Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa

Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (13A)
Nguyễn Cung Thông

Phần này tóm tắt các chi tiết và bổ túc bài viết1 "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)", do đó số thứ tự của bài viết này là 13A; những bài viết sau nữa về Ngọ ngựa sẽ có số thứ tự là 13B, 13C … để người đọc dễ tra cứu thêm. Tương tự như thế, các bài viết về Mão mẹo mèo được đánh số là 4, 4A, 4B ...v.v... Dấu hoa thị * dùng để chỉ âm cổ phục nguyên. Các tài liệu viết tắt là TVGT Thuyết Văn Giải Tự (khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), Tập Vận (TV/1037/1067), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), Tự Vị Bổ (TViB/1666), KH (Khang Hi/1716), HNĐTĐ (Hán Ngữ Đại Tự Điển/1986), Thiết Vận (ThV/601), Vận Kinh (VK/1161), VBL (Dictionarium Annamiticum-Lusitanum-Latinum, Alexandre de Rhodes, 1615). Xem lại các cách đọc của các chữ liên hệ như mã, ngọ, ngự:

1. có các cách đọc (thanh mẫu nghi vận mẫu mô thượng thanh, khai khẩu nhất đẳng) theo phiên thiết

疑古切,音五 nghi cổ thiết, âm ngũ (TVGT, ĐV, QV, TV, VH, CV)
吳古切 ngô cổ thiết (NT, TTTH)
五故切 ngũ cố thiết (TV, LT)
阮古切 nguyễn cổ thiết (TV)
阮古切,音五 nguyễn cổ thiết, âm ngũ (TVi)
吾古切,音五 ngô cổ thiết, âm ngũ (CTT) - âm ngọ và ngũ đều đọc là wǔ theo giọng BK bây giờ so với giọng Quảng Đông ng5, Hẹ/Triều Châu ng3, ngou2
...v.v...

Giáp cốt văn/Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ Ngọ

Một dạng âm cổ phục nguyên của Ngọ là *ŋu dựa vào các âm địa phương TQ và âm Hán Việt (phiên thiết). Một nghĩa cổ của Ngọ (gốc Hán Tạng) là gặp (NT, QV, TV), đây cũng là lý do chữ ngỗ cũng dùng thông với chữ ngộ (mặt chạm mặt, đi ngược chiều nhau, gặp). Từ các nét khắc/vẽ trên Giáp Cốt và Kim văn, ta có thể thấy ngay chữ Ngọ tượng hình: giống như một cái dùi hay chày (giã gạo) và không liên hệ gì đến loài ngựa. Điều này còn thể hiện qua chữ xử nghĩa là cái chày, ngoài ra thành phần hài thanh Ngọ có thể liên hệ đến động tác gõ (khõ), cú (cú đầu) đều có phụ âm đầu ở cuối lưỡi  (k, g, ŋ so với khấu ).

2.Chữ mã có các cách đọc (thanh mẫu minh vận mẫu ma thượng thanh, khai khẩu nhị đẳng) theo phiên thiết

莫下切 mạc hạ thiết (TVGT, ĐV, QV, CV, LT)
莫下反 mạc hạ phản (LKTG)
莫把切 mạc bả thiết (NT, TTTH)
母下切,麻上聲 mẫu hạ thiết, ma thượng thanh (TV, VH)
滿補切,音姥 mãn bổ thiết, âm mỗ (TV, LT)
莫雅切,麻上聲 mạc nhã thiết, ma thượng thanh (TVi, CTT)
...v.v...

Giọng BK bây giờ là mǎ so với các giọng địa phương TQ như giọng Quảng Đông là maa5, Hẹ/Triều Châu ma1, ma3/bhê2 maⁿ2.
Mã có một dạng cổ phục nguyên là *ma hay *mra, gốc Hán Tạng so với tiếng Thái ม้า máa cùng nghĩa, các vết khắc/vẽ cổ cho thấy chữ mã tượng hình: giống hình con ngựa (dựng đứng để phù hợp với cách viết từ trên xuống dưới).

Giáp cốt văn/Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ mã

Rõ ràng là mã và ngọ không có tương quan ngữ âm rõ ràng trong tiếng Hán. Tuy nhiên học giả Paul K. Benedict2 có đề nghị rằng mã có nguồn gốc là *ŋ(w)a (hay ngựa tiếng Việt) sau khi so sánh các tên ngựa (tiếng Việt), ŋa/ka (tiếng Lê ở đảo Hải Nam), ngua (tiếng Nam Kelao), niau (tiếng Bắc Kelao), ngo (tiếng Lati) so với tên chi thứ 7 Ngọ mà GS Robert Schafer (1957) phục nguyên âm cổ là *m-ŋa. Benedict đưa ra một dữ kiện ngôn ngữ đáng chú ý là ŋa tiếng Lê ngoài nghĩa ngựa còn có nghĩa là mở ra (so với dạng ngỏ tiếng Việt và ngả).

3.Chữ ngự thường dùng làm chữ Nôm ngựa (Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Béhaine/Taberd ...); ngự (thanh mẫu nghi vận mẫu ngư khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết

牛倨切 ngưu cứ thiết (QV)
牛據切 ngưu cứ thiết (TVGT, TV)
魚據切,語去聲 ngư cứ thiết, ngữ khứ thanh (NT, CV, TVi, CTT)- TVi/CTT ghi thêm 音遇 âm ngộ (yù BK)
偶舉切 ngẫu cử thiết (LTCN)
...v.v...

Giọng Quảng Đông là jyu6 (so với yù BK), âm cổ được duy trì trong các giọng Hẹ/Triều Châu ngi3, ngi4, ngi5, ngi6.

 Ngừa (ngăn ngừa) chữ Nôm cũng dùng chữ ngự . Chính nét nghĩa ngăn cản, kiểm soát (dùng như chữ ngự ) đã dẫn đến dạng ngừa3 (tiếng Việt) từ ngự HV (dây cương). Tương tự trong các nền văn hóa khá, như cách dùng tiếng Anh rein (dây cương, danh từ - tiếng Pháp rêne) đã từ phạm trù cụ thể mở rộng nghĩa để chỉ hoạt động kiểm soát một cách tổng quát hơn:

The Government is keeping a tight rein on public expenditure.
(Nhà nước đang kiểm soát chặt chẽ/giữ chặt dây cương các chi tiêu công cộng)

To give somebody free rein (cho ai tự do hành/hoạt động/không còn dây cương chi phối - tiếng Pháp  donner carte blanche à quelqu'un).

Ta cũng thấy khuynh hướng mở rộng nghĩa từ cụ thể đến trừu tượng trong cách dùng tiếng Anh harness, bridle (cũng có nghĩa là dây cương).
Chữ ngự bộ mã cho ta biết nghĩa dễ dàng hơn vì có chữ mã và chữ hựu (Kim văn tượng hình cái roi, Tiểu triện có hình bàn tay) so với chữ ngự bộ xích. Chữ ngự bộ mã hiện diện trong Tuân Tử, Chánh Luận 《荀子·正論》.


Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ ngự bộ mã


4. Chữ ngự có các cách đọc (thanh mẫu nghi vận mẫu ngư khứ thanh, khai khẩu tam đẳng) theo phiên thiết

牛據切 ngưu cứ thiết (TVGT, ĐV, NT, TV, LT, TTTH, CTT)- CTT ghi thêm âm ngộ 音遇
牛倨切 ngưu cứ thiết (QV)
魚據反 ngư cứ phản (LKTG)
偶舉切 ngẫu cử thiết (TV, LT)
魚駕切,牙去聲 ngư giá thiết, nha khứ thanh (TV)
五駕切,牙去聲 ngũ giá thiết, nha khứ thanh (TVi)
...v.v...

Các giọng địa phương TQ như Quảng Đông jyu6 ngaa6 so với Hẹ/Triều Châu ngi4/ngi6, yi4, gni6 - giọng BK bây giờ là yú.
Ngự bộ xích có nhiều nghĩa hơn so với ngư bộ mã: như điều khiển xe ngựa, tiến dâng, nghênh đón, cai trị ... (động từ) so với người đánh xe, người hầu … (danh từ). Chữ ngự bộ xích hiện diện trong Luận Ngữ, Vi Chánh 《論語·為政》, Mạnh Tử/Đằng Văn Công Hạ 《孟子·滕文公下》, Lễ Ký/Truy Y 《禮記·緇衣》, Tuân Tử/Đại Lược 《荀子·大略》, Thuyết Uyển/Tu Văn 說苑·脩文》 ...v.v...


Kim văn/Tiểu triện/Khải thể của chữ ngự bộ xích

Một dạng âm cổ phục nguyên của ngự là *ngioh hay *ŋĭo dựa vào các âm đọc địa phương (còn bảo lưu âm cổ) và âm Hán Việt (phiên thiết).

5. Chữ hiếm ngũ (Unicode 4B8F) từng được Tập Vận, Loại Thiên ghi là tên gọi ngựa - đây có thể là tàn tích của âm *ŋux (nghĩa là con ngựa) đã nhập vào tiếng Hán, nhưng không được dùng vì danh từ mã (gốc Hán Tạng) đã có! Chỉ có dạng Ngọ (trong tên 12 con giáp) vẫn còn tồn tại vì liên hệ đến tín ngưỡng dân gian, cũng như dùng trong phép tính thời gian. Chữ có các cách đọc theo phiên thiết

訛湖切 ngoa hồ thiết (LT) - có tài liệu (CTT) ghi vần hồ là (xem bảng chụp), âm ngũ 音五
五乎切 ngũ hô thiết (TVi, TTTH)
...v.v...

Giọng Quảng Đông là ng4/ng6 so với giọng BK bây giờ là wú.


 Tập Vận                     Loại Thiên


Có khoảng 30 tên gọi ngựa được KH ghi nhận (mã danh). Trong các danh từ thu lượm từ các nơi, ta có thể tìm gặp vết tích của một số tiếng địa phương4 (hay ngoại quốc nhập vào tiếng Hán) mà ít người biết đến. Các tiếng chỉ ngựa liên hệ là ngia4 (tiếng Rục, Thà Vựng, Cuối, Mường), măngơ (Maleng kari, brô), ŋa/ka (tiếng Lê ở đảo Hải Nam), ngua (tiếng Nam Kelao), niau (tiếng Bắc Kelao), ngo (tiếng Lati): ta có cơ sở vững chắc để phục nguyên một dạng âm cổ5 của ngựa là *ŋux. Chính dạng này đã được kí âm gần đúng bằng tiếng Hán ngọ/ngũ trong tên gọi 12 con giáp, người Hán không hiểu tương quan giữa ngựa và Ngọ vì danh từ ngựa không nằm trong ngôn ngữ chính thống của họ (mã); vì thế họ còn dùng từ kép Ngọ mã 午馬 để cho dễ hiểu hơn!

6. Phụ chú và phê bình thêm
Phần này không hoàn toàn theo cách ghi tài liệu (Bibliography) tham khảo APA hay MLA vì bao gồm các phê bình thêm về đề tài, tài liệu và tác giả để người đọc có thể tra cứu thêm chi tiết và chính xác. Loạt bài "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp" (cùng tác giả) đã có một số đăng trong Kỉ Yếu Hội Thảo Ngôn Ngữ Học, Việt Nam Học và các trang mạng văn hoá như vanchuongviet.org, khoahocnet.com, e-cadao.com ....v.v... Bạn đọc có thể tham khảo thêm từ các nguồn tài liệu trên, cùng với hai bài viết liên hệ đến phần này là "Chữ Ngọ, từ sợi dây cương đến con ngựa" của An Chi (đăng lần đầu tiên trên "Kiến Thức ngày nay" số 413 Xuân Nhâm Ngọ 2002) và bài "Le cycle des douze animaux: histoire d'un contact ancien entre Vietnam et Cambodge" của Michel Ferlus (Hội thảo Ngôn Ngữ Học - the sixth International Symposium on Pan-Asiatic Linguistics - Hà Nội 25-26 November 2004).

QinShiHuangterracottahorses
Tượng binh mã 兵馬俑 của Tần Thuỷ Hoàng (221 TCN) ở Tây An, Thiểm Tây TQ; trích từ bài viết "Timeline of the Development of the Horse" tác giả Berverley Davis đăng trên trang Sino-Platonic Papers 8/2007. Tác giả đề nghị ngựa nhập vào TQ khoảng 1200 đến 900 TCN và mã tiếng Hán có thể liên hệ đến mare (ngựa cái, tiếng Anh), mark (người cưỡi ngựa, tiếng Ái Nhĩ Lan) và maal (ngựa làm việc/workhorse, tiếng Ba Tư). Xem toàn bài trang này  http://www.sino-platonic.org/complete/spp177_horses.html

1) Nguyễn Cung Thông, 2009 "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)" - xem toàn bài trang này http://newvietart.com/Ngo-Ngu-Ngua-1.pdf
2) Benedict, Paul K. 1975 "Austro-Thai, Language and Culture. With a Glossary of Roots" NXB HRAF Press (New Haven, Connecticut - Mỹ). Tác giả là một trong những học giả tiên phong đề nghị nguồn gốc phi-Hán của một số thành phần văn hoá ngôn ngữ Trung Quốc: như số đếm lớn hơn 100 (vạn, triệu ...), tên 12 con giáp, tên một số loài cây như chuối, dừa ...v.v... Benedict cũng đưa ra nhận xét là tiếng Lê (Hải Nam) ŋa (ngựa) còn có nghĩa là mở (mở miệng, mở cửa, mở mắt ...) - theo người viết (NCT), điều này còn tương ứng với ngửa và ngỏ tiếng Việt (ngửa mặt, ngửa tay ... ngỏ lời/mở lời). Theo Benedict, có thể mở (ngửa) chân ra để cưỡi ngựa liên hệ đến tên gọi loài vật này hay ngựa (trang 289-290, sđd).
3) theo học giả An Chi/AC (2000), và dựa vào Vương Lực (1948), thì danh từ ngựa có gốc là động từ ngự: từ 'giữ ngựa' chuyển thành 'con vật được chăn giữ'. Thật ra khuynh hướng ngược lại mới thường xẩy ra hơn (tự nhiên hơn, vì ngựa hiện diện trước các dụng cụ liên hệ như yên ngựa, dây cương ...). Hãy xem các từ chỉ dây cương trong vốn từ Hán:

Đích bộ cách
bộ cách
Không bộ cách (cũng là cái dàm)
Huyễn bộ cách (cũng là đao)
Cách bộ cách
Điêu bộ cách
Cương bộ cách
...
Cương bộ mịch
Tiết  bộ mịch (cũng là dây trói buộc) - hay còn viết là
Nhĩ  bộ mịch
...
bộ xa
Nạp bộ xa
...v.v…
Tất cả các danh từ chỉ dây cương trên không có từ nào chuyển nghĩa theo hoán dụ để chỉ con ngựa theo cách lý giải của AC! Vấn đề có lẽ thấy rõ hơn khi ta xem lại cách dùng của bộ mã trong quá trình cấu tạo chữ Hán. Tuấn 駿 nghĩa nguyên thuỷ là con ngựa tốt, mở rộng nghĩa để chỉ phẩm chất tài giỏi, trí tuệ vượt bực và thông với tuấn bộ nhân . Khảo sát tâm lý loài ngựa cho thấy chúng rất dễ bị hoảng sợ khi thấy một vật gì hay sự việc gì không bình thường: đây là hiện tượng fight or flight trong Sinh học - tạm dịch "là chống hoặc bỏ chạy"/phản ứng stress cấp tính. Đây là một lý do mà chữ hãi (sợ hãi) được viết bằng bộ mã hợp với chữ Hợi (hãi) hài thanh , sau này mở rộng nghĩa để chỉ trạng thái sợ hãi một cách tổng quát. Chữ kinh (kinh hãi) cũng viết bằng bộ mã , sau này viết bằng bộ tâm (giản thể, cho rõ nghĩa hơn). Chữ kiêu (kiêu ngạo) cũng viết bằng bộ mã ...
4) Các tài liệu cổ TQ ghi lại âm đắc/đức chỉ nước (nác) là chữ hiếm với tần số dùng là 161 trên 171894734; Ngọc Thiên ghi cách đọc 淂勒切 đô lặc thiết (đắc) - 水也 thuỷ dã, so với 都則切 đô tắc thiết (QV), 的則切,音德 đích tắc thiết, âm đức (TV, LT), 多則切,音德 đa tắc thiết, âm đức (TVi, CTT), 丁力切,音滴 đinh lực thiết, âm tích/trích (QV). Đắc HV còn trở thành được trong tiếng Việt, tương ứng với quá trình (đák) nác trở thành nước. Trần Cương Trung (thế kỷ XIII) còn ghi âm nước là lược (Sứ Giao Châu tập). Nghĩa nguyên thuỷ nước (chất lỏng) của đắc/đức trong các tài liệu TQ sau này đã tiếp biến để trở thành ‘thuỷ mạo’ (óng ánh hay long lanh như mặt nước/QV/LT/TVi) hay ‘thuỷ danh’ (tên sông/TV) để người Hán có thể hiểu được! CTT còn ghi là không nên dùng tục tự này cho chữ đắc   (dị thể). Dạng nác (nước) còn được duy trì trong các tiếng địa phương VN như Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá (cd. khôn ăn nác, dại ăn xác) ... So với dạng dak3 (Mường Bi, Nguồn), dak2 (Chứt), tik/tưk (Khme), dak (Môn, Rơngao, Sakai, Biat), đek/đak (Mnông), đaq (Tà Ôi, Chơro, Kơho) ...v.v... Một số địa danh, sông ngòi cũng dùng *đak (nước) cho thấy rõ ràng âm này đến từ phương Nam (so sánh với giang - *krong/krung - sông). Đây là một đề tài rất thú vị nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này.
Ngọc Thiên  Long Kham Thủ GiámQuảng Vận


5) Một dạng âm cổ phục nguyên của Ngọ là *zŋagx theo GS William G. Boltz (bài viết "The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" đăng trong cuốn "Studies in the Historical Phonology of Asian Languages" NXB John Benjamins, 1991). Dạng này có thể giải thích các dạng sa-nga (tiếng Lü) Một dạng âm cổ phục nguyên của Ngọ là *zŋagx theo GS William G. Boltz (bài viết "The Old Chinese Terrestrial Rames in Saek" đăng trong cuốn "Studies in the Historical Phonology of Asian Languages" NXB John Benjamins, 1991). Dạng này có thể giải thích các dạng sa-nga (tiếng Lu), shi-nga (tiếng Ahom)... Một dạng âm cổ phục nguyên của ngựa là *m-ŋɨa? (theo Michel Ferlus, 2004 - bài viết đã dẫn phần đầu); dạng phục nguyên này rất khó giải thích các âm sa3, sa4 của tiếng Dioi và Pu yi được Jerry Norman ghi nhận (bài viết "A note on the origin of the Chinese Đuoenary cycle" đăng trong cuốn "Linguistics of the Sino-Tibetan area - state of the art" Pacific Linguistics, Series C No. 87 - 1985).

CON NGỰA TRONG NỀN VĂN HÓA TRUNG QUỐC

Hiếu Trang Văn Thái hoàng Thái hậu là mẹ của Vua Thế Tổ Thuận Trị nhà Mãn Thanh, và là bà nội của Vua Thánh Tổ Khang Hi. Bà là người đã trực tiếp dạy dỗ Vua Khang Hi từ khi ông còn bé. Mặc dù họ là người Mãn tộc và là dân tộc đi thống trị, bà vẫn khuyến khích nhà Vua trong việc học tập để hấp thu những tinh hoa của Văn hóa Hán tộc, bởi vì bản thân bà cũng rất chuộng Văn hóa của người Hán, là dân tộc bị trị. Trước khi mất, Thái hậu dặn dò nhà Vua rằng: “Tổ tiên chúng ta ngồi trên lưng ngựa mà lấy được thiên hạ, cho nên phải nhất thiết coi trọng việc võ bị. Nhưng muốn giữ được thiên hạ thì phải chăm lo việc chính sự và noi theo đạo đức của thánh hiền”. Ở đây, khi nhắc đến cái công nghiệp khai quốc to lớn của triều đại Mãn Thanh, bà Thái hậu Hiếu Trang đã đề cao hai yếu tố: thứ nhất là “tổ tiên chúng ta”, và thứ hai là “ngồi trên lưng ngựa”.
Nhìn vào Lịch sử Trung Quốc, chúng ta thấy hầu hết các vị Hoàng đế khởi nghiệp của các triều đại lớn như Hán Cao Tổ Lưu Bang, Đường Cao Tổ Lý Uyển và Đường Thái Tông Lý Thế Dân, như Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn và Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, đều là những bậc anh hùng cái thế. Tất cả những con người ấy đều đã phải trải qua nhiều năm rong ruổi trên lưng ngựa, xông pha lằn tên mũi đạn để đi chinh nam phạt bắc, thống nhất thiên hạ, trung hưng đất nước và lập nên những Triều Đại vô cùng hiển hách. Qua đó, chúng ta thấy con Ngựa đã đóng một vai trò rất quan trọng, vừa mang tính chiến thuật vừa mang tính chiến lược, trong sự hình thành và phát triển của nền Văn minh Trung Quốc.
Ngựa đời Tây Hán (Tượng đất nung – Viện bảo tàng Guimet, Paris)
Con ngựa đã xuất hiện ở Trung Quốc từ bao giờ? Câu hỏi này đã được nêu ra trong một cuộc hội thảo và triển lãm với chuyên đề “Des Hommes et des Chevaux” (tôi tạm dịch là “Người và Ngựa trong nền Văn minh Trung Quốc”) do Viện bảo tàng Mỹ thuật Đông Phương Emile Guimet tổ chức tại Paris (Pháp) vào mùa thu năm 1996. Thực ra không ai trả lời được một cách chính xác, nhưng phần đông các học giả đều đồng ý với nhau rằng con ngựa thuần hóa đã xuất hiện ngay từ buổi đầu của thời kỳ đồ đá ở Trung Quốc cách chúng ta đã hơn 4 nghìn năm, nghĩa là vào đầu thời kỳ Tam Đại theo cách nhìn của các sử gia Trung Quốc.
Ở Trung Quốc từ xưa đã có 3 giống ngựa chính. Giống thứ nhất là giống Hoa Hạ, còn gọi là con ngựa thuần Hán, gốc ở vùng Tây Nam Trung Quốc, thuộc tỉnh Tứ Xuyên hiện nay. Loại ngựa này tuy nhỏ con nhưng thân hình cân đối, cổ và chân thon gọn, rất nhanh nhẹn và có sức chịu đựng bền bỉ. Giống ngựa thuần Hán này vốn đã được sử dụng rộng rãi trên đất Trung Nguyên từ các đời Thương, Chu qua đến Tần, Hán. Khi đến Tây An và đi thăm lăng mộ của Tần Thủy Hoàng, chúng ta nhìn thấy ở dưới các hầm tùy táng hàng trăm con ngựa bằng đất nung thuộc giống Hoa Hạ này đứng xếp hàng cùng với hàng nghìn chiến binh trong đội quân bách chiến bách thắng của vị Hoàng đế nhà Tần. Người ta còn trưng bày cho du khách xem hai chiếc xe của Tần Thủy Hoàng, một xe mùa hè và một xe mùa đông, đều do loại ngựa này kéo. Trong các lăng mộ nhà Hán được khai quật gần đây ở trong vùng Thiểm-Cam-Ninh, các nhà khảo cổ còn tìm thấy rất nhiều tượng ngựa bằng đồng hoặc bằng đất nung, cũng như rất nhiều tranh bích họa vẽ ngựa, với thần khí linh hoạt, bay bổng. Tất cả những con ngựa ấy đều thuộc giống thuần Hán nói trên.
Ngựa của giới quý tộc Bắc Tề (Tranh của Dương Tử Hoa [TK thứ 5] – Viện bảo tàng Mỹ-thuật Boston)
Giống ngựa thứ hai là giống Kazakh-Fergana, gốc ở miền Tây Bắc Trung Quốc, thuộc hai tỉnh Cam Túc và Tân Cương. Nhưng “nguyên quán” thật sự của chúng là ở tận vùng thảo nguyên Trung-Á, phía bắc dãy núi Altai, thuộc các nước Kazakhstan, Uzbekistan và Tajikistan hiện nay. Nhiều học giả tin rằng giống ngựa Kazakh này đã du nhập vào đất Trung Nguyên của người Hán bằng “Con đường Tơ lụa” nổi tiếng do các Vua nhà Tây Hán mở ra từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên để thông thương và giao lưu văn hóa với thế giới Phương Tây. Con ngựa Kazakh người thấp lùn mà lưng dài, chân thì ngắn, cổ to khỏe với bờm cổ rất dài, đầu to, trán rộng và đôi mắt xếch (!), tuy không nhanh nhẹn nhưng sức rất dẻo dai. Giống ngựa này được sử dụng rộng rãi từ đời Ngụy-Tấn, qua các đời Tùy-Đường cho đến hết thời kỳ Ngũ Đại. Những vị nào đã đi thăm Trung Quốc với tôi chắc vẫn còn nhớ hình ảnh của những con ngựa tạc bằng đá, có dáng thấp lùn và chân rất ngắn, đứng chầu ở hai bên đường linh đạo dẫn đến cửa Càn Lăng, nơi hợp táng của Vua Đường Cao Tông và bà vợ khét tiếng của ông là Võ Tắc Thiên. Những con ngựa “giữ cửa” ở Càn Lăng ấy chính là giống ngựa Kazakh-Ferghana nổi tiếng, mà tôi đã có dịp giải thích cho quý vị nghe tại chỗ về lai lịch và vai trò của nó trong nền Văn hóa rực rỡ của triều đại nhà Đường.
Trong lịch sử nghành chăn nuôi của nhân loại, hầu hết các loại gia súc đều trải qua hai giai đoạn phát triển để thâm nhập vào đời sống xã hội loài người: giai đoạn thứ nhất là khi chúng được con người thuần hóa, và giai đoạn thứ hai là khi chúng được lai tạo để cải thiện giống. Con ngựa ở Trung Quốc cũng không thoát khỏi cái quy luật ấy, và trong suốt nhiều thế hệ, hai giống ngựa Hoa Hạ và Kazakh đã được người Hán cho lai tạo với nhau, với mục đích tạo nên một giống ngựa mới khỏe mạnh hơn và nhanh nhẹn hơn, với sức chịu đựng bền bỉ hơn, nhằm sử dụng chúng trong nông nghiệp, trong vận tải, cũng như trong chiến tranh. Đặc biệt là trong chiến tranh, bởi vì lịch sử Trung Quốc, nhìn dưới một góc độ nhất định, là lịch sử của những cuộc chiến tranh triền miên. Giai cấp quý tộc nhà Đường, đặc biệt các bà trong giới phi tần, rất ưa chuộng giống ngựa lai này. Tại hai kinh đô Trường An và Lạc Dương, chúng được sử dụng làm phương tiện di chuyển trong các sinh hoạt Cung đình, từ nghi lễ cho đến giải trí và thể thao.
Trong chúng ta không ai là không từng ít nhiều nghe kể về Đệ nhất Đại-mỹ-nhân Dương Quý Phi, người đàn bà đã làm nghiêng ngửa triều đại nhà Đường. Bà quý phi họ “dê” này nổi tiếng trước hết là nhờ vào sắc đẹp “khuynh quốc khuynh thành” (“nghiêng nước đổ thành”) của bà, nhưng bà còn nổi tiếng do tính khí rất bất thường, thí dụ như cái bệnh đỏng đảnh hay làm nũng với ông chồng bà là Vua Đường Minh Hoàng. Hàng năm cứ đến cuối mùa xuân là bà lại lên cơn thèm ăn trái lệ chi (vải). Mà nhất định đòi cho bằng được giống vải Lĩnh Nam trái to, cùi dày, nhiều nước, vừa chua vừa ngọt trồng ở Quảng Châu thì mới chịu! Và trái vải đem về phải tươi nguyên và vừa chín tới thì mới chịu! Tội cho ông chồng già si tình của bà phải cho lập một hệ thống vận chuyển hỏa tốc đường dài, gọi là “đường giây cống vải”, sử dụng toàn ngựa tốt, giống ngựa lai Hán-Kazakh khỏe mạnh và dẻo dai, để đem trái vải tươi từ Quảng Châu trong miền Hoa Nam xa xôi về tận kinh đô Trường An cho bà quý phi vừa đồng bóng vừa tai ác của ông. Những binh phu phải ngồi ngựa phi nước đại suốt ngày đêm không ngừng nghỉ, đến mỗi trạm thì đổi cả người lẫn ngựa để chạy tiếp, làm sao để bảo đảm rằng vải Lĩnh Nam khi về đến Trường An vẫn còn tươi nguyên như vừa mới hái trên cây xuống! Và mặc dù người ta tuyển chọn toàn ngựa tốt để hàng năm chạy cống vải cho Dương Quý Phi, nhưng vẫn có những con ngựa không chịu nổi lối chạy tiếp sức đường dài này nên kiệt sức lăn ra chết ở dọc đường. Nhà thơ Đỗ Mục thời Vãn Đường, khoảng gần một thế kỷ sau khi Dương Quý Phi mất, đã làm câu thơ trách móc cái thói đỏng đảnh của bà: “nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu”, ý nói là bao nhiêu gió bụi từ vó ngựa rong ruổi chỉ cốt để đổi lấy nụ cười của bậc phi tử! Ai bảo đẹp như Dương Quý Phi là “đẹp chết người”, chứ riêng tôi thì tôi thấy sắc đẹp ấy rõ ràng là thứ sắc đẹp chết ngựa!
Ngựa Kazakh, trong tỉnh Tân Cương, Trung Quốc (Ảnh của tác giả, 2003)
Giống thứ ba là giống ngựa Mông Cổ, gốc ở vùng phía Bắc và Đông Bắc Trung Quốc, thuộc các tỉnh Nội Mông và Hắc Long Giang hiện nay. Giống ngựa này vốn xuất phát từ miền thảo nguyên rộng lớn mênh mông của Mông Cổ, nơi có khí hậu và môi trường sinh thái vô cùng khắc nghiệt. Chính các yếu tố ấy đã hun đúc nên những đặc tính ưu việt của chúng. Con ngựa Mông Cổ, tuy không phải là giống ngựa lớn, nhưng có hình thể khỏe mạnh và vóc dáng quý phái. Thân của nó hơi ngắn, vai và ngực rộng, bụng thóp, cổ lớn, hàm vuông, bốn chân thon dài, lưng và dùi nổi bật những bắp thịt vạm vỡ và rắn chắc. Tôi cho rằng đây là giống ngựa đẹp nhất trên thế giới. Người Mông Cổ, sau đó là người Mãn tộc đã thuần hóa giống ngựa này ngay từ buổi đầu của xã hội Công xã-Thị tộc mà họ xây dựng. Những chiến công hiển hách của họ vào những thời kỳ mà họ tràn xuống phương nam và lấn chiếm đất đai của người Hán chủ yếu là nhờ vào tính cơ động của giống ngựa Mông Cổ này. Khi bà Thái hậu Hiếu Trang Văn mẹ Vua Thuận Trị nhà Mãn Thanh trối trăn với cháu bà là Vua Khang Hi rằng “Tổ tiên chúng ta từng ngồi trên lưng ngựa mà lấy được thiên hạ...”, thì chính là bà nhắc đến giống ngựa Mông Cổ nói trên.
Ngựa đời Sơ Đường (Tượng gốm – Sưu tập tư nhân, Hong Kong)
Từ các đời Tần-Hán đến các đời Tùy-Đường, người Trung Quốc chưa sử dụng giống ngựa Mông Cổ là bởi vì lúc ấy họ chưa biết đến giống ngựa này. Chúng chỉ bắt đầu du nhập vào đất Trung Nguyên cùng với đoàn quân viễn chinh của người Kim, khi nhà Kim đánh nhà Tống vào đầu thế kỷ thứ 12 (người Kim thuộc Tộc Nữ Chân, một tộc người Mãn). Ngựa Mông Cổ là giống ngựa chiến rất hung hãn, cho nên chúng đã góp một phần công trạng không nhỏ trong việc người Kim chiến thắng nhà Bắc Tống và chiếm được một nửa nước Trung Hoa. Về sau, cũng chính giống ngựa này đã giúp người Mông Cổ diệt cả Kim lẫn Nam Tống để xây dựng đế quốc Nguyên Mông và thống trị Trung Quốc trong gần một thế kỷ (1280-1368). Khi con cháu của Thành Cát Tư Hãn vào cai trị Trung Quốc, họ đã tịch biên đất đai canh tác của người Hán và khoanh vùng tổ chức chăn nuôi các loại gia súc, trong đó việc chăn nuôi ngựa được họ đặc biệt coi trọng và nâng lên hàng quốc sách. Việc làm thất nhân tâm này khiến cho người Hán càng tăng thêm lòng oán ghét đối với chế độ thống trị Nguyên Mông, nhưng mặt khác nó đã giúp cho giống ngựa Mông Cổ có cơ hội phát triển rất mạnh và dần dần được lai tạo với các giống ngựa khác ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, nếu bảo rằng con ngựa Mông Cổ chỉ mới du nhập vào đất Trung Nguyên từ thế kỷ thứ 12 với những cuộc chiến tranh xâm lược của người Kim, thì trước đó 700 năm, vào thời kỳ Nam Bắc Triều, khi các dân tộc du mục ở phía Bắc sa mạc Gobi tràn xuống xâm chiếm vùng Hoa Bắc và thiết lập những nhà nước phong kiến hùng mạnh, trong số đó có các nhà Bắc Ngụy và Bắc Tề, thì họ đã sử dụng giống ngựa gì để tiến hành những cuộc chiến tranh của họ? Câu trả lời, theo thiển ý của tôi, là những bộ tộc du mục ấy đã sử dụng giống ngựa Kazakh, hoặc giống ngựa lai Kazakh và Mông Cổ. Sở dĩ tôi nghĩ như vậy là do tôi căn cứ vào các di chỉ khảo cổ mà Trung Quốc đã tìm thấy trong các cuộc khai quật tiến hành trong thập niên 1970. Trong các lăng mộ của giới quý tộc Bắc Ngụy và Bắc Tề người ta tìm thấy rất nhiều tượng ngựa bằng đất nung, hầu hết đều được thắng yên cương đầy đủ, với hình dáng thấp lùn và lưng dài chân ngắn, đặc trưng cho chủng loại Kazakh-Fergana. Hơn nữa, cho dù giống ngựa thuần Mông Cổ đã được các bộ tộc du mục đưa vào vùng lưu vực sông Hoàng Hà từ trước thế kỷ thứ 5 thì thực ra sau đó nó cũng chưa được người Hán ưa chuộng và sử dụng một cách phổ biến, kể cả sau khi nhà Tùy diệt nhà Bắc Chu và tái thống nhất Trung Quốc vào cuối thế kỷ thứ 6, một phần do tâm lý tự tôn và kỳ thị của người Hán đối với các dân tộc du mục ở phương Bắc, phần khác do họ chưa nhìn thấy tính ưu việt của giống ngựa Mông Cổ.
Ngựa đời Bắc Ngụy (Tượng đất nung – Sưu tập tư nhân, Hong Kong)
Trong những chuyến du lịch thăm Trung Quốc, nhiều người thường hỏi tôi: “Ngày xưa, ở Trung Quốc người ta tiến hành các cuộc chiến tranh như thế nào?”. Câu hỏi này khiến tôi nghĩ ngay đến vai trò của con ngựa trong lịch sử chiến tranh của Trung Quốc. Vào thời cổ đại, người ta dùng những cỗ xe bốn ngựa kéo để đi đánh nhau. Quân đội dùng những cỗ chiến xa này làm đoàn quân chủ lực, gọi là “Xa binh”, trong khi Bộ binh chỉ đóng vai trò yểm trợ. Xa binh mà mạnh và phối hợp tác chiến tốt là có thể thắng luôn cả trận đánh, có khi thắng luôn cả một cuộc chiến tranh. Tôi đọc sách Giản Truyện thì thấy kể rằng: Vua Thành Thang chỉ dùng “bẩy mươi cỗ xe tốt” mà thắng được người Hạ, và tiêu diệt luôn nhà Hạ để lập nhà Thương. Còn đọc trong Tả Truyện thì, khi nói về mấy cuộc chiến tranh lớn thời Xuân Thu, thấy chép rằng: “Chiến xa không hơn ngàn cỗ, đánh nhau không quá một ngày” là chiến trận đã kết thúc, thắng bại đã rõ ràng. Về sau, đến đời Chiến Quốc người ta mới thấy xuất hiện Kỵ binh, tức là người lính ngồi hẳn trên lưng ngựa để đi đánh nhau. Và vào năm 307 trước Công Nguyên, vua Vũ Linh Vương của nước Triệu là người đầu tiên trong lịch sử chiến tranh ở Trung Quốc đã tổ chức và phiên chế quân đội thành nhiều binh chủng khác nhau, trong đó có Xa binh, Kỵ binh và Bộ binh, lấy Kỵ binh làm quân chủ lực. Phiên chế này đã được Tần Thủy Hoàng sử dụng để tiến hành cuộc chiến tranh thống nhất Trung Quốc và lập nên nhà Tần. Đến Tây An, khi đi thăm các hầm tùy táng trong lăng mộ của vị Hoàng đế nhà Tần, do có điều kiện minh họa tại chỗ, tôi thường kể chuyện một cách chi tiết hơn cho khách hàng của tôi về đề tài “Văn minh Trung Quốc, văn minh của những cuộc chiến tranh”.
Bây giờ xin bàn đôi chút về con ngựa trong Hội họa Trung Quốc. Trong Mỹ thuật Tạo hình của thế giới nói chung, Hội họa Trung Quốc có một chỗ đứng rất riêng biệt, và là một trường phái mỹ thuật độc đáo và đặc thù. Đối với các họa sĩ Trung Quốc, vẽ ngựa là một trong những đề tài khó nhất, khó hơn cả vẽ Sơn Thủy tức là vẽ cảnh thiên nhiên sông núi, vẽ Hoa Điểu tức là vẽ các loại chim và hoa, và vẽ Nhân Vật tức là vẽ người. Do đó mà, nếu chỉ tính từ đời Đông Tấn, tức là từ thế kỷ thứ 4, khi xuất hiện họa phẩm đầu tiên vẽ trên giấy và lụa cho đến đầu thế kỷ thứ 20, thì trong hơn 1,500 năm ấy, người ta chỉ đếm được trên đầu ngón tay những họa sĩ vẽ tranh ngựa xuất sắc, với những tác phẩm được xem là kiệt tác trong nền Quốc họa của Trung Quốc.
Con “thần mã” của vua Đường Minh Hoàng (Tranh của Hàn Cán [TK thứ 8] – Viện bảo tàng Mỹ-thuật New York)
Người đầu tiên không thể không nhắc tới, đó là Hàn Cán (706-783). Họ Hàn sống ở Trường An, và là họa sĩ cung đình dưới thời trị vì của vua Đường Huyền Tông. Ông đã để lại hai bức tranh ngựa nổi tiếng. Trong bức thứ nhất họ Hàn vẽ một đôi ngựa, một con trắng một con đen, trên lưng con trắng có một người đàn ông ngồi, tay cầm cương đang ghì chặt con ngựa đen đứng sát bên cạnh. Đôi ngựa này trông hiền lành và thông minh, và nhìn vào cách buộc và trang sức yên cương thì có thể đoán rằng đây là đôi ngựa của giới quý tộc thời Thịnh Đường. Bức tranh thứ hai ông vẽ con Thần mã của Vua Đường Minh Hoàng, và có thể gọi bức tranh ngựa này là một kiệt tác xưa nay chưa từng có đối thủ trong Hội họa Trung Quốc. Trong bức tranh mang tên “Chiếu dạ bạch đồ” này, người ta thấy con Thần mã quả là không hổ danh với cái tên gọi của nó: dáng của nó gọn gàng và vạm vỡ, tuy bị cột chặt vào một chiếc cọc nhưng nó vẫn lồng lên như muốn quẫy thoát, đôi mắt trợn ngược giận dữ, đầy khí thế. Con ngựa trắng dũng mãnh này quả không hổ danh với cái tên gọi “thần mã”, và có lẽ nó vốn được yêu chuộng nhất trong chuồng ngựa hơn bẩy trăm con của vua Đường Huyền Tông.
Mỗi khi đến Tây An tôi thường đưa khách hàng của tôi đi xem bức tranh (phiên bản) “Quắc Quốc phu nhân du xuân đồ”, vẽ cảnh Quắc Quốc và Hàn Quốc Phu nhân cùng các cung nhân và thị nữ cưỡi ngựa đi chơi dã ngoại vào mùa xuân ở bên ngoài thành Trường An. Hai bà này là hai bà chị ruột của Dương Quý Phi, và đồng thời cũng là Phi tần được Vua Đường Huyền Tông sủng ái. Trong bức tranh này chúng ta nhìn thấy bao nhiêu người thì có bấy nhiêu ngựa, cả người lẫn ngựa đều phục sức và được trang sức hết sức sang trọng, nhìn vào đó chúng ta có thể mường tượng được phần nào nếp sinh hoạt cự kỳ xa hoa hưởng lạc của giới quý tộc thời Thịnh Đường. Cương ngựa thì bằng bạc hoặc vàng có nạm ngọc, yên ngựa thì được bọc gấm thục tố nhiều màu và thêu thùa cầu kỳ, bờm ngựa được thắt thành ba chùm có trang sức gọi là Tam-hoa, còn đuôi ngựa thì được tết thành bím chung với những sợi tơ óng ả nhiều màu, có khi được cột lại phía dưới như kiểu búi tó. Tương truyền rằng nguyên bản của tranh này do Trương Huyên (713-755) vẽ vào thời kỳ Thịnh Đường, về sau được vua Huy Tông nhà Tống vẽ lại (tôi không rõ bản được lưu giữ tại Viện bảo tàng Liêu Ninh là tranh gốc của Trương Huyên hay là phiên bản của Tống Huy Tông).
Một họa phẩm nổi tiếng khác là của họa gia Tiền Tuyển đời Nguyên, vẽ cảnh Dương Quý Phi tập cưỡi ngựa. Trong bức tranh này người ta thấy bà sủng phi của vua Đường Minh Hoàng đang được hoạn quan Cao Lực Sĩ cùng các cung nhân và thị nữ đỡ lên ngựa. Họ Tiền vẽ Dương Quý Phi chẳng những mát da mát thịt - như từng được mô tả trong bài thơ “Trường Hận Ca” nổi tiếng của Bạch Cư Dị - mà còn có phần hơi dềnh dàng và nặng nề, phải chăng vì thế mà trong tranh người ta thấy bà trèo lên lưng ngựa một cách hết sức khó nhọc. Mà con ngựa dành cho bà cưỡi cũng tròn trịa béo tốt không khác gì nữ chủ nhân của nó!
Quắc Quốc và Hàn Quốc phu nhân đi dã ngoại mùa xuân (Tranh của Tống Huy Tông [TK thứ 12]
vẽ dựa theo tranh gốc của Trương Huyên [TK thứ 8] – Viện bảo tàng tỉnh Liêu Ninh)
Đời nhà Thanh thì có họa sĩ cung đình là Lương Thế Ninh (1688-1766) vẽ tranh ngựa rất đẹp, với đường nét hiện thực và màu sắc sáng tối, hài hòa. Họ Lương vốn là một linh mục dòng Tên người Ý tên thật là Giuseppe Castiglione đến Trung Quốc vào đời vua Ung Chính, có công du nhập hội họa Ý vào Trung Quốc, và do biết cách kết hợp một cách tài tình hai trường phái hội họa Đông và Tây nên được vua Càn Long nhà Mãn Thanh trọng dụng và đặc biệt sủng ái. Trong số rất nhiều tranh với thể loại đa dạng (sơn thủy, hoa điểu, nhân vật) do ông sáng tác, nổi tiếng nhất là bức tranh lớn “Bách mã đồ” vẽ một trăm con ngựa vô cùng sinh động, hiện được trưng bày tại Cố Cung Bảo tàng viện ở Đài Loan. Bất cứ ai yêu tranh ngựa đều không thể không thưởng lãm họa phẩm kiệt tác này. Trong tranh, Castiglione vẽ ngựa giống như vẽ chân dung người, bao nhiêu con ngựa là bấy nhiêu tính cách khác nhau, con đứng, con ngồi, con đang chạy, con lội qua sông…, hình tướng, màu sắc và thần thái đều khác nhau.
Ngựa (Tranh của Lương Thế Ninh – Cố Cung Bảo tàng viện, Bắc Kinh)
Sang đến nửa đầu thế kỷ 20 lại có Từ Bi Hồng (1895-1953) vẽ ngựa bằng mực tàu với lối phóng bút điêu luyện, nét mạnh mẽ phóng khoáng đầy thần thái, khiến cho ngựa của ông vẽ dường như lúc nào cũng như muốn bay ra khỏi tranh. Nhìn ngựa trong tranh của họ Từ, chúng ta hiểu ngay tại sao trong chữ Hán và ngay cả trong tiếng Việt người ta không bảo ngựa chạy mà lại nói ngựa bay (phi)!
Cách đây không lâu, trong chuyến du lịch thăm Trung Quốc vào mùa xuân và trên đường đi Mã Ngôi Pha để thăm nấm mộ bên đường của Dương Quý Phi, khi tôi chỉ cho các du khách thấy cảnh tượng của những người nông dân dùng những con ngựa lùn với chân ngắn để tải nông phẩm và hàng hóa vừa nặng nề vừa cồng kềnh, nhiều người trong đoàn đã lấy làm ngạc nhiên một cách thích thú. Cũng chính giống ngựa ấy đã được ông Mao Trạch Đông và những người cộng sản Trung Quốc dùng làm phương tiện di chuyển và chuyên chở trong chiến khu Diên An ở vùng Thiểm Bắc, vào thời kỳ khốc liệt của cuộc đấu tranh Quốc-Cộng.
Ngựa (Tranh của Từ Bi Hồng – Viện bảo tàng Mỹ-thuật Boston)
Con ngựa đã đóng một vai trò rất lớn trong Lịch sử và Văn minh Trung Quốc, và thông qua hình ảnh quen thuộc của nó, cũng như nhiều hình ảnh sinh động khác trong nếp sống và sinh hoạt hàng ngày của người dân Trung Quốc, chúng ta có thể hiểu được phần nào hai nét đặc trưng trong nền Văn hóa tuyệt đẹp của đất nước có lịch sử hàng nghìn năm ấy: đó là tính liên tục và tính kế thừa của những giá trị vật chất cũng như tinh thần.
TRẦN CHÍNH.
(California, Jun 1998)

Những con ngựa chiến vang danh nhất hành tinh

Ngựa chiến của Alexander Đại đế, chiến mã của Hoàng đế Napoleon hay ngựa gỗ thành Troy nổi tiếng khắp thế giới bởi sự góp mặt của chúng trong những sự kiện lịch sử lẫy lừng.

Theo thần thoại Hy Lạp, con ngựa gỗ góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân Hy Lạp ở thành Troy sau 10 năm vây hãm không hiệu quả. Khi sức mạnh quân sự không thể khuất phục, quân Hy Lạp tháo dỡ tàu chiến, dựng thành một con ngựa khổng lồ bằng gỗ rỗng ruột. Trước khi rút lui, quân Hy Lạp để lại con ngựa gỗ cùng một người có nhiệm vụ đánh lừa binh sĩ thành Troy rằng nó là sự đền bù cho bức tượng bị phá hủy của họ.
Những con ngựa chiến vang danh nhất hành tinh
Ngựa gỗ thành Troy. Ảnh: Wikipedia.
Người ta hồ hởi kéo con ngựa gỗ vào thành mà không biết rằng nó chứa đầy binh lính tinh nhuệ của kẻ thù. Khi quân thành Troy no say sau bữa tiệc chiến thắng, binh sĩ trong bụng ngựa thoát ra ngoài, mở cổng thành để quân Hy Lạp tiến vào đánh chiếm. Thành Troy bị hạ do binh sĩ không kịp trở tay ứng phó.
Bucephalus
Đây là một trong những con ngựa bất kham nhất thời Alexander Đại đế. Không chiến binh nào có thể cưỡi lên mình nó. Khi cha Alexander cho phép ông chọn bất kể con ngựa nào mình muốn, ông đã chọn Bucephalus và thuần hóa nó trở thành con ngựa chiến gắn liền với tên tuổi của mình.
Những con ngựa chiến vang danh nhất hành tinh
Chiến mã Bucephalus cùng Alexander Đại đế. Ảnh: Wikipedia.
Mặc dù những người trước đó không thể cưỡi lên mình Bucephalus nhưng Alexander lại dễ dàng thuần hóa con vật. Ông nhận ra con ngựa sợ cái bóng của chính mình. Để giải quyết vấn đề này, Alexander thường hướng con ngựa về phía mặt trời để nó không hoảng sợ. Sau khi trở thành chiến mã, Bucephalus đã cùng chủ chiếm thành phố Bucephala, một trong những chiến công lẫy lừng của Alexander Đại đế.
Nelson
Nó là chiến mã của George Washington, tổng thống đầu tiên của Mỹ. Con ngựa còn có biệt danh là Old Onzie. Tổng thống Washington mua Nelson năm 1779 và vô cùng yêu quý nó. Ông thích con ngựa này bởi nó khá lì lợm và khó bị kích động bởi âm thanh trận mạc.
Những con ngựa chiến vang danh nhất hành tinh
Nelson, chiến mã của Tổng thống George Washington. Ảnh: Wikipedia.
Con ngựa sát cánh cùng George Washington trong trận chiến ở thung lũng Forge và Yorktown, trận đánh quan trọng nhất trong sự nghiệp cầm quân của ông. Washington đang ngồi trên lưng Nelson khi người Anh đầu hàng. Sau chiến tranh, Nelson và một con ngựa chiến khác của Washington là Blueskin được đưa tới sống ở núi Vernon, nơi chăm sóc thú cưng của tổng thống.
Marengo
Đây là con ngựa chiến nổi tiếng nhất của Hoàng đế Napoleon Bonaparte. Ông đặt tên nó theo địa danh Marengo, nơi Napoleon giành chiến thắng vang dội năm 1800. Nó gắn bó cùng ông trong trận Austerlitz, trận Jena - Auerstedt, trận Wagram và trận Waterloo, trận chiến khép lại sự nghiệp cầm quân lẫy lừng của vị hoàng đế người Pháp. Con ngựa bị thương 8 lần trong những năm tháng ra trận cùng Napoleon.
Những con ngựa chiến vang danh nhất hành tinh
Chiến mã Marengo cùng Hoàng đế Napoleon Bonaparte. Ảnh: Wikipedia.
Sau khi Napoleon bại trận, Marengo bị bắt và bán cho một trung tá người Anh. Con ngựa qua đời vì già yếu năm 1831, khi nó 37 tuổi. Người ta bảo quản gần như toàn bộ bộ xương của con vật và chuyển nó tới trưng bày tại Bảo tàng Quân sự Quốc gia ở Chelsea, London, Vương quốc Anh.
Copenhagen
Đây là tên con chiến mã của Công tước Arthur Wellesley, người dẫn đầu cuộc tấn công chống lại Hoàng đế Napoleon Bonaparte trong trận Waterloo. Copenhagen đưa vị công tước xứ Wellington băng qua làn đạn của quân Pháp, dẫn tới chiến thắng vang dội của quân Anh.
Những con ngựa chiến vang danh nhất hành tinh
Chiến mã Copenhagen. Ảnh: Wikipedia.
Công tước Arthur Wellesley nhận xét, con ngựa Copenhagen rất khéo léo cùng sức chịu đựng dẻo dai. Sau khi chiến tranh kết thúc, người ta coi nó là báu vật quốc gia và đưa về nuôi tại một trang trạng ở London. Những năm cuối đời, Copenhagen bị điếc và mù. Tuy nhiên, con vật vẫn sống tới 27 tuổi. Đích thân Công tước Arthur Wellesley tới giám sát việc chuẩn bị chôn cất con ngựa theo nghi thức danh dự dành cho một quân nhân.