Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

TÍNH CHẤT MỞ RỘNG LÃNH THỔ DƯỚI THỜI HẬU LÊ

TÍNH CHẤT MỞ RỘNG LÃNH THỔ
DƯỚI THỜI HẬU LÊ
GS.TS. Song Jung Nam *
Trường Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc - Bài viết cho Hội thảo Việt Nam học lần 3 (2008)
I. MỞ ĐẦU
Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành chủ yếu về phía Nam bởi hai nguyên nhân chính là dùng triết lý sức mạnh và do yếu tố địa chính học. Nguyên nhân thứ nhất cụ thể là sự hùng mạnh của Trung Quốc, nguyên nhân thứ hai là dãy Trường Sơn.
Với mục đích chính trị – kinh tế, khi tiến hành quá trình mở mang lãnh thổ và tăng cường sức mạnh của mình, Việt Nam đã không thể tiến lên phía Bắc vì có Trung Quốc mạnh hơn mình. Vô hình trung, Việt Nam không còn cách nào khác là phải chống lại quá trình mở mang lãnh thổ về phía Nam của Trung Quốc và kết quả là Việt Nam đã phải trải qua một quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài.
Mặt khác, Việt Nam cũng đã mấy lần thử tiến về phía Tây là nước Lào với mục đích và nguyên nhân như đã nêu trên nhưng giữa hai nước có dãy núi dài hiểm trở nên không được như mong muốn. Kết quả là Việt Nam và Lào tiếp tục duy trì mối quan hệ hữu nghị truyền thống bất chấp quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt”.
Dù thế, trong lịch sử, quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Lào không hẳn đều tốt đẹp. Dưới triều đại Hậu Lê hay triều đại nhà Nguyễn, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ ở phía Đông Bắc Lào với vùng biên giới của mình. Tuy nhiên, mức độ và số lần căng thẳng về chính trị không nhiều và sâu sắc, đất chiếm lĩnh thì chưa được khai thác, dân số của Lào ít nên sau khi chiếm lĩnh được cũng không đủ lực lượng lao động tại chỗ để khai thác. Hơn nữa, có nhiều lý do nên không thu hút được dân nước mình khai thác vùng đất đó nên việc tiến sang Lào của Việt Nam không dễ dàng. Tương tự, triều Nguyễn đã lấy đất của Lào và nhập vào lãnh thổ của mình 6 trấn là Trấn Man, Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Lạc Biên và rồi trả lại cho Lào khi Pháp tiến vào 2.
Vì khó tiến lên phía Tây Bắc nên Việt Nam tiến về phía Nam là một kết quả tất yếu. Ở đây, so với các nước ở phía Nam, Việt Nam chiếm ưu thế về sức mạnh, so với phía Tây Bắc thì không tồn tại trở ngại nào, sau khi chiếm lĩnh có thể khai thác mở rộng bằng lực lượng lao động phong phú tại chỗ. Không những thế, về mặt địa lý, phía Nam nối liền với đường biển rất thuận tiện nên dễ tiến hơn đường bộ. Việc chinh phục được Champa hiếu chiến là đỉnh cao của vị thế và sự phát triển của Việt Nam.
Cũng như lịch sử trường kỳ của Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ mất thời gian dài. Trong thời gian đó, việc mở rộng lãnh thổ bắt đầu từ triều nhà Lý. Bài nghiên cứu này xem xét việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam của triều đại hậu Lê, thời kỳ mà công cuộc mở mang lãnh thổ được tiến hành sâu rộng và mạnh mẽ nhất trong lịch sử Việt Nam.
Nhà Lý là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam, ngoại trừ 100 năm hưng thịnh, còn lại đều là thời kỳ bất ổn. Việc mở rộng lãnh thổ dưới triều đại Lý được hoàn thành trong 260 năm, thời kỳ bất ổn định bởi Trịnh – Nguyễn phân tranh, tức là thời kỳ đối lập và phân chia Nam Bắc.
Tài liệu tham khảo của bài nghiên cứu này là Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại của Nguyễn Đình Đầu, Khảo sát chế độ đất đai và mở rộng lãnh thổ phía Nam Việt Nam Quốc hiệu và lãnh thổ của Việt Nam của Song Jung Nam 3.
Khác với các bài nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này mang tính phức hợp và xem xét đến các vấn đề lịch sử trong giới hạn một thời đại và một chủ đề, đồng thời có mục đích phân tích tính chất thời đại trong việc mở rộng lãnh thổ – vấn đề chưa được đề cập trong các bài nghiên cứu trước. Để thực hiện mục đích này, bài viết phân chia thời kỳ trước và sau khi chúa Trịnh và chúa Nguyễn – 2 nhà quyền lực dưới 1 triều đại trong 1 quốc gia – phân tranh quyền lực và xem xét bối cảnh, quá trình triển khai, tính chất của việc mở rộng lãnh thổ trong từng thời kỳ. Ở thời kỳ trước khi Trịnh Nguyễn phân tranh, trong mối liên hệ với thời kỳ sau, chúng tôi xem xét đến thời điểm việc mở rộng lãnh thổ được triển khai; Thời kỳ sau Trịnh Nguyễn phân tranh, bài viết sẽ xem xét đến khi Pháp tiến vào ngăn chặn việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam.
II. THỜI KỲ TRƯỚC KHI PHÂN CHIA NAM BẮC
Ngay sau thời kỳ Bắc thuộc tức là sau thời kỳ thuộc địa của Trung Quốc thì ranh giới phía Nam của Việt Nam là Hà Tĩnh. Lợi dụng lúc nước Đường khó giữ được An Nam bởi tình hình hỗn loạn nghiêm trọng cuối thời Đường như sự xâm chiếm Java, Chiêm Thành, Nam Triều, Campuchia và sự nổi dậy của An Nam… cũng là lúc mà Chiêm Thành đang ở trong thời kỳ hưng thịnh mở rộng lãnh thổ từ Ai Vân (còn gọi là Hải Vân) đến Hoành Sơn, nay được phỏng đoán là đã quyết định Indrapura của huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam làm thủ đô 4.
Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ thời kỳ Việt Nam có vương triều độc lập. Nhưng vì thời gian tồn tại của Ngô, Đinh, Tiền Lê ngắn và chưa được vững vàng, thiếu chuẩn bị nên lãnh thổ không có thay đổi gì kể cả phía Nam. Trong 3 triều đại kể trên thì triều đại Tiền Lê đã viễn chinh đến thủ đô của Chiêm Thành nhưng không thể mở rộng được lãnh thổ. Nhưng kể từ đấy, Chiêm Thành đã trở thành nước triều cống của Việt Nam 5.
Trong lịch sử Việt Nam, việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được bắt đầu từ năm 1069 dưới triều đại Lý – triều đại đầu tiên có thời gian tồn tại lâu nhất. Kết quả là Chiêm Thành đã nhường 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh 6. Căn cứ vùng đất thuộc Địa Lý ở huyện Lê Ninh, tỉnh Quảng Bình, Ma Linh ở huyện Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, Bố Chính ở huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình thì có thể nói là triều đại Lý đã mở rộng lãnh thổ phía Nam đến tỉnh Quảng Trị ngày nay. Năm 1075, Địa Lý và Ma Linh đã đổi tên thành châu Lâm Bình và Minh Linh 7. Năm 1104, với sự xâm lược của Chiêm Thành 3 châu này bị chiếm mất nhưng ngay sau đó với sự tấn công của Lý Thường Kiệt, Việt Nam đã giành lại được 8.
Năm 1307, thông qua cuộc hôn nhân với Chế Mân –vua của Chiêm Thành, Trần Nhân Tông đã nhận được châu Ô, Lý. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi “Trước đây vua Chiêm Thành là Chế Mân đem đất đó làm lễ vật dẫn cưới, dân các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không phục, vua bèn sai Đoàn Nhữ Hài đến đó để tuyên thị đức ý của triều đình, chọn dân ở đấy ban cho chức quan, cấp cho ruộng vườn, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”9.
Trong lịch sử chinh phục Chiêm Thành của Việt Nam, việc nhận được lãnh thổ do nhà trai cho nhà gái là việc lấy lãnh thổ thông qua quan hệ hữu nghị 10. Chúng tôi sẽ đề cập sau, trong lịch sử cũng có sự kiện tương tự như thế nhưng lại kết thúc bởi sự di trú của người dân thông qua quan hệ hôn nhân. Năm sau đó, triều đại nhà Trần đã đổi vùng đất này thành Thuận Châu (bây giờ là Quảng Trị), Hóa Châu (bây giờ là Thừa Thiên Huế) 11. Triều đại nhà Trần vì phải đương đầu với 3 cuộc xâm lược kéo dài và quyết liệt của quân Mông Cổ nên cũng như các triều đại trước và sau đó, ngoài trường hợp trên, Việt Nam không nhận được một tất đất nào từ Champa. Ngược lại, do bị tổn thất nặng nề trong thời kỳ chiến tranh chống Mông Cổ và sự mạnh lên của Chiêm Thành, Thăng Long đã vài lần phải lâm vào thế tự vệ và thậm chí năm 1368 còn bị Chiêm Thành yêu cầu trả lại châu Hóa – một phần trong lãnh thổ là lễ vật hôn thú trước đây.
“Tháng 2 năm 1368, Chiêm Thành sai Mục Bà Ma sang đòi lại đất biên giới Hóa Châu”12.
Với yêu cầu này của Chiêm Thành, trước hết nhờ sức mạnh sẵn có nhưng Việt Nam còn có tư cách đòi phạt hay bồi thường đối với một phần lễ hôn thú bị mất. Kết hôn chưa được một năm thì vua Chiêm Thành mất, theo phong tục Suttee của Ấn Độ, công chúa phải chết cùng với vua, phía Việt Nam đã dùng mưu lược phục thù nhằm cứu công chúa 13.
Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam cũng được tiếp tục với triều Hồ. Năm 1402, nhà Hồ xâm chiếm Chiêm Thành và nhận được Chiêm Động chia thành hai châu Thăng và Hóa; đồng thời nhận được Cổ Lũy chia thành 2 châu Tư và Nghĩa 14. Châu Thăng và Hóa ngày nay thuộc huyện Duy Sơn, Quế Sơn, Tam Kỳ Thăng Bình của tỉnh Quảng Nam, Châu Tư và Nghĩa nay thuộc huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi. Điều này có nghĩa là lãnh thổ phía Nam Việt Nam được mở rộng đến Quảng Nam và Quảng Ngãi.
Nhưng khi nhà Minh cai trị thì khu vực này bị Chiêm Thành chiếm lại. Đại Việt sử ký toàn thư có ghi “Minh Vĩnh Lạc thứ 12, Phủ Thăng Hoa tuy có đặt quan, nhưng Chiêm Thành vẫn có trưởng lộ chiếm giữ, nên nhà Minh chỉ ghi tên không mà thôi 15. Đào Duy Anh đã lấy ở Hoàng Minh thực lực và đưa ra bằng chứng về điều này “Năm Vĩnh Lạc thứ 13, tháng 11, vua nước Chiêm Thành là Chiêm Ba Dịch Lai… lại xâm đoạt đất 4 châu 11 huyện thuộc phủ Thăng Hoa đuổi cướp nhân dân”16.
Trong lịch sử Việt Nam, triều đại hậu Lê là triều đại có được nhiều lãnh thổ nhất. Kết quả là Việt Nam có lãnh thổ gồm phần phía Nam ngày nay. Việc mở rộng lãnh thổ của triều đại hậu Lê có thể chia thành 100 năm hưng thịnh và 260 năm suy vong. Ở chương này chủ yếu tập trung vào thời kỳ hưng thịnh.
Năm 1470, Lê Thánh Tông đem 26 vạn đại quân chiếm Chiêm Thành và năm 1471 đã lấy lại 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị mất trong thời gian cai trị của nhà Minh đặt tên gọi là Quãng Nam thừa tuyên 17. Ngoài ra, qua cuộc viễn chinh này, vua Lê Thánh Tông đã chiếm được vùng đất từ Hoài Nhân đến đèo Cù Mông 18. Do đó, Việt Nam đã mở rộng lãnh thổ đến Bình Định ngày nay, và năm 1490 đưa Quảng Nam và Thăng Hoa nhập vào lãnh thổ đã chiếm được 19.
Cuộc viễn chinh lớn vào năm 1470 đã giúp cho Việt Nam sau này có bàn đạp để có thể dễ dàng hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài lãnh thổ chiếm được, Việt Nam chia Chiêm Thành thành 3 khu vực Nam Bàn, Hoa Anh, Phiên Lung vốn đã chịu nhiều thất bại nặng nề20 để có thể dễ dàng hợp nhất khu vực này vào bất cứ lúc nào. Cụ thể là Việt Nam cho Nam Bàn nhập vào Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc; Hòa Anh vào Phú Yên, Khánh Hòa; Phiên Luân vào Ninh Thuận thuộc Phan Rang. Việt Nam đã phân ly Chiêm Thành thành 3 vùng ban sắc phong cho 3 vua và đặt nền móng cho việc hợp nhất Chiêm Thành. Ngoài ra, trong thời kỳ hưng thịnh triều đại hậu Lê cũng đã mở rộng lãnh thổ về phía Tây. Khác với cách xâm lược và hợp nhất như khi mở rộng lãnh thổ ở phía Nam, ở đây có tính chất lệ thuộc và hợp nhất nhiều hơn.
Vào năm 1353, Angcowat độc lập, ở vương quốc Lan Xang của Lào có bộ lạc Bồn Man ở khu vực trung tâm Quảng Bình thuộc Sơn La – vùng tiếp giáp với biên giới Việt Nam. Tộc họ Câm cai trị khu vực này nhiều đời và có quan hệ đối ngoại với Việt Nam từ thế kỷ 15. Năm 1447, theo đề nghị quy phục của Bồn Man, Việt Nam đã tiếp thu điều này và đổi thành châu Quy Hợp 21 nhập vào phủ Lâm An 22. Cho dù bị quy phục Việt Nam nhưng cũng như lúc quy phục Lan Xang, vùng này vẫn được công nhận là tự trị như trước23. Đất này bị hợp nhất cho đến khi Việt Nam bị Pháp xâm chiếm.
Sau vương triều độc lập, đến thời kỳ hưng thịnh của triều đại hậu Lê, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được tiến hành trong điều kiện năng lực quốc gia yếu kém. Cho dù là triều đại độc lập, nhưng thời kỳ Ngô, Đinh, tiền Lê ở trong tình thế bị đóng khung trong một quốc gia, thời nhà Trần thì tuy là một đất nước có một không hai trên thế giới có khả năng đẩy lùi quân Mông Cổ 3 lần nhưng vì hậu quả chiến tranh, gặp phải nhiều khó khăn nên không thể tiến hành mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực.
Việc mở rộng lãnh thổ có tính cách hợp nhất vĩnh viễn đã đẩy mạnh sự phát triển của Việt Nam thông qua sự di trú của người Việt và chính sách phái quan lại người Việt làm quản lý và tiến hành Việt Nam hóa người bản địa. Với sự lệ thuộc của Bồn Man, lãnh thổ của Lào được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và tuy chính sách phát triển thông qua sự di trú của người dân như ở phía Nam cho dù không được thực hiện nhưng Việt Nam phái người quản lý tới địa phương để trực tiếp quản lý đã cho thấy tính chất chiếm lĩnh vĩnh viễn ở đây. Để dàn xếp sự chống đối của Bồn Man, từ năm 1460 Lê Thánh Tông đã nhiều lần gửi quân đội đến trấn áp, thậm chí tháng 8 năm 1479 đã điều động 18 vạn đại quân bình định đến Luang Prahang 24. Năm 1474, chính sách di trú người Việt tới khu vực Chiêm Thành ra sắc chỉ rằng: Tù nhân bị tội lưu, ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, ở châu gần thì sung làm quân vệ Hoài Nhân, những kẻ được tha tội cũng sung làm quân vệ Hoài Nhân 25.
Đặc trưng của việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này có khác với thời kỳ suy thoái là đối tượng mở rộng lãnh thổ là ngoài một phần của Lào ra chỉ giới hạn trong khu vực Chiêm Thành. Kết quả là Chiêm Thành ở vùng đệm nên có thể duy trì quan hệ đối ngoại giữa Thái Lan, Campuchia với Việt Nam. Nhưng thời kỳ sau, đối tượng mở rộng lãnh thổ đến cả Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam – Campuchia hay Việt Nam – Thái Lan trở thành mối quan hệ đối lập sâu sắc, thậm chí Campuchia là trục chiến lược trong sự cạnh tranh của Việt Nam và Thái Lan.
III. THỜI KỲ SAU PHÂN CHIA NAM BẮC
Việc mở rộng lãnh thổ trong lịch sử Việt Nam được thực hiện sôi động, nhanh và trong phạm vi rộng lớn nhất là vào thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời kỳ này hay được triển khai với mục đích cơ bản vốn có nhưng có thể thấy được sự khác nhau với thời kỳ trước ở chỗ được tiến hành trong sự chia rẽ và đối lập sâu sắc về quyền lực. Việc mở rộng lãnh thổ trong thời gian này không được triển khai qua thời gian lâu dài như thời kỳ trước mà được thực hiện trong thời gian ngắn khoảng 250 năm. Dĩ nhiên có khả năng là vì đã chuẩn bị bàn đạp trong thời kỳ trước. Giống như khi xem xét thời gian tồn tại dài hay ngắn của một vương quốc, thông qua việc mở rộng lãnh thổ cũng có thể nhìn thấy được sức mạnh của quốc gia và tổn thất của Chiêm Thành.
Một mặt, việc mở rộng lãnh thổ ở thời kỳ sau phân chia Nam Bắc được thực hiện thông qua việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành và sự mở rộng về phía Campuchia đã kéo theo sự căng thẳng sâu sắc trong quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia và dĩ nhiên ảnh hưởng tới cả quan hệ Campuchia và Thái Lan. Kết quả là ngày nay, đối ngoại giữa 3 nước, đặc biệt Việt Nam – Campuchia hay Thái Lan – Campuchia vẫn còn chịu ảnh hưởng không nhỏ 26.
Để thoát khỏi sự uy hiếp của chúa Trịnh, chúa Nguyễn đi xuống phía Nam thúc đẩy chính sách một cách năng động như chính sách đối ngoại thông thương, chính sách mở rộng lãnh thổ để xây dựng sức mạnh nhằm khôi phục quyền lực đã mất27.
Do đó, việc mở rộng lãnh thổ của chúa Nguyễn tiếp tục được thúc đẩy không quan tâm đến thời gian 7 lần phân tranh với chúa Trịnh như trích đoạn dưới đây.
“Năm 1611, quân Chiêm Thành xâm lấn biên giới. Chúa sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được đất ấy, bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy28.
Sự kiện năm 1611 đã chứng minh rằng khác với thời kỳ đầu, đặc trưng của thời kỳ sau là chiếm lĩnh đồng thời sát nhập và hợp nhất lãnh thổ. Đặc trưng này cũng có thể thấy được qua sự kiện xảy ra vào năm 1653. “Vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm quấy rối đất Phú Yên. Sai cai cơ Hùng Lộc hầu làm tổng binh và xá sai Minh võ làm tham mưu đem 3000 quân đi đánh. Đến phủ Phú Yên, ngày 3 tháng 4, nhân đêm qua đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, ruổi thẳng đến trại của Bà Tấm, phóng lửa đánh gấp, phá tan, đuổi dài đến sông Phan Lang. Bà Tấm sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin hàng. Phúc Tần cho, bắt chia đại giới, lấy đất tự phía đông sông ấy đến Phú Yên đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, đặt dinh trấn thủ Thái Khang, phía Tây sông vẫn là nước Chiêm Thành, khiến giữ bờ cõi mà nộp cống”29 Thái Khang và Diên Ninh bây giờ là Ninh Hòa và Diên Khánh, lúc này lãnh thổ của Việt Nam được mở rộng đến Khánh Hòa.
Tháng 8 năm 1692, chúa Nguyễn chiếm Chiêm Thành và nhân cơ hội chiếm Diên Ninh của Chiêm Thành và tháng 3 năm sau đã bắt được vua Chiêm Thành là Bà Tranh. Lúc này, chúa Nguyễn đã đổi tên Chiêm Thành là Thuận Thành. Chúa Nguyễn đã sai cai đội Nguyễn Trí Thắng, cai cơ Nguyễn Tân Lễ, cai đội Chu Kiêm Thắng đến Phố Hài, Phan Rí, Phan Rang thuộc Bình Thuận ngày này để phòng ngự tàn đảng của Thuận Thành 30.
Đất nước Chiêm Thành đến bây giờ đã hoàn toàn bị biến mất trên bản đồ. Chiêm Thành đã bị hợp nhất hoàn toàn vào Việt Nam năm 1697 nhưng trên thực tế, với tư cách là một quốc gia thì đã bị xóa bỏ vào năm 1693.
“Tháng 8 năm 1693, đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, lấy tả trà viên Kế Bà Tử làm khám lý, ba người con Bà Ân làm đề đốc, đề lãnh và cai phủ, bắt mặc quần áo theo lối người kinh và sai về để vỗ yên lòng dân”31 Việc lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành thế này là hình thức mà lịch sử Việt Nam đã đối xử với tất cả các dân tộc thiểu số từ trước đến nay. Công nhận sự tự trị nhưng có nghĩa là tự trị dưới cơ cấu cai trị dạng piramid trong quốc gia. Do đó, kể từ bây giờ Chiêm Thành đã trở thành một dân tộc thiểu số của Việt Nam.
Nhưng việc loại trừ hoàn toàn Chiêm Thành làm chúa Nguyễn gặp nhiều khó khăn và trở thành gánh nặng. Từ tháng 12 năm 1693 đến tháng 2 năm sau, người Thanh A Ban và người Chiêm Thành Oc Nha That liên kết với nhau gây ra phản loạn ở Thuận Thành; Tháng 9 năm 1695 người lái buôn Lính đã liên kết Quy Ninh và Quảng Phú ở Quảng Ngãi gây phản loạn; tháng 3 năm 1697, 5 sách huyện Phú Vang nổi dậy… là những ví dụ có thật gây khó khăn cho chúa Nguyễn32.
Sau khi chiếm Chiêm Thành vào năm 1693, chúa Nguyễn đã thi hành một số chính sách để giảm thiểu gánh nặng và những mối lo lắng đó. Thứ nhất, hợp nhất hoàn toàn đất chiếm lĩnh Thuận Thành vào lãnh thổ của mình, đặt theo hình thức trấn hơn là đơn vị hành chính. Cho dù đã đặt lãnh, phủ, huyện, tổng, tư là đơn vị hành chính địa phương đối với khu vực đồng bằng của chúa Nguyễn lúc đó nhưng chúa Nguyễn đã không áp đặt mà đặt Thuận Thành là trấn. Đây cũng là hình thức cai trị dân tộc thiểu số trong quá khứ. Do đó, ngoài việc dùng phương pháp cực đoan là đàn áp phản loạn, vào tháng 8 năm 1693, chúa Nguyễn đã đổi trấn Thuận Thành thành phủ Bình Thuận rồi tháng năm năm sau lại đổi thành trấn Thuận Thành33.
Thứ hai, như đã viết ở trên, chúa Nguyễn đã thi hành chính sách đồng hóa hay lấy người Chiêm Thành cai trị người Chiêm Thành. Với phương pháp cụ thể hơn đối với điều này chúa Nguyễn đã dùng Kế Ba Tư làm tả đô đốc của phủ Thuận Thành và tiếp tục cai trị nơi này, đã nộp cống ông ta bởi phiên vương của trấn Thuận Thành và thu thập quân dân nộp cống hằng năm, và đã trả lại những vật lấy được trong cuộc chiến như ấn, gươm, yên, ngựa và những người bị bắt trước đây. Lúc này chúa Nguyễn đã chỉ định những danh sách nộp cống cho Việt Nam là voi đức 2 thớt, bò vàng 20 con, ngà voi 6 cái, sừng tê 10 tòa, khăn vải trắng 500 bức, sáp ong 50 cân, da cá 20 tấm, cát sủi 400 thúng, chiếu tre trắng 500 lá, gỗ mun 200 cây, thuyền dài 1 chiếc34.
Việc quy định đối với các vật nộp cống và dâng phiên vương có thể nói là một điển hình trong việc nâng cao vị thế so với các nước nhỏ xung quanh của Việt Nam. Cho đến bây giờ khi xem xét đến thông lệ ban sắc phong cho các tù trưởng các dân tộc thiểu số thì có thể thấy đó là mắt xích trong chính sách hợp nhất Chiêm Thành như đã nêu. Khi so sánh thời gian tồn tại hay diện tích lãnh thổ, chính sách thôn tính một quốc gia có thế lực không thua kém mình là một sách lược chính trị khổ nhục.
Nhưng vào năm 1697, Việt Nam đổi trấn Thuận Thành thành Bình Thuận và sát nhập vào một đơn vị hành chính của Việt Nam đồng thời hợp nhất lãnh thổ còn lại của Chiêm Thành từ Phan Rang đến Phan Rí đổi thành 2 huyện An Phuc và Hoa Da rồi sát nhập vào Bình Thuận nên dấu tích của Chiêm Thành hoàn toàn đã bị xóa bỏ trên bản đồ35.
Việc hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành thể hiện sự vững vàng của một quốc gia thống trị nhưng cũng cho thấy đây là một mắt xích trong việc thực hiện ý định hợp nhất Campuchia có chung đường biên giới. Kể từ trước đó rất lâu, khi trấn Thuận Thành và Phan Rang, Phan Rí vẫn còn là khu vực tự trị của Chiêm Thành, sự tiến vào Campuchia của Việt Nam đã được thúc đẩy qua việc lợi dụng những người di cư của nước Minh để phát triển lãnh thổ Campuchia nhưng lúc này thì Việt Nam không còn lý do gì để tiếp tục giữ chế độ tự trị ở khu vực này. Việc chia rẽ mục đích chính sách này mất cân bằng đối với nhiều dân tộc thiểu số và dân tộc Khơme của Campuchia.
Tham vọng mở rộng lãnh thổ của Chúa Nguyễn không dừng lại ở Chiêm Thành. Điều đó có thể nhìn thấy được vào năm 1621, chúa Nguyễn đã có quan hệ hôn thú với đời thứ 2 Chey Chettha của Campuchia36. Lúc đó, chúa Nguyễn đã yêu cầu vua Campuchia cho người Việt Nam di trú tự nhiên, di trú Thủy Chấn Lạp với những hình thức miễn thuế, thương mại, phát triển. Kết quả là việc di trú đến Campuchia của người Việt Nam được bắt đầu từ tỉnh Đồng Nai và Mỗi Xoài thuộc Bà Rịa, Vũng Tàu bây giờ 37.
Lúc đó Campuchia lệ thuộc vào vương quốc Ayuthaya của Thái Lan đã mượn sức mạnh của Việt Nam để thoát khỏi sự cai trị của Thái, Việt Nam đã có được cơ hội tiến vào Campuchia một cách hợp pháp và đồng thời trên cơ sở đó, đã có được cơ hội tuyệt vời để có thể cản trở sự tiến vào Campuchia của Thái và xâm chiếm lãnh thổ Campuchia38. Sau đó, dưới chính sách ngoại giao cận Việt viễn Thái của Campuchia (chữ Hán), năm 1658, lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội gửi quân đội theo yêu cầu của Campuchia để giải quyết phân tranh vương vị và kết quả là nhận được sự cư trú hợp pháp ở Mỗi Xoài, Đồng Nai và nộp cống, thần phục từ Campuchia39.
Vào năm 1674, Việt Nam đã gửi quân đội đến Campuchia lần thứ hai để giải quyết tranh chấp vương vị và có thể bước một bước sâu hơn vào việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia bằng cách đặt ra chế độ chính vương và phó vương (chữ Hán). Lúc này, phó vương sống ở Sài Gòn. Trên cơ sở này, vào tháng 1 năm 1679 Việt Nam đã đem 50 chiến thuyền với hơn 3 nghìn quân, lợi dụng những người quản lý của nước Minh Trung Quốc đầu hàng như Dương Ngan Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình … tiến hành thực hiện việc phát triển Mỹ Tho và Biên Hòa40. Những khu vực này là kết quả chiến thắng trong cuộc phân tranh vũ lực với Thái trên lãnh thổ Campuchia của Việt Nam, vì một phần thuộc khu vực mà Nạc Ông Nộn được bổ nhiệm cai trị, nên Việt Nam có thể định cư ở đó. Năm 1679, do chính vương và phó vương của Campuchia xung đột, Việt Nam và Thái đều gửi quân đội can thiệp nên chiến tranh đã xảy ra, Việt Nam đã hoàn toàn không thể đưa ra các giải quyết vấn đề này.
Những người có thế lực khai phá đất, xây dựng thành Đông Phố và biến nơi đây thành nơi thương mại quốc tế đông đúc với những chiếc thuyền của nhà Thanh – phương Tây – Nhật – Java. Thời điểm này, có thể nói ngoài người Việt Nam ra, người Trung Quốc cũng phát triển Thủy Chân Lạp. Vào năm 1680, việc phát triển Thủy Chân Lạp dựa vào Mạc Cửu người Quảng Đông Trung Quốc. Ông ta được bổ nhiệm làm quản lý của Campuchia và đã phát triển Phú Quốc, Cần Bọt, Gia Khê, Luỗng Cây, Hương Úc, Cà Mau41. Ở đây, vào năm 1810 đã đổi thành trấn Hà Tiên rồi năm 1831 đổi thành tỉnh Hà Tiên.
Năm 1688, với cuộc phản loạn của Hoàng Tiến đã trở thành cơ hội cho Việt Nam thực hiện hợp nhất lãnh thổ Campuchia. Hoàng Tiến gây ra phản loạn, quốc vương của Campuchia Nặc Ông Thu đã từ chối thần phục và nộp cống cho Việt Nam và dương ngọn cờ phản loạn. Việt Nam đã gửi quân vào Sài Gòn để bình định việc này nhưng không thành công. Tuy nhiên, trong trong một thời gian dài nắm giữ, Việt Nam thực sự đã có ảnh hưởng ở khu vực này. Tiếp đó, năm 1691, người có thực quyền ở đây là phó vương Nặc Ông Nộn tử vong đã tạo ra một khoảng trống quyền lực đã xúc tiến quá trình hợp nhất của Việt Nam ở khu vực này. Trên cơ sở đó, từ năm 1698, bắt đầu hợp nhất khu vực Gia Định khai thác được dựa vào người Trung Quốc và người bản xứ trước đây.
Năm 1698 là năm sau khi Việt Nam hoàn toàn hợp nhất Chiêm Thành. Điều này rất quan trọng vì thể hiện được tính quan hệ tương hỗ trong việc hợp nhất Chiêm Thành và Campuchia của Việt Nam. Tức là, trước năm 1698, Việt Nam có thể lợi dụng khoảng trống cai trị của Campuchia trên mảnh đất do người Trung Quốc và người bản xứ khai phát và hợp nhất nhưng trong khi chưa hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nên có thể gặp nhiều khó khăn; hoặc trong trường hợp đã hợp nhất hoàn toàn Chiêm Thành nhưng có khả năng xảy ra phản loạn và chống đối nên có thể cho rằng sức lực sẽ bị phân tán nên đã không thực hiện và chuẩn bị cho đến năm 1698 mới tiến hành hợp nhất Campuchia.
“Bắt đầu đặt phủ Gia Định. Sai thống suất Nguyễn Hữu Kính kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đều đặt các chức lưu thủ, cai bạ, ký lục và cơ độ thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh. Mở rộng đất được nghìn dặm, được hơn 4 vạn hộ, bèn chiêu mộ những dân xiêu dạt từ Bố Chính trở về nam cho đến ở cho đông. Thiết lập xã thôn phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế to dung, làm sổ đinh điền. Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở xã Minh Hương. Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dân hộ của ta”42.
Nội dung trên cho thấy việc hợp nhất lãnh thổ Campuchia của Việt Nam khác với phương pháp hợp nhất Chiêm Thành trong thời kỳ trước. Khi hợp nhất lãnh thổ của Chiêm Thành, đa số dùng phương pháp chiếm bằng vũ lực nhưng khi hợp nhất lãnh thổ Campuchia thì lợi dụng người trong nước hay người nước ngoài trước hết là khai thác rồi lợi dụng khi quyền lực cai trị của Campuchia yếu đi thì hợp nhất một cách tự nhiên. Không những thế, ở đây còn cho thấy sự ưu tiên phương pháp nhận lãnh thổ bằng cách hỗ trợ giải quyết nội chiến của Campuchia hơn là dùng vũ lực trực tiếp.
Vào năm 1708, Mạc Cửu cảm thấy bất an với nội tình của Campuchia, nhờ thần phục Việt Nam mới có được đường biên giới của Campuchia bây giờ còn Việt Nam thì có được khu vực ở phía cực nam bao gồm đảo Phú Quốc, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu43. Khu vực này là một trong 6 tỉnh thuộc tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn. Điều này cũng như đã đề cập ở trên cho thấy hình thức hợp nhất không liên quan đến vũ lực của Việt Nam.
Do đó, trong 6 tỉnh, Việt Nam đã hợp nhất 3 tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên. Ba tỉnh còn lại vẫn trong tình trạng chưa hợp nhất được là Định Tường, Vĩnh Long, An Giang. Ba tỉnh này ở trong địa thế hình răng cưa, nằm xem kẽ giữa hai tỉnh Biên Hòa – Gia Định và tỉnh Hà Tiên. Vì thế, để bảo tồn tỉnh Hà Tiên ở vị trí xa nên việc hợp nhất 3 tỉnh còn lại là một việc cần thiết. Do đó qua 3 lần liên tiếp thực hiện hợp nhất, khu vực này được hợp nhất với phương pháp khác với trước đây là bằng vũ lực.
Lần thứ 1, năm 1732, Việt Nam đã gửi quân đội tới, lấy Mỹ Tho, Sa Đéc ở phía Tây Gia Định, và đặt châu Định Viễn, lĩnh Long Hồ44. Những khu vực này thuộc tỉnh Định Tường. Những khu vực này bây giờ thuộc tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp. Với cơ hội này, vào năm 1744 chúa Nguyễn đã xác lập khu vực hành chính với cơ cấu 12 lĩnh và 1 trấn45.
Lần thứ 2 cũng dành được thành quả bằng vũ lực. Chúa Nguyễn đã hai lần viễn chinh Campuchia vào năm 1753 và 1755 do hiệp ước quan hệ của chúa Trịnh và YuRin Côn Man của Nạc Ông Nguyên là vua Campuchia. Lúc này Nạc Ông Nguyên tị nạn ở Hà Tiên và năm 1756, đưa Mạc Thiên Tứ đề nghị thần phục và nộp cống cho chúa Nguyễn và đã dâng 2 phủ Tam Bon, Loi Lap46. Nơi này giáp với tỉnh Định Tường thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Lần cuối cùng, năm 1757, trong quá trình lên ngôi, vua Cao Miên nhận sự giúp đỡ đã nhận từ Nạc Ông Tôn 2 phủ Trà Vinh, Ba Thắc và Tầm Phong Long47. Trong 6 tỉnh, những khu vực này thuộc tỉnh An Giang. Do đó, Việt Nam đã xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.
Đối với sự kiện của năm 1757, khi xem xét biên giới lãnh thổ Việt Nam qua ghi chép là “Năm 1757, Nạc Ông Nguyên nước Chân Lạp chết. Người chú họ là Nạc Nhuân Tạm coi việc nước. Biên thần tâu xin nhân đó lập Nhuận để tỏ ân nghĩa, cho vững biên cương. Chúa bắt phải hiến hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc, rồi sau mới y cho …”48 chúng ta có thể thấy rõ hơn. Nói cách khác, cho dù đã hợp nhất Định Tường và Vĩnh Long nhưng dưới thời chúa Nguyễn, không có tỉnh An Giang nên Châu Đốc, Cần Thơ, Sóc Trăng có địa thế như răng rụng nên Việt Nam cần có được vùng này với cái giá là phải can thiệp chính trị.
Ngoài ra, cùng năm 1757, Việt Nam đã được vua Camphuchia Nạc Ông Tôn dâng 5 phủ Hương Úc, Cần Bọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh49. Khu vực này tiếp giáp với Hà Tiên nhưng trong thời gian vua Tự Đức tại vị đã trả lại cho Campuchia50.
Việc mở rộng lãnh thổ phía Nam của chúa Nguyễn đã gặp phải một số yếu tố nên phải tạm dừng ở đây. Thứ nhất, do sức lực quốc gia của chúa Nguyễn bị yếu đi nên không đủ nội lực để mở rộng lãnh thổ hơn nữa. Thứ hai, trong thời gian ngắn không đủ năng lực để khai thác quản lý lãnh thổ tăng nhiều51.
Việc mở rộng lãnh thổ về phía nam của Việt Nam cũng được tiếp tục dưới triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam là triều đại nhà Nguyễn. Như đã đề cập ở trên, Việt Nam đã hợp nhất một phần lãnh thổ của Lào tiếp giáp với khu vực từ Quảng Bình tới Lạng Sơn, đã gửi quân đi 6 phủ và bổ nhiệm làm tộc trưởng ở đây theo hình thức cai trị gián tiếp. Khi xem xét đến nhiều điều kiện như chính trị – kinh tế – địa chính học, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy hợp nhất Cao Miên để dành lợi cho quốc gia, và kết quả là năm 1835, Chân Lạp – quốc hiệu của Cao Miên đã đổi thành Chân Tây Thành và lập 2 huyện, 32 phủ52. Nhưng cuộc xung đột dành quyền cai trị Campuchia giữa Việt Nam và Thái kéo dài, cộng với việc phản đối sự cai trị của Việt Nam trên toàn Campuchia và các cuộc phản loạn trong nước nên đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi. Cho nên, năm 1847, Việt Nam đã ký hiệp định với Thái và rút quân. Do đó, cho đến khi Việt Nam và Campuchia đều trở thành thuộc địa của Pháp thì Campuchia chỉ duy trì mối quan hệ nộp cống cho Việt Nam53. Qua đây, có thể thấy việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam được điều khiển bởi Thái và Pháp. Nếu giả định trường hợp Pháp không tiến hành xâm lược hay không có mâu thuẫn với Thái thì Việt Nam đã có được một vùng rộng lớn trong lãnh thổ của Lào và Campuchia.
IV. KẾT LUẬN
Việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cho thấy một quy luật điển hình trong lịch sử nhân loại là cá lớn nuốt cá bé. Việt Nam đã không ngừng đấu tranh trong trường kỳ lịch sử để sinh tồn bên cạnh một Trung Quốc mạnh hơn mình nhưng ngược lại cũng tiến hành chinh phục Chiêm Thành và Campuchia yếu hơn. Điều này thể hiện hai mặt trong đặc trưng lịch sử của Việt Nam là chủ nghĩa dân chủ đấu tranh và chủ nghĩa dân chủ xâm lược.
Việt Nam đã trải qua quá trình dân chủ đấu tranh và bồi dưỡng sức mạnh quốc gia rồi trên cơ sở đó hướng đến chủ nghĩa dân chủ xâm lược và kết quả là xác lập được lãnh thổ phía Nam bây giờ.
Việc mở rộng lãnh thổ về phía Nam đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong việc sản xuất ngũ cốc. Ngoài khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa và lượng nắng nhiều thì vùng này còn có tài nguyên phong phú và đất đai màu mỡ và rộng lớn.
Ở đây cũng không thể bỏ qua sự đóng góp của người dân di trú Trung Quốc. Trong khi không đủ nhân lực phát triển thì việc tham gia của người dân Trung Quốc đã giảm bớt đi gánh nặng cho người dân Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển thương mại của phía Nam và đã tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam.
Liên quan đến việc tăng cường tính đặc trưng đa văn hóa – đa dân tộc của Việt Nam không thể loại trừ vai trò của Campuchia. Việc hợp nhất Thủy Chân Lạp tức 6 tỉnh phía Nam dành được ngoài mảnh đất màu mỡ và rộng lớn còn có được dân tộc Khơme đông nhất trong 54 dân tộc đã biến Việt Nam từ một nước có văn hóa Phật giáo Đại thừa sang một nước văn hóa Phật giáo Tiểu thừa.
Đồng thời, việc mở rộng lãnh thổ của Việt Nam cũng là một trường hợp điển hình minh chứng cho quy luật lịch sử “giữa các nước láng giềng không có quan hệ tốt ”. Nếu như quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc mới được tái lập vào năm 1991 thì quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia cũng không được mặn mà khi 20 vạn quân Việt Nam rút lui khỏi Campuchia dưới áp lực của chủ nghĩa tư bản đứng đầu là Mỹ vào năm 1989. Quan hệ giữa Việt Nam và Thái cũng đối lập sâu sắc trong việc gây ảnh hưởng trên đất Campuchia. Xét trên quan điểm địa chính học, quan hệ giữa Việt Nam và Lào có thể là một dị biệt nhưng xét cho cùng thì có thể cũng không khác với những mối quan hệ nước láng giềng đã nêu trên.
————-
2 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Nxb Giáo dục, H.1961, p.484.
3 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa, H.2006; Nguyễn Đình Đầu, Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nxb BT, 2003; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHPS T 36, 1999; Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNA 16 – 2, 2007.
4 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.227.
5 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Nxb KHXH, H.1998, p.228 tham khảo; Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, H.1997, p.174 tham khảo; Song Jung Nam, Lịch sử Việt Nam, Nxb ĐHPS, 2001, p.134.
6 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, pp.274 – 275; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.238; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Nxb KHXH, H.1977, p.32; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb VHTT, H.1999, p.107; Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.106.
7 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, p.278; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.32.
8 Đại Việt sử ký toàn thư, T.I, Sđd, p.284; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.546; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.
9 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Nxb KHXH, H.1998, p.91; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.407; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.
10 Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNÁ 16 – 2, 2007, p.107.
11 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.91; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.32.
12 Đại Việt sử ký toàn th,ư T.II, Nxb KHXH, 1998, p.145; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.458 tham khảo.
13 Đại Việt sử ký toàn thư,T.II, Sđd, p.91; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sđd, p.170.
14 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, pp.202 – 203; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.512; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.127; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.35.
15 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.235; Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, p.546; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục ,T.I, Sđd, pp.37 – 38 tham khảo.
16 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.168.
17 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, pp.441 – 452; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.43.
18 Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong keiens Việt Nam, T.II, Nxb GD, 1960, p.182; Đại Việt sử ký toàn thư T.II, Sđd, p.464.
19 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.507.
20 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.450; Việt sử thông giám cương mục, T.XI, Nxb Văn Sử Địa, 1959, pp.68 – 69; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.43.
21 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.363 tham khảo.
22 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.199.
23 Phan Huy Lê, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.II, Sđd, p.174 – 177.
24 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.477.
25 Đại Việt sử ký toàn thư, T.II, Sđd, p.464.
26 Song Jung Nam, Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, Hội thảo khoa học 2007 của hội Việt Nam học Hàn Quốc, 2007, p.44.
27 Song Jung Nam, A Study on the Development Factor of Trade in Dang Trong in 16th – 18th centuries NCĐNÁ 14 – 1, 2004, p.133.
28 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Nxb Sử học, 1962, pp.43 – 44.
29 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.83; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.56 tham khảo.
30 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.147; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, nhà sách Khai Trí, 1969, pp.217 – 218.
31 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.148.
32 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.148 – 153.
33 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.150.
34 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.150 – 151; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, pp.217 – 218.
35 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.153.
36 Lê Nguyễn, Xã hội Đại Việt qua bút ký của người nước ngoài, Nxb VN TP HCM, 2004, p.174; Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.105; Song Jung Nam, Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời kỳ truyền thống, Bđd, p.43.
37 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, pp.105 – 106; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, pp.400 – 402.
38 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Sđd, p.105; Yu In Sun, Lịch sử Việt Nam viết mới, Nxb Y San, 2002, 219 tham khảo.
39 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Giaos dục, H.1998, pp.74 – 75; Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.98 tham khảo; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Nxb Thuận Hóa, 1993, p.542; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.58 tham khảo.
40 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.125; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.542; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục, T.I, Sđd, p.62 tham khảo.
41 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.167.
42 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.153 – 154; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.542 tham khảo.
43 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.167; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHBS T 36, 1999, p.57.
44 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, 1962, p.195; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.78; p.241; Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.241; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, p.232.
45 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, 1962, p.208.
46 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.224; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.78; Lê Quý Đôn toàn tập: Phủ biên tạp lục T.I, Sđd, p.69; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, p.242.
47 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.226; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, pp.79 – 80; Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, p.242; Song Jung Nam, A study on the land system and territorial expansion in southern part of Vietnam: from the mid – 16 century to 18 century SHBS T 36, 1999, p.58.
48 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, pp.225 – 226; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.79; Đại Việt sử ký tục biên 1676 – 1789, Nxb KHXH, 1991, pp.257 – 258.
49 Đại Nam thực lực tiền biên, T.I, Sđd, p.226; Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, Sđd, p.544; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, p.79, p.80.
50 Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, p.243.
51 Song Jung Nam, The Name and Territory of Vietnam NCĐNA 16 – 2, 2007, p.110.
52 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.479.
53 Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, T.III, Sđd, p.481.
——–



Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013

Lịch sử địa phương tỉnh Bắc Cạn

Lịch sử địa phương
PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP
TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1930

I.Mục tiêu cần đạt:
1.Kiến thức:Hs nắm được LSĐP mình trong phong trào yêu nước chống Pháp từ  cuối thế kỉ XIX đến 1930
2. Kĩ năng:  Phân tích, đánh giá, sơ kết lịch sử.
3.Tư tưởng:  Bồi dưỡng cho Hs lòng yêu nước, yêu quê hương, tinh thần đoàn kết kháng chiến của nhân dân VN.
II. Phương tiện dạy học: tài liệu LSĐP BK
III.Tiến trình dạy học:
1.     Ổn định tổ chức
2.     Kiểm tra bài cũ
3.     Bài mới:
        Hoạt động của thầy và trò
            Nội dung chính
Gv giới thiệu:
 Lợi dụng GCPK suy yếu, năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.Sau khi đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ,đồng bằng Bắc Bộ, Pháp cho quân đánh chiếm các tỉnh trung du Bắc Kì

Pháp chia Bk thành 4châu: BẠCH THÔNG, CHỢ RÃ, THÔNG HOA( NA RÌ), CẢM HOÁ(NGÂN SƠN)
  -Tháng 7/ 1901, tx BK được thành lập, trở thành trung tâm hành chính, KT,VH,QS của BK.cơ quan đầu não bộ máy cai trị của chính quyền thực dân pk đều đóng ở đây.
    P xây dựng bộ máy cai trị hà khắc:
-Đứng đầu tỉnh là 1 viên công sứ người P, nắm quyền về chính trị, quân sự, trực tiếp làm chánh án toà án đệ nhất cấp.
- Đứng đầu mỗi châu là viên tri châu, ở các tổng có chánh tổng, phó tổng, ở các xã có lý trưởng, phó lý trưởng.
- Đứng đầu thị xã là chánh hội và phó chánh hội.Mỗi phố có chánh, phó lý và thủ bạ.ngoài racòn đặt chức bang tá( phụ trách qs,chính quyền) ở CM, châu uý (qs)ở P. Thông, BKhẩu

?E có nhận xét gì về bộ máy cai trị mà t/d P đặt ở tỉnh ta?

? với bộ máy cai trị như vậy, đời sống của nhân dân ta sẽ ntn?
Hs tự bộc lộ
?để củng cố chính quyền t/d P đãlàm gì?
  GV: trong 50 năm, từ 1888-1938,riêng BK chúng đã đào tạo gần 60 quan lại từ bang tá đến tuần phủ, phục vụ cho bộ máy chính quyền của chúng
  Ngoài ra chúng còn đẩy mạnh khai thác thuộc địa
 Trong những năm 1920-1925, Bk là tỉnh đứng đầu về khai thác hầm mỏ ở Bắc Kì
   Công nhân phải làm việc từ 9-13h/ngày với đồng lương rẻ mạt.
? nền kt Bk lúc bấy giừo ntn?

? t/d P đã thi hành chính sách ngu dân ntn?
   -XD nhà tù nhiều hơn trường học
   -Du nhập văn hóa đồi truỵ vào Bk
   -Tệ nạn xh, hủ tục lạc hậu được duy trì và khuyến khích
Hs trả lời, gv chốt….
?NX về tình hình bk dưới ách thống trị của p?

Gv giới thiệu…..

? ách thống trị hà khắc của t/d Pháp đã khiến nd ta ntn?
Hs trả lời, hs khác nx, bổ sung, gv chốt.
Gv giới thiệu về các phong trào yêu nước…







? E có nx gì về các phong trào chống P của nhân dân BK ;
 Hs tự bộc lộ, Gv nx, chốt
? kết quả của các phong trào?
  HS: thất bại
Gv: tuy các pt yêu nước đều thất bại do tương quan lực lương quá chênh lệch, chưa có đường lối lãnh đạo đúng đắn…nhưng các pt nay dã để lại ý nghĩa lịch sử sâu sắc:
-         Hun đúc truyền thông yêu nước& truyền thông đấu tranh quật cường của dt
-         Là tiền đề, là nền tảng cho sự ra đời của các tổ chức cm trên địa bàn BK.






1.Tình hình BK dưới ách thống trị của thực dân Pháp:
-Ngày 11/4/1900 thành lập tỉnh Bắc Kạn.

























-Bộ máy cai trị hà khắc, do người Pháp đứng đầu,nắm mọi quyền hành, phục vụ cho lợi ích của t/d p.



-Đào tạo đội ngũ tay sai đông đảo.






-Đẩy mạnh thăm dò và khai thác khoáng sản.





-Kt lạc hậu, nông nghiệp đình trệ, công thương nghiệp k pt.
-Thực hiện chính sách ngu dân, xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học.
- Y tế: kém pt, chỉ có 1 nhà thương với khoảng 30 giường bệnh.




ð    Đsống nhân dân vô cùng cực khổ, >< dân tộc trở nên gay gắt
2. Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân BK từ cuối thế kỉ XIX đến 1918:



-17/1/1889 dưới sự lãnh đạo của phùng Bá Chỉ(Bá Kì) đánh lui2 cuộc tấn công của P vào Cm.
-1904,người Dao ở Tân Sơn, Cao Sơn(Bạch Thông) nổi dậy chống sưu thuế.
-T10/ 1914, tại tx Bk tù nhân yêu nước và lính khố xanhdo Lý Thảo long chỉ huy nổi dậy phá nhà lao, cướp vũ khí của địch.
-1917 công-nông Bk hưởng ứng tích cực cuộc kn Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn chỉ huy.
4.     Củng cố- dặn dò:
?Nêu khái quát tình hình BK dưới ách thống trị của p?pt yêu nước của BK từ 1888-1918
Ngày soạn:.
Ngày giảng:
Tiết 34– Lịch sử địa phương lop 6


BẮC  KẠN TỪ CỘI NGUỒN ĐẾN THẾ KỈ X

I.Mục tiêu cần đạt:

1.Kiến thức:
- Tên gọi BK qua các thời kì lịch sử.
- Đặc điểm BK từ cội nguồn đến thế kỉ x.
- Truyền thống đấu trnh chống ngoại xâm của nhân dân BK.

 2. Kĩ năng:  Phân tích, đánh giá, sơ kết lịch sử.

3.Tư tưởng:  Bồi dưỡng cho Hs lòng yêu nước, yêu quê hương, tinh thần đoàn kết kháng chiến của nhân dân VN.


II. Phương tiện dạy học: tài liệu LSĐP BK


III.Tiến trình dạy học:

1.     Ổn định tổ chức

2.     Kiểm tra bài cũ

3.     Bài mới:









Hoạt động của thầy và trò
Nội dung chính
Gv dẫn vào bài và giảng giải…






Đến thời Nguyễn năm Minh Mạng thứ 12 (1831), BK thuộc tỉnh Thái Nguyên.Gồm hai châu:
- Bạch Thông: gồm phần đất Bạch Thông, một phần huyện Chợ  Rã, Chợ Đồn.
-Cảm Hóa: gồm Ngân Sơn, Na Rì.

? khi thực dân Pháp xâm lược ĐD đã cử ai làm viên toàn quyền Đông Dương?
P.Doumer.
Gv giảng…
- 21/4/1965, ủy ban thường vụ Quốc hội nước VNDCCH ra quyết định thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh BK và TN.
? Vì sao quốc hội lại quyết định như vậy?
- Nhằm đáp ứng nhu cầu tăng cường lực lượng cho cuộc khánh chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc



GV cho hs quan sát một số hình khảo cổ học
Gv giới thiệu từng di vật khảo cổ.
? Qua những bức hình trên, em có cảm nhận ntn về các di vật khảo cổ đã được tìm thấy ở trên địa bàn tỉnh ta?
Hs tự bộc lộ.
Gv chốt: các phát hiện trên đây tuy ít ỏi, nhưng cùng với sự phong phú của các tài liệu địa dnah học gắn với các huyền tích, huyền thoại như Nà Giả Gỉn và các bản; bản Piềng, Chiềng , Mường..đã khẳng định sự có mặt của xã hội thị tộc bộ lạc mà chủ nhân là những người Tày cổ ở BK





Gv yêu cầu hs nhắc lại lịch sử nước ta thời Bắc thuộc.
Hs nhắc lại, hs khác bổ sung.
Gv chốt


Gv giảng theo nội dung trong tài liệu…





GV chốt: trong những thế kỉ đau thương, dưới sự thống trị của các triều đại pk phương bắc, nhân dân các dân tộc Bk đã không ngừng đấu tranh vũ trang, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc để giành lại độc lập tự chủ…
I.Tên gọi BẮC KẠN qua các thời kì lịch sử:
- Thời Hùng Vương vùng đất Cao Bằng- BK ngày nay thuộc bộ Vũ Định.
- Từ thế kỉ X, BK thuộc phủ Phú Lương.
- Từ thời Lê, thế kỉ XV: BK thuộc phủ Thông Hóa, thuộc trấn Thái Nguyên.
- Thời Nguyễn năm Minh Mạng thứ 12 (1831), BK thuộc tỉnh Thái Nguyên.



- 11/4/1900, viên toàn quyên Đông Dương P.Doumer quyết định thành lập tỉnh BK.


- 21/4/1965 BK_TN hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái.



-         Ngày 1/1/1997, tái thành lập tỉnh BK.

II. Đặc điểm tỉnh BK từ cội nguồn đến thế kỉ X:
1. BK là một trong những chiếc nôi của người Tày cổ:
-Đã từ lâu phát hiện ra nhiều di vật khảo cổ học:
+ công cụ bằng đá ở hang Thẩm Miều   ( Lam Sơn-Na Rì), hang Tiên ( Ba Bể) thuộc hậu kì đá cũ.
+ Mai đá ở Đôn Phong( Bạch Thông).
+ Rìu có vai ở Đồng Phúc( Ba Bể).
+ Mũi tên đồng ở Nà Buốc( An Thắng, PN).
2.Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Bk từ thế kỉ III TCN đến thế kỉ X:
- Từ tk III TCN, trên miền núi phía bắc người Âu Việt ( tổ tiên của người Tày Nùng) đã tổ chức lực lượng đánh du kích góp phần đánh thắng quân Tần xâm lược.
- Mùa xuân năm 40, dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hai Bà Trưng, các tộc Man-Lý (tổ tiên của người Tày Nùng)ở Việt bắc, trong đó có BK đã nhất tề đứng lên chống quân xâm lược Đông Hán.
- Chống quân Xl nhà Lương tk VI, thành lập nước Vạn xuân, triều Tiền Lý.
- 806-820, tham gia chống phong kiến nhà Đường.

4.     Củng cố- dặn dò: học thuộc bài và đọc trước bài mới, chuẩn bị cho tiết học sau.

Ngân hàng câu hỏi và đáp án sử 6 theo chuẩn kiến thức kĩ năng

BÀI
NỘI DUNG CÂU HỎI
Ghi chú
Bài 1.
Lược
Về môn
Lịch
Sử
Câu 1: Dựa vào đâu con người biết và dựng lại lịch sử?B
A. Tư liệu truyền miệng           B. Tư liệu chữ viết
C. Tư liệu hiện vật                            D. Cả a,b và c.


Bài 2.
Cách
tính
thời
gian
trong
lịch
sử.
Câu 1 : 100 năm là:B2B
A. 1 thập kỉ               B. 1 thế kỉ            C. 1 thiên niên kỉ            D. 10 thế kỉ
Câu 2 : Năm 2011 thuộc thế kỉ:B2H
A. XIX                      B. XX                   C. XXI                           D. XXII
Câu 3 : Năm 1000 TCN cách năm 2012 bao nhiêu năm?B2V
A. 1012 năm                  B. 1013 năm                  C. 3012 năm                             D. 3013 năm
Câu 1:  Nêu cách tính âm lịch và dương lịch  ? (2 điểm)
ĐÁP ÁN
Câu  1: + Âm lịch :   Căn cứ vào sự di chuyển của Mặt Trăng xung quanh Trái Đất( 1vòng ) là 1 năm (từ 360-365 ngày ) 1thang (từ 29-30 ngày)
             + Dương lịch: Căn cứ vào sự di chuyển của Trái Đất xung quanh Mặt Trời(1vong là 1 năm (365ngày +1/4 ngày) nên họ xác định 1 tháng có 30 hoặc 31 ngày riêng tháng 2 có 28 ngày.


Bài 3.
 hội nguyên
thủy
Câu 1: Tổ chức xã hội của người tinh khôn là:B3-H
A. Thị tộc  B. Bộ lạc  C. Bầy   D. Công xã nông thôn
Câu 2: Công cụ bằng kim loại gì được con người sử dụng đầu tiên?
A. Sắt   B. Nhôm   C. Đồng   D. Chì
Câu 1:  Em hãy cho biết vì sao xã hội nguyên thủy tan rã?B3H(3đ)
ĐÁP ÁN
Khi công cụ kim loại xuất hiện, con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích trồng trọt, làm ra sản phẩm không chỉ đủ nuôi sống mình mà còn dư thừa. Do có công cụ lao động mới, một số người có khả năng lao động giỏi hơn, hoặc đã lợi dụng uy tín của mình để chiếm đạt một phần của dư của người khác, vì thế càng trở nên giàu có, một số khác sống cực khổ thiếu thốn. Xã hội phân hóa thành người giàu kẻ nghèo. chế độ "làm chung, ăn chung" ở thời kì công xã thị tộc bị phá vỡ, xã hội nguyên thủy dần dần tan rã, nhường chỗ cho xã hội có giai cấp.

Bài 4.
Các
Quốc
Gia
Cổ
Đại
Phương
Đông
Câu 1 : Các quốc gia cổ đại phương Đông gồm:B4
A.  Ai Cập, Roma, Ấn Độ, Trung Quốc.
B.  Hi Lạp, Roma, Ấn Độ, Trung Quốc.
C.  Ai Cập, Lưỡng Hà , Ấn Độ, Trung Quốc.
D.  Ai Cập, Roma, Hi Lạp, Trung Quốc.
Câu 2 : Nhà nước cổ đại Phương Đông là nhà nước gì?B4 H
A. Dân chủ chủ nô  B. Cộng hòa  C. Quân chủ chuyên chế  D. Quân chủ lập hiến
Câu 3: Những người hầu hạ, phục dịch vua và quý tộc được gọi chung là:B4-H
A. Nông dân  B. Nông dân công xã  C. Nô lệ   D. Thợ thủ công

Bài 5

Các
Quốc
Gia
Cổ
Đại
Phương
Tây
Câu 1: Các quốc gia cổ đại phương Tây là:B5B
A. Trung Quốc, Ai Cập                          B. Ai Cập, Lưỡng Hà
C. Lưỡng Hà, Ấn Độ                              D. Hi Lạp, Rô Ma
Câu 2: Xã hội cổ đại Hi- Lạp, Rô- ma gồm những giai cấp nào?B5B
  A. Nông dân,  nô lệ   B. Nông dân, quý tộc    C. Chủ nô, nô lệ     D. Quý tộc, nô lệ
Câu 3: Thân phận của người nô lệ dưới chế độ chiếm hữu nô lệ là gì?B5 H
A. Phụ thuộc vào chủ
B. Phụ thuộc một phần vào chủ
C. Không phụ thuộc vào chủ
D. Phụ thuộc hoàn toàn vào chủ

Câu 1: Em hiểu thế nào là xã hội chiếm hữu nô lệ?B5H(2đ)
Xã hội chiếm hữu nô lệ là xã hội có hai giai cấp cơ bản chủ nô và nô lệ, dựa trên sức lao động của nô lệ và bóc lột nô lệ.

Bài 6
Văn
Hóa
Cổ
Đại
Câu 1: Công trình kiến trúc nổi tiếng ở Ai Cập là:B6B
A. Kim Tự Tháp                                   B. Thành Ba- Bi- Lon
C. Đền Pác- Tê- Nông                                     D. Trường đấu Cô- Li- Dê
Câu 1:Em hãy nên những thành tựu văn hoá lớn của các quốc gia phương Đông cổ đại?(5đ)
Câu 2 : Người Hi Lạp và Rôma đã có những thành tựu văn hoá gì?(5đ)
                                              ĐÁP ÁN
Câu 1. Các dân tộc phương Đông thời cổ đại đã có những thành tựu văn hoá :
- Dựa vào sự chuyển động của mặt trăng, mặt trời và các hành tinh, người phương Đông cổ đại đã có những kiến thức về thiên văn và sáng tạo ra lịch. (1,5 đ)
- Chữ viết và chữ số: (2đ)
+ Chữ tượng hình, giấy pa pi rút.
+ Ai Cập nghĩ ra phép đếm đến 10, tính số pi=3,16, Lưỡng Hà giỏi số học. Ấn Độ tìm ra số 0.
- Kiến trúc, điêu khắc: Kim tự tháp (Ai Cập), thành Babilon (Lưỡng Hà)… (1,5đ)
Câu 2 . Người Hy Lạp, Rô Ma đã có những đóng góp  về văn hoá:
-Người phương Tây đã dựa vào sự chuyển động của trái đất quanh mặt trời để tính lịch. (1đ)
-Tạo ra hệ chữ cái a, b, c. (1đ)
-Toán học, vật lí, thiên văn, sử học, địa lý, triết học đều đạt trình độ cao. (1đ)
-Văn học phát triển với nhiều bộ sử thi nổi tiếng. (1đ)
-Nghệ thuật: đền Pactơnông (Hy Lạp) , đấu trường Côlidê (Rô Ma), tượng lực sĩ ném đĩa, tượng thần vệ nữ. (1đ)

Bài 7
Ôn
tập



Bài 8
Thời
nguyên
thủy
trên
đất
nước
ta
Câu 1: Công cụ của người nguyên thủy làm bằng:B8H
A. Đồng                    B. Sắt                             C. Đá                                       D. Nhôm
Câu 2: Những dấu tích của người tối cổ trên đất nước ta, cách ngày nay khoảng bao nhiêu năm?B8B
A. 4-5 triệu năm       B. 40 – 30 vạn năm       C. 3 – 2 vạn năm             D. 4000 năm
Câu 3: Dấu tích của người tối cổ trên đất nước ta được tìm thấy ở:B8B
A. Lạng Sơn   B. Thanh Hóa  C. Đồng Nai    D. Khắp cả ba miền

Câu3 : Em hãy chứng minh từ xa xưa trên đất nước ta có người tối cổ sinh sống? 2đ B8V
ĐÁP ÁN
- Ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn) người ta đã phát hiện những chiếc răng của người tối cổ.(1đ)                                                                                     
- Ở núi Đọ, Quan Yên ( Thanh Hóa); Xuân Lộc (Đồng Nai) người ta phát hiện nhiều công cụ đá ghè đẽo thô sơ. (1đ)



Bài 9
Đời
Sống
Của
nguyên
thủy
trên
đất
nước
ta


Bài 10
Những
chuyển
biến
trong
đời sống
kinh
tế
Câu 1: Di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa) có niên đại cách đây khoảng  bao nhiêu năm? B10-B
A. 2000 – 1500 năm  C. 4000 – 3500 năm
B. 3000 – 2500 năm   D. 5000 – 4500 năm
Câu 2: Thời Nguyên (Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa) con người đã phát minh ra: B10-B
A. Lửa                                                                   C. Cung tên
B. Thuật luyện kim, nghề nông trồng lúa nước    D. Cây bầu, bí

Bài 11
Những
chuyển
biến
về
hội

Câu 1: Nhiều chiềng, chạ có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành:B11 B
A. Làng bản              B. Thôn                C. Xã                    D. Bộ lạc

Câu 2: Thời Phùng Nguyên,  Hoa Lộc xã hội đổi mới ở chổ:
a. Chế độ mẫu hệ xuất hiện.
b. Chế độ phụ hệ thay thế chế độ mẫu hệ.
c. Nam-nữ bình đẳng.
d. Nữ giới làm công việc nặng nhọc hơn nam giới.
Câu 3:Thời Phùng Nguyên, Hoa Lộc có nhiều ngôi mộ không có chôn của cải, có nhiều ngôi mộ chôn theo nhiều của cải điều này thể hiện : B11-H
a. Xã hội bình đẳng.
b. Xã hội phân hóa giàu nghèo.
c. Xã hội toàn là người giàu.
d. Xã hội toàn là người nghèo.
Câu 4: Văn hóa Đông sơn là ở:
a. Tây Nam Bộ.
b. Nam Trung Bộ.
c. Đông Nam Bộ.
d. Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.


Bài 12
Nước
Văn
Lang
Câu 2 (3đ): Vẽ sơ đồ tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang và giải thích.B12-H

Câu 2(3đ): Mỗi hàng đúng 0,5đ






Hùng  Vương
Lạc hầu- Lạc tướng
(Trung ương)

 
 



                                                                                                

Lạc tướng
(Bộ)
 
Lạc tướng
(Bộ)
 
 


                                                                                                       

Bồ chính
(chiềng, chạ)
Bồ chính
(chiềng, chạ)
Bồ chính
(chiềng, chạ)

- Đứng đầu nhà nước Văn Lang là Hùng Vương.                                                            0,25đ
- Giúp việc cho vua là Lạc hầu, Lạc tướng.                                                            0,25đ
- Cả nước được chia thành 15 bộ.                                                                   0,25đ
- Đứng đầu mỗi bộ là Lạc tướng.                                                                     0,25đ
- Dưới bộ là chiềng, chạ.                                                                                 0,25đ
- Đứng đầu chiềng, chạ là bồ chính. 
Câu 1: Cả nước Văn Lang được chia thành:B12 B
A. 14 bộ                    B. 15 bộ               C. 16 bộ                         D. 17 bộ
Câu: “Các vua Hùng đã có công dựng nước
   Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”
Câu danh ngôn trên là của ai? (Hồ Chí Minh)
Câu: Ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày, tháng nào âm lịch? (10/3)


Bài 13
Đời
sống
vật
chất
tinh
thần
của
dân
Văn
Lang


14
Nước
Âu
Lạc


15
Nước
Âu
Lạc
(TT)


16
Ôn
Tập
Chương
I và II
B8-
B15


17
Cuộc
Khởi
Nghĩa
Hai
Trưng
Năm
40
“ Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này”
Bốn câu thơ trên gợi cho em nhớ lại cuộc khởi nghĩa nào, vào thời gian nào?(Hai Bà Trưng năm 40)
Câu 1: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ vào thời gian  nào?B17
A. Mùa xuân năm 40                                B. Mùa xuân năm 42
C. Mùa xuân năm 43                                  D. Mùa xuân năm 43
Câu 2:  Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở đâu?B17
A. Hát Môn (Hà Nội)                                B. Ba Vì (Hà Tây)
C. Đan Phượng (Hà Tây)                                     D.Tam Đa


18
Trưng
Vương
Cuộc
Kháng
Chiến
Chống
Quân
Xâm
Lược
Hán
Câu 1: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán diễn ra vào thời gian nào?B18
A.40- 41                                                     B.41 -  42                                       C.42- 43                                                        D.43 - 44
Câu 2: Tháng 3- năm 43, Hai Bà Trưng đã hi sinh oanh liệt tại đâu?B18
A. Cấm Khê  B. Lãng Bạc  C. Cổ Loa  D.Mê Linh


Bài 19
Từ
Sau
Trưng
Vương
Đến
Trước
Nam
Đế (Giữa
Thế
Kỉ
I-
Giữa
thế
Kỉ
VI


Bài 20
Từ
Sau
Trưng
Vương
Đến
Trước
Nam
Đế (Giữa
Thế
Kỉ
I-
Giữa
thế
Kỉ
VI (tt)

Câu 1: Bà Triệu có tên thật là gì?B20
A. Nguyễn Tam Trinh                                 B. Bà Thánh Thiên                                        C. Bà Lê Chân                                          D. Triệu Thị Trinh
Câu 2: Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu nổ ra vào thời gian nào?B20
A. 242                                                        B. 244
C. 246                                                         D. 248
Câu 3: Lăng Bà Triệu hiện nay được thờ ở tỉnh nào?
A. Vĩnh Phúc  B. Thanh Hóa  C. Nghệ An    D. Hà Tĩnh
Câu 4: Thế kỉ I đến VI tôn giáo nào được du nhập vào nước ta?
A. Nho giáo  B. Phật giáo  C. Đạo giáo   D.  Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo
Câu 5: Phật giáo ra đời ở nước nào?
A. Ấn Độ  B. Trung Quốc  C. Thái Lan  D. Lào
Câu 6: Nho giáo do ai sáng lập ra?
A. Lão Tử  B. Trang Tử  C. Khổng Tử  D. Mạnh Tử

Câu 1: Nêu những nét mới về văn hóa nước ta trong các thế kỉ I - VI?. Vì sao người Việt vẫn giữ được phong tục, tập quán và tiếng nói của tổ tiên? (10đ)
Đáp án
a. Những nét mới về văn hóa nước ta trong các thế kỉ I - VI:(5đ)
- Bọn đô hộ mở 1 số trường học ở các quận dạy chữ Hán.(2,5đ)
- Đưa Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo và những luật lệ, phong tục vào nước ta.(2.5đ)
b. Người Việt vẫn giữ được phong tục, tập quán và tiếng nói của tổ tiên là vì:(5đ)
- Trường học được mở chỉ có tầng lớp trên mới có tiền cho con em mình đi học, còn đại đa số nông dân lao động nghèo khổ, không có điều kiện đi học.(2,5đ)
- Phong tục, tập quán và tiếng nói của tổ tiên đã được hình thành từ lâu đời, nó trở thành đặc trưng riêng của người Việt, bản sắc dân tộc Việt và có sức sống bất diệt.(2,5đ)
Câu2(2,5đ): Trong thời kì Bắc thuộc nhân dân ta đã giữ được những phong tục, tập quán gì? Ý nghĩa của điều đó?
Câu2(2,5đ): Trong thời kỳ Bắc thuộc:
- Nhân dân ta giữ được: Tiếng nói và các phong tục,nếp sống với những đặc trưng riêng của dân tộc như: xăm mình,nhuộm răng,ăn trầu cau,làm bánh....        (1,5đ)
- Ý nghĩa của điều đó là: chứng tỏ sức sống mãnh liệt của tiếng nói, phong tục tập quán, nếp sống riêng của dân tộc không gì có thể tiêu diệt được.                 (1đ)

Bài 21  Khởi nghĩa Lý Bí ­­­-nước Vạn Xuân (542-602)
Câu 1: Khởi nghĩa Lí Bí là chống quân xâm lược nào?
A. Lương  B. Ngô  C. Đường  D. Tùy
Câu 2: Sau khi lên ngôi, Lý Bí đặt tên nước là gì ?B21
A. Nam Việt                                                         B. Đại Việt                                          C. Vạn Xuân                                            D. Đại Cồ Việt
Câu 3: Đầu thế kỷ thứ VI triều đại phong kiến Phương Bắc đô hộ nước ta là ?B21
A. Nhà Ngô                                                          B. Nhà Lương                                        C. Nhà Hán                                                        D. Nhà Đường
Câu 4: Khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ vào năm nào ? tại đâu ?B21
A. 542 – Thái Bình                                    B. 543 – Thanh Hoá                               C. 544 – Vĩnh Phúc                                  D. 546 – Hưng Yên


Bài 22  Khởi nghĩa Lý Bí ­­­-nước Vạn Xuân (542-602) (tt)
Câu 5: Người được Lí Bí trao chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược là: B22
A. Lý Bí                                                      B. Triệu Quang Phục                               C. Mai Thúc Loan                                              D. Phùng Hưng
Câu 6: Triệu Quang Phục chọn nơi nào làm căn cứ ?B22
A. Dạ Trạch                                                        B. Sông Bạch Đằng                  C.Cổ Loa                                                       D. Hồ Điển Triệt
Câu3(3đ):   Lý Bí đã làm gì sau khi khởi nghĩa thắng lợi?
Câu3(3đ):  Sau khi khởi nghĩa thắng lợi Lý Bí đã làm:
- Năm 544 Lý Bí lên ngôi Hoàng đế (Lý Nam Đế) đặt niên hiệu là Thiên Đức.(1đ)                                                                                                                                                                                                            
- Đặt tên nước là Vạn Xuân, đống đô ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội).          (0,75đ)
- Xây dựng triều đình với hai ban. Triệu Túc giúp vua cai quản việc           (0,75đ)
+ Đứng đầu ban văn là Tinh Thiều.                                                               (0,25đ)
+ Đứng đầu ban võ là tướng Phạm Tu                                                         (0,25đ)


Bài 23 Những cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỉ VII-IX
Câu 1: Mai Hắc Đế (Vua Đen) là ai?
A. Mai Phụ B. Mai Thúc Loan C. Phùng Hưng  D. Khúc Hạo

Bài 24- Nước Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X
Câu 1 : Nước Cham-pa lúc đầu có tên là gì ?
A. Lâm Ấp  B. Văn Lang  C. Miên  D. Chân Lạp
Câu 2: Trình bày những nét chính về kinh tế và văn hóa của nước Cham-Pa từ thế kỷ II đến thế kỷ X ?(3đ)B24
Câu 2: + Kinh tế ( 1,5 đ )
          - Biết sử dụng công cụ bằng sắt
          - Khai thác lâm thổ sản, nghề làm đồ gốm khá phát triển
          - Thường trao đổi buôn bán với nhân dân các quận Giao Châu, Ấn Độ, Trung Quốc
           + Văn hóa ( 1,5 đ ) : Những thành tựu của nhân dân Cham- Pa
          - Từ thế kỷ IV, người Cham-Pa đã có chữ viết riêng
          - Nhân dân Cham-Pa theo đạo Bà La Môn và đạo Phật
          - Sang tạo ra một nền nghệ thuật đặc sắc, tiêu biểu là tháp Cham-Pa, đền tượng
         


Bài 25 Ôn tập chương III
Câu 1: Tại sao sử cũ gọi giai đoạn lịch sử nước ta từ năm 179 TCN đến thế kỉ X là thời Bắc thuộc?
Vì: Từ năm 179 TCN đến thế kỉ X, dân tộc ta liên tiếp chịu sự thống trị, ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc.


Bài 26- Cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương



Bài 27 Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Câu 1: Chiến thắng Bạch Đằng chống quân Nam Hán lần thứ hai diễn ra vào năm nào ?B27
A. 905                                                        B. 931
C. 938                                                        D. 1228
Câu 1: Diễn biến của chiến thắng Bạch Đằng năm 938. Vì sao nói: trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938 là chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta ?(4đ)B27
Câu 1: + Trình bày được diễn biến ( 3 điểm )
           - Cuối năm 938 quân Nam Hán tiến vào nước ta
          - Ngô Quyền cho thuyền nhẹ ra khiêu chiến khi nước thủy triều đang lên
          - Đợi nước thủy triều rút, Ngô Quyền hạ lệnh dốc toàn lực đánh quật trở lại
          - Khi nước thủy triều rut nhanh, Ngô Quyền cho quân mai phục hai bên bờ đánh tạt ngang
          - Quân Nam Hán rối loạn thuyền xô vào bãi cọc vỡ tan tành
          - Hoằng Tháo bị chết, quân Nam Hán bị thiệt hại quá nữa, vội rút quân về nước
            + Ý nghĩa ( 1 điểm )
          - Cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán giành thắng lợi
          - Khẳng định nền độc lập của đất nước ta
Câu4(1,5đ): Sự kiện nào khẳng định thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta trong sự nghiệp giành lại độc lập? Tại sao?
Câu4(1,5đ):  Sự kiện khẳng định thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta trong sự nghiệp giành lại độc lập:
-         Đó là chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền.                        (0,5đ)
-         Tại vì:
+ Đã đè bẹp âm mưu xâm lược của kẻ thù.                                                 (0,25đ)
+ Chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ hơn một ngìn năm của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với nhân dân ta.                                                                 


Bài28- Ôn tập