình Ấn Độ bị loạn lạc – chia cắt liên tục (lịch sử Ấn Độ là lịch sử của sự chia cắt - sự tồn tại lâu dài thiết chế công xã làm cản trở sự thống nhất của Ấn Độ[7]) nên người Ấn Độ có xu hướng muốn ra bên ngoài để sinh sống và làm ăn. Trong Phát hiện Ấn Độ, Nehru chỉ ra rằng những người Ấn Độ sau khi vượt qua hàng rào núi cao, biển rộng, không chỉ mang theo tư tưởng mà còn mang theo nghệ thuật, ngôn ngữ, văn học và thiết chế chính trị để rồi từ đó, họ đã cùng với dân bản địa xây dựng các quốc gia “Ấn Độ hóa”, và để lại những dấu ấn không thể phai nhạt trong quá trình giao thoa với văn hóa Đông Nam Á trên nhiều phương diện như: ngôn ngữ, tôn giáo, văn học, thiết chế nhà nước ở các quốc gia Đông Nam Á. Và một điều chắc chắn rằng, nền văn hóa Ấn Độ khi du nhập và giao thoa với văn hóa bản địa thì sẽ tạo nên nhiều sắc thái đa dạng song không làm mất đi bản sắc địa phương. Giáo sư Lương Ninh đã nhận xét rất xác đáng: “Hình như mỗi nước Đông Nam Á đã chọn trong cây cổ thụ xum xuê của Ấn Độ một vài cành lá thích hợp với mình”[8].
2.1. Thiết chế nhà nước
Dấu ấn đầu tiên của văn hóa Ấn Độ trong quá trình giao thoa với văn hóa Đông Nam Á được thể hiện ở phương diện thiết chế nhà nước. Thời kỳ đầu trước khi người Ấn Độ di cư vào Ấn Độ thì cư dân ở khu vực Đông Nam Á còn đang sống trong thời kỳ mông muội, thời kỳ nông nghiệp Đông Nam Á rất phát triển nên dẫn tới xu hướng tập quyền là phổ biến. Biết được điều này, cư dân Đông Nam Á đã hợp nhau hình thành những liên minh bộ lạc – tiền đề cơ bản cho sự thành lập của quốc gia thống nhất. Nhưng do trình độ nhận thức còn hạn chế nên họ chưa biết chon hình thức nào làm hình thức chính cho quốc gia mới sắp thành lập của mình; trong lúc họ đang bí về thiết chế nhà nước thì người Ấn Độ đã đến, mang theo một thiết chế nhà nước vốn còn rất xa lạ với người bản xứ - thiết chế Mandala. Mandala là thiết chế nhà nước đặc biệt trong lịch sử Đông Nam Á, là dấu ấn quan trọng nhất của người Ấn Độ trong quá trình giao thoa văn hóa với vùng Đông Nam Á lịch sử. Về khía cạnh tôn giáo, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nó có nguồn gốc từ thần thánh – hàm ý chỉ một thể chế chính trị, xã hội và tôn giáo phổ biến ở Đông Nam Á. Trong tiếng Sankrit, mandala có nghĩa là vòng luân xa thần thánh (sacred circle); dịch theo tiếng Hán nghĩa là một hình vẽ biểu thị vũ trụ. Đó là một biểu đồ bao gồm những hình vuông, vòng tròn đồng tâm, có các vị thần ngồi trên tòa sen theo một hệ thống rất có trật tự. Nhiều nghiên cứu chi tiết hơn thì cho rằng, mandala là một từ ghép gồm hai từ “manda” là “bản chất; “la” là “cái chứa đựng”, “người sở hữu” và “biển chỉ đường”[9]. Như vậy, mandala xét về thực chất thì nó là một thể tổng hợp của nhiều yếu tố khác biệt vào một sơ đồ chung duy nhất mà thông qua sự thiền định có thể nhận thức bản chất của sự tồn tại.
Về phương diện chính trị, mandala phát sinh từ một chữ Phạn dịch ra tiếng Tây Tạng là “Dkyilkhor”, nghĩa là “Trung tâm và ngoại vi”; tuy nhiên do ý nghĩa còn chung chung nên người ta chưa hiểu rõ tường tận: vậy thiết chế chính trị của Đông Nam Á là thiết chế gì ? Thiết chế đó được biểu hiện như thế nào trong tổ chức nhà nước Đông Nam Á ? Sau một thời gian dài suy nghĩ và tìm tòi, cuối cùng vào năm 1982 giáo sư O. W. Wolters đã tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi trên. Trong tác phẩm History, Culture and region in Southeast Asian Perspertives xuất bản năm 1982, ông định nghĩa Mandala là “một trạng thái chính trị và thường là không ổn định trong một khu vực địa lý được xác định mơ hồ vì không có những đường ranh giới cố định, tại đó những trung tâm nhỏ hơn có xu hướng vươn ra mọi phía”[10].
Chúng ta xem xét ở khu vực Đông Nam Á, nơi mà dấu ấn của Ấn Độ được thể hiện rõ nét nhất. Ở Đông Nam Á, mandala bao gồm một chính quyền trung ương và các chính quyền chư hầu (tributary rulers). Vua đứng đầu chính quyền trung ương, nắm vương quyền và thần quyền; vua phân phong đất đai cho các chư hầu và ràng buộc họ bằng quan hệ tôn chủ - bồi thần (giống với phong kiến châu Âu đầu thời kỳ Trung đại). Tuy nhiên do quyền lực địa phương còn lớn nên dẫn đến tình trạng quốc gia chư hầu đòi xóa bỏ phụ thuộc trung ương và tự độc lập và thậm chí, một số chư hầu có thể rời bỏ địa vị chư hầu của họ khi có cơ hội và nỗ lực xây dựng một mạng lưới chư hầu cho riêng họ. Mandala không có biên giới nhất định, biên giới chỉ thay đổi tùy theo quyền lực và sức mạnh, tầm ảnh hưởng của vương quyền thống trị. Các quốc gia có thể chế mandala thời kỳ đó là Champa, Phù Nam, Chân Lạp, Pagan, Sukhothay – Ayuthaya. Chúng ta cụ thể hơn một chút: ở Champa (và các quốc gia khác như Sukhothay – Ayutthaya; Pagan, Chân Lạp…), dấu ấn của Ấn Độ ở phương diện chính trị là Vua nắm vương quyền và thần quyền (ruộng đất, mở rộng lãnh thổ, khơi thông thủy lợi…). Sau Vua là một bộ máy quan lại bao gồm nhiều vị quan, làm nhiều việc khác nhau: Vua Chân Lạp tổ chức bộ máy nhà nước gồm Tể tướng và 4 Thượng thư; Vua Xiêm (Thái Lan) tổ chức bộ máy quan lại là Tể tướng, sau ông có 4 bộ (Kun) là Kunna (bộ điền địa), Kunvang (Bộ lễ); Kunklang (Bộ tài chính); Kunmuong (Bộ nội vụ); ở Lan Xang thì Vua tổ chức bộ máy nhà nước đứng đầu là Tể tướng, kế là Hội đồng Bô lão (Sen Muong) và bộ máy quan lại có 3 người gồm 2 vị quan tiền; 1 vị quan hậu. Vị quan tiền lo việc quân đội (thời chiến) và đối ngoại, nghi lễ (thời bình); còn vị quan hậu lo việc nội chính, tài chính….
Ngoài ra, dấu ấn Ấn Độ trong chính trị Đông Nam Á còn thể hiện trong vấn đề kế thừa dòng Cha – Mẹ. D. G. E. Hall trong sách Lịch sử Đông Nam Á, dẫn lời của một nhà nghiên cứu về Đông Nam Á là Sahai thì cho rằng, hệ thống kế vị (dòng nam – dòng nữ) là mối quan hệ giữa ảnh hưởng của con gái và con trai trưởng, và có nhiều ví dụ về ảnh hưởng của trưởng nam hơn trưởng nữ. Sahai nói thêm rằng các vị quan thượng thư có vai trò quyết định trong việc lựa chọn các ứng viên để cho các giáo sĩ đưa lên ngôi. Ngoài ra, dấu ấn của Ấn Độ trong chính trị Đông Nam Á thể hiện ở chỗ là tăng cường tính thần quyền của Vua: đồng nhất Vua – Thần. Nguồn gốc của tập tục Vua – Thần này có thể là sự kết hợp tập tục này với tập tục thờ cúng tổ tiên cổ xưa và gắn lên với truyền thuyết núi Meru của người Ấn Độ cổ xưa. Các vị vua khi lên ngôi sẽ được giáo sĩ Balamon chúc tụng niệm, đồng nhất Vua với Thần. Ở Myanmar, Vua được đồng nhất với Thagyamin (tức Indra). Ở Campuchia thì Vua đồng nhất với thần Shiva (sau thì đồng nhất với Vishnu, Lokesvara), coi vua là trung tâm của đất nước và các nơi xung phải thần phục, tôn sùng vua. Ở một số nước theo Phật giáo, vua thường tự xưng mình là Đức Phật phôi thai. Ở Campuchia theo Phật giáo Đại thừa, vua tự xưng là chakravartin, nghĩa là Đức Phật phôi thai. Ngay cả vua đầu tiên của triều Konbaung (1752 – 1885) của Myanmar lấy vương hiệu là “Alaungpya” (Đức Phật phôi thai). Các biểu trưng của vua đếu có chức năng thần thông, đặc biệt là hoàng bào và thanh kiếm thần, lọng trắng…, vua sau khi băng hà cũng được đặt thụy hiệu theo tên vương hiệu + tên vị thần. Các vị quan phò tá vua gọi là “cột trụ của vua” có quyền hành lớn.
Dấu ấn của Ấn Độ trong giao thoa với Đông Nam Á còn thể hiện nhiều trong lĩnh vực pháp luật. Theo PGS, TS Nguyễn Văn Kim, các quốc gia Đông Nam Á đã tiếp thu tinh thần và nguyên tắc biên soạn luật pháp của “Thiên Trúc”(Ấn Độ) vào việc biên soạn bộ luật cho quốc gia của mình[11]. Về nội dung, luật pháp thời kỳ này bảo vệ những lợi ích, đặc quyền của giai cấp thống trị hay các thế lực tôn giáo. Những điều khoản về việc bảo vệ tài sản, về quyền lực đối với nô lệ được đặc biệt coi trọng. Hiển nhiên, cũng giống như nhiều bộ luật nổi tiếng trên thế giới, những tầng lớp xã hội bên dưới, những “kẻ tiện dân”nếu vi phạm luật pháp thì đều bị trừng phạt vô cùng hà khắc. Nói cách khác, cũng như chính trị, quân sự… luật pháp luôn là công cụ của kẻ mạnh và bảo về lợi ích của những người quyền thế[12].
2.2. Tôn giáo
Đồng thời với để lại dấu ấn của mình trong thế chế chính trị, người Ấn Độ còn để lại dấu ấn của minh vào Đông Nam Á trên phương diện tôn giáo, cụ thể là Ấn Độ giáo và Phật giáo.
Về Ấn Độ giáo thì: ngay từ khi cư dân bắt đầu di cư sang Đông Nam Á thì các vị tu sĩ Balamon đã đi theo và khi đến nơi thì đã truyền bá tôn giáo này của mình cho người dân khu vực Đông Nam Á. Cư dân Đông Nam Á cũng như các thủ lĩnh thị tộc, bộ lạc đã nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng vào việc củng cố chính quyền; người dân cũng tiếp thu để giúp cho cuộc sống của họ được sung túc, vui vẻ hơn. Vào buổi đầu khi vào Đông Nam Á, các tu sĩ Balamon và các thủ lĩnh địa phương đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa tín ngưỡng, tổ chức nhà nước và xã hội ở Đông Nam Á; nhiều tu sĩ Balamon khi sang Đông Nam Á đã được vua chúa nơi đây trọng dụng và được cử vào nắm những chức vụ cao trong chính quyền. Để tỏ lòng biết ơn cho sự ưu đãi đó, nhiều tăng lữ Balamon ban phước lành cho các Vua bản địa trở thành dòng dõi của các triều đại Mặt Trăng, Mặt Trời bên Ấn Độ hoặc dòng dõi của những bậc thánh hiền có liên quan đến các thần. Các tu sĩ Balamon thực hiện các nghi thức Ấn Độ giáo để tôn phong các Vua bản địa, giúp vua cai trị tốt thông qua các điều phán bảo mà mình đưa ra và xây dựng triều đình theo kiểu của vương triều Ấn Độ. Ngoài ra, các tu sĩ Balamon còn dựng tượng các thần, nhưng đổi tên cho phù hợp; đồng thời đặt ra các lễ cúng thần, phong tục của người Ấn Độ áp dụng vào Đông Nam Á. Thần Trời nguyên thủy của bản địa được Ấn Độ giáo hóa thành Shiva, tôn giáo thịnh hành nhất thời đó chính là Shiva giáo.
Ngoài Ấn Độ giáo thì Phật giáo là tôn giáo thứ hai được người Ấn Độ du nhập vào Đông Nam Á, và nó có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng – tôn giáo của người dân nơi đây. Phật giáo là tôn giáo do tầng lớp vương công – đại diện là thái tử xứ Kapilavastu Siddharta Gautama (563 – 483 TCN) – thành lập với mục đích chống lại sự lũng đoạn, mâu thuẫn giữa nhân dân – tầng lớp Balamon vốn có từ lâu khi người Arya xâm nhập và thống trị người Dravida bản địa vào 1.500 – 1.000 TCN. Với tư tưởng của mình (tư tưởng về sự diệt khổ, sự chống lại những cái ác – cái bất công để xây dựng niềm tin cho con người), Phật giáo đã nhanh chóng lan tỏa và bắt rễ sâu trong lòng quần chúng nhân dân. Vào thời Ashoka (273 – 232 TCN), đế quốc Magadha ở Ấn Độ phát triển cực thịnh; ông đã thực hiện chính sách khoan dung tôn giáo, đề cao Phật giáo và tạo điều kiện thuận lợi để nó phát huy ảnh hưởng ra bên ngoài, nhất là vùng Đông Nam Á – khu vực láng giềng và gần gũi với Ấn Độ.
Thời kỳ đầu khi Phật giáo bắt đầu tạo chỗ đứng ở Ấn Độ (về sau bị tách thành phái Đại thừa – phái Tiểu thừa), tôn giáo này đã dần dần có ảnh hưởng ra bên ngoài mà địa điểm gần nhất với Ấn Độ là Sri Lanka. Thời Ashoka chính là thời kỳ mà Phật giáo phát triển nhất và truyền bá ra bên ngoài mạnh nhất và quy mô nhất. Theo sử cũ, Phật giáo đã lan truyền ra khắp nơi: Campuchia, Myanmar, Lào, Thái Lan, Việt Nam…, trong thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ VIII (tùy nơi), là những quốc gia tiêu biểu và có ảnh hưởng tương đối rõ của Phật giáo vào các nơi này, nhưng được lan truyền qua nhiều con đường khác nhau và mức độ lan truyền không giống nhau, nên sẽ dẫn tới việc Phật giáo có ảnh hưởng không đều giữa các quốc gia này. Và chúng tôi cũng không ngoa khi cho rằng, Phật giáo của Ấn Độ giao thoa rất tốt với văn hóa bản địa mà dấu tích còn để lại đó chính là tượng Phật (Myanmar, Phù Nam, Champa…), hình Phật (Thái Lan, Indonesia…), bánh xe luân hồi; bia ký (Champa). Trong suốt nhiều thế kỷ sau đó, với sự hỗ trợ nhiệt tình của triều đình cũng như các sư tăng, Phật giáo đã thâm nhập sâu và ngày càng có vai trò to lớn trong các lĩnh vực ở Đông Nam Á, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục. Ngôi chùa không chỉ là trung tâm văn hóa mà còn là hình tượng “chân, thiện, mỹ” đối với mọi người dân, trở thành nơi lưu giữ văn hóa, tri thức của dân chúng.
2.3. Chữ viết:
Hai ngôn ngữ cổ Ấn Độ là chữ Phạn (Sankrit) và chữ Pali góp phần quan trọng hình thành nên các ngôn ngữ ở Đông Nam Á. Từ rất sớm, người Chăm đã dùng chữ Phạn để ghi chép các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong cuộc sống của con người và tình hình quốc gia mà dấu tích còn để lại đó là các văn bia, bia ký. Bia Võ Cạnh với cách viết gần với kiểu viết của các bia ký Amaravati ở Nam Ấn Độ đã được các nhà nghiên cứu định niên đại ở thế kỉ III - IV là bằng chứng đầu tiên về sự du nhập của chữ Phạn vào Champa. Trên cơ sở chữ Phạn, người Chăm sáng tạo ra chữ viết cho riêng họ. Chữ viết Chăm cổ gồm có 31 phụ âm và 32 âm sắc; xuất hiện lần đấu tiên trong bia Đông Yên Châu (Quảng Nam). Đây là tâm bia cổ nhất ghi bằng chữ địa phương ở Đông Nam Á[13]. Các nguồn sử liệu Trung Quốc cũng chép rằng ngay từ trước thế kỷ VII, người Chăm dùng văn tự của mình để ghi chép kinh sách và trao đổi thư từ. Năm 605, Lưu Phương, viên tướng của nhà Tùy (Trung Quốc) sau khi bình định Giao Châu đã đem quân đánh Lâm Ấp, thu về 18 thần chủ bằng vàng và hơn 1.350 bộ kinh Phật và nhiều sách viết bằng chữ Chiêm bà[14]. Theo các nhà nghiên cứu, chữ Chăm cổ có đến 16 nguyên âm, 31 phụ âm và 32 âm sắc và chính tả[15]. Theo sự nghiên cứu của Antoine Cabaton (Pháp) thì trong suốt quá trình tồn tại của mình, người Chăm dùng số kiểu chữ Ấn Độ như akhar rik (chữ thánh), akhar tapuk ( chữ sách), akhar ator (chữ treo), và phổ biến hơn cả là chữ thảo (akhar thrah). Chữ thảo là loại chữ mà người Chăm hiện nay còn sử dụng. Loại chữ akhar thrah cũng có một số biến thể như: akhar yok (chữ thần bí), akhar atwơt (chữ viết tắt, chữ treo) và akhar galinưng (chữ viết tháu, chữ con nhện)[16]. Từ thế kỷ XI thì chữ Chăm phổ biến là nét cong, nhưng đến thế kỷ XIV – XV thì chữ Chăm có nét vuông và được dùng phổ biến trong các bia ký Chăm.
Chữ Khmer bắt nguồn từ miền Nam Ấn Độ và theo truyền thuyết thì xuất hiện vào khoảng thế kỷ II. Nhưng tấm bia đầu tiên của người Khmer bằng chữ Khmer cổ mà hiện nay ta biết được đó là bia Angkor Borey (tỉnh Takeo, Campuchia) có niên đại năm 611[17]. Bia này nói về việc dựng một ngôi đền trong đó có 22 nhạc công và vũ nữ, 58 nô lệ làm ruộng, 100 bò và 20 trâu. Thế kỷ VIII, loại chữ này được phát triển và hoàn thiện dần vào thế kỷ XV. Thời kỳ Angkor là thời kỳ chữ Khmer hoàn thiện nhất và các văn bản, bia ký của nó được ghi chép, trau chuốt rất tỉ mỉ. Chữ Khmer thời kỳ phong kiến Angkor có đặc điểm: coi trọng phụ âm là chính, nguyên âm là phụ nên các phụ âm được bao quanh bởi các nguyên âm; cách sắp xếp chữ cái thì giống Ấn Độ: phụ âm đứng trước nguyên âm, và nguyên âm được tính từ trong ra ngoài theo vị trí của cấu âm. Ngoài ra, người Khmer cũng rất thông minh khi đặt ra ký hiệu ghi phụ âm của người Ấn thành nguyên âm của người Khmer; họ dùng 2 ký hiệu: khosak để ghi phụ âm có “âm thanh to”, akhosak để ghi phụ âm có “âm thanh nhỏ”; đó chính là cách giải quyết chữ viết của người Khmer khi sử dụng ngôn ngữ Ấn Độ. Ở nước Myanmar thì trên cơ sở chữ Pali, người Miến Điện (tức người Môn) sáng tạo ra chữ viết Môn cổ mà dấu tích còn để lại là các văn bia viết bằng chữ Môn cổ xuất hiện ở thành phố Thaton (thế kỷ VI) ở lưu vực sông Menam. Thế kỷ XI, chữ Miến xuất hiện thay thế chữ Môn và phát triển mạnh ở Pagan, Srivijaya với hình thù của nó là chữ nét tròn. Về cơ bản, tiếng Miến là đơn âm tiết và dùng nhiều tiểu từ có tiếp thu từ Tây Tạng; từ đa âm tiết của tiếng Pali; có 4 thanh điệu[18]. Chữ Malay cổ xuất hiện sớm nhất vào năm 683 trên tấm bia Bangkar[19]. B. Prahike, một học giả Liên Xô nhận định: “có thể có chữ viết Melayu cổ có chứa tải những bản dịch bằng tiếng Sankrit, nhưng dấu tích đó đã bị mất đi như văn học sơ khai của Chăm và Khmer[20].
Theo nhiều tài liệu khảo cổ đã biết, chữ Thái cổ xuất hiện khoảng thế kỷ VII – VIII ở Bắc Đông Dương, Bắc Myanmar mà tổ tiên của nó chính là chữ Pegu cổ và chữ Shan cổ vốn có nguồn gốc ở Ấn Độ truyền sang từ lâu đời. Từ hai loại chữ đầu tiên này, cư dân Thái vốn sinh sống ở Bắc Đông Dương vào thế kỷ X – XI tiếp thu và cải biên thành chữ Thái Lan vào thế kỷ XIII. Bia đầu tiên khắc chữ Thái Lan cổ là bia Rama Kamheng có niên đại năm 1296. Bia này viết: “Trước đây chữ Thái này chưa có. Năm 1205 Shaka (1283), Phà Khun Rama Kamheng đã tìm kiếm và ao ước sử dụng chữ Thái. Cho nên đã có những dòng chữ này[21]. Như vậy có thể nhận định chữ Thái xuất hiện đầu tiên vào năm 1283, mãi đến 1296 mới được ứng dụng rộng rãi trong khắc bia, viết văn, làm thơ…
Trên nền tảng chữ Thái, chữ Lào có thể hình thành muộn hơn một chút, vào cuối thế kỷ XIV. Chữ Lào bắt nguồn từ chữ Khmer và sau này chịu ảnh hưởng của chữ Môn, đã hình thành chữ Thăm[22] dùng để viết kinh Phật. Một số triều đại cổ Lào đã sáng tạo ra kiểu chữ riêng, nhưng về cơ bản đã có những nét chung: được hình thành từ dạng chữ Khmer gấp khúc, nhiều cạnh với chữ Môn nét cong mềm mại. Nhưng mãi tới thế kỷ XVI thì mới có chữ Lào chính thức xuất hiện ở mặt bên của tấm bia khánh thành bệnh viện Say Phong. Điều này chứng tỏ chữ Lào đã được sử dụng song song với chữ Khmer. Lời huấn thị của Vua Lào Pha Ngừm năm 1353 hoàn toàn bằng tiếng Lào phổ thông có thể đã được viết bằng một thứ chữ Lào đã có từ thế kỷ XIV. Chữ Lào vừa gọn gàng lại có đường nét duyên dáng, khác với chữ Khmer và Thái Lan[23]. Còn các văn khắc bằng chữ Lào mà chúng ta biết hiện nay có niên đại tương đối muộn – đó là bia Vat That 1548, bia Donsai 1560 và Thạt Luông 1566.
2.3. Văn học
Các tác phẩm văn học Ấn Độ như Mahabharata và Ramayana khi truyền xuống Đông Nam Á đã nhanh chóng thâm nhập vào khu vực này, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử văn học thế giới.
Lĩnh vực văn học dân gian là lĩnh vực mà văn học Đông Nam Á nhắc tới nhiều nhất. Từ các tác phẩm như Mahabharata và Ramayana khi du nhập vào đời sống của cư dân Đông Nam Á, vốn rất hiền hòa và sống động thì nó được dân gian hóa, được tái sinh trong dân gian, chúng làm giàu thêm cho kho tàng văn học vùng này. Một số tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu: Punha – Nhunhơ của Lào, Prah Thong của Khmer, Đẻ đất đẻ nước của người Mường Việt Nam…. Từ nền tảng là các câu chuyện, bài văn mang tính truyền miệng trong các dân tộc Đông Nam Á, các triều đại bản địa Đông Nam Á bị “Ấn hóa” đã chủ trương du nhập mạnh và cải biên chữ viết Ấn Độ thành chữ viết của mình, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành văn học viết. Có nhiều loại hình văn học viết: bia ký, minh văn, sách… Ở Champa, người dân dùng chữ viết của mình viết trên bia ký; bia ký của Champa thời kỳ này phản ánh ý tưởng của vua quan muốn trình bày, ca tụng công đức và sự nghiệp của mình: các bia ký ở Mỹ Sơn nói về sự thành kính của vua với các thần như Mahesvara, Uma, Vishnu…; bia ký của Sambhuvarman, Vikrantavarman có nói về đạo Shiva và ảnh hưởng của nó ở Champa. Bia nhấn mạnh Shiva: đáng kính trọng hơn Brahma, Visnu, Indra, Surya, Asura, hơn những vị Bàlamôn và hơn những Rsi, các vua chúa; bia Mỹ Sơn D3 của vua Harivarman IV ca ngợi và so sánh vua với các vị thần Ấn Độ: Krisna, Kama, Indra, Brahama và Siva – gần hết các vị thần chính của Ấn Độ giáo (cả Siva và Visnu). Ở Phù Nam là minh văn và sách. Minh văn là thể loại đầu tiên của văn học Phù Nam, được Coedes tìm ra vào năm 1931. Các minh văn này phần lớn là trường ca, điển tích (kavya), dài khoảng 10 – 15 câu thơ với ngôn ngữ trau chuốt, tỉ mỉ đã đưa người đọc vào những câu chuyện vốn được phổ biến trong xã hội Phù Nam thời đó. Ngoài minh văn, người Phù Nam còn biết viết sách. “Họ (người Phù Nam – MQ chú) cũng có sách vở, có nhà lưu nhiều sách vở và tài liệu (…). Vua Phù Nam lại có khả năng viết sách của Thiên Trúc (Ấn Độ), sách có khoảng 3.000 lời nói về nguyên do kiếp trước của vua, cũng tương tự như kinh Phật[24]. Ở Campuchia, người dân dựa trên những sự kiện đời thường và truyền thuyết để sáng tạo ra các câu chuyện dân gian như: Thmeng Chay, Chàng Alêu thông minh, Neang Cantoc – Neang Song Acat ở Campuchia; các câu chuyện dân gian về con khỉ, con rùa, con gà mái đen của người Indonesia, và những tác phẩm trên đã khởi xướng cho thể loại folklore (truyền miệng) ở Indonesia thời cổ trung đại.
Cũng từ các tác phẩm như Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ, khi du nhập vào Đông Nam Á thì tạo ra những tác phẩm văn học viết dù có dấu ấn của Ấn Độ, nhưng vẫn mang tính dân tộc cao, nhưng đa dạng về thể loại. Tiêu biểu cho văn học Đông Nam Á là tác phẩm Riêmkê (thế kỷ IX – XIV) của Campuchia. Đây là tác phẩm mang nhiều dấu ấn thời đại và cũng là tác phẩm đầu tiên đặt ra vấn đề về thân phận người phụ nữ trong văn học Campuchia với hình tượng nhân vật Sedha tượng trưng cho người phụ nữ Campuchia chung thủy, hết lòng yêu thương chồng con, cùng chồng gánh vác những việc khó khăn, không bị tình yêu, của cải, sức mạnh, quyền lực cám dỗ. Tuy lấy đề tài từ sử thi Ramayana và Ramayana thì thần linh hóa các nhân vật nhưng Riêmkê lại khác, họ đã kéo các nhân vật có nguồn gốc thần linh lại gần cuộc sống bình thường của người dân Campuchia bằng cách đưa tính nhân bản vào các nhân vật này: ghen tuông, mù quáng, cố chấp…đưa ra một kết cục bi thảm. nó diễn tả hậu quả của những sai lầm của con người và có tác dụng răn đe những người xem, người đọc. Tác phẩm thứ hai cũng rất hấp dẫn người đọc là Ramakien (Thái Lan) được vua Taksin của triều Thonburi sáng tác (chuyển thể thành Iakhon – một dạng vũ kịch) vào cuối thế kỷ XVIII. Vua Rama I cho thu thập nhiều dị bản của Ramakien tập hợp thành tác phẩm thống nhất với 117 tập, cho vẽ tranh của tác phẩm này lên tường của chùa Phật ngọc. Mãi đến thời Rama III, ông cho viết lại tác phẩm này gồm 36 tập với nhiều tình tiết mới lạ, ngôn ngữ giàu chất thơ, đồng thời ông cho dàn dựng kịch Ramakien mới[25]. Thơ ca cũng rất phát triển, dồi dào âm điệu và cảm xúc trữ tình, phản ánh nội dung về tình hình xã hội, quốc gia, tình yêu gia đình và quê hương đất nước. Thể loại trường ca (Malaysia là truyện sử - na ná như trường ca) và sử thi cũng rất thịnh hành ở các quốc gia mang dấu ấn của Ấn Độ ở các nơi này: ở Champa là các trường ca Đăm Săn – Xinh Nhã; MalaysiaHikayat Seri Rama, Hikayat Pandawa[26]
2.4. Nghệ thuật kiến trúc
Cùng với văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng nhiều đến Đông Nam Á qua các lĩnh vực tôn giáo, âm nhạc, lễ hội… nhưng có lẽ nghệ thuật và kiến trúc là lĩnh vực ở Đông Nam Á chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ Ấn Độ; cụ thể nhất đó là qua kiến trúc Angkor Wat, Angkor Thom, Borobudur… Mặc dù chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, nhưng ta không thể nói rằng những công trình kiến trúc Đông Nam Á đều sao chép hoàn toàn của kiến trúc Ấn Độ, nhưng kiến trúc Ấn Độ đã được đồng hóa và biến thành tài sản riêng của Đông Nam Á. Nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng người Nga thế kỷ XIX – P.I.Busleev nói: “Tính dân tộc của mỗi dân tộc là một tương lai vĩ đại đã định sẵn cho họ rồi, thì bằng một sức mạnh đặc biệt, nó có thể đồng hóa tất cả những gì bên ngoài vào thành sở hữu của chính mình[27].
Một điểm mà chúng tôi cho là có dấu ấn của Ấn Độ trong nghệ thuật – kiến trúc Đông Nam Á, đó là kiến trúc của Ấn Độ khi du nhập vào Đông Nam Á thì được người dân nơi ấy tiếp thu, và họ không tiếp thu một cách thụ động, một chiều mà tiếp thu chủ động; chọn lọc những cái hay, cái tinh túy và cái đẹp nhất của nghệ thuật Ấn Độ đưa vào tác phẩm nghệ thuật của mình; đồng thời dùng nghệ thuật Ấn Độ kết hợp với nghệ thuật bản địa rồi sáng tạo, để hình thành nền nghệ thuật kiến trúc mang đậm dấu ấn của Ấn Độ, nhưng mang đậm tính dân tộc cao. Ngoài ra, một điểm đặc biệt đó là các trường phái nghệ thuật Ấn Độ như Gandara, Amaravati, Gupta… khi sang Đông Nam Á cũng lập lại các trường phái này, nhưng đổi tên gọi sao cho phù hợp điều kiện địa lý và lịch sử phát triển của quốc gia. Mỗi quốc gia thì hình thành sẽ kéo theo hình thành các trường phái nghệ thuật (có tài liệu ghi là phong cách nghệ thuật). Nhưng có lẽ do tính dân tộc, điều kiện địa lý và ý thức hệ cao nên mỗi quốc gia đều có trường phái nghệ thuật riêng. Các trường phái thường đặt theo tên của triều đại, tên địa điểm phát tích ra nền nghệ thuật đó; ví dụ: theo địa điểm phát tích thì có trường phái Mỹ Sơn, Hòa Lai, Đồng Dương ở vương quốc Champa cổ; phong cách Phù Nam (4 phong cách), Phnom Da ở quốc gia Phù Nam cổ; theo triều đại thì có phong cách Angkor của triều Angkor (Campuchia), phong cách Sukhothai – Ayutthaya của Thái Lan… Cách đặt tên cho phong cách nghệ thuật như vậy, vừa mang đậm dấu ấn của Ấn Độ và vừa mang tính bản địa cao; hay nói đúng hơn: sự kết hợp Ấn + bản địa đã tạo nên cho nghệ thuật Đông Nam Á một sức phát triển vượt bậc mà ít có nền nghệ thuật nào sánh kịp, làm cho nền nghệ thuật Đông Nam Á vốn đã phát triển đa dạng thì lại càng đa dạng và phong phú hơn nhiều.
Về nghệ thuật ở Đông Nam Á, chúng tôi thống nhất chia thành 2 mảng là kiến trúc và điêu khắc. Về kiến trúc thì ở Đông Nam Á có nhiều kiểu, loại kiến trúc nhưng tựu trung thì có các kiểu kiến trúc sau:
1. Kiến trúc đền – núi: Đây là kiểu kiến trúc rất đặc biệt ở Đông Nam Á, nó gồm một ngôi đền xây theo kiểu hình ngọn núi Meru, núi thiên ở Ấn Độ thời cổ trung đại. Các công trình kiến trúc xây theo kiểu này có: đền Angkor Wat, Angkor Thom ở Campuchia; đền Borobudur ở Indonesia, quần thể đền núi Lara Jonggran ở Indonesia… Đầu tiên là đền Angkor Wat. Angkor Wat là một đền – núi lớn, do vua Suryavarman II (1113 – 1150) xây dựng, là một trong những kỳ quan kiến trúc của Campuchia nói riêng và vùng châu Á nói chung. Từ “Angkor Wat” dịch là Kinh đô Chùa (Angkor: gốc từ tiếng Phạn negara nghĩa là kinh đô; Wat là đền thờ, chùa). Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km và diện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp có độ cao 65,5 m. Angkor Wat là địa điểm duy nhất có lối ra vào là hướng Tây, tức hướng Mặt Trời lặn. Khu đền tháp (khu trung tâm) có 4 tầng nền (tầng đầu là 3,5 m, tầng hai: 7 m; tầng ba: 13 m và tháp trung tâm: 42 m[28]), cao lên cao thì càng thu nhỏ như mô hình núi vũ trụ Meru thu nhỏ của người Ấn Độ. Quanh khu trung tâm có các hồi lang kín bằng đá và ở các hồi lang này đều có các tháp ở góc và các cổng phòng ở giữa bốn mặt; đồng thời ở các hồi lang này thì người ta đếm được 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can… Bên dưới các tòa tháp lớn là các đường hành lang dài hun hút, mát lạng với các phù điêu sống động, nhưng không làm mất vẻ linh thiên của nó. Lúc đầu nó thờ Vishnu, sau thì thờ Phật. Sau khi Angkor bị Xiêm đánh bại phải lui về Phnom Pênh (1434), Angkor Wat bị lãng quên và cuối cùng, nó đã sống lại sau phát hiện của Henri Mouhot (Pháp) vào năm 1860.
Kiến trúc thứ hai mà ta có thể kể đến là Angkor Thom. Angkor Thom là một đền núi lớn, được Jayavarman VII (1181 – 1218) xây dựng để làm kinh đô quốc gia, đồng thời khẳng định Phật giáo là quốc giáo của đế quốc Angkor. Nằm cách Angkor Wat 2 km về phía Bắc, Angkor Thom là tổng thể kiến trúc đô thành và tôn giáo rộng lớn: Angkor Thom xây trên bình đồ hình vuông với diện tích 16 km2, cạnh đáy dài hơn 3 km, tường thành cao 6 m và hào nước rộng 200 m bao quanh và có 4 đường trục vuông mở ra 4 phía. Trong Angkor Thom có nhiều đền đài như: đền Bayon, đền Baphuon, Sân Voi, Sân Vua Cùi, đền Phimeanakas, đền Khleang, Preah Palilay…, trong đó nổi bật nhất là đền Bayon. Đây là đền tháp 3 tầng, có 4 tháp mặt người quay ra 4 hướng. Tháp chính Bayon cao 23 m với 52 tháp phụ hình mặt người cười tạo thành khối tháp – nhìn giống như ngọn núi Meru hùng vĩ của Ấn Độ cổ. Trên một cây cầu lớn dẫn vào đền, người ta chạm khắc được các dãy gồm 54 tượng thể hiện thần – quỷ ôm rắn Naga khuấy biển sữa để lấy thuốc trường sinh. Kiến trúc đền – núi thứ ba có thể kể tới nữa là đền – núi Borobudur ở Indonesia. Đền Borobudur được xây vào khoảng năm 800 dưới thời vua Warak của vương triều Núi Sailendra (800 – 819). Tên Borobudur bắt nguồn từ chữ Vihara Buddha Ur (tiếng Phạn) nghĩa là “nơi thờ Phật trên núi”. Borobudur cao 42 m (có tài liệu ghi là 31,5 m) bao gồm 12 tầng (vuông – tròn xen kẽ nhau), và chân nền vuông rộng 123 m (có tài liệu ghi là 110 m); đây là công trình kiến trúc, điêu khắc tuyệt mỹ mang ảnh hưởng sâu sắc của vùng Đông Nam Á hải đảo. Cả ngôi đền xây trên lưng đồi vào cách chân đồi 15,5 m; toàn bộ tháp là 300.000 viên đá lớn và không có nội thất bên trong. Có 5 hồi lang vuông kế tiếp nhau theo chiều cao của tầng dưới và 3 hồi lang tròn đồng tâm ở phía trên (co 72 tháp nhỏ bao quanh tháp lớn), thể hiện quan điểm trời tròn đất vuông của người phương Đông cổ. Toàn bộ tháp được trang trí bằng 1506 phù điêu, 1212 hình điêu khắc mang tính trang trí và 504 tượng Phật (trong có 72 tượng Phật ở 3 hồi lang tròn trên cùng). Nếu nhìn dưới góc độ Phật giáo thì khu đền này là một vũ trụ thu nhỏ. Các bậc thềm từ tầng một đến tầng chín đều được phủ kín bởi những phù điêu kể về chuyện Phật như Phật truyện, Nguồn gốc loài người, Tranh 53 điều… nói về cuộc đời Đức Phật, bồ tát và các anh hùng giác ngộ Phật pháp… Ba tầng trên cùng bằng phẳng, có trổ ra 72 tháp chuông bên trong chứa 72 tượng Phật ngồi. Đó thực sự là tác phẩm điêu khắc Phật giáo – một kho tàng nghệ thuật điêu khắc bậc nhất thế giới, được gọi là sử thi trên đá.
Tháp cũng là kiểu đền – núi như các đền – núi khác ở Campuchia, Indonesia. Trong thời kỳ phát triển của vương quốc Champa thì có khoảng 70 tháp (tập trung nhiều nhất ở thánh địa Mỹ Sơn), nhưng cho đến năm 1994 thì Ngô Văn Doanh thống kê được chỉ còn 19 khu tháp, 40 kiến trúc nhỏ[29] mà thôi. Về hình dáng, các tháp Chăm có cấu trúc như kiểu đền – núi của người Ấn Độ gọi là Shikara (shikara là đỉnh núi nhọn), trên các tầng tháp có các tháp nhỏ ở các góc. Tuy hình núi non có gốc là Ấn nhưng với người Chăm, nó là hình tượng của núi cao trùng điệp và sinh thực khí nam; mái của tháp cong hình thuyền – đặc trưng của kiến trúc nhà ở ở Đông Nam Á (Phù Nam, Đông Sơn). Người Chăm tiếp thu và hòa quyện, đồng thời sáng tạo ra những công trình mặt dù mang dấu ấn Ấn Độ nhưng tính bản địa hóa ngày càng ăn sâu bền chặt và người Chăm gọi là kalan (lăng mộ). Các kalan có chức năng là thờ Vua, thờ Thần, thánh đường thờ các vị thần bảo trợ cho nhà vua[30]. Trong các đền tháp Chăm, vị thần thờ là Shiva và linh vật để thờ là linga – giống như thờ sinh thực khí nam và Shiva + linga xem như là một. Linga có nhiều loại: linga một thành phần, linga hai thành phần, linga ba thành phần, linga hình mặt người… Các tháp Chăm tiêu biểu: Tháp Poklong Giarai, tháp Po Rome, tháp Mẫm, tháp Bánh Ít, tháp Ba Tháp… Trong xây dựng các tháp Chăm, tháp Khmer thì nguyên vật liệu và cách xây dựng có phần khác nhau, nhưng nó đều giống một điểm là các công trình này đều xây bằng gạch nung đỏ và không vữa, các viên gạch đặt rất khít nhau đến nỗi một lưỡi dao mới lách qua nổi mà thôi. Ta có thể thấy điều này ở Angkor Wat, Angkor Thom. Đền tháp Champa xây cũng bằng gạch (không vữa), nhưng hiện nay giới khoa học cho rằng có vữa để xây và vữa chủ yếu là dầu rái. Thế nhưng hiện nay, người ta vẫn chưa giải mã được kỹ thuật xây tháp của người Khmer, người Chăm (cũng trong thời ký đó thì người Maya, Inca ở châu Mỹ cũng xây dựng theo kiểu này, tuy nhiên việc xây dựng như thế nào vẫn còn là câu hỏi cần được các nhà khoa học đầu ngành giải đáp tường tận).
Một điểm rất đặc biệt của tháp Chăm là có tháp Vàng – tháp Bạc, điều xưa nay chưa từng thấy trong kiến trúc Đông Nam Á. Ở Champa có tháp Bánh Ít là tháp Bạc, tháp Dương Long là tháp Vàng. Hiện chưa rõ vì sao người ta đặt tên như vậy, theo chúng tôi suy đoán thì có lẽ Vàng, Bạc ở đây dùng để chỉ vật liệu xây tháp, đồng thời hiểu khác hơn nữa là Vàng là chốn giàu sang của Vua chúa, Bạc thể hiện cuộc sống người dân. Do văn hóa Đông Nam Á coi trọng nông nghiệp nên khoảng cách giàu – nghèo không rõ rệt, các vua có chính sách thân dân nên tạo được sự tín nhiệm của dân với vua, đồng thời dân cũng giúp vua hình thành lực lượng mạnh để vua tiến hành xâm lược bên ngoài. Chùa cũng thế, cũng Chùa Vàng – Chùa Bạc và xuất hiện ở Campuchia, Thái Lan, Myanmar và có lúc lan sang Nhật Bản (thời Mạc Phủ Muromachi, các shogun cho xây dựng Chùa Vàng – Chùa Bạc).
2. Kiến trúc chùa: chùa là kiểu kiến trúc đặc biệt, là đặc trưng của Phật giáo ở khu vực Đông Nam Á; khi nói tới Phật giáo Đông Nam Á thường là người ta nghĩ tới chùa. Chùa chính là nơi thờ Phật, các vị bồ tát, các vị Phật trong kinh kệ Phật và ngay cả các vị Phật trong dân gian. Ở Ấn Độ, vào thời cực thịnh của Ashoka thì nhà vua cho xây rất nhiều chùa, tạo điều kiện cho đạo Phật ăn sâu vào lòng nhân dân Ấn và đồng thời tạo điều kiện cho Phật giáo truyền bá ra ngoài, trong đó có Đông Nam Á. Ở Đông Nam Á, chùa được xây rất nhiều và có nhiều tên gọi khác nhau: Thạt, Vắt (Lào), Cetiya (Myanmar), Wat (Thái Lan). Ở Lào hiện có một số ngôi Vắt sau: Vắt Hỏ Xiệng, Vắt In Peng, Vắt Long Khun, Vắt Pạ Khe… . Thạt là ngôi chùa ở Lào, chức năng của nó là nơi chứa hài cốt của cao tăng Phật; các Thạt là: Xỉkhốt Tạboong, Pu Xí, Xỉ Khôttabong…và nhất là Thạt Luông – kiến trúc kinh điển của Phật giáo ở Lào; ở Thái Lan là các Bọt, Vihara. Vihara là tu viện Phật giáo ở Thái Lan, Champa, có 3 kiểu là tu viện trong rừng, tu viện xa xôi – hiu quạnh; Bọt là chùa ở Thái Lan, dùng để thờ Phật. Mỗi bọt thường có tường cao, mái rất dốc và trên mái thường chạm khắc hình quái vật makara, rồng, chim… bằng gỗ; xung quanh bọt là các miếu (sema) nhỏ làm tôn thêm vẻ linh thiên cho bọt. Và đôi khi, các bọt cũng được gọi là chùa cho hợp với khẩu ngữ địa phương; ví dụ: chùa Bovornivet (thế kỷ XIX), chùa Aranik, chùa Ana Bavannarama…. . Ở Myanmar, một quốc gia nổi tiếng là nhiều chùa Phật (4000 chùa) cũng có những chùa nổi tiếng như: chùa Chantauji, Lokananda, Bupaya (thế kỷ VIII – IX), Chapata…. Có những ngôi chùa rất lớn như chùa Ananda, chùa Shweidagon. Chùa Shweidagon (còn gọi là Chùa Vàng) là ngôi chùa lớn và tiêu biểu nhất của Myanmar; được xây năm 1372 và được trùng tu nhiều lần (có cất giữ 8 sợi tóc Phật). Chùa hình tháp nhọn, cao 120 m với cạnh đáy vuông dài 400 m, đặt trên nền bệ 8 cạnh. Đỉnh chóp là quả cầu vàng được khảm bởi 54.448 viên kim cương to nhỏ khác nhau. Toàn bộ thân tháp được phủ bởi 9.300 lá vàng, bên trọng treo 1.065 chuông vàng và 421 chuông bạc; trong chùa có chuông đồng lớn cao 4 m.
Điêu khắc cũng rất phát triển ở Đông Nam Á cổ trung đại; các tác phẩm điêu khắc lúc này thường là các tượng Phật, tượng các vị thần trong Phật - Ấn giáo và hình khắc trên tường các đền, chùa và hầu hết đều chịu ảnh hưởng của các trường phái Ấn Độ: Gandara, Amaravati, Gupta…. Ở Champa chịu ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo, các tượng xuất hiện rất nhiều. Người Chăm đã chạm khắc rất nhiều tượng thần, ví dụ tượng Yasha có tư thế ngồi theo phong cách Amaravati, Uma giết quỷ đầu trâu, chim thần Garuda, thần voi Ganesha theo phong cách của Ấn giáo. Về Phật giáo có các tượng Phật ở Đồng Dương (hai tay đưa ra trước, áo cà sa có gờ và hở vai phải), tượng Bồ tát Avalokitesvara 8 tay, Phật đứng ở Đăng Bình… nhưng nhiều nhất là tượng Phật đứng (Buddhapad). Tượng Phật đứng (Buddhapad) xuất hiện đầu tiên ở Óc Eo (kinh đô của Phù Nam thời cổ trung đại, người ta thống kê có 50 tượng như thế ở vùng Óc Eo (An Giang) và Campuchia. Ở Indonesia cũng có tượng Phật đứng trên đảo Celebre (cà sa để hở vai phải), tượng Bồ Tát ở Pura Subak Kedaagan (Bali). Thái Lan là tượng Phật đa dạng với 4 tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi với nhiều đường nét đa dạng, phong phú. Ví dụ tượng Phật đi ở Pedi Wat Bencham Mapopit ở Bangkok (Thái Lan). Điêu khắc trên tường (phù điêu) của các công trình có ở khắp nơi. Trên các bức tường, lan can của Angkor Wat, Angkor Thom và Borobudur đều có các phù điêu kể về cuộc đời đức Phật (Borobudur), phù điêu có nhiều tiên nữ (apsara), các thần thánh trong Ấn Độ giáo thấy trong Angkor Wat , Angkor Thom; phù điêu Vua múa Shiva trên tháp Chăm…
2.5. Lễ hội, ẩm thực
Dưới ảnh hưởng của Ấn Độ, lễ hội Đông Nam Á vốn đã hình thành từ thời cổ xưa thì đến thời gian này vẫn phát triển và ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Do ảnh hưởng từ Phật giáo của Ấn Độ nên người dân Đông Nam Á tổ chức nhiều lễ hội đa dạng, phong phú; nhất là lễ Tết. Tết của Lào cũng chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, nhưng đặc biệt nhất là ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ do Phật giáo đang là quốc đạo của Lào và Tết Lào gọi là Bunpimay, diễn ra vào giữa tháng 4 theo Phật lịch Lào. Tết của người Thái là Songkhran và rơi vào giữa tháng 4 âm lịch theo lịch Thái; ở Tết này, người ta tổ chức hội Té nước; ở Campuchia là Tết Chol Chnam Thmay, cũng vào tháng 4 hoặc tháng 5 dương lịch, thời gian chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa và cũng nhằm mục đích cầu mưa qua những tục té nước tắm tượng Phật... Tết của Myanmar là mang tên vị thần (nát) tối cao Thagyarmin. Nguồn gốc của cái tên được truyền thuyết của người Miến truyền tụng trong những câu chuyện huyền thoại đại để với nội dung như sau: "Xưa kia, cả mặt đất không hề có sự sống và đắm chìm trong bóng tối. Thấy tình cảnh như vậy Chúa tể của các thần là Thagyarmin bèn ra lệnh cho mặt trăng và mặt trời chiếu sáng mặt đất. Rồi thần tạo ra mọi vật. Khi mặt đất đã có cuộc sống yên ổn rồi, thần về trời. Lúc chia tay, vị thần tối cao hứa là hàng năm sẽ trở lại mặt đất với con người vào dịp năm mới. Bởi vậy, người dân lấy tên thần gọi ngày tết của mình". Mặc dầu cái tên có vẻ không gắn gì lắm với tính chất của lễ hội, nhưng Thagyarmin của người Miến bao giờ cũng là lễ tết của té nước cầu mưa và bao giờ cũng rơi vào những ngày cuối của mùa khô (vào một ngày nào đó trong tháng 4 dương lịch). Lễ hội ở Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của Ấn Độ nhiều nhất là lễ hội Deepvali, Diwali có nghĩa là lễ hội ánh sáng, tượng trưng cho nền văn hóa lâu đời của Ấn Độ. Ý nghĩa của hai lễ hội này là dạy cho con người biết vượt qua sự ngu dốt và tìm đến ánh sáng của tri thức. Vào dịp này, mọi gia đình dù giàu hay nghèo, đều thắp những ngọn đèn nhỏ nhấp nháy ánh sáng vàng cam rực rỡ để chào đón Lakshmi, vị thần của sự giàu có và thịnh vượng. Đặc biệt, lễ Diwali được người Ấn xem là quan trọng, được tổ chức vào đêm 13 kỳ trăng khuyết (tức đêm 28) của tháng Ashwin cho tới ngày thứ 2 của tháng Kartika trong lịch Ấn Độ. Đây còn được gọi là Lễ hội ánh sáng vì mọi người có phong tục thắp đèn dầu bấc vải (gọi là dipa) để ăn mừng chiến thắng của thần Krishna trước Narakasura, biểu tượng cho chiến thắng của các thiện trước cái ác. Lễ hội Deepvali được tổ chức nhiều nơi, nhất là Singapore – nơi quan trọng nhất và tổ chức lễ hội tương đối rình rang nhất. Ngoài ra, người dân Đông Nam Á còn tổ chức lễ hội Thaipuam, vốn xuất hiện từ người Ấn di cư vào Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX. Lễ hội này nhằm biểu dương sức mạnh con người, thể hiện lòng mộ đạo của con người với các thần linh bằng cách dùng vật thể nhọn xuyên qua cơ thể họ, cho tới cách làm trần tục khác là dùng hoa và sữa tưới lên thân thể mình … để tỏ lòng tôn kính thần Chúa tể Murugan (Subramanian). Người Chăm còn tiếp thu lễ hội của người Ấn, thể hiện rõ trong các lễ hội đền tháp của người Chăm ở Trung Bộ.
Ngoài lễ hội, ẩm thực của Ấn Độ cũng được lan truyền và để lại dấu ấn cho người dân Đông Nam Á từ lâu đời. Món cà ri (kari: tiếng Ấn nghĩa là nước sốt) vốn nổi tiếng ở Ấn Độ từ lâu mà khi sang Đông Nam Á thì được phổ biến rộng rãi. Nếu người Việt dùng cơm làm món ăn hàng ngày thì người Ấn cũng dùng cà ri làm món ăn hàng ngày. Cà ri kiểu Ấn du nhập vào Việt Nam được người dân ta cải biên phù hợp khẩu vụ từng vùng miền: người Nam thì nấu cà ri với nước cốt dừa, còn người Bắc thì lại thích nấu với sữa bò tươi. Các loại nguyên liệu chính trong món cà ri của người Việt thường là thịt gà, dê, bò kèm thêm cà rốt, khoai tây, khoai môn... và một số gia vị. Món cà ri Ấn du nhập vào người Chăm cũng được họ cải biên lại với khẩu vị khác lạ. Chẳng hạn trong bữa cơm bình dân của người Chăm thường thấy có món pài ga ghênh, bao gồm gạo rang xay nhuyễn thành thính rồi nấu chung với cà ri, cà pháo, đu đủ sống, củ cải, cà rốt... Ngoài những gia vị thông thường còn có thêm trái bứa chua và cả mắm bò hóc của người Khmer cho thêm phần đậm đà. Cũng về món cà ri, người Việt nấu khá nhiều nước, không dùng nhiều gia vị nên cà ri người Việt bớt mùi nồng (người Ấn cho ít nước, nhiều gia vị nên rất nồng). Đặc biệt, người Ấn thường chỉ ăn cà ri với cơm và bánh mì, trong khi người Việt Nam còn chan cà ri cả lên bún (ăn kèm giống như một loại nước lèo) và dùng đũa lua. Món cà ri Ấn Độ khi du nhập vào Việt Nam đã trở nên rất phổ biến. Nó không chỉ được biết đến ở các nhà hàng, quán ăn mà đã đi vào đời sống của mỗi gia đình bên mâm cơm hàng ngày và trở thành một món ăn quen thuộc đối với mỗi người Việt Nam
Kết luận: Tóm lại, trong suốt 15 thế kỷ sau Công nguyên, Đông Nam Á đã trở thành và đã là một khu vực văn hóa, chính trị - xã hội thống nhất với nét đặc trưng lớn nhất là chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ. Chính những ảnh hưởng của Ấn Độ đã là một sợi dây vô hình, nhưng đầy sức mạnh, liên kết các nhà nước, các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á vào một quỹ đạo văn hóa chung, hay một thế giới văn hóa đồng nhất với một tôn giáo chung, một chữ viết chung, một hệ tư tưởng chính trị chung, một nền văn học và nghệ thuật chung, một hệ thống luật pháp và lịch pháp chung và khá nhiều phong tục và lễ hội chung. Có lẽ hiếm thấy trong lịch sử nhân loại một khu vực địa lý phức tạp và đa dân tộc lại thống nhất mạnh mẽ và sâu sắc về văn hóa trong suốt một thời gian dài cả hơn chục thế kỷ như khu vực Đông Nam Á thời kỳ một thiên niên kỷ rưỡi sau công nguyên. Tuy cùng chịu ảnh hưởng chung của Ấn Độ, nhưng mỗi quốc gia cổ đại Đông Nam Á lại tạo ra cho mình một nền văn hóa, một mẫu hình tổ chức chính trị - xã hội riêng rất đặc trưng của mình.

Tài liệu tham khảo:
1.      Nguyễn Huy Cận (1997), Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
2.      Coedes, G. (2008), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nguyễn Thừa Hỷ dịch, NXB Thế giới, Hà Nội.
3.      Ngô Văn Doanh (1999), Từ điển văn hóa Đông Nam Á phổ thông, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
4.      Phạm Đức Dương (2013), Lịch sử văn hóa Đông Nam Á, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
5.      Nguyễn Tấn Đắc (2000), Văn hóa Đông Nam Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
6.      Grey, Maggie (2001) “Encountering the Mandala: The Mental and Political Architectures of Dependency”, in trong: The Culture Mandala (The centre for East-west Cultural and Economic Studies, Bond University, Gold Coast, Australia), Vol.4, No.2, November, p..2
7.      Hall, D. G. E (1997), Lịch sử Đông Nam Á (nhiều người dịch), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8.      Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
9.      Nguyễn Đức Hòa (2013), Lịch sử thế giới (bản đánh máy, lưu hành nội bộ), Đại học Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh.
10. Nguyễn Quốc Lộc (1995), Đông Nam Á ngày nay, số 3, NXB Đại học Mở - bán công Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh
11. Khoa Đông Phương học (2012), Văn hóa – xã hội các nước Ả rập: truyền thống và hiện tại (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Trường ĐH KHXH – NV Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
12. Hồ Xuân Mai (2013), Ngôn ngữ sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long (kỷ yếu Hội thảo khoa học), Đại học An Giang, An Giang.
13. Nehru, Jawaharlal (1990), Phát hiện Ấn Độ, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội.
14. Vũ Dương Ninh (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
15. Vũ Dương Ninh (2001), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, tập 1, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
16. Thái Nguyễn Đức Minh Quân (2012), Sự du nhập và ảnh hưởng của Hồi giáo đến Malaysia (thế kỷ XV_2000), Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sài Gòn
17. Trương Hữu Quýnh, Đào Tố Uyên (1998), Các nền văn minh trên đất nước Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
18. Reid, Anthony (1988), Southeast Asia in the Age of Commerce 1450-1680, Vol. 1: The Land below the Winds, Yale University Press.
19. Trần Ngọc Thêm (1998), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
20. Wolters, O. W. (1999), History, Culture and region in Southeast Asian Perspertives xuất bản năm 1982, Asian Studies, Revised Edition.


Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

KỶ NIỆM 68 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (19/8/1945 – 19/8/2013) VÀ QUỐC KHÁNH (02/9/1945 – 02/9/2013)

KỶ NIỆM 68 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (19/8/1945 – 19/8/2013) VÀ QUỐC KHÁNH (02/9/1945 – 02/9/2013)

Nhà văn Đỗ Chu  - Báo An ninh – Thủ đô
Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt trọng đại trong tiến trình lịch sử nước nhà. Một chân trời mới mở ra với nền Cộng hòa non trẻ. Đứng đầu Nhà  nước này là một vị Chủ tịch giàu cốt cách gánh vác, dường như ở đây đã có sự chuẩn bị mang ý nghĩa cơ trời vận đất.
Đây là những ngày tháng đẹp nhất trong những ngày tháng đẹp, để hôm nay ngoảnh lại mỗi người trong chúng ta còn chưa hết rưng rưng. Hãy hình dung, từ vũng bùn nô lệ một đám đông khổng lồ bật dậy với hai bàn tay trắng và quả tim nóng, gọi nhau đứng quanh Người, gọi nhau làm một cuộc lên đường rất dài và rất nhiều chông gai, dám sống và dám chết cho nền tự do độc lập dân tộc, trong đó có chính mình. Từ buổi đầu Bác đã trang trọng nói trước toàn thể đồng bào: “Tự do cho một dân tộc mà không có tự do cho mỗi người thì cái tự do ấy liệu để làm gì!”.

Thân phận mỗi người dân nước Việt đã được Người nhìn nhận bằng một tầm nhìn mang khát vọng nhân quyền ở một xã hội có đẳng cấp. Người trở về Tổ quốc như một huyền thoại, như một giấc mơ mà lại cũng hết sức gần gũi. Người ra đồng cùng bà con tát nước chống hạn, cùng các cụ già trồng cây, bón cơm mớm cháo cho trẻ thơ và làm thơ gửi cả nước mỗi bận xuân về.

Đầu tháng chín năm ấy Người đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình. Bản Tuyên ngôn tự tay Người thảo bằng nội lực giống nòi, bằng hồn thiêng núi sông, bằng khí phách toàn dân tộc.

Vài hôm sau Người cho gọi mấy đồng chí phụ trách Nha Công an Bắc Việt lên làm việc, lúc chia tay người dặn dò, sinh ra các chú là phải có bắt bớ, vậy Bác tặng các chú mấy câu để mang theo trên đường công tác lâu dài: “Hay bắt không bằng bắt hay, bắt hay không bằng không hay bắt”.

Phương Tây có câu người mạnh là người biết nói đùa. Lại có câu mọi việc nghiêm chỉnh đều giấu dưới nụ cười. Càng đau càng phải biết cười, cho nên Bác mới hay cười. Thiết nghĩ sau nụ cười hôm ấy của Bác còn có mênh mông một tình yêu thương con người. Nhà văn Xô Viết Mendenxtam từng nói: “Tôi nhìn thấy nụ cười Nguyễn Ái Quốc có mang ánh sáng của một nền văn hóa tương lai”.

Khoan hòa mà lẫm liệt, Người đã thực hiện một cuộc lên đường đầy tinh thần minh triết giữa một nhân loại đang vỡ ra biết bao biến cố khôn lường. Đó là một chuyến đi dài ba chục năm, mỗi chặng đường một cái tên. Những cái tên khiến đồng chí đồng bào ngóng đợi mà kẻ thù thì ngần ngại. Con người nhân ái là thế lại có thể cũng là một nỗi ám ảnh khiếp hãi đối với các thế lực thực dân cũ và mới.

Là Tổ quốc? Vâng, quả có thế. Là kẻ bị  săn đuổi ruồng bỏ? Vâng, quả có thế... Nhưng thưa, không hẳn chỉ có thế. Đây còn là Người một mai sẽ nhảy xuống sông mở đập, áo vải phong phanh mà trí lực nuốt ngưu, là người lĩnh xướng, người chỉ huy, nhà kiến tạo, nhà tổ chức xuất sắc của một nhân dân xuất sắc.

Người ấy đã từng khóc thầm trong đêm vắng Paris ngồi đọc Luận cương Lênin bàn về phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đã từng kể trong những năm tháng bôn ba, chỉ thấy có dạo ở Mỹ nghe chừng dễ chịu hơn cả, bước ra đường người ta còn muốn chuyện trò với mình. Đã từng ghi vào tâm khảm câu nói hay của thổ dân da đỏ “Một người vì mọi người, mọi người vì một người” và đọc Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776, say mê luôn Thomas Jefferson, một chính khách lỗi lạc, cha đẻ của bản tuyên ngôn đó, khen ông này có nhân cách liêm chính, tầm mắt rộng, yêu con người.

Suốt bốn mươi năm hoạt động Thomas Jefferson đã từng ở  các cương vị Chủ tịch Đảng Dân chủ, Thống đốc bang, Ngoại trưởng rồi Tổng thống. Ông từng để lại những câu nói nổi tiếng, minh triết cần phải lớn lên cùng quyền lực của chúng ta. Minh triết dạy chúng ta càng ít sử dụng quyền lực thì quyền lực càng lớn!


Hồ Chí Minh ra đời sau Thomas Jefferson gần hai thế kỷ, ở hai miền xa lạ vậy mà cả hai đã cùng yêu, và đều là hiện thân của minh triết. Họ đã gặp nhau trong cách tiếp cận xem xét sự vật, lắng nghe được cả những tiếng gọi xa vời của thực tiễn, và cả hai đều nhún vai trước tất cả những gì gọi là giáo điều thô bạo, với đủ mọi biểu hiện thê thảm của nó và tất nhiên, sẵn sàng dẫm lên nó mà đi tới.

Còn có một điểm chung giữa họ nghĩ thật rất lạ lùng, cả hai người ấy sinh khác ngày nhưng lại đều biết chọn ngày quốc khánh nước mình để qua đời.

Thomas Jefferson mất ngày 4-7-1815, còn Hồ Chí Minh mất ngày 2-9-1969, một sự trùng hợp ngẫu nhiên không giải thích, chỉ có một điều không hề ngẫu nhiên đấy là Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trích dẫn những lời hào sảng mang tinh thần nhân quyền cao mà Thomas  Jefferson  đã đưa vào Tuyên ngôn Độc lập Mỹ như một thông điệp gửi đến nhân loại tương lai.

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Hoạt động kỷ niệm Quốc khánh 2/9 ở nước ngoài

Hoạt động kỷ niệm Quốc khánh 2/9 ở nước ngoài


Vừa qua, tại thủ đô New Dehli, Đại sứ quán nước ta đã phối hợp với Hội Hữu nghị Ấn - Việt và Tổ chức Hoà bình và Đoàn kết toàn Ấn tổ chức mít tinh kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Theo thông tin trên trang web của Bộ Ngoại giao, phát biểu tại lễ kỷ niệm, Đại sứ Trần Trọng Khánh nêu bật ý nghĩa to lớn của Cách mạng tháng Tám, sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và điểm lại quá trình đấu tranh của nhân dân ta trong 60 năm qua để bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước và tiến hành sự nghiệp đổi mới. Đại sứ chân thành cảm ơn bạn bè Ấn Độ đã dành cho nhân dân ta tình đoàn kết, sự ủng hộ quý báu trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm trước đây và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Tại Ấn Độ, tối 30/8 tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), Hội Hữu nghị Trung Quốc với nước ngoài, Hội Hữu nghị Trung Quốc-ASEAN và Hội Hữu nghị Trung-Việt đã tổ chức chiêu đãi mừng 60 năm Quốc khánh Việt Nam.
Phát biểu tại buổi chiêu đãi, đồng chí Trần Hạo Tô, Hội trưởng Hội Hữu nghị Trung Quốc với nước ngoài, nhấn mạnh Việt Nam là nước láng giềng thân thiết của Trung Quốc, hai nước Trung-Việt núi sông liền một dải, quan hệ qua lại hữu nghị giữa nhân dân hai nước có từ lâu đời. Hơn nửa thế kỷ qua, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước không ngừng phát triển. Bước sang thế kỷ mới, quan hệ hai nước đã đi vào chiều sâu và phát triển toàn diện theo phương châm 16 chữ "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", thể hiện xu thế phát triển tốt đẹp. Trung Quốc nguyện cùng với Việt Nam nỗ lực cống hiến xứng đáng cho sự ổn định lâu dài và không ngừng phát triển của mối quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện, để hai nước mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt của nhau.
Trong lời đáp, đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Trần Văn Luật nêu rõ nhìn lại chặng vẻ vang 60 năm qua, nhân dân Việt Nam không thể nào quên sự giúp đỡ và chi viện to lớn, nhiều mặt và quý báu mà Đảng, chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em đã dành cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Đại sứ khẳng định tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước nhất định sẽ được tăng cường hơn nữa, sự hợp tác giữa hai Đảng và hai nước nhất định sẽ không ngừng mở rộng và phát triển sâu sắc thêm, mang lại hạnh phúc cho nhân dân hai nước và các thế hệ con cháu mai sau.
Tại Sydney, Australia, ngày 29/8, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Sydney đã tổ chức tiếp khách nhân kỷ niệm Quốc khánh 2/9 với sự tham dự của Chủ tịch Thượng viện bang New South Wale Meredeth Burgamn, Chủ tịch Hạ viện John Akilina cùng nhiều thành viên Quốc hội bang, đại diện các tổ chức và cộng đồng kinh doanh Australia.
Phát biểu tại buổi tiếp, Tổng lãnh sự Việt Nam tại Sydney Nguyễn Thế Phiệt khẳng định tầm quan trọng của sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), những thành quả to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong 60 năm xây dựng và phát triển đất nước và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tổng lãnh sự Nguyễn Thế Phiệt cám ơn sự giúp đỡ hiệu quả của nhân dân và Chính phủ Australia đối với công cuộc xây dựng đất nước của Việt Nam và hy vọng quan hệ hữu nghị giữa nhân dân và chính phủ hai nước ngày càng gắn bó và phát triển.
Tại Thái Lan: Tối 29-8, tại thủ đô Bangkok, Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Thái Lan tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 60 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9.
Đến dự có Chủ tịch Quốc hội Thái Lan Bhokin Bhalakula, các Phó thủ tướng Vissanu Krea-ngam và Chitchai Wannasathit, đại diện Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Thái Lan cùng đông đảo nhân sĩ, trí thức, đại diện đại sứ quán các nước, các tổ chức quốc tế, Hội hữu nghị Thái-Việt và cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập và công tác tại Thái Lan.
Phát biểu ý kiến tại buổi lễ, Đại sứ Nguyễn Quốc Khánh nêu bật ý nghĩa quan trọng của cuộc Cách mạng Tháng Tám cách đây đúng 60 năm do Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam lãnh đạo, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Năm 2006, Việt Nam và Thái Lan sẽ kỷ niệm 30 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hai bên cũng thỏa thuận tổ chức họp liên chính phủ vào đầu năm tới, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác.
Tại Campuchia ngày 28/8, Hội người Việt Nam tại Phnom Penh đã tổ chức kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khách 2/9.
Ông Châu Văn Chi, Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Phnom Penh , khẳng định Việt kiều ở Campuchia cũng như cộng đồng Việt kiều ở các quốc gia khác trên thế giới luôn hướng về Tổ quốc với tình cảm sâu sắc và cam kết sẽ nỗ lực, đóng góp hơn nữa vào công cuộc xây dựng đất nước.

Nhân dịp này, Hội Việt kiều tại Phnom Penh đã tổng kết và trao phần thưởng cho 94 tập thể và cá nhân đã có thành tích trong phong trào thi đua "Sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại", được phát động để kỷ niện 60 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Tại Lào: Ngày 29/8, trên trang quốc tế của các báo Lào đều đưa tin phản ảnh các hoạt động và không khí sôi nổi chào mừng Quốc khánh 2/9 tại Việt Nam như giới thiệu công tác chuẩn bị cho lễ diễu binh, diễu hành quần chúng tại Quảng trường Ba Đình; đưa tin về kết quả cuộc thi tìm hiểu "60 năm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" và triển lãm "60 năm thành tựu kinh tế-xã hội của Việt Nam".
Tại Iran: Ngày 29/8/2005, Đại sứ quán Việt Nam tại nước Cộng hoà Hồi giáo Iran đã tổ chức họp báo nhân dịp kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2/9. Đông đảo phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí Iran đã đến dự.
Tại cuộc họp báo, Đại sứ Nguyễn Văn Hy đã trả lời nhiều câu hỏi của phóng viên về khả năng mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, văn hoá, du lịch giữa Việt Nam và Iran, đồng thời bày tỏ hy vọng hai nước sẽ tiếp tục phát huy tiềm năng và thế mạnh của mình, thúc đẩy hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước và hoà bình, ổn định chung trên thế giới.
Các phóng viên bày tỏ vui mừng được nghe giới thiệu truyền thống vẻ vang và những thành tựu to lớn mà nhân dân Việt Nam đạt được trong 60 năm qua, bày tỏ sẵn sàng góp phần vào việc tuyên truyền cho nhân dân Iran hiểu biết thêm về đất nước và con người Việt Nam, đồng thời tin tưởng quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Iran sẽ tiếp tục phát triển tốt đẹp trên mọi lĩnh vực.
Tại Ấn Độ, tối 30/8, Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ đã tổ chức kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2/9 với sự tham dự của Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Natwar Singh, các vị Đại sứ, tuỳ viên quân sự các nước tại Ấn Độ và đại diện các đảng chính trị của Ấn Độ.
Tại buổi chiêu đãi, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Trần Trọng Khánh bày tỏ mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực và tin tưởng rằng mối quan hệ này sẽ được nâng lên một tầm cao mới sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Abdul Kalam dự kiến diễn ra vào đầu năm 2006.
Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Natwar Singh bày tỏ vui mừng trước sự phát triển của mối quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa Ấn Độ và Việt Nam.
Tại Pháp: Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2/9, Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã phối hợp với Ban quản lý Công viên vui chơi giải trí công nghệ cao Futuroscope thuộc vùng Poatu Sarăngtơ tổ chức triển lãm ảnh về đất nước và con người Việt Nam.
Mở cửa từ đầu tháng 8 và kéo dài đến giữa tháng 9, triển lãm đã giới thiệu gần 30 bức ảnh cỡ lớn về các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và con người Việt Nam như vịnh Hạ Long, hồ Hoàn Kiếm, cầu Tràng Tiền, phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, chợ nổi Phụng Hiệp, và một số làng nghề truyền thống.
Triển lãm góp phần làm cho nhân dân Pháp và khách du lịch nước ngoài hiểu rõ hơn lịch sử dựng nước và giữ nước, truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cùng những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới.
Tại Bungari, ngày 30/8, Đại sứ quán nước ta tại Bungariphối hợp với Hội Hữu nghị Bungari - Việt Nam tổ chức mít tinh trongj thể kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 tại Cung Văn hoá Sofia. Tham dự mít tinh có gần 300 người, trong đó có Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh, đại diện một số cơ quan trung ương, một số nhà văn, nhà thơ danh tiếng ở Sofia, các giáo sư, tiến sỹ một số trường đại học cùng đông đảo bạn bè và đại diện các cơ quan thông tấn báo chí Bungari; cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam đang làm ăn, sinh sống tại Bungari.
Những người dự mít tinh đã được xem chương trình ca nhạc, ba lê, ảo thuật do các nghệ sỹ của hai nước biểu diễn. Các ca sỹ Bungariđã hát những làn điệu dân ca Việt Nam rộn ràng cùng với những điệu múa đậm đà tình hữu nghị hai nước. 
T.G. tổng hợp
Việt Báo (Theo_VnExpress.net)

Cách mạng tháng 8 - Bước ngoặt trong lịch sử dân tộc

Cách mạng tháng 8 - Bước ngoặt trong lịch sử dân tộc


Cục diện lúc bấy giờ

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phe Phát Xít gồm Đức, Ý, Nhật đánh lại phe Đồng Minh gồm Anh, Pháp, Liên Xô. Sau có Mỹ và nhiều nước nữa tham chiến.

Vào tháng 9 năm 1940, ngay giữa Thế chiến thứ hai, Chính phủ Vichy của Pháp, vì đã đầu hàng Đức Quốc Xã nên đồng ý cho quân đội Nhật Bản đổ bộ vào Bắc Kỳ.

Ngay lập tức quân đội Nhật dùng đó làm bàn đạp ảnh hưởng đến các chiến trường Trung Quốc và Đông Nam Á. Trên thực tế, miền Bắc Việt Nam là một điểm quan trọng trong chiến lược quân sự của Nhật nhằm thống trị toàn bộ vùng Đông Nam Á. Trong khi chờ đợi cuộc đại thắng của Đức tại Châu Âu, Nhật tạm thời duy trì hệ thống bảo hộ của Pháp tại Đông Dương. (Trong những trận đánh lớn hồi đó có thể kể đến việc Hải Quân và Không Quân Nhật xuất phát từ Cam Ranh và Sài Gòn tiêu diệt Hạm đội Viễn Đông của Anh).


Thời gian này, Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, như Khởi nghĩa Nam Kỳ, Khởi nghĩa Bắc Sơn nhưng đều thất bại. Những binh lính tham gia chiến tranh Thái Lan thực hiện cuộc Binh biến Đô Lương cũng thất bại.

Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh, tập hợp tại một địa điểm gần biên giới Việt-Trung, tham gia một tổ chức đứng về phía Đồng Minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội. Tổ chức này thường được gọi vắn tắt là Việt Minh.

Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu. Trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, chiến khu đã bao gồm nhiều tỉnh vùng Đông Bắc Bắc Bộ, gọi là chiến khu Việt Bắc.

Trong khi đó, phản ứng trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền).

Tại châu Âu, Đức thất trận và đầu hàng ngày 7 tháng 5 năm 1945. Ngày 6 tháng 8, Hoa Kỳ ném hai trái bom nguyên tử trên đảo Hiroshima và Nagasaki. Ngày 14 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Do đó quân Nhật tại Việt Nam dao động và tan rã. Theo tối hậu thư Postdam của phe đồng minh gửi Nhật ngày 26 tháng 7, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh từ Nam vĩ tuyến 16.

Dưới sự cai trị của Nhật, từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945, nạn đói khủng khiếp diễn ra làm 2 triệu người chết. Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật. Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời. Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám. Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày.



Diễn biến tại miền Bắc
Khi nhậm chức, bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó và cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai. Tin đồn dân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ở Thái Bình vào ngày 11 tháng 8. Từ ngày 12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái... và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.

 
Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào ngày 13 tháng 8 năm 1945 đã nhận định rằng những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín mùi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa.

Ngày 14-8 một số cán bộ Đảng Cộng sản và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra nhiều xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng như Thanh Hóa, Thái Bình...

 
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào (Tuyên Quang) kéo về bao vây, tấn công quân Nhật ở thị xã Thái Nguyên.



Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội
 
Sáng ngày 18 tháng 8, Uỷ ban khởi nghĩa Hà Nội chuyển trụ sở làm việc về số nhà 101 Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo). Các uỷ viên tích cực chuẩn bị cho công việc sáng hôm sau.




Tinh mơ sáng ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra. Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa! Sau đó một cánh tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ, và nhanh chóng làm chủ toàn bộ khu vực này. Lính bảo vệ Phủ đã hạ vũ khí mà không có bất kỳ hành động kháng cự nào trước sức mạnh của nhân dân Hà thành. Khâm sai Bắc kỳ Nguyễn Xuân Chữ (người mới đứng ra thay thế ông Phan Kế Toại) bị bắt giữ và đưa về An toàn khu tại Hà Đông.

 
Cùng thời gian đó, ông Nguyễn Quyết đã chỉ huy nhân dân chiếm Trại Bảo an binh. Nhưng quân đội Nhật đã can thiệp, đưa xe tăng cùng binh lính bao vây quanh trại, đòi tước vũ khí của lực lượng cách mạng. Ông Nguyễn Khang và ông Trần Tử Bình đã quyết định tiến hành đàm phán với quân đội Nhật vì theo phân tích thì quân Nhật đã rất rệu rã, không còn tinh thần chiến đấu cao và muốn bảo toàn lực lượng khi rút về nước. Hơn nữa nếu quân đội Nhật cố ngăn cản thì cũng không được lợi ích gì vì bản thân chính quyền do họ dựng lên quá yếu ớt, không thể đối trọng với sức mạnh của Việt Minh. Đúng như dự đoán, sau khi tiếp nhận đề nghị của Ủy ban Khởi nghĩa, Nhật đã đồng ý rút quân nhưng yêu cầu phải có một cuộc đàm phán chính thức với cấp chỉ huy tối cao của họ.

Chiều tối 19 tháng 8, phái đoàn đàm phán của Việt Minh do ông Lê Trọng Nghĩa và cố vấn Trần Đình Long dẫn đầu đã trực tiếp gặp gỡ và đàm phán với tướng Tsuchihashi - Tổng tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật - ngay tại Tổng hành dinh quân đội Nhật (nay là 33 Phạm Ngũ Lão). Cuộc đàm phán diễn ra khá gay go nhưng cuối cùng phía Nhật, đúng như đã được dự đoán, đã chấp nhận án binh bất động, không can thiệp vào công việc của Việt Minh; đổi lại binh lính của họ sẽ được bảo đảm an toàn, không bị Việt Minh tấn công. Họ đã chấp nhận chính quyền cách mạng. Kết quả đàm phán với Nhật mang ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Hà Nội bởi phe Việt Minh đã không chỉ tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với lực lượng vũ trang của Nhật mà còn loại trừ mọi hy vọng của các lực lượng chính trị khác vào khả năng đảo ngược tình thế tại thủ đô vào thời điểm đó.


Diễn biến tại Huế
Ngày 17/8/1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh ra mắt quốc dân nhưng cuộc mít tinh đã trở thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh. Ngày 23/8 khởi nghĩa giành thắng lợi. Cuộc khởi nghĩa có sự đóng góp của lực lượng Thanh niên tiền tuyến (Thanh niên Phan Anh).

Diễn biến tại miền Nam
Tại Sài Gòn, Huỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt Quốc dân đảng... thành Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp.



Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) là người sáng lập đạo Hòa Hảo.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh mà Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn (nơi chịu sự cai trị trực tiếp của Nhật).

 
Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc. Hai tỉnh cướp được chính quyền cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng.



Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị
 
Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã giành được chính quyền. Bảo Đại tuyên bố chấp nhận thoái vị, từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy. Ngày 30 tháng 8, hàng mấy vạn người tụ tập trước Ngọ Môn Lâu xem nhà vua thoái vị, ông tuyên bố
"Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".


Vua Bảo Đại (Đứng giữa).

Sau đó công dân Vĩnh Thụy trao ấn, kiếm cho đại diện Việt Minh Trần Huy Liệu và được gắn huy chương. Khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị, Hồ Chí Minh ở Tân Trào mới về Hà Nội, dân chúng vẫn chưa biết Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc.


Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945
 
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội). Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập và tuyên bố sự khai sinh của một nước Việt Nam mới: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn, dựa theo bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, bắt đầu bằng câu:
"Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".


Hình ảnh Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Tiếp theo đó, đất nước non trẻ tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng nhà nước dân chủ độc lập đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh được 98% ủng hộ.



Tại Sài Gòn
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, hàng ngàn người dân từ nhiều tỉnh và tại Sài Gòn kéo về quảng trường Norodom (gần nhà thờ Đức Bà) chờ được nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập từ quảng trường Ba Đình (Hà Nội). Nhưng do thời tiết xấu và trình độ kỹ thuật lúc đó, những lời tuyên bố của Hồ Chí Minh trước quốc dân không đến được với những người dự mít tinh.

Ông Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm ủy hành chính Nam Bộ bước lên khán đài kêu gọi nhân dân đoàn kết chung quanh chính phủ Hồ Chí Minh, nâng cao cảnh giác, "sẵn sàng đập tan mưu đồ của thực dân, đế quốc trở lại xâm lược nước ta lần nữa". Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người được cử chức Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ lâm thời thay mặt chính phủ tuyên thệ trước quốc dân "Cương quyết lãnh đạo đồng bào giữ gìn đất nước, vượt qua khó khăn nguy hiểm xây đắp nền độc lập hoàn toàn cho Việt Nam".

Khi cuộc mít tinh chuyển sang biểu tình tuần hành, từ trên những tầng lầu cao xung quanh, quân Pháp đã nổ súng bắn vào đoàn biểu tình tuần hành làm 47 người chết và bị thương. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, ông Trần Văn Giàu viết lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến:
"Hãy nắm chặt vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước. Cuộc kháng chiến bắt đầu..."
Với sự thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của Pháp trong gần một thế kỷ tại Việt Nam, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế gần một nghìn năm, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai.


http://diendanbaclieu.net

Tinh thần ngày Quốc khánh 2/9 đời đời bất diệt!

Tinh thần ngày Quốc khánh 2/9 đời đời bất diệt!

Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cuối tháng 1- 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo Cách mạng trong giai đoạn chuẩn bị tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám do Hồ Chí Minh chủ trì, đã khẳng định rằng cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, theo tinh thần dân chủ mới; và chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới sẽ  là của chung của toàn thể dân tộc.
 
Hình 1: Chiến thắng của Cách mạng tháng 8/1945

Năm 1945, tình hình trong nước biến chuyển rất mau lẹ. Tháng 8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Quân Đồng minh chuẩn bị kéo vào nước ta để giải giáp vũ khí của Nhật. Thực dân Pháp cũng đang ráo riết chuẩn bị quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Tình thế lúc này là vô cùng khẩn cấp, nhưng cũng là thời cơ ngàn năm có một, nếu để trôi qua thì sẽ không bao giờ trở lại. Cần phải chớp thời cơ, dũng cảm và kiên quyết, kịp thời tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chiếm thế thượng phong trước các thế lực đang nhăm nhe thôn tính Việt Nam, xác lập địa vị  làm chủ đất nước của chính quyền nhân dân trước khi Đồng minh kéo vào nước ta và thực dân Pháp quay trở lại. Với nhãn quan cách mạng vô cùng sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lúc này dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải giành cho bằng được nền độc lập cho Tổ quốc.

Trong hai ngày 16 và 17-8-1945, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Tổng bộ Việt Minh tổ chức khai mạc Quốc dân Đại hội Tân Trào. Đại hội đã thông qua chủ trương phát động tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Đại hội cũng thông qua nhiều chính sách lớn về đối nội, đối ngoại; thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, bao gồm 15 thành viên, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch.

Với sự lãnh đạo tài tình của Hồ Chí Minh, Tổng khởi nghĩa Mùa thu tháng Tám 1945 đã giành thắng lợi vang dội, xoá bỏ ách thống trị của phong kiến, thực dân; quyền làm chủ đất nước lần đầu tiên được trao về tay nhân dân lao động.

Sau khởi nghĩa, Uỷ ban dân tộc giải phóng đã đã bổ sung thêm nhiều nhân sỹ, trí thức có tâm huyết và tinh thần yêu nước, thành lập Chính phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 2-9-1945, trên lễ đài lớn tại quảng trường Ba Đình lịch sử, trước cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân, bao gồm hàng trăm ngàn đồng bào Hà Nội và cả nước đổ về tụ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời, đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời. Tuyên ngôn nhấn mạnh: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phía Đồng Minh chống phát xit mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập!

 
Hình 2: Bản tuyên ngôn độc lập của Bác

....Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.”


Tuyên ngôn Độc lập bất hủ 2-9-1945 đã mở ra một kỷ nguyên mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình đã trở thành công dân của một nước tự do và độc lập. Cũng với Tuyên ngôn 2-9, nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đã nhìn thấy con đường mà mình dân tộc mình có thể lựa chọn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

 
Hình 3: Bác đọc bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9

Và cũng bắt đầu từ Tuyên ngôn 2-9, người dân Việt Nam bắt đầu một cuộc sống mới. Phấn khởi và tự hào, tất cả mọi công dân Việt Nam bắt tay vào sự nghiệp đấu tranh đầy gian khổ hy sinh, không tiếc của cải và cả xương máu của mình, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. 66 năm qua là cả một quá trình phấn đấu hy sinh không gì so sánh nổi của cả dân tộc để bảo vệ và xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam hôm nay.
 
Hình 4: Bác sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam

Ngày nay đất nước ta đã lớn mạnh hơn gấp nhiều lần; Việt Nam đã trở thành một quốc  gia có uy tín trên trường quốc tế. Kỷ niệm 66 năm ngày Quốc khánh 2-9, mỗi người Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, ngay trong lòng đất mẹ hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng nói ấm áp của Người, đọc Tuyên ngôn 2-9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Và trong tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, tinh thần của ngày Quốc khánh 2-9 sẽ đời đời bất diệt.
Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Hai lời “tiên tri” thần kỳ về Cách mạng Tháng Tám

Hai lời “tiên tri” thần kỳ về Cách mạng Tháng Tám

Tiên tri là khả năng chỉ có ở các bậc vĩ nhân, và cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 đã được tiên tri bởi hai vĩ nhân của lịch sử dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh: “45 – sự nghiệp hoàn thành”
Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa luôn gắn liền với những dự đoán thần kỳ và nỗ lực biến dự đoán đó thành hiện thực của lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh.
Cuối năm 1940, trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, nước Pháp bị quân Đức xâm chiếm, từ Trung Quốc nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra nhận định: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chầy sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập.”
Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.
Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.
Do diễn biến nhanh chóng của tình hình, ngày 8/2/1941, Nguyễn Ái Quốc đã về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau gần 30 năm bôn ba hải ngoại.
Đến mùa xuân năm 1942, diễn ca “Lịch sử nước ta” gồm 236 câu lục bát từ thời các vua Hùng dựng nước đến năm 1942 của Nguyễn Ái Quốc đã được xuất bản tại căn cứ địa Việt Bắc. Cuối tập diễn ca có mấy câu kết:
“…Nay ta đã có Việt minh
Đủ tài lãnh đạo dân mình đấu tranh
45 – sự nghiệp hoàn thành”
Trong phụ mục “Những năm tháng quan trọng” của tác phẩm này, Người cũng đưa ra tiên đoán: Năm 1945, Việt Nam độc lập.
Về lời tiên tri này, trong cuốn “Những năm tháng không thể nào quên”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết:
“Giữa lúc đó trong đêm đông lạnh, tránh bọn lính dõng đi lùng càn tại vùng Pác Bó, Bác Hồ đã tiên đoán ngày Cách mạng Việt Nam thành công: “45 – sự nghiệp hoàn thành”. Đó là câu kết thúc tập “Việt Nam lịch sử diễn ca” Bác đã làm, và được đưa in đá từ hồi đó.
Bác không bao giờ nhắc lại câu thơ này. Từ đó đến nay, bị lôi cuốn vì công việc, anh em chúng tôi cũng không ai có dịp hỏi lại Bác, vì sao Bác lại có một sự tiên đoán như vậy. Điều đó đã trở thành một trong những điều ta chưa hiểu hết được về con người và cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại gần 60 năm của Bác”.
Tháng 10/1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi đồng bào toàn quốc phân tích tình hình thế giới có nhiều thuận lợi, Người nhắc lại lần nữa lời tiên tri của mình: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”.
Và những lời tiên đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cuộc cách mạng làm đổi thay vận mệnh đất nước đã thành sự thật.
Trạng Trình biết Cách Mạng tháng Tám sẽ diễn ra trước 500 năm
Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585), người mà dân gian quen là Trạng Trình là một nhà văn hóa lỗi lạc của Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được người đời biết đến với tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam-Bắc triều cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam.
Tương truyền, khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh. Từ đó ông rất tinh thông về lý học, tướng số… Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được các biến cố xảy ra đến 500 năm sau, nên được dân gian truyền tụng và suy tôn là “nhà tiên tri” số một của Việt Nam.
Những lời sấm truyền của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được tập hợp trong Sấm Trạng Trình. Tác phẩm này đưa ra những lời tiên tri trong chiều dài nhiều thế kỷ, đến nay vẫn còn được tìm hiểu và luận giải.
Tượng đài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Tượng đài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Theo các nhà nghiên cứu, trong các sự kiện lớn của lịch sử Việt Nam thế kỷ 20, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã được Trạng Trình dự báo qua câu:
“Đầu Thu gà gáy xôn xao
Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long”
Theo luận giải, ở câu 1, “đầu Thu” là tháng 7 Âm lịch, “gà” nghĩa là năm Ất Dậu, thời điểm sự kiện lịch sử này diễn ra, “gáy xôn xao” nghĩa là có tiếng vang lớn, thức tỉnh muôn người.
Ở câu 2, “Trăng xưa” nghĩa là “cổ nguyệt” theo Hán tự, ghép lại thành từ “hồ”, là họ của Hồ Chủ tịch. “Sáng tỏ soi vào Thăng Long” là sự kiện Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập trước hàng vạn đồng bào ở quảng trường Ba Đình của thủ đô Thăng Long – Hà Nội.
Cũng liên quan đến sự kiện Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam độc lập còn có câu:
“Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An”
Lời sấm này có nghĩa là đất nước ta phải qua 81 năm (cửu cửu) mới thoát khỏi ách nô lệ (nhờ cuộc Cách mạng Tháng Tám), sau đó phải qua 9 năm nữa mới được yên, thể hiện bằng câu “Thanh minh thời tiết hoa tàn”. Đó chính là trận Điện Biên Phủ lẫy lừng ngày 13/2/1954 đúng vào tiết thanh minh. “Thời tiết hoa tàn” tức là ở thời điểm thanh minh đó có một sự tàn lụi, thì chính là sự tàn lụi của ách cai trị của thực dân Pháp.
“Trực đáo dương đầu mã vĩ” tức là cuối năm Ngọ, đầu năm Mùi thì mới có sự thành công. Đó chính là sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 3/1954, đến 10/10/1954 mới giải phóng Thủ đô và ngày 1/1/1955 Chính phủ mới về tiếp quản Thủ đô. Lời sấm “Hồ binh bát vạn nhập Tràng An” nghĩa là có lính tám Sư đoàn bộ đội Cụ Hồ tiến vào Tràng An – tên gọi cũ của Thủ đô Hà Nội.
(HTCS)