Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Tháng 2/1979: Liên Xô cảnh cáo "Không được đụng đến Việt Nam!"

Tháng 2/1979: Liên Xô cảnh cáo "Không được đụng đến Việt Nam!"

35 năm trước, khi chiến tranh biên giới Việt - Trung nổ ra, Liên Xô đã tỏ rõ là sẽ không ngần ngại áp dụng những biện pháp cao nhất để “khôi phục hòa bình và công lý”.

LTS: Ngày 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam. Quân và dân Việt Nam một lần nữa phải bước vào cuộc chiến bảo vệ chủ quyền. Trong những tháng ngày hào hùng và bi tráng ấy, sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ thế giới, đặc biệt là Liên Xô đã góp phần vào thắng lợi của Việt Nam.

Hôm nay, kỷ niệm 35 năm ngày nổ ra cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, xin trân trọng giới thiệu tới quý độc giả một tài liệu lược thuật từ báo Phòng thủ Đường không và Vũ trụ Nga (VKO), điểm lại những sự giúp đỡ quý báu ấy.

Đầu năm 1979, tại biên giới với Việt Nam, phía Trung Quốc hình thành mặt trận gồm 15 sư đoàn thê đội 1 (*) , 6 sư đoàn dã chiến quân thê đội 2, và 3 sư đoàn dự bị. Tổng quân số cụm quân được động viên để tham chiến chống Việt Nam lên tới 29 sư đoàn…

3h30 ngày 17/2/1979, trên một số hướng, sau 30 -35 phút pháo hỏa chuẩn bị, quân Trung Quốc đã xâm nhập nhập qua 20 đoạn biên giới Trung - Việt vào lãnh thổ Việt Nam.

… Nhưng trước tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Việt Nam, kế hoạch của ban lãnh đạo Bắc Kinh, dùng xung đột quân sự để nhanh chóng đập tan sự kháng cự của quân đội Việt Nam, buộc Việt Nam phải từ bỏ đường lối đối ngoại không lệ thuộc vào Trung Quốc, trước khi Liên Xô kịp can thiệp đã bất thành. Ý đồ của Bắc Kinh đảo ngược tình hình ở Campuchia cũng không đạt được.

Cuộc biểu dương lực lượng hùng hậu của Liên Xô

Trong thời gian từ 12 đến 26/3/1979, nhằm kiên quyết tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc, theo chỉ thị của BCH TW Đảng Cộng sản Liên Xô, các Quân khu biên giới phía Đông (các vùng đất tiếp giáp với Trung Quốc của Liên Bang Xô Viết), tại lãnh thổ Mông Cổ và Hạm đội Thái Bình Dương đã tiến hành tập trận.

 
Hạm đội Thái Bình Dương (Liên Xô) tập trận năm 1979

Tổng cộng đã có 20 sư đoàn binh chủng hợp thành và không quân tham gia, với tổng quân số lên tới hơn 200.000 sĩ quan, chiến sĩ, hơn 2.600 xe tăng, gần 900 máy bay, 80 tàu chiến các loại.

Diễn tập bắt đầu bằng lệnh động viên, và chuyển các đơn vị vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Đã động viên 52.000 quân nhân dự bị, huy động hơn 5.000 xe máy của nông nghiệp sang phục vụ yêu cầu sẵn sàng chiến đấu.

Các cuộc diễn tập quy mô lớn nhất diễn ra trên lãnh thổ Mông Cổ, huy động tới 6 sư đoàn bộ binh cơ giới và sư đoàn tăng, trong đó có 3 sư đoàn được điều động tới Mông Cổ từ Sibir và Zabaikal. Trong khuôn khổ cuộc diễn tập này còn có sự góp mặt gần 3 sư đoàn không quân, 2 lữ đoàn độc lập và một số liên binh đoàn và đơn vị tăng cường.

Cùng lúc, trong các cuộc diễn tập ở Viễn Đông và Đông Kazakhstan (có đường biên giới với Trung Quốc), ngoài các đơn vị cấp sư đoàn trở lên bộ đội hiệp đồng binh chủng, còn có các đơn vị bộ đội biên phòng Liên Xô tham gia.

Tại các vùng có đường biên giới với Trung Quốc, lực lượng Xô Viêt đã diễn tập các phương án tổ chức phòng ngự, đánh trả đội hình tiến công của đối phương, phản kích, và chuyển sang phản công.

Từ lãnh thổ Ukraina và Belorussia, các trung đoàn không quân chiến đấu đã sang triển khai lực lượng tại các sân bay của Mông Cổ.

Đồng thời với các cuộc diễn tập, chỉ trong 2 đêm, các trung đoàn không quân không chỉ từ các quân khu lân cận, mà cả từ vùng Prikarpatia, cũng đã điều động ra phía đông (phía khu vực tiếp giáp hai lục địa Á - Âu).

Các cuộc chuyển quân trên của Không quân Xô Viết không chỉ liên quan đến đội hình chiến đấu cấp trung đoàn, với các phi công được huấn luyện tốt nhất, mà là cuộc di chuyển của toàn trung đoàn, kể cả các đơn vị và phân đội bảo dưỡng kỹ thuật trên không và mặt đất. 5 quân khu đã tham gia tiếp dầu cho cuộc diễn tập này.

Trong tiến trình diễn tập, có những khoảng thời gian trong không trung có tới 10 trung đoàn không quân tuyến 1 (đội hình chiến đấu) hoạt động. Các kíp bay đã bay tổng cộng 5.000 giờ, đã sử dụng tới 1.000 trái bom và tên lửa trong diễn tập bắn đạn thật.

Tại biển Đông, và biển Hoa Đông, gần 50 chiến hạm của Hạm đội Thái Bình Dương, trong số đó có 6 tàu ngầm đã trực chiến sẵn sàng chiến đấu và tiến hành tập trận đánh tiêu diệt hải quân đối phương. Tại vùng Primorie (ven biển Viễn Đông) đã diễn ra các cuộc đổ bộ của Thủy quân lục chiến Liên Xô.

Trợ chiến

Không quân Xô Viết còn cử các đơn vị của mình sang công tác tại Việt Nam để giải quyết vấn đề trinh sát đường không chống quân xâm lược trên lãnh thổ Việt Nam. Các đơn vị thuộc không quân vận tải Liên Xô (các phi đội AN-12, AN-26, MI-8…) làm nhiệm vụ vận chuyển đường không trong lãnh thổ Việt Nam.

 
Bộ đội Việt Nam ở Campuchia chờ lên máy bay về nước chi viện cho biên giới phía Bắc

Với thực lực trang bị còn tương đối hạn chế, nhưng Không quân chiến thuật Liên Xô đã vận hành rất hiệu quả cầu hàng không giữa Liên Xô và Việt Nam. Trong khuôn khổ diễn tập tại Liên Xô và trong lúc thực hiện nhiệm vụ chuyên chở vũ khí, trang thiết bị cho Việt Nam, lực lượng này đã vận chuyển tổng cộng 20 ngàn quân, hơn 1.000 đơn vị trang bị xe máy, 20 máy bay và trực thăng, 3 ngàn tấn quân dụng, đạn dược.

Viện trợ quân sự

Riêng về mặt quân sự, viện trợ cho Việt Nam là một nhiệm vụ trọng đại, nhằm mục tiêu gia tăng nhanh chóng tiềm lực quân sự cho Việt Nam.

Chỉ trong giai đoạn từ khi cuộc xung đột bắt đầu (giữa tháng 2) đến cuối tháng 3/1979, bằng đường thủy, Liên Xô đã đưa sang Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe bọc thép, xe chở quân, 400 cỗ pháo và súng phóng lựu, 50 dàn phóng đạn phản lực 40 nòng, cỡ 122 mm “Grad”, hơn 100 cỗ pháo cao xạ, 400 đồng bộ cao xạ di động cùng hàng ngàn tên lửa đi theo, 800 súng chống tăng của bộ binh, 20 máy bay tiêm kích.

Dù việc chuyển giao gấp rút, nhưng các vũ khí và trang bị này đều đã được thẩm định về chất lượng sẵn sàng chiến đấu bởi một ủy ban gồm các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm của quân đội Xô Viết.

Đòn cân não

Sự kháng cự kiên cường của quân đội Việt Nam cùng thái độ kiên quyết ủng hộ Việt Nam của Liên Xô và phản ứng của dư luận thế giới đã khiến Trung Quốc phải chịu tổn thất to lớn.

Một loạt các hành động quân sự - chính trị của Liên Xô dưới dạng các bước chuẩn bị cho việc tiến quân vào lãnh thổ Trung Quốc, cùng với mâu thuẫn trong giới cầm quyền Trung Quốc, cũng như các sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo và tác chiến của quân đội nước này… đã dẫn đến việc ngày 5/3/1979, Bắc Kinh phải ra quyết định rút quân, và 20/3/1979 phải thực hiện rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Nhưng quân Trung Quốc sau đó vẫn ngoan cố đóng lại ở một số phần đất (sâu 1km vào lãnh thổ Việt Nam và rộng 2 km), mà trước đó Trung Quốc cố tình gọi là “đất tranh chấp” ở vùng biên giới hai nước.

Bài báo của VKO cho rằng sở dĩ Liên Xô đã chơi rắn đến cùng như vậy, vì việc Trung Quốc xâm lược vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam khơi dậy nguy cơ chiến tranh lớn trên “hai mặt trận”, do vừa ký kết Hiệp định hợp tác toàn diện Việt - Xô).

Nhìn lại thời kỳ này, năm 2009, tướng Vũ Xuân Vinh, nguyên thủ trưởng kỳ cựu của ngành đối ngoại quân sự Việt Nam chia sẻ, ông vẫn vô cùng ấn tượng về cách Liên Xô đã chọn hồi đầu năm 1979, bằng ý chí và hành động, cảnh cáo “không được đụng đến Việt Nam”.

(*) Thê đội là bộ phận của đội hình được sắp xếp theo bậc thang để hành động theo thứ tự kế tiếp nhau vì mục đích đã định trong kế hoạch. Thê đội được gọi theo thứ tự hành động trước sau: Thê đội 1, Thê đội 2... Một đội hình chiến đấu (chiến dịch, chiến lược) có thể có 1 đến 3 thê đội.
Lê Đỗ Huy 
Nguồn tin: Tri Thức Trẻ

Thủ tướng: 'Không bao giờ quên cuộc chiến biên giới 1979'

“Đảng, Nhà nước không bao giờ quên công lao của đồng bào chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến chống xâm lược ngày 17/2/1979”, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định.

Ngày 19/2, tại hội nghị bàn về quy chế phối hợp giữa Mặt trận tổ quốc và Chính phủ, một số đại biểu đã đề cập tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cách đây 35 năm.
Theo quyền chủ nhiệm Ủy ban Tư vấn Khoa học và Giáo dục (Ủy ban trung ương MTTQ) Phạm Thị Trân Châu, những ngày vừa qua, báo chí đã khơi lại sự kiện này. Bà Châu đề nghị xem xét tổ chức kỷ niệm, làm tượng đài và đưa thông tin về cuộc chiến vào sách giáo khoa.
Dẫn lời một nhà thơ, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa xã hội Nguyễn Túc cho rằng, đồng bào, chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến cách đây 35 năm chưa được nhìn nhận, đối xử xứng đáng.
tt123-9863-1392863851.jpg
Thủ tướng phát biểu tại hội nghị sáng 19/2. Ảnh:N.Hưng.
Trao đổi về vấn đề này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: "Đảng, Nhà nước không bao giờ quên cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, cũng không bao giờ quên công lao của những đồng chí, đồng bào mình chiến đấu hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến chống xâm lược ngày 17/2/1979".
Ông cho biết, tất cả chiến sĩ hy sinh đều nằm ở nghĩa trang, được nhang khói. Chia sẻ thêm với các vị lão thành của Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam, người đứng đầu Chính phủ cho biết, Bộ Chính trị vừa qua đã tổ chức hai phiên làm việc để nghe về đề án liên quan tới sự kiện năm 1979 và vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Thủ tướng đề nghị Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Nguyễn Thiện Nhân với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị báo cáo với Mặt trận thông tin cụ thể. “Chúng ta làm gì cũng phải tính lợi ích cao nhất của đất nước”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân tràn qua biên giới, đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới lãnh thổ Việt Nam từ Lai Châu đến Quảng Ninh với chiều dài 1.200 km. Trung Quốc rút quân vào ngày 18/3 cùng năm. Suốt 10  năm sau đó, tuyến biên giới phía Bắc luôn được đặt trong tình trạng chiến tranh.
Chia sẻ với VnExpress, nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định, thế hệ đã hy sinh trong cuộc chiến cần có sự tôn vinh xứng đáng. “Đề cập cuộc chiến năm 1979 không phải để kích động hận thù mà là rút ra những bài học trách nhiệm với hòa bình. Một cuộc chiến chống xâm lược phải là niềm tự hào cần tôn vinh”, ông nói.
Theo thiếu tướng Lê Văn Cương (Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Bộ Công an), nếu tính cả người dân và chiến sĩ quân đội, công an thì có hàng chục nghìn người đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc này. Tuy nhiên, điều đáng buồn là một cuộc chiến oai hùng như vậy lại không có trong sách lịch sử.
Một việc cần phải làm ngay theo ông Cương là có chính sách cho gia đình những người Việt đã hy sinh trong cuộc chiến, vinh danh những người đã ngã xuống bảo vệ đất nước tương tự các liệt sĩ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ… Nhà nước cũng cần khôi phục các địa danh lịch sử của cuộc kháng chiến.
Nguyễn Hưng

17/2/1979 - Cuộc chiến không thể lãng quên

17/2/1979 - Cuộc chiến không thể lãng quên

Cách đây 35 năm, vào ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã đưa hàng chục vạn quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước. Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, tiến hành cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ biên giới phía Bắc.

Cuộc chiến tranh diễn ra trong vòng 1 tháng nhưng đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho cả hai nước, đặc biệt là hậu quả lâu dài đối với quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
Để làm rõ bản chất, sự thật lịch sử, tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc; đấu tranh bác bỏ những luận điệu tuyên truyền sai trái, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch, chúng tôi chuyển đến bạn đọc những nét chính về cuộc chiến tranh này. Qua đó để tôn vinh công lao, sự hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc; cổ vũ tinh thần yêu nước, truyền thống hào hùng của dân tộc, ý chí tự lực tự cường, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, giữ gìn và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị láng giềng Việt – Trung với phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt; không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta, làm ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, lợi ích lâu dài giữa hai dân tộc.
Thông qua sách báo, tài liệu của Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác xuất bản từ năm 1979 đến 2009, bạn đọc sẽ thấy được diễn biến và hậu quả của cuộc chiến tranh 1979:
5 giờ sáng ngày 17/2/1979, lực lượng Trung Quốc khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh. Cánh phía đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái.
Cánh phía tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.
Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.
Tiến đánh nhanh lúc khởi đầu nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng. Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới khá mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn. Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở tây bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn), Thông Nông (Cao Bằng) ở đông bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh thẳng vào Lào Cai.
Sang ngày 18 và 19/2, chiến sự lan rộng hơn. Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương (Hoàng Liên Sơn), Trùng Khánh (Cao Bằng), và Đồng Đăng (Lạng Sơn). Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao, có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này. Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.
Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận đánh ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc. Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía tây nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 Tiểu đoàn 4 và 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn.
Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22/2. Ngày cuối cùng tại Pháo đài Đồng Đăng, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa học vào các lỗ thông hơi, làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.
Đến 21/2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.
Ngày 26/2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này. Sau khi thị sát chiến trường, Bộ tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đề xuất điều động một quân đoàn từ Campuchia cùng một tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 vừa được Liên Xô viện trợ về Lạng Sơn. Đồng thời tổ chức và huy động lại các đơn vị và các phân đội, biên chế lại một sư đoàn vừa rút lui từ chiến trường, tiến hành các hoạt động tác chiến vào sâu trong hậu phương địch.
Phi đoàn máy bay vận tải An-12 của Liên Xô đã lập cầu hàng không, chở Quân đoàn 2, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Campuchia về Lạng Sơn.
Ngày 25/2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 (Binh đoàn Chi Lăng) thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các Sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ Quân khu 4 ra) và sau này có thêm Sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28/2/1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng. Quân đội Việt Nam còn phản kích, đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa cảnh cáo Trung Quốc.
Lạng Sơn - những trận chiến quyết tử
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27/2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía đông nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện.
Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3 và 337 của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2/3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả lại 3 sư đoàn bộ binh 160, 161, 129 cùng nhiều xe tăng, pháo của Trung Quốc, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong, huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu, huyện Cao Lộc.
Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng tây bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, 1 tiểu đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng.
Chiếm được điểm cao 800 và ga Tam Lung nhưng trong suốt các ngày từ 28/2 đến 2/3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy chúng đã dùng cho hướng tiến công này gần 5 sư đoàn bộ binh. Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn mà có trận, quân phòng thủ Việt Nam chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3, sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng. Chiều ngày 4/3, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.
Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.
Trung Quốc buộc phải rút quân
Ngày 5/3/1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Lúc đó, tại mặt trận Lạng Sơn, phía Việt Nam đã bày binh bố trận rất bài bản, chuẩn bị phản công trên quy mô lớn, đánh hiệp đồng quân binh chủng. Nếu không rút quân đúng thời điểm này thì quân Trung Quốc sẽ thiệt hại rất lớn, nhận hậu quả rất nặng nề, bị tiêu diệt gọn. Bởi lúc đó, Sư đoàn 337 của Việt Nam lên tham chiến từ ngày 2/3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Nhưng 337 đến hơi muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn. Tuy nhiên, Sư đoàn 337 đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích, đánh duổi quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Ma.
Ngày 7/3, Việt Nam tuyên bố thể hiện "thiện chí hòa bình", sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.
Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân nhưng chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi dọc biên giới 6 tỉnh phía Bắc.
Ngày 18/3/1979, Trung Quốc rút hết quân khỏi biên giới Việt Nam.
      Dưới đây là một số hình ảnh do các phóng viên chiến trường của ta ghi lại.

Quân ta tiến ra mặt trận.

Nhà báo Labe (Pháp) đang phỏng vấn tù binh Trung Quốc bị ta bắt.

Tù binh Trung Quốc bị 2 nữ chiến sĩ của ta dẫn giải về hậu cứ.

Tên tù binh Trung Quốc viết lời khai.

Xe tăng của Trung Quốc bị bắn cháy ở Bản Sậy huyện Hòa An, Cao Bằng.

Xe tăng Trung Quốc bị ta tiêu diệt ở Bản Sậy

Chiến sỹ ta đứng trên xác xe tăng Trung Quốc bị bắn nát trên đồi Nà Toong.

Xe tăng Trung Quốc bị ta bắt sống
 Mạnh Thường

Sự kiện 1979 và giới hạn của im lặng

Sự kiện 1979 và giới hạn của im lặng

Lịch sử có chức năng là "người thầy" của cuộc sống. Chính lịch sử dạy cho hiện tại những sai lầm cần tránh khỏi, sự tỉnh táo trước những gì tương tự đã từng xẩy ra.
Buổi lên lớp đầu tiên của tôi trong năm Quý Tỵ là chiều thứ Hai, hai tiết học cuối của buổi chiều ngày 18/2 - mồng 9 Tết mới đây, tại ĐH Khoa học Huế! Tôi dạy bài "Lịch sử Trung Quốc" cho sinh viên lớp Hán Nôm K36.
Sau mấy câu chào làm quen, tôi hỏi: " Hôm qua, 17/2, đó là ngày gì?" Một nữ sinh là ni cô nói: "Một ngày bình thường như mọi ngày". Sinh viên tiếp theo là một sadi (sư bác): "Chắc là ngày... sinh nhật của thầy phải không ạ?"...(!)
100% không biết!
Có một cái gì đó nghẹn tắc trong nhịp thở khó nhọc của tôi. Khi 100% sinh viên năm thứ nhất đang ngồi trước mặt mình, chỉ biết được về một ngày lịch sử không thể quên đó, là sau khi tôi nói, đó là ngày cách đây 34 năm, Trung Quốc nổ súng trên bầu trời biên giới.
Thấy nét mặt của tôi không vui, một sinh viên rụt rè: "Chúng em có lỗi". Tôi nói, các em đợi một chút và, tôi gửi đi một lời tâm sự lên mạng, nói về điều vừa xảy ra, lúc đó là 15h15 phút! Gửi xong, tôi đưa cho mấy sinh viên đọc dòng thông tin "HVT đã nói" và, nói tiếp: Các em chỉ có lỗi một phần, lỗi trầm trọng là ở "người lớn" chúng tôi. Lịch sử dân tộc dường như  đã bị rơi vào quên lãng.
Có lẽ cái não nề của cơ sự "không biết, không nhớ" gì về một giai đoạn đau thương, quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam của những sinh viên năm thứ nhất không phải là ngoại lệ!
Nhưng, chắc chắn rằng sự kiện mà tôi vừa nêu trên là chuyện không hề nhỏ một chút nào. Nó không chỉ là một nỗi đau mà là sự nhức nhối thật sự, nếu suy rộng, nó còn là một đòn "đánh" vào tất cả các nhà sử học: Lịch sử sẽ là gì nếu mỗi chúng ta không hề dám nói thật về... sự thật?
Một hình ảnh nhắc nhớ về sự kiện chiến tranh biên giới năm 1979. Ảnh tư liệu
"Lãng quên" là  có tội!
Trong một buổi gặp mặt cử tri gần đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng: Chúng ta có "cái bệnh" rất lớn là không dám nói lên sự thật (SGGP, 13/2). Lời cảnh tỉnh (xác nhận) đó cũng là lần đầu tiên được chính thức phát đi từ người đứng đầu Nhà nước kể từ gần 70 năm nay(!). Tất nhiên, Chủ tịch nước đề cập đến nhiều vấn đề và, dĩ nhiên, trong đó có sử học.
Khi tôi là sinh viên, được dạy rằng có những sự thật lịch sử chưa nên nói vì chưa có lợi cho cách mạng. Đó là năm 1974. Ai cũng dễ dàng đồng ý rằng trong chiến tranh, quả thật rất cần những khoảnh khắc, những "chương, hồi của sự im lặng" về sự thật, vì sợ bị kẻ thù lợi dụng, lòng dân ly tán...
Thế nhưng, cái tai họa của vấn đề là ở chỗ: Giới hạn của sự im lặng (chưa công bố, chưa nói) nằm ở tầng mức nào, bao lâu hay đến bao giờ? Sự mập mờ, đa nghĩa của cụm từ "có lợi cho cách mạng" đã bị biến hóa, như sự kiện 17/2/1979! Trong khi đó, luật pháp ở nhiều nước quy định việc giải mã toàn bộ bí mật lịch sử chỉ khoảng trên dưới 30 năm.
Một trong những định đề nổi tiếng của Karl Marx là ông phê phán các sử gia tư sản luôn coi 30 năm lịch sử vừa mới diễn ra là chính trị. Vì có nhiều bí mật chưa tỏ tường hóa, nên họ dùng cụm từ 'hậu hiện đại' hoặc 'sau hiện đại' (post modern, after modern) để chỉ quãng thời gian tranh tối, tranh sáng ấy. Theo Marx, lịch sử là tất cả những gì vừa xảy ra, kể cả khoảnh khắc vừa mới trôi qua.
Trong một buổi gặp mặt cử tri gần đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng: Chúng ta có "cái bệnh" rất lớn là không dám nói lên sự thật (SGGP, 13/2).
Điều tiếp theo cần phải bàn là tại sao chúng ta không dám đưa sự thật lịch sử vào sách giáo khoa? Nói rằng sự thật đó có thể làm tổn hại đến tình hữu nghị hay bang giao quốc tế là không hề thuyết phục.
Chẳng lẽ người Mỹ dựng phim, mở hội thảo về tội ác của chủ nghĩa fascio lại làm mất đi quan hệ hữu hảo Đức - Mỹ sao? Không ai có thể thay đổi lịch sử đồng nghĩa với mặc định hiển nhiên rằng chấp nhận nó như là một phần của quá khứ, dẫu vinh quang, niềm vui hay cay đắng.
Một cựu chiến binh ở biên giới phía Bắc năm 1984 - hiện là giảng viên lịch sử kể rằng, năm 1992, cơ quan anh có tổ chức gặp mặt cựu chiến binh từ 1945-1975; có nghĩa là những ai đã từng là cựu chiến binh sau năm 1975 không được mời dự(!). Sự thật đó thật là cay đắng nhưng vẫn chưa thể đắng cay bằng việc chúng ta lãng quên sự hy sinh dũng cảm của hàng vạn con người đã ngã xuống cho dân tộc trường tồn.
Giữ gìn bản sắc văn hóa Việt như thế nào?
Chúng ta thường khẳng định việc phải giữ gìn bản sắc củavăn hóa Việt Nam. Thử hỏi rằng, bản sắc dân tộc Việt là gì nếu không phải phần lớn nhất, độc đáo nhất, phi thường nhất, chính là truyền thống không thể bị đồng hóa, truyền thống quật cường bất khuất của Tổ quốc hình chữ S?
Nói như thế có nghĩa là, không một ai có quyền lãng quên lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Cố tình quên hay nói khác về "sự nhớ" nửa vời là có tội với tiên tổ, giống nòi.
Lịch sử có chức năng là "người thầy" của cuộc sống. Chính lịch sử dạy cho hiện tại những sai lầm cần tránh khỏi, sự tỉnh táo trước những gì tương tự đã từng xẩy ra, bởi lịch sử không lặp lại nhưng, có thể, bắt chước chính nó. Tại sao lại không nên khi cả VN và TQ đều rút ra được những bài học cần thiết để tránh việc lặp lại những sai lầm?
Nếu cứ coi quá khứ không thể thay đổi sẽ làm tổn hại hiện tại, tại sao lại có nhiều như thế những đường phố Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...?
Trong cuộc đời, đôi khi có những câu trả lời cho những vấn đề được coi là phức tạp thật giản dị: Nếu chưa đưa sự kiện 17/2/1979 vào SGK thì bao giờ sẽ đưa vào? Nhất định phải đưa vào bởi nói thật về sự thật phải là bản chất của lịch sử. Sự trù trừ, "tiếng kèn ngập ngừng" của cách nói chỉ làm cho lịch sử thêm rối rắm, nhiêu khê. Không thể tiếp tục nỗi đau rằng đã và đang có hàng triệu con người trẻ tuổi chẳng biết gì lịch sử anh dũng của cha ông.
Ngày 6 và 9/8/1945, người Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagazaki, làm chết cả triệu người. Đến năm 1951, Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật vẫn được ký kết và, dù 62 năm đã trôi qua, quan hệ đồng minh giữa hai nước vẫn là "hòn đá tảng" (nguyên văn, key stone)...
Chỉ có những cái đầu thiển cận mới cho rằng quá khứ lịch sử làm tổn hại đến quan hệ hiện tại. Với những cái đầu như thế, việc né tránh quá khứ chỉ càng làm cho hiện tại phức tạp, đớn đau hơn...

Đối diện hay lảng tránh sự thật?

Đối diện hay lảng tránh sự thật?

Hiểu biết lịch sử cũng chính là giáo dục cho các em lòng yêu nước, hiểu cái mạnh yếu của dân tộc, để có ý thức trách nhiệm xây dựng đất nước. Tạo nên một nội lực, một tâm thế cần thiết phù hợp để đối diện thực tiễn...
Sự thật vẫn phải là... sự thật
Gần đây, nhiều nhà sử học, nhà giáo đã lên tiếng ủng hộ việc đưa "cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 vào sách giáo khoa" sửa đổi năm 2015 với mức độ và phạm vi sâu rộng hơn. Người viết đồng tình với đề xuất này và cho rằng đây không chỉ là câu chuyện riêng của một sự kiện lịch sử mà còn đặt ra vấn đề lớn lao hơn.
Đó là sự cần thiết phải thay đổi cách viết và cách dạy môn Lịch sử trong bối cảnh hiện nay.
Đa số các ý kiến đưa ra đều thống nhất rằng cần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây là nguyên tắc tối thượng mà những người viết sử và dạy sử luôn phải đặt lên hàng đầu.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn có những ý kiến cho rằng, khi nghiên cứu và truyền bá lịch sử, chỉ nên chọn lọc những sự kiện phù hợp với định hướng chính trị.
Chính vì thế SGK Lịch sử hiện nay chưa đưa ra được cái nhìn đa chiều về những sự kiện và nhân vật lịch sử. Chúng ta nói nhiều tới những chiến thắng mà không đề cập tới những thất bại. Môn Lịch sử na ná trở thành môn... chính trị tự lúc nào.
Trong lối tư duy đó, nhiều sự kiện đã trở thành đề tài nhạy cảm, cấm kị, hầu như không được nhắc đến hoặc chỉ đề cập tới rất ngắn gọn trong chương trình trung học phổ thông, và chưa được phổ biến đầy đủ tới người dân. Sự kiện 1979 chỉ là một trong số đó.
Người viết cho rằng điều này không những không phù hợp mà còn phạm phải điều nguyên tắc tối cao của ngành lịch sử như đã nói ở trên.
Xin được nhắc lại một câu chuyện nổi tiếng được ghi lại trong Sử ký. Tướng quốc nước Tề thời Xuân Thu là Thôi Trữ giết vua Trang Công để giành ngôi. Quan thái sử chép lại sự việc này vào quốc sử. Thôi Trữ bắt ông chép khác đi, ông không chịu nên bị giết. Người em quan thái sử được bổ nhiệm thay anh cũng vẫn chép như vậy.
Thôi Trữ nổi giận lại giết người đó. Người em thứ hai, thứ ba của quan thái sử cũng vì thế mà bị giết. Chỉ tới khi người em thứ tư thà chết không chịu thay đổi cách chép sử theo lệnh của Thôi Trữ, ông ta đành thôi không giết quan thái sử nữa.
Câu chuyện này cho thấy để giữ gìn sự trung thực và tôn nghiêm của lịch sử, các sử gia suốt hàng ngàn năm nay luôn phải giữ lòng trong sáng, công tâm. Thậm chí có người phải hi sinh cả tính mạng để sự thật không bị bẻ cong và vùi lấp.
Lịch sử trên hết và trước hết phải là sự thật. Người làm sử phải ghi chép lại trung thực những gì diễn ra chứ không thể chỉ chọn lọc những chi tiết được cho là "có lợi" hay "phù hợp".
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị tàn phá tháng trong chiến tranh biên giới năm 1979. Ảnh tư liệu
Lịch sử được trao thêm nhiệm vụ tuyên truyền?
Từ lâu ở Việt Nam, vấn đề này đã được lưu ý tới nhưng chưa được giải quyết triệt để. Ngành lịch sử của chúng ta chưa có sự độc lập cần thiết. Bên cạnh nhiệm vụ truyền đạt tri thức, ngành lịch sử, mà cụ thể là những cuốn SGK Lịch sử, còn được trao thêm nhiệm vụ tuyên truyền, ca ngợi.
Cách tiếp cận này đã dẫn đến rất nhiều hạn chế mà điển hình hơn cả là hạn chế trong cách đặt trọng tâm của chương trình học tập môn Lịch sử hiện nay.
Kết quả là học sinh không tìm được niềm đam mê với môn Lịch sử, thiếu cái nhìn tổng quát về tiến trình lịch sử dân tộc và kiến thức lịch sử của học sinh đang giảm sút nghiêm trọng.
Sách giáo khoa Lịch sử hiện nay chưa đưa ra được cái nhìn đa chiều về những sự kiện và nhân vật lịch sử. Chúng ta nói nhiều tới những chiến thắng mà không đề cập tới những thất bại. Môn Lịch sử na ná trở thành môn... chính trị tự lúc nào.
Tư duy viết và dạy Lịch sử theo lối mòn lâu nay sẽ được giải quyết ra sao khi tiếp cận với cuộc chiến tranh biên giới 1979? Cần có sự nhất quán trong phương pháp tư duy, coi cuộc chiến này giống như những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc khác mà lịch sử đã ghi nhận, hay chúng ta sẽ e dè khi đề cập tới nó, vì những nguyên nhân khác?
Thực ra sự công khai và công bằng khi nhìn nhận về cuộc chiến này sẽ góp phần xây dựng đối sách phù hợp cho Việt Nam với Trung Quốc, không chỉ trong ngắn hạn mà cả dài hạn.
Đặt một cuộc chiến tranh mới diễn ra cách đây 34 năm trong chuỗi những cuộc chiến tranh suốt hàng ngàn năm lịch sử giữa hai nước, sẽ góp phần làm sáng rõ mối quan hệ hợp tác và xung đột hết sức phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc mà chúng ta đã và đang phải đối diện.
Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 khẳng định rằng sự tương đồng về thể chế chính trị chưa bao giờ là điều kiện cần và đủ để có được hòa bình.
Thế hệ trẻ sẽ nhận thức được rằng những xung đột đó không phải chỉ là chuyện của thời Lý, Trần, Lê... Nhưng hiểu biết lịch sử cũng chính là giáo dục cho các em lòng yêu nước, hiểu cái mạnh yếu của dân tộc, để có ý thức trách nhiệm xây dựng đất nước. Tạo nên một nội lực, một tâm thế cần thiết phù hợp để đối diện thực tiễn, thay vì lảng tránh.
Hơn nữa, đặt trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi mà hợp tác, phát triển trở thành xu hướng tất yếu, thì việc nhìn thẳng vào cuộc chiến này càng có ý nghĩa hơn nữa.
Bởi lẽ, đặt bên cạnh những thành tựu mà hai nước đã đạt được trong mối quan hệ song phương thì những tổn thất do cuộc chiến tranh này gây ra lại càng có ý nghĩa cảnh tỉnh. Do đó, việc đưa nội dung cuộc chiến tranh này vào SGK không những không khơi gợi hận thù mà sẽ góp phần củng cố nỗ lực gìn giữ và xây dựng quan hệ bình đẳng, hữu nghị giữa hai nước.
Việc đưa sự kiện lịch sử năm 1979 vào SGK mới sao cho đúng với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó là một yêu cầu hết sức thiết thực. Nó cũng đặt ra một vấn đề mà các nhà sử học, các nhà giáo cần nghiêm túc khi đánh giá, nhìn nhận về lịch sử đất nước. Cần có cái nhìn trung thực, tôn trọng hiện thực khách quan, với phương pháp luận đúng đắn, vì lịch sử cũng là một bộ môn khoa học.
Chỉ có như vậy lịch sử mới thực sự là tấm gương để các thế hệ người Việt có thể soi vào đó để "ôn cố, tri tân", và hậu thế có cách hành xử đúng đắn, mềm dẻo. Bảo vệ hòa bình, hợp tác và hữu nghị nhưng trên nguyên tắc đặt lợi ích chủ quyền, độc lập dân tộc lên trên hết.
Khương Duy

Giải mật nguyên nhân cái chết của Gagarin

Giải mật nguyên nhân cái chết của Gagarin

Sau hơn 40 năm giữ bí mật, nguyên nhân thực sự về cái chết của nhà du hành vũ trụ Liên Xô Yuri Gagarin, người đầu tiên vào vũ trụ, đã được công khai.
Gagarin, giải mật, nguyên nhân, cái chết, phi hành gia
Nhà du hành vũ trụ nổi tiếng của Nga Aleksey Leonov tiết lộ sự thật đằng sau những sự kiện diễn ra vào ngày bi kịch.
Trong suốt hơn 20 năm, Aleksey Leonov, người đầu tiên bước đi trong không gian vào năm 1965, đã đấu tranh để được phép tiết lộ chi tiết những gì xảy ra với huyền thoại Yuri Gagarin vào tháng 3/1968.
Quay lại thời điểm đó một hội đồng nhà nước đã được thành lập để điều tra tai nạn (Leonov có một phần trong đó) đã kết luận rằng, một tổ lái MiG-15UTI, Yuri Gagarin và hướng dẫn viên đầy kinh nghiệm Vladimir Seryogin đã cố gắng tránh một vật thể bên ngoài - như ngỗng hoặc khinh khí cầu, bằng cách lượn và dẫn tới một cú bổ nhào rồi lao xuống đất. Cả hai phi công đều chết trong vụ bay thử.
"Với dân thường, kết luận như vậy có thể chấp nhận được nhưng với chuyên gia thì không thể", Leonov nói. Ông này luôn giữ lập trường kiên định về những bí ẩn quanh cái chết của Gagarin và muốn ít nhất gia đình phi hành gia này biết được sự thật.
"Trên thực tế, mọi thứ khác hẳn", Leonov nói.
Theo một tài liệu được giải mật, có lỗi con người đằng sau tai nạn thảm khốc đó, một chiến đấu cơ SU-15 chưa được cấp phép bay rất gần với máy bay của Gagarin.
"Trong trường hợp này, phi công không tuân thủ chỉ dẫn, lao xuống độ cao 450m. Tôi biết điều này vì tôi đã có mặt ở đó, tôi nghe thấy tiếng và nói với nhân chứng. Máy bay chiến đấu đã lượn sát với máy bay của Gagarin, làm đổi hướng máy bay của phi hành gia này và khiến nó bổ nhào với tốc độ 750km/h".
Tuy nhiên, tên người chịu trách nhiệm về cái chết của Gagarin không được tiết lộ. Giữ kín tên người này là điều kiện mà Leonov được phép lên tiếng về cái chết của Gagarin. Theo đó, chỉ có thể biết, phi công chiếc chiến đấu cơ đó hiện đã 80 tuổi và không còn khỏe mạnh.
"Tôi hứa không tiết lộ tên ông ấy", Leonov cho hay.
Có hàng loạt học thuyết âm mưu bao trùm lên vụ Gagarin gặp nạn, nó gồm cả tự tử và thậm chí là đâm phải đĩa bay.