Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Bản đồ Sài Gòn từ khi thành lập đến nay (1945 - nay)



Bản đồ Sài Gòn năm 1931

Bản đồ Chợ Lớn 1930 (Plan de Cholon - 1931)





Bản đồ Sài Gòn năm 1950



Bản đồ Chợ Lớn cùng năm





Sài Gòn, Chợ Lớn phát triển mạnh, dần được liên kết và nối liền với nhau. Dân số khoảng 350.000 người (bản đồ năm 1944)







Bản đồ Sài Gòn năm 1947



bản đồ Sài Gòn năm 1960

Map of Saigon 1961 sheet 1

Map of Saigon 1961 sheet 2



Bản đồ Sài Gòn năm 1961




Bản đồ Sài Gòn tháng 12/1962


Bản đồ Sài Gòn năm 1966
]







bản đồ Saigon năm 1970

(phóng to)







Bản đồ Sài Gòn năm 1973 (trước năm 1975)




 Bản đồ Tp Hồ Chí Minh năm 1995

Bản đồ Sài Gòn từ khi thành lập đến nay (1698 - 1931)




Bản đồ Saigon năm 1770



[khamphasaigon.com]

bản đồ thành Bát Quái

[khamphasaigon.com]

Bản đò Sài Gòn năm 1815 của Trần Văn Học

Giải thích các địa danh trên bản đồ
1. Gia Định Tỉnh.
2. Lũy Cát Ngang.
3. Đồng Ngã Tư.
4. Lò Sành.
5. Cây Mai Tự.
6. Phước Lâm Thị.
7. Rạch Cầu.
8. Bến Củi rạch.
9. Sài Gòn xứ.
10. Cựu Lũy.
11. Rạch Dầu.
12. Chợ Quán rạch.
13. Rạch Ông Bé.
14. Chợ Quán.
15. Cầu.
16. Miếu Thánh.
17. Công Thần Miếu.
18. Kim Chương Tự.
19. Quản Thảo Khố.
20. Bàu Tròn.
21. Gò Bàu Tròn.
22. Giám Văn Quán.
23. Trường Súng.
24. Cầu Lão Hòa.
25. Thái Hòa.
26. Gò Tân Định.
27. Chợ Mới kiều.
28. Cao Miêu kiều.
29. Ngã Tắt Mụ Trị.
30. Thái Hòa thôn.
31. Ngã Tắt Mới.
32. Rạch Mụ Nghè.
33. Thủ Thiêm.
Ngã Tắt Mụ Trị nay là rạch Cầu Bông. Ngã Tắt mới nay là rạch Văn Thánh. Khi Trần Văn Học vẽ bản đồ Gia Định tỉnh năm 1815, thì chưa xây miếu Văn Thánh.

Những hoạt động phong phú về kinh tế, văn hóa của cư dân được thể hiện rất rõ trên bản đồ này. Nhiều khu dân cứ xuất hiện, rải rác theo các con lộ và các con kênh, quan trọng nhất là bờ Bắc của rạch Bến Nghé. Ta thấy Phường Đúc chợ Quán vẫn còn hoạt động và các xóm thủ công khác như Xóm Chiếu, xóm Đệm Buồm, Xóm Cốm, Xóm Lò Rèn, Xóm Chỉ, Xóm Dầu, Xóm Lò Gốm, chợ Bến Thành. Xưởng đóng thuyền đã có một bước phát triển rất lớn. Những chiếc thuyền lớn, chở cả trăm người cùng 36 súng thần công đã được đóng tại đây. Người nước ngoài vào đến Đàng Trong vào thời ấy đã cho biết rằng chỉ trong hai năm, Nguyễn Anh cho đóng 300 chiếc thuyền có trang bị thần công và trong 10 năm, số chiến thuyền của ông lên đến 1200 chiếc. 

Sài Gòn - Gia Định thời ấy đã là một nơi đô hội, sầm uất. Không gian đô thị của Sài Gòn đã dần lan tỏa ra. Bản đồ này cho thấy không gian đô thị ấy có hai hạt nhân quan trọng là vùng quận 1 hiện nay và vùng Chợ Lớn. Hai hạt nhân nằm cách nhau khá xa nếu dựa các phương tiện giao thông thô sơ thời ấy, nhưng lại được nối với nhau bằng con rạch Bến Nghé huyết mạch, là con đường lúa gạo từ các tỉnh miền Tây đến cảng Sài Gòn.
Sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng cho phá thành Bát Quái (1835) và xây một thành nhỏ hơn là thành Quy.

[khamphasaigon.com]

Bản đồ Sài Gòn năm 1815 (Nguyễn Đình Đầu họa lại)


http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/4633737289/
Bản đồ Sài Gòn năm 1859
Sơ đồ Sài Gòn và vùng phụ cận (Saigon et ses environs) do thiếu úy De Larclause vẽ ngày 1.3.1859. Chú thích:
Thành Gia Định (Citadelle), xưởng Chu Sư đóng tàu (Chantier de construction de jonquen), trại binh (caserne), dấu vết thành Bát Quái (Anciennes for tifications).]



Kế hoạch Saigon năm 1861



Bản đồ 1867[khamphasaigon.com]

Tuy còn tạm bợ, các cơ quan công quyền có tính cách thống trị, nhưng đã khá đầy đủ (theo bản đồ Sài Gòn 1867 do Sở Cầu đường họa):

A. Dinh Thống đốc (Palais du Gouvernement) ở góc đường Nguyễn Du - Hai Bà Trưng, trong khuôn viên trường Trần Đại Nghĩa.
B. Bộ Tổng tham mưu (Etat Mjor Général - ở góc đường Nguyễn Du - Hai Bà Trưng, quận 1).
C. Nha Giám đốc nội vụ (Direction de l'Intérieur) ở góc đường Lý Tự Trong - Đồng Khởi, quận 1.
D. Toàn Giám mục (Évêché) ở góc đường Tôn Thất Đạm - Hàm Nghi, quận 1.
E. Nhà thờ lớn (Cathédrale) trong khuôn viên bốn đường Nguyễn Huệ - Tôn Thất Hiệp - Hồ Tùng Mậu - Huỳnh Thúc Kháng, quận 1.
F. Tòa án (Tribunaux) ở giữa ba đường Lý Tự Trọng - Hai Bà Trưng - Lê Thánh Tôn, quận 1.
G. Tòa Đốc Lý (Municipalité) ở góc đường Lê Thánh Tôn - Đồng Khởi, quận 1.
H. Ngân khố và Bưu chính (Tre1sor et Postes) ở Nguyễn Du cách Đồng Khởi 100 mét, quận 1.
I. Điện tín (Télégraphe) ở đường Lý Tự Trọng đâu lưng với Ngân khố và Bưu chính, quận 1.
J. Sở Công chính (Ponts et Chaussées) ở trong khuôn viên bốn đường Lê Lợi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Huỳnh Thúc Kháng - Pasteur, quận 1.
K. Trại lính bản xứ (Camp des Indigènes) ở trong khuôn viên bốn đường Lê Duẩn - Mạc Đĩnh Chi - Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Ngọc Thạch, quận 1.
K' Trại lính Trường Thi (Camp des Lattrés) ở trong khuôn viên 4 đường Lê Duẩn - Hai Bà Trưng - Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Ngọc Thạch, quận 1.
L. Trại pháo binh (Artillerie) ở trong khuôn viên các đường Thái Văn Lung - Lý Tự Trọng - Tôn Đức Thắng và sông Sài Gòn, quận 1.
M. Công binh (Ge1nie) ở trong khuôn viên bốn đường Lê Lợi - Hai Bà Trưng - Lý Tự Trọng - Thái Văn Lung, quận 1.
N. Bệnh viện (Hopital) ở trong khuôn viên 4 đường Hai Bà Trưng - Nguyễn Du- Chu Mạnh Trinh - Lý Tự Trọng, quận 1. Nay là Bệnh viện Nhi Đồng II.
O. Sở Liêm phóng cũng gọi Sen Đầm (Gendarmerie) ở góc đường Pasteur - Lý Tự Trọng, quận 1.
P. Văn phòng Giám thành (Bureau de la Place) ở đường Nguyễn Du trước mặt Ngân khố và Bưu chính, quận 1.
Q. Sở Cảnh sát (Commissariat the police) ở gần góc đường Nguyễn Du - Đồng Khởi, quận 1.
R. Sở Chỉ huy Bộ binh (Commandant des Troupes) ở góc đường Nguyễn Du - Đồng Khởi, quận 1.
S. Bồn phao chữa tàu (Dock flottant) trên sông Sài Gòn trước mặt xưởng Ba Son, quận 1.
T. Nhà in Hoàng gia (Imprimerie impériale) ở góc đường Hai Bà Trưng - Lý Tự Trọng, quận 1.
U. Lao xá (Prisons) ở góc đường Lý Tự Trọng - Nguyện Trung Trực - Pasteur, quận 1, nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp.
V. Bãi chứa than (Parc aux charbons) ở bờ sông Sài Gòn bên Thủ Thiêm, nơi đối diện với xưởng Ba Son thuộc quận 2 ngày nay.
X. Nha Giám đốc Thương cảng (Direction du Port de commerce) ở góc Hàm Nghi - Tôn Đức Thắng, quận 1.
Y. Nha Giám đốc Quân cảng (Direction de Port de guerre) ở Bảo tàng Tôn Đức Thắng trên đường Tôn Đức Thắng đầu quân cảng, quận 1.
Z. Kho quân nhu (Subsistance) ở bờ sông Sài Gòn giữa Quân cảng đường Tôn Đức Thắng, quận 1.

1. Kho tổng hợp (Magasin général) ở trên đường Thái Văn Lung gần bờ sông Sài Gòn, quận 1.
2. Nha Hải đô (Hydrographie( ở góc đường Lý Tự Trọng - Hai Bà trưng, trong khuôn viên trường Trần Đại Nghĩa, quận 1.
3. Tòa án quân sự (Conseil de Guerre) ở góc đường Lê Thánh Tôn - Đồng Khởi, quận 1.
4. Chợ Bến Thành (Marché) ở khuôn viên 4 đường: Nguyễn Huệ - Huỳnh Thúc Kháng - Hồ Tùng Mậu - Ngô Đức Kế, quận 1. Nay là Ngân khố thành phố.
5. Sở thanh tra Nội vụ (Inspecteur des affaires indigènes) ở góc đường Pasteur - Lê Lợi, quận 1.
6. Trại kỵ binh (Caserne de Cavalerie) ở đường Lê Thánh Tôn gần ngã tư Thái Văn Lung, quận 1.
7. Trại lình đóng tàu (Caserne de Construction navales) ở góc ngã tư Tôn Đức Thắng - Lê Thánh Tôn, quận 1.
8. Công trường Đồng Hồ (Place de l'Horloge) ở đầu đường Đồng Khởi gần Nhà thờ Đức bà nay.
9. Cột báo hiệu (Sémaphore) tức Cột cờ thủ ngữ, nay ở gần đầu cầu Khánh Hội.
10. Nghĩa trang cũ (Ancien cimetière)ở mé đường Lê Duẩn gần ngã tư Tôn Đức Thắng.
11. Chủng viện Thánh Giuse (Séminaire)tại số 6 Tôn Đức Thắng nay.
12. Trương Sư huynh - Adran (Ecole des frères - Adran) ở phía sau Chủng viện.
13. Dòng Chúa Hài Đồng (Sainte Enfance) ở số 4 Tôn Đức Thắng.
14. Nơi giặt giũ của nhà thương (Buanderie) ở gần cầu Thị Nghè.
15. Nhà dòng Cát Minh (Carmelites) ở trước mặt Chủng viện trên đường Tôn Đức Thắng.



Kế hoạch Saigon năm 1870




Saigon năm 1881

bản đồ Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1883. 


Kế hoạch TP Saigon 1893 




Kế hoạch thành phố Saigon 1896

http://belleindochine.free.fr/images/Plan/Saigon_JBartholomew1896modR90light.jpg
bản đồ Sài Gòn năm 1900


Thánh phố Saigon năm 1903





Saigon năm 1928



Saigon năm 1928




Kế hoạch thành phố năm 1931






Bản đồ Du lịch Saigon năm 1934




Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Cây Lúa Nước & Văn Minh Việt Cổ






 















Cây Lúa Nước & Văn Minh Việt Cổ










Những năm 1970 đến nay, vấn đề nghiên cứu nguồn gốc tộc Việt và nền văn minh Việt cổ đã ngày càng sáng tỏ cội rễ người Việt Nam với cây lúa nước.
Nhiều nhà nghiên cứu sử học, khảo cổ, văn hoá, ngôn ngữ, văn chương, y học…Việt Nam và thế giới khẳng định tiến trình Văn hoá Việt cổ trên đất nước Việt Nam là sự hội tụ của cư dân nông nghiệp lúa nước, sáng tạo Nền Văn minh lúa nước.
Bác sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh nghiên cứu những tài liệu lịch sử và khảo cổ Việt Nam, Trung Hoa, Pháp, Hoa Kỳ, Nga… đưa ra luận điểm xác đáng về “Việt Nam- Trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới”.
Năm 1932. Tại Đại hội nghị Quốc tế các nhà sử học Viễn Đông đã xác nhận nền Văn hoá Hoà Bình của Việt Nam được coi là Trung tâm văn minh Tiền sử đầu tiên của nhân loại về nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá.
Nền văn hoá Hoà Bình (cách đây trên 16.000 năm) có mặt trên toàn thế giới. Nền Văn hoá Hoà Bình được tìm thấy sớm nhất trong một ngôi làng nhỏ ở Hoà Bình- Việt Nam. Chính người Việt cổ tại Hoà Bình- Việt Nam đã sáng tạo nền Văn hoá Hoà Bình. Các nhà khảo cổ học thế giới đã chứng minh và xác định người Hoà Bình trên đất Việt Nam đã có một thời văn minh cổ xưa nhất thế giới. Khảo cổ học thế giới đã lấy tên “Hoà Bình- Việt Nam” đặt tên nền văn hoá này gọi là Văn hoá Hoà Bình cho toàn thế giới.
Nền Văn hoá Hoà Bình là một trong những nền Văn hoá cổ xưa của Đông Nam Á và thế giới.
Văn hoá Hoà Bình- Văn hoá thời đại đá giữa được người Pháp phát hiện và khai quật ở vùng Hoà Bình nước ta những năm 1920. Đó là các di tích hang động Kim Bôi, Lương Sơn, Xóm Giỗ, Mường Động, Mường Chuông, hang Triềng Xến… vùng Nho Quan Ninh Bình, Sông Đà, Mai Châu, Sông Mã Thanh Hoá…
Đến nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam và thế giới đạt nhiều thành tựu mới trong khai quật và nghiên cứu Văn hoá Hoà Bình và Người Việt Cổ.
Đó là dòng dõi Bách Việt cổ xưa, sinh tụ trên một vùng lãnh thổ rộng lớn. Từng tồn tại như là một trong những cái nôi rộng lớn của loài người. Ở đây, Tổ Tiên ta đã sáng tạo và phát triển một nền văn minh kỳ diệu với những Tinh hoa tiêu biểu như: Văn minh lúa nước, Thần Nông, Kinh dịch Phục Hy, Trống Đồng hàm súc những tiên tri, Hải thuyền và nếp sống thuỷ sinh trên sông nước, chinh phục biển Đông…
Nông nghiệp Bách Việt đã sáng tạo nếp sống, lễ nghĩa, ứng xử, cày cấy, nuôi trồng… riêng biệt. Đức Khổng Tử dạy học trò: “Người Bách Việt miền Nam (phía Nam sông Dương Tử) có lối sống, tiếng nói, luật lệ, phong tục, tập quán, tức ăn uống riêng…” “Dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta, trồng kê và lúa mỳ. Học uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà”. “Dân Bách Việt thích ca múa, vừa làm việc vừa ca vè, hát đối, nói vận, ca dao, lấy lá cây mang vào người, trá hình múa hát”.
Các sách cổ của Trung Quốc: Giao Châu ký, Tam Đô Phủ, Ngõ Lục địa Lý Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng đều chép: “Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà mà uống, họ biết uống bằng lỗ mũi, nuôi tằm mà dệt vải”, “Họ dùng một khúc tre dài chừng một thước hơn, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đằng kia mà làm đàn gọi là độ huyền cầm”, “Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi truyền tụng, kể thành văn thơ, ca dao”, “Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát, biết lấy cây theo thuyết Âm- Dương để trị bệnh”, “Họ rất quí các loài chim, biết tập chim biết nói, nuôi nhiều chim trĩ sống trên núi cao rất đẹp (sau này người Trung Quốc gọi là chim Phụng Hoàng, vật tổ của Trung Hoa)”…
Các sách lịch sử, triết học, văn hoá, của Bách Việt người Tàu đã cướp về, đánh tráo, biến hoá thành của Trung Quốc, hoặc đốt hết để huỷ diệt văn hoá con người Việt, đồng hoá Việt thành Trung Quốc.
Trong những thời gian bị đô hộ, dân Việt bị cấm mọi sinh hoạt văn hoá và kỹ nghệ bản địa, nhưng nó vẫn sống mạnh mẽ trong mạch sống dân gian.
Người Trung Quốc lúc đầu không quan tâm đến những huyền thoại của người Việt. Sau này, họ hiểu ý nghĩa triết lý sâu sa, của những câu chuyện tưởng như hoang đường ấy lại là những thông điệp của Tổ Tiên Bách Việt về kinh nghiệm đánh giặc, giữ nước, sống an vui, làm ăn, trồng cấy lúa… truyền cho con cháu. Nó được truyền miệng, ăn sâu bám rễ trong lòng Việt tộc, đời này qua đời khác.
Trung Quốc đau xót khi nhận ra dòng văn học huyền thoại đó là sức sống của dân Bách Việt do Trời sinh, trên mảnh đất của Việt tộc từ Động Đình Hồ trở xuống miền Bắc và Trung Việt Nam cổ. Hán tộc không liên can gì đến sự nghiệp nhà nông của các vị Thần Nông Nghiệp như: Nữ Oa, Thần Nông, Phục Hy… mà nhận và biến thành của Trung Quốc.
Học giả Vũ Hữu San viết: “Hãy quên đi ý nghĩ nguồn gốc Việt từ Tàu phương Bắc. Ta không phải là Tàu. Có một ông Tàu, bà Tàu chính cống nào mà lại nhuộm răng đen, ăn cơm gạo tám, ăn trầu, đóng khố hay mặc váy, đi thuyền, tham dự hội nước, hát đối đáp giao duyên nam nữ, thổi cơm bằng ống tre, lấy vỏ cây làm vải, làm nghề chài lưới, hội hè trên sông biển…”
Chứng tích khảo cổ trên lãnh thổ Việt Nam chứng minh giống Việt là một chủng tộc rất cổ xưa, đồng thời cũng là chủng tộc tiên tiến trong nghề nông nghiệp và hàng hải chính bởi vùng địa lý phát tích của tộc Việt. Văn minh Hoà Bình khởi nguyên trên đất nước ta mười sáu nghìn năm trước đây. Đà tiến Văn minh lúa nước của dân Việt đã được phát triển liên tục, không ngưng nghỉ.
- Thời kỳ Đồ Đá cũ: văn hoá Sơn Vi (20.000- 12.000 năm TCN).
- Thời kỳ Đồ Đá giữa: Văn hoá Hoà Bình (12.000- 10.000 năm TCN).
- Thời kỳ Đồ Đá mới: Văn hoá Bắc Sơn (10.000- 8000 năm TCN), Văn hoá Quỳnh Văn, Đa Bút (6000- 5000 năm TCN).
- Thời kỳ Đồ Đồng- Văn hoá dựng nước Văn Lang đã phát triển qua bốn giai đoạn lớn: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn.
Các học giả khắp thế giới và Việt Nam đã chứng minh về tính chất bản địa của những nền văn hoá tiền sử xưa nhất và phát triển nhất trên đất nước Việt Nam. Đặc biệt là Văn hoá Hoà Bình với sự ra đời sớm nhất thế giới của nông nghiệp luá nước.
Học giả Sauer Hoa Kỳ viết trong quyển Đồng Quê: “Đúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn, mà giai đoạn đầu là giai đoạn của Văn hoá Hoà Bình (Việt Nam) lúa nước đã được trồng cùng một lúc với củ môn nước (khoai sọ).
Sauer cho rằng “Họ (Việt tộc) đã làm một bước đi quyết định cho loài người trên đường tiến bộ. Đó là việc thuần hoá cây cỏ đầu tiên, một phát triển sớm sủa nhất của nhân loại trong nông nghiệp”.
Bác sĩ Trần Đại Sỹ viết sách Việt Nam Đệ Ngũ Thiên Kỷ: “ Tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường Giang: Đông tới Biển, Tây tới Tứ Xuyên, Nam tới vịnh Thái Lan. Người Việt từ Ngô- Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân Việt di cư xuống Giao Chỉ. Người Việt di cư từ Nam sông Trường Giang tránh lạnh xuống Bắc Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của tộc Việt trong lãnh thổ của họ, chứ không phải là tộc khác di cư tới đất Việt”.
Ông W.G Solheim II bình luận : “Văn hoá Hoà Bình là Văn hoá bản địa tộc Việt, thuần hoá cây nông nghiệp và cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Sau này, một số cây đã truyền đến Ấn độ và Phi Châu.”
Trung Quốc thừa hưởng văn hoá nông nghiệp phát triển nhờ dân Bách Việt còn lại trên Hoa lục.
Chester Norman cho rằng Văn minh Hoà Bình được tạo dựng trong thời gian thềm lục địa Sunda (kể cả Hoàng Sa và Trường Sa) bị ngập nước. Người ta phải di chuyển đi khai phá đồng bằng. Yếu tố quan trọng nhất của đà phát triển là sự ra đời của các giống cây cho hạt. Những loại ngũ cốc thuần hoá sau này thích hợp cho ruộng lúa nước.
Văn hoá Hoà Bình trung tâm Văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới. Sau này ảnh hưởng toàn bộ Đông Nam Á, Trung Hoa và thế giới. Hoà Bình (Việt Nam) nơi sầm uất, giàu thịnh hơn đâu hết và đã có vị vua Viêm Đế (vua xứ nóng)- vua nông nghiệp tượng trưng cho trồng trọt tức là Thần Nông. Thần Nông- Người đã nghiên cứu dạy nghề nông và được tôn như một vị vua. Bà Nữ Oa “Đội đá vá Trời” là người nghiên cứu thời tiết, nắng mưa, trăng, gió, phù hợp mùa màng, các ngày lễ hội cùng sự nghỉ ngơi vui chơi của dân chúng sau mùa vàng thu hoạch.
Nông nghiệp Văn hoá Hoà Bình rực rỡ là chiều kích cho kỹ nghệ đồ đá phát triển. Thợ làm công cụ bằng đá sỏi đã chế tác chế tác dụng cụ rìu đá, búa đá, dao, cày đá… cho dân trồng lúa.
Các nhà khảo cổ rưng rưng trước nắm Gạo bị cháy dở hoá thạch đã tìm thấy ở Đồng Đậu- Vĩnh Phú có niên đại 5.500 năm trước CN (cách đây 7.500 năm). Nắm Gạo cháy dở của thời phát triển trồng lúa nước này nói với chúng ta rằng Tổ Tiên ta đã ăn Gạo để sống và xây nền Văn minh lúa nước từ rất lâu rồi. Nắm Gạo thuở Trời Đất hỗn mang linh thiêng nhắc cháu con nhớ Gạo trên cánh đồng lúa nước, nơi những dòng sông dồn tụ. Vậy giờ đây. Nếu chúng ta quên Gạo. Hỏi ta và con cháu ta sống bằng gì? Hỡi những người mang di truyền tộc Việt. Mình sống bằng Gạo. Chỉ có Gạo mà thôi! Muôn đời sau Việt tộc vẫn phải sống bằng Gạo, dù họ đang ở khắp hoàn cầu. Đó là di truyền nòi giống Thiên cổ. Không thể khác.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh: “Có thể vì nền Văn hoá Hoà Bình nằm vào thời điểm của trận Đại Hồng Thuỷ cách đây 17.000 năm. Cuộc Đại Hồng Thuỷ này bao gồm cả thế giới. Chắc nó trùng hợp với cuộc đại Hồng Thuỷ đã được diễn tả trong Cựu Kinh Ước của đạo Do Thái và Đạo Thiên Chúa. Vì vậy theo khoa học, rõ ràng trước và sau Đại Hồng Thuỷ, loài người đã có mặt thật lâu trên miền Đông Nam Á, mà quan trọng là tại Việt Nam.
Sau vụ Đại Hồng Thuỷ này, nơi nguy hại nhiều nhất thế giới, chính là Lục địa Đông Nam Á. Vì một phần lớn đất đai của miền này đã sụp xuống biển, mở rộng Thái Bình Dương.
Xét theo thềm lục địa Đông Nam Á, các nhà khảo cổ nhận thấy Đại Hồng Thuỷ lên và lui rất chậm chạp, vì thế không xảy ra tại nạn chết người tập thể. Do đó, vấn đề cấp thiết cho sự sinh sống của người Đông Nam Á, mà trong đó người Bách Việt cổ căn bản là đi tìm thức ăn. Người Bách Việt cổ đã di tản lên chốn cao nguyên tức là lục địa Bách Việt cổ mà nay là miền Nam Trung Hoa và đồng bằng Bắc Việt thẳng đến miền duyên hải Trung Việt. Tại đây, người Việt cổ đã phát triển nghề nông để tăng nhanh nguồn lương thực”.
Sang thời kỳ Hùng Vương (Thiên niên kỷ thứ hai Trước CN). Những công cụ bằng đá đã dần thay thế bằng những công cụ đồng thau và đồ sắt xuất hiện. Nông nghiệp trồng lúa nước thành vai trò chủ đạo trong xã hội.
Khảo cổ học phát hiện những chiếc rìu. Rìu đá và rìu đồng là một trong những loại hiện vật tìm thấy nhiều nhất trên đất nước Việt Nam. Những chiếc rìu dài và hẹp dùng trong sản xuất nông nghiệp.
Sau đó là những chiếc cuốc sắt, những lưỡi cày đồng.
Cùng với nông cụ sản xuất là những đồ đựng và đun nấu bằng gốm, dụng cụ đánh cá, săn bắn… minh chứng một nền kinh tế, kỹ thuật, văn minh của các cư dân nông nghiệp.
Các tác phẩm nghệ thuật thời kỳ Hùng Vương cũng mang đậm tư duy cuộc sống nông nghiệp. Hình ảnh Mặt Trời, tượng cóc, người giao hoan, tượng bò, gà… bằng đất nung. Hình ảnh bông lúa, người giã gạo trên Trống Đồng rực rỡ an sinh. Những cổ tích, huyền thoại vô cùng phong phú về thiên nhiên, khí hậu, cách làm ăn, yêu thương, ca múa, sinh sống của cư dân nông nghịêp…
Sách Giao Châu ngoại ký chép: “Đời xưa đất Giao Chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất gọi là Lạc Điền, nước lên xuống theo thuỷ triều, dân cư cày bừa trên ruộng đó mà sinh sống, gọi là Lạc dân”.
Phù hợp với truyền thuyết, địa bàn phân bố của các cư dân nông nghiệp đều là nhừng đồng đất thấp, men theo các con sông lớn và gấn các đầm hồ miền Trung du Bắc bộ, Trung bộ, thích hợp với trồng cấy lúa và thuần dưỡng cây trồng, súc vật.
Cây lúa thời Hùng Vương không phải là lúa hoang. Cây lúa đã được trồng cấy và là nguồn lương thực chủ yếu của cư dân (Truyện Bánh Chưng, Bánh Dày…) và ca dao tục ngữ phổ biến kỹ thuật trồng lúa theo mùa, khí hậu, con nước, Mặt Trăng tròn khuyết… Theo sách Quảng Chí đầu đời Tấn thì ở phương Nam có lúa hổ chưởng, lúa tử mang, lúa xích khoáng, lúa thiền minh, lúa cái hạ bạch, lúa thanh vu, lúa luỹ tử, lúa bạch mạc, lúa cánh…
Sách Vân Đài loại ngữ Lê Quý Đôn đã kê ra gần một trăm giống lúa và mô tả chi tiết đặc tính của các giống lúa, những kinh nghiệm gieo trồng và năng suất.
Lúa là một loại cây ưa nước, đòi hỏi nhiều sức chăm bón của con người và từng giống lúa thích hợp với những mảnh ruộng khác nhau. Cư dân Hùng Vương trồng lúa trên ba loại chân ruộng: ruộng phù sa ven sông, ruộng trũng quanh các đầm hồ, ruộng trên các gò đồi miền Trung du. Họ luôn hát bài ca giữ đất.
Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa Việt Nam vô cùng phong phú, hợp bốn mùa cây trái. Nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt. Cuộc chinh phục đồng bằng của tộc Việt diễn ra quyết liệt, oai linh từ Văn hoá Hoà Bình đến Hùng Vương và tới nay không ngưng nghỉ. Đó là cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ và ác liệt để khai phá đất hoang, rừng rậm, đắp đê, chống mưa nguồn, nước lũ, nắng hạn, gió bão, ngập lụt đe doạ tuần hoàn. Cuộc giành giật với thiên nhiên để sinh tồn thách thức tộc Việt phải quần tụ bên nhau, chung lưng gánh vác, tập hợp, tổ chức thành sức mạnh với những người thủ lĩnh tài năng, đức độ. Các truyền thuyết đều tập trung gửi thông điệp về công cuộc khai hoang, làm thuỷ lợi, để trồng lúa, để sinh tồn (Sơn Tinh Thuỷ Tinh…)
Việt Nam ở vào vị trí quan trọng của Đông Nam Á. Nằm trên ngã tư các đường giao thông Bắc- Nam, Đông- Tây, giữa đại lục và hải đảo. Vị trí tiếp xúc rộng, dân ta có điều kiện mở rộng giao lưu văn hoá. Nhưng luôn phải đương đầu với mối đe doạ ngoại xâm. Truyền thuyết kể nhiều cuộc chống giặc thời Hùng Vương. Chống nhiều thứ giặc: “Giặc mũi đỏ”, “Ân”, “Thạch linh thần tướng”… Toàn dân góp sức người, góp sắt đúc vũ khí, góp của cải, thóc gạo nuôi quân, tướng đánh giặc (Thánh Gióng). Số lượng vũ khí sản xuất tăng nhanh chóng (thời Phùng Nguyên 0,84%, thời Văn hoá Đông Sơn tăng 63, 29%). Càng về sau càng bị nguy cơ phương Bắc xâm lược. Cây cối, núi rừng, dòng sông, đất đá, lửa nước, kim loại, đồng, sắt, voi thú, sinh quyển, hồn thiêng … đều đánh giặc, giữ những cánh đồng lúa nước và sự tồn tại Việt tộc.
Nhưng không ai nghĩ rằng đã có cuộc diệt chủng trên đất nước Việt Nam. Đánh thắng giặc ngoại xâm, Việt tộc lại mở lòng hòa hiếu, cùng nhân loại xây đắp hoà bình. Những người đến sau đã hội nhập với Việt tộc để kiến tạo cuộc sống chung hoà bình, bác ái.
Mở từng trang sử, tìm hình bóng cha ông từ cổ đại, Lý, Trần, Lê đến nay… đã vượt rừng, xuyên biển, mở nước về phương Nam, xây nền Văn minh nông nghiệp lúa nước, độc đáo Việt Nam. Đó là hành trình của cây lúa nước. Lúa nước dẫn đường cho người Việt làm nên những đồng bằng. Từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã đến đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long thơm hương lúa.
Những cánh đồng lúa nước phì nhiêu. Những kênh rạch chằng chịt tạo ra chân trời lúa, chân trời nước, chạm đường mây thênh thang của đồng bằng Nam Bộ thật kỳ thú, mênh mang, mở lòng người rộng đến bao la, đến vô cùng. Miền đất này, ngàn năm trước đã từng có nền văn hóa Óc Eo rực rỡ, chẳng hiểu vì sao nó biến mất, để lại đất này “cây rừng rậm rạp, đầm lầy, dã thú và không thấy bóng người”. Vùng đất mới Nam Bộ với Sài Gòn- Gia Định chính thức xuất hiện trên bản đồ văn hóa Việt Nam cách đây trên ba thế kỷ. Năm 1988, chúng ta kỷ niệm ba trăm năm thành phố Sài Gòn, kể từ khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Phúc Cảnh được lệnh của Chúa Nguyễn Phúc Chu cử đi kinh lược phương Nam, tổ chức cai trị miền đất mới.
Thế kỷ XVII, người Việt tới đây, trước mắt là biển cả mù khơi, rừng thẳm bạt ngàn, chứa chất đầy hiểm nguy, bí ẩn. Họ thốt lên:
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”.
Đất Nam Bộ hoang vu, thời tiết khắc nghiệt. Đồng Tháp Mười trước 1945, vẫn còn là nơi “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh”. Trong vòng ba trăm năm, người Việt các thế hệ đã “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” cùng nhau biến đồng đất hoang vu thành những đồng lúa mênh mông, những vườn cây hoa thơm, quả ngọt, khoe sắc dưới nắng vàng. Họ bảo nhau trồng lúa nước, chấp nhận hòa hơi thở của mình với những cánh đồng lúa nước và những dòng sông, cửa biển… Họ không đắp đê ngăn những cơn nước lụt dọc theo các triền sông Cửu Long mà dựa vào nguồn nước phù hợp với thủy lưu lên xuống của sông và biển để làm nên những cánh đồng vàng. Họ lập thôn ấp men theo kênh rạch, tạo nên những mái nhà bên đường nước thênh thang. Họ sống trên nước và chết cũng trôi theo dòng nước.
Người Việt biết sống hòa vào thiên nhiên Nam Bộ và còn biết sống hòa hợp cùng các dân tộc khác trên đất Nam Bộ: Khơ Me, người Xtiêng, người Mạ, người Mnông, các lái thương Trung Hoa… Thiên nhiên rộng lớn đất đai, sông nước, biển trời ấy đã hun đúc nên tính cách người Nam Bộ siêng năng trồng cấy, chăn nuôi, cần mẫn làm ra các hải sản cá, cua, tôm, mực, năng động làm nghề thủ công, buôn bán, giao thương, sống trọng nghĩa, kinh tài, khí chất hào sảng, mạnh mẽ, gần thiên nhiên, chịu học hỏi…
Kể từ tiền sử đến nay. Người Việt lúc nào cũng nâng niu hạt lúa.
Thế kỷ XX. Bom giặc cày nát ruộng đồng. Huỷ diệt con người. Cánh đồng lúa vẫn xanh màu con gái.
Mỗi người dân là một hạt lúa. Người người nâng niu hạt lúa. Nâng niu sự sống của chính mình.
Hình ảnh cố GS.VS Vũ Tuyên Hoàng mãi mãi in đậm Trên cánh đồng mơ ước, bởi cả cuộc đời, ông đã gieo từng hạt lúa, củ khoai, cây rau, hoa, quả… trên đồng đất Việt Nam bốn mùa mưa gió, bão giông, nóng rét nghiệt ngã, đậm “nét buồn đau thế kỷ này” (thơ Vũ Tuyên Hoàng).
Sinh ra trong một gia đình trí thức Hà Thành, thân phụ là nhà văn hóa Vũ Ngọc Phan, mẹ là nhà thơ Hằng Phương nổi tiếng, nhưng những năm du học ở Quảng Châu- Trung Quốc, Vũ Tuyên Hoàng lại học ngành Di truyền chọn giống cây lương thực, bởi sớm tìm được niềm vui làm việc hữu ích cho đời. Ông tâm sự: “Cả nhà đều làm các nghề ở “trên trời”- làm nhà văn, làm nhà thơ và làm họa sĩ, còn mình lại làm nghề “chân đất”, gắn bó với ruộng đồng là sở thích của mình.”
Khó có thể tưởng tượng được đôi chân thanh mảnh hào hoa của chàng trai Hà Thành đã lội xuống những cánh đồng lúa nước mà không sợ bọn đỉa đen ngòm, bơi loằng ngoằng trong nước bám vào. Tình yêu lúa, yêu người đã nâng bước chân Vũ Tuyên Hoàng lội đất bùn qua những tháng năm, giữa những “Cơn mưa trào giọt lệ” (thơ Vũ Tuyên Hoàng). Ông sang Liên Xô mê mải nghiên cứu khoa học về giống, cây trồng, bảo vệ luận án Tiến sĩ, được phong Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nông nghiệp Liên bang Nga, và các nước thuộc thế giới thứ ba…Về nước, ông từng giữ nhiều chức vụ: Viện trưởng Viện cây lương thực, Thứ trưởng bộ Nông nghiệp nông thôn, Đại biểu Quốc Hội… để rồi, ông sống hết mình với cái nghề “chân đất” mà ông đắm say dâng hiến một đời.
GS.VS Trần Đình Long chứng kiến những năm 60 thế kỷ trước, Vũ Tuyên Hoàng đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa Đông- Xuân chịu rét, sau đó là các giống lúa chịu úng, và âu yếm gọi tên chúng là: U16, U17… các giống lúa chịu hạn như CH5, CH133. Và những năm gần đây, Vũ Tuyên Hoàng vẫn nâng niu hạt lúa, sản sinh ra các giống lúa có hàm lượng Prôtein cao như: P4, P6. Trong đó giống P6 hiện đang được gieo trồng hàng vạn ha ở đồng bằng sông Hồng và các tỉnh miền Trung. Giống lúa này không chỉ có chất lượng dinh dưỡng cao mà còn cho cơm dẻo, hương vị đậm đà, đang được những đồng nghiệp và các thế hệ đi sau tiếp tục nhân rộng trong sản xuất.
“Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”. Hôm nay, những đồng nghiệp và học trò của Vũ Tuyên Hoàng nâng bát cơm thơm mùi vị đậm đà của giống P6, rưng rưng nhớ thương ông. Người gieo hạt trên cánh đồng vàng. Và trong tiết Xuân mưa phùn gió bấc thấm lạnh tim gan, những cây lúa xanh mượt thì con gái rì rào hát Thánh ca, tạ ơn Vũ Tuyên Hoàng đã truyền sức sống ấm nóng cho giống lúa Đông- Xuân đủ sức vượt lên gió rét, mưa hàn, sương giá…
Không chỉ đem lại cho những cánh đồng, cho người nông dân và cho đời những giống lúa mới, GS.VS Vũ Tuyên Hoàng, nhà khoa học tài ba, giàu sáng tạo, còn đưa ra các ý tưởng và các sản phẩm mới về cây trồng, vật nuôi. Theo GS. VS Trần Đình Long giả thuyết về hai nhóm gen quyết định đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, làm cơ sở cho ngành Di truyền học và tạo giống cây trồng của Vũ Tuyên Hoàng, không chỉ có ý nghĩa đối với nước ta mà nhiều nhà khoa học trên thế giới đã ứng dụng thành công trong sự nghiệp của họ. Giống táo Má Đào do Vũ Tuyên Hoàng tạo ra vừa có mẫu mã đẹp, vừa có chất lượng tương tự hoặc cao hơn giống táo Thiện Phiến nổi tiếng của vùng Gia Lộc. Vũ Tuyên Hoàng cũng là người đầu tiên đưa khái niệm trồng khoai tây bằng hạt vào Việt Nam. Một nghiên cứu khác ít ai biết, trên cơ sở lý thuyết đồng dạng, ông đã tạo ra giống Vịt Anh Đào được bà con nông dân đánh giá cao…
PGS. TS Nguyễn Trí Hoàn, Viện trưởng Viện Cây lương thực và thực phẩm, ngưỡng mộ GS.VS Vũ Tuyên Hoàng có tầm nhìn xa: “Khi ở Viện, ngay sau khi giải phóng miền Nam, anh đã thành lập một trung tâm nghiên cứu rau và hoa ở Đà Lạt, một trung tâm nghiên cứu lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Những năm 1980, anh đã nghiên cứu các giống cây đặc sản, góp phần bảo tồn nguồn gen, chọn tạo nhiều giống lúa thâm canh, góp phần giải quyết vấn đề lương thực… Trong tám năm làm chủ tịch Liên hiệp Hội khoa học Việt Nam, anh vẫn đau đáu quan tâm đến các đề tài nghiên cứu của Viện”.
Nỗi niềm đau đau về Hạt lúa hay chính là tình yêu thương lớn, lo đến sự đói, no, ấm, lạnh của con người, được thăng hoa trong các công trình nghiên cứu khoa học của Vũ Tuyên Hoàng thành cơm thơm, quả ngọt. Nó còn thăng hoa trong thế giới tinh thần cao cả của Vũ Tuyên Hoàng qua họa và thơ. Đôi bàn tay ông nâng niu Hạt lúa, hồn ông ru Hạt lúabằng nhịp điệu thơ ca, và sắc màu hội họa. GS.VS Trần Đình Long viết: “Anh không chỉ là một nhà khoa học tài ba, uyên bác, mà còn là một con người trong sáng, chân tình, vui vẻ, dí dỏm, hòa nhã, bình dị và thanh tao biết nhường nào. Anh là nhà thơ tâm huyết, là họa sĩ của cuộc đời. Mơ ước lớn nhất của cả đời Anh là tạo nên những cánh đồng vàng- cánh đồng lúa nặng trĩu bông vàng- mầu vàng của ấm no, mầu vàng của chính cái tên của Anh: GS.Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng.”
Còn tôi, người viết bài này, đôi ba lần được gặp ông trong dáng vẻ hào hoa, phong nhã, lặng lẽ, khiêm nhường. Bất ngờ trong mùa xuân tưởng niệm Vũ Tuyên Hoàng vào cõi vô hình một năm tròn, ngọn gió Long Thành đã đặt vào tay tôi tờ tạp chí có in bài thơ Hạt lúa của ông và những hồi ức của bạn bè về bước chân ông lội xuống bùn đất Việt Nam. Tôi kính trọng ông gấp nhiều lần khi biết ông đã yêu Hạt lúa đến tận cùng sự sống của mình. Và tôi gọi ông là “Người gieo giống trên đồng vắng” trong Kinh Thánh.
Bài thơ Hạt lúa của ông là hành khúc cuộc đời người dân Việt từ thủa hồng hoang đến mãi mãi mai sau:
“Những hạt lúa giữa lòng tay tôi
giống hạt bầu, giống hạt dài
Vỏ làm ánh nắng
Hạt gạo trắng làm cái nôi
Nôi ru em bé ngủ
Nôi ấm cho mọi người
Vì hạt lúa đêm khuya thao thức
Tôi đi theo trọn đời
Ôi những hạt lúa vàng
trăm ngàn bé nhỏ
những giọt mồ hôi
những giọt nước mắt
long lanh như sương
Sương điểm tóc ai đi trên đường
Bạc đầu bao thế hệ.
Chọn giống trên cánh đồng vui thế
Chim gọi nhau phơi phới chiều nay
Ruộng gặt xong đã sớm đường cày
Ngày mai lại tiếp tục những mùa gieo hạt
Lúa sẽ nổi sóng đồng dào dạt
Mùa trổ bông hoa thắm ru nôi.”
Giờ đây, GS.VS Vũ Tuyên Hoàng đang bay cùng mây thắm trời xanh. Linh hồn ông yêu thương Hạt lúa mà trở lại, nhắc chúng ta nâng niu Hạt lúa.
Nòi giống Việt Nam muôn đời sinh tồn nhờ Hạt lúa. Người Việt Nam hôm nay, có ai quên Hạt lúa không? Không ai quên. Nhìn những cánh đồng lúa xanh màu lá mạ, mượt mà, bình yên, hẹn mùa vàng ấm no, đang bị vùi lấp trước sự vần xoay chóng mặt của dựng xây công nghiệp, bê- tông hoá, mà lòng chúng ta quặn đau xa xót.
Kêu một tiếng. Lạnh Đất- Trời.
Thiên Chúa sau nạn Hồng Thuỷ thấy ông Nô-ê cùng vợ con, gia đình đổ mồ hôi, nước mắt, dọn đất bị lụt, chăm sóc muôn loài, cấy trồng, gieo hạt, nâng niu cây, hoa trái, đã tự nhủ: “Ta sẽ không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa. Lòng con người toan tính điều xấu từ khi còn trẻ, nhưng Ta sẽ không bao giờ còn sát hại mọi sinh vật như ta vừa làm!
Bao lâu đất này còn
thì mùa gieo mùa gặt
trời lạnh và trời nóng
tiết hạ và tiết đông
ban ngày và ban đêm
sẽ không ngừng đắp đổi”
 (Kinh Thánh)
Mỗi chúng ta sinh ra trên đất Việt Nam này đều là Hạt lúa. Hãy tỉnh thức trở lại! Cả dân tộc Rồng Tiên đồng lòng, quyết chí, cùng nhau gieoHạt lúa, làm nên những cánh đồng vàng “mùa gieo mùa gặt”. Đó chính là sự bình đẳng, ấm no, tự do, hòa bình, bác ái, yên ổn. Không tìm kiếm hạnh phúc ở đâu xa. Hạnh phúc, hoà bình bền lâu được gieo trên cánh đồng vàng của mỗi thôn làng Việt Nam mà mỗi người Nông Dân thực quyền làm chủ.Trái đất do Thượng đế sáng tạo luôn bao dung tha thứ và mừng vui trước hành động sám hối của Con Người. 

 http://newvietart.com/index4.1144.html

NỀN VĂN MINH SÔNG HỒNG - CƠ SỞ HÌNH THÀNH, THÀNH TỰU, ĐẶC TRƯNG, CÁC TÊN GỌI VÀ Ý NGHĨA Sau một thời kỳ dài sống định cư và mở rộng lãnh thổ, phát triển nền kinh tế với nông nghiệp trồng lúa nước là chủ đạo, vượt qua nông nghiệp dùng cuốc đến nông nghiệp dùng cày (bằng lưỡi cày đồng tiến lên lưỡi cày sắt) có sức kéo là trâu bò cùng với những tiến bộ khác, người Việt cổ đã đưa xã hội vượt qua thời tiền sử, vượt qua hình thái kinh tế - xã hội nguyên thuỷ sang hình thái kinh tế xã hội đầu tiên thuộc phạm trù của thời đại văn minh, của xã hội phân hóa giai cấp và có nhà nước (Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng tiếp đến là nước Âu Lạc của vua Thục). Đồng thời, người Việt cổ đã xây dựng được một nền văn minh đầu tiên, đó là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay còn gọi là nền văn minh sông Hồng, đây là nền văn minh bản địa. Sự ra đời một hình thái nhà nước đầu tiên dù còn sơ khai nhưng đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của lịch sử Việt Nam. Nó xác nhận quá trình dựng nước thời Hùng Vương - với nhà nước Văn Lang và đặt cơ sở cho sự hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc gia Việt Nam. Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc với những thành tựu dựng nước và bước đầu giữ nước, với nền Văn minh sông Hồng (Văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay còn gọi là văn minh Việt cổ) rực rỡ đã khẳng định vị trí của nó trong lịch sử dân tộc, mở đầu sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. - Nền văn minh sông Hồng - cơ sở hình thành: + Nền Văn minh sông Hồng được hình thành từ những nền văn hóa tiền sử xa xôi và được trực tiếp tạo thành trong một quá trình liên tục từ Sơ kỳ thời đại đồng thau đến Sơ kỳ thời đại đồ sắt (tiêu biểu là văn hóa Đông Sơn). Công cụ kim loại sắc bén và thuận lợi hơn nhiều so với công cụ bằng đá đã tạo nên những chuyển biến về chất trong sản xuất và đời sống xã hội. + Quá trình hình thành nền văn minh sông Hồng đồng thời là quá trình liên kết các bộ lạc và liên minh bộ lạc thành cộng đồng quốc gia, cộng đồng bộ tộc với cơ cấu nhà nước sơ khai của người Việt cổ. Đó cũng chính là quá trình tác động và dung hợp nhiều nền văn hóa của những thành phần cư dân khác nhau, thành một nền văn hóa thống nhất với nhiều loại hình địa phương, gồm nhiều thành phần dân tộc gần gũi nhau về nhân chủng và văn hóa. Cộng đồng người Việt Cổ được hình thành qua nhiều quá trình: Nhóm Môngôlôit hỗn chủng với nhóm Ôxơralôit tạo thành người Lạc Việt, nhóm Lạc Việt hòa nhập với nhóm Tây Âu tạo thành người Âu Lạc. Cộng đồng cư dân đó bước đầu được gắn bó bởi ý thức về một dòng giống chung (là con rồng cháu tiên), bởi sự cố kết trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên (bão lụt, hạn hán) và với xã hội (giặc ngoại xâm). + Lúc này người Việt Cổ đã từ vùng gò đồi cao tràn xuống vùng đồng bằng và vùng ven biển để sinh sống. Lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả,... đã tạo nên vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trù phú - một địa bàn thuận lợi cho người Việt cổ sinh sống. - Thành tựu của nền văn minh sông Hồng: Nền văn minh sông Hồng được hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc và sự phát triển của đời sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ. Trên cơ sở một nền kinh tế phát triển mạnh và phạm vi lãnh thổ được mở rộng từ vùng đồi núi, trung du đến vùng đồng bằng rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả,... đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rõ rệt; tổ chức xã hội đạt đến một trình độ cao hơn, vượt khỏi thời nguyên thuỷ, bước sang thời đại văn minh đầu tiên của người Việt cổ - nền văn minh sông Hồng. + Về đời sống vật chất: Thóc gạo là nguồn lương thực chính của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ yếu là gạo nếp. Người bấy giờ dùng gạo nếp để thổi cơm, xôi, làm bánh chưng, bánh giầy. Sách Lĩnh nam chích quái ghi rằng ở thời Hùng Vương trồng được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm. Nhiều chiếc chõ gốm dùng để thổi xôi đã được tìm thấy ở các địa điểm thuộc văn hoá Đông Sơn. Ngoài thóc gạo là nguồn lương thực chính, cư dân Văn Lang - Âu Lạc còn sử dụng các loại hoa màu, rau quả, nhất là các loại cây có củ cung cấp chất bột như củ từ, khoai lang, sắn, củ mài, khoai sọ. Lúc thiếu thốn, người ta còn dùng các loại cây có bột khác như cây quang lang, búng, báng. Thức ăn cũng khá phong phú, gồm các loại cá, tôm, cua, ốc hến, ba ba, các loại rau củ (bầu, bí, cà, đậu...). Thức ăn được chế biến theo nhiều cách khác nhau theo sở thích từng vùng, từng gia đình (đun nấu, nướng, muối, ăn sống...) Nghề chăn nuôi và săn bắn phát triển đã cung cấp thêm nguồn thức ăn cho mỗi gia đình. Cư dân bấy giờ đã biết chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm (trâu, bò, lợn, gà, chó...). Trong thức ăn quen thuộc của cư dân Văn Lang - Âu Lạc còn có nhiều loại hoa quả vùng nhiệt đới như: vải, nhãn, mơ, mận, chuối, dưa hấu, cam, quýt,... Người ta cũng đã biết sử dụng nhiều thứ gia vị có nguồn gốc thực vật như gừng, hẹ,... Nguồn lương thực và thực phẩm của người Việt cổ rất phong phú, đa dạng và rất giàu chất bột, chất đạm và các chất bổ khác. Đây là một biểu hiện của cuộc sống vật chất được nâng cao, của sự phát triển kỹ thuật canh tác nông nghiệp của cư dân bấy giờ . Tập quán ăn uống: Người Việt cổ bấy giờ có tục uống rượu gạo và ăn trầu. Rượu được nhắc đến nhiều trong các thư tịch cổ, truyện dân gian. Người Đông Sơn có thói quen ăn trầu, nhuộm răng đen. Dấu tích hạt cau, quả cau đã được tìm thấy ở Đông Sơn. Trang phục của cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã phản ánh một phần trình độ phát triển, óc thẩm mỹ và bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Do nghề dệt phát triển, người Việt cổ đã sản xuất được nhiều loại vải khác nhau từ sợi đay, gai, tơ tằm, bông,... nên đã đáp ứng được nhu cầu may mặc của nhân dân. Trong sinh hoạt đời thường, nam thường đóng khố, nữ mặc váy. Khố của nam giới có loại quấn đơn và loại quần kép. Váy của nữ giới có loại váy quấn và loại váy chui, được làm từ một mảnh vải dài, rộng. Tượng người đàn ông thổi kèn ngồi trên cán đèn Việt Khê hay các tượng mặc váy dài trên thạp đồng Đào Thịnh đã phản ánh kiểu mặc đó. Phụ nữ ngoài mặc váy còn có yếm che kín ngực, áo xẻ giữa, thắt lưng quấn ngang bụng và khăn quấn đầu. Vào các ngày lễ hội, trang phục của nam nữ đẹp đẽ hơn: có mũ lông chim, váy xòe kết bằng lông chim hoặc lá cây và mang nhiều đồ trang sức đẹp (khuyên tai, hạt chuỗi, nhẫn, vòng tay, vòng cổ chân bằng đá, đồng). Sự phát triển kinh tế, nhất là sự phát triển mạnh của nghề thủ công và kỹ thuật luyện kim đã tạo điều kiện làm phong phú, đa dạng các đồ trang sức. Điều đó cũng chứng tỏ đời sống vật chất của cư dân Văn Lang - Âu Lạc được nâng cao rõ rệt. Về đầu tóc, người bấy giờ có bốn kiểu: kiểu tóc cắt ngắn, búi tó, tết bím và tóc quấn ngược lên đỉnh đầu. Trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) có tượng nam tóc cắt ngắn ngang vai để xoã. Ở trống đồng Cổ Loa cũng có hiện tượng tương tự. Lối cắt tóc ngắn đến ngang lưng, để xoã khá phổ biến ở nam giới thời bấy giờ. Búi tóc cũng rất phổ biến ở cả nam giới và nữ giới. Nhiều người còn có kiểu chít một dải khăn nhỏ giữa trán và chân tóc, hoặc có đuôi khăn thả dài phía sau. Có thể nói, kiểu tóc cắt ngắn buông xoã sau lưng và búi tóc cao sau đầu là hai kiểu tóc phổ biến nhất của người Đông Sơn. Người Việt cổ bấy giờ còn có tục xăm mình. Nhà ở có nhiều kiểu như nhà sàn, nhà mái cong làm bằng gỗ, tre, nứa. Trên trống đồng Đông Sơn ta thấy có 2 kiểu nhà: nhà sàn mái cong hình thuyền và mái tròn hình mui thuyền, sàn thấp, mái rủ xuống như mái tranh đến gần sàn, có cầu thang lên xuống. Mỗi công xã nông thôn bao gồm một số nhà sàn quần tụ bên nhau trong một địa vực, hình thành những xóm làng định cư lâu dài mà thời đó thường gọi là kẻ, chiềng - tức là nơi chốn, chạ tức là tục kết đôi làng quê. Các vật dụng trong sinh hoạt gia đình rất phong phú như bình, vò, thạp, mâm, chậu, bát bằng đồ gốm hay bằng đồng. Ngoài ra, có những đồ dùng làm bằng tre, nứa, mây, vỏ bầu,... Phương tiện giao thông chủ yếu là thuyền bè. Thuyền có thuyền độc mộc, thuyền ván với các kiểu loại khác nhau: thuyền chiến, thuyền tải, thuyền bơi trải. Trên bộ còn sử dụng súc vật như voi, trâu, bò, ngựa. + Đời sống tinh thần Cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã đạt đến một trình độ thẩm mỹ, tư duy khá cao. Những sản phẩm đẹp, tiêu biểu như trống đồng, thạp đồng, trang sức bằng đồng nói lên kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao (từ cách xây dựng các lò đúc, khuôn đúc, nguyên liệu pha chế hợp kim, làm hoa văn,...). Người xưa tuỳ theo chức năng sử dụng của từng loại công cụ mà tạo nên một hợp kim hay tỷ lệ giữa các hợp kim cho phù hợp với cách chế tạo đồ đồng của người Đông Sơn, thể hiện khá rõ nét trình độ tư duy khá cao của người Việt cổ. Điều này còn được thể hiện ở trình độ luyện sắt bấy giờ với phương pháp hoàn nguyên trực tiếp thành loại sắt xốp. Trong quá trình quy tụ các bộ lạc sống trên cùng một phạm vi đất đai đã hình thành lãnh thổ chung, đã nổi lên xu hướng thống nhất, đoàn kết, hoà hợp trước yêu cầu trị thủy, làm thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm. Từ ý thức cộng đồng đã nảy sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh hùng, các thủ lĩnh. Cụ thể, trong ý thức tư tưởng của cư dân bấy giờ, là các cộng đồng cư dân của nước Văn Lang - Âu Lạc đều có cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên. Bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mới nảy sinh, người đương thời còn bảo lưu những tàn dư của các hình thức tôn giáo nguyên thuỷ như: tín ngưỡng vật tổ, ma thuật, phồn thực với những nghi lễ cầu mong được mùa, giống nòi phát triển. Nhiều phong tục tập quán được định hình đã nói lên sự phong phú và phát triển của đời sống tinh thần trong xã hội Hùng Vương như tục ăn đất, uống nước bằng mũi, tục giã cối (để làm hiệu lệnh, truyền tin), tục cưới xin, ăn hỏi, ma chay, chôn cất người chết trong mộ đất, mộ có quan tài hình thuyền, chôn chồng lên nhau, chôn trong nồi vò úp nhau, chôn theo đồ tuỳ táng bằng hiện vật. Lễ hội bấy giờ rất phổ biến, thịnh hành, là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người Văn Lang - Âu Lạc. Lễ hội được tiến hành rải rác quanh năm, trong đó đặc sắc nhất là ngày hội mùa với nhiều nghi lễ như đâm trâu, bò và các hình thức diễn xướng dân gian (đoàn người hoá trang, vừa đi vừa múa, tay cầm giáo, lao, nhạc cụ...). Bên cạnh đó, còn có những hội thi tài, thi sức khoẻ, hội đâm trâu, hội cầu nước, hội mừng năm mới... Trong cuộc sống, cư dân thời Hùng Vương rất thích cái đẹp và hướng tới cái đẹp. Đồ trang sức, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt cũng như vũ khí không những hết sức phong phú mà còn đạt đến trình độ kỹ thuật và mỹ thuật rất cao, có những thứ có thể xem như là những tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật Đông Sơn trở thành đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình thời Hùng Vương. Nghệ thuật đó vừa phản ánh cuộc sống thường nhật của cư dân Việt cổ, vừa thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới chung quanh, với những đường nét có tính ước lệ, cách điệu và một bố cục cân xứng, hài hoà. Nghệ thuật âm nhạc cũng phát triển. Có nhiều nhạc cụ được chế tạo và sử dụng bộ gõ có trống đồng, trống da, chuông nhạc, phách, bộ hơi (khèn). Trong các nhạc cụ, tiêu biểu nhất là trống đồng. Kết cấu trống đồng gồm có phần tang phình ra, phần thân và chân trống loe ra giúp cho hình dáng trống đẹp, có sức cộng hưởng làm cho âm thanh vang xa. Cư dân bấy giờ biết sử dụng nhiều nhạc cụ phối hợp trong các lễ hội. Trên trống đồng Đông Sơn có cảnh sử dụng dàn trống đồng từ 2 đến 4 chiếc, dàn cồng từ 6 đến 8 chiếc và một tốp người vừa múa vừa sử dụng những nhạc khí khác nhau như chuông, khèn, sênh. Trên trống đồng có hình ảnh người nhảy múa hoá trang và múa vũ trang. Có tượng đồng Đông Sơn thể hiện hai người cõng nhau, vừa thổi khèn, vừa nhảy múa. Trống đồng là di vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn và văn minh sông Hồng. Trống loại I (theo sự phân loại của F.Hegơ) là loại trống đồng sớm nhất, đẹp nhất, được sử dụng phổ biến với tư cách là một nhạc khí quan trọng trong các buổi tế, lễ, hội hè, ca múa. Trống đồng Đông Sơn có lẽ còn được sử dụng làm hiệu lệnh chiến đấu, giữ gìn an ninh, được dùng trong tuỳ táng và trao đổi mua bán ở trong nước và với nước ngoài (với Malaixia, Inđônêxia,...). Trống đồng với những nét đặc sắc nói trên, là một sản phẩm lao động, một tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho trình độ trí tuệ, tài năng sáng tạo tuyệt vời của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, là biểu hiện rõ nét, tập trung của nền văn minh sông Hồng. Cùng với trống đồng, công trình kiến trúc thành Cổ Loa cũng biểu hiện trình độ phát triển cao của cư dân thời Văn Lang - Âu Lạc. + Tổ chức xã hội: Đứng đầu nhà nước Văn Lang - Âu Lạc là nhà vua, cha truyền con nối. Giúp việc cho nhà vua có các Lạc hầu, Lạc tướng. Nhà nước văn lang đã có một đội quan thường trực với vũ khí bằng đồng, như: dìu chiến, giáo mác, dao găm. Đăc biệt, họ biết sử dụng thành thạo các loại cung nỏ, có loại bắn một lần được nhiều mũi tên. Thời Âu Lạc, nhà vua đóng đô ở thành Cổ Loa. Đơn vị xã hội cơ sở của người Việt cổ là các làng bản, đứng đầu làng bản là các Bố chính (thường là một người già làng), Bình dân làng xã gọi là Lạc dân. Trong làng xã, tinh thần cộng đồng rất sâu đậm. Họ sống quây quần giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết cùng chống kẻ thù đến xâm lấn. - Một số đặc trưng của nền văn minh sông Hồng: + Về mặt kỹ thuật: Nền văn minh sông Hồng hình thành và phát triển trên cơ sở cuộc cách mạng luyện kim với nghề đúc đồng dần đạt đến mức hoàn thiện (tiêu biểu là nền văn hóa Đông Sơn). Và trên cơ sở đỉnh cao của nghệ thuật đúc đồng đó, chủ nhân của nền văn hóa đã bước vào Sơ kỳ thời đại đồ sắt. + Về kinh tế: Nền văn minh sông Hồng thực chất là nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước của người Việt cổ sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một xứ sở có nhiều sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả. + Về mặt xã hội: Nền văn minh sông Hồng là một nền văn minh xóm làng dựa trên cơ cấu nông thôn kiểu Á châu của một xã hội phân hóa chưa sâu sắc, gay gắt và nhà nước mới hình thành. Nhà nước vừa có mặt bóc lột công xã, lại vừa đại diện cho lợi ích chung của công xã trong yêu cầu tổ chức đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, khai hoang, trị thủy làm thủy lợi, tự vệ và chống ngoại xâm. + Nền văn minh sông Hồng là nền văn minh bản địa đậm nét, kết tinh trong đó bản lĩnh, truyền thống, cốt cách, lối sống và lẽ sống của người Việt cổ: Chung lưng đấu cật, đoàn kết, gắn bó với nhau trong lao động và đấu tranh, giàu tình làng nghĩa nước, tôn trọng người già và phụ nữ, biết ơn và tôn thờ tổ tiên, các anh hùng nghĩa sĩ,...; có cội dễ và cơ sở sâu xa trong cuộc sống lâu đời của các lớp cư dân trên lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thủa đó. + Nền văn minh sông Hồng cũng sớm có quan hệ giao lưu mật thiết với các nền văn minh láng giềng, đặc biệt là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Như vậy, nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay nền văn minh Việt cổ là gọi theo tên của thời gian xuất hiện; Văn minh sông Hồng là gọi theo tên của địa bàn xuất hiện (lưu vực sông Hồng). Nhưng thực ra địa bàn của văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay văn minh Việt cổ ngoài lưu vực sông Hồng còn bao gồm cả các triền sông lớn khác của vùng Bắc Trung Bộ như sông Mã, sông Cả,... Khảo cổ học đã chứng minh dòng chảy chủ yếu tạo thành nền văn minh sông Hồng chính là dòng văn hóa sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất màu mỡ của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trên địa bàn này từ sơ kỳ thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại đồ sát đã diễn ra quá trình hình thành và phát triển của bộ phận dân cư nông nghiệp trồng lúa nước, cốt lõi đầu tiên của người Việt, chủ nhân của nền văn minh Việt cổ. Theo tiến trình phát triển, văn hóa Phùng Nguyên (Sơ kỳ thời đại đồng thau) chính là cội nguồn của nền văn minh sông Hồng. Các giai đoạn văn hóa tiếp theo là văn hóa Đồng Đậu (trung kỳ thời đại đồng thau), văn hóa Gò Mun (hậu kỳ thời đại đồng thau) là quá trình chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của nền văn minh sông Hồng và giai đoạn văn hóa Đông Sơn (Sơ kỳ thời đại đồ sắt). Bên cạnh những dòng chảy chính còn có nền văn hóa Hoa Lộc, nền văn hóa Hạ Long của nhóm cư dân sống ven biển và trên các đảo Đông Bắc thời kỳ trước đó (hậu kỳ đá mới). Nếu ở giai đoạn tiền văn hóa Đông Sơn các nền văn hóa đã có mối liên hệ với nhau, nhưng về cơ bản vẫn còn mang đậm dấu ấn địa phương gắn liền với từng nhóm cư dân trong từng khu vực nhất định thì đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn dù là di chỉ được phát hiện ở đâu, thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã hay sông Cả, dù ở miền đồng bằng châu thổ hay miền núi, mặc dù mỗi vùng vẫn có phong cách riêng nhưng tất cả đều mang những đặc trưng chung của văn hóa Đông Sơn, với những di vật tiêu biểu như: Trống đồng, thạp đồng, thố, dao găm, giáo, dìu, lưỡi cày,... Đây rõ ràng là một nền văn hóa thống nhất của một cộng đồng quốc gia, một cộng đồng bộ tộc đã có sự liên kết với nhau trên một lãnh thổ, một nền tảng kinh tế - xã hội và một lối sống chung. Giai đoạn Văn hóa Đông Sơn là chặng đường cuối, là sản phẩm tổng hợp, là đỉnh cao của quá trình tạo thành nền văn minh sông Hồng. Quá trình hình thành nền văn minh sông Hồng cũng chính là nền hình thành cư dân Việt cổ và tiếng Việt cổ. Trải qua một chặng đường dài, người Việt cổ đã xây dựng được cho mình một nền văn minh đầu tiên, đó là nền Văn minh sông Hồng - một nền văn minh bản địa đã trở thành cội nguồn của các nền văn minh tiếp sau của dân tộc Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho bản sắc dân tộc, là cội nguồn sức mạnh tinh thần để nhân dân Việt Nam đứng vững, vượt qua được thử thách to lớn trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc.


NỀN VĂN MINH SÔNG HỒNG - CƠ SỞ HÌNH THÀNH, THÀNH TỰU, ĐẶC TRƯNG, CÁC TÊN GỌI VÀ Ý NGHĨA


Sau một thời kỳ dài sống định cư và mở rộng lãnh thổ, phát triển nền kinh tế với nông nghiệp trồng lúa nước là chủ đạo, vượt qua nông nghiệp dùng cuốc đến nông nghiệp dùng cày (bằng lưỡi cày đồng tiến lên lưỡi cày sắt) có sức kéo là trâu bò cùng với những tiến bộ khác, người Việt cổ đã đưa xã hội vượt qua thời tiền sử, vượt qua hình thái kinh tế - xã hội nguyên thuỷ sang hình thái kinh tế xã hội đầu tiên thuộc phạm trù của thời đại văn minh, của xã hội phân hóa giai cấp và có nhà nước (Nhà nước Văn Lang của các vua Hùng tiếp đến là nước Âu Lạc của vua Thục). Đồng thời, người Việt cổ đã xây dựng được một nền văn minh đầu tiên, đó là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay còn gọi là nền văn minh sông Hồng, đây là nền văn minh bản địa. Sự ra đời một hình thái nhà nước đầu tiên dù còn sơ khai nhưng đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của lịch sử Việt Nam. Nó xác nhận quá trình dựng nước thời Hùng Vương - với nhà nước Văn Lang và đặt cơ sở cho sự hình thành cộng đồng dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc gia Việt Nam. Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc với những thành tựu dựng nước và bước đầu giữ nước, với nền Văn minh sông Hồng (Văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay còn gọi là văn minh Việt cổ) rực rỡ đã khẳng định vị trí của nó trong lịch sử dân tộc, mở đầu sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

- Nền văn minh sông Hồng - cơ sở hình thành: 

+ Nền Văn minh sông Hồng được hình thành từ những nền văn hóa tiền sử xa xôi và được trực tiếp tạo thành trong một quá trình liên tục từ Sơ kỳ thời đại đồng thau đến Sơ kỳ thời đại đồ sắt (tiêu biểu là văn hóa Đông Sơn). Công cụ kim loại sắc bén và thuận lợi hơn nhiều so với công cụ bằng đá đã tạo nên những chuyển biến về chất trong sản xuất và đời sống xã hội.

+ Quá trình hình thành nền văn minh sông Hồng đồng thời là quá trình liên kết các bộ lạc và liên minh bộ lạc thành cộng đồng quốc gia, cộng đồng bộ tộc với cơ cấu nhà nước sơ khai của người Việt cổ. Đó cũng chính là quá trình tác động và dung hợp nhiều nền văn hóa của những thành phần cư dân khác nhau, thành một nền văn hóa thống nhất với nhiều loại hình địa phương, gồm nhiều thành phần dân tộc gần gũi nhau về nhân chủng và văn hóa. Cộng đồng người Việt Cổ được hình thành qua nhiều quá trình: Nhóm Môngôlôit hỗn chủng với nhóm Ôxơralôit tạo thành người Lạc Việt, nhóm Lạc Việt hòa nhập với nhóm Tây Âu tạo thành người Âu Lạc. Cộng đồng cư dân đó bước đầu được gắn bó bởi ý thức về một dòng giống chung (là con rồng cháu tiên), bởi sự cố kết trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên (bão lụt, hạn hán) và với xã hội (giặc ngoại xâm).

+ Lúc này người Việt Cổ đã từ vùng gò đồi cao tràn xuống vùng đồng bằng và vùng ven biển để sinh sống. Lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả,... đã tạo nên vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trù phú - một địa bàn thuận lợi cho người Việt cổ sinh sống.

- Thành tựu của nền văn minh sông Hồng:

Nền văn minh sông Hồng được hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc và sự phát triển của đời sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ. Trên cơ sở một nền kinh tế phát triển mạnh và phạm vi lãnh thổ được mở rộng từ vùng đồi núi, trung du đến vùng đồng bằng rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả,... đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao rõ rệt; tổ chức xã hội đạt đến một trình độ cao hơn, vượt khỏi thời nguyên thuỷ, bước sang thời đại văn minh đầu tiên của người Việt cổ - nền văn minh sông Hồng.

+ Về đời sống vật chất:

Thóc gạo là nguồn lương thực chính của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, chủ yếu là gạo nếp. Người bấy giờ dùng gạo nếp để thổi cơm, xôi, làm bánh chưng, bánh giầy. Sách Lĩnh nam chích quái ghi rằng ở thời Hùng Vương trồng được nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm. Nhiều chiếc chõ gốm dùng để thổi xôi đã được tìm thấy ở các địa điểm thuộc văn hoá Đông Sơn. Ngoài thóc gạo là nguồn lương thực chính, cư dân Văn Lang - Âu Lạc còn sử dụng các loại hoa màu, rau quả, nhất là các loại cây có củ cung cấp chất bột như củ từ, khoai lang, sắn, củ mài, khoai sọ. Lúc thiếu thốn, người ta còn dùng các loại cây có bột khác như cây quang lang, búng, báng.

Thức ăn cũng khá phong phú, gồm các loại cá, tôm, cua, ốc hến, ba ba, các loại rau củ (bầu, bí, cà, đậu...). Thức ăn được chế biến theo nhiều cách khác nhau theo sở thích từng vùng, từng gia đình (đun nấu, nướng, muối, ăn sống...) Nghề chăn nuôi và săn bắn phát triển đã cung cấp thêm nguồn thức ăn cho mỗi gia đình. Cư dân bấy giờ đã biết chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm (trâu, bò, lợn, gà, chó...). Trong thức ăn quen thuộc của cư dân Văn Lang - Âu Lạc còn có nhiều loại hoa quả vùng nhiệt đới như: vải, nhãn, mơ, mận, chuối, dưa hấu, cam, quýt,... Người ta cũng đã biết sử dụng nhiều thứ gia vị có nguồn gốc thực vật như gừng, hẹ,... Nguồn lương thực và thực phẩm của người Việt cổ rất phong phú, đa dạng và rất giàu chất bột, chất đạm và các chất bổ khác. Đây là một biểu hiện của cuộc sống vật chất được nâng cao, của sự phát triển kỹ thuật canh tác nông nghiệp của cư dân bấy giờ .

Tập quán ăn uống: Người Việt cổ bấy giờ có tục uống rượu gạo và ăn trầu. Rượu được nhắc đến nhiều trong các thư tịch cổ, truyện dân gian. Người Đông Sơn có thói quen ăn trầu, nhuộm răng đen. Dấu tích hạt cau, quả cau đã được tìm thấy ở Đông Sơn.

Trang phục của cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã phản ánh một phần trình độ phát triển, óc thẩm mỹ và bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Do nghề dệt phát triển, người Việt cổ đã sản xuất được nhiều loại vải khác nhau từ sợi đay, gai, tơ tằm, bông,... nên đã đáp ứng được nhu cầu may mặc của nhân dân. Trong sinh hoạt đời thường, nam thường đóng khố, nữ mặc váy. Khố của nam giới có loại quấn đơn và loại quần kép. Váy của nữ giới có loại váy quấn và loại váy chui, được làm từ một mảnh vải dài, rộng. Tượng người đàn ông thổi kèn ngồi trên cán đèn Việt Khê hay các tượng mặc váy dài trên thạp đồng Đào Thịnh đã phản ánh kiểu mặc đó. Phụ nữ ngoài mặc váy còn có yếm che kín ngực, áo xẻ giữa, thắt lưng quấn ngang bụng và khăn quấn đầu. Vào các ngày lễ hội, trang phục của nam nữ đẹp đẽ hơn: có mũ lông chim, váy xòe kết bằng lông chim hoặc lá cây và mang nhiều đồ trang sức đẹp (khuyên tai, hạt chuỗi, nhẫn, vòng tay, vòng cổ chân bằng đá, đồng).

Sự phát triển kinh tế, nhất là sự phát triển mạnh của nghề thủ công và kỹ thuật luyện kim đã tạo điều kiện làm phong phú, đa dạng các đồ trang sức. Điều đó cũng chứng tỏ đời sống vật chất của cư dân Văn Lang - Âu Lạc được nâng cao rõ rệt.

Về đầu tóc, người bấy giờ có bốn kiểu: kiểu tóc cắt ngắn, búi tó, tết bím và tóc quấn ngược lên đỉnh đầu. Trên thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) có tượng nam tóc cắt ngắn ngang vai để xoã. Ở trống đồng Cổ Loa cũng có hiện tượng tương tự. Lối cắt tóc ngắn đến ngang lưng, để xoã khá phổ biến ở nam giới thời bấy giờ. Búi tóc cũng rất phổ biến ở cả nam giới và nữ giới. Nhiều người còn có kiểu chít một dải khăn nhỏ giữa trán và chân tóc, hoặc có đuôi khăn thả dài phía sau. Có thể nói, kiểu tóc cắt ngắn buông xoã sau lưng và búi tóc cao sau đầu là hai kiểu tóc phổ biến nhất của người Đông Sơn. Người Việt cổ bấy giờ còn có tục xăm mình.

Nhà ở có nhiều kiểu như nhà sàn, nhà mái cong làm bằng gỗ, tre, nứa. Trên trống đồng Đông Sơn ta thấy có 2 kiểu nhà: nhà sàn mái cong hình thuyền và mái tròn hình mui thuyền, sàn thấp, mái rủ xuống như mái tranh đến gần sàn, có cầu thang lên xuống. Mỗi công xã nông thôn bao gồm một số nhà sàn quần tụ bên nhau trong một địa vực, hình thành những xóm làng định cư lâu dài mà thời đó thường gọi là kẻ, chiềng - tức là nơi chốn, chạ tức là tục kết đôi làng quê. Các vật dụng trong sinh hoạt gia đình rất phong phú như bình, vò, thạp, mâm, chậu, bát bằng đồ gốm hay bằng đồng. Ngoài ra, có những đồ dùng làm bằng tre, nứa, mây, vỏ bầu,...

Phương tiện giao thông chủ yếu là thuyền bè. Thuyền có thuyền độc mộc, thuyền ván với các kiểu loại khác nhau: thuyền chiến, thuyền tải, thuyền bơi trải. Trên bộ còn sử dụng súc vật như voi, trâu, bò, ngựa.

+ Đời sống tinh thần

Cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã đạt đến một trình độ thẩm mỹ, tư duy khá cao. Những sản phẩm đẹp, tiêu biểu như trống đồng, thạp đồng, trang sức bằng đồng nói lên kỹ thuật luyện đồng đã đạt đến đỉnh cao (từ cách xây dựng các lò đúc, khuôn đúc, nguyên liệu pha chế hợp kim, làm hoa văn,...). Người xưa tuỳ theo chức năng sử dụng của từng loại công cụ mà tạo nên một hợp kim hay tỷ lệ giữa các hợp kim cho phù hợp với cách chế tạo đồ đồng của người Đông Sơn, thể hiện khá rõ nét trình độ tư duy khá cao của người Việt cổ. Điều này còn được thể hiện ở trình độ luyện sắt bấy giờ với phương pháp hoàn nguyên trực tiếp thành loại sắt xốp.

Trong quá trình quy tụ các bộ lạc sống trên cùng một phạm vi đất đai đã hình thành lãnh thổ chung, đã nổi lên xu hướng thống nhất, đoàn kết, hoà hợp trước yêu cầu trị thủy, làm thuỷ lợi để phát triển nông nghiệp và chống ngoại xâm.

Từ ý thức cộng đồng đã nảy sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh hùng, các thủ lĩnh. Cụ thể, trong ý thức tư tưởng của cư dân bấy giờ, là các cộng đồng cư dân của nước Văn Lang - Âu Lạc đều có cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên. Bên cạnh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mới nảy sinh, người đương thời còn bảo lưu những tàn dư của các hình thức tôn giáo nguyên thuỷ như: tín ngưỡng vật tổ, ma thuật, phồn thực với những nghi lễ cầu mong được mùa, giống nòi phát triển. Nhiều phong tục tập quán được định hình đã nói lên sự phong phú và phát triển của đời sống tinh thần trong xã hội Hùng Vương như tục ăn đất, uống nước bằng mũi, tục giã cối (để làm hiệu lệnh, truyền tin), tục cưới xin, ăn hỏi, ma chay, chôn cất người chết trong mộ đất, mộ có quan tài hình thuyền, chôn chồng lên nhau, chôn trong nồi vò úp nhau, chôn theo đồ tuỳ táng bằng hiện vật.

Lễ hội bấy giờ rất phổ biến, thịnh hành, là một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người Văn Lang - Âu Lạc. Lễ hội được tiến hành rải rác quanh năm, trong đó đặc sắc nhất là ngày hội mùa với nhiều nghi lễ như đâm trâu, bò và các hình thức diễn xướng dân gian (đoàn người hoá trang, vừa đi vừa múa, tay cầm giáo, lao, nhạc cụ...). Bên cạnh đó, còn có những hội thi tài, thi sức khoẻ, hội đâm trâu, hội cầu nước, hội mừng năm mới...

Trong cuộc sống, cư dân thời Hùng Vương rất thích cái đẹp và hướng tới cái đẹp. Đồ trang sức, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt cũng như vũ khí không những hết sức phong phú mà còn đạt đến trình độ kỹ thuật và mỹ thuật rất cao, có những thứ có thể xem như là những tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật Đông Sơn trở thành đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình thời Hùng Vương. Nghệ thuật đó vừa phản ánh cuộc sống thường nhật của cư dân Việt cổ, vừa thể hiện mối quan hệ giữa con người với thế giới chung quanh, với những đường nét có tính ước lệ, cách điệu và một bố cục cân xứng, hài hoà.

Nghệ thuật âm nhạc cũng phát triển. Có nhiều nhạc cụ được chế tạo và sử dụng bộ gõ có trống đồng, trống da, chuông nhạc, phách, bộ hơi (khèn). Trong các nhạc cụ, tiêu biểu nhất là trống đồng. Kết cấu trống đồng gồm có phần tang phình ra, phần thân và chân trống loe ra giúp cho hình dáng trống đẹp, có sức cộng hưởng làm cho âm thanh vang xa. Cư dân bấy giờ biết sử dụng nhiều nhạc cụ phối hợp trong các lễ hội. Trên trống đồng Đông Sơn có cảnh sử dụng dàn trống đồng từ 2 đến 4 chiếc, dàn cồng từ 6 đến 8 chiếc và một tốp người vừa múa vừa sử dụng những nhạc khí khác nhau như chuông, khèn, sênh. Trên trống đồng có hình ảnh người nhảy múa hoá trang và múa vũ trang. Có tượng đồng Đông Sơn thể hiện hai người cõng nhau, vừa thổi khèn, vừa nhảy múa.

Trống đồng là di vật tiêu biểu của nền văn hóa Đông Sơn và văn minh sông Hồng. Trống loại I (theo sự phân loại của F.Hegơ) là loại trống đồng sớm nhất, đẹp nhất, được sử dụng phổ biến với tư cách là một nhạc khí quan trọng trong các buổi tế, lễ, hội hè, ca múa. Trống đồng Đông Sơn có lẽ còn được sử dụng làm hiệu lệnh chiến đấu, giữ gìn an ninh, được dùng trong tuỳ táng và trao đổi mua bán ở trong nước và với nước ngoài (với Malaixia, Inđônêxia,...). Trống đồng với những nét đặc sắc nói trên, là một sản phẩm lao động, một tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho trình độ trí tuệ, tài năng sáng tạo tuyệt vời của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, là biểu hiện rõ nét, tập trung của nền văn minh sông Hồng.

Cùng với trống đồng, công trình kiến trúc thành Cổ Loa cũng biểu hiện trình độ phát triển cao của cư dân thời Văn Lang - Âu Lạc.

+ Tổ chức xã hội: Đứng đầu nhà nước Văn Lang - Âu Lạc là nhà vua, cha truyền con nối. Giúp việc cho nhà vua có các Lạc hầu, Lạc tướng. Nhà nước văn lang đã có một đội quan thường trực với vũ khí bằng đồng, như: dìu chiến, giáo mác, dao găm. Đăc biệt, họ biết sử dụng thành thạo các loại cung nỏ, có loại bắn một lần được nhiều mũi tên. Thời Âu Lạc, nhà vua đóng đô ở thành Cổ Loa.

Đơn vị xã hội cơ sở của người Việt cổ là các làng bản, đứng đầu làng bản là các Bố chính (thường là một người già làng), Bình dân làng xã gọi là Lạc dân. Trong làng xã, tinh thần cộng đồng rất sâu đậm. Họ sống quây quần giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết cùng chống kẻ thù đến xâm lấn.

- Một số đặc trưng của nền văn minh sông Hồng:


+ Về mặt kỹ thuật: Nền văn minh sông Hồng hình thành và phát triển trên cơ sở cuộc cách mạng luyện kim với nghề đúc đồng dần đạt đến mức hoàn thiện (tiêu biểu là nền văn hóa Đông Sơn). Và trên cơ sở đỉnh cao của nghệ thuật đúc đồng đó, chủ nhân của nền văn hóa đã bước vào Sơ kỳ thời đại đồ sắt.

+ Về kinh tế: Nền văn minh sông Hồng thực chất là nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước của người Việt cổ sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa, một xứ sở có nhiều sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả.

+ Về mặt xã hội: Nền văn minh sông Hồng là một nền văn minh xóm làng dựa trên cơ cấu nông thôn kiểu Á châu của một xã hội phân hóa chưa sâu sắc, gay gắt và nhà nước mới hình thành. Nhà nước vừa có mặt bóc lột công xã, lại vừa đại diện cho lợi ích chung của công xã trong yêu cầu tổ chức đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống thiên tai, khai hoang, trị thủy làm thủy lợi, tự vệ và chống ngoại xâm.

+ Nền văn minh sông Hồng là nền văn minh bản địa đậm nét, kết tinh trong đó bản lĩnh, truyền thống, cốt cách, lối sống và lẽ sống của người Việt cổ: Chung lưng đấu cật, đoàn kết, gắn bó với nhau trong lao động và đấu tranh, giàu tình làng nghĩa nước, tôn trọng người già và phụ nữ, biết ơn và tôn thờ tổ tiên, các anh hùng nghĩa sĩ,...; có cội dễ và cơ sở sâu xa trong cuộc sống lâu đời của các lớp cư dân trên lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc thủa đó.

+ Nền văn minh sông Hồng cũng sớm có quan hệ giao lưu mật thiết với các nền văn minh láng giềng, đặc biệt là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ.

Như vậy, nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay nền văn minh Việt cổ là gọi theo tên của thời gian xuất hiện; Văn minh sông Hồng là gọi theo tên của địa bàn xuất hiện (lưu vực sông Hồng). Nhưng thực ra địa bàn của văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay văn minh Việt cổ ngoài lưu vực sông Hồng còn bao gồm cả các triền sông lớn khác của vùng Bắc Trung Bộ như sông Mã, sông Cả,...


Khảo cổ học đã chứng minh dòng chảy chủ yếu tạo thành nền văn minh sông Hồng chính là dòng văn hóa sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất màu mỡ của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Trên địa bàn này từ sơ kỳ thời đại đồng thau đến sơ kỳ thời đại đồ sát đã diễn ra quá trình hình thành và phát triển của bộ phận dân cư nông nghiệp trồng lúa nước, cốt lõi đầu tiên của người Việt, chủ nhân của nền văn minh Việt cổ. Theo tiến trình phát triển, văn hóa Phùng Nguyên (Sơ kỳ thời đại đồng thau) chính là cội nguồn của nền văn minh sông Hồng. Các giai đoạn văn hóa tiếp theo là văn hóa Đồng Đậu (trung kỳ thời đại đồng thau), văn hóa Gò Mun (hậu kỳ thời đại đồng thau) là quá trình chuẩn bị trực tiếp cho sự ra đời của nền văn minh sông Hồng và giai đoạn văn hóa Đông Sơn (Sơ kỳ thời đại đồ sắt). Bên cạnh những dòng chảy chính còn có nền văn hóa Hoa Lộc, nền văn hóa Hạ Long của nhóm cư dân sống ven biển và trên các đảo Đông Bắc thời kỳ trước đó (hậu kỳ đá mới). Nếu ở giai đoạn tiền văn hóa Đông Sơn các nền văn hóa đã có mối liên hệ với nhau, nhưng về cơ bản vẫn còn mang đậm dấu ấn địa phương gắn liền với từng nhóm cư dân trong từng khu vực nhất định thì đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn dù là di chỉ được phát hiện ở đâu, thuộc lưu vực sông Hồng, sông Mã hay sông Cả, dù ở miền đồng bằng châu thổ hay miền núi, mặc dù mỗi vùng vẫn có phong cách riêng nhưng tất cả đều mang những đặc trưng chung của văn hóa Đông Sơn, với những di vật tiêu biểu như: Trống đồng, thạp đồng, thố, dao găm, giáo, dìu, lưỡi cày,... Đây rõ ràng là một nền văn hóa thống nhất của một cộng đồng quốc gia, một cộng đồng bộ tộc đã có sự liên kết với nhau trên một lãnh thổ, một nền tảng kinh tế - xã hội và một lối sống chung. Giai đoạn Văn hóa Đông Sơn là chặng đường cuối, là sản phẩm tổng hợp, là đỉnh cao của quá trình tạo thành nền văn minh sông Hồng. Quá trình hình thành nền văn minh sông Hồng cũng chính là nền hình thành cư dân Việt cổ và tiếng Việt cổ.

Trải qua một chặng đường dài, người Việt cổ đã xây dựng được cho mình một nền văn minh đầu tiên, đó là nền Văn minh sông Hồng - một nền văn minh bản địa đã trở thành cội nguồn của các nền văn minh tiếp sau của dân tộc Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho bản sắc dân tộc, là cội nguồn sức mạnh tinh thần để nhân dân Việt Nam đứng vững, vượt qua được thử thách to lớn trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc.