Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Cách mạng Tháng Mười Nga với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


Ngày 7-11-1917, cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tháng Mười Nga thắng lợi, mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Cho đến nay, mặc dù còn có những đánh giá khác nhau, song một thực tế không thể chối cãi là, kể từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, lịch sử nhân loại đã bước sang một trang mới với những biến đổi vô cùng sâu sắc.
Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu và phu nhân trong buổi lễ nhận danh hiệu viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga
Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu “một sự nghiệp mới mẻ”, “sự nghiệp sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xây dựng nên một thời kỳ dài trong lịch sử là chỗ dựa cho hàng trăm dân tộc bị áp bức, đứng lên chống ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, bảo vệ hòa bình thế giới. Có thể nói, nếu không có Cách mạng Tháng Mười, nhân loại không thể sống trong kỷ nguyên độc lập, tự do. Ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại, những quyền dân sinh, dân chủ, quyền con người... mà nhân dân lao động có được là nhờ ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, làm thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đánh thắng các đế quốc sừng sỏ trong thế kỷ XX, nêu gương sáng cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn vận dụng đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, những bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mới đặt ra hiện nay là đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo cơ sở để thực hiện mục tiêu Chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị-xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” . Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, có năng lực, nhất là “Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân” . Đây là vấn đề rất mới, rất cấp bách cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có phẩm chất và năng lực, đảm bảo đến năm 2020 đội ngũ cán bộ có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ có phẩm chất tốt và đủ năng lực thực thi nhiệm vụ, tận tuỵ phục vụ sự nghiệp BVTQ, phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, người coi đây là công việc gốc của Đảng. Bản lĩnh người cán bộ cách mạng là sự kết tinh những phẩm chất nhân cách ở họ, tạo nên năng lực “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thể hiện tập trung ở tính kiên định, sáng tạo, quyết làm và biết làm. Theo Bác, phải có một đội ngũ cán bộ như thế cách mạng mới thắng lợi. Người khẳng định: “Phải đào tạo một đội ngũ cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Có thế Đảng mới thành công”. Người cán bộ có bản lĩnh là người rất trung thành, kiên định với sự nghiệp cách mạng, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi. Đó cũng là người biết tuỳ cơ ứng biến, hết sức sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không có sáng kiến, không phải là người lãnh đạo” .
Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ cách mạng phải là người trung thành và hăng hái trong mọi công việc. Đó là những người gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hiểu biết nhân dân, luôn luôn chú ý đến lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Trong bất cứ thời kỳ nào của cách mạng, cán bộ và công tác cán bộ cũng là vấn đề trọng yếu. Công tác cán bộ chẳng những có ý nghĩa to lớn đối với công tác xây dựng Đảng, mà còn góp phần quyết định đến việc thành bại trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng của Đảng. Bác chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” . Cán bộ phải là người có năng lực tương xứng với nhiệm vụ được giao, phải có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó. Người cán bộ còn phải có phong cách lãnh đạo và công tác khoa học. Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, hiện nay “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt để chống phá Đảng ta và chế độ ta.
Với phương châm đúng đắn, cầu thị “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã chỉ rõ những khuyết điểm trong tư duy; giáo điều, rập khuôn, máy móc trong nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thượng tướng, TS Nguyễn Huy Hiệu, Nguyên ủy viên BCHTƯ Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòn
g

Ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

Ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
Ngược dòng lịch sử trở về với thời điểm cách nay gần một thế kỷ - năm 1917, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thắng lợi đã đạt tới đỉnh cao bằng việc giành chính quyền về tay nhân dân. Đây là một sự kiện lịch sử vĩ đại của loài người và nó mang ý nghĩa lịch sử và thời đại to lớn.

Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã đập tan ách thống trị của giai cấp phong kiến và tư bản Nga, thiết lập nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới trên phạm vi diện tích bằng 1/6 diện tích thế giới. Cách mạng đã đưa nhân dân Nga từ thân phận nô lệ lên cuộc sống làm chủ đồng thời mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga - kỷ nguyên độc lập tự do và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đối với thế giới, Cách mạng tháng Mười Nga đã đập tan chủ nghĩa đế quốc ở khâu yếu nhất là đế quốc Nga, từ đó phân chia thế giới thành hai chế độ đối lập nhau là Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội; mở ra con đường Cách mạng vô sản cho giai cấp công nhân ở các nước tư bản và nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cách mạng tháng Mười như một tấm gương chói lọi, nó thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng; và lần đầu tiên trong lịch sử loài người, sự gắn bó chặt chẽ giữa phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc thành một mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng tháng Mười còn đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời nó mở đường cho chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào tất cả các quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới, nhất là các nước thuộc địa và phụ thuộc; cung cấp những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho phong trào Cách mạng thế giới, mở ra thời kỳ phát triển mới trong lịch sử loài người: Lịch sử thế giới hiện đại - giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi như một tấm gương mang tính đột phá sáng tạo có sức lôi cuốn tất cả những trào lưu và khuynh hướng chủ yếu của cuộc đấu tranh cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc. Cao trào cách mạng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười đã thực sự làm chấn động dinh luỹ của CNTB. Các dân tộc thuộc địa ở hầu khắp các châu lục được thức tỉnh, vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển ngày càng mạnh mẽ, liên tiếp giành thắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, đưa độc lập dân tộc trở thành giá trị phổ biến mang tính thời đại. Tiếp bước trên con đường lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhiều dân tộc ở châu Âu, châu Á và Mỹ Latinh dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản tiến hành cách mạng thành công, đưa đất nước đi lên xây dựng CNXH. Hệ thống XHCN thế giới từng bước được xác lập và ảnh hưởng to lớn đến xu thế phát triển tiến bộ của lịch sử nhân loại. 


Từ sau Cách mạng tháng Mười, phong trào cách mạng ở mỗi nước trong đó có Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam cũng chính từ Cách mạng tháng Mười Nga. Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người  đã  nêu rõ: “Chỉ có đi theo con đường Cách mạng tháng Mười - con đường duy nhất đúng đắn - Cách mạng Việt Nam mới giành được độc lập, tự do thực sự”. Và Cách mạng Việt Nam được soi đường, dẫn lối từ Cách mạng tháng Mười Nga, Chủ nghĩa Mác - Lênin để sau bao năm không lối thoát, ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối lãnh đạo đúng đắn đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tiêu biểu cho những thắng lợi ấy là cuộc Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực Đông Nam châu Á, hay chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), gây chấn động địa cầu kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ 2 thắng lợi, cũng là kết thúc một chế độ thực dân kiểu cũ và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ - một chế độ thực dân kiểu mới để giành thắng lợi thống nhất đất nước, đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là thành quả rực rỡ sau hơn 20 năm nước ta tiến hành đổi mới…
Gần trọn một thế kỷ qua, kể từ khi cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga thắng lợi (7-11-1917), nhân loại đã chứng kiến biết bao biến cố thăng trầm, phức tạp. Nhưng Cách mạng Tháng Mười vẫn là một trong những sự kiện trọng đại nhất của lịch sử thế giới hiện đại. Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, bất cứ một chế độ nào đi ngược lại lợi ích chân chính của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị vượt qua, bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác tốt đẹp hơn. Tiếp tục cuộc đấu tranh xoá bỏ mọi sự lạc hậu, lỗi thời, áp bức bất công cũng chính là sự tiếp tục sự nghiệp cao cả của Cách mạng Tháng Mười.
Do đó, lý tưởng và con đường Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục toả sáng, soi rọi cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiếp thêm nguồn sinh lực cho phong trào XHCN hiện nay trên thế giới kiên định vượt qua những khó khăn, thử thách, không ngừng đổi mới, sáng tạo cả về lý luận và hoạt động thực tiễn nhằm vươn tới mục tiêu chiến lược của mình.
Ngày nay, mặc dù CNXH hiện thực vẫn đứng trước nhiều khó khăn thử thách lớn, nhưng con đường được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười với ý nghĩa trọng đại của nó vẫn là một xu thế vận động tất yếu của lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Trong điều kiện lịch sử mới, tiếp tục kiên định con đường Tháng Mười vĩ đại, các đảng cộng sản, công nhân và lực lượng tiến bộ trên thế giới nỗ lực đoàn kết củng cố đội ngũ, sáng tạo điều chỉnh chiến lược, sách lược, tìm kiếm cách thức hoạt động, đấu tranh bằng nhiều hình thức đa dạng, đổi mới tập hợp lực lượng,... chuẩn bị từng bước những tiền đề hiện thực cho sự nghiệp đi lên CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể ở mỗi nước, mỗi dân tộc, phù hợp với những biến đổi diễn ra trên thế giới trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá. Tin chắc rằng, với tinh thần của cách mạng tháng Mười Nga bất diệt, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi.
Quang Trung (Ban Tuyên giáo Đồng Tháp) 

Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại chiếu sáng khắp năm châu

Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại chiếu sáng khắp năm châu

Để đánh giá ý nghĩa của một cuộc cách mạng cần nhìn nhận nó trong cả một tiến trình lịch sử mới có thể tránh được sự phiến diện hoặc cường điệu. Trong lịch sử loài người có những cột mốc lịch sử vĩ đại mà càng đứng lùi càng thấy rõ tầm cao của chúng. Trong số những cột mốc lịch sử ấy, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là cột mốc đánh dấu bước chuyển của loài người từ kỷ nguyên của chế độ người bóc lột sang kỷ nguyên con người tự làm chủ vận mệnh của mình.
 
Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva
Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva
 
Lịch sử nước Nga đã cho thấy: bước vào năm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga buộc phải lựa chọn: hoặc là tiếp tục cam chịu sống dưới ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và địa chủ quý tộc, hoặc đứng lên làm cách mạng, giành chính quyền về tay Xô Viết đại biểu nhân dân và Nhân dân Nga đã chọn con đường cách mạng. Sau khi từ Thụy Sĩ trở về, ngày 4-4-1917, Lênin trình bày trước Trung ương Đảng Bônsêvích bản báo cáo quan trọng: “Nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng hiện nay”(sau này gọi là Luận cương tháng Tư). Luận cương của Lênin đã được toàn Đảng thông qua đề ra đường lối chuyển biến từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN và đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản và thành lập Quốc tế cách mạng mới của giai cấp công nhân. Dưới ánh sáng của Luận cương tháng Tư, Đảng Bônsêvích đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng. Đại hội VI của Đảng Bônsêvích họp từ 26-7 đến 3-8-1917 đã chủ trương “lật đổ nền chuyên chính của giai cấp tư sản bằng con đường khởi nghĩa vũ trang”. Rạng sáng 25-10 lịch Nga (tức 7-11 theo lịch mới), quân khởi nghĩa tiến đánh với Chiến hạm Rạng Đông nã pháo vào Cung điện Mùa đông - sào huyệt của chính phủ lâm thời phản động. Cận vệ đỏ của công nhân, binh lính cách mạng chiếm giữ vị trí then chốt ở thủ đô, nhanh chóng làm chủ tình hình. Các Bộ trưởng của Chính phủ lâm thời bị bắt. Cuộc khởi nghĩa ở Pêtrôgrat thắng lợi hoàn toàn. Cũng trong đêm đó, Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ 2 đã khai mạc, tuyên bố chính quyền đã về tay các Xô Viết. Đại hội ra quyết nghị: các Xô Viết đại biểu công nhân, binh lính và nông dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự cách mạng. Tối 26-10, trong buổi họp thứ 2, Đại hội thông qua 2 văn kiện đầu tiên của Chính quyền Xô Viết: 1/ Sắc luật hòa bình, 2/ Sắc luật ruộng đất. Đại hội cử ra Chính phủ Xô Viết đầu tiên, gọi là Hội đồng ủy viên nhân dân, do Lênin đứng đầu. Ngày 10-1-1918, Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ III đã khai mạc. Đại hội tán thành quyết định của Đảng Bônsêvích và Chính phủ Xô Viết về việc giải tán Quốc hội lập hiến của chính phủ cũ; quyết định hợp nhất các Xô Viết đại biểu nông dân với Xôviết đại biểu công nhân và binh lính. Đại hội thông qua Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột khẳng định nước Nga là một nước cộng hòa Xô Viết, mục tiêu là xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người, xóa bỏ giai cấp. Đại hội thông qua quyết định lịch sử, thành lập Cộng hòa Xô Viết XHCN Liên bang Nga, trên cơ sở liên minh tự nguyện giữa các dân tộc ở nước Nga… 
 
Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa lịch sử trọng đại, không chỉ với nước Nga mà còn đối với cả thế giới. Đó chính là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một đất nước rộng 1/6 diện tích thế giới. Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đập tan bộ máy thống trị của giai cấp bóc lột, phản cách mạng, thiết lập nền chính trị mới do nhân dân lao động làm chủ; công khai mục tiêu cách mạng mang tính nhân văn cao cả là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội tự do, hạnh phúc và công bằng cho người lao động, mở ra trang mới trong lịch sử các dân tộc Nga. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử và cục diện thế giới. Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười đã khai sinh ra chế độ XHCN đầu tiên trong lịch sử, chấm dứt thời kỳ làm mưa làm gió của chủ nghĩa tư bản trên thế giới; đồng thời mở ra giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội như một chủ thể hùng mạnh, một xu thế tất yếu của lịch sử, đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành và phát triển lớn mạnh của nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và sau đó là hệ thống các nước XHCN đã buộc chủ nghĩa tư bản phải thực hiện hàng loạt những điều chỉnh về kinh tế – xã hội, đáp ứng ngày càng nhiều hơn những yêu cầu của người lao động về việc làm, tiền công, giáo dục, y tế, an sinh xã hội... Con đường Cách mạng Tháng Mười đã đưa nhân loại sang một thời đại mới, thời đại hiện thực hóa ước mơ khát vọng về một cuộc sống không còn áp bức, bóc lột, bất công. Khát vọng giải phóng và phát triển của nhân dân lao động đã đem lại thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười, tạo động lực để chính quyền Xô Viết non trẻ vượt qua sự chống phá của các thế lực đế quốc tàn bạo, trở thành một cường quốc xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh và cổ vũ mạnh mẽ ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, dẫn dắt các dân tộc năm châu hình thành dòng thác cách mạng, đánh đổ hệ thống thuộc địa, chấm dứt chế độ thực dân, đưa các quốc gia đi vào quỹ đạo mới, trong đó nhiều nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng Tháng Mười đã đáp ứng những đòi hỏi cấp bách trong cuộc đấu tranh giải phóng của các giai cấp bị áp bức, bóc lột và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới… 
 
96 năm đã trôi qua, thế giới có biết bao đổi thay, đảo lộn; đã xuất hiện rất nhiều sự đánh giá khác nhau về sự nghiệp của những người cộng sản. Tuy nhiên, chính thực tiễn lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua, với những sự thật không thể thêm bớt, đã khẳng định vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga: đó chính là cột mốc mở đầu thời đại ngày nay. Sự phát triển của thế giới trong thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI dù đầy biến động, cũng không thể phủ nhận giá trị lịch sử và thời đại của Cách mạng Tháng Mười. Bất chấp những thăng trầm của lịch sử, thắng lợi của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sự chấm dứt chế độ thuộc địa, sự ủng hộ của cộng đồng thế giới đối với giá trị nhân văn tiến bộ, dân chủ, tự do, bình đẳng, sự phục hồi kỳ diệu của một số nước XHCN sau khủng hoảng, sự lớn mạnh của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh v.v... đã chứng tỏ vai trò mở đường của Cách mạng Tháng Mười hướng nhân loại tới một tương lai tươi sáng hơn. Nó cũng chứng tỏ rằng, bất cứ một chế độ nào đi ngược lại lợi ích chân chính của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị vượt qua, bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác tốt đẹp hơn. Tiếp tục cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi sự lạc hậu, lỗi thời, áp bức bất công cũng chính là sự tiếp tục sự nghiệp cao cả của Cách mạng Tháng Mười…
 
Đi theo con đường của Lênin vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường XHCN, tiếp tục khẳng định và tiếp nối những giá trị nhân văn, tiến bộ của Cách mạng Tháng Mười như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Giống mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
 
BÙI THANH LONG

Ngọn cờ hiệu triệu hòa bình

Ngọn cờ hiệu triệu hòa bình

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa lịch sử về nhiều mặt, không chỉ vạch mốc thời đại, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga và các dân tộc bị nô dịch, phụ thuộc trên thế giới, mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở chỗ đã trở thành ngọn cờ hiệu triệu của thời đại mới, thời đại đấu tranh vì những mục tiêu cao cả: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Ngọn cờ hiệu triệu hòa bình của thời đại mới

Cách mạng Tháng Mười nổ ra khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bước vào giai đoạn quyết liệt, hai phe đế quốc đang xâu xé nhau dữ dội. Cách mạng Tháng Mười đã "chặn lại những bàn tay chém giết" và chấm dứt chiến tranh đúng với mong muốn của nhân loại. Một trong những khẩu hiệu mà Cách mạng Tháng Mười giương cao là: hòa bình, phản đối chiến tranh, chấm dứt chiến tranh đế quốc. Bởi vậy, Cách mạng Tháng Mười đã giành được thiện cảm sâu sắc của nhân dân yêu chuộng hòa bình ở châu Âu và cả nhân loại tiến bộ, tạo ra phong trào phản chiến ngày càng lớn ở châu Âu lúc bấy giờ.

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Nhà nước Xô-viết đã thực hiện những nguyên tắc mới trong quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia. Hành động đầu tiên của chính quyền Xô-viết là thông qua Sắc luật về hòa bình của V. I. Lê-nin (đăng trên báo Sự thật, số 171, ngày 28-10-1917).

Trong Sắc luật về hòa bình, V. I. Lê-nin không chỉ lên án những hành động xâm chiếm của các nước đế quốc, mà còn kịch liệt phê phán sự cưỡng bức dân tộc, coi đó cũng như "một cuộc xâm chiếm và một hành vi bạo lực"(1). Tiếp tục tiến hành chiến tranh để phân chia quyền lợi của giai cấp tư sản, theo V. I. Lê-nin, đó là "một tội ác lớn nhất đối với nhân loại"(2). Trong Sắc luật về hòa bình, V. I. Lê-nin kêu gọi tất cả các nước tham gia chiến tranh tiến hành ngay những cuộc đàm phán về một hòa ước dân chủ và công bằng, không có thôn tính (không xâm chiếm đất đai, không cưỡng ép sáp nhập các dân tộc khác). V. I. Lê-nin khẳng định: "Chính phủ Nga rất sẵn sàng tiến hành ngay không chút chậm trễ tất cả các bước quyết định, cho đến khi các hội nghị đại biểu toàn quyền do nhân dân tất cả các nước và các dân tộc cử ra phê chuẩn cuối cùng tất cả các điều kiện của hòa ước đó"(3).

Sắc luật về hòa bình nói lên bản chất của chủ nghĩa xã hội là yêu chuộng hòa bình, đối lập với bản chất của chủ nghĩa đế quốc là chiến tranh, xâm lược. Sắc luật về hòa bình đã nêu những nguyên tắc của một kiểu quan hệ quốc tế mới, được đề ra không phải trên cơ sở các dân tộc lớn áp bức các dân tộc nhỏ, yếu, mà là trên nền hòa bình của tất cả các dân tộc và sự bình đẳng của các quốc gia, dân tộc. Chính sách ngoại giao của chính quyền Xô-viết cũng được trình bày rõ trong văn kiện ấy. Với niềm tin vào sức mạnh chính nghĩa của hòa bình và dân chủ, V. I. Lê-nin kết luận: "Phong trào công nhân sẽ giành được phần thắng và sẽ vạch ra con đường đi tới hòa bình và chủ nghĩa xã hội"(4). 
Cách mạng tháng 10 Nga, vô sản, người lao động
Cách mạng Tháng Mười Nga - ngọn cờ hiệu triệu hòa bình cho nhân loại
Không chỉ dừng lại ở Sắc luật có tính chất văn bản pháp lý, chính quyền Xô-viết đã kiên trì phấn đấu trong thực tiễn để đạt tới mục tiêu hòa bình, kể cả việc phải ký hòa ước, trong đó nước Nga Xô-viết phải chấp nhận những thiệt thòi về đất đai, kinh tế như Hòa ước Brét Li-tốp đầu năm 1918. Thực tế cho thấy, việc công bố Sắc luật về hòa bình và toàn bộ nỗ lực của Nhà nước Xô-viết đã đưa nước Nga ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc. Lập lại nền hòa bình, nước Nga có điều kiện thuận lợi để củng cố chính quyền nhân dân, ổn định kinh tế - xã hội, tập trung lực lượng đập tan sự phản kháng của bọn phản cách mạng. Chiến thắng trong cuộc nội chiến ác liệt bốn năm, chính quyền Xô-viết được củng cố. Nhân dân lao động Nga và nhân dân các dân tộc thuộc Nga một lần nữa thoát khỏi thảm họa chiến tranh, thoát khỏi nguy cơ trở lại ách bóc lột của địa chủ, tư sản phản động. Về sau, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã giương cao, giữ vững ngọn cờ hòa bình ấy.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Nhà nước Xô-viết mà từ ngày 30-12-1922 là Liên Xô, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa cách mạng và phản cách mạng bước sang một giai đoạn mới, quyết liệt hơn. Chủ nghĩa tư bản buộc phải điều chỉnh, không thể "làm mưa làm gió" như trước được nữa. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng vô sản mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười và phong trào giải phóng dân tộc đã thu hẹp "hậu phương" của chủ nghĩa đế quốc, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sụp đổ từng mảng lớn. Các dân tộc từng bị thực dân nô dịch nay "hiên ngang bước lên vũ đài quốc tế", trở thành lực lượng đưa thế giới phát triển theo xu hướng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, do chủ nghĩa phát-xít gây ra. Nhiều quốc gia trên các châu lục bị cuốn vào cuộc chiến tàn khốc. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cứu nhân dân thế giới khỏi họa diệt chủng, giương cao ngọn cờ hòa bình của Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã hy sinh nhiều người, nhiều của, đóng góp lớn nhất trong lực lượng Đồng minh để làm nên chiến thắng chung của thế giới. "Việc đánh bại chủ nghĩa phát-xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã mở ra những khả năng mới cho cuộc đấu tranh của các dân tộc và hòa bình dân chủ, giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội"(5).

Sự phát triển mạnh mẽ và thần kỳ của Liên Xô sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã đưa Liên Xô trở thành biểu tượng, trụ cột của nền hòa bình thế giới, ghi những dấu ấn đậm nét trong lịch sử phát triển xã hội loài người. Đất nước Xô-viết đã đạt những thành tựu kỳ diệu trên mọi lĩnh vực, chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học - kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là chinh phục vũ trụ vì mục đích hòa bình.

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, vấn đề đặt ra nóng bỏng trước nhân loại là vấn đề chiến tranh và hòa bình. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới đã thực thi chính sách giành giật thị trường, ngăn cản các quốc gia thực hiện nền độc lập tự chủ, ngăn cản phong trào giải phóng dân tộc, kìm hãm xu hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội của nhiều quốc gia, dân tộc (mà họ gọi là "ngăn chặn làn sóng đỏ"), kìm giữ nhân dân các nước trong quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, những thành tựu của loài người vào cuộc chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí giết người hàng loạt; theo đuổi các chính sách, tư duy hiếu chiến, xâm lược nhiều quốc gia độc lập có chủ quyền. Thế giới trong thời kỳ Chiến tranh lạnh đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh cục bộ đẫm máu bắt nguồn từ bản chất hiếu chiến và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc: chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Triều Tiên,... Nhưng xu thế phát triển của thế giới là không thể đảo ngược: sự lớn mạnh của các quốc gia độc lập trẻ tuổi; sự tăng lên về vai trò, vị trí của các nước đang phát triển; sự hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ngăn chặn sự áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa đế quốc trên một phạm vi rất lớn của thế giới, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đạt được những thắng lợi to lớn. Nhờ sự hợp lực đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa, của loài người tiến bộ, chiến tranh thế giới đã không xảy ra, hòa bình thế giới về cơ bản vẫn được giữ vững. Cộng đồng xã hội chủ nghĩa thế giới với bản chất yêu chuộng hòa bình, đã trở thành thành trì vững chắc của hòa bình thế giới, người bảo vệ kiên quyết nhất các nguyên tắc công bằng, hòa bình, dân chủ trong quan hệ quốc tế và là trở lực chủ yếu đối với các thế lực phản động quốc tế.

Có thể khẳng định, lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa xã hội đã xây dựng thành công một kiểu mẫu về quan hệ quốc tế hoàn toàn mới: Đó là mối quan hệ quốc tế dựa trên tình đoàn kết giai cấp, tình hữu nghị giữa các dân tộc, sự hợp tác và tương trợ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ xã hội mới, vì hòa bình, an ninh quốc tế và tiến bộ xã hội, sự bình đẳng và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước. Chính mối quan hệ này là tác nhân tích cực thúc đẩy các nước trong cộng đồng quốc tế xích lại gần nhau hơn trong quá trình phát triển, phong trào hòa bình thế giới đã hình thành được những lực lượng hùng hậu.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, sau khi nhà nước xã hội chủ nghĩa được khai sinh từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đặc biệt là từ sau năm 1945, khi nhiều nước giành được độc lập, đã lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Hệ thống này đã có vai trò rất quan trọng và cống hiến to lớn đối với tiến trình thực hiện các mục tiêu nóng bỏng của nhân loại là: hòa bình, an ninh và phát triển. Hòa bình vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội đã khai sinh ra một kiểu quan hệ quốc tế mới, sớm nêu lên và thực hiện một cách mẫu mực nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau. Nguyên tắc này còn bao hàm sự phủ nhận chiến tranh với tư cách là phương tiện thực hiện chính sách đối ngoại của các nước đế quốc, đồng thời thừa nhận quyền của tất cả các dân tộc được tự mình giải quyết vận mệnh của mình, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và phát triển sự hợp tác bình đẳng giữa các nước. Mặt khác, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã nâng cuộc đấu tranh cho hòa bình thế giới lên tầm cao mới khi gắn hòa bình với các mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa xã hội "sinh thành" từ nước Nga Xô-viết đã trở thành một thực thể quan trọng cấu thành nền chính trị thế giới và tác động sâu rộng đến quan hệ quốc tế, đến sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã nhân lên sức mạnh của phong trào đấu tranh bảo vệ hòa bình, sự sống và nền văn minh nhân loại, chống chiến tranh và nguy cơ chiến tranh, góp phần củng cố, phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa các dân tộc.

Tiếp tục phất cao ngọn cờ hòa bình của Cách mạng Tháng Mười

Kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, sau khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thế giới đã có những biến chuyển sâu sắc, nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Trong trật tự thế giới mới đã diễn ra xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hòa hoãn, bình thường hóa, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và phát triển, nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ xung đột, chiến tranh cục bộ, khu vực. Các vấn đề toàn cầu ngày càng gay gắt, đòi hỏi sự hợp sức của tất cả các quốc gia. Mỗi quốc gia đều phải tham gia đấu tranh để tiến tới thiết lập một trật tự quan hệ quốc tế công bằng hơn, trong đó, mỗi nước đều có vai trò, đóng góp cần thiết trong việc giải quyết các công việc chung của thế giới, trên nền tảng Hiến chương của Liên hợp quốc và các cam kết khu vực, quốc tế. Khi những sự việc xảy ra gần đây xung quanh vấn đề Xy-ri, từ nước Nga, quê hương của Cách mạng Tháng Mười, Tổng thống Liên bang Nga Vla-đi-mia Pu-tin đã có bài viết gửi tờ New Yorks Times (Mỹ), nhấn mạnh một trong những nguyên tắc để giải quyết vấn đề khủng hoảng chính trị cũng như xung đột vũ trang là phải tôn trọng Hiến chương của Liên hợp quốc, tôn trọng những giá trị dân chủ của mỗi quốc gia, dân tộc, trên nguyên tắc bình đẳng, đề cao giải pháp chính trị và giương cao ngọn cờ hòa bình: "Những người sáng lập Liên hợp quốc hiểu rõ rằng những quyết định về chiến tranh và hòa bình cần phải đạt được sự nhất trí,... Điều đúng đắn này chính là nền tảng cho sự ổn định trong mối quan hệ quốc tế suốt hàng thập niên qua". Và rằng, khi giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu, "Chúng ta phải dừng ngay việc sử dụng vũ lực để trở lại với con đường ngoại giao và giải pháp chính trị"; "Có nước lớn, nước nhỏ, có nước giàu nước nghèo, có nước có truyền thống dân chủ lâu dài, và có nước mới chỉ đang đi trên con đường hướng tới dân chủ. Chính sách của mỗi nước cũng sẽ khác nhau. Chúng ta đều khác nhau, nhưng khi mỗi chúng ta nhận ơn từ Tạo hóa, chúng ta không được phép quên rằng Tạo hóa đã sinh ra chúng ta bình đẳng"(6).

Với tư cách là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, suốt gần 7 thập niên qua (1945 - 2013), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã làm hết sức mình để hiện thực hóa những tuyên ngôn về hòa bình của Cách mạng Tháng Mười và của Tuyên ngôn độc lậpngày 2-9-1945 trên đất nước mình và cho những mục tiêu cao cả của thời đại. Với khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và củng cố hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế. Đường lối đối ngoại hòa bình của Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước đã có tiếng vang lớn, được sự ủng hộ và hưởng ứng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều vận hội, thời cơ lớn đan xen với nhiều thách thức, nguy cơ không thể xem thường. Đại hội XI của Đảng nhận định: "Nước ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu, như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, là khu vực phát triển năng động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo ngày càng gay gắt"(7). Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh toàn diện và sâu rộng sự nghiệp đổi mới, tích cực, chủ động trong hội nhập quốc tế cũng là quá trình Việt Nam nhận thức sâu sắc phải thực thi có hiệu quả, tích cực hơn nữa việc giải quyết các vấn đề của khu vực và thế giới bằng chính thực lực của đất nước được tạo ra sau gần 30 năm đổi mới, bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì một thế giới hòa bình và phát triển bền vững.

Từ bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định, để bảo vệ vững chắc nền hòa bình, giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu không chỉ là trách nhiệm của riêng một quốc gia nào, mà đòi hỏi sự hợp sức, nỗ lực của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Cần phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế: cùng tồn tại hòa bình, tương trợ, giúp đỡ nhau nhưng không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không phân biệt đối xử trong các quan hệ quốc tế; bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết những bất đồng, xung đột bằng con đường ngoại giao, đàm phán hòa bình với tinh thần thiện chí, nhân văn; đề cao độc lập, tự chủ, nhưng không biệt lập trong quan hệ quốc tế. Đó cũng chính là sự tiếp nối và phất cao ngọn cờ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển của Cách mạng Tháng Mười Nga trong bối cảnh mới của đất nước và thời đại./.
TS Đỗ Xuân Tuất (Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - cán bộ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
TheoTạp chí Cộng Sản
--------------------------------------

(1) V. I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, t. 35, tr. 15

(2) V. I. Lê-nin: Sđd, t. 35, tr. 15

(3) V. I. Lê-nin: Sđd, t. 35, tr. 14

(4) V. I. Lê-nin: Sđd, t. 35, tr. 19

(5) Cương lĩnh, Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô (được Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua), Nxb. Sự thật - Nxb. Thông tấn Nô-vô-xti, Mát-xcơ-va, 1986, tr. 10-11

(6) Xem Bài viết của V. Pu-tin trên New York Times: vnexpress.net/.../bai-viet-cua-putin-tren-new-york-times-2879043.html, ngày13-9-2013

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 27-29

Kỷ niệm 96 năm Cách mạng Tháng Mười Nga ( 7-11-1917 - 7-11-2013): Cách mạng Tháng Mười Nga - sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại

Kỷ niệm 96 năm Cách mạng Tháng Mười Nga ( 7-11-1917 - 7-11-2013): Cách mạng Tháng Mười Nga - sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại
Từ chiếc nôi Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chế độ xã hội chủ nghĩa cũng theo tiếng súng của chiến hạm Rạng Đông lan truyền trên nhiều nước khắp các châu lục Âu, Á và Mỹ Latinh. Nhờ ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười, sau đó, trên thế giới có nhiều nước đi trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Mười Nga đã trở thành sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử loài người.


Lê-nin, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới - Ảnh: T.L

Từ chiếc nôi nước Nga và Liên Xô, cách mạng vô sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành thắng lợi ở nhiều không gian địa chính trị trọng yếu; chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới, đối trọng hữu hiệu trên nhiều lĩnh vực với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Dưới ánh sáng của ngọn hải đăng Tháng Mười Nga, quần chúng lao động và các lực lượng cách mạng khác đã xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và cả ở châu Mỹ; cộng với nhiều quốc gia định hướng xã hội chủ nghĩa ở Á, Phi và Mỹ La tinh. Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra và tạo động lực mạnh mẽ cho phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới, thời đại của chủ nghĩa đế quốc bị tấn công và cách mạng vô sản bùng nổ. Động lực và cảm hứng từ Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục tạo nên xu hướng phê phán, phủ định và thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ hơn trong bối cảnh thế giới hiện nay. Ngay cả trong điều kiện chủ nghĩa xã hội bị khủng hoảng, xu hướng chống chủ nghĩa tư bản cũng không suy giảm. Sự hằn học, chống phá quyết liệt hiện nay của các thế lực thù địch đối với Cách mạng tháng Mười và chủ nghĩa xã hội chính là vì cuộc cách mạng vĩ đại ấy tiếp tục tác động mạnh mẽ đến triển vọng của lịch sử loài người trong thế kỷ XXI, thế kỷ của đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản ở tầm cao mới.

Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển. Nhờ vậy, các quốc gia xã hội chủ nghĩa không những thoát khỏi khủng hoảng, mà còn đạt nhiều bước tiến lớn. Trung Quốc liên tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế suốt hơn 30 năm qua, hiện đứng thứ 2 về GDP trên thế giới. Việt Nam đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, ra khỏi tình trạng kém phát triển, đang trở thành người bạn và đối tác tin cậy của các nước. Cuba kiên định và sáng tạo trong vòng tay ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bè bạn khắp năm châu. Phong trào cộng sản quốc tế đã phục hồi và phát triển với gần 80 đảng, trên 90 triệu đảng viên, trong đó có một số đảng chấp chính, hoặc chiếm đa số trong quốc hội, hoặc có vị trí quan trọng trong đời sống đất nước… 

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã làm rung chuyển thế giới. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng theo tiếng súng của chiến hạm Rạng Đông lan truyền trên nhiều nước khắp các châu lục Âu, Á và Mỹ Latinh. Với tính chất là sản phẩm của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện nay vẫn là một lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, tinh thần không thế lực nào có thể bỏ qua trong những tính toán chiến lược toàn cầu. Cách mạng Tháng Mười Nga là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới hiện đại./.

Kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga: Sự trường tồn không thể phủ nhận

Kỷ niệm 96 năm Cách mạng tháng Mười Nga: Sự trường tồn không thể phủ nhận

(Quốc tế) - Cho dù vẫn còn có nhiều nhận định, đánh giá khác nhau, nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, đó là Cách mạng tháng Mười đã khiến lịch sử nhân loại bước sang một trang mới. Bởi Cách mạng tháng Mười Nga là chỗ dựa cho những dân tộc bị áp bức trên thế giới và nếu không có Cách mạng tháng Mười, thế giới không thể sống trong kỷ nguyên độc lập, tự do.

Tuy  96 năm đã trôi qua, thế giới có biết bao đổi thay, nhưng Cách mạng tháng Mười vẫn trường tồn và nước Nga đang chứng kiến sự “lên ngôi” của Tổng thống Putin không chỉ ở xứ sở Bạch dương, mà trên cả thế giới.
Với thành quả vĩ đại của Cách mạng tháng Mười, CNXH ra đời và được nhân loại biết đến không chỉ là học thuyết lý luận, mà còn là một chế độ xã hội hiện thực – chế độ xã hội XHCN. Đó là cuộc cách mạng XHCN đầu tiên, mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử.
Để đánh giá ý nghĩa của Cách mạng tháng Mười cần nhìn nhận nó trong tiến trình lịch sử mới có thể tránh sự phiến diện, nhất là sau khi Liên Xô giải thể. Nhưng có một thực tế không thể đảo ngược – Cách mạng tháng Mười Nga đã mang lại những bài học vô giá cho nhân loại. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, để bảo vệ giá trị chân thực của Cách mạng tháng Mười, hơn lúc nào hết chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc hơn ý nghĩa mang tính thời đại và ảnh hưởng to lớn của Cách mạng tháng Mười đối với thắng lợi và tiến trình phát triển của Cách mạng Việt Nam suốt thời gian qua.
Một trong những di sản quan trọng mà Cách mạng tháng Mười để lại là nguyên tắc “chung sống hòa bình”, do Lênin đề xướng. Chung sống hòa bình có thể được coi là nguyên tắc ứng xử hữu hiệu nhất trong bối cảnh đối đầu hai cực. Ngoài ra, kiên định đi theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng tháng Mười Nga, CNXH cũng chứng minh sức sống và tính ưu việt của mình thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển…
Nhận thức sâu sắc được nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm, khẳng định bản lĩnh cách mạng, kiên định con đường độc lập dân tộc và CNXH, nắm vững và tận dụng cơ hội, nỗ lực vượt qua thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong xây dựng CNXH, từ cuối thập niên 1980 đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước…
Đối với Cách mạng Việt Nam, Cách mạng tháng Mười cho chúng ta thấy: muốn cách mạng thành công, phải lấy công nông làm gốc, phải có Đảng lãnh đạo, phải bền gan – hy sinh, phải theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: đối với cách mạng thế giới, Cách mạng tháng Mười đã chặt đứt xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc, phá tan cơ sở của nó và giáng cho nó một đòn chí mạng; Cách mạng tháng Mười như tiếng sét đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mơ hàng thế kỷ nay…
Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa lớn và sâu xa như thế. Tầm vóc của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga là vô cùng vĩ đại và những gì nó đem lại thực sự vẫn chưa được giải mã hết và đó là sự thật không thể phủ nhận.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, việc thực hiện chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ quốc tế phải đảm bảo giữ vững định hướng XHCN, giữ vững nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, cùng có lợi, đảm bảo an ninh quốc gia, từng bước thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Và mối quan hệ Việt Nam – Nga đã và đang được củng cố, phát triển, nhất là trong bối cảnh Tổng thống Putin chuẩn bị có chuyến thăm chính thức Việt Nam (12/11/2013). Chuyến thăm chính thức Việt Nam lần này của Tổng thống Putin được coi là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hai nước – mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt – Nga, lên tầm cao mới.
Trước đó, quan hệ song phương Việt – Nga đã được nâng lên Đối tác chiến lược toàn diện bằng Tuyên bố chung về tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện (27/7/2012). Hơn 12 năm trước (1/3/2001), Việt Nam và Nga đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược.
Gần nửa năm trước (từ ngày 12 đến 15/5/2013), nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Liên bang Nga Dmitry Medvedev, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thăm chính thức Liên bang Nga. Đây là lần thứ ba, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Liên bang Nga (2007 và 2009) nhằm khẳng định sự coi trọng và mong muốn của Việt Nam không ngừng phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt – Nga, tiếp tục thực hiện cơ chế trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước, thông báo cho nhau về tình hình chính trị-kinh tế, chính sách đối ngoại của mỗi nước, cũng như trao đổi ý kiến về các vấn đề thời sự quốc tế và khu vực hai bên cùng quan tâm.
Đến nay, quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai nước phát triển năng động với kim ngạch hai chiều năm 2012 đạt gần 2,45 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2011. Nga hiện đứng thứ 18/101 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, với 93 dự án và tổng số vốn đăng ký 2,07 tỷ USD. Còn Việt Nam có 16 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn đầu tư hơn 1,7 tỷ USD, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí, ngân hàng, thương mại…
Cách đây không lâu (31/10), trang mạng Ekhoplanet.ru của Nga đã đăng bài phỏng vấn Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (của hãng thông tấn Itar-Tass), trong đó khẳng định: Việt Nam và Nga là mối quan hệ đối tác dựa trên nền tảng vững chắc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng cho rằng, điểm đặc biệt trong quan hệ truyền thống với Nga là sự tin tưởng ở mức cao, đồng thời quan hệ này có rất nhiều tiềm năng hứa hẹn. Hai nước đã nâng mối quan hệ lên mức chiến lược toàn diện, từ nông nghiệp và công nghệ cao, tới trao đổi văn hóa và khoa học.
Có thể nói, quan hệ chính trị Việt – Nga có độ tin cậy cao và không ngừng được củng cố. Trao đổi đoàn cấp cao diễn ra thường xuyên, tạo động lực mạnh mẽ cho việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước
Tuệ Sỹ (Công An Nhân Dân)

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Bài học lịch sử sinh động nhất của giới trẻ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Bài học lịch sử sinh động nhất của giới trẻ

(ĐSPL) - Chưa bao giờ giới trẻ Việt Nam lại dành tình cảm đặc biệt cho một cá nhân như đã thể hiện trong thời gian qua với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Họ đã khóc trước sự ra đi của vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam ở tuổi 103 và xem ông là thần tượng hoàn hảo về tài năng, đức độ, tinh thần sống hết mình.
Nhiều người đã nhận định, Đại tướng là bài học lịch sử sinh động nhất cho thế hệ trẻ Việt Nam nhưng họ tỏ ra băn khoăn vì sao Đại tướng lại chưa được đưa vào sách giáo khoa lịch sử phổ thông để giáo dục thế hệ trẻ. Trong khi đó, ở nước Pháp xa xôi, hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có trong sách giáo khoa của họ. Vì sao lại như vậy?
Một biểu tượng hoàn hảo cần thiết cho thế hệ trẻ
Việc thế hệ trẻ biểu lộ tình cảm đặc biệt của mình đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời gian qua hết sức xúc động, thậm chí vượt xa sự tưởng tượng của thế hệ cha anh đi trước. Bàn về hiện tượng này, giáo sư, tiến sĩ  khoa học, Vũ Minh Giang, Chủ tịch hội đồng Khoa học và Đào tạo đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch hội đồng Di sản Văn hoá quốc gia, Phó Chủ tịch hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng, đây là điều rất đặc biệt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Theo giáo sư Vũ Minh Giang, chính hành động của thế hệ trẻ trong đám tang đã làm đảo lộn suy nghĩ của người lớn, làm họ ngạc nhiên đến vỡ oà trong hạnh phúc. Vị giáo sư này tự đặt câu hỏi, câu chuyện đằng sau đó  là cái gì? Và ông đã đi tìm lời giải cho mình. Bởi ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp đủ đầy những phẩm chất mà thế hệ trẻ Việt Nam cần. Người trẻ bây giờ luôn có trong mình hai tố chất. Tố chất thứ nhất, mang tính tự nhiên của giới, của lứa tuổi là hướng tới cái mới, cái hiện đại. Dường như, họ không thích nói nhiều  đến chuyện quá khứ, bởi trước mặt họ là tương lai. Nhưng chúng ta quên một điều, bất kỳ lứa tuổi nào, thế hệ nào, họ cũng mang trong mình truyền thống văn hoá của một dân tộc. Nó như một cái gen di truyền, vấn đề là cái gen ấy trong môi trường hoàn cảnh nào thì bộc lộ ra. Hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tôi cho rằng đã làm cho cái gen ấy bất luận thế nào cũng bộc lộ ra.
Thế hệ trẻ Việt Nam đã dành tình cảm đặc biệt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thực chất, ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thế hệ trẻ Việt Nam không chỉ tìm thấy chất tướng của một danh tướng muôn đời, mà còn tìm thấy một hình tượng tướng văn, tức là sự bao dung nhân ái. Đây là một sự kết hợp rất khó trong một con người. Giáo sư Vũ Minh Giang cho rằng: Đại tướng Giáp được chính đối thủ kính trọng vì nhiều lý do, trong đó có một câu chuyện liên quan đến cách đối xử với người Pháp. Người Pháp chưa bao giờ thấy những phụ nữ, trẻ em của nước họ bị bắt cóc làm vật để trao đổi điều kiện chính trị ở Việt Nam. Trong khi đó, việc này lại thường xuyên xảy ra ở các nước thuộc địa khác. Chính sự nhân ái, lòng bao dung của Tướng Giáp là điểm rất gần gũi với giới trẻ. Bởi cái tuổi trẻ cần đó là sự quan tâm, sự bao dung. Tuổi trẻ, họ không muốn bị áp dụng sự khắt khe mà cần sự bao dung, uy tín. Giới trẻ cảm nhận được sự bao dung của Đại tướng đối với mọi người, nhất là giới trẻ nên đã trở thành thần tượng của họ.
"Cái cuối cùng mà tôi muốn nhấn mạnh đó chính là Tinh thần Võ Nguyên Giáp. Tinh thần đó đã thổi vào giới trẻ  ý chí mãnh liệt. Đây chính là cái kích thích đối với thế hệ trẻ khiến họ tràn đầy nhựa sống. Tôi cho đây là những cái cơ bản nhất để giải thích tại sao trong đám tang của một con người thọ 103 tuổi, một con người của thế hệ cũ đã kích thích giới trẻ để họ biểu lộ ra bên ngoài nhiều hành động và  tình cảm đặc biệt", giáo sư Vũ Minh Giang nhấn mạnh.
Trao đổi với PV báo ĐS&PL, ông Đỗ Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban các vấn đề Xã hội của Quốc hội cho biết: "Tôi cũng rất trăn trở về vấn đề này. Tôi biết dư luận đang nói về việc này và cá nhân tôi cũng rất suy nghĩ về điều đó. Lúc sinh thời Đại tướng đã luôn nói, chiến công này là của nhân dân và thuộc về nhân dân, đứng đầu là Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Nhưng Đại tướng với chức trách và nhiệm vụ mà Đảng, Bác Hồ và quân đội giao phó, người đã hoàn thành xuất sắc xứ mệnh của mình. Non sông này, đất nước này và Tổ quốc này sẽ luôn luôn khắc ghi điều đó. Vậy việc đặt ra vấn đề mà dư luận đã nêu có hợp lý hợp tình hay không? Cần phải suy xét ở dưới góc độ nào? Theo tôi đã đến lúc cần đưa tên của Đại tướng vào trong sách giáo khoa lịch sử. Có nhiều điều để chúng ta suy xét, đồng thuận với ý kiến đó". Theo ông Hùng, nếu ai đó có đặt ra vấn đề cần phải đối sánh như thế nào, dung lượng ra làm sao về vai trò của cá nhân Đại tướng trong tiến trình lịch sử với những tấm gương đã được Tổ quốc vinh danh là anh hùng dân tộc như: Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Lê Lợi..., cá nhân tôi chưa thể trả lời ngay lúc này một cách cụ thể, chi tiết. Và, bộ GD&ĐT cũng cần phải có tiếng nói của mình trước vấn đề mà dư luận đang đặt ra.
"Tuy nhiên tôi không đồng tình với cách đặt vấn đề cho rằng, sách giáo khoa lịch sử hiện nay còn khô cứng, không hấp dẫn với học sinh và cần đưa những nhân vật như Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào để cho môn học thú vị hơn. Thế hệ chúng tôi, rất nhiều người yêu thích đọc lịch sử, thậm chí quyển lịch sử thường được học sinh đọc hết từ đầu năm học trước khi cô giáo lên lớp dạy. Việc đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào sách là cần thiết, tuy nhiên nó không liên quan đến việc cải thiện chất lượng sách lịch sử", ông Hùng phân tích.
Cũng liên quan đến hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trả lời phỏng vấn PV báo ĐS&PL, giáo sư sử học Phan Huy Lê, Chủ tịch hội Khoa học Lịch sử đánh giá rằng: "Những gì tôi đã chứng kiến trong đám tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chứng kiến những hàng dài người xếp hàng trong đó có rất đông thế hệ trẻ tại nhà riêng 30 Hoàng Diệu vô cùng xúc động. Trong lòng thế hệ trẻ, Tướng Giáp là một thần tượng, và đó là thần tượng hoàn hảo".
Sẽ đóng góp ý kiến xây dựng hình tượng Đại tướng vào sách giáo khoa
Trong lúc giới trẻ rất quan tâm tới hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều người cho rằng sách giáo khoa lịch sử phổ thông chưa đề cập đến hình ảnh của Đại tướng là một thiếu sót lớn. Trước sự việc này, theo giáo sư Phan Huy Lê, việc sách giáo khoa lịch sử phổ thông không nhắc đến hình ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đây dĩ nhiên là một thiếu sót lớn không phải bàn cãi. Theo giáo sư, những người "làm sách" cần thiết phải xây dựng bổ sung.
Cũng liên quan đến vấn đề này, giáo sư, tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang cho rằng: "Việc Đại tướng chưa được đề cập trong sách giao khoa nó xuất phát từ quan điểm biên soạn sách giáo khoa của những người làm giáo dục. Và, tôi tin rằng trong tương lai hình ảnh của Tướng Giáp sau khi qua đời thì chắc chắn sẽ xuất hiện trong sách giáo khoa. Với tư cách Phó chủ tịch hội Khoa học Lịch sử tôi cũng sẽ bảo lưu quan điểm của mình trong việc này, vì đó là một lẽ công bằng của lịch sử. Bởi Tướng Giáp không phải là con người mang tính chất cá nhân mà là biểu tượng của một dân tộc".
Chiến công lừng lẫy của Đại tướng luôn song hành cùng dân tộc
Về việc, Tướng Giáp không có trong sách giáo khoa Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Quang Phòng, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục An Ninh (Bộ Công An) thẳng thắn nói: "Rất tiếc, đến giờ dư luận mới đặt ra vấn đề này, chúng ta hoàn toàn có điều kiện để thực hiện điều đó sớm hơn. Bia đá có thể mòn nhưng chiến công lừng lẫy của Đại tướng luôn song hành cùng lịch sử dân tộc. Chúng ta cần đưa những thông tin về tài thao lược của Đại tướng cũng như lòng yêu nước, sự giản dị và đức hi sinh của ông để mọi thế hệ học sinh đều được học. Đó là tấm gương lớn mà thế hệ trẻ Việt Nam cần học và làm theo".
Tờ L’Humanite  á của Pháp dẫn:
Đại tướng Võ Nguyên Giáp được vào SGK của Pháp trong mục “Nghệ thuật chiến tranh”
Trình Phúc - Thành Huế