Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Sự kiện 1979 và giới hạn của im lặng

Sự kiện 1979 và giới hạn của im lặng

Lịch sử có chức năng là "người thầy" của cuộc sống. Chính lịch sử dạy cho hiện tại những sai lầm cần tránh khỏi, sự tỉnh táo trước những gì tương tự đã từng xẩy ra.
Buổi lên lớp đầu tiên của tôi trong năm Quý Tỵ là chiều thứ Hai, hai tiết học cuối của buổi chiều ngày 18/2 - mồng 9 Tết mới đây, tại ĐH Khoa học Huế! Tôi dạy bài "Lịch sử Trung Quốc" cho sinh viên lớp Hán Nôm K36.
Sau mấy câu chào làm quen, tôi hỏi: " Hôm qua, 17/2, đó là ngày gì?" Một nữ sinh là ni cô nói: "Một ngày bình thường như mọi ngày". Sinh viên tiếp theo là một sadi (sư bác): "Chắc là ngày... sinh nhật của thầy phải không ạ?"...(!)
100% không biết!
Có một cái gì đó nghẹn tắc trong nhịp thở khó nhọc của tôi. Khi 100% sinh viên năm thứ nhất đang ngồi trước mặt mình, chỉ biết được về một ngày lịch sử không thể quên đó, là sau khi tôi nói, đó là ngày cách đây 34 năm, Trung Quốc nổ súng trên bầu trời biên giới.
Thấy nét mặt của tôi không vui, một sinh viên rụt rè: "Chúng em có lỗi". Tôi nói, các em đợi một chút và, tôi gửi đi một lời tâm sự lên mạng, nói về điều vừa xảy ra, lúc đó là 15h15 phút! Gửi xong, tôi đưa cho mấy sinh viên đọc dòng thông tin "HVT đã nói" và, nói tiếp: Các em chỉ có lỗi một phần, lỗi trầm trọng là ở "người lớn" chúng tôi. Lịch sử dân tộc dường như  đã bị rơi vào quên lãng.
Có lẽ cái não nề của cơ sự "không biết, không nhớ" gì về một giai đoạn đau thương, quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam của những sinh viên năm thứ nhất không phải là ngoại lệ!
Nhưng, chắc chắn rằng sự kiện mà tôi vừa nêu trên là chuyện không hề nhỏ một chút nào. Nó không chỉ là một nỗi đau mà là sự nhức nhối thật sự, nếu suy rộng, nó còn là một đòn "đánh" vào tất cả các nhà sử học: Lịch sử sẽ là gì nếu mỗi chúng ta không hề dám nói thật về... sự thật?
Một hình ảnh nhắc nhớ về sự kiện chiến tranh biên giới năm 1979. Ảnh tư liệu
"Lãng quên" là  có tội!
Trong một buổi gặp mặt cử tri gần đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng: Chúng ta có "cái bệnh" rất lớn là không dám nói lên sự thật (SGGP, 13/2). Lời cảnh tỉnh (xác nhận) đó cũng là lần đầu tiên được chính thức phát đi từ người đứng đầu Nhà nước kể từ gần 70 năm nay(!). Tất nhiên, Chủ tịch nước đề cập đến nhiều vấn đề và, dĩ nhiên, trong đó có sử học.
Khi tôi là sinh viên, được dạy rằng có những sự thật lịch sử chưa nên nói vì chưa có lợi cho cách mạng. Đó là năm 1974. Ai cũng dễ dàng đồng ý rằng trong chiến tranh, quả thật rất cần những khoảnh khắc, những "chương, hồi của sự im lặng" về sự thật, vì sợ bị kẻ thù lợi dụng, lòng dân ly tán...
Thế nhưng, cái tai họa của vấn đề là ở chỗ: Giới hạn của sự im lặng (chưa công bố, chưa nói) nằm ở tầng mức nào, bao lâu hay đến bao giờ? Sự mập mờ, đa nghĩa của cụm từ "có lợi cho cách mạng" đã bị biến hóa, như sự kiện 17/2/1979! Trong khi đó, luật pháp ở nhiều nước quy định việc giải mã toàn bộ bí mật lịch sử chỉ khoảng trên dưới 30 năm.
Một trong những định đề nổi tiếng của Karl Marx là ông phê phán các sử gia tư sản luôn coi 30 năm lịch sử vừa mới diễn ra là chính trị. Vì có nhiều bí mật chưa tỏ tường hóa, nên họ dùng cụm từ 'hậu hiện đại' hoặc 'sau hiện đại' (post modern, after modern) để chỉ quãng thời gian tranh tối, tranh sáng ấy. Theo Marx, lịch sử là tất cả những gì vừa xảy ra, kể cả khoảnh khắc vừa mới trôi qua.
Trong một buổi gặp mặt cử tri gần đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh rằng: Chúng ta có "cái bệnh" rất lớn là không dám nói lên sự thật (SGGP, 13/2).
Điều tiếp theo cần phải bàn là tại sao chúng ta không dám đưa sự thật lịch sử vào sách giáo khoa? Nói rằng sự thật đó có thể làm tổn hại đến tình hữu nghị hay bang giao quốc tế là không hề thuyết phục.
Chẳng lẽ người Mỹ dựng phim, mở hội thảo về tội ác của chủ nghĩa fascio lại làm mất đi quan hệ hữu hảo Đức - Mỹ sao? Không ai có thể thay đổi lịch sử đồng nghĩa với mặc định hiển nhiên rằng chấp nhận nó như là một phần của quá khứ, dẫu vinh quang, niềm vui hay cay đắng.
Một cựu chiến binh ở biên giới phía Bắc năm 1984 - hiện là giảng viên lịch sử kể rằng, năm 1992, cơ quan anh có tổ chức gặp mặt cựu chiến binh từ 1945-1975; có nghĩa là những ai đã từng là cựu chiến binh sau năm 1975 không được mời dự(!). Sự thật đó thật là cay đắng nhưng vẫn chưa thể đắng cay bằng việc chúng ta lãng quên sự hy sinh dũng cảm của hàng vạn con người đã ngã xuống cho dân tộc trường tồn.
Giữ gìn bản sắc văn hóa Việt như thế nào?
Chúng ta thường khẳng định việc phải giữ gìn bản sắc củavăn hóa Việt Nam. Thử hỏi rằng, bản sắc dân tộc Việt là gì nếu không phải phần lớn nhất, độc đáo nhất, phi thường nhất, chính là truyền thống không thể bị đồng hóa, truyền thống quật cường bất khuất của Tổ quốc hình chữ S?
Nói như thế có nghĩa là, không một ai có quyền lãng quên lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Cố tình quên hay nói khác về "sự nhớ" nửa vời là có tội với tiên tổ, giống nòi.
Lịch sử có chức năng là "người thầy" của cuộc sống. Chính lịch sử dạy cho hiện tại những sai lầm cần tránh khỏi, sự tỉnh táo trước những gì tương tự đã từng xẩy ra, bởi lịch sử không lặp lại nhưng, có thể, bắt chước chính nó. Tại sao lại không nên khi cả VN và TQ đều rút ra được những bài học cần thiết để tránh việc lặp lại những sai lầm?
Nếu cứ coi quá khứ không thể thay đổi sẽ làm tổn hại hiện tại, tại sao lại có nhiều như thế những đường phố Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Trần Hưng Đạo, Quang Trung...?
Trong cuộc đời, đôi khi có những câu trả lời cho những vấn đề được coi là phức tạp thật giản dị: Nếu chưa đưa sự kiện 17/2/1979 vào SGK thì bao giờ sẽ đưa vào? Nhất định phải đưa vào bởi nói thật về sự thật phải là bản chất của lịch sử. Sự trù trừ, "tiếng kèn ngập ngừng" của cách nói chỉ làm cho lịch sử thêm rối rắm, nhiêu khê. Không thể tiếp tục nỗi đau rằng đã và đang có hàng triệu con người trẻ tuổi chẳng biết gì lịch sử anh dũng của cha ông.
Ngày 6 và 9/8/1945, người Mỹ thả hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagazaki, làm chết cả triệu người. Đến năm 1951, Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật vẫn được ký kết và, dù 62 năm đã trôi qua, quan hệ đồng minh giữa hai nước vẫn là "hòn đá tảng" (nguyên văn, key stone)...
Chỉ có những cái đầu thiển cận mới cho rằng quá khứ lịch sử làm tổn hại đến quan hệ hiện tại. Với những cái đầu như thế, việc né tránh quá khứ chỉ càng làm cho hiện tại phức tạp, đớn đau hơn...

Đối diện hay lảng tránh sự thật?

Đối diện hay lảng tránh sự thật?

Hiểu biết lịch sử cũng chính là giáo dục cho các em lòng yêu nước, hiểu cái mạnh yếu của dân tộc, để có ý thức trách nhiệm xây dựng đất nước. Tạo nên một nội lực, một tâm thế cần thiết phù hợp để đối diện thực tiễn...
Sự thật vẫn phải là... sự thật
Gần đây, nhiều nhà sử học, nhà giáo đã lên tiếng ủng hộ việc đưa "cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 vào sách giáo khoa" sửa đổi năm 2015 với mức độ và phạm vi sâu rộng hơn. Người viết đồng tình với đề xuất này và cho rằng đây không chỉ là câu chuyện riêng của một sự kiện lịch sử mà còn đặt ra vấn đề lớn lao hơn.
Đó là sự cần thiết phải thay đổi cách viết và cách dạy môn Lịch sử trong bối cảnh hiện nay.
Đa số các ý kiến đưa ra đều thống nhất rằng cần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây là nguyên tắc tối thượng mà những người viết sử và dạy sử luôn phải đặt lên hàng đầu.
Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn có những ý kiến cho rằng, khi nghiên cứu và truyền bá lịch sử, chỉ nên chọn lọc những sự kiện phù hợp với định hướng chính trị.
Chính vì thế SGK Lịch sử hiện nay chưa đưa ra được cái nhìn đa chiều về những sự kiện và nhân vật lịch sử. Chúng ta nói nhiều tới những chiến thắng mà không đề cập tới những thất bại. Môn Lịch sử na ná trở thành môn... chính trị tự lúc nào.
Trong lối tư duy đó, nhiều sự kiện đã trở thành đề tài nhạy cảm, cấm kị, hầu như không được nhắc đến hoặc chỉ đề cập tới rất ngắn gọn trong chương trình trung học phổ thông, và chưa được phổ biến đầy đủ tới người dân. Sự kiện 1979 chỉ là một trong số đó.
Người viết cho rằng điều này không những không phù hợp mà còn phạm phải điều nguyên tắc tối cao của ngành lịch sử như đã nói ở trên.
Xin được nhắc lại một câu chuyện nổi tiếng được ghi lại trong Sử ký. Tướng quốc nước Tề thời Xuân Thu là Thôi Trữ giết vua Trang Công để giành ngôi. Quan thái sử chép lại sự việc này vào quốc sử. Thôi Trữ bắt ông chép khác đi, ông không chịu nên bị giết. Người em quan thái sử được bổ nhiệm thay anh cũng vẫn chép như vậy.
Thôi Trữ nổi giận lại giết người đó. Người em thứ hai, thứ ba của quan thái sử cũng vì thế mà bị giết. Chỉ tới khi người em thứ tư thà chết không chịu thay đổi cách chép sử theo lệnh của Thôi Trữ, ông ta đành thôi không giết quan thái sử nữa.
Câu chuyện này cho thấy để giữ gìn sự trung thực và tôn nghiêm của lịch sử, các sử gia suốt hàng ngàn năm nay luôn phải giữ lòng trong sáng, công tâm. Thậm chí có người phải hi sinh cả tính mạng để sự thật không bị bẻ cong và vùi lấp.
Lịch sử trên hết và trước hết phải là sự thật. Người làm sử phải ghi chép lại trung thực những gì diễn ra chứ không thể chỉ chọn lọc những chi tiết được cho là "có lợi" hay "phù hợp".
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị tàn phá tháng trong chiến tranh biên giới năm 1979. Ảnh tư liệu
Lịch sử được trao thêm nhiệm vụ tuyên truyền?
Từ lâu ở Việt Nam, vấn đề này đã được lưu ý tới nhưng chưa được giải quyết triệt để. Ngành lịch sử của chúng ta chưa có sự độc lập cần thiết. Bên cạnh nhiệm vụ truyền đạt tri thức, ngành lịch sử, mà cụ thể là những cuốn SGK Lịch sử, còn được trao thêm nhiệm vụ tuyên truyền, ca ngợi.
Cách tiếp cận này đã dẫn đến rất nhiều hạn chế mà điển hình hơn cả là hạn chế trong cách đặt trọng tâm của chương trình học tập môn Lịch sử hiện nay.
Kết quả là học sinh không tìm được niềm đam mê với môn Lịch sử, thiếu cái nhìn tổng quát về tiến trình lịch sử dân tộc và kiến thức lịch sử của học sinh đang giảm sút nghiêm trọng.
Sách giáo khoa Lịch sử hiện nay chưa đưa ra được cái nhìn đa chiều về những sự kiện và nhân vật lịch sử. Chúng ta nói nhiều tới những chiến thắng mà không đề cập tới những thất bại. Môn Lịch sử na ná trở thành môn... chính trị tự lúc nào.
Tư duy viết và dạy Lịch sử theo lối mòn lâu nay sẽ được giải quyết ra sao khi tiếp cận với cuộc chiến tranh biên giới 1979? Cần có sự nhất quán trong phương pháp tư duy, coi cuộc chiến này giống như những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc khác mà lịch sử đã ghi nhận, hay chúng ta sẽ e dè khi đề cập tới nó, vì những nguyên nhân khác?
Thực ra sự công khai và công bằng khi nhìn nhận về cuộc chiến này sẽ góp phần xây dựng đối sách phù hợp cho Việt Nam với Trung Quốc, không chỉ trong ngắn hạn mà cả dài hạn.
Đặt một cuộc chiến tranh mới diễn ra cách đây 34 năm trong chuỗi những cuộc chiến tranh suốt hàng ngàn năm lịch sử giữa hai nước, sẽ góp phần làm sáng rõ mối quan hệ hợp tác và xung đột hết sức phức tạp giữa Việt Nam và Trung Quốc mà chúng ta đã và đang phải đối diện.
Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 khẳng định rằng sự tương đồng về thể chế chính trị chưa bao giờ là điều kiện cần và đủ để có được hòa bình.
Thế hệ trẻ sẽ nhận thức được rằng những xung đột đó không phải chỉ là chuyện của thời Lý, Trần, Lê... Nhưng hiểu biết lịch sử cũng chính là giáo dục cho các em lòng yêu nước, hiểu cái mạnh yếu của dân tộc, để có ý thức trách nhiệm xây dựng đất nước. Tạo nên một nội lực, một tâm thế cần thiết phù hợp để đối diện thực tiễn, thay vì lảng tránh.
Hơn nữa, đặt trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi mà hợp tác, phát triển trở thành xu hướng tất yếu, thì việc nhìn thẳng vào cuộc chiến này càng có ý nghĩa hơn nữa.
Bởi lẽ, đặt bên cạnh những thành tựu mà hai nước đã đạt được trong mối quan hệ song phương thì những tổn thất do cuộc chiến tranh này gây ra lại càng có ý nghĩa cảnh tỉnh. Do đó, việc đưa nội dung cuộc chiến tranh này vào SGK không những không khơi gợi hận thù mà sẽ góp phần củng cố nỗ lực gìn giữ và xây dựng quan hệ bình đẳng, hữu nghị giữa hai nước.
Việc đưa sự kiện lịch sử năm 1979 vào SGK mới sao cho đúng với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó là một yêu cầu hết sức thiết thực. Nó cũng đặt ra một vấn đề mà các nhà sử học, các nhà giáo cần nghiêm túc khi đánh giá, nhìn nhận về lịch sử đất nước. Cần có cái nhìn trung thực, tôn trọng hiện thực khách quan, với phương pháp luận đúng đắn, vì lịch sử cũng là một bộ môn khoa học.
Chỉ có như vậy lịch sử mới thực sự là tấm gương để các thế hệ người Việt có thể soi vào đó để "ôn cố, tri tân", và hậu thế có cách hành xử đúng đắn, mềm dẻo. Bảo vệ hòa bình, hợp tác và hữu nghị nhưng trên nguyên tắc đặt lợi ích chủ quyền, độc lập dân tộc lên trên hết.
Khương Duy

Giải mật nguyên nhân cái chết của Gagarin

Giải mật nguyên nhân cái chết của Gagarin

Sau hơn 40 năm giữ bí mật, nguyên nhân thực sự về cái chết của nhà du hành vũ trụ Liên Xô Yuri Gagarin, người đầu tiên vào vũ trụ, đã được công khai.
Gagarin, giải mật, nguyên nhân, cái chết, phi hành gia
Nhà du hành vũ trụ nổi tiếng của Nga Aleksey Leonov tiết lộ sự thật đằng sau những sự kiện diễn ra vào ngày bi kịch.
Trong suốt hơn 20 năm, Aleksey Leonov, người đầu tiên bước đi trong không gian vào năm 1965, đã đấu tranh để được phép tiết lộ chi tiết những gì xảy ra với huyền thoại Yuri Gagarin vào tháng 3/1968.
Quay lại thời điểm đó một hội đồng nhà nước đã được thành lập để điều tra tai nạn (Leonov có một phần trong đó) đã kết luận rằng, một tổ lái MiG-15UTI, Yuri Gagarin và hướng dẫn viên đầy kinh nghiệm Vladimir Seryogin đã cố gắng tránh một vật thể bên ngoài - như ngỗng hoặc khinh khí cầu, bằng cách lượn và dẫn tới một cú bổ nhào rồi lao xuống đất. Cả hai phi công đều chết trong vụ bay thử.
"Với dân thường, kết luận như vậy có thể chấp nhận được nhưng với chuyên gia thì không thể", Leonov nói. Ông này luôn giữ lập trường kiên định về những bí ẩn quanh cái chết của Gagarin và muốn ít nhất gia đình phi hành gia này biết được sự thật.
"Trên thực tế, mọi thứ khác hẳn", Leonov nói.
Theo một tài liệu được giải mật, có lỗi con người đằng sau tai nạn thảm khốc đó, một chiến đấu cơ SU-15 chưa được cấp phép bay rất gần với máy bay của Gagarin.
"Trong trường hợp này, phi công không tuân thủ chỉ dẫn, lao xuống độ cao 450m. Tôi biết điều này vì tôi đã có mặt ở đó, tôi nghe thấy tiếng và nói với nhân chứng. Máy bay chiến đấu đã lượn sát với máy bay của Gagarin, làm đổi hướng máy bay của phi hành gia này và khiến nó bổ nhào với tốc độ 750km/h".
Tuy nhiên, tên người chịu trách nhiệm về cái chết của Gagarin không được tiết lộ. Giữ kín tên người này là điều kiện mà Leonov được phép lên tiếng về cái chết của Gagarin. Theo đó, chỉ có thể biết, phi công chiếc chiến đấu cơ đó hiện đã 80 tuổi và không còn khỏe mạnh.
"Tôi hứa không tiết lộ tên ông ấy", Leonov cho hay.
Có hàng loạt học thuyết âm mưu bao trùm lên vụ Gagarin gặp nạn, nó gồm cả tự tử và thậm chí là đâm phải đĩa bay.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Tết Gạ Ma Thú của người Hà Nhì huyện Mường Tè

Lá gan lợn để nguyên bày ra mâm lễ, sau khi hành lễ xong thầy cúng và người có chức sắc trong bản cùng xem và đánh giá năm đó có mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu hay không.

Người Hà Nhì ở xã biên giới Ka Lăng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu có rất nhiều ngày tết trong năm nhưng tưng bừng và nhộn nhịp, đặc biệt nhất là Tết Gạ Ma Thú (tết cấm bản) thường được làm vào những ngày đầu tháng Giêng.
Gạ Ma Thú bao gồm nhiều lễ cúng như: cúng mó nước, cúng rừng cấm, cúng thần mùa màng, cúng đầu bản, cuối bản, cúng thần sét, cúng thần lửa.... và điều đặc biệt nhất trong ba ngày tết, bản "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Mọi sinh hoạt tín ngưỡng và vui chơi được điều hành bởi thầy cúng và trưởng bản.
Ngày đầu tiên trong ba ngày tết là lễ cúng rừng cấm. Trong đời sống người Hà Nhì, ông thần rừng che chở cho bản làng, cung cấp cho đời sống nhiều thú, nhiều rau quả. Lễ cúng ngày thứ hai là lễ cúng bản. Lễ này được diễn ra ở đầu bản và cuối bản. Trong lễ cúng này cả bản đều tham gia để cầu mong trong năm mới bản làng bình yên, chăn nuôi, cấy trồng mùa màng tươi tốt, không bị dịch, sâu bệnh. Ngày thứ ba, khi núi rừng còn phủ một màn sương trắng thì cả bản đã thơm lừng mùi cơm nếp, bánh ngô. Các phụ nữ đã dậy đồ xôi, làm bánh ngô để làm quà tặng cho những người anh em về bản chung vui và khách ở xa đến.
Một buổi lễ cúng Gạ Ma Thú ở Lai Châu.

Lễ cấm rừng được người Hà Nhì coi như ngày tạ ơn rừng thiêng mang cho con người đủ thứ sinh sống hàng ngày

Sau khi cúng xong, họ tự ăn uống chúc tụng nhau đi săn không bị hổ, gấu vồ, nhà nào cũng có thịt sấy treo đầy trên gác bếp.

Lễ cúng bản, cúng rừng cả bản đều tham gia để cầu mong trong năm bản làng bình yên,
chăn nuôi, cấy trồng mùa màng tươi tốt, không bị dịch, sâu bệnh


Theo phong tục, gan con lợn mổ để cúng trên rừng cấm được các thầy cúng xem dự báo điềm lành, điềm gở trong năm

Phụ nữ đứng trước cửa rừng ca hát trong lúc cúng cấm rừng


Thầy cúng làm phép bằng những cây cọ quết tiết lợn để đuổi tà yêu


Ngày cấm bản được trang trí bằng cây tre, luồng báo hiệu nội bất xuất, ngoại bất nhập

Sau lễ cúng là lời chúc tụng và thưởng thức để tiếp sức cho một năm lao động no đủ, bội thu
Nghi lễ cắt tiết gà trước cửa rừng để chuẩn bị hành lễ


Theo quan niệm xa xưa, ngày cúng bản nhà nào có nhiều khách, hết nhiều rượu thì sẽ may mắn

Cúng xong cả bản đại tiệc nơi rừng thiêng để rừng làm chứng rồi ban cho niềm vui,
sức khỏe, mùa màng
Sau bữa ăn mọi người lấy cơm nếp vo tròn ném vào nhau với ý nguyện mùa sau thóc gạo sẽ dư thừa.

Trong đời sống người Hà Nhì ông thần rừng quan trọng lắm, che chở cho bản làng, cung cấp cho con người thịt chim thú và rau quả

Nguồn gốc ngày Valentine

(Baodautu.vn) Thánh Valentine là ai, nguồn gốc ngày lễ Valentine ra sao và sự khác biệt giữa các quốc gia trong ngày Valentine thế nào được lý giải như sau:

Thánh Valentine là ai?
Đã có nhiều vị thánh tử vì đạo của Kitô giáo tên là Valentine. Hai Valentines có vinh dự tử vì đạo vào ngày 14 tháng hai là Valentine thành Roma (Valentinus presb. M. Romae) và Valentine của Terni (Valentinus ep. Interamnensis. M. Romae).
Valentine của Rome là một linh mục ở Rome, người đã chịu tử đạo khoảng năm 269 và được chôn cất trên con đường Via Flaminia. Di hài của ông hiện nay đặt tại nhà thờ của thánh Praxed tại Rome, và nhà thờ Whitefriar dòng Cát Minh, ở Dublin, Ireland.
Valentine thành Terni đã trở thành giám mục của Interamna (hiện nay là Terni) khoảng năm 197 và được cho là đã tử vì đạo trong cuộc đàn áp dưới thời hoàng đế Aurelianus. Ông cũng được chôn cất trên đường Via Flaminia, nhưng ở một vị trí khác so với Valentine của Rome. Di hài của ông hiện nay đặt tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Valentine ở Terni (Basilica di San Valentino)
Bách khoa toàn thư Công giáo cũng nói về một vị thánh thứ ba có tên là Valentine đã được đề cập trong danh sách những người tử vì đạo trong ngày 14 tháng hai. Ông đã chịu tử đạo ở châu Phi với một số đồng đạo, nhưng không có gì hơn là được biết về ông.
Không có yếu tố lãng mạn nào có mặt trong tiểu sử của các vị thánh tử đạo này vào đầu thời trung cổ. Vào thời điểm một vị thánh Valentine liên quan đến chuyện tình lãng mạn vào thế kỷ 14, thì sự phân biệt giữa Valentine thành Rome và Valentine thành Terni đã hoàn toàn bị mất.
Vào năm 1969, trong việc sửa đổi Lịch các thánh, ngày lễ Thánh Valentine vào ngày 14 tháng 2 đã được đưa ra khỏi Lịch chung và được đưa vào hạng đặc biệt (lịch địa phương hoặc thậm chí quốc gia).
Nguồn gốc về ngày lễ tình nhân - Valentine
Có rất nhiều thông tin về nguồn gốc ngày lễ Valentine, giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là:
Nguồn gốc của ngày Valentine
Thánh Valentine thành Terni và các tông đồ, bức tranh do Richard de Montbaston của Pháp vào thế kỷ 14
Valentine là một linh mục dưới thời Hoàng đế La Mã Claudius II. Lúc bấy giờ là thế kỷ thứ 3, Đế quốc La Mã phải tham gia nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu và không được dân ủng hộ.
Do gặp phải khó khăn khi kêu gọi các chàng trai trẻ gia nhập vào quân đội, Claudius II cho rằng nguyên nhân chính là đàn ông La Mã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của họ và hôn nhân chỉ làm người đàn ông yếu mềm; do đó, Claudius II ra lệnh cấm tổ chức các đám cưới hoặc lễ đính hôn để tập trung cho các cuộc chiến.
Linh mục Valentine ở thành La Mã, cùng Thánh Marius đã chống lại sắc lệnh của vị hoàng đế hùng mạnh và tiếp tục cử hành lễ cưới cho các đôi vợ chồng trẻ trong bí mật. Khi bị phát hiện, linh mục Valentine đã bị bắt và kết án tử hình bằng hình thức kéo lê và bị ném đá cho đến chết.
Buổi chiều trước khi ra pháp trường, ông gửi tấm "thiệp Valentine" đầu tiên cho cô con gái của viên cai tù Asterius, người thiếu nữ mù lòa bẩm sinh đã được ông chữa lành bằng phép lạ trước đó, và ký tên "dal vostro Valentino" - from your Valentine ("Từ Valentine của con"). Cho đến nay, các cặp tình nhân vẫn có truyền thống ký tên bằng cụm từ "From your Valentine" của ngày xưa thay vì tên mình trong các tấm thiệp Valentine.
Dần dần, ngày 14 tháng hai hàng năm đã trở thành ngày trao đổi các bức thông điệp của tình yêu và Thánh Valentine đã trở thành vị Thánh bổn mạng của những lứa đôi. Người ta kỷ niệm ngày này bằng cách gửi cho nhau những bài thơ và tặng cho nhau những món quà truyền thống là hoa hồng và socola.
Ngày lễ tình nhân tại các quốc gia
Theo U.S. Greeting Card Association Mỹ, mỗi năm có hơn 1 tỷ thiệp Valentine được trao tay trong ngày lễ này trên thế giới, chỉ xếp hạng sau ngày Lễ Giáng Sinh. Tổ chức này ước lượng khoảng 85% khách hàng mua thiệp Valentine là phụ nữ.
Tại các trường tiểu học tại Bắc Mỹ, các giáo viên thường cho các em học sinh tự làm thủ công thiệp Valentine cho bạn bè trong lớp, các tấm thiệp đơn sơ do các em tự cắt vẽ và tô màu này phản ảnh những điều mà các em cảm kích về mỗi người bạn khác phái của mình trong lớp học.
Người Anh và Pháp đã tổ chức lễ này từ thời Trung cổ, nhưng đến thế kỷ 17, tập tục tặng thiệp làm bằng tay cho người yêu mới phổ biến. Hình ảnh thường thấy là hình trái tim, hoa hồng, mũi tên và vị thần tình yêu Cupid.
Tại Nhật Bản, nhiều nữ nhân viên có bổn phận phải tặng chocolate, bánh kẹo, hoa quả cho các nam đồng nghiệp. Tục lệ này mang tên giri-choko; giri có nghĩa là "bổn phận", choko là chocolate. Đúng một tháng sau đó, trong ngày 14 tháng 3, tức ngày White Day, phía nam có bổn phận phải tặng quà lại cho các nữ đồng nghiệp đã chiếu cố đến mình trong ngày Valentine, những món quà này thông thường phải mang màu trắng.
Tại Iran, Ả Rập Saudi, Malaysia và một số quốc gia theo Hồi giáo, cấm tổ chức các hoạt động kỷ niệm, mừng và bán những món quà ngày lễ tình nhân, kể cả hoa hồng đỏ vì họ cho rằng ngày Valentine là khuyến khích các quan hệ ngoài hôn nhân, nên bị cấm "nhằm ngăn chặn sự lây lan của văn hóa phương Tây".
Tại Brasil, ngày Dia dos Namorados (Ngày của các tình nhân) được tổ chức vào ngày 12 tháng 6.
Trong khi đó, tại Trung Quốc và một số quốc gia châu Á, ngày truyền thống tình yêu là ngày 7 tháng 7 âm lịch, còn gọi là "Thất tịch".
Tại Việt Nam, lễ tình nhân mới du nhập vào thời gian gần đây và các đôi yêu nhau chủ yếu là giới trẻ, họ tặng hoa, socola, gửi thiếp, mời nhau đi ăn, hẹn hò, xem phim và nhiều hoạt động khác trong ngày Valentine. Vào ngày 14 tháng 2  năm 2008, nhiều cặp tình nhân đã tổ chức cưới tập thể dưới nước tại Hòn Mun, Nha Trang. Một hội thi hôn tập thể tại Đà Lạt cũng được tổ chức vào ngày này.

Bất ngờ thú vị, một năm có 3 ngày Valentine

(Baodautu.vn) Valentine Đỏ ngày 14/2, Valentine Trắng ngày 14/3 và có cả Valentine Đen 14/4. Vậy ý nghĩa của các ngày đó ra sao?

Valentine Đỏ ( ngày 14/2)
Valentine Đỏ là ngày lễ Tình nhân truyền thống, ngày mà tất cả những người yêu nhau trên thế giới mong chờ.
Truyện kể rằng, ở một xứ sở xa xôi, có một vị hoàng đế độc tài muốn ngăn cấm nam nữ yêu nhau. Nhưng dù ông ta có ngăn cấm bằng mọi cách thì những người yêu nhau vẫn đến với nhau.
Cảm động trước những tình cảm chân thành này, giám mục Valentine đã hy sinh sự sống của mình để cùng những cặp tình nhân đến với Thiên đường. Và ngày lễ Tình yêu ra đời.
Valentine Đỏ là dịp để những người yêu nhau bày tỏ tình cảm của mình với nửa còn lại. Vào ngày này, người ta tặng nhau chocolate, hoa hồng đỏ cùng những tấm thiệp chan chứa yêu thương… Valentine đỏ ngọt ngào...

Ý nghĩa của ngày Valentine trắng, đỏ và đen

Valentine Trắng (ngày 14/3)
Vì tình yêu luôn mới mẻ mỗi ngày, người ta dường như yêu nhau nhiều hơn sau những giấc mơ dịu dàng, nên một ngày Valentine dường như là không đủ. Bởi vậy, từ đất nước mặt trời mọc (Nhật Bản), một ngày lễ Tình nhân nữa ra đời và nhanh chóng được các giới trẻ đón nhận và Valentine Trắng ra đời từ đó.
Valentine Trắng còn được biết đến với những cái tên như White Valentine, White day. Đây là một cơ hội tuyệt vời để những người yêu nhau được ở bên nhau. White day diễn ra sau Valentine đúng một tháng, vào ngày 14/3, là dịp để người nam đáp lễ các bạn gái.
Những món quà từ đối phương mà cá cô gái có thể nhận được là chocolate đen hoặc trắng, trang sức...
Valentine Đen (14/4)
Mới nghe bạn đã thấy ngày lễ này thật kỳ lạ phải không, màu đen thường khiến người ta nghĩ đến những điều không tốt mà.
Nhưng sự thực lại không như bạn nghĩ đâu! Valentine Đen (hay Black Valentine, Black day) vẫn được các bạn trẻ Hàn Quốc kỷ niệm mỗi dịp 14/4.
Khác với tên gọi có phần "đen tối", đây là ngày để những người chưa tìm được một nửa của mình hay những người tôn thờ chủ nghĩa độc thân cùng tụ họp và làm nên những bữa tiệc sôi động. Ai bảo những người cô đơn là buồn nào?.
Vào ngày này họ cũng hẹn hò nhau, mặc những bộ quần áo màu đen và ăn món mỳ đen truyền thống Jachang. Ngày này, những người độc thân vui vẻ cũng có thể dễ dàng tìm được những phong chocolate ngọt ngào và nhâm nhi ngon lành như một món quà tự thưởng cho cuộc sống độc thân vui vẻ của mình.
Ngày lễ Tình yêu dù ở sắc màu nào cũng đều ngọt ngào với mọi người.

Bật mí những bí mật về ngày Valentine

(Baodautu.vn) Nam giới chi gấp hơn 2 lần so với nữ vào lễ Tình nhân để tặng phái đẹp trang sức, hoa, kẹo, thiệp, quần áo hay tổ chức những bữa tiệc lãng mạn.

Bật mí những bí mật về ngày Valentine