Chiếc BÁNH CHƯNG góp công Đại Phá Quân Thanh10-06-2009 | ||
| ||
Vua Tây Sơn khi ở Nghệ An cất quân ra Bắc đã vấn kế Xử sĩ Nguyễn Thiếp mà xưa nay vua vẫn quý trọng như bậc quân sư. Ông Thiếp vốn trước dạy học ở nhà vị quan Đề lĩnh họ Đinh, vừa ở Thăng Long về Nghệ An và đã hiểu tình trạng quân Thanh. Ông bèn hiến kế Vua Quang Trung sai sứ giả làm một phong thư đưa cho Tôn Sĩ Nghị, giả ý sợ oai thiên triều, sẽ tự trói mình đến Thăng Long tạ tội, đâu dám chống cự quân Thanh cốt để làm cho Tôn Sĩ Nghị thêm lòng khinh địch, không nghĩ đến việc đề phòng; đồng thời, cho đại quân tiến gấp ra Bắc khiến Nghị lúng túng trở tay không kịp.
Gần Tết, tình thế quân Thanh rất nguy khốn, không còn kiêu căng, huênh hoang như mọi ngày, Tôn Sĩ Nghị đâm ra lo sợ cuống cuồng, bèn hạ lệnh đóng chặt các cửa thành, quân dân ta ra vào đều bị quân Thanh khám xét tra hỏi rất nghiêm ngặt. Sáng mồng một tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), quân dân ta không còn ai nghĩ đến chuyện ăn Tết thưởng Xuân nữa. Vị Đề lĩnh họ Đinh, một võ quan triều Lê, do không đồng ý việc mượn sức quân Thanh nên không được triều Lê trọng dụng. Ông chỉ giữ một chức nhỏ là Giám ti, cai quản một toán lính già yếu để canh giữ các kho lương thực và khí giới của quân Thanh ở liền ngay cạnh sói phủ Tôn Sĩ Nghị.
Chiếc bánh chưng được chuẩn bị cho ngày tết
Sáng mồng ba Tết, ông Đề lĩnh đang ngồi trong gian phòng lo nghĩ gần xa, chợt một tên lính hầu vào trình có một người xứ Nghệ đem biếu một cặp bánh chưng. Giật mình, ông cho gọi ngay vào xem là ai. Ông vui vẻ nhận ra ngay là Xử sĩ Nguyễn Thiếp trước dạy học của nhà ông. Ông vồn vã hỏi:
- Năm mới sao thầy không ở nhà ăn Tết cho vui lại ra đây làm gì cho vất vả? Nguyễn Thiếp thong thả đáp:
- Tại kinh đô năm nay e mất Tết nên tôi vội thân hành ra mừng Tết ngài.
Ông vừa nói vừa dâng cặp bánh chưng, đồng thời liếc mắt nhìn ông Đinh và nhìn cả tứ phía. Ông Đinh hiểu ý ngay, bèn đuổi mấy tên lính hầu ra ngoài. Nguyễn Thiếp bóc ngay một chiếc bánh, cắt làm đôi, chỉ vào nhân bánh và nói:
- Anh hùng nên phải thức thời và tuỳ thời mà lập công. Vận mệnh nhà Lê đã đến ngày tuyệt vong, chúng ta nên sớm biết đường, giúp nước. Vua Quang Trung anh dũng khác thường, nay đem quân ra quét sạch quân Thanh giày xéo đất nước. Vì thế, ngài tự viết một tờ mật dụ uỷ thác cho tôi đưa tới ông. Khi tới nơi thấy quân Thanh khám xét rất nghiêm, tôi phải để tờ dụ vào chiếc bánh chưng này để che mắt chúng và may đã lọt vào tới đây. Một cơ hội rất tốt để giúp nước trừ giặc, ta chớ nên bỏ lỡ…
Dứt lời, ông rút tờ dụ để lẫn trong nhân bánh chưng đưa ông Đề lĩnh. Vui mừng như người được của, ông Đinh hẹn sẽ theo đúng kế hoạch thi hành.
Đến mồng bốn rạng ngày mồng năm tháng Giêng năm Kỷ Dậu, giữa lúc quân Thanh đang liều chết chống cự với quân Tây Sơn, Tôn Sĩ Nghị đang cố gượng đứng trên kỳ đài đốc chiến. Chợt có tin cấp báo như sét đánh ngang trời: Soái phủ và các kho khí giới lương thực ở trong thành tự nhiên phát hoả dữ dội, lửa bốc cao rực đỏ trời. Tôn Sĩ Nghị sợ hãi rụng rời vì cho rằng quân Tây Sơn đã lọt được vào trong thành, liền bỏ cả việc đốc chiến ra lệnh rút quân, rồi nhảy lên ngựa cùng mấy tên tì tướng thân cận chạy trốn như bay. Còn quân lính thình lình thấy lệnh rút lui, thấy chủ soái cũng biến đâu mất, quân Thanh như rắn mất đầu, hoảng sợ tìm đường chạy trốn.
Đám tàn quân chạy theo Sĩ Nghị ra tới bờ sông Nhị Hà (sông Hồng) cũng tranh nhau xô đẩy xuống phù kiều để sang bên Bồ Đề (Bắc Ninh) mong tìm đường trốn chạy về nước. Người đông, cầu nhỏ yếu, quân sĩ chen chúc đè lên nhau ngã xuống sông, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Cuối cùng riêng có Tôn Sĩ Nghị, mấy viên tì tướng và một toán vệ binh nhỏ qua sông từ trước, may đã sống sót chạy về Trung Quốc.
Lê Chiêu Thống thấy tướng sĩ nhà Thanh đại bại, hết chỗ nương tựa, đành phải uất hận đem cung quyến và mấy chục viên quan trung thành, từ bỏ thành Thăng Long chạy theo Tôn Sĩ Nghị.
Ngày hôm sau, vua Quang Trung kéo quân vào thành trước sự hoan hô của dân chúng. Xử sĩ Nguyễn Thiếp tâu bày mọi việc. Vua Quang Trung rất đẹp lòng và cho triệu ngay ông Đề lĩnh họ Đinh tới hỏi chuyện. Ngài tỏ lời ban khen và trọng thưởng ông Đinh vì đã sớm tỉnh ngộ và tuân theo đúng tờ dụ trong chiếc bánh chưng ngày Tết.
| ||
Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012
Chiếc BÁNH CHƯNG góp công Đại Phá Quân Thanh
Lê Đức Thọ và Henry Kissinger: cuộc đối đầu lịch sử
Lê Đức Thọ và Henry Kissinger: cuộc đối đầu lịch sử03-03-2010 | ||
| ||
… Qua nhiều năm đàm phán ở Paris, Kissinger đã cảm nhận được giọng nói gay gắt của Lê Đức Thọ. Có lần, sau khi bị ông Thọ phê phán gay gắt, Kissinger nói: “Xin cho tôi được hỏi ngài một câu. Ngài có hay mắng mỏ (scold) đồng sự của ngài trong Ban chấp hành Trung ương như cách ngài thường mắng chúng tôi không?”.
Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Henry Kissinger. Ảnh TL.
Nhưng lần này thì những gì vẫn thường diễn ra từ phía đoàn Hà Nội trong các cuộc thương lượng trước đây, đã không còn chờ đón Kissinger trong cuộc họp của hai bên sau đợt ném bom dịp lễ Giáng Sinh (1972) nữa.
Ngày 8 tháng Giêng (1973) khi Kissinger đến ngôi biệt thự tại thị trấn Gif-sur-Yvette (Paris), không có một người nào trong đoàn Bắc Việt Nam đón ông ở cửa. Kissinger phải tự mình bước vào nhà và tự tìm lối vào phòng họp, ở đó đoàn Bắc Việt Nam đang chờ ông ta, ai nấy đều tỏ thái độ lạnh lùng. Kissinger cảm thấy lúng túng, bèn mở đầu bằng câu thanh minh xin lỗi: “Đó không phải là trách nhiệm của tôi. Việc ném bom không phải là lỗi của tôi”.
Nhớ lại lần đầu tiên gặp nhau giữa hai người, Kissinger đã cảm thấy bực tức trước cách đối xử của ông Lê Đức Thọ, coi Kissinger như là học trò của mình, và hôm nay, một lần nữa, điều ấy lại tái diễn ở một mức độ khác hẳn.
Ông Thọ bắt đầu nói: “Bịa ra cái cớ thương lượng bị gián đoạn, các ông ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam đúng vào hôm tôi vừa về đến nhà, các ông chào đón tôi một cách rất lịch sự. Hành động của các ông, tôi có thể nói là rất trắng trợn, rất thô bạo (flagrant and gross)!”. “Chính các ông chứ không phải ai khác, đã bôi nhọ danh dự nước Mỹ” - ông Thọ nói tiếp.
Ông Thọ nói liền một tiếng đồng hồ không hề bớt gay gắt. Có một lúc, Kissinger đã xin ông hạ giọng bớt để các nhà báo đang tụ tập bên ngoài không nghe được, nhưng ông phớt lờ.
Ông nói: “Hơn mười năm nay, Mỹ đã dùng bạo lực để khuất phục nhân dân Việt Nam, bom napan, B-52. Nhưng các ông đã không rút ra được bài học nào từ những thất bại đó. Thật là “ngu xuẩn, ngu xuẩn, ngu xuẩn” (nguyên văn tiếng Việt vẫn được giữ trong bài viết bằng tiếng Anh - QD).
Khi ông ngừng đập bàn, người phiên dịch của đoàn Việt Nam nhìn xuống sàn nhà, không muốn dịch hai tiếng cuối cùng. Các thành viên trong phái đoàn Mỹ phải dịch thêm mấy từ ông Thọ vừa nhấn mạnh: “Stupid! Stupid! Stupid!”.
Ngoại trưởng Henry Kissinger.
Kissinger đành chịu khuất phục (was subdued). Ông ta thanh minh: “Sở dĩ đã có việc ném bom bằng B-52 là do cách xử sự của phía Hà Nội hồi tháng Chạp, đã làm cho Washington nghĩ rằng phía Bắc Việt Nam không chịu giải quyết”. Ông Thọ nói: “Các ông lấy ném bom làm liều thuốc để cứu chế độ Sài Gòn”, và tiếp tục tố cáo: “Các người đã chi phí hàng tỷ đô la và hàng bao nhiêu tấn bom đạn khi đã có sẵn một văn bản chỉ chờ ký”.
Kissinger cố gắng phản ứng lại cơn giận của ông Thọ: “Tôi nghe thấy nhiều tính từ ông đã dùng trong phát biểu vừa rồi. Đề nghị ông không nên dùng những từ ấy”.
Ông Thọ lạnh lùng trả lời: “Tôi đã dùng những từ ấy một cách hết sức kiềm chế rồi đấy. Dư luận thế giới, báo chí Mỹ và những chính khách Mỹ còn dùng những từ nghiêm khắc hơn nhiều”.
Kissinger không nói gì nữa.
Khi bước vào đàm phán, Kissinger nêu yêu sách của Sài Gòn về việc rút quân Bắc Việt Nam, ông Thọ bác bỏ ngay nhưng Kissinger cũng không nói gì thêm.
Ông Thọ nói bây giờ chỉ còn lại hai cản trở lớn. Đoàn miền Bắc không thừa nhận khu phi quân sự bởi vì Hà Nội luôn cho rằng Việt Nam là một nước. Ông Thọ nói không thể có nhượng bộ về vấn đề này. Phía Mỹ thì muốn chỉ cho phép thường dân qua lại vùng này, nhằm không cho bộ đội và trang bị tiếp tục đi vào Nam. Sau một hồi tranh cãi, Kissinger đồng ý hoãn vấn đề này lại và chấp nhận một cách lấp lửng: “Trong số các vấn đề còn phải tiếp tục thương lượng, có vấn đề về cách thức di chuyển của dân thường qua đường ranh giới quân sự tạm thời”. Hiệp định mới cũng nói đến việc tôn trọng các hiệp định Genève 1962 về Lào và Campuchia.
Một câu trong bản hiệp định nêu yêu cầu rút quân đội nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, đã xóa nhòa khá dễ dàng sự chống đối của chính quyền Thiệu, bởi Kissinger có thể biện minh điều này hàm ý bao trùm cả quân đội Bắc Việt Nam, còn Hà Nội vẫn có thể cứ tiếp tục giữ vững lập luận, bất cứ một người Việt Nam nào trên đất nước Việt Nam đều không thể coi là người nước ngoài.
Ngoài các điều khoản được viết thành văn trong hiệp định, Lê Đức Thọ có đưa ra một cam kết bằng miệng là trong vòng mười lăm ngày, sau đình chiến ở Việt Nam, sẽ có đình chiến ở Lào. Nhưng ông cũng nói thêm là Hà Nội không thể đưa ra một lời cam kết như vậy liên quan đến Khmer Đỏ tại Campuchia.
Lúc bấy giờ, ở Campuchia chính phủ Lon Nol chỉ còn giữ được một phần ít ỏi quanh thủ đô Phnompenh. Kissinger vẫn không tin ông Thọ đã nói thật là Hà Nội không có ảnh hưởng gì đối với Pol Pot - lãnh tụ cộng sản Campuchia. Không lâu sau đó, khi một ủy viên Bộ Chính trị của Bắc Việt Nam lên tiếng đề nghị Pol Pot chấp nhận ngưng bắn như đã được đề ra tại Paris, Pol Pot trả lời rằng chế độ Lon Nol sắp kết thúc rồi, và bác bỏ đề nghị trên.
Khi cuộc họp kết thúc, Kissinger ngượng ngập làm ra dáng vui vẻ và khẩn khoản yêu cầu Lê Đức Thọ: “Chúng ta hãy quên đi mọi chuyện vừa xảy ra. Đề nghị ông khi bước ra khỏi phòng họp, chúng ta cần giữ nụ cười vui vẻ”.
Để đi đến được văn bản cuối cùng cũng phải qua tranh cãi gay go, giống như việc đi đến thống nhất về hình dáng cái bàn họp. Nhưng đến đêm 9 tháng Giêng, Kissinger gọi điện mừng sinh nhật lần thứ sáu mươi của Nixon, đồng thời báo cho ông biết cuộc hội đàm đã có lối ra. Nixon vẫn còn nghi ngờ không biết Kissinger có lạc quan thái quá không nhưng cũng đồng ý là sẽ chưa nói cho ai biết cả - kể cả Rogers, Laird, Haig hay Abrams.
Sang ngày 10 tháng Giêng, đoàn đàm phán gặp phải một khó khăn đột xuất về vấn đề tù binh. Kissinger nêu yêu cầu thả hết tù binh Mỹ sau khi hiệp định được ký, nhưng chỉ cam kết sẽ yêu cầu (Sài Gòn) trao trả phần lớn số tù binh do chính quyền Sài Gòn giam giữ trong vòng 60 ngày.
Ông Thọ nói: “Tôi không thể chấp nhận đề nghị của ông. Tôi hoàn toàn bác bỏ đề nghị đó”. Tất cả tù binh phải đồng thời được trao trả. Đoàn Bắc Việt Nam nêu vấn đề này vì họ nghĩ sẽ có nguy cơ không thể lấy hết số người của phía mình cả đàn ông lẫn đàn bà còn bị giam giữ… Kissinger nói rằng dàn xếp được chuyện này là rất khó. Lê Đức Thọ nổi nóng lên: “Ông chưa bao giờ là một người tù”. Ông Thọ nói với sức mạnh của một người từng sống trong nhà tù Côn Đảo: “Ông không hiểu thế nào là chịu đựng cảnh tù đày. Như thế là không công bằng”.
Kissinger có vẻ lắng nghe một cách thông cảm. Ông ta nói: “Ngài không thỏa mãn. Tôi cũng hoàn toàn không thỏa mãn. Chúng ta phải cố gắng tìm được sự nhất trí chung”.
Cuối cùng, Hà Nội cũng chấp nhận có một nghị định thư buộc Mỹ phải cam kết sẽ dùng “ảnh hưởng tối đa của mình”, để đạt được việc thả hết tù chính trị ở Việt Nam trong vòng 60 ngày, sau khi ký hiệp định và thả hết những người bị bắt giữ trong vòng 90 ngày.
Đến ngày 13 tháng Giêng, Kissinger trở về Washington với bản hiệp định đã sẵn sàng chờ ký, nhưng rất bực mình khi thấy Nhà Trắng đánh giá thấp công lao của ông ta. Nixon lại còn trách cứ Kissinger, không phải không có lý do, về một bài bình luận của nhà báo Scotty Reston vào thời gian Mỹ tiến hành đợt đánh bom dịp lễ Giáng Sinh, bài báo nói Kissinger phản đối các cuộc oanh tạc bằng B-52 và thậm chí có thể xin từ chức để viết một cuốn sách về cuộc hội đàm tại Paris. Một cuốn sách như thế “hẳn sẽ làm cho Nixon vô cùng bối rối”.
Kissinger khăng khăng chối cãi chuyện đã nói với Reston, nhưng khi đem cuốn băng ghi lại các cuộc gọi điện thoại ra thì ông ta đành chịu. Ông ta thừa nhận: “Vâng, tôi có nói chuyện với bình luận viên Reston, nhưng đó chỉ là nói chuyện qua điện thoại thôi”.
… Nửa đêm 13 tháng Giêng, Kissinger đến gặp Nixon tại Nhà Trắng. Ông ta vẫn cho rằng, Tổng thống thật nhẫn tâm, vẫn lảng tránh việc biểu dương công trạng của mình, nhưng lúc này ông ta bỗng cảm thấy cái gì đó như là lòng thương hại đối với Nixon. Ông ta nghĩ, xét cho cùng thì Nixon xứng đáng được hưởng giờ phút vui mừng thắng lợi trước dư luận.
Tiếp đó, Haig bay sang Sài Gòn để thuyết phục Thiệu chấp nhận ký hiệp định. Nixon lúc này đã bực bội lắm rồi, dứt khoát muốn thẳng tay với Thiệu. Nixon nói thẳng với Kissinger: “Có tàn bạo cũng chẳng là gì hết (brutality is nothing). Rồi anh sẽ thấy ra sao nếu tên chó đẻ này (this son of a bitch) không chịu nghe theo, hãy tin lời tôi”.
Nhưng Thiệu vẫn cố tình trì hoãn, mặc dù đến lúc này những đồng minh cứng rắn của ông ta như các thượng nghị sĩ diều hâu John Stennis và Goldwater đều đã công khai tuyên bố rằng cản trở việc ký hiệp định sẽ chỉ làm tổn hại đến quan hệ giữa Thiệu và Washington.
Đến 21 tháng Giêng, Thiệu đành phải chấp nhận.
Ngày hôm sau, Kissinger trở lại Paris thì được tin Lyndon Johnson từ trần. Ông ta nghĩ cái chết của Johnson thật trùng hợp. Cuộc đời của Johnson đúng là phải chấm dứt đồng thời với cuộc chiến tranh đã từng đẩy ông ta ra khỏi chiếc ghế Tổng thống. Có thể Kissinger cũng đã ngẫm nghĩ về một thực tế là những điều khoản ông ta vừa chấp nhận ở Paris cũng chẳng khác gì nhiều những điều mà nước Mỹ có thể đạt được vào cuối nhiệm kỳ Tổng thống của Johnson.
Việc Nixon quyết duy trì chính quyền Thiệu, ít nhất cho đến khi ông ta tái trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ II đã phải trả giá bằng sinh mạng của 20.533 lính Mỹ trong bốn năm từ 1969 đến 1972 và sinh mạng của 107.000 lính Nam Việt Nam trong cùng thời gian. Tổn thất của quân Bắc Việt Nam và Việt Cộng hẳn không phải là nhỏ, còn thương vong của dân thường thì thật khó mà ước đoán được. Con số đó có thể lên đến một triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em.
Ông Lê Đức Thọ. Ảnh TL.
Đến phút cuối cùng của hội nghị, Lê Đức Thọ nhắc lại vấn đề Mỹ cam kết viện trợ kinh tế cho miền Bắc mà Mỹ đã từng hứa, Kissinger bực bội trả lời việc đó còn tùy thuộc vào Quốc hội Mỹ và việc Hà Nội thực hiện hiệp định Paris.
Đến 12 giờ 45 trưa ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Lê Đức Thọ và Kissinger ký tắt vào văn bản cuối cùng. Chiến tranh đã chấm dứt. Nói đúng hơn cuộc chiến tranh của Mỹ đã chấm dứt.
| ||
Nhận định của giới sử học phương Tây về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (*)
Nhận định của giới sử học phương Tây về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (*)24-10-2010 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Trong các cuốn sách của họ, họ thường dành một chương để đề cập đến sự kiện lịch sử này. Một vài tác giả viết hẳn một cuốn sách, như The Tet Offensive – Intelligence Failure in War (của James J. Wirtz, xuất bản tại New York năm 1991), After Tet – The Bloodiest Year in Vietnam (của Ronald H. Spector, xuất bản tại New York năm 1993)… và nhất là cuốn sách nổi tiếng của Don Oberdorfer với nhan đề ngắn gọn mà độc đáo: TET! (do nhà xuất bản Doubleday & Company tại New York ấn hành năm 1971, dày ngót 400 trang).
Hầu hết các nhà sử học nhất trí nhận định sự kiện này vừa là thất bại, vừa là thắng lợi của bên này hay bên kia:
“Có lẽ chỉ có trong cuộc tiến công Tết mà bên thua hoàn toàn xét về ý nghĩa chiến thuật lại có một thắng lợi trội hơn hẳn về mặt tâm lý và, vì thế, cả về mặt chính trị nữa” (Bernard Brodie) (4).
“Về mặt quân sự, Tết là một chiến thắng rõ ràng của Mỹ; về mặt tâm lý, đó lại là một sự đảo ngược có tính quyết định” (Michael Maclear) (5).
Tết là “một chiến thắng quân sự của Mỹ, biến thành một thất bại chính trị và tâm lý đối với Mỹ” (Phillip B. Davidson) (6).
“Một số người quan sát phương Tây cho rằng cuộc tiến công Tết là một thất bại [của Việt Cộng]… Một số người khác lại chỉ ra tác động tâm lý của cuộc tiến công đối với dư luận công chúng ở Mỹ và ảnh hưởng to lớn đối với chính sách của Mỹ, xem đó là một chỉ dẫn cho thấy cuộc tiến công là một thành công nổi bật [của Cộng sản]” (William J. Duiker) (7).
“Mặc dù xét về mặt kỹ thuật, cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự đối với Mặt trận dân tộc giải phóng, nhưng về mặt chính trị, nó được xem là một chiến thắng” (Marilyn B. Young, John J. Fitzgerald và A. Tom Grunfeld) (8).
Cộng sản “không hoàn thành các mục tiêu quân sự của họ trong cuộc tiến công Tết… nhưng đồng thời, nhiều nhà quan sát xem cuộc tiến công Tết như là một chiến thắng tâm lý xuất sắc đối với đối phương, một thắng lợi chính trị vẻ vang đối với họ tại nước Mỹ” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War) (9).
“Cuộc tiến công Tết là một thảm họa về mặt chiến thuật đối với Cộng sản… Nhưng thảm họa về mặt chiến thuật không có nghĩa là thất bại về mặt chiến lược. Quả thật, Tết là một thắng lợi chiến lược áp đảo của Cộng sản” (James S. Olson và Randy Roberts) (10)…
![]() Quốc huy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Tòa đại sứ Mỹ.
1. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN LÀ MỘT THẤT BẠI QUÂN SỰ CỦA CỘNG SẢN
Theo Stanley Karnow, Cộng sản “tấn công vào các thành phố và thị xã với hi vọng rằng một bộ phận của chính quyền đô thị trong chế độ Miền Nam sẽ quay ra chống lại Mỹ. Và mưu toan của họ muốn phá vỡ những cố gắng bình định là nhằm lôi kéo các viên chức ở nông thôn về phía họ.
Họ cũng tin rằng Miền Nam Việt Nam đã chín muồi với cách mạng, và rằng những người lính mỏi mệt của chính phủ [Sài Gòn], những nông dân bị dời chỗ ở, những giáo phái thất vọng, những thanh niên cứng đầu và những phần tử bất hạnh khác trong dân chúng Miền Nam sẽ nổi dậy chống lại chính quyền Sài Gòn và người Mỹ…
Họ hi vọng lật đổ chế độ Sài Gòn và xúc tiến việc thành lập một chính phủ liên hiệp trung lập, do những người đại diện của Việt Cộng chi phối, chính phủ này sẽ đuổi Mỹ đi, đưa Việt Nam lên con đường tái thống nhất dưới sự kiểm soát của Cộng Sản”(11).
Vì vậy, vẫn theo Stanley Karnow, Cộng sản “lần đầu tiên đã chuyển chiến tranh từ môi trường nông thôn đến một đấu trường mới – đó là khu vực thành thị được cho là không thể đánh chiếm được ở Miền Nam Việt Nam”. Đây là “một loại hình chiến tranh rất khác… Họ đã chiến đấu một cách ngoan cường, đôi khi mù quáng, và thường bỏ rơi các chiến thuật linh hoạt của họ để giữ những vị trí không thể giữ được. Tại nhiều nơi, họ nhanh chóng bị đè bẹp bởi sức mạnh quân sự quá mạnh của Mỹ và Nam Việt Nam”(12).
Các nhà sử học phương Tây đều nhất trí nhận định: “Cuộc tổng tiến công thất bại với thương vong to lớn” (Phillip B. Davidson) (13). “Có người ước lượng số thương vong lên tới 40 000” (George C. Herring)(14) hay “45 000 người trong tổng số 84 000 người mà họ sử dụng trong các cuộc tiến công” (Phillip B. Davidson)(15) , tức khoảng 1/2 lực lượng tiến công (William J. Duiker)(16).
Không chỉ bộ đội hi sinh, mà ở thành thị “cán bộ lãnh đạo chính trị xuất đầu lộ diện trong các cuộc tiến công” cũng bị tổn thất (Phillip B. Davidson)(17), trong khi đó ở nông thôn “tổ chức chính trị của Cộng sản Miền Nam bị phá vỡ bởi chương trình Phượng Hoàng của CIA” (Stanley Karnow)(18).
“Họ không hoàn thành bất cứ mục tiêu lớn nào của họ” (James S. Olson và Randy Roberts)(19).
Một mặt, “họ không thể thiết lập những vị trí vững chắc trong vùng đô thị” (George C. Herring)(20), “cuối cùng bị đẩy ra khỏi các thành thị lớn” (Chester L. Cooper)(21), “chính phủ [Thiệu] nắm lại quyền kiểm soát đại đa số các thành phố và thị xã (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War)(22). Ở nông thôn cũng vậy, “trong vòng một năm, quân đội Việt Nam cộng hòa đã chiếm lại phần lớn những khu vực bị mất vào tay lực lượng nổi dậy và lại tiếp tục các cuộc hành quân bình định” (William J. Duiker)(23).
Mặt khác, “không chỉ cuộc tổng tiến công… gặp thất bại, mà cuộc tổng khởi nghĩa cũng không hề xảy ra” (Phillip B. Davidson)(24). “Người dân Miền Nam không chịu theo Việt Cộng, ngay tại những thành thị mà Việt Cộng tạm thời cai trị” (Phillip B. Davidson)(25). “Họ không nổi dậy [chống Mỹ – Thiệu] và không đón tiếp Việt Cộng như những người đến giải phóng họ” (James S. Olson và Randy Roberts)(26). Ngược lại, theo Phillip B. Davidson, “họ ủng hộ chính phủ Nam Việt Nam”(27).
“Quân đội Việt Nam cộng hòa không đầu hàng hay đào ngũ” (Phillip B. Davidson)(28), “chính phủ Nam Việt Nam không sụp đổ” (James S. Olson và Randy Roberts)(29).
“Các đơn vị quân sự Việt Cộng gồm phần lớn người dân bản xứ Miền Nam đã chịu gánh nặng chính của cuộc chiến đấu và bị thương vong nặng nề nhất” (Stanley Karnow)(30).
Do đó, “sau cuộc tiến công Tết, quân chính qui Miền Bắc Việt Nam đảm nhận một nhiệm vụ lớn hơn nhiều trong chiến đấu” (James S. Olson và Randy Roberts)(31). Vì vậy, “trong những năm sau đó, quân chính qui Miền Bắc Việt Nam ngày càng đông hơn ở nông thôn Miền Nam” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War)(32).
Là một sĩ quan quân báo cao cấp của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, Phillip B. Davidson lập luận: Thay vì phân tán lực lượng để tiến công hàng chục thành thị khắp Miền Nam, Cộng sản sẽ có nhiều cơ may chiến thắng nếu tập trung quân số khoảng 4 hay 5 sư đoàn để mở các cuộc tiến công chủ yếu vào hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, đồng thời mở các cuộc tiến công thứ yếu vào Tây Nguyên, các tỉnh ven biển Trung Bộ và vùng xung quanh Sài Gòn để kìm chân quân Đồng minh.
Theo Phillip B. Davidson, Quảng Trị và Thừa Thiên gần vĩ tuyến 17 nên công việc hậu cần và yểm trợ từ Miền Bắc và từ vùng giải phóng Lào sẽ dễ dàng hơn. Khi cần rút lui, quân Cộng sản cũng nhanh chóng rút về Miền Bắc hay sang Lào. Khe Sanh có nhiều đặc điểm giống Điện Biên Phủ. Nếu ngay từ đầu, Cộng sản dùng một lực lượng lớn tiến công thì có thể tràn ngập Khe Sanh một cách dễ dàng. Sau khi mở cuộc tiến công Tết, việc chiếm Khe Sanh trở nên khó khăn hơn.
Vẫn theo Phillip B. Davidson, Cộng sản không chọn cách đánh này, vì tuy có nhiều lợi điểm, nhưng chỉ có tiến công quân sự mà không có khởi nghĩa của quần chúng (33).
![]() Johnson và McNamara lo lắng đối phó cuộc tổng tiến công.
2. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN LÀ MỘT THẮNG LỢI TÂM LÍ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CỘNG SẢN
Mãi cho đến cuối năm 1967 – đầu năm 1968, các viên chức Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Washington đều đưa ra những lời tuyên bố lạc quan về tình hình Miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu là tuyên bố của phó tổng thống Hubert H. Humphrey: “Chúng ta đang bắt đầu chiến thắng trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta đang ở thế chủ động. Chúng ta đang giành được đất đai. Chúng ta đang tiến bộ vững chắc” (34).
Do đó, khi xảy ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nhất là khi các chiến sĩ biệt động Sài Gòn tiến công Tòa đại sứ Mỹ, phía Mỹ vô cùng bàng hoàng.
Tướng David Richard Palmer cho biết: “Một sách giáo khoa về lịch sử quân sự in năm 1969 và được các học viên Học viện quân sự West Point [Mỹ] sử dụng trong việc nghiên cứu chiến tranh Việt Nam, viết: Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công… là tình báo của Đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Bắc Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn” (35).
Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB) nhận định: “Mặc dù đã được cảnh báo, nhưng [Mỹ] đã không lường trước được một cách đầy đủ tính cách mãnh liệt, sự phối hợp và thời điểm của cuộc tiến công của đối phương. Đại sứ Bunker và tướng Westmoreland thừa nhận điều đó”.
Theo PFIAB, “yếu tố quan trọng nhất là thời điểm: có ít viên chức Mỹ và Việt Nam [cộng hòa] tin rằng đối phương sẽ tiến công trong dịp Tết… Yếu tố bất ngờ lớn thứ hai là số lượng các cuộc tiến công được mở ra cùng một lúc… Quan trọng hơn là không đoán được tính chất của các mục tiêu [bị tiến công]” (36).
Người Mỹ đầu tiên bị bất ngờ là Ellsworth Bunker, vì chính tòa đại sứ của ông ta bị tiến công rất sớm. Ông tâm sự: “Những báo cáo của tướng Westmoreland gửi cho tôi đều viết: về mặt quân sự, Mỹ đang kiểm soát tình hình”. Vì vậy, khi các cuộc tiến công nổ ra, ông cảm thấy “kinh ngạc vì có nhiều người xâm nhập vào thành phố như vậy, kinh ngạc vì họ lọt được vào bên trong khuôn viên Tòa đại sứ” (37).
Khi tin tức bay về Washington, “cuộc tiến công Tết khiến Johnson sửng sốt. Cả tin vào phần lớn các báo cáo cho rằng Cộng sản đã bị làm suy yếu, ông ta không bao giờ tưởng tượng rằng họ lại có thể đột kích vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn hay tiến công các thành thị ở Miền Nam” (38).
Báo chí – bao gồm báo viết, báo nói và nhất là báo hình – đã đưa chiến tranh Việt Nam đến tận nhà người dân Mỹ. George C. Herring nhận định: “Trong chừng mức Bắc Việt Nam có ý định tiến công Tết để gây ảnh hưởng đối với nước Mỹ thì họ đã thành công, vì cuộc tiến công đã tạo ra những làn sóng chấn động ngay lập tức trong toàn nước Mỹ. Những bài tường thuật trên truyền hình về các trận đánh đẫm máu ở Sài Gòn và Huế chế giễu các báo cáo đầy lạc quan của Johnson và Westmoreland hồi cuối năm [1967], làm tăng thêm sự thiếu niềm tin, và những nhà báo công khai nhạo báng điều mà Westmoreland tự cho là chiến thắng” (39).
Các tác giả cuốn The Lessons of Vietnam War cũng xác nhận “Tác động lớn nhất của Tết… được cảm nhận ở nước Mỹ. Tin tức về các trận đánh trên đài truyền hình đã vẽ nên một bức tranh khác xa những báo cáo tô màu hồng của các người phát ngôn của chính phủ.
Đa số người Mỹ không bao giờ nghĩ rằng những người Cộng sản ở Nam Việt Nam lại đủ mạnh và cả gan tiến công các thành thị hay đột kích Tòa đại sứ Mỹ” (40). “Tính chất dũng cảm táo bạo của cuộc tiến công Tết đã phủ nhận hình ảnh một đối phương kiệt sức và sắp bị đánh bại”(41) như chính quyền Johnson rêu rao, do đó “sau Tết, niềm tin của công chúng [Mỹ] đối với sự lãnh đạo của tổng thống Johnson bị xói mòn nghiêm trọng”(42).
Cho đến cuối năm 1967, lực lượng quân sự Đồng minh có 1 343 800 quân (gồm 485 600 quân Mỹ, 798 800 quân Nguyễn Văn Thiệu, 47 830 quân Hàn Quốc, 6 820 quân Australia, 2 200 quân Thái Lan, 2 020 quân Philippines và 530 quân New Zealand)(43), tất cả đều được trang bị với vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Mỹ vẫn thường tuyên bố: cả chiến lược “tìm và diệt” lẫn chương trình bình định của họ đã và đang thành công.
Chester L. Cooper viết: Với cuộc tiến công Tết, “một điều hiện ra rõ ràng: bất chấp những chương trình bình định đầy tham vọng và những luận điệu lạc quan về sự tiến bộ, Cộng sản dường như vẫn kiểm soát được nông thôn Việt Nam nên có thể đi lại tùy theo ý muốn của họ. Rõ ràng là các nỗ lực [của Mỹ] trong 2 hay 3 năm qua nhằm củng cố vùng thôn quê chống lại Cộng sản tiến công hay xâm nhập trở thành vô ích”(44).
Nhận định của Chester L. Cooper tương tự với ý kiến của Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB): “Tại sao 84 000 bộ đội Việt cộng và Bắc Việt Nam di chuyển ngang qua vùng nông thôn để áp sát các thành thị mà nông dân [Nam] Việt Nam không báo cho chính quyền Sài Gòn hay quân Đồng minh hay biết? Thế thì chương trình bình định nông thôn đã tranh thủ được con tim và khối óc của người dân đến đâu? Ở nông thôn, Việt Nam cộng hòa hay Việt Cộng kiểm soát nhiều đất đai hơn, tranh thủ được nhiều người dân hơn?”(45).
Chester L. Cooper viết tiếp: “Ngay cả đô thị, nơi mà cho đến nay vẫn được xem là nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền [Thiệu], vẫn có thể bị tấn công như thường”(46).
Báo chí Mỹ lúc đó phản ánh suy nghĩ của đa số người Mỹ về cuộc chiến tranh mà chính phủ của họ đang tiến hành ở Việt Nam:
“Nhân dân Mỹ sẽ phải sẵn sàng để thừa nhận viễn cảnh theo đó toàn bộ nỗ lực [của Mỹ] ở Việt Nam có thể sẽ thất bại” (Báo Wall Street Journal)(47).
“Chiến tranh [của Mỹ] ở Việt Nam là không thể thắng được. Chiến tranh ấy càng kéo dài thì người Mỹ càng chịu tổn thất và nhục nhã” (nhà báo Joseph Kraft)(48).
“Một chiến lược tiếp tục làm như cũ là điều không thể tha thứ được” (Tuần báo Newsweek)(49).
Các tác giả The Lessons of Vietnam War nhận định: “Tết đã làm thay đổi ý kiến của công chúng dứt khoát chống lại chiến tranh… Số người ủng hộ chiến tranh giảm mạnh từ 62% xuống còn 41%. Lần đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh, số người chủ hòa chiếm đa số, hầu như tăng gấp đôi chỉ trong vòng 1 tháng (từ 23% lên 43%)”(50).
Nhiều người trước kia là “diều hâu”, nay biến thành “bồ câu”. Dean Rusk, bộ trưởng ngoại giao Mỹ trong hai chính phủ Kennedy và Johnson, nhìn nhận: “Sau cuộc tiến công Tết, có một điều rất rõ ràng là nhiều người dân bình thường [ở Mỹ] cuối cùng đi tới kết luận rằng: nếu chúng ta [tức chính phủ Mỹ] không thể nói cho họ biết lúc nào cuộc chiến tranh này kết thúc thì chúng ta nên vứt nó đi”(51).
![]() Johnson với bản tuyên bố ngày 30/3/1968.
Tại hội nghị chọn ứng cử viên của Đảng Dân chủ ra tranh cử chức tổng thống (tổ chức tại New Hampshire tháng 3-1968), thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, một người chưa có tiếng tăm bao nhiêu, đã giành được 300 phiếu nhờ chủ trương đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam.
“Ngày càng có nhiều người [Mỹ] tin rằng gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm… Nhiều người [Mỹ] yêu cầu chính quyền Johnson rút khỏi Việt Nam”(52). Nhà báo nổi tiếng của hãng CBS, Walter Cronkite, đề nghị: “Cách hợp lí duy nhất để thoát ra [khỏi chiến tranh Việt Nam] là thương thuyết, không phải với tư cách những người chiến thắng, mà như những người chính trực làm điều tốt nhất họ có thể làm”(53).
Tổng thống Johnson lâm vào cảnh bối rối khi phải đối phó cùng một lúc với diễn tiến quân sự ở Việt Nam và với tình hình chính trị ngay tại nước Mỹ trong năm bầu cử tổng thống.
Đầu tháng 2-1968, tướng Westmoreland đề nghị ông gửi thêm 206 000 quân sang Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Earl D. Wheeler, ủng hộ đề nghị này. Bản thân Johnson cũng thấy “bác bỏ yêu cầu này có thể là nguy cơ dẫn tới thất bại trên chiến trường”(54). Nhưng muốn đáp ứng nó, Johnson phải chấp nhận gọi quân dự bị nhập ngũ, tăng thêm thuế, cắt giảm nhiều chương trình phúc lợi xã hội cho người dân Mỹ…, nghĩa là chấp nhận sự thất cử của Đảng Dân chủ.
Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Johnson quyết định bác bỏ yêu cầu tăng quân của Westmoreland. Theo Chester L. Cooper, “đây là lần đầu tiên tổng thống dường như không còn tin rằng, về mặt quân sự, Mỹ đang đi đúng đường”(55). Ngày 31/3/1968, Johnson chính thức đề nghị với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành ngay cuộc đàm phán để thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Đáp ứng điều kiện tiên quyết do đối phương đặt ra, Johnson chấp nhận ngưng ném bom Miền Bắc trong hai bước: một phần (31/3/1968) và hoàn toàn (31/10/1968).
Các quyết định này mở đầu cho sự cáo chung của chiến lược “hai gọng kìm” (tìm – diệt và bình định) của chiến tranh cục bộ ở Nam Việt Nam. Đây là chiến thắng quan trọng nhất của cuộc tiến công Tết như William J. Duiker viết: “Tết dẫn tới một sự thay đổi quan trọng trong chiến lược chiến tranh của Mỹ”(56). Ngoài sự “phá sản hiển nhiên” của chiến lược cũ và đi tìm chiến lược mới, Phillip B. Davidson còn nói tới sự kết thúc của chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ở Miền Bắc và “sự gần như diệt vong của chương trình bình định”(57) như là những kết quả khác của cuộc tiến công Tết.
Đi đôi với sự thay đổi chiến lược là sự thay đổi nhân sự ở cấp cao. Tổng thống Johnson ký giấy cho bộ trưởng quốc phòng McNamara rời Lầu Năm Góc, cho tổng chỉ huy MACV Westmoreland rời “Lầu Năm Góc phương Đông” và sau đó tuyên bố rời Nhà Trắng khi mãn nhiệm kỳ tổng thống chứ không tìm kiếm sự tái tranh cử.
Trong những ngày đầu xuân cách nay tròn 40 năm, bằng xương máu của chính mình, quân và dân Việt Nam đã viết nên một trang sử vẻ vang mà ngay cả giới sử học phương Tây cũng phải thừa nhận là “một bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam”(58), “có tác động to lớn đối với nước Mỹ và dẫn tới một thời kỳ mới trong cuộc chiến tranh tưởng chừng như vô tận này”(59).
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12/2007
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Khám phá "Vạn Lý Trường Thành" Việt Nam
Khám phá "Vạn Lý Trường Thành" Việt Nam28-03-2011 | ||
| ||
Trường lũy ở Quảng Ngãi được các nhà khoa học trong nước và thế giới công nhận là di tích lịch sử độc đáo, có một không hai ở khu vực Đông Nam Á.
Di tích dài nhất Đông Nam Á
Trường lũy dài khoảng 130 km với hơn 100 đồn bảo vệ, chạy dài qua 8 huyện của Quảng Ngãi và 2 huyện Hoài Nhơn và An Lão của tỉnh Bình Định vừa được công bố, đó là Trường Lũy Quảng Ngãi - Bình Định. Công trình này được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 2005.
Theo chính sử, trường lũy được khởi xây từ thế kỷ 17 ở Đàng Trong thuộc chúa Nguyễn. Đến năm 1819, triều Gia Long, nhà Nguyễn thì triều đình sai tả quân Lê Văn Duyệt củng cố và đắp thêm vào lũy.
Hiện, các cuộc khảo sát cho thấy, nhiều phần của trường lũy được làm bằng đá, phần khác được làm bằng đất và có những đoạn làm bằng đất lẫn đá. Kỹ thuật xếp đá ở lũy đặc biệt được sử dụng cũng khác nhau từ đoạn lũy này sang đoạn khác. Sự đa dạng này xuất phát từ việc sử dụng các nguyên liệu tại chỗ trong cấu trúc của lũy và kỹ thuật xây dựng của những người xây lũy (người H’re bản địa, người Việt và binh lính). Một phần nữa là Trường Lũy được đắp thêm, được sửa sang trong suốt thời kỳ tồn tại.
![]() Một đoạn trường lũy Quảng Ngãi - Bình Định. Ảnh: Báo Quảng Ngãi.
Với kỹ thuật xếp đá khéo léo của người xưa, Trường Lũy có độ bền cao, không bị sạt lở, trôi trượt, dù đã hàng trăm năm qua đi. Ở nhiều nơi, lũy cao tới 4m, chân lũy rộng 6m, mặt trên rộng 2,5m. Công trình này có thể ví như “Vạn Lý Trường Thành” của người Việt dù hai công trình này lại khác nhau cơ bản cả về ý tưởng kiến trúc lẫn chức năng.
Công trình quân sự và con đường giao thương
Thời nhà Nguyễn, lũy thể hiện rõ chức năng quân sự. Đây từng là nơi vào năm 1786, khi quân Tây Sơn kéo từ Thị Nại ra đánh lấy Phú Xuân của quân chúa Nguyễn, họ đã dùng con đường thượng đạo này để di chuyển ra bắc mà không bị cản trở như ở hạ nguồn vì nơi đó có những cửa sông lớn chắn lối.
Tuy nhiên, vào năm 2005, các nhà nghiên cứu thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ và Viện Khảo cổ học đã bắt tay vào khai quật, nghiên cứu Trường Lũy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đây không chỉ là công trình được xây nên với mục đích phòng vệ, mang yếu tố quân sự, mà còn là con đường giao thương giữa miền xuôi và miền ngược, giữa vùng núi - đồng bằng và miền biển.
Chính vì vậy, ngoài tính cách phòng thủ, trường lũy còn có công dụng là nơi kiểm soát việc giao thương giữa miền xuôi và miền núi bằng cách thu thuế các sản vật trao đổi giữa thượng nguồn và hạ nguồn. Muối là sản vật chính được đem bán lên vùng sơn cước trong khi đó người miền xuôi mua quế, thóc gạo và các lâm sản khác đem xuống miền đồng bằng.
Nhưng, không chỉ có thế, bên trong mỗi đồn có lối giao thông. Và ngay mỗi đồn như vậy đều có con đường giao thương, tức là giao thương giữa miền biển với miền núi. Đó là giao thương rất cần thiết trong đời sống của nhân dân, tức là đưa gạo và các hải sản ở đồng bằng ven biển lên miền núi và các sản phẩm miền núi xuống đồng bằng.
Hành lang giao thương ở miền Trung, trong đó Quảng Ngãi, có 2 chiều, mà chiều Đông - Tây dựa theo các dòng sông. Ở đây, có các cơ quan thu thuế, thời nhà Nguyễn gọi là các sở tuần ty. Các đồn này vừa kiểm soát thu thuế nhưng đồng thời cũng bảo đảm an ninh cho hệ thống giao thương.
Điều đó khẳng định rõ ràng, ngay thời nhà Nguyễn, lũy cũng không thuần túy có vai trò quân sự mà có kết hợp giao thương và giao lưu văn hóa.
Theo Đất Việt
| ||
Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012
Hình ảnh Rồng trong lịch sử Việt
Hình ảnh Rồng trong lịch sử Việt
Rồng là một trong 12 con giáp, có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc và cũng là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết con rồng cháu tiên của người Việt. Qua mỗi triều đại phong kiến, hình ảnh rồng lại có sự thay đổi rõ rệt.

Hình tượng rồng đã được hình dung lên từ thời đại Hùng Vương qua con vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các sản phẩm đồ đồng thời bấy giờ. Tuy nhiên, thời kì này hình tượng rồng còn khá thô sơ, chưa được tinh tế.
Rồng thời Hùng Vương trông giống với hình dáng cá sấu
Sau thời kì bắc thuộc triền miên, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh "rồng bay lên", Thăng Long, tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn.

Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với vòi lên bao lấy viên ngọc.
Thân rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phiá trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủyu phía sau và có móng giống chân loài chim.
Hình ảnh rồng thời Lý khá rõ nét mang khí thế thăng thiên tượng trưng cho khí thế của dân tộc

Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Rồng thời Trần không còn mang nặng ý nghĩa mơ ước nguồn nước nữa. Dạng tự chữ "S" dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay.
Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.
Rồng thời Trần có nhiều phá cách mới lạ
Sang đến đời nhà Hồ thân hình của hình tượng rồng có phần mập mạp hơn cho thấy sự sung sức, táo bạo của vương triều vừa mới sáng lập bằng cuộc cải cách của Hồ Quý Ly.

Rồng thời nhà Hồ có thân hình mập mạp hơn
Thời Lê, khi Nho giáo thành quốc giáo, uy lực của nhà vua lên đến tột đỉnh, thì hình dáng con rồng dũng mãnh hơn với móng quặp, sừng dài, bờm dựng… Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài rắn uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau.
Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to.Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), qui (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).

Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến
Sang đến thời Mạc, rồng uốn khúc tùy tiện, phản ánh một thời kỳ hỗn độn, phân liệt, tranh chấp liên miên…

Rồng thời nhà Mạc uốn khúc thể hiện thời kỳ phân tranh
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, rồng vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Đến thời nhà Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằng mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.

Rồng nhà Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng
Hình tượng rồng đã được hình dung lên từ thời đại Hùng Vương qua con vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các sản phẩm đồ đồng thời bấy giờ. Tuy nhiên, thời kì này hình tượng rồng còn khá thô sơ, chưa được tinh tế.
Rồng thời Hùng Vương trông giống với hình dáng cá sấu
Sau thời kì bắc thuộc triền miên, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh "rồng bay lên", Thăng Long, tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn.
Rồng thời Lý thường ngẩng đầu lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi, kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, vuốt nhỏ dần về cuối. Một chiếc răng nanh mọc từ cuối hàm trên, uốn cong và vắt qua vòi mép ở trên, có trường hợp răng nanh rất dài, uốn lượn mềm mại để vươn lên, hoặc với vòi lên bao lấy viên ngọc.
Thân rồng dài, dọc sống lưng có một hàng vảy thấp tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Bụng là đốt ngắn như bụng rắn, có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phiá trước, không có ngón chân sau. Vị trí của chân bao giờ cũng đặt ở một chỗ nhất định. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, chân đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này. Hai chân sau bao giờ cũng ở gần khoảng giữa khúc uốn thứ ba. Cả bốn chân đều có khủyu phía sau và có móng giống chân loài chim.
Hình ảnh rồng thời Lý khá rõ nét mang khí thế thăng thiên tượng trưng cho khí thế của dân tộc
Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Rồng thời Trần không còn mang nặng ý nghĩa mơ ước nguồn nước nữa. Dạng tự chữ "S" dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay.
Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.
Rồng thời Trần có nhiều phá cách mới lạ
Sang đến đời nhà Hồ thân hình của hình tượng rồng có phần mập mạp hơn cho thấy sự sung sức, táo bạo của vương triều vừa mới sáng lập bằng cuộc cải cách của Hồ Quý Ly.
Rồng thời nhà Hồ có thân hình mập mạp hơn
Thời Lê, khi Nho giáo thành quốc giáo, uy lực của nhà vua lên đến tột đỉnh, thì hình dáng con rồng dũng mãnh hơn với móng quặp, sừng dài, bờm dựng… Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài rắn uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau.
Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to.Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), qui (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).
Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến
Sang đến thời Mạc, rồng uốn khúc tùy tiện, phản ánh một thời kỳ hỗn độn, phân liệt, tranh chấp liên miên…
Rồng thời nhà Mạc uốn khúc thể hiện thời kỳ phân tranh
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, rồng vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Đến thời nhà Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằng mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.
Rồng nhà Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng
CHÍNH SÁCH NG CỦA VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN
CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO CỦA VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN (1778-1802)
TS. Phạm Văn Lực
Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc
1. Vài nét về sự phát triên của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và sự thành lập vương triều Tây Sơn.
Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn. Năm 1773 quân Tây Sơn dùng mưu đánh chiếm được thành Quy Nhơn. Tương truyền Nguyễn Nhạc tự ngồi vào cũi cho quân lính của mình khiêng đến trá hàng, nộp quân họ Nguyễn. Nửa đêm, ông phá cũi, cùng quân trá hàng làm nội ứng và quân bên ngoài tới phối hợp đánh chiếm thành. Thành này là nơi các nhà buôn, vì đã phải chịu nhiều luật lệ ngăn cấm do triều đình họ Nguyễn đưa ra, đã quay sang ủng hộ tài chính cho Tây Sơn.
Sau khi hạ thành Quy Nhơn, quân Tây Sơn nhanh chóng đánh xuống phía nam, kiểm soát vùng đất từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận.
Tháng 10 năm 1774, chúa Trịnh Sâm, sau 100 năm giữ hòa bình với chúa Nguyễn, sai Quận Việp Hoàng Ngũ Phúc, một viên tướng lão luyện, mang 4 vạn quân vào nam tấn công Phú Xuân (Huế), cũng lấy danh nghĩa trừng phạt Trương Phúc Loan. Mặc dù chúa Nguyễn Phúc Thuần buộc phải trói Loan nộp cho Hoàng Ngũ Phúc nhưng rồi quân Trịnh vẫn tiến. Quân Nguyễn không chống nổi, quân Trịnh chiếm thành Phú Xuân, buộc họ Nguyễn phải bỏ chạy về Quảng Nam. Nhưng tại đây chúa Nguyễn lại bị Tây Sơn đánh ra uy hiếp, bắt được hoàng tôn Dương. Chúa Nguyễn cùng thế phải vượt biển trốn vào Gia Định (tức Sài Gòn). Hoàng tôn Dương sau đó cũng dùng kế trốn thoát theo chúa Nguyễn.
Quân Trịnh tiếp tục đi về phía nam vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn ở Quảng Nam. Quân Tây Sơn thua trận. Trước tình thế "lưỡng đầu thọ địch", Nguyễn Nhạc xin giảng hòa với quân Trịnh, trên danh nghĩa đầu hàng nhà Lê, xin làm tiên phong đi đánh chúa Nguyễn ở Gia Định. Chúa Trịnh bằng lòng và phong chức cho Nguyễn Nhạc.
Tạm yên mặt Bắc, Tây Sơn tập trung lực lượng tiếp tục việc chinh phục phía nam. Trong gần 10 năm (từ 1776 đến 1783) quân Tây Sơn nhiều lần vào đánh chiếm Gia Định. Năm 1777, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn bắt được cả Định vương Thuần lẫn Hoàng tôn Dương đem xử tử. Một cháu trai là Nguyễn Ánh, con của Nguyễn Phúc Luân, lúc đó 15 tuổi, chạy thoát ra đảo Thổ Chu.
Mỗi năm cứ đến mùa gió thuận thì binh Tây Sơn trẩy thuyền vào Nam ruồng kiếm, quyết tận diệt dòng Nguyễn Phúc[12].
Tuy nhiên, lần nào cùng vậy, sau khi chiếm được Gia Định, chủ tướng (Nguyễn Lữ hoặc Nguyễn Huệ) và quân chủ lực của Tây Sơn rút về giao lại cho một bộ tướng coi giữ, chỉ một thời gian sau lực lượng họ Nguyễn lại tụ tập và nhanh chóng chiếm lại vùng Nam Bộ. Nguyễn Ánh được tướng Đỗ Thanh Nhân (Nhơn) đón và lập làm chúa Nguyễn mới (1778). Ánh tụ tập lại lực lượng trung thành, khởi binh từ đất Long Xuyên, đánh đuổi quân trấn thủ Tây Sơn tại Gia Định, lấy lại thành Sài Côn. Bấy giờ Nguyễn Ánh mới được các tướng tôn làm Đại nguyên súy, Nhiếp quốc chính. Năm 1780, Nguyễn Ánh xưng vương.
Quân Tây Sơn nhiều lần đánh vào nam và truy sát nhưng nhờ may mắn, Ánh đều trốn thoát, có lần phải lênh đênh ngoài biển dưới bão mấy ngày.
Đến năm 1783, sau khi Nguyễn Huệ ra quân lần thứ tư, quân Nguyễn thua to, quân Nguyễn Ánh bị đánh bật khỏi nước Đại Việt. Nguyễn Ánh bỏ chạy, trốn thoát sangXiêm và cầu cứu quân Xiêm.
.
Tháng 2 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Ánh từ Hà Tiên sang Xiêm La hội kiến với vua Xiêm La là Chất Tri (Chakri, Rama I) tại Vọng Các (Bangkok). Theo quan điểm của các tác giả Việt Nam hiện đại là Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng thì đây là lần "cõng rắn cắn gà nhà" đầu tiên của Nguyễn Ánh.
Vua Xiêm sai hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền. Ngoài ra còn có 3 vạn quân bộ tiến sang Chân Lạp với danh nghĩa giúp vua Chân Lạp, thực chất với ý đồ tạo gọng kìm phía Tây, chờ cơ hội tiêu diệt quân Tây Sơn.
Quân Xiêm nhanh chóng lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc. Tuy nhiên, do ỷ thế đi đến đâu quấy nhiễu dân sự, làm nhiều điều tàn ác, cho nên bị dân chúng oán hận, ngay cả chúa Nguyễn Ánh cũng phải nói trong 1 bức thơ gởi cho linh mục J. Liot: "Nay thì Xiêm binh đại tứ lỗ lược, dâm nhơn phụ nữ, lược nhân tài vật, túng sát bất dung lão thiếu. Vậy nên Tây tặc binh thế nhựt thạnh, Xiêm binh thế nhựt suy. Cớ ấy qua tháng chạp, mùng tám vừa thất lợi, các giai hội tản”... .
Tướng Tây Sơn giữ đất Gia Định là phò mã Trương Văn Đa, thấy quân Xiêm thế lực mạnh, bèn cố thủ tại Gia Định và sai người về Quy Nhơn báo. Vua Tây Sơn sai Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem quân vào đánh.
Sau khi vào Gia Định, Nguyễn Huệ cho bố trí trận địa và nhử quân Xiêm đến gầnRạch Gầm và Xoài Mút ở phía trên Mỹ Tho, rồi đánh một trận, tiêu diệt quân Xiêm.
Đêm 19 rạng 20 tháng 1 năm 1785 (đêm 9 rạng 10 tháng 12 năm Giáp Thìn), quân Xiêm lợi dụng thủy triều xuôi theo dòng sông để tấn công Mỹ Tho nhằm phá vỡ đội thuyền phòng thủ của Tây Sơn. Quân Tây Sơn giả thua rút dần về hướng Mỹ Tho, nhử đối phương lọt vào trận địa mai phục đoạn Rạch Gầm - Xoài Mút. Khi quân Xiêm lọt vào trận mai phục, bất ngờ quân Tây Sơn bắn pháo ở cù lao Thới Sơn và bờsông Tiền, khóa chặt hai đầu, dồn quân Xiêm vào thế "tiến thoái lưỡng nan". Bên cạnh đó, hỏa hổ ở hai bên bờ nã đạn tới tấp vào đội hình làm quân Xiêm rối loạn, tinh thần hoang mang rồi bỏ chạy. Cùng lúc đó, một đội thuyền cảm tử chở đầy rơm và những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào thuyền quân Xiêm làm cho số bị chìm, số bị cháy. Trong khi đó, cánh quân bộ Xiêm La ngay từ đầu đã bị quân Tây Sơn chặn đánh không cho cứu viện.
Chỉ một trận quyết chiến diễn ra không đầy một ngày đã tiêu diệt quân Xiêm, chỉ sót được vài nghìn người, chạy theo đường thượng đạo trốn về nước. Các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh phải bỏ chạy theo đường bộ về Xiêm La, 4000 quân chỉ còn lại 800. Cánh quân Xiêm trên bộ nghe tin thất trận cũng tan rã và tháo chạy.
Trận đánh chớp nhoáng là một kỳ tích của Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn. Sau trận đánh này, quân Tây Sơn nổi tiếng đến mức số quân Xiêm còn lại phải thốt lên rằng: "Sợ Tây Sơn như sợ cọp"[17].
Tại Bắc Hà, năm 1782, Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm chết. Con nhỏ Trịnh Cán được lập. Phe người con lớn là Trịnh Tông (hay Trịnh Khải) làm binh biến, giết quan phụ chính là quận Huy Hoàng Tố Lý (cháu lão tướng Hoàng Ngũ Phúc) đưa Trịnh Tông lên ngôi, tức là Đoan Nam vương (1782-1786).
Một tướng cùng phe với quận Huy là Nguyễn Hữu Chỉnh không hợp tác với Trịnh Tông, bỏ chạy vào nam hàng Tây Sơn và được Nguyễn Nhạc rất tín nhiệm.
Bắc Hà ngày một suy yếu. Kinh thành Thăng Long bị quân kiêu binh - những kẻ có công tôn lập chúa Trịnh - càn quấy, tàn phá. Sau khi đánh bật được Nguyễn Ánh ra khỏi lãnh thổ, Nguyễn Nhạc quyết định đánh chiếm Phú Xuân (đất cũ của chúa Nguyễn). Năm 1786, ông cử Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy đánh ra Bắc.
Về phía Trịnh, năm 1775, sau khi nhận hàng Nguyễn Nhạc, lão tướng Hoàng Ngũ Phúc rút đại quân về Bắc, để lại Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể giữ thành Phú Xuân, sau đó không lâu qua đời.
Dẹp Án Đô vương
Sau khi quân Tây Sơn rút đi, các thế lực của chúa Trịnh từng bỏ trốn khi Tây Sơn kéo ra như Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ trỗi dậy, lập Trịnh Bồng lên ngôi vương, tức là Án Đô vương, tái lập chính quyền chúa Trịnh.
Vua Lê Chiêu Thống đang muốn chấn hưng nhà Lê bèn mời Nguyễn Hữu Chỉnh đang trấn ở Nghệ An ra dẹp Trịnh Bồng. Chỉnh nhanh chóng đánh tan quân Trịnh, đốt phủ chúa, Trịnh Bồng bỏ đi mất tích. Họ Trịnh mất hẳn, nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng hành như chúa Trịnh trước kia.
Mâu thuẫn nội bộ
Sự kiện mâu thuẫn giữa anh em Tây Sơn dẫn đến sự kiện khoảng đầu năm 1787, Nguyễn Huệ mang 60.000 quân nam tiến vây thành Quy Nhơn. Theo thư của một sốlinh mục Pháp, để có đủ 6 vạn quân vây bọc thành Quy Nhơn, Nguyễn Huệ bắt thêm toàn bộ số đinh Thuận - Quảng vào lính, khiến nhiều vùng không còn đàn ông nữa. Nguyễn Nhạc bị vây ngặt bèn gọi Đặng Văn Trấn, đang trấn thủ Gia Định, ra cứu. Trấn vâng lệnh mang quân ra, nhưng đến Phú Yên đã bị Nguyễn Huệ bắt sống. Nguyễn Huệ nã pháo tới tấp vào thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc bị vây bức quá phải lên thành khóc xin em đừng đánh thành nữa. Nguyễn Huệ bằng lòng giảng hòa với anh.
Tuy nhiên, theo một giáo sĩ phương Tây tại Việt Nam lúc đó, anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tuy mâu thuẫn nhưng cho đến khi Nguyễn Huệ bắt được Đặng Văn Trấn, quân đội hai bên vẫn chưa thực sự đánh nhau thì Nguyễn Lữ đứng ra điều đình và hai bên vì tình cảm trong nhà đã đồng ý giảng hoà.
Nguyễn Nhạc phong vương cho hai em, mỗi người chia nhau giữ một khu vực từ tháng 4 năm 1787:
- Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn.
- Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định.
- Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra Bắc.
Nguyễn Huệ giảng hoà và nhận chức Bắc Bình vương của vua anh phong. Hai anh em lấy Bản Tân làm ranh giới, từ Thăng Hoa, Điện Bàn ra Bắc thuộc Nguyễn Huệ, từQuảng Ngãi trở vào thuộc vua Thái Đức. Như vậy vua Thái Đức đã thoả mãn yêu cầu được cai quản Quảng Nam của vua em. Còn Nguyễn Lữ trấn thủ Gia Định, có thái bảo Phạm Văn Tham giúp sức.
Việc bất hòa giữa anh em Tây Sơn để lại hậu quả nghiêm trọng và lập tức bị kẻ địch từ hai phía tận dụng.
Ở phía nam, sau trận Rạch Gầm - Xoài Mút, Nguyễn Huệ đã chủ động giao hảo với vua Xiêm để cởi bỏ thù hằn, do đó vua Xiêm không có ý giúp Nguyễn Ánh trở về lần nữa[23]. Tuy nhiên sau 3 năm lưu vong ở Xiêm, Nguyễn Ánh nhận ra cơ hội này để về nước và đã tập hợp lực lượng, trở về vào tháng 8 năm 1787.
Nguyễn Lữ hèn yếu nghe tin Nguyễn Ánh trở về vội vã tránh đi nơi khác để Gia Định cho Phạm Văn Tham giữ. Sau đó thế quân Nguyễn Ánh ngày càng mạnh khiến Nguyễn Lữ sợ hãi mang quân bản bộ rút chạy về Quy Nhơn. Quân Tây Sơn đã mỏng lại càng mỏng. Mặc dù sau đó Phạm Văn Tham đã nỗ lực chống trả nhưng vì không được viện binh trợ lực nên tháng 8 năm 1788 Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định. Phạm Văn Tham rút chạy ra ngoài vẫn cố đơn độc chiến đấu để chờ viện binh nhưng lúc đó Nguyễn Nhạc chỉ lo phòng bị vua em Bắc Bình vương ở phía bắc mà không đoái hoài đến việc cứu phía nam nữa. Thế cùng sức kiệt, đầu năm 1789 Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh vây chặt, lại bịt đường ra biển về Quy Nhơn nên buộc phải đầu hàng. Tây Sơn lại mất Nam Bộ.
Sau một thời gian để mất Gia Định trở về Quy Nhơn, Đông Định vương Nguyễn Lữ lâm bệnh qua đời. (Xem thêm bài về Nguyễn Lữ)
Ở Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh nhân lúc Tây Sơn lục đục bèn có ý chống lại Tây Sơn. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm, con rể của Nguyễn Nhạc, ra tiêu diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Tuy nhiên, đến lượt Vũ Văn Nhậm chuyên quyền, có ý chống Nguyễn Huệ. Tháng 4 năm 1788, Lê Chiêu Thống đã bỏ kinh đô lưu vong. Nguyễn Huệ phải đem quân ra Bắc lần thứ hai, giết Vũ Văn Nhậm. Ông tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa các danh sĩ có tên tuổi như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích ra đảm đương công việc.
Sau khi đã lập Sùng nhượng công Lê Duy Cận làm Giám quốc, Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân.
Đại phá quân Mãn Thanh
Cuối năm 1788, vua Thanh đương thời là Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn 29 vạn quân, huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu[24] hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long.
Càn Long còn đặc cử Phúc An Khang chuyên trách hậu cần. Theo sách Thánh vũ ký, phần "Càn Long chinh phủ An Nam ký" của Ngụy Nguyên đời Thanh, Phúc Khang An đã thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Khang An thiết lập 18 kho quân lương trong khi Tôn Sĩ Nghị hành quân.
Quân Tây Sơn do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ chờ lệnh.
Quang Trung đại phá quân Thanh
Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà. Với lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về, để có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung.
Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân. Ngoài ra còn có một đội tượng binh với hơn 100 voi chiến[25]. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ ý chí quyết chiến, quyết thắng của tướng sĩ đối với quân xâm lược Mãn Thanh. Ngay sau lễ duyệt binh, Quang Trung tiến quân ra Bắc Hà.
Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình. Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10 ngày sẽ quét sạch quân Thanh.
Sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh[26] bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu. Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu - 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long.
Tôn Sĩ Nghị dẫn tàn quân bỏ chạy, trên đường chạy liên tiếp bị quân Tây Sơn mai phục chặn đánh. Cuối cùng, Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống chạy thoát về Trung Quốc.
2. Chính sách ngoại giao của vương triều tây Sơn.
Ngay sau chiến thắng Kỷ Dậu, Quang Trung vội trở lại Phú Xuân để đề phòngNguyễn Ánh, trao lại binh quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm.
Một mặt lo chống thù trong giặc ngoài, mặt khác vua Quang Trung rất quan tâm tới việc xây dựng đất nước. Vua khuyến khích người hiền tài ra giúp nước, phân phối đất đai cho những người nông dân nghèo, thúc đẩy thủ công nghiệp từng bị cấm trước kia, cho phép tự do tôn giáo, mở cửa Việt Nam với ngoại thương quốc tế và bỏ chữ Hán như là chữ viết chính thức của quốc gia. Chọn chữ viết chính thức của quốc gia là chữ Nôm.
Về ngoại giao, ngay từ trước khi giao chiến với quân Thanh, Quang Trung đã tính đến chiến lược ngoại giao với nhà Thanh. Theo phương lược vạch sẵn, với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, Tây Sơn nhanh chóng bình thường hóa bang giao với nhà Thanh. Vua Thanh Càn Long đã cho sứ giả vào tận Phú Xuân để phong vương cho Nguyễn Huệ; rồi hoàng đế Quang Trung giả đã sang triều kiến và dự lễ mừng thọ 80 tuổi của vua Càn Long nhà Thanh.
Việc nhà Thanh công nhận nhà Tây Sơn khiến Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) phải uất hận chết ở Trung Quốc cuối năm 1792.
* Dẹp Lê Duy Chi, tấn công Vạn Tượng
Quân Thanh, lực lượng cứu trợ cho nhà Lê bị đánh tan nhưng các lực lượng thân nhà Lê vẫn tiếp tục hoạt động ở phía bắc khiến vua Quang Trung tiếp tục phải đánh dẹp. Em Lê Duy Kỳ là Lê Duy Chi được sự hợp tác của các tù trưởng Hoàng Văn Đồng, Nông Phúc Tấn đẩy mạnh hoạt động ở Cao Bằng, Tuyên Quang. Duy Chi tìm cách liên kết với các tù trưởng người Vạn Tượng (vương quốc Viêng Chăn thời vua (Chao) Nanthasen (tức Chiêu Nan) và vua (Chao) Intharavong Setthathirath III(tức Chiêu Ấn)) để chống Tây Sơn. Nước Xiêm La khi đó cũng muốn trả thù Tây Sơn sau Trận Rạch Gầm - Xoài Mút nên tìm cách khống chế nước Vạn Tượng và tràn sang tác động tới các tù trưởng người Việt ở Trấn Ninh, Quy Hợp xứ Nghệ An và liên lạc với cựu thần nhà Lê là Trần Phương Bính[27]. Mặt khác, Xiêm La cũng liên lạc vớiNguyễn Ánh ở Gia Định để cùng Duy Chi tổ chức tấn công Tây Sơn. Theo kế hoạch này, quân Duy Chi sẽ đánh xuống từ Cao Bằng, Nguyễn Ánh đánh lên từ Gia Định, còn quân Vạn Tượng và Xiêm sẽ đánh vào Thanh Hóa, Nghệ An[28].
Đứng trước nguy cơ bị tấn công từ ba mặt, sau khi thực hiện thành công việc bang giao với nhà Thanh, đầu năm 1791, Quang Trung tập trung đối phó với Lê Duy Chi và quân Vạn Tượng – Xiêm. Ông sai sứ sang Trấn Ninh, Quy Hợp để thăm dò tình hình nhưng bị vua Vạn Tượng bắt giữ và nộp cho Xiêm La. Xiêm La sai sứ mang cờ và trống của Tây Sơn vào Gia Định cho Nguyễn Ánh để khuyến khích Ánh ra quân[29].
Quang Trung quyết định ra quân. Ông sai hoàng tử Nguyễn Quang Thùy đang trấn thủ Thăng Long cùng các tướng Bắc Hà mang quân đánh Lê Duy Chi; sai Trần Quang Diệu và Lê Trung mang quân đánh Trấn Ninh, Quy Hợp. Quang Thùy đánh lên Cao Bằng nhanh chóng đánh bại và bắt được cả Lê Duy Chi, Hoàng Văn Đồng và Nông Phúc Tấn mang về Thăng Long xử tử.
Ở phía tây, Trần Quang Diệu cũng nhanh chóng diệt được Trần Phương Bính ở ven núi Hồng Lĩnh[30]. Tới tháng 6 năm 1791, Quang Diệu mang 3 vạn quân sang Trấn Ninh bắt được các tù trưởng thiệu Kiểu, thiệu Đế. Tháng 8 năm đó, Quang Diệu đánh bại Quy Hợp. Tháng 10, quân Tây Sơn tiến sang Vạn Tượng. Vua Vạn Tượng là Chao Nan (Chao Nanthasen) không chống nổi phải bỏ trốn sang Xiêm. Quang Diệu tiến vào Viên-chăn đến tận biên giới Xiêm, các tướng Vạn Tượng là tả phan Dung, hữu phan Siêu tử trận.
Nguyễn Ánh ở Gia Định không dám ra quân[31]. Chân Lạp là đồng minh của Tây Sơn cũng chuẩn bị lực lượng để phối hợp nếu quân Tây Sơn vượt biên giới Vạn Tượng tiến vào Xiêm hoặc Gia Định khiến các giáo sĩ ở Gia Định lo sợ, chuẩn bị tìm đường chạy[32]. Nhưng Trần Quang Diệu đi đánh xa lâu ngày, được lệnh rút về.
Đầu năm 1792, quân Tây Sơn trở về Đại Việt. Không lâu sau, lực lượng phù Lê của Trần Quang Châu ở Kinh Bắc cũng bị tiêu diệt.
Giữa năm 1792, Quang Trung đã gửi thư đến Càn Long cầu hôn một nàng công chúa Thanh triều và "xin" hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Ông cũng sai đô đốc Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều kiến vua Càn Long. Tuy nhiên, dự định không thực hiện được vì cái chết đột ngột và bí ẩn của ông. (Xem bài viết về Nguyễn Huệ)
*Với Xiêm La
Sau khi giết hai chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương vào năm 1777, thủ lĩnh phong trào Tây Sơn là Nguyễn Nhạc xưng làm hoàng đế năm 1778, đặt hiệu là Thái Đức, chính thức thiết lập triều đình Tây Sơn. Lực lượng sót lại của chúa Nguyễn vẫn chống Tây Sơn tại Nam Bộ, lập cháu chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh làm chúa mới. Từ năm 1778 đến 1783, Nguyễn Ánh nhiều lần tập hợp lực lượng khôi phục nhưng bị Tây Sơn đánh bại phải bỏ chạy.
Trong hoàn cảnh đó, cả Nguyễn Ánh và Tây Sơn đều muốn tranh thủ Xiêm La đang thịnh trị và thực hiện chính sách bành trướng[1] dưới sự trị vì của vương triều Chakri. Nguyễn Ánh muốn cầu viện Xiêm La mang quân giúp đánh Tây Sơn. Tây Sơn cũng muốn đặt quan hệ với Xiêm La để tránh một cuộc chiến với nước láng giềng. Do đó Nguyễn Nhạc đã cử sứ giả đến Bangkok gặp vua Xiêm La Rama I. Giám mục người Pháp Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) - người ủng hộ đắc lực cho Nguyễn Ánh- đã gặp vị sứ giả này vào tháng 11 năm 1783 tại kinh đô Bangkok[2].
Tài liệu phản ánh rất ít về chuyến đi sứ của phía Tây Sơn trong việc thiết lập quan hệ hữu hảo với Vương quốc Xiêm La. Kết quả sau đó cho thấy trong thời điểm phải chọn lựa giữa Tây Sơn và Nguyễn, Rama I đã chọn Nguyễn, do sự tranh chấp ảnh hưởng giữa Tây Sơn và Xiêm tại vùng đệm là nước Chân Lạp[3]. Việc thiết lập hòa bình với Xiêm La của Nguyễn Nhạc không thành công và chiến tranh sau đó bùng nổ, Xiêm La giúp đỡ Nguyễn Ánh vì muốn tranh thủ chúa Nguyễn làm con bài để mang quân sang giành lại ảnh hưởng ở Chân Lạp và đánh Nam Bộ của Đại Việt. Quốc vương Rama I đã liên minh với Nguyễn và cho cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương mang quân tiến đánh Gia Định[4][1].
Liên quân Xiêm-Nguyễn chiếm ưu thế tại chiến trường. Nguyễn Huệ mang quân từ Quy Nhơn vào tiếp ứng cho Trương Văn Đa. Sau vài trận đánh chưa phân thắng bại, để tìm cách ly gián giữa chúa Nguyễn Ánh với quân Xiêm, Nguyễn Huệ dùng một người Chân Lạp làm sứ giả mang nhiều vàng bạc, gấm vóc đến gặp chủ tướng của quân Xiêm xin giảng hòa với điều kiện như sau[1]:
“Tân triều (Tây Sơn) và cựu triều (Nguyễn Ánh) nước tôi tranh nhau lãnh thổ và nhân dân, không thể cùng đứng với nhau được. Nước tôi cùng nước Xiêm cách trở xa xôi, trâu và ngựa không đánh hơi nhau được, chẳng hay vương tử (chỉ Chiêu Tăng) đến chốn này làm gì. Chi bằng hai nước chúng ta hòa hiếu với nhau. Sau khi xong việc, nước tôi sẽ y lệ tiến cống. Như thế có phải là được lợi lâu dài không? Vậy việc cựu chúa (chỉ Nguyễn Ánh) nước tôi để mặc chúng tôi lo liệu, xin vương tử đừng có giúp đỡ”
Sau đó Nguyễn Huệ còn nhiều lần biếu vàng lụa cho các tướng Xiêm và sai sứ giả xin điều đình giảng hòa khiến Chiêu Tăng tin rằng Nguyễn Huệ không dám tiến công và đang chờ đợi kết quả giảng hòa, bất chấp sự hoài nghi của Nguyễn Ánh[1]. Dù vậy, Chiêu Tăng không thực lòng hòa với Tây Sơn mà vẫn tiến quân đánh Mỹ Tho vì tin rằng việc nhận lời cho hòa với Tây Sơn sẽ làm Nguyễn Huệ mất cảnh giác. Nhưng Nguyễn Huệ đã dự liệu được ý đồ của Chiêu Tăng và phục binh tiêu diệt đại bộ phận quân Xiêm ở Rạch Gầm-Xoài Mút
Hoạt động ngoại giao ban đầu của Nguyễn Nhạc với vua Xiêm La năm 1783 mang mục tiêu cứu vãn hòa bình; ngược lại việc Nguyễn Huệ sai sứ cầu hòa với Chiêu Tăng trước đại chiến Rạch Gầm-Xoài Mút ngoài tính chất chính trị để chia rẽ quân Xiêm và Nguyễn Ánh còn mang tính chất chiến thuật quân sự khiến quân địch coi thường lực lượng Tây Sơn.
*Với Trung Quốc
Quân Tây Sơn trong khi đuổi đánh quân Thanh, đã bắt được chiếu thư cùng quân ấn của Tôn Sĩ Nghị, qua đó nắm biết được đầy đủ âm mưu xâm lược Đại Việt củanhà Thanh. Hiểu rõ tình hình kẻ địch như vậy, để dập tắt cuộc chiến tranh có thể lại xảy ra, vua Quang Trung đã sáng suốt "tấn công" trước bằng chính trị, ngoại giao. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích là những người giữ vai trò quan trọng thực hiện chủ trương ấy.
Sách lược của Càn Long
Khi truy kích quân Thanh vua Quang Trung đã bắt được chiếu thư Càn Long gửi Tôn Sĩ Nghị có đoạn viết: ...việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước củ hợp nghĩa binh, tìm Tự quân nhà Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ thử xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quân ta kéo đến ai chẳng gắng sức.
Nguyễn Huệ tất phải tháo lui. Ta nhân dịp ấy mà sai Tự quân đuổi theo rồi đại binh của ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy mà nên được công to. Đó là mẹo hay hơn cả.
Ví bằng suốt người trong nước nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng đi đường bể sangThuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau thụ địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên: Tự đất Thuận Hóa, Quảng Nam trở vào Nam thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan, châu Ái trở ra Bắc thì phong cho Tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế cả hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau.
Xem sách lược trên, thì quả vua Càn Long là người thông thạo cách dùng binh. Xem tờ tấu của Tôn Sĩ Nghị lại thấy có những câu sau:
...Nội lực nhà Lê yếu lắm, rồi ra chắc cũng không giữ nổi nước đâu. Nay họ sang cầu viện đối với danh nghĩa bề ngoài không lẽ triều đình ta không cứu... Nhân dịp này nếu hưng phục cho nhà Lê được rồi ta sẽ đặt thú binh mà giữ lấy nước. Thế là vừa có ơn với Lê, lại vừa lấy được An Nam. Thật là nhất cử lưỡng lợi.
Giai đoạn đầu cuộc chiến
Khi Tôn Sĩ Nghị sắp kéo quân sang Đại Việt, ông cho đưa thư báo mọi người biết: Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu. Tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở liền cho thảo một bức thư ký tên Sùng nhượng công Lê Duy Cẩn, rồi cho Nguyễn Nha đưa đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, với những lời lẽ thật mềm dẻo, nhưng lại có những cảnh báo cho quân Thanh thấy rằng nếu đem quân vào, nhân dân Đại Việt đã thực hiện vườn không nhà trống; quân đội thì sẵn sàng và kiên quyết đánh giặc, được thể hiện ở những câu sau: ...Hiện nay, trong nước tôi đột nhiên nghe tin quân Thiên triều sắp qua cửa ải...Lính thì sợ vướng víu vào nghịch án, nên họ bảo nhau rằng: "Không đánh lại thì bị giết sạch!" Dân thì sợ không lấy gì cung ứng cho quân lương, nên họ bảo nhau rằng: "Không trốn tránh thì bị chết hết!" Vì thế, quân các đạo đều tranh nhau đến nơi đồn lũy, dân các xứ đều xô nhau tìm vào nơi núi rừng... Nhưng Tôn Sĩ Nghị, bác bỏ thư của Ngô Văn Sở, rồi cứ cho quân vượt trấn Nam Quan vào Đại Việt.
Khi quân Thanh đang chiếm đóng Thăng Long
Vua Quang Trung sai Trần Danh Bính dẫn đầu một sứ bộ gồm 18 người đến Thăng Long đưa cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo bẩm văn, Một đạo nhân danh giám quốc Lê Duy Cẩn, một đạo nhân danh quần thần văn võ, một đạo nhân danh nhân dân xin Tôn Sĩ Nghị đóng quân ở trấn Nam Quan để tra xét nội tình nhà Lê và Tây Sơn từ trước đến giờ. Vua Quang Trung còn đem nộp cho Tôn Sĩ Nghị những tuần dương binh là nhóm Hắc Thiên Tôn gồm 40 người do Ngô Hồng Chấn, tướng Tây Sơn, bắt được từ trước.
Nhưng Tôn Sĩ Nghị xem bẩm văn liền xé phăng ngay đi, rồi sai đem bọn Trần Danh Bính ra giết. Sau đó, Tôn Sĩ Nghị cho truyền hịch đi các nơi kể tội quân Tây Sơn, báo cho mọi người biết, quân Thanh sẽ đánh thẳng vào Quảng Nam bắt sống "bọn Nguyễn Huệ" mới thôi.
Sau trận Ngọc Hồi - Đống Đa
Ngay từ khi kéo quân đến Tam Điệp trên đường ra Thăng Long đánh quân Thanh, Vua Quang Trung đã tính đến việc giảng hòa với nhà Thanh sau khi thắng trận. Cho nên khi kéo quân vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cấm giết bại binh Thanh mỗi khi bắt được. Nhà vua lại cho phép quân Thanh được ra thú. Nhờ chính sách khoan hồng này, số quân Thanh được giải về Thăng Long có hơn 800 người, họ đều được cấp lương ăn và quần áo mặc. Trước khi trao trả cho nhà Thanh, vua Quang Trung ra một tờ chiếu dụ chúng, với lời lẽ chính nghĩa đanh thép, đầy tự hào mà chí tình chí lý:
"Việc quân là cái độc của thiên hạ.
Gặp giặc thì giết, lẽ đó là thường.
Bắt được mà tha, xưa chưa từng có.
Trẫm theo lẽ trời và thuận lòng người, nhân thời cách mệnh, lấy việc binh nhung mà định thiên hạ. Việc Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị nhà các ngươi sức hèn tài mọn, không biết tự lượng, đem hai mươi chín vạn quân sang cửa quan, vượt suối trèo non, vô cớ xông vào chỗ hiểm nguy để gây binh hấn, khiến cho các ngươi, một lũ dân đen vô tội phải nằm sương gối tuyết và chết ở hòn đạn mũi tên. Đó là tội của Tổng đốc nhà các ngươi.
Trẫm trỏ cờ lệnh, chỉ trong một trận, quét sạch các ngươi như kiến cỏ; kẻ đã chết trận xương chất thành núi . Những kẻ trận tiền bị bắt, hoặc thế bách xin hàng, đáng lẽ phải thiết quân luật mà chém ở pháp trường. Song vì thể tấm lòng hiếu sinh của thượng đế và lấy tấm lòng bao dung, trẫm tha tính mạng cho các ngươi và cho các ngươi được sung vào các hàng quân hoặc cấp lương hướng cho, để các ngươi khỏi bị khổ kẹp cùm, đánh đập.
Đấng vương giả coi bốn bể như một nhà, các ngươi nên thể lòng trẫm mà bỏ sự ngờ sợ để báo ơn trẫm."
Khi đem những tù binh này trả về Trung Quốc, Vua Quang Trung có viết cho Thang Hùng Nghiệp bức thư trong đó có đoạn:
... Trượng phu làm việc bao giờ cũng minh bạch, không giết kẻ đã xuống ngựa xin hàng, nên đối với họ tôi đã nhất nhất thu nuôi cả. Nay đã điều tra cẩn thận, thì số quan quân hiện còn ở quốc đô vào hơn 500 người. Ngoài số 200 tên do quân bản bộ đem đến những nơi trấn thủ và ngót 100 bị đau ốm bị tật dịch ra, tôi giao cho bồi thần là bọn Nguyễn Hữu Trù đem đến cửa ải nộp trả hơn 550 tên. Còn 200 tên nữa thì đang đi đường khác sẽ lục tục nộp sau... [16]
Bước đầu đàm phán
Lúc này, Quảng Tây phân tuần Tả giang binh bị đạo thống lý biên vụ là Thang Hùng Nghiệp. Đã nhìn thấy bằng mắt sức mạnh của quân đội Tây Sơn. Ông đã thấy nhân dân Trung Quốc lũ lượt chạy lên phía bắc khi họ được tin quân Tây Sơn đuổi quân Thanh của Tôn Sĩ Nghị đã vào trấn Lạng Sơn. Ông biết rằng nếu để chiến tranh lại xảy ra một lần nữa thì trước hết chỉ có hại cho nhân dân Trung Quốc, sau nữa có hại trực tiếp ngay đến bản thân địa vị của ông. Là biên thần ở Quảng Tây ông không thể không tham dự cuộc viễn chinh. Trong trường hợp lại thất bại, chức vị của ông sẽ khó được bảo toàn. Trước mắt chỉ có một con đường là chấm dứt chiến tranh, giảng hòa với triều đại Tây Sơn thì mới có lợi cho nhân dân Trung Quốc và có lợi cho bản thân ông. Theo ông, công việc giảng hòa phải do phía Đại Việt đề xuất trước, thì nhà Thanh mới khỏi mất thể diện.
Ngày 12 tháng giêng năm Kỷ Dậu, sau trận Ngọc Hồi-Đống Đa có 7 ngày ông đã bí mật viết cho vua Quang Trung một bức thư như sau:
"Xét ra vua Lê nước An Nam phụng sự Thiên triều đã lâu, khi bị họ Nguyễn Tây Sơn chiếm đoạt quốc đô, Đại Hoàng đế sai Nguyên nhung đem quân ra cửa Nam Quan lấy lại đất cho nhà Lê rồi lại nối phong cho làm quốc vương. Không ngờ Lê Duy Kỳ hèn yếu không có tài năng, không chấn tác được tí gì, lại đem mẹ ngầm trốn. Thế là họ Lê không dấy lên được. Sau này không đem An Nam giao cho nữa.
Đại Hoàng đế coi bốn biển là một nhà, không thèm đem An Nam thu về làm quận huyện
Nhưng đáng tiếc họ Nguyễn Tây Sơn lại kháng cự lại. Theo lẽ đó thực là bất thuận.
Bản đạo nghĩ An Nam vô chủ. Nếu đại binh lại tiến đánh, thế tất các tỉnh chia đường đều tiến, chẳng khỏi giết hại nhân dân. Họ Nguyễn ngươi liệu sức có thể kháng cự mãi được không? Vì thế ta mật đưa trát dụ cho biết rằng: Họ Nguyễn Tây Sơn nhân lúc này chưa có dụ chỉ, chọn ngay một vài viên quan lập tức đem biểu đến cửa Nam Quan tâu với Đại Hoàng đế rằng: "Vì Duy Kỳ không được nhân dân quy phục, nhân dân trốn tránh đi hết, nên phải đem quân đến thay vì trấn thủ. Không ngờ khi đi đường, gặp quân Thiên Triều, thế rất dữ dội, gặp ai cũng giết. Bó tay chịu trói thế tất bị giết hết cả. Bởi thế những người cầm quân phải chống cự lại. Tự biết rằng mang tội rất nặng. Hiện đã tra ra những người kháng cự thiên binh và đã đem chém đi rồi...
Tờ biểu này trang sau đề niên hiệu Thiên triều, đóng ấn "Khâm ban An Nam quốc vương". Như thế thì lời biểu cung thuận, Đại Hoàng đế xét lòng thành sẽ cho ngươi chủ trì quốc sự.
Ta sau này cùng An Nam giao thiệp rất nhiều. Bởi thế mật dụ cho biết. Sau này họ Nguyễn Tây Sơn trình bẩm Cung Bảo đại nhân quyết không nên đề cập đến trát này của bản đạo. Phải giữ cho kín. Thuận nghịch họa duy Tây Sơn tự chủ. Bản đạo không nói đến lần thứ hai nữa đâu.
Nay trát"
Lúc Thanh Hùng Nghiệp viết thư trên là lúc quân Tây Sơn đang truy kích quân Thanh, lại có tin quân Tây Sơn sẽ vượt qua biên giới, ông vô cùng hoảng sợ. Sau mật thư trên có ba ngày, ông lại viết cho Vua Quang Trung một thư nữa, mặc dầu thư thứ nhất chưa đến tay vị thủ lĩnh phong trào Tây Sơn. Nguyên văn bức thư như sau:
"Xét họ Lê nước An Nam hèn nhát không tài không giữ được nghiệp tổ. Nay lại bỏ nước ngầm trốn, thì người ấy quyết không thể lại cho làm chủ nước An Nam.
Bây giờ đang định tâu xin Đại Hoàng đế cho lập người tài năng chính trực để trấn thủ nước An Nam, trên dâng lễ cống, dưới thỏa đời sống của nhân dân.
Ngươi là họ Nguyễn Tây Sơn ở gần An Nam, chưa biết chừng Đại Hoàng đế đem ngươi phong làm An Nam quốc vương. Bởi vì hiện tại, trừ họ Nguyễn Tây Sơn ra, thực không có người nào có thể chủ trì được công việc của nước An Nam.
Bản đạo trước đã sai người đem tờ hiểu dụ đến đô thành nhà Lê. Ngày ấy chủ ngươi tất đã làm tờ phúc đưa đến. Hiện lại nghe nói lũ quan mục các ngươi đã đến Lạng Sơn. Nhưng không được làm hại quan dân trăm họ xứ ấy, phải để cho họ yên tĩnh giữ phép, đợi chủ ngươi phúc bẩm. Nếu các ngươi không ước thúc các quan mục, lại dám tự ý làm bậy, thì Đại Hoàng đế không những không ban ân điển, mà còn tức giận cho họp quân tiến đánh, không thể khoan thứ được.
Nay dụ
Ngày 15 tháng giêng năm Kỷ Dậu
năm Kiền Long thứ 54"
Thấy rõ chỗ yếu của quân Thanh và biết họ đang tìm cách để giảng hòa. Ngày 18 tháng giêng năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung sai Ngô Thì Nhậm viết cho Thanh Hùng Nghiệp một bức thư với lời lẽ khi thì cứng rắn khi thì mềm dẻo, cứng rắn trong thái độ bảo vệ độc lập của dân tộc, mềm dẻo để nhà Thanh chấp nhận được điều kiện giảng hòa mà không mất thể diện. Bức thư ấy như sau:
"Tôi là một người áo vải ở trại Tây Sơn nước An Nam, sinh trưởng ở cõi xa, hâm mộ thánh giáo Trung Hoa. Gặp lúc biến cố đành theo chinh chiến. Mùa hạ năm Bính Ngọ có việc ở Tây thành rồi lại về Nam. Mùa xuân năm Mậu Thân, nhân trong nước không yên, đem quân lại đến (Thănh Long). Năm ấy đã khiến sứ giả đến cửa Nam Quan đem đủ quốc tình tâu lên, cúi mong Đại hoàng Đế phân xử. Nhưng lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị xé thư đuổi sứ, rồi lại nghe người đàn bà Lê nịnh hót nói khéo, vô cớ động binh, gây việc hiềm hấn ở ngoài biên.
"Ngày 5 tháng giêng năm nay, lúc mới đến tôi mong gặp Tôn Sĩ Nghị để hỏi xem dùng binh có thực là do Đại Hoàng đế không? Nhưng Sĩ Nghị tự đón đánh, rồi bị đày tớ của tôi đánh bại, quân sĩ giầy xéo lên nhau chết không biết bao nhiêu mà kể. Những quân hiện bị bắt hiện còn hơn 800 người... Tôi đã cấp cho ăn mặc và cho ở riêng một chỗ. Tôi không lấn sang biên giới để phải tội với thượng quốc.
"Chỉ vì con cháu nhà Lê hèn yếu, người nước đều về với tôi. Sĩ Nghị vì cớ tài sức, muốn phù trì người hèn yếu, không tài, đem tấm lòng cung thuận của tôi vất bỏ đi. Lại đưa thư vào trong cõi, muốn giết hại tôi cho sướng. Bởi thế gây nên binh đao rồi bị thảm bại.
"Tôi ở xa bến biển, làm gì cũng bị Sĩ Nghị ức hiếp. Nay sự thế xui khiến, tôi đã mang tiếng lấy cánh tay bọ ngựa chống bánh xe. Tiếp được lời dụ của đại nhân, lòng mắt đều mở rộng ra... Còn như mẹ con Duy Kỳ gây nên hiềm hấn, rồi bỏ nước ngầm trốn, hoặc giả lại đến đất biên giới của thượng quốc. Tôi mong Tôn đài tra rõ tâu lên rồi đưa cho bản quốc lĩnh về xét xử cho hả lòng dân. Như thế mới là trừ ác trừ tận gốc...
"Nay quân đội cốt ở chỗ đoàn kết một lòng, không cốt ở chỗ đông, binh lính quý ở chỗ tinh nhuệ, không quý ở chỗ nhiều. Kẻ khéo thắng ở chỗ vô cùng mềm dẻo, chứ không phải ỷ mạnh lấn yếu, lấy đông hiếp ít đâu.
"Nếu tình hình trên không được bày tỏ, Thiên triều không khoan dung, muốn động binh chinh chiến thì nước nhỏ không được thờ nước lớn, tôi cũng đành nhờ trời mà thôi. (Nhân tiện nộp kèm theo tờ hịch của Tôn Sĩ Nghị ức hiếp tôi để gây ra chinh chiến)
Bức thư trên vua Quang Trung giao cho Vũ Văn Dũng lúc này đang là Hô Hổ Hầu mang sang Quảng Tây giao cho Thanh Hùng Nghiệp, cùng với một tờ biểu nhờ Thanh Hùng Nghiệp Chuyển lên cho Vua Càn Long. Tờ biểu này vừa kể tội Lê Duy Kỳ, vừa kể tội Tôn Sĩ Nghị, nó được kết thúc bằng một câu biểu thị thái độ rất cứng rắn của triều đại Tây Sơn:
Ôi! Đường đường Thiên triều mà tranh được thua với nước nhỏ, cùng binh độc vũ để thỏa lòng tham. Đó là điều trái với đức hiếu sinh của Thượng đế, Chắc thánh tâm cũng không nỡ thế. Nhưng muôn một xảy ra nạn binh đao không dứt, tình thế đến thế thật không phải lòng tôi muốn thế, mà cũng không dám biết vậy.
Xem thư và tờ biểu, Thanh Hùng Nghiệp tái mặt đi. Ông biết vua Quang Trung là người có ý thức dân tộc, không chịu làm những gì hại tới quốc thể. Ông ỉm tờ biểu đi không đệ về Yên Kinh cho vua Càn Long nữa. Ông nói với Vũ Văn Dũng rằng:Ngày nay không phải là lúc 2 nước đang giao chiến, sao lại nói bằng toàn một giọng tức giận thế này. Nói như thế này thì muốn được phong tước hay muốn tái khởi chiến tranh?. Rồi ngày 22 tháng giêng năm Kỷ Dậu, ông lại viết cho vua Quang Trung một bức mật thư nữa, có những câu đại loại như:
Bản đạo xem tờ biểu, thấy về thể chế rất là không hợp, nên phải dụ cho rõ. Lê Duy Kỳ vốn là quốc vương nước An Nam, Đại Hoàng đế đã sai quân hộ tống về nước, không ngờ Duy Kỳ sau khi tập phong lại bỏ nước ngầm trốn phụ ơn to, phạm tội rất nặng; pháp độ Thiên triều ngươi há chẳng biết hay sao. Lúc này nếu Duy Kỳ ở nước ngươi, còn phải áp giải đưa sang để nghị tội. Thế mới là thành tâm thực phục. Nay tờ biểu lại đòi tìm bắt , thực là ra ngoài tình lý... Bản đạo giữ cửa ải ngoài biên, sau này cùng ngươi giao thiệp còn nhiều. Vì thế mở lòng thực, mật vì khai đạo. Sau này quốc trưởng ngươi có trình bày với Cung bảo hộ đường, vạn phần không được nói đến việc này. Mật thư này lại kèm theo một mật thư khác trong đó có câu: Ta xem tờ biểu, ta thấy lạ lùng và sợ hãi quá. Như thế thì nước ngươi không phải là cần Đại Hoàng đế phong vương cho, mà là muốn gây mối binh đoan vậy.
Rồi Thanh Hùng Nghiệp khuyên vua Quang Trung nên làm một tờ biểu khác. Vị thủ lĩnh Tây Sơn nghe theo, rồi sai bọn Nguyễn Hữu Trù và Vũ Huy Phác mang sang Quảng Tây nhờ Thanh Hùng Nghiệp chuyển lên Yên Kinh, cùng với mười dật vàng và hai mươi dật bạc.
Ngày 13 tháng tư năm Kỷ Dậu. Tổng đốc Lưỡng Quảng sai Thang Hùng Nghiệp mở cửa quan tiếp đoàn của Tây Sơn do cháu vua Quang Trung là Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu. Phúc Khan An ngỏ ý sẽ đem sức mình góp phần vào việc khôi phục lại quan hệ hòa bình giữa hai nước Việt - Thanh, nhưng Phúc Khang An không nhận các cống phẩm của vua Quang Trung, cho đem các cống phẩm đó về để chờ lệnh của vua Càn Long từ Yên Kinh.
Trong tháng tư này, vua Quang Trung còn viết cho Thang Hùng Nghiệp một bức thư, yêu cầu Thang mua giúp cho một ít thuốc bắc, Thang cho người đem thuốc bắc sang tặng vua Quang Trung , và yêu cầu nhà vua đến 10 tháng 5 đến Lạng Sơn để gặp Phúc Khang An.
Cũng trong tháng tư này, Ngô Thì Nhậm dẫn đầu đoàn sứ thần Tây Sơn sang Quảng Tây. Thang Hùng Nghiệp trả lại cho đoàn những tặng phẩm mà vua Quang Trung đã tặng Thang, nhưng lại đòi khi chính thức nộp cống phẩm phải đưa sang nhà Thanh bốn hoặc hai con voi và quế Thanh Hóa. Về quế, Thang nói rõ quế đem sang cống phải là quế Thanh Hóa to và dày.
Trong một bức thư đề ngày 16 tháng năm năm Kỷ Dậu, phía Tây Sơn vạch rõ rằng vua Quang Trung không thể lên Nam Quan được, vì đường xa, không muốn làm phí dân tài, dân lực. Vả việc đến cửa quân trần tình, đã sai cháu là Nguyễn Quang Hiển thay làm lễ rồi. Voi cống cũng chưa có, vì đất nước vừa trải qua một thời loạn lạc, chưa thể một lúc đi mua được. Còn quế Thanh phải đến cuối mùa hạ mới có.
Quan hệ Việt-Thanh, đã tiến một bước dài, đó là Càn Long đã đích thân bãi bỏ việc Nam chinh, chuyển Phúc Khang An từ chức đề đốc binh mã chín tỉnh sang làm chức tổng đốc Lưỡng Quảng. Bước tiến triển trên biểu hiện cụ thể là:
Nhà Thanh đồng ý hủy bỏ việc động binh để trả thù, và tiếp nhận sứ thần của Tây Sơn.
Vua Quang Trung phải dâng biểu "Nộp lòng thành", nộp cống phẩm.
Đến đây, nhà Thanh mới chịu chấm dứt chiến tranh, nhưng vẫn chưa chịu thừa nhận Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.
Sau đó Phúc Khang An còn viết cho Vua Quang Trung một bức thư dài báo cho vua Quang Trung biết là vua Càn Long đã ban cho Quang Trung một chuỗi hạt trai, Ơn trời cao đất dày đến thế là tốt lắm. lại báo cho vua Quang Trung biết rằng: bọn Lê Duy Kỳ đã bị róc tóc, mặc quần áo kiểu người Thanh, đã bị đưa đi an trí ở "ngoại biên" "quyết không cho về nước nữa". Rồi sau đó Phúc Khang An đòi Tây Sơn phải làm miếu thờ Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống. Lại cho biết là. Khoảng tháng bảy, tháng tám năm Canh Tuất (1790) nhà Thanh sẽ làm lễ bát tuần vạn thọ vua Càn Long "Có hàng vạn nước vượt biển trèo non đem ngọc xe lễ vật đến chầu". Phúc Khang An yêu cầu vua Quang Trung đến ngày đó cũng phải "chỉnh trang" sang chầu, và như thế phải khởi hành vào tháng tư năm Canh Tuất (1790)
Đáng chú ý là sau đó, vua Càn Long xuống chỉ cho vua Quang Trung đại ý nói: do quân Thanh vượt biên giới đến Thăng Long, Nguyễn Huệ phải đem quân ra để hỏi Lê Duy Kỳ vì cớ gì cầu cứu thiên binh; vì bị quân Thanh đánh, quân Tây Sơn bất đắc dĩ phải đánh lại; gặp lúc cầu phao đứt, nên quân Thanh bị chết hại nhiều. Trong tờ chỉ Càn Long còn nhận rằng Nguyễn Huệ đã bắt và giết hết những người đã giết Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống. Ông còn cho rằng khi quân Thanh vào Thăng Long, ông đã ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị rút quân về nước, vì Sĩ Nghị không tuân lệnh, cho nên có trận đại bại vào đầu năm Kỷ Dậu. Ông lại đòi lập đền thờ Hứa Thế Hanh và Sầm Nghi Đống, và đòi vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh triều cận vào dịp Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất. Ông lại nhắc rằng Lê Duy Kỳ hèn lười, không tài, bỏ ấn trốn đi, chiểu theo pháp luật của Thiên triều phải tội nặng; rằng ông quyết an trí bọn chúng ở Quế Lâm, không bao giờ cho về nước nữa; rằng ông đã ra lệnh cho Phúc Khang An đưa phái đoàn Nguyễn Quang Hiển đến xem chỗ bọn Lê Duy Kỳ ở.
Yêu cầu cống người vàng
Việc Nguyễn Huệ cầu phong, theo ý của vua Càn Long, Phúc Khang An lại ra điều kiện đòi triều Tây Sơn phải đúc người vàng đem cống như các triều đại trước. Ngô Thì Nhậm đã viết cho Phúc Khang An bức thư, trong đó có đoạn:
Quốc trưởng nước tôi vùng lên từ thủa áo vải, nhân thời biết việc, đối với vua Lê vốn không có danh phận vua tôi. Mất hay còn là do số trời; theo hay bỏ là do lòng người. Quốc trưởng tôi có ý cướp ngôi của nhà Lê đâu mà lại coi như kẻ thoán đoạt. Trước đây Tôn bộ đường đem quân đến, quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải đem quân ra ứng chiến, không hề có ý xâm phạm biên cảnh để mang tội. Nay đại nhân theo lệ cũ của Trần, Lê, Mạc bắt cống người vàng, như vậy chẳng hóa ra quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại mà lại bị coi như hạng ngụy Mạc hay sao? Như thế thì tấm lòng kính thuận sợ trời thờ nước lớn cũng bị coi như việc nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao?...
Mong đại nhân noi theo mệnh lớn, miễn cho nước tôi lệ đúc người vàng để tiến cống...
Trong bức thư viết cho Phúc Khang An này, nhà Tây Sơn đã nói rõ rằng các vuaViệt Nam thời trước sở dĩ phải cống người vàng là để chuộc một tội lỗi nào đó đối với Thiên triều. Nguyễn Huệ tự coi không có tội gì với nhà Lê và cũng không có tội gì với nhà Thanh. Như vậy đời nào Tây Sơn chịu đúc người vàng để tiến cống
Chính vua Càn Long sau này cũng nhận thấy lệ cống người vàng là vô lý và đã ra lệnh bãi bỏ lệ cống người vàng. Tháng bảy năm Canh Tuất, khi tiếp An Nam quốc vương giả ở hành cung Nhiệt Hà, vua Càn Long tặng một bài thơ trong đó có câu "Thắng triều vãn sự bỉ kim nhân" (việc triều trước bắt cống người vàng là đáng khinh bỉ)
Trong tờ chỉ vua Càn Long đã tỏ ra rằng ông không thừa nhận Lê Duy Kỳ làm An Nam quốc vương nữa, như vậy là đã mặc nhiên thừa nhận Nguyễn Huệ là chủ nước Đại Việt. Nhưng khi Nguyễn Huệ xin cầu phong, nhà Thanh lại đưa ra những điều kiện này lý do khác. Họ nói, đợi Nguyễn Huệ vào chầu tại Yên Kinh rồi phong vương một thể.
Nhưng rồi vua Quang Trung viện cớ là mình chưa được phong vương, sợ có điều bất tiện khi gặp các vị quốc vương các nước ở Yên Kinh. Thế là Càn Long đành phải phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương để có điều kiện đến Yên Kinh triều cận một cách đàng hoàng.
Tháng 7 năm 1789, Càn Long ra chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.
Tháng 11 năm đó, sứ bộ nhà Thanh mang chiếu phong vương của Càn Long sang Đại Việt phong cho Nguyễn Huệ. Các tướng lĩnh Bắc hà đón tiếp sứ nhà Thanh ở Thăng Long, cho người giả làm Nguyễn Huệ đứng ra nhận chiếu phong vương, cùng nhiều tặng vật của vua Thanh gửi sang, trong đó có đôi vòng ngọc đeo tay. Viết biểu cảm ơn, Ngô Thì Nhậm đã tán là:
Đến như vòng ngọc đeo tay mà Thiên Tử ban cho là có ý ngầm bảo rằng: "Tụ tập các hạt ngọc, nối liền các hạt châu" để xoay quanh ngôi sao Bắc thần tạo nên một cảnh tượng triền miên mãi mãi.
Việc vua Quang Trung được vua Càn Long chính thức phong làm An Nam quốc vương là một thắng lợi lớn về ngoại giao của nhà Tây Sơn. Từ đây về mặt pháp lý, nhà Thanh không thừa nhận nhà Lê nữa. Phái Lê Duy Kỳ không còn lý do gì để hoạt động "phục quốc" trên đất Trung Quốc. Những cựu thần nhà Lê trên đất Đại Việt vì thế mất hết chỗ dựa để tiếp tục hoạt động chống lại nhà Tây Sơn.[27] [28] [29]
Quang Trung giả đi sứ
Nhà Thanh đòi Nguyễn Huệ đi triều cận
Sau khi được phong vương rồi, vua Quang Trung vẫn thoái thác không chịu nhận lời sang Yên Kinh triều cận. Ông vin cớ là mẹ mới mất phải ở nhà chịu tang, đi triều cận sợ có điều bất tiện về mặt lễ giáo.
Thang Hùng Nghiệp viết thư cho vua Quang Trung khuyên nhà vua cứ mặc cát phục vào chầu, đổi hiếu làm trung và xin cứ đến ngày 25 tháng ba năm Canh Tuất đến Nam Quan để tiến kinh triều cận. Phúc Khang An cũng viết cho Quang Trung một bức thư cố thuyết phục nhà vua cùng với Phúc đi Yên Kinh triều cận.
Sau khi gửi thư đi rồi, tổng đốc Lưỡng Quảng e rằng vua Quang Trung không chịu ra đi, cho nên ông cử đại biểu đến Lạng Sơn xin gặp đại biểu của nước Đại Việt để bàn về một vấn đề quan trọng.
Các tướng Tây Sơn ở Thăng Long biết rằng đó chỉ là vấn đề vua Quang Trung sang Yên Kinh triều cận vua Càn Long mà thôi, họ cũng biết rằng vua Quang Trung không bao giờ chịu đi triều cận, cho nên không cần hỏi ý kiến nhà vua, họ đã tự cử một đoàn đại biểu đến Lạng Sơn để gặp đoàn đại biểu của tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An. Đoàn do Ngô Thì Nhậm cầm đầu.[30]
Đàm phán
Thấy đoàn đại biểu của Đại Việt không có Ngô Văn Sở, đại biểu của Phúc Khang An đòi phải có Ngô Văn Sở, họ chỉ có thể nói với Ngô Văn Sở, còn ngoài ra, như cha con trong nhà hay như Thang Hùng nghiệp, họ cũng không thể nói ra được. Rồi họ cho biết rằng thế nào vua Quang Trung cũng phải sang Yên Kinh triều cận.
Đoàn Ngô Thì Nhậm cho biết rằng vì quốc mẫu của An Nam quốc vương tạ thế ngày 28 tháng giêng năm Canh Tuất, cho nên vua Quang Trung không sao bỏ nước ra đi được.
Đại biểu của Phúc Khang An nói đại ý rằng: Tục người Hán để tang 3 năm, nhưng tục người Mãn chỉ để tang 100 ngày. Năm nay (1790) là năm cử hành lễ bát tuần vạn thọ, các quan lại nhà Thanh, văn cũng như võ không ai dám khai là có tang cha mẹ, dù cha mẹ đã chết đi. Vua Càn Long phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương là phong cho một vị vua khai quốc. Vua Thanh lại biết là An Nam quốc vương sẽ tiến kinh, cho nên nhà vua đã "tuyên triệu các nước Lưu Cầu, Nhật Bản, Triều Tiên, và Mông Cổ cùng đến Yên Kinh dự yến. Vào ngày làm lễ, cửa cung nhà Thanh sẽ treo một tấm biển lớn đề bốn chữ Vạn quốc lai triều (vạn nước lại triều cận). Nếu ngày hôm ấy, An Nam quốc vương không có mặt ở Yên Kinh, thì Đại Hoàng đế sẽ nghĩ như thế nào? Đại Hoàng đế sẽ lấy gì ra mắt với quốc vương các nước?" Đại Hoàng đế đổ tội cho công gia (Phúc Khang An). Đại Hoàng đế nổi giận tất cho đại binh năm mặt cùng tiến đánh. Công gia tất xin đi trước. Quý quốc lấy gì mà chống lại? Quý quốc sẽ nguy vậy. Ta cùng túc hạ là chỗ thân nhau, cho nên ta nói thẳng. Lúc này quốc vương nên bỏ tình đau thương. Lúc ngồi thuyền thì mặc áo trắng, đến trước mặt vua thì mặc cát phục. Tang chỉ để trong lòng. Tang cha mẹ là trọng, mệnh vua lại trọng hơn. Phải tòng quyền.
Nhưng đại biểu phía Đại Việt vẫn viện cớ thoái thác, đại biểu của Phúc Khang An lại nói: Công trung đường (từ tôn xưng Phúc Khang An) nhiều lần trần tấu việc gì cũng thành công. Về việc quý quốc vương vào chầu, duy chỉ có Tôn Cung Bảo (Tôn Sĩ Nghị) không tin. Cung Bảo vẫn nói: "không thể tin lời An Nam quốc vương thân đến chúc thọ; chẳng qua mượn cớ để cầu phong đấy thôi". Nếu quý quốc vương không đi, thì chẳng hóa ra Tôn Cung Bảo lại là người biết trước sự việc hay sao? Cho nên các ông về tâu với quốc vương nên sớm khởi hành tiến kinh triều cận. Ngày đến Nam Quan phải là ngày 29 tháng 3, thì mới kịp vào kinh.
Đại biểu của Phúc Khang An còn cho biết: Đại Hoàng đế sợ Duy Kỳ ở Quảng Tây còn có nhiều bầy tôi cũ gây ra việc, cho nên ngày 16 tháng giêng năm Canh Tuất đã cho đem gia quyến Lê Duy Kỳ lên Yên Kinh, đem 116 người tùy tùng đi an trí ở các tỉnh Triết Giang, Giang Nam, Tứ Xuyên, Hồ Quảng. Lê Quýnh bị đưa đi Ỷ Lệ cách Yên Kinh 40000 dặm
Nói đủ cách, nhưng phái đoàn Ngô Thì Nhậm vẫn tìm cách thoái thác, thế rồi đại biểu của Phúc Khang An đã nói như sau: Tôi mong hai nước hòa hảo với nhau làm tốt. Quý quốc vương nếu thực không đi được, cũng nên đặt một diệu kế. Đại biểu Đại Việt nói: Xin ngài dạy bảo cho chúng tôi cảm ơn lắm! Đại biểu của Phúc Khang An nói: Tìm một người diện mạo giống quốc vương đi thay. Việc này chỉ có Công gia, Thang đại nhân, Vương đại nhân và ta là bốn người biết mà thôi. Nếu sợ Lê Duy Kỳ biết, ta bẩm ngay với Công gia đem 1000 người bọn ấy giữ kỹ không cho ra ngoài, còn ai biết được nữa.[31]
Kế Hoạch
Thế là phía Đại Việt sẵn sàng cử một An Nam quốc vương giả sang Yên Kinh triều cận vua Càn Long; phía nhà Thanh do chủ trương của Phúc Khang An, Thanh Hùng Nghiệp cũng sẵn sàng đón tiếp An Nam quốc vương giả với mọi nghi lễ đối với một quốc vương thật sự.
Phạm Công Trị, cháu gọi vua Quang Trung là cậu được chọn đóng vai vua Quang Trung. Theo ý Phúc Khang An thì từ thượng tuần tháng ba, An Nam quốc vương bắt đầu ra đi từ Nghệ An, đến 26 tháng ấy sẽ đến Nam Quan. Ở đây Tổng đốc Lưỡng Quảng và Thang Hùng Nghiệp đã tề tựu đón tiếp. Theo lệnh của triều đình nhà Thanh, Phúc Khang An phải bạn tống An Nam quốc vương từ Nam Quan cho đến Yên Kinh. Trên đường đi, nếu An Nam quốc vương theo đường thủy thì phải có thuyền, đi bộ phải có kiệu hoặc ngựa. Đoàn vua đi đến đâu, nơi đó phải treo đèn kết hoa hoan nghênh, và phải cung cấp kiệu, ngựa, thuyền, dân phu cần thiết. Tiền dùng để mua thức ăn, vật dùng ở dọc đường đều do triều đình nhà Thanh đài thọ.
Đoàn "vua Quang Trung" gồm có 159 người, ngoài vua giả là Phạm Công Trị và con vua Quang Trung là Nguyễn Quang Thùy, còn có Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chấn, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn... Cụ thể là:
- Vua Quang Trung (Phạm Công Trị)
- Bảy người là bồi thần.
- Một người là vương sanh (Nguyễn Quang Thùy)
- Mười sáu người phiên dịch.
- Một người là phù tiết lang.
- Chín người là hành nhân.
- Mười hai người là nhạc sinh.
- Ba mươi người là hộ vệ viên.
- Bảy mươi ba người là tùy nhân.
- Chín người là quản tượng. [32]
Diễn biến
Trong kế hoạch là ngày 29 tháng 3 năm Canh Tuất đoàn giả vương đến Nam Quan, nhưng thực ra đến ngày 15 tháng tư đoàn mới từ Nam Quan tiến lên phương Bắc cùng hai thớt voi, quế Thanh Hoa và nhiều cống phẩm khác. Đoàn lên đường được vài ngày thì Nguyễn Quang Thùy mắc bệnh, Phúc Khang An phải cho người đưa về nước điều trị. Vừa đỗ thuyền ở bến Nam Ninh, đoàn đã được viên quan ở đấy mở tiệc chiêu đãi. Liền đó, đoàn được biết khi đoàn vào thành Nam Ninh, tuần phủ Nam Ninh sẽ đặt tiệc khoản đãi. Đoàn vội viết thư xin từ chối.
Ngày 23 tháng tư năm Canh Tuất, được tin Quang Trung đã lên đường đi Triều cận, vua Càn Long phấn khởi liền xuống chiếu phong cho Quang Thùy làm thế tử. Đoàn đi đến đâu cũng được quan lại địa phương đón tiếp rất trọng thể, và tặng nhiều phẩm vật địa phương. Đến Quảng Châu đoàn trú tại lâu đài làm ở trên sông. Trên đường đi, đoàn nhận được thơ ngự chế và ngọc như ý của vua Càn Long gửi tặng An Nam quốc vương.
Tại Tử Cấm thành ở Yên Kinh nhà bếp chế được một loại bánh sữa dâng lên vua. Lập tức Càn Long cho ngựa chạy trạm đem một hộp bánh đưa cho An Nam quốc vương. Trong khi đoàn đang tiến lên phía Bắc, Càn Long biết Nguyễn Quang Thùy không phải là con trưởng, ông lại xuống chiếu đổi phong cho Quang Toản làm thế tử, còn hà bao và ngọc như ý trước ban cho Quang Thùy thì vẫn ban cho Quang Thùy như cũ.
Đến Hồ Bắc, đoàn lại nhận được quà của vua Càn Long gửi tặng, do ngựa chạy trạm mang đến. Sau đó ít ngày lại có ngựa chạy trạm mang quà của Càn long đến: Năm tấm đoạn ngoài, năm tấm đoạn trong, bốn tấm gấm, bốn tấm đoạn bóng, bốn tấm đoạn vây, một đôi hà bao lớn, hai đôi hà bao nhỏ và nhiều vóc đoạn khác.
Tháng bảy năm Canh Tuất đoàn đến Yên Kinh vào lúc lễ vạn thọ đã cử hành, vua Càn Long đã đi nghỉ mát ở Nhiệt Hà. Ông cho mời đoàn đến Nhiệt Hà và tiếp đãi rất trọng hậu rồi ban thưởng cho rất nhiều. Quang Trung giả được tặng một viên ngọc như ý, một tòa ngọc phật và nhiều phẩm vật quý lấy từ kho thượng phương, Ông còn tặng cho cả đoàn một vạn lạng bạc. Các người đi theo đều được ban thưởng mũ áo. Đại tư mã Ngô Văn Sở được thưởng một cái mũ san hô tam phẩm.
Ngày 11 tháng 7 năm Canh Tuất, vua Càn Long tiếp "vua" Tây Sơn ở hàng cung Nhiệt Hà, Càn Long tặng "Vua" Tây Sơn một bài thơ như sau:
Doanh phiên nhập chúc trị thì tuần
Sơ kiến hồn như cựu thức thân
Y cổ vị văn lai Tượng quốc
Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân
Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch
Gia hội ư kim miễn thể nhân
Vũ yển văn tu thuận thiên đạo
Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.
Tạm dịch là:
Nước phiên đến lúc ta đi tuần
Mới gặp mà như đã rất thân
Nước Tượng chưa từng nghe triều cận
Việc cống người vàng thật đáng khinh
Nhà Thanh coi trọng việc đi sứ
Chín đạo thường có đạo vỗ yên
Xếp võ tu văn đạo trời thuận
Đại Thanh còn mãi vạn ngàn xuân.
Tháng 11, khi vua Quang Trung giả vào bệ kiến vua Càn Long lần cuối cùng trước khi về nước, ông được Càn Long mời vào ngồi bên giường ngự, rồi lấy tay vỗ vai, ân cần an ủi. Sau đó sai thợ vẽ vẽ một bức chân dung để tặng "vua Quang Trung". Ngày 29 tháng 11 năm Canh Tuất, đoàn giả vương lên đường về nước. Trên đường về đoàn vẫn được tiếp đón long trọng hệt như lúc đi vậy. Phan Huy Ích có ghi lại trong Tinh sà kỷ hành của ông như sau: Chuyến đi này được nhà vua (Càn Long) đặc cách cho quan Tổng đốc đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả mắt người ta. Đi đến đâu quan lại phải bôn tẩu đón tiếp đến đó. Mùa thu đến hành cung ở Nhiệt Hà, lại được theo xa giá về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn tiến yến hàng tuần, được ơn trời âu yếm, ưu đãi khác thường. Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế.
Theo Đại Thanh thực lục, triều đình nhà Thanh đã phải bỏ ra 800000 lạng bạc để chi tiêu vào việc đón tiếp vua Quang Trung giả, đổ đồng mỗi ngày phải chi chừng 4000 lạng.
Đòi đất
Vào năm Tân Sửu (1761) tức năm Cảnh Hưng thứ 42, Trịnh Sâm đã dâng biểu lênCàn Long xét lại vấn đề sáu châu. Nhà Thanh không xét, mà họ Trịnh phải im đó là vì họ không có lực lượng làm hậu thuẫn. Vua Quang Trung cũng đưa biểu đòi đất sáu châu nhưng với uy tín của ông, với lực lượng của nước Đại Việt đang hùng mạnh, nhất định nhà Thanh không thể coi thường yêu sách chính đáng của vua Quang Trung được. Nhà vua đã cho gửi biểu sang vua Thanh, trong biểu có đoạn nói:
Trước đây trấn mục nước tôi bảo cho biết dân sáu châu Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng Nham, Hợp Phì, Khiêm châu bị quân nội địa (Trung Quốc) cho lính đi bắt phải cải trang đeo bài đóng thuế... Tiểu phiên tôi xét kỹ căn do thì thấy (đầu đuôi như sau): Năm Càn Long thứ 5 (1740) nghịch dân nước tôi là Hoàng Công Chất, bố Hoàng Công Toản, chiếm giữ bảy châu đủ ba mươi năm. Trước kia nhà Lê nấn ná không chịu xét. Dân bảy châu cho là địa thế xa xôi, nước tôi không thể khống chế được, nên cứ nấn ná phụ thuộc vào nội địa. Quan nội địa cứ đánh thuế. Sự việc đến nỗi như thế là vì nhà Lê không thể làm trọn chức trách phòng thủ của mình...
Tiểu phiên tôi có đất, có dân, đều là do Đại Hoàng đế ban cho. Bốn cõi tới đâu đều chép ở sách báu, không dám không bày tỏ rõ ràng... Từ năm Khang Hy thứ 28 (1689) có tra xét về việc ba động là Nguyễn Dương, Hồ Điện và Phố Viên; đến nămUng Chính thứ 6 (1728) mới định lấy sông Đỗ Chú làm giới hạn... Từ Đỗ Hà trở về tây đến nước Xa Lý, tức bảy châu, thật ở trong địa giới Hưng Hóa (nước tôi), cột đá còn đó chưa mất. Tiểu phiên tôi nghĩ đến phong cương làm trọng, tình hình ra sao đều phải thực tình bày tỏ...
Ngửa mong Đại Hoàng đế soi xét xuống chỉ cho hai quan đốc phủ ở hai tỉnh Vân, Quý xét hỏi lại cho đúng địa giới bảy châu rồi trả về nước tôi.
Đầu năm 1792, vua Quang Trung lại sai sứ bộ sang Yên Kinh, mang các cống phẩm dâng Càn Long gồm: chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, sách binh thư của Đại Việt và một quyển sử viết về triều đại Lê Chiêu Thống[38]. Ông cũng cầu hôn với công chúa Thanh và xin đất Lưỡng Quảng. Trong Bang giao hảo thoại mà Ngô Thì Nhậm là người chép lại vẫn còn hai văn bản ngoại giao đó. Tờ biểu chính thức đặt vấn đề xin làm con rể vị Thiên Tử nước Đại Thanh như sau:
Thần vốn là một kẻ áo vải đội ơn Thánh Hoàng cho giữ cõi Nam. Khi vào triều cận nơi cung khuyết đã được thấy rõ thiên nhan để vấn an, lại được ban thưởng rất nhiều. Phàm những việc mà ở cõi Nam Giao từ xưa đến nay chưa ai được hưởng, đều được (Thánh Hoàng). Đến khi thần lĩnh chỉ về nước, ngửa trông thánh ân đoái đến, ân chỉ ban luôn. Lồng lộng lòng nhân của Thánh Hoàng không thể tả sao cho xiết...`
Vua nhà Đại Thanh ta vâng chịu mệnh trời có muôn phương đất, những nơi soi đến đều nuôi nấng như con, rộng như doanh hoàn không để ra ngoài sân điện... Trộm nghĩ: Muôn vật không ẩn tình với trời đất, con cái không giấu tình với cha mẹ. Việc gia đình tâm sự đâu dám không bày tỏ với bậc chí tôn. Vừa đây thần bị vận đen, trong nhà thiếu người đơm cúng. Cơ đồ mới gây dựng, thuyền vuông ít người giúp đỡ. Cây ngọc muốn được nương nhờ, khóm dân mong được giữ vững.
Ngước thấy Thanh triều gây nền từ núi Thăng Bạch, dựng nên nghiệp vua, con cháu ức muôn, đời đời phồn thịnh. Từ trước đến nay chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bầy tôi ở ngoài. Phận đã nghiêm chia ra trong ngoài như thế, thật khó mà với đến được. Chỉ vì một niềm tôn mến, riêng trông ngóng, trằn trọc không thôi. Trộm mong cành ngọc nhà trời rộng lan đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, khiến thần được ngửa đội ơn lành gần gụi gót lân...
Chỉ vì quá phận cầu ơn, việc không phải là thường cách, mưu với mọi người chấp sự, không ai dám đề đạt lên cho. Muôn dặm cửa vua ngày ngày trông ngóng. Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bồi thần sang chầu hầu, sau khi tâu bày rồi sẽ vì thần mà giãi bày lòng thực.
Để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung lại giao việc này cho Vũ Văn Dũng, một viên tướng tin cậy quê ở Hải Dương. Vũ Văn Dũng mang hai tờ biểu sang Yên Kinh trực tiếp đặt hai vấn đề trên với vua Càn Long. Vua Quang Trung đã tính đến trường hợp phải dùng lực lượng quân sự đối phó với nhà Thanh, khi vua Càn Long nổi giận . Ông đã chuẩn bị đương đầu với mọi sự bất trắc, đó là nuôi dưỡng nhóm Tề Ngỗi (Tàu Ô) và Thiên địa hội. Trong trường hợp chiến tranh Việt Thanh lại xảy ra các nhóm này sẽ trở thành những lực lượng hỗ trợ đắc lực. Khi vua Quang Trung trù tính việc xin đất làm đô và cầu hôn thì lúc này Vũ Văn Dũng đang nghỉ ở quê nhà trong trấn Hải Dương. Vua quang Trung đã hạ sắc chỉ cho họ Vũ như sau:
"Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ quốc công được gia phong chức chánh sứ đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp tâu xin hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây để dò ý và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức. Phải thận trọng đấy! Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đánh nước Thanh) chính là khanh đấy. Kính thay sắc này!"
Câu Hình thế trong chuyến dụng binh đều ở chuyến đi này, cho thấy Vũ Văn Dũngđi sứ nước Thanh không phải chỉ có các nhiệm vụ trên mà còn phải dò xét nội tình nhà Thanh, quan sát địa hình địa vật những nơi ông đi qua để một khi chiến tranh Việt Thanh lại bùng nổ thì quân Tây Sơn có thể có một số tin tức tình báo cần thiết mà tổ chức cuộc hành quân. [42]
Theo gia phả họ Vũ, thì Vũ Văn Dũng cầm đầu sứ đoàn đã đến Yên Kinh và được vào bệ kiến vua Càn Long. Vũ Văn Dũng đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ: cầu hôn và xin đất làm đô. Sau khi nghe lời tâu xin của Vũ Văn Dũng, vua Thanh giao vấn đề này cho đình thần bàn xét. Ngày hôm sau Vũ Văn Dũng lại được vào bệ kiến Càn Long ở Ỷ Lương các và vua Càn Long đã đồng ý trao đất Quảng Tây cho vua quang Trung để làm đô và gả một công chúa cho vị thủ lĩnh Tây Sơn. Về việc cầu hôn, sau buổi tiếp sứ thần Đại Việt, vua Càn Long ra lệnh cho bộ lễ sửa soạn nghi lễ và định ngày cho công chúa nước Đại Thanh sang đẹp duyên cùng vua Đại Việt.
Vì việc này, có ý kiến cho rằng Quang Trung có ý định đánh Trung Quốc như Tạ Chí Đại Trường và Trần Trọng Kim. Theo đó, Quang Trung cho quấy rối nội địa Trung Quốc bằng cách lợi dụng đảng "Thiên Địa Hội" khiêu khích người Thanh. Các biên thần nhà Thanh như Phúc Khang An (mới thay Tôn Sĩ Nghị) tuy biết rõ Tây Sơn có bí mật nhúng tay, nhưng cũng chịu nhịn cho qua chuyện
Tuy nhiên, có ý kiến ngược lại cho rằng bản ý Quang Trung không muốn đánh Trung Quốc mà tập trung vào chiến trường Gia Định vì lúc đó Nguyễn Ánh đã trở thành nguy cơ lớn đối với Nguyễn Nhạc. Vua anh chỉ còn quản lý Quy Nhơn, Phú Yên vàQuảng Ngãi. Vì vậy, sau khi ổn định tình hình Bắc Hà, Quang Trung ra sức trấn anNguyễn Nhạc và nhân dân trong vùng do Nguyễn Nhạc cai quản để chuẩn bị Nam tiến. Theo nhiều nhà nghiên cứu, việc Quang Trung sai Vũ Văn Dũng đi “xin” Càn Long đất Quảng Đông, Quảng Tây thực ra chỉ là một thủ thuật về chính trị. Quang Trung không có dụng tâm lấy đất Trung Quốc vì ông biết thực lực không thể, hay ít ra là chưa thể làm lúc đó. Hơn nữa, ông thu dụng quân lục lâm “Tàu ô”, tổ chức Thiên địa hội, sai đánh phá biên giới Trung Quốc cốt để nhà Thanh bị cuốn vào hoạt động ngoại giao và chống giặc cướp để cho ông có thời gian hỗ trợ vua anh dồn lực lượng vào chiến trường miền Nam mà thôi
Theo Văn Tân thì có lẽ cả hai thuyết trên đều đúng cả, Vua Quang Trung muốn đánh nhà Thanh, lại muốn đánh cả Nguyễn Ánh nữa. Nhưng trước khi đánh nhà Thanh, ông cần phải đánh cho tan lực lượng của Nguyễn Ánh để thống nhất đất nước. Vì việc thống nhất đất nước là điều kiện tiên quyết để đánh thắng nhà Thanh.
Mọi việc đang tiến hành tốt đẹp, thì Vũ Văn Dũng nhận được tin Vua Quang Trung mất ở Phú Xuân vào giờ Tý ngày 29 tháng bảy nhuận năm Nhâm Tý. Họ Vũ đành ngao ngán ôm hận trở về!
Tế Quang Trung
Tháng 9 năm 1792, Quang Trung đột ngột qua đời khi mới 40 tuổi. Triều thần nhà Tây Sơn một mặt lập thái tử là Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi (tức là vua Cảnh Thịnh), một mặt sai sứ sang Trung Quốc dâng biểu cáo tang.
Nghe tin vua Quang Trung mất, vua Càn Long rất sửng số. Ngày mồng hai tháng hai năm Quý Sửu (1793), ông phê vào tờ biểu báo tang hai chữ đáng tiếc, rồi ông thân làm một bài thơ viếng. Ông lại sai viên án sát Quảng Tây là Thành Lâm đến Nghệ An làm lễ đọc và đốt bài thơ ấy trước "phần mộ" vua Quang Trung. Ông còn giao cho sứ đoàn Ngô Thì Nhậm một tấm lụa đại cát đạt [48] và 3000 lạng bạc để dùng vào việc làm chay cho vua Quang Trung. Không chờ Nguyễn Quang Toản dâng biểu cầu phong, ông lại đặc cách phong ngay cho Quang Toản làm An Nam quốc vương để chính danh phận và yên dân tâm. [49]
Vua Càn Long tỏ ra rất vui vẻ, hả hê, Khi được Ngô Thì Nhậm cho biết trước khi từ trần, vua Quang Trung đã dặn quần thần phải luôn luôn tôn kính Thiên triều. Vì vậy, Càn Long lấy hai chữ Trung thuần đặt tên thụy cho vua Quang Trung. Về việc này Văn Tân bàn rằng: "... với những lời lẽ hết sức khéo léo... Khi vua Quang Trung đã mất rồi, ông vẫn làm cho vua Càn Long và Phúc Khang An kính nể và tin ở "lòng thành" của vị anh hùng áo vải."
Khi đó Phúc Khang An đang làm tổng chỉ huy một cánh quân đi đánh Tây Tạng, Càn Long đã tự viết thư báo cho Phúc Khang An. Khi trở về, Phúc Khang An đã viết cho triều đình Tây Sơn một bức thư có những câu: Bản Tước các bộ đường cùng Tiền Quốc vương (vua Quang Trung) đã từng đem lòng thành liên kết rất sâu. Nhớ khi tiến quan vào chầu, tâm sự sớm chiều, bàn soạn nửa năm, lúc cùng ngồi thuyền lúc cùng đi bộ trước khi vào chầu, thường thường đem tâm sự đàm đạo với nhau... đến lúc lên đường về nước, chia tay ở Hán Dương, cùng nhau than thở, quyến luyến nhớ thương. Bản tước các bộ đường từ tháng năm năm ngoái (1792) đốc binh tiến đánh bộ lạc Quách Nhĩ Khách... Nay nhờ Đại Hoàng Đế nghĩ đến quý quốc, che chở như trời. Bản tước các bộ đường đã nhận ủy nhiệm (của Đại Hoàng Đế làm tổng đốc Lưỡng Quảng) quý Quốc vương thỏa lòng nương tựa. Đợi khi đến tỉnh Việt (Quảng Đông), sẽ sai người đến Nghệ An làm lễ tế điệu, kính dâng bó hoa để tỏ lòng cố cựu.
Trong bài thơ Vũ hành (Đi trong mưa) của Ngô Thì Nhậm, ta thấy vua Càn Long đã ra lệnh cho các quan của nhà Thanh làm lễ truy điệu vua Quang Trung như thế nào!
Thạc tào tòng sự các gia ngạch,
Cá cá bất vong ngã tiên vương.
Tạm dịch là: Tất cả các vị quan to (ở Thiên triều) đều cúi đầu làm lễ/ Ai ai cũng không quên Tiên vương của chúng ta.
Tài liệu tham khảo
1. Khâm Định Việt Sử thông Giám Khương Mục, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản điện tử, trang 294
2. SỰ NGHIỆP TÂY SƠN TRÊN ĐẤT BÌNH ĐỊNH Sở Khoa Học và Công Nghệ Bình Định 29-1-2008
3. Báo Thể thao & Văn hoá ngày 13/6/2008, tr 17 và Hội thảo về Tây Sơn - Nguyễn Huệ báo Sài Gòn Giải phóng ngày 6/6/2008
4. Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng, sách đã dẫn, tr 33
5. (2007) Việt Nam thời Tây Sơn - Lịch sử nội chiến 1771-1802, Tạ Trí Đại Trường,, NXB Công an nhân dân, tr 142
6. (1987) Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, tr 392
7. (1992) Vài nhận xét xét về thời Nguyễn-Những vấn đề văn hoá, xã hội thời Nguyễn, KHXH, tr.17
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



