Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris


Kỳ 1: Hội nghị Paris, cuộc đàm phán dài nhất thế kỷ 20

Ðây là một sự kiện lịch sử quan trọng đóng góp cho thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao của Việt Nam, với sự tham gia của rất nhiều người, nhiều đoàn thể, tổ chức, chính đảng, thông qua nhiều biện pháp và cách thức khác nhau…
Bối cảnh Hội nghị Paris

Vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền Nam, cả về quân sự và chính trị, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của người Mỹ đã phá sản hoàn toàn. Ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trước nguy cơ sụp đổ. Hòng cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ “chiến tranh đặc biệt” chuyển thành “chiến tranh cục bộ”, mà thực chất là Mỹ hóa cuộc chiến tranh đang diễn ra tại miền Nam Việt Nam. Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền Nam, mặt khác, tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đưa chiến tranh xâm lược ra cả nước ta. 

Trong quãng thời gian từ năm 1965 đến năm 1967, Mỹ điên cuồng leo thang chiến tranh. Với mục đích “lừa dối” dư luận, chính quyền Johnson rêu rao “miền Bắc xâm lược miền Nam” và mở cuộc vận động “ngoại giao hòa bình”, đòi “miền Bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụ chiến tranh vào miền Nam, rút quân khỏi miền Nam” và “đàm phán không điều kiện với Mỹ”. Trước tình hình có nhiều biến chuyển trái ngược, ngay từ đầu, Ðảng ta đã nhận định, Mỹ buộc phải tiến hành “chiến tranh cục bộ” là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến lược. Mặc dù, Mỹ đưa vào miền Nam mấy chục vạn quân và đánh phá ác liệt miền Bắc, nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch không có thay đổi lớn. Ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động trên chiến trường, đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch.

Quả đúng như vậy, trên thực tế đã chứng minh điều Đảng ta nhận định hoàn toàn chính xác, Mỹ càng leo thang chiến tranh thì càng vấp phải những đòn giáng trả mãnh liệt của ta, cuối cùng, càng thấy đất trời mù mịt. Về mặt ngoại giao, ta nêu cao chính nghĩa của cuộc chiến đấu, bóc trần bộ mặt xâm lược và tính chất nguy hiểm của các hành động leo thang chiến tranh cùng thủ đoạn đàm phán hòa bình giả hiệu của địch. Theo đó, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân ra khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện mọi hành động chiến tranh chống miền Bắc. Ðiều kiện tiên quyết của ta cho đàm phán là: Chỉ khi nào Mỹ chịu chấm dứt ném bom, Việt Nam dân chủ cộng hòa mới nói chuyện với Mỹ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 cùng với thắng lợi của miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại đã làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Ðêm 31-3-1968, phát biểu trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thừa nhận thảm bại trong Tết Mậu Thân và thông báo, đã ra lệnh chấm dứt mọi cuộc tiến công bằng máy bay và tàu chiến chống miền Bắc Việt Nam, trừ khu vực phía bắc khu phi quân sự. Johnson còn cam kết “sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường xuống thang” và không ra tranh cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa. Trong tình thế đã thay đổi có lợi cho ta, bằng một đòn tiến công ngoại giao mới, ta chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ, cuộc đàm phán dài nhất để chấm dứt một cuộc chiến tranh dài nhất trong thế kỷ 20.

Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và  phái đoàn Mỹ bắt đầu tại Paris và gần 6 tháng sau đi đến thỏa thuận về việc Mỹ chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ ngày 31-10-1968, đồng thời thỏa thuận về việc triệu tập tại Paris một hội nghị để bàn việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, gồm các bên: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ngày 25-1-1969, Hội nghị Paris về Việt Nam họp phiên đầu tiên, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm”. Hội nghị Paris tuy là câu chuyện ngoại giao của 2 quốc gia nhưng lại là tiêu điểm của những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại: Giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, giữa hòa bình với chiến tranh. Ðó là cuộc đối thoại giữa một bên là lực lượng xâm lược có thế mạnh vượt trội về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế yếu về chính trị, tinh thần; một bên là lực lượng bảo vệ Tổ quốc, tuy có điểm yếu tương đối về quân sự và kinh tế nhưng lại có thế mạnh tuyệt đối về chính trị, chính nghĩa. Ðó còn là cuộc đối chọi giữa hai nền ngoại giao, một bên là nền ngoại giao nhà nghề của một siêu cường; một bên là nền ngoại giao của một nhà nước cách mạng còn non trẻ. Ở Paris đã diễn ra cuộc đấu quyết liệt giữa hai ý chí, hai trí tuệ, hai loại pháp lý và đạo lý, hai thứ mưu lược khác nhau. Cả ta và đối phương đều đến hội nghị với những mục đích và đòi hỏi đối lập nhau. Ta đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền bù nhìn tay sai, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ cũng nói muốn chấm dứt chiến tranh, nhưng lại đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân; đòi khôi phục lại khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn…

Phái đoàn miền Bắc Việt Nam tại bàn ký kết Hiệp định Paris năm 1973.
Hiệp định “tạo” mốc lịch sử

Cũng bởi những đòi hỏi khác nhau đó mà đàm phán vừa mở ra mấy tháng đã giậm chân tại chỗ. Ðể khai thông, ngày 8-5-1969, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đưa ra giải pháp toàn bộ 10 điểm về việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Ðáp lại, ngày 14-5-1969, Tổng thống Mỹ R.Nixon, qua diễn văn đọc trên truyền hình Mỹ, đã đưa ra 8 điểm của giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Giải pháp của hai bên vẫn đối chọi nhau như nước với lửa. Ngày 6-6-1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Ngày 8-6, Tổng thống Nixon công bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, chủ trương tìm một con đường khác chứ không phải thông qua đàm phán để rút  quân Mỹ ra khỏi chiến tranh mà vẫn giữ được chính quyền và quân đội Sài Gòn. Nhưng tất cả những kỳ vọng của người Mỹ đều bị vùi dập, thực tiễn cho thấy, những gì Mỹ mong muốn trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán đều không đạt được. Những năm 1969 – 1972 là những năm giằng co quyết liệt giữa hai bên trên chiến trường cũng như tại bàn đàm phán. Ðàm phán thực chất chỉ diễn ra sau khi Mỹ đã cảm nhận được thất bại của chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” trên chiến trường. Từ cuối năm 1971 đến những tháng cuối năm 1972, cả ta và Mỹ đều đưa ra những đề nghị mới, thông qua đàm phán công khai và đàm phán riêng, cuối cùng đi đến thỏa thuận về một văn bản hiệp định.

Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ ngày 15-3-1968 đến ngày 27-1-1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi. Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Chính quyền ngụy mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi Đông Dương và là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu và can thiệp trở lại. Với Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”. Đó là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.

Hiệp định Paris năm 1973 phản ánh được ở mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân. Hiệp định Paris và việc Mỹ rút khỏi Việt Nam, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Lào và Campuchia. Giải pháp về Lào gần như đồng thời với Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 2-1973. Hiệp định Paris mở đường cho thắng lợi của Campuchia tháng 4-1975. 

Đặc biệt, thắng lợi của nhân dân Việt Nam góp phần mở ra cục diện mới ở Đông Nam châu Á; quân đội Mỹ rút khỏi khu vực, khối SEATO (Liên minh phòng thủ Đông Nam Á) giải tán, xu thế hòa bình, trung lập trong khu vực phát triển. Hội nghị Paris đã để lại nhiều bài học lớn lao, trong đó bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế vẫn còn nguyên giá trị thời sự và thiết thực đối với các quốc gia trong một thế giới đầy biến động.

Kỳ 2: Ký ức của vị Đại sứ về những ngày đấu tranh ngoại giao tại Paris

(PL&XH) - Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Hội nghị Quốc tế về Việt Nam được triệu tập vào ngày 26-2-1973 gồm 12 đoàn của 12 Chính phủ trong đó có bốn Chính phủ ký kết Hiệp định 27-1-1973 và Tổng thư ký Liên hiệp quốc là ông K.Walheim.
“Tháng 4-1968, tôi làm Phó Vụ trưởng Vụ Tây Âu - Mỹ Latinh, Bộ Ngoại giao có đề xuất làm tờ trình lên Chính phủ chọn Paris với những phân tích lợi và không lợi của địa điểm này. Sau khi lãnh đạo ta chấp nhận lời đề nghị đó, tôi được phân công gặp Đại diện toàn quyền Pháp tại Hà Nội là ông Francois De Quirielle để thông báo trước khi ta công bố chính thức. Ta công bố vào 12g trưa 2-5-1968, thì 8 giờ sau Mỹ trả lời đồng ý và ngày 13-5-1968 phiên họp chính thức đầu tiên của hai đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ diễn ra tại Paris”, ông Võ Văn Sung nhớ lại.

Đại sứ Võ Văn Sung ký văn bản ngoại giao tại Paris.
Ký ức về thời điểm đặc biệt của vị Đại sứ

Sau khi cuộc họp ở Paris mở ra, ông Võ Văn Sung được điều động làm Phó Vụ trưởng Vụ II, Bộ Ngoại giao, chuyên nghiên cứu về đấu tranh ngoại giao với Mỹ, tham mưu cho lãnh đạo cấp cao của ta chỉ đạo cuộc đàm phán ở Paris. Vụ này có 2 tổ gồm tổ “giải pháp” nghiên cứu các phương án giải pháp cuối cùng và tổ “bước đi” nghiên cứu lộ trình đấu tranh ngoại giao, các bước tấn công ngoại giao để đưa đàm phán đến giải pháp. Ông Sung được phân công làm tổ trưởng tổ “bước đi”, cho đến tháng 11-1970 thì được điều động sang Pháp, bên trong là tham gia nhóm làm việc của đồng chí Lê Đức Thọ đàm phán với Henry Kissinger, cố vấn của Tổng thống Richard Nixon; bên ngoài, ông Sung làm Tổng đại diện của Chính phủ ta và tiếp theo là Đại sứ của Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Pháp. Với các công tác như vậy, ông Sung nắm được diễn biến và thực chất cuộc đấu tranh của ta trên mặt trận ngoại giao từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Sau rất nhiều năm, qua những gì đã xảy ra, càng thấy Paris là địa điểm rất tốt cho ta trong cuộc đàm phán với Mỹ. Phía Mỹ từng đồng ý với ta họp ở Paris hai bên, rồi bốn bên, nhưng sau ngày 27-1-1973 thì Mỹ lại tỏ ra không thích thú với địa điểm này. 

Ở Paris nói riêng và nước Pháp nói chung trong nhiều thập kỷ trước khi có đàm phán giữa ta và Mỹ là nơi có phong trào mạnh mẽ ủng hộ độc lập của Việt Nam, có cảm tình với cuộc đấu tranh của nhân dân và Chính phủ ta, có phong trào đòi hòa bình ở Việt Nam vào loại mạnh nhất. Quần chúng và nhân dân Pháp trong lịch sử cận đại đã là một trong những lực lượng cách mạng và tiến bộ hàng đầu của thế giới. Paris cũng là địa bàn của những hoạt động quốc tế nổi tiếng, là một trong những địa bàn tranh thủ dư luận với hệ thống truyền thông và báo chí vào loại tốt nhất. Với thực tiễn từ năm 1968 đến 1975, Paris đúng là một môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế vào loại tốt nhất cho ta. Theo ông Sung, sau nhiều năm, có thể nói rằng trong đàm phán với Mỹ, tại địa bàn Paris, chúng ta có ba điều kiện thuận lợi rất quý. Thứ nhất đó là đường lối của tướng De Gaulle, một nhân tố hỗ trợ tích cực, thứ hai là phong trào nhân dân Pháp, một đồng minh thủy chung, thứ ba là lực lượng người Việt tại Pháp, một “binh chủng đặc biệt” của nhân dân ta. Sự hội tụ của các thuận lợi ấy tạo nên một “sức mạnh tổng hợp” cho mặt trận ngoại giao của chúng ta từ khi mở đầu cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

 Ông Võ Văn Sung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp.
Ba nhân tố từ Paris mang thắng lợi cho ta

Thời điểm ta và Mỹ bắt đầu nói chuyện là vào lúc tướng Charles De Gaulle đang làm Tổng thống nước Pháp. Tướng De Gaulle và lập trường của ông về vấn đề chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là một nhân tố rất quan trọng góp phần tạo nên sự “hội tụ” hầu hết các lực lượng ủng hộ hòa bình ở Việt Nam. Chính phủ Pháp rất hoan nghênh việc ta đề nghị chọn Paris làm địa điểm đàm phán và đã tạo mọi thuận lợi cho các cuộc đàm phán cả công khai và bí mật. “Họ (Chính phủ Pháp) tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đoàn, đặc biệt là cảnh sát Pháp rất vất vả để lo an ninh cho các đoàn trong 5 năm. Theo tôi biết, trong lịch sử Trung tâm các hội nghị quốc tế ở đại lộ Kléber chưa hề có cuộc thương lượng quốc tế nào chiếm dụng phòng họp của Trung tâm liên tục 5 năm như cuộc đàm phán Việt Nam và Mỹ”, ông Sung cho biết. “Trong 12 ngày đêm không quân Mỹ đánh phá miền Bắc nước ta, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schumann và tôi cũng có những cuộc gặp, có lúc còn gọi nhau vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần thông tin để có thái độ và phía ta cũng mong muốn Pháp góp phần lên án cuộc ném bom đó. Ngày 31-12-1972, lúc nghe thông báo thắng lợi của ta, Ngoại trưởng Pháp đã phải thốt lên “thật là kỳ diệu” và sau đó ông đưa tôi ra hầm trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp, nơi hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế chờ sẵn để nghe tôi nói về sự kỳ diệu ấy. Trong thời gian đó, Chính phủ Pháp cũng lên án chiến dịch Linebacker II của Mỹ”, nguyên Đại sứ Võ Văn Sung nhớ lại. 

Phong trào của nhân dân Pháp, bao gồm các lực lượng cánh tả ở Pháp từ Cộng sản, Xã hội đến cấp tiến và Gô-lít liên tục trong 5 năm đã thường xuyên có các cuộc mít-tinh, biểu tình, hội họp để ủng hộ hòa bình ở Việt Nam, ủng hộ lập trường các đoàn đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ Trường Đảng trung ương Maurice Thorez đi nơi khác để lấy địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa sử dụng suốt 5 năm và có cả đội ngũ đảng viên của Đảng đến phục vụ như đoàn lái xe, nấu ăn, gác cổng, vệ sinh… Báo chí cánh tả và báo chí Pháp nói chung cũng rất đặc biệt, cuộc đàm phán kéo dài 5 năm mà đội ngũ báo chí Pháp vẫn bám sát phản ánh đều đặn và với mức độ nhiệt tình không ngừng nghỉ, hầu hết các báo đều có những bài có lợi cho việc giải quyết vấn đề hòa bình Việt Nam và nhiều báo bênh vực lập trường có lý có tình của ta. Mỗi khi đoàn của ta công bố đề nghị gì mới, thường gọi là “tấn công ngoại giao”, thì các báo liền bình luận rất nhanh và sắc sảo. Một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi tại Hội nghị Paris là việc tham gia khá trực tiếp của cộng đồng người Việt tại Pháp vào công việc đàm phán của 2 đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhiều trí thức Việt Nam có trình độ cao đã tình nguyện tham gia công việc của đoàn đàm phán như phiên dịch, biên dịch, lập biên bản các cuộc họp, họp báo… Những công việc này phải làm liên tục trong 5 năm và đã đạt chất lượng cao. Việt kiều cũng phân công nhau giúp đỡ công việc hai đoàn đàm phán về mọi mặt. Ngoài ra, họ thường xuyên tham gia cùng các bạn bè Pháp vào các hoạt động ủng hộ hai đoàn đàm phán của ta như mít-tinh, biểu tình, hội họp… 

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Hội nghị Quốc tế về Việt Nam được triệu tập vào ngày 26-2-1973 gồm 12 đoàn của 12 Chính phủ trong đó có bốn Chính phủ ký kết Hiệp định 27-1-1973 và Tổng thư ký Liên hiệp quốc là ông K.Walheim. Hội nghị họp đến ngày 2-3-1973 thì ký Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam. Ngày 8-4-1973, đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa do Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn kết thúc nhiệm vụ và rời Paris về nước. Từ sau Hiệp định Paris, xuất hiện 2 khả năng: Thứ nhất, các bên thi hành đầy đủ Hiệp định Paris, thực hiện từng bước lộ trình đã quy định về mặt quân sự và chính trị, trong đó từng bước giải quyết các vấn đề nội bộ ở miền Nam Việt Nam trên tinh thần thực thi hòa giải, hòa hợp thành lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần, sau đó tiếp xúc hiệp thương hai miền Nam - Bắc, nhằm thống nhất đất nước. Thứ hai, nếu chính quyền Sài Gòn không chịu đi vào lộ trình đó và ngoan cố tiếp tục chiến tranh thì nhân dân ta chỉ còn sự lựa chọn đó là chờ đón thời cơ đánh đổ chúng, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thời gian từ ngày ký Hiệp định Paris đến cuối năm 1974, nhân dân ta đã tranh thủ khả năng thứ nhất, nhưng tiếc là không thể được nên từ cuối tháng 12-1974, ta đã buộc chuyển sang khả năng thứ hai đưa đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Kỳ 3: Những chi tiết thú vị bên lề Hội nghị Paris

Dù tính chất cam go của Hội nghị này là điều không phải bàn cãi, nhưng tại Hội nghị này không phải lúc nào cũng tồn tại sự nóng bỏng mà vẫn có những tình tiết xảy ra hết sức thú vị…

Tư thế Việt Nam trên bàn đàm phán
Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Với Hiệp định, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Ngụy mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Với Hiệp định Paris, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”. 

Hiệp định Paris năm 1973 phản ánh được mức cao thắng lợi và xu thế cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có thuận lợi nhưng cũng phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân. Thế nhưng trong gần 5 năm đàm phán về Việt Nam tại Paris, ngoài những chuyện “lớn”, còn có không ít những tình huống thú vị đã trở thành giai thoại.

Toàn cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Lịch sử đã chứng minh trên bàn thương thuyết với Mỹ, hai ông Xuân Thủy và Lê Đức Thọ quả là cặp bài trùng, lúc người này “nhu” thì người kia “cương”. Phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai “cương”. Không ít lần ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt ông Kissinger. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ bị rơi vào tình huống “quá đà”. Ngày 21-8-1968 diễn ra một cuộc gặp bí mật giữa Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH), giữa một bên là Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và một bên là Averell Harriman (nhà ngoại giao kỳ cựu của Washington), Cyruc Vance (luật sư, cựu thứ trưởng Quốc phòng Mỹ). Hôm đó, nụ cười thường trực của ông Xuân Thủy bỗng biến mất khi đại diện Mỹ Harriman đơn phương đòi có đại diện của chính quyền Sài Gòn trên bàn đàm phán. Hà Nội từ chối thẳng thừng đề nghị trên của Washington và ngay lập tức Harriman tuyên bố: “Nếu thế bom sẽ lại rơi trên đầu các ông”. Bộ trưởng Xuân Thủy mặt đanh lại: “Ông dọa đấy à? Ném bom trở lại sao? Chúng tôi sẵn sàng đánh lại!”. Còn cố vấn Lê Đức Thọ có vẻ “nhu” hơn: “Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu! Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi, còn lạ gì nhau”. Đại diện Mỹ Harriman ngồi lặng thinh một lát rồi lẩm bẩm: “Tôi xin rút cái câu nói bom lại rơi trên đầu các ông...”. Ngày 8-1-1973, vòng đàm phán bốn bên tại Paris được nối lại sau trận “Điện Biên Phủ trên không”, sau khi Mỹ xoay ngược những gì đã thỏa thuận khiến hiệp định ngày 20-10-1972 không thể ký kết được. Trở lại Paris với tư cách là người chiến thắng, ông Lê Đức Thọ đề nghị cả đoàn VNDCCH không ra cửa đón đoàn Mỹ như thông lệ. Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như “ngu xuẩn”, “tráo trở”, “lật lọng”… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được gì. 

Mãi sau đại diện Mỹ mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hãy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đã mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ còn các nhà báo họ còn dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia”. Lần khác, ông Kissinger lại hỏi: “Bây giờ ông cố vấn đàm phán với tôi nói như mắng tôi. Thế còn sau này kết thúc đàm phán, chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình rồi thì ông cố vấn mắng ai? Ngài có mắng cán bộ của mình như mắng tôi không?”. Cố vấn Lê Đức Thọ điềm nhiên: “Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt lật lọng tráo trở đâu mà tôi phải mắng”.

Việc cố vấn Lê Đức Thọ thẳng thừng mắng Kissinger đã trở thành “giai thoại” khẳng định tư thế của người nắm vững chân lý, tư thế Việt Nam. Bản thân trong các cuốn hồi ký, Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn VNDCCH Lê Đức Thọ. Ông này thừa nhận ông Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông nhớ như in giây phút đầu tiên gặp nhà ngoại giao Việt Nam ngày 21-2-1970. Ông miêu tả ông Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, dáng vóc đường bệ, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ. Nhưng có một chi tiết mà không bao giờ thấy ông Kissinger nhắc đến trong hồi ký là chiếc nhẫn sáng bóng mà cố vấn Lê Đức Thọ luôn đeo trong mỗi lần thương thảo. Đơn giản, nó là chiếc nhẫn được gò từ mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam! Nhiều nguồn tin cho biết, ông Kissinger rõ ràng biết rõ điều này nhưng nếu nói ra sẽ chỉ làm cho phía Mỹ bị yếu thế ngay trên bàn đàm phán. Chiếc nhẫn trên tay cố vấn Lê Đức Thọ đã trở thành bằng chứng sống động của chiến thắng Việt Nam đối với đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới. Cố vấn Lê Đức Thọ muốn mang thắng lợi trên chiến trường để tạo lợi thế ngay trên bàn đàm phán khiến Mỹ phải nhụt chí khi có dự định đưa ra yêu sách.

Hoa Kỳ rút quân theo Hiệp định Paris.

Suýt không là Paris

Như đã phân tích, Hội nghị đàm phán ngoại giao giữa ta và Mỹ có rất nhiều lợi thế khi diễn ra tại Paris, nhưng đã từng có những địa điểm ngoài Paris được đưa ra để tổ chức Hội nghị đàm phán có ý nghĩa chiến lược này. Tối 4-4-1968, sứ quán Mỹ tại Vientian, Lào, thông báo cho sứ quán Việt Nam là Washington đề nghị cuộc tiếp xúc hai bên sẽ diễn ra tại Geneva, Thụy Sĩ. Việt Nam đề nghị lấy thủ đô Phnom Penh của Campuchia nhưng Mỹ không chấp nhận. Họ đưa ra gợi ý về bốn địa điểm khác là: New Delhi (Ấn Độ), Jakarta (Indonesia), Vientian (Lào) và Rangoon (Myanmar). Hà Nội không đồng ý với địa điểm nào và đề nghị lấy Vacsava của Ba Lan làm nơi hội họp. Ban đầu, Mỹ chấp nhận nhưng sau đó họ khó chịu vì tin đó bị lộ ra ngoài và đưa ra một danh sách gồm 10 địa điểm khác: Kabul (Afghanistan), Colombo (Sri Lanka), Kathmandu (Nepal), Kuala Lumpur (Malaysia), Rawalpindi (Pakistan), Tokyo (Nhật Bản), Bruxelles (Bỉ), Helsinki (Phần Lan), Vienne (Áo) và Rome (Italy). Cuộc trao đổi của hai bên về địa điểm tiếp xúc diễn ra gần một tháng trời đã thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế. Cuối cùng, ngày 2-5-1968, Việt Nam đề nghị lấy Paris làm nơi đàm phán. Mỹ chấp nhận.

Chính việc tổ chức Hội nghị đàm phán được diễn ra tại Paris đã mang tới nhiều “lợi thế” hơn cho ta. Bằng chứng dễ thấy nhất là câu chuyện liên quan tới việc chào mừng phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đến Paris dự Hội nghị, đêm 19-1-1969 không biết ai đó đã leo lên tòa tháp cao nhất của Nhà thờ Đức Bà Paris để treo lá cờ của Mặt trận. Sớm hôm sau, rất nhiều người đã tập trung xung quanh Nhà thờ để chiêm ngưỡng sự kiện có một không hai đó. 

Cảnh binh Pháp phải huy động cả trực thăng tới để gỡ lá cờ đi. Suốt mấy ngày sau, báo chí Pháp vẫn còn bàn tán về hình ảnh hi hữu nói trên. Câu chuyện bên lề này ngay lập tức trở thành chủ đề nóng hổi trong dư luận Paris nói riêng và nước Pháp nói chung. Trước sự kiện này, chính quyền Sài Gòn tố cáo Quân giải phóng đã "lợi dụng lòng mến khách của người Pháp để treo lá cờ làm ô uế thánh đường cao quý nhất nước Pháp". Nhưng vị giám mục có trách nhiệm tại Nhà thờ Đức Bà Paris lại tuyên bố, việc treo cờ đó không hề xâm phạm đến tín ngưỡng. Không những bày tỏ ý kiến độc lập, đại diện Nhà thờ Đức Bà Paris còn đưa ra luận điểm trái ngược hoàn toàn với cách suy diễn của chính quyền Sài Gòn khi khẳng định việc lá cờ được treo lên hoàn toàn xuất phát từ lòng mến khách của người Pháp…

Hiệp định Paris, đỉnh cao của nền ngoại giao Việt Nam


Hiệp định Paris, đỉnh cao của nền ngoại giao Việt Nam

Kết thúc thắng lợi sau gần 5 năm đàm phán, Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh khốc liệt trên chiến trường và mặt trận ngoại giao. 

Sáng 25/1, lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội. Nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình khẳng định Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
"Đây là kết quả của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lâu dài và gian khổ, đầy hy sinh thử thách của nhân dân ta, tiến hành trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, là kết quả của đường lối độc lập tự chủ cùng với sự tranh thủ đoàn kết quốc tế rộng rãi", bà Bình nói.
Bà Bình chia sẻ, cuộc đấu tranh về quân sự, chính trị trên chiến trường tạo thế cho cuộc đấu tranh về ngoại giao. Trong hơn 4 năm 8 tháng đàm phán, có 174 cuộc họp công khai tại Trung tâm hội nghị Quốc tế Kléber - Paris, mấy chục cuộc gặp riêng giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với ông Kissinger, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Nixon (Mỹ).
Hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ảnh: Hoàng Thùy.
Theo bà Bình, việc Mỹ phải chấp nhận đàm phán với sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị bốn bên ở Paris là thắng lợi chính trị, ngoại giao bước đầu trên bàn hội nghị. Qua việc này, Mỹ đã thừa nhận một thực tế ở miền Nam: các tầng lớp nhân dân, mà đại diện chân chính duy nhất là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, đang đấu tranh chống lại sự có mặt của Mỹ và chính quyền thân Mỹ. Điều này cũng bác bỏ luận điệu của Mỹ là miền Bắc xâm lược miền Nam.
Tại cuộc đàm phán, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã làm rõ trước thế giới lập trường: Mỹ đưa quân vào Việt Nam gây chiến tranh, vì vậy Mỹ phải rút quân vô điều kiện. Mục tiêu trước sau như một là độc lập dân tộc và thống nhất tổ quốc, nước Việt Nam là một, người Việt Nam dù ở miền Nam hay miền Bắc đều có quyền và nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược.
"Những lý lẽ trên đã tỏa đi khắp các nước, khơi dậy tình cảm mến phục đối với một dân tộc nhỏ dám đứng lên chống lại nước lớn để bảo vệ quyền được sống trong độc lập, tự do", bà Bình nói và cho hay một phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn đã hình thành bao gồm không chỉ người cộng sản mà còn là những người yêu chuộng hòa bình, kể cả người "có thành kiến với cộng sản", "không tán thành chủ nghĩa xã hội". Một số chính phủ nước tư bản cũng đứng về cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam.
Năm 1972, khi tương quan lực lượng trên chiến trường nghiêng về quân giải phóng, cố vấn Lê Đức Thọ đã trao cho Kissinger bản dự thảo hiệp định không đòi hỏi giải quyết cả gói "quân sự và chính trị" như trước mà tập trung vào việc đòi Mỹ phải rút quân, các vấn đề miền Nam sẽ do các bên miền Nam tự giải quyết.
Mỹ đã tìm nhiều cách để không chấp thuận yêu cầu chính đáng của Việt Nam, trong đó có cuộc không kích tàn bạo bằng B52 trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng và các thành phố của miền Bắc cuối tháng 12/1972. Thế nhưng, đòn đánh cuối cùng của Mỹ đã thất bại thảm hại, B52 liên tiếp bị bắn rơi và có nguy cơ tuyệt chủng trên bầu trời Hà Nội.
Theo nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, bị phản đối trong nước, cô lập trên trường quốc tế, lại thiệt hại lớn về không lực, Mỹ không thể buộc Việt Nam thay đổi lập trường nên phải chấm dứt chiến dịch vào ngày 30/12/1972, đề nghị nối lại đàm phán tại Paris và ký kết Hiệp định Paris trên cơ sở dự thảo mà cố vấn Lê Đức Thọ đã đưa ra trước đó. Theo đó Mỹ phải rút đi hoàn toàn, quân giải phóng ở lại tại chỗ, các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được đảm bảo, Việt Nam là của người Việt Nam.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Ảnh: Hoàng Thùy.
"Cuộc chiến đấu không dùng súng đạn mà bằng đấu trí, đấu lý, nhưng cũng vô cùng khó khăn, nhất là những cuộc đàm phán bí mật. Động lực chính giúp chúng tôi kiên trì đấu tranh và hoạt động tích cực, đó là vì lợi ích tối cao của dân tộc, là niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta", bà Bình cho hay.
Tham dự lễ kỷ niệm, bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp - Việt cho biết, đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Pháp ngày 10/5/1968, đúng vào lúc Pháp đang sôi sục phản đối chiến tranh. Dưới chân tháp Eiffel, đông đảo công nhân và sinh viên cùng hô vang "Ho, Ho, Hồ Chí Minh" để chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược. Là bí thư thị ủy Choisy le Roi, bà đã sắp xếp chỗ ăn ở, đi lại cho đoàn đàm phán của Việt Nam.
Bà kể, tướng De Gaulle (dù muộn) đã ý thức được sai lầm của Pháp ở chiến trường Điện Biên Phủ nên cảnh báo với Tổng thống Mỹ rằng Mỹ sẽ không thể thắng. Tướng De Gaulle và sau này là Bộ trưởng Ngoại giao Maurice Schuman đã hỗ trợ Việt Nam bằng cách tạo thuận lợi cho các cuộc gặp chính thức cũng như bí mật giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger tại biệt thự trên phố Darthé.
Bà Hélène Luc nhớ, sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, dẫu bị buộc ngồi vào bàn đàm phán, Tổng thống Mỹ vẫn hy vọng sẽ giữ được miền Nam Việt Nam nên mặc cả "Hãy ngừng cung cấp lương thực và vũ khí cho các lực lượng chiến đấu ở Việt Nam, đổi lại chúng tôi sẽ ngừng ném bom". Nhưng đoàn Việt Nam thì kiên trì nhắc đi nhắc lại: "Dân tộc Việt Nam là một, cần phải chấp nhận thực tế ấy". Còn Bộ trưởng Xuân Thủy luôn khẳng định "chúng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ, Bắc Nam chắc chắn sẽ thống nhất".
"Ở Choisy le Roi chúng tôi cũng tổ chức kỷ niệm ngày ký Hiệp định Paris. Chúng tôi sẽ kể cho các thế hệ trẻ nghe về chủ nghĩa anh hùng của các bạn, về tình hữu nghị gắn bó sâu sắc của hai dân tộc chúng ta. Tòa thị chính Choisy le Roi sẽ tham gia sản xuất bộ phim tư liệu kể về quá trình đàm phán hiệp định, trình chiếu trước ngày 21/3 tại thành phố của chúng tôi, trên truyền hình Pháp và truyền hình Việt Nam", bà Hélène Luc nói.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý "đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo", củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa.
Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.
Theo Chủ tịch nước, thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.
"Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công", Chủ tịch nước khẳng định.
Người đứng đầu nhà nước đúc rút, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng mở ra mặt trận ngoại giao, bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc, bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, xây dựng lực lượng...
"Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris, chúng ta ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, chúng ta ghi nhớ công lao của đồng bào, đồng chí, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh... Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý", Chủ tịch nước nói.
Sau sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, bốn bên tham chiến tại Việt Nam gồm Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa phải ngồi vào bàn đàm phán khi chưa bên nào giành thắng lợi bằng quân sự. Phía ta có 2 đoàn: Đoàn miền Bắc, tức là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do ông Xuân Thủy làm trưởng đoàn, ông Lê Đức Thọ là cố vấn, thay mặt Bộ chính trị. Đoàn miền Nam, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc đầu do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, về sau do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, làm trưởng đoàn.
Tại lễ kỉ niệm 40 năm ngày kí kết hiệp định Paris, hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam được nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hoàng Thù

Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973


Công bố tài liệu mật về Hiệp định Paris 1973

140 bức ảnh, 23 hiện vật, 3 bộ tài liệu đồ sộ…giới thiệu trong triển lãm kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris đang được mở cửa tại 29 Hàng Bài, Hà Nội thu hút sự chú ý của rất nhiều người. 
Điều đặc biệt của triển lãm này là ngoài những hiện vật và bức ảnh quý, lần đầu tiên văn bản gốc Hiệp định Paris 1973 được trưng bày sau đúng 40 năm diễn ra sự kiện lịch sử này.
Với quy mô của triển lãm được đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay, công chúng sẽ có dịp được tìm hiểu kĩ hơn về ý nghĩa lích sử của Hiệp định Paris về Việt Nam, về ý chí và khát vọng của nhân dân Việt Nam trong việc giành độc lập, tự do, qua đó cho thấy nghệ thuật ngoại giao tài tình của những con người đã từng tham gia vào phái đoàn ngoại giao ngày đó.
Toàn cảnh buổi khai mạc Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Đại lộ Kléber, Paris.
Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại sân bay Bourgert khi đến Paris đàm phán với Mỹ (9/5/1968)
Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)
Đại diện 4 bên (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ; Cộng hòa Việt Nam) ký hiệp định Paris (27/1/1973).
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973)
Đại diện 12 nước ký Định ước tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam; Tổng thư ký Liên hợp quốc Kurt Waldheim chứng kiến Lễ ký với tư cách là quan sát viên tại Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, Paris, ngày 2/3/1973.
Hai chiếc bút được dùng để ký kết Hiệp định Paris năm 1973
Trên thân bút khắc rõ thông tin liên quan đến ngày ký kết Hiệp định Paris.
Văn bản gốc cuốn Hiệp đình Paris lần đầu tiên được mang ra trưng bày trước công chúng.
Những cuốn hộ chiếu công vụ, hộ chiếu ngoại giao được phái đoàn của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày đó sử dụng.
Con dấu của Đoàn đại biểu Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một cuốn sách cực lớn là tập hợp chữ ký của nhân dân Cu Ba ủng hộ nhân dân Việt Nam là một hiện vật quý và rất có giá trị.
Những cuốn sách viết về nghệ thuật ngoại giao cũng như qua trình đám phán đấu tranh để giành độc lập dân tộc cũng được trưng bày tại triển lãm.
Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris.
Có rất nhiều người dân quan tâm đã chủ động đến và tham quan triển lãm để tìm hiểu và nhớ lại những kỉ niệm về một thời kì lịch sử của đất nước.
Bức ảnh được cho là gây ấn tượng nhất tại triển lãm là bức hình cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam.
Ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã đi vào lịch sử dân tộc Việt nam như một mốc son sáng chói với “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”  hay còn gọi là hiệp định Paris.
Hiệp định đã buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân đội Mỹ và đồng minh ra khỏi Việt Nam, tạo ra bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dẫn đến thắng lợi hoàn toàn vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Vi Vi

Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris


Bộ trưởng Phạm Bình Minh viết về Hiệp định Paris


(Dân trí) - 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.


Dưới đây là bài viết của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nhân dịp kỉ niệm 40 năm Hội nghị Paris.
 
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh
 
Ngày 27/01/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris - cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị được mở ra từ một quyết định chiến lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động "ngoại giao hòa bình" đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và "đàm phán không điều kiện với Mỹ" (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc. Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.
 
Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/01/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ các bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ - dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc - đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa "đánh" và "đàm", giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm "tuy hai mà một, tuy một mà hai" của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau. Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: "Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới" .  Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại "độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ"; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh.... phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng "triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" của đường lối đối ngoại Đại hội XI.
 
Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
 
Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.
(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.
(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

“Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao”


“Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao”

(Dân trí) - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ. Thắng lợi này mang đậm dấu ấn, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

Ngày 25/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam - một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)
Tới dự Lễ mít tinh có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Đại tướng Phùng Quang Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trần Đại Quang - Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an; ông Đinh Thế Huynh - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; ông Huỳnh Đảm - Chủ tịch UBTƯMTTQVN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh - Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris.
Tới dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, các lãnh đạo ban, ngành đoàn thể Trung ương và Thủ đô Hà Nội, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các đồng chí trực tiếp tham gia và phục vụ cho cuộc đàm phán; đại diện gia đình một số đồng chí nguyên là cán bộ của hai đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế ủng hộ Việt Nam, góp phần vào thắng lợi cuộc đàm phán tại Hội nghị Paris, các vị Đại sứ, đại diện một số cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; các cơ quan thông tấn báo chí trong nước và quốc tế.
Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.
Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
“Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy. Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đọc diễn văn tại Lễ kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (ảnh VOV)
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang cho đại diện hai Đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris
Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.
Chủ tịch nước cho rằng, Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.
Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.
“Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý...”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu.
Theo Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay. Đó là, bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng...
Phát biểu tại lễ kỷ niệm bà Nguyễn Thị Bình - nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - cho biết, Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
“Thắng lợi của Việt Nam tại cuộc đàm phán Paris là minh chứng tập trung nhất về sự đúng đắn, tài tình của đường lối, sách lược của nền ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam”, bà Nguyễn Thị Bình cho biết.
Theo bà Bình, việc ký Hiệp định Paris là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam và cũng là thắng lợi của tất cả những người có lương tri trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Trúc Linh