Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê

Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê

TP - Đã chẵn 40 năm Hội nghị Paris- cuộc đàm phán Paris, một Hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới, 4 năm 8 tháng 14 ngày. Thiên hạ chưa dứt luận bàn, vẫn tiếp tục viết về sự kiện đỉnh cao ngoại giao của nước Nam. Hình như chưa nhiều lắm về các góc khuất của cuộc đàm phán, chả hạn chuyện về những người thư ký, phiên dịch?
Kỳ 1: Biên chép của một thư ký
Bộ Ngoại giao có hai ông Lưu Văn Lợi. Một ông Lợi nguyên là Cố vấn Pháp lý của Đoàn Đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris. Sau này là Bộ trưởng, Trưởng Ban Biên giới Chính phủ. Còn một Lưu Văn Lợi khác...
Ông Lưu Văn Lợi
Ông Lưu Văn Lợi.
“Cậu đi với tôi!”
Hơi bị hiếm trong trật tuổi cao, ông đã mấy lần bị tai biến nhưng ở tuổi 81, ông đi lại vẫn lanh lẹ. Quý nhất, vẫn mẫn tiệp. Ông biên ra giấy cho tôi cái meo và dặn nếu có viết lách gì thì meo trước cho ông coi. Người này khác thấy hơi ngài ngại nhưng với ông thì thấy chả thể khác? Ông vốn cẩn trọng.
Ông có những mấy cái nguyên. Nguyên thư ký riêng của Cố vấn Lê Đức Thọ, nguyên chuyên viên cao cấp Bộ Ngoại giao. Nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Tham tán công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô.
Cái duyên lọt vào mắt xanh ông Cố vấn Lê Đức Thọ có lẽ là lần ông Cố vấn từ Paris qua Matxcơva ngày 2-6-1968. Chàng trai Lưu Văn Lợi khi ấy là tùy viên Phòng văn hóa báo chí sứ quán có nhiệm vụ làm tin nhanh để phục vụ cho công việc của ông cố vấn.
Có lẽ ông cố vấn đã chóng bắt khả năng bén nhạy tình hình cùng là năng lực phân tích tổng hợp sự kiện và cả khả năng ngoại ngữ của chàng trai Lưu Văn Lợi, nên đã quyết và nói luôn ngày mai cậu đi với tôi sang Paris...
Đi với tôi không phải một vài ngày, mấy tháng, ít năm mà một lèo... 18 năm!
Chẳng hề vơi vợi mờ nhòe những ấn tượng cuộc hòa đàm đã hằn đậm vào tâm khảm của một người từng can dự. Ông cười rất vui rằng, hình như con Tạo vốn trớ trêu nhưng hữu tình khi để cặp Lê Đức Thọ- Kissinger gặp nhau? Các phiên họp riêng giữa Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger, cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon, đều rơi vào những thời điểm dài dặc.
Có ngày làm việc đến 13 tiếng, lấn sang cả đêm. Trưởng đoàn Xuân Thủy khi ấy tuổi 58. Ông Lê Đức Thọ sinh năm 1911, lúc ấy hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp (12 tuổi).
Kissinger tóc đen nhức, lực lưỡng cao to cứ như một đô vật! Nhưng tương phản với vóc dáng, Kít có số má mánh lới, xiên xẹo. Khởi đầu các cuộc gặp riêng thì cứ làm như vô tình lan man, chuyện nọ xọ chuyện kia. Và cứ nhè vào lúc chiều hay gần tối ( những thời điểm bất lợi cho nhịp độ sinh học của tuổi già) mới đưa việc chính ra tranh cãi. Hình như Kissinger chắc mẩm cái ông già Á Đông kia đã lử khử, nên cũng dễ rằm cũng ừ mà mười tư cũng gật.
Nhưng ông Kít hơi bị nhầm! Đàm phán càng kéo dài và càng khuya khoắt, ông Thọ càng tỉnh và thậm chí có lúc diễn thuyết dai dẳng làm cho Kissinger sau này phải bộc bạch trong hồi ký “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật.
Có những lúc ông ấy nói cả giờ, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại...”.
Đồng chí Lê Đức Thọ với anh em thư ký, bác sĩ và phục vụ (ông Lưu Văn Lợi ngồi thứ hai trái sang)
Đồng chí Lê Đức Thọ với anh em thư ký, bác sĩ và phục vụ (ông Lưu Văn Lợi ngồi thứ hai trái sang).
Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu - Kỳ, mà lại không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN.
Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế nhưng hôm sau họ lại lật phắt lại.
Mỹ luôn luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: Anh sang bây giờ anh sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “Mỹ rút, quân ta ở lại”.
Tháng 10-1972, tưởng đàm phán xong rồi, Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói rằng hiệp định đã có thể hoàn chỉnh, rồi Kissinger cũng huênh hoang nói rằng không còn điểm bất đồng gì lớn nữa.
Đã thỏa thuận là tháng 10 Kissinger sẽ sang Hà Nội ký tắt, rồi sau đó về Paris ký chính thức.
Mỹ đã nhượng bộ không đòi quân Bắc VN rút, chỉ yêu cầu có một số biểu hiện, thí dụ như hồi hương một ít, hay di chuyển quân, tượng trưng cũng được, để máy bay chụp ảnh, chứng minh cho dư luận Mỹ biết rằng cũng đòi được quân Bắc VN rút lui(!)
Ngạo mạn. Tráo trở. Lật lọng... Có lẽ ông Thọ quá rành tố chất của đối phương nên những cuộc gặp đầu tháng 12-1972, sau thời điểm R. Nixon trúng cử Tổng thống, tưởng muốn yêu sách cùng những làm mình làm mẩy gì cũng được, Kissinger đã bất ngờ rũ rối các thỏa thuận tháng 10, làm xộc xệch Hiệp định đã sơ thảo.
Đòi sửa hơn 60 điểm mấu chốt cốt yếu... Cố vấn Lê Đức Thọ và các thành viên phái đoàn ta vẫn điềm tĩnh.
Mỹ chỉ thua sau khi dùng B52 ném bom Hà Nội và chỉ thua trên bầu trời Hà Nội... Lời dặn của Bác năm 1967 có lẽ thời điểm này chợt thoắt trở lại buốt nhói trong tâm trí mọi người? Nhưng biết làm sao. Cố vấn Lê Đức Thọ cùng tùy tùng lặng lẽ ra máy bay...
Chuyến bay buồn
Động cơ chiếc Il-18 không như những lần đưa mọi người vào cảm giác chập chờn thiêm thiếp mà lần này ai cũng chong chong bồn chồn như có chi đó lây lan tâm trạng với ông Cố vấn? Paris nối Hà Nội bằng chuyên cơ Il-18 hoặc Il-62 của Liên Xô, nhanh thì 2,3 ngày đêm.
Chậm thì 4 ngày đêm theo lộ trình Paris - Maxcơva - Bắc Kinh - Hà Nội hoặc Maxcơva - Tasken - Cancutta - Hà Nội.
Nhưng lần này thì chưa đến hai ngày hai đêm. ( bây giờ loại Boeing hiện đại cho phép chế độ bay trực chỉ non - stop chỉ hơn 12 tiếng đồng hồ).
Khi tổ lái báo máy bay đã vào không phận miền Bắc, ông Cố vấn rời chỗ ngồi bước ra nói chuyện thân mật cùng tổ lái và mấy nhân viên phục vụ. Sau khi thăm hỏi nơi sơ tán của gia đình anh chị em, cái câu mà ông thấy là lạ, ông Cố vấn nói như thúc giục như một tiếng thở dài: Các cháu nói với gia đình nếu có điều kiện sơ tán càng xa Hà Nội càng tốt...
Xe chở ông cố vấn nhích chậm qua cầu Long Biên. Chốc chốc lại phải tránh những đoàn xe quân sự ngất nghểu dắt pháo phòng không. Vẻ như không khí trận mạc đã lẩn khuất đâu đây? Cây cầu năm lụt 1971, thày trò từ Paris về gặp trận bão lớn.
Đến giữa cầu phải chờ xe, ông bước xuống bất ngờ khuỵu người xuống vì sức gió. Chuyến này trở về không có bão nhưng ai cũng cuồn cuộn trong lòng một điềm triệu chi đó chẳng lành khi ngó những trận địa pháo 12,7ly và 14,5 ly đặt lển nghển trên thành cầu.
Khi ấy ông đâu biết phía mạn Chèm và quanh Hà Nội những trận địa SAM-2 cũng đã giăng... Hà Nội đã phòng bị trước những tráo trở, lật lọng!
Về đến nhà ông cố vấn ở số 6 Nguyễn Cảnh Chân đã hơn 6 giờ chiều. Đang lúi húi xếp tài liệu vào tủ sắt, định bụng xin phép tranh thủ về nơi vợ con sơ tán thì ông Cố vấn bước vào nói với anh em phục vụ thư ký phiên dịch đêm nay các cậu ở lại đây.
Thế nào chúng cũng giở trò... Khoảng non 2 tiếng sau, căn hầm ở số 6 Nguyễn Cảnh Chân chung chiêng vì những đợt bom B52 uỵch xuống Hà Nội.
...Ông cố vấn vẫn gượng dậy làm việc sau hai ngày liên tục sốt cao. Trước ông là một bức điện. Của Kissinger hối thúc Hà Nội nối lại đàm phán. Trước đó đã có tín hiệu tương tự nhưng dễ gì Hà Nội khuất phục trước sự tráo trở lật lọng. Bom đang xé toang không gian Hà Nội lại giở trò khiêu khích ép Hà Nội ngồi vào bàn Hội nghị? Nhưng càng lao đầu vào chiến dịch bạo tàn Linebacker-2 hủy diệt Hà Nội thì con số máy bay B52 bị quật rụng càng nhiều.
Sau đêm 26-12, tình thế cuộc chiến đã khác. Cục diện đã thay đổi. Ông Cố vấn vừa trở về từ hầm ngầm Điện Kính Thiên sau một cuộc họp trọng. Bộ Chính trị đã quyết định ngồi vào bàn Hội nghị nhưng không có bất kỳ sự nhượng bộ nào trên cơ sở bản Hiệp định như đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972.
Ông Lợi phải trực tiếp và gặp mời Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm đến gấp theo lệnh của ông cố vấn. Khi ông Đinh Nho Liêm tới, ông Cố vấn kéo ngay vào việc.
Mãi hồi lâu khi Thứ trưởng Liêm ra về, ông cố vấn còn dặn đi dặn lại không ghi chép, không mang theo tài liệu. Chỉ được ghi nhớ trong đầu.
Cậu phải bay trước sang Paris truyền đạt báo cáo lại với anh Xuân Thủy, chị Bình, anh Thạch cùng các anh các chị bên đó quan điểm của Bộ Chính trị... Đoàn ta sẽ sang sau…

Kỳ 2: Ủy ban giải Nobel đã sai lầm đáng tiếc
TP - Hình như trên các phương tiện thông tin, ít thấy đề cập cuộc phỏng vấn dài giữa ông Lê Đức Thọ với nữ phóng viên hãng thông tấn Mỹ UPI Synvana Foa ngày 15-3-1985? Bà S. Foa sau này là người phát ngôn của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc.
Ông Lê Đức Thọ với các phóng viên quốc tế. Ảnh: Corbis
Ông Lê Đức Thọ với các phóng viên quốc tế. Ảnh: Corbis.
Cuộc phỏng vấn thú vị
Trong số cán bộ phục vụ, ông Lưu Văn Lợi là người hiếm hoi chứng kiến từ đầu đến cuối. Những dòng ghi chép với chức phận người thư ký có những dòng đại loại:
Tôi đã có 15 câu hỏi của bà, tôi có thể trả lời tổng hợp vào 4 vấn đề. Về giác ngộ cách mạng của tôi. Những khó khăn trong công tác mà tôi đảm nhiệm và ước vọng của tôi. Về Hội đàm Paris trong đó có 3 câu hỏi của bà. Câu hỏi về Hiệp định Paris. Về ông Kissinger trong Hội đàm. Về giải thưởng Nobel. Bà còn có câu hỏi, làm việc trong tập thể Bộ Chính trị, tôi thuộc phái nào? Diều hâu hay bồ câu?
Vào thời điểm ông Lê Đức Thọ từ chối giải Nobel Hòa bình, bằng chất giọng ôn tồn điềm tĩnh, ông cố vấn truyền đạt lại cho người thư ký nội dung trả lời Ủy ban Giải thưởng Nobel... Có một chút tò mò háo hức, tôi rụt rè đề nghị ông Lợi cho xem nội dung.
Ông Lợi ngồi lặng một lát như đang nhớ lại điều gì. Rồi ông đứng dậy, chậm chạp lên gác. Trong tay ông là một xấp giấy. Háo hức đón lấy. Thì ra, người thư ký năm xưa vẫn vẹn nguyên sự cẩn trọng cần thiết? Trên tay tôi vẫn là nội dung bản trả lời phỏng vấn của bà phóng viên UPI.
Tôi hiểu, trả lời của ông Lê Đức Thọ với bà phóng viên Mỹ gần như là toát yếu nội dung thư phúc đáp Ủy ban Giải thưởng Nobel mà ông Thọ là tác giả.
"Bây giờ tôi nói về Giải thưởng Nobel. Chúng tôi biết, Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn với thế giới. Từ xưa đến nay có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng tại sao tôi không nhận? Tôi không phải có khó khăn như bà nói đâu. Chỉ một điều là ai làm cho hòa bình? Bà biết rằng đây là giải thưởng Nobel cho hòa bình.
Mỹ tiến hành xâm lược đất nước tôi 20 năm. Người chống Mỹ và làm cho Mỹ thất bại, giành độc lập đưa hòa bình cho đất nước và cho cả khu vực này là chúng tôi. Người làm hòa bình là chúng tôi chứ không phải Mỹ.
Trong thư gửi Ủy ban Giải Nobel, tôi đã phân tích kỹ Mỹ tiến hành chiến tranh như thế nào? Nhưng Ủy ban Giải đã đặt ngang bằng kẻ xâm lược và người bị xâm lược, giữa kẻ gây chiến tranh và người tạo (làm) hòa bình. Coi chúng tôi cũng như Mỹ. Điều đó là sai lầm và tôi không thể chấp nhận như vậy. Vì vậy tôi đã không nhận Giải thưởng Nobel!
Bây giờ Việt Nam đã thống nhất, ông có nhận lại giải thưởng đó không?
Về cơ bản với tính chất của giải thưởng đó nó đã sai lầm ngay từ đầu, sai lầm cơ bản. Nếu bây giờ có giải thưởng riêng cho tôi thì tôi nhận.
Nhưng dù sao ông vẫn đi vào lịch sử như là người đã giành được giải thưởng đó?
Lịch sử ghi lại như vậy. Như đối với chúng tôi đó cũng là điều mà Ủy ban giải Nobel có sai lầm. Một sai lầm đáng tiếc".
Coi qua biên bản bài phỏng vấn nữ phóng viên UPI, thú vị khi biết thêm chi tiết về... những cái đập bàn của cố vấn Lê Đức Thọ!
Cũng cần nói thêm, những cái đập bàn ấy nó lạ đến mức các yếu nhân như Thủ tướng Trung Hoa Chu Ân Lai, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko phải lấy làm ngạc nhiên (có lẽ mình chả thể hành xử được như ông Lê Đức Thọ nọ trước người khổng lồ Cố vấn an ninh Kissinger và ông này sau là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ?) Gẫm thêm thời điểm ấy, và cả cho đến sau này, trong số các chính khách hành tinh, hình như chưa có ai dám hành xử đại loại thế?
Xin trích ra đây câu hỏi của nữ phóng viên UPI:
"Trong trường hợp nào ông nói rằng Kissinger là người nói dối?
Trong khi hội đàm với ông ấy, nhiều khi ông ấy (Kissinger - NV) đồng ý rồi ngày mai lại lật ngược! Cho nên quá trình đàm phán những lúc như vậy tôi đã dùng những câu như vậy. Có lúc tôi cũng đập bàn. Ngoại trưởng Pháp Dobre hỏi tôi, có phải ông bảo Kissinger là người nói láo không, tôi bảo phải và ông ấy từng viết trong hồi ký như vậy. Khi trở về Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai hỏi có phải đồng chí đập bàn khi hội đàm với Kissinger không? Tôi trả lời đúng".
Có chuyện ép Mặt trận Quảng Trị?
Ngập ngừng nhưng rồi trong không khí chuyện trò cởi mở, tôi cũng bộc bạch ra được với ông một băn khoăn... Gần đây có dư luận, cụ thể là một cuốn sách đang xới lên việc những người chỉ huy chiến dịch Quảng Trị năm 1972 từng phải chịu rất nhiều áp lực từ các cuộc Hội đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ!
Rằng không hiểu ông Lê Đức Thọ bằng con đường nào, đã thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn đang tham chiến ở Mặt trận Quảng Trị không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh. Rằng ngay từ năm 1972 nhiều ý kiến phàn nàn “Cố đánh Quảng Trị là do nhu cầu đàm phán” v.v…
Ông Lợi vẻ nhẫn nhịn ngồi nghe… Để ý suốt cả cuộc nói chuyện, ông hầu như không ngắt lời khách. Thái độ ấy như là một thứ gien trội luôn thường trực của những người ở ngạch ngoại giao? Mãi một lúc, giọng ông mới khẽ khàng:
Như mọi người đều biết, sau chuyến thăm Bắc Kinh của TT Mỹ R. Nixon ngày 22-3-1972, Mỹ tuyên bố ngừng họp Paris vô điều kiện.
Ngày 30-3-1972, Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Xuân Hè tấn công từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngày 6-4-1972, TT Mỹ R. Nixon ra lệnh ném bom lại miền Bắc VN.
Sau chuyến thăm Matxcơva tháng 5-1972, ngày 11-6-1972 đoàn Mỹ gửi công hàm cho đoàn ta ở Paris đề nghị nối lại cuộc gặp riêng vào ngày 28-6-1972.
Thời điểm đó, ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường quan hệ Mỹ - Xô - Trung và tình hình nội bộ chính trị nước Mỹ, Bộ Chính trị quyết định đã có thể tới lúc đi vào giải pháp đàm phán ở Paris.
Cố vấn Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp riêng Kissinger chậm nhất là vào ngày 15-7-1972.
Một cuộc họp kín giữa Lê Đức Thọ và Kissinger đã được đôi bên thỏa thuận vào ngày 2-5-1972. Tình hình chiến trường đã giúp phái đoàn ta đến Paris với một tư thế ngẩng cao đầu.
Sáng 1-5-1972, Quân giải phóng chiếm cầu Quảng Trị và sân bay. Ngày 2-5-1972, Quảng Trị được giải phóng.
Một tuần trước đó, Quân Giải phóng đã triển khai một cuộc tấn công lớn đe dọa Kontum và Pleiku; tiêu diệt khoảng một nửa Sư đoàn 22 của Sài Gòn. An Lộc, một thị xã cách Sài Gòn hơn 100 km cũng gần như thất thủ.
Gần sát cuộc gặp, Sư đoàn 3 của Việt Nam Cộng hòa bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở Quảng Trị, nhiều đơn vị Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy tán loạn.
Nhiều thời điểm chúng ta đã nhuần nhuyễn khéo léo phối hợp hiệu quả giữa chính trị - quân sự - ngoại giao. Những dẫn chứng trên đây chứng tỏ sự nhịp nhàng giữa đánh vàđàm, kết hợp giữa thực tế chiến trường với bàn đàm phán (Đánh đàm Nam Bắc hai tay/Anh đi muôn dặm trời Tây gập ghềnh - thơ Tố Hữu tặng Lê Đức Thọ - NV).
Và mọi người đều biết, sau đó chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, ta đã chịu nhiều tổn thất.
Việc rút khỏi Thành cổ sau 81 ngày đêm chiến đấu một cách bi hùng không thể nói là không ảnh hưởng đến bàn đàm phán nhưng không làm thay đổi cục diện cũng như quan điểm cuộc đàm phán Paris.
Cũng cần nói thêm một điều hiển nhiên, quyết định thành bại ở chiến trường phải là người lính là sự phối hợp, điều phối chỉ huy từ Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu đến Tư lệnh các chiến trường trong việc tiến công lẫn phòng ngự. Nếu nói cố đánh Quảng Trị do nhu cầu đàm phán là hạ thấp vai trò của chỉ huy cũng như người lính!
Còn nói đồng chí Lê Đức Thọ không rõ bằng con đường nào, đã thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn đang tham chiến ở Mặt trận Quảng Trị không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh là chưa hiểu thực tế thông tin liên lạc đặc thù cũng như cung cách thông tin thời điểm đó trên mặt trận ngoại giao.
Qua câu chuyện tất nhiên còn nhỏ giọt (có thể đến thời điểm này chưa phải toàn bộ tài liệu về cuộc hòa đàm Ba Lê đều đã được giải mật?) của người thư ký, tôi tạm hiểu toàn bộ các bức điện từ thông thường đến Mật cũng như Tối mật liên quan đến cuộc đàm phán, sau khi được mã hóa đã được chuyển từ Hà Nội đi Matxcơva qua thiết bị riêng do Liên Xô giúp đỡ.
Từ Matxcơva, những thông tin ấy lại được chuyển tiếp qua kênh liên lạc đặc biệt đến Trụ sở Phái đoàn ta ở Paris. Điện đi, điện về đều phải được tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt. Quy trình ấy có sự tham gia của cá nhân và các bộ phận có trách nhiệm.
Do công việc, ông Lợi đều phải tiếp cận với những thông tin đó với các cấp độ mật khác nhau. Vậy nói ông Lê ĐứcThọ điện trực tiếp cho các sư đoàn (?) đang tham chiến, là điều không thể.

Mười năm nữa sẽ là thời điểm 50 năm kỷ niệm cuộc Hòa đàm Ba Lê. Nhưng tại sao đợi phải mươi năm nữa mới phát lộ những điểm son điểm sáng: Câu chuyện mà người lính già đầu bạc/ Kể mãi chuyện... Ba Lê này? Những chuyện Kissinger bí mật thăm Hà Nội ngày 12,13 tháng Giêng năm 1973. Chuyện tại sao Lê Đức Thọ lại không tiếp tục viết hồi ký ( mặc dầu đã từng được khởi thảo).
Chuyện thư ký Lưu Văn Lợi theo đồng chí Lê Đức Thọ vào chiến trường miền Nam rồi cả chuyện ông được trực tiếp nghe đồng chí Lê Đức Thọ kể lại hoàn cảnh đầu những năm 1950 quyết định cử Phạm Xuân Ẩn khi đó 28 tuổi (sau này là tướng tình báo, Anh hùng LLVT) đi học bên Mỹ như thế nào.
Và chuyện của ông Lợi trở lại công việc bỏ dở ở Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô 18 năm trước...) Kẹt khuôn khổ bài báo dịp 40 năm này có hạn, xin kính khất bạn đọc một lần khác...

Kỳ cuối: Chuyện của một phiên dịch
TP - Cú điện thoại khuya khoắt vào một đêm đã xa giờ nghĩ lại còn hơi bị bàng hoàng chống chếnh. Một nhân chứng sát sạt cụ thể gần như từng ngày của cuộc hòa đàm Ba Lê không còn nữa...
Ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger, người đứng giữa phía sau là ông Nguyễn Đình Phương. Ảnh: T.L
Ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger, người đứng giữa phía sau là ông Nguyễn Đình Phương. Ảnh: T.L.
Cuộc gặp bí mật
Người mà có lẽ ai cũng nhìn thấy, đã đành chả biết mà cũng thoáng quên ngay mỗi khi ngó đến bức ảnh chụp có khi ba người, khi nhiều người bên cạnh Cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger, người mà cả hai đều cần.
Không hiểu sao tôi nghĩ ngay căn nhà như lọt thỏm trong hẻm nhỏ gần Văn Miếu. Và đến cái kính hơi bị lạ của ông trong căn phòng bề bộn sách vở. Nó na ná như thứ kính lúp.
Dày quá đít chai. Độ dày ấy mới có sức soi, phóng lên những hàng chữ li ti trong một tài liệu hay cuốn từ điển. Năm ấy ngoại thất tuần, mắt ông đã kém tợn.
Nhưng không ngày nào rời bàn, trừ những ngày ốm mệt. Ông chăm, ham việc lắm. Vẫn viết lách biên dịch theo những com măng nào đó của Bộ Ngoại giao.
Thuở ấy mắt ông Nguyễn Đình Phương còn tinh dù đã phải mang kính cận. Nguyễn Đình Phương, cái tên như "lọt thỏm" trong bể sự kiện cuộc hòa đàm Ba Lê.
Cũng phải thôi, hình như ít khi "sử" chép người phiên dịch trong những sự kiện trọng đại!? Ông không chỉ là phiên dịch mà còn là người trực tiếp chứng kiến một sự kiện hiếm hoi trong những trang sử ngoại giao kiệt xuất của nước Nam ta: Phiên dịch chính cho những cuộc đàm phán những cuộc gặp riêng giữa Xuân Thuỷ và Harriman và sau đó là các cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger suốt từ năm 1968 cho đến mùa xuân năm 1973!
Đặt chân đến kinh thành ánh sáng, hồi ấy ông mới ngoại tứ tuần cao lớn đường bệ, nhiều người nhầm ông là người ngoại quốc bởi có những nét hao hao...
Buổi trưa 3-6-1968 đến Paris, buổi chiều báo France Soir (Nước Pháp buổi chiều) có bài tường thuật trong bộ quần áo giản dị, ông Lê Đức Thọ có nụ cười của La Joconde...
Và đến Paris, ông mới biết bên cạnh diễn đàn chính của Hội nghị Paris, một diễn đàn mới bí mật đã xuất hiện. Đó là các cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mỗi bên chỉ một hai người , địa điểm gặp thường xuyên thay đổi và tuyệt đối giữ bí mật!
Người phiên dịch cao niên dẫn tôi về với cuộc gặp bí mật ngày 21-8-1968 giữa Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ với Harriman mà ông là phiên dịch chính sau 18 phiên họp công khai và 4 cuộc tiếp xúc riêng.
Đối diện Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ là Harriman nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ nổi tiếng, là người thương lượng sành sỏi. Ấn tượng nhất là Bộ trưởng Xuân Thuỷ lúc nào xuất hiện và tất cả mọi trường hợp là nụ cười luôn nở rất tươi nhưng hôm đó nụ cười của Bộ trưởng đã tắt sau cú đấm đánh thình xuống mặt bàn.
Đó là khi Harriman đơn phương đòi có đại diện của Sài Gòn trong đàm phán. Khi bị từ chối thẳng thừng, Harriman đã dọa bom sẽ lại rơi trên đầu các ông! Xuân Thủy mặt nghiêm, giọng đanh lại "Ông dọa đấy à? Ném bom trở lại à? Chúng tôi sẵn sàng đánh lại!".
Lê Đức Thọ bình tĩnh hơn "Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu! Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi còn lạ gì nhau...". Harriman ngồi lặng đi một lát rồi lẩm bẩm: "Tôi rút cái câu nói bom lại rơi trên đầu các ông...".
Người lính già đã qua 5 năm đánh và đàm ở "mặt trận" ngoại giao Paris ấy nở một cái cười sảng khoái... cặp Lê Đức Thọ - Xuân Thuỷ quả là lợi hại. Lúc Xuân Thuỷ "nhu" thì Lê Đức Thọ "cương" và ngược lại.
Lê Đức Thọ đa phần là "cương", nhưng cái cương không bao giờ bị gẫy vì đúng lúc vì có lý!". Tôi hỏi ông, Lê Đức Thọ "cương” như thế nào, thì ông cười, chậm rãi, có người nói Lê Đức Thọ gặp Kissinger là ngang sức ngang tài, nhưng có lẽ Kissinger đã đánh giá nhầm Lê Đức Thọ như sau này trong hồi ký mà ông ta đã viết...
Nói đến đây, ông lật cho tôi một trang "Thêm một lần nữa tôi đã đánh giá thấp Lê Đức Thọ. Ông có lối nhào lộn ngoại giao duyên dáng. Ông không hề lay chuyển trong cách định nghĩa khu phi quân sự..." và "Tóc hoa râm, đường bệ...
Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán hoặc marông đôi mắt to và sáng ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi 16 tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp...
Lê Đức Thọ tiếp tôi với một sự lễ phép có khoảng cách của một người mà ưu thế hiển nhiên đến mức không thể làm khác được bằng một kiểu lễ phép gần như hạ cố...".
Có một chi tiết chắc Kissinger không ghi vào hồi ký là ngón tay đeo nhẫn của Lê Đức Thọ cứ bóng sáng và nổi bật lên chiếc nhẫn gò từ mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc! Ông đang tâm sự với tôi ấn tượng về cái ngày mồng 8-1-1973 khi bàn đàm phán Paris được nối lại sau trận Điện Biên Phủ trên không.
Như mọi người đã biết, sau cú lật lọng của Mỹ nên Hiệp định đã hoàn tất ngày 20-10-1972 đã không được ký kết. Mỹ muốn xóa bỏ Hiệp định và ý đồ bắt ta phải thay đổi nhiều điều khoản bằng việc bất ngờ dùng B52 tập kích Hà Nội, Hải Phòng.
Trong 12 ngày đêm ác liệt máu lửa ấy, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã có mặt trong căn hầm đặc biệt ở ngay trong sân rồng ở Điện Kính Thiên cùng làm việc với Bộ Chính trị... Ba ngày đêm liền Cố vấn bị sốt cao.
Cơn thịnh nộ của ông Thọ
Ông Lê Đức Thọ và Kissinger ở Saint-Nom-La-Breteche, Pháp tháng 6-1973.
            Người mang kính đứng sát ông Thọ là Nguyễn Đình Phương.  Ảnh: Getty Images
Ông Lê Đức Thọ và Kissinger ở Saint-Nom-La-Breteche, Pháp tháng 6-1973. Người mang kính đứng sát ông Thọ là Nguyễn Đình Phương. Ảnh: Getty Images.
Trở lại Paris sáng 8-1-1973 trên đường đến chỗ họp ở Gifsur Yvette, Cố vấn Lê Đức Thọ kéo ông ra một góc: "Hôm nay toàn đoàn ta không thèm ra cửa đón đoàn Mỹ như thông lệ nữa. Và hôm nay mình sẽ nói mạnh đấy. Mình nói thong thả và cậu cố dịch theo đúng tinh thần".
Dù đã được dặn trước và đã trực tiếp chứng kiến hàng chục lần Lê Đức Thọ "cương" (quyết liệt, dai dẳng, kiên trì và cả nổi nóng.
Chắc đối phương cũng không ít lần nhầm vì Lê Đức Thọ với sắc mặt bừng đỏ! Ông Cố vấn vốn bị huyết áp cao, nhiều lần đoàn ta thảo luận trong phòng mật anh em đã phải tắt điều hoà mở cửa ra và thường bàn những thứ "đại sự" ở ngoài trời lúc đi dạo) nhưng chưa bao giờ ông thấy Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trút cơn thịnh nộ lên đối phương như buổi sáng xuân Paris ấy! Lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng...
Thôi thì đủ cả! Kissinger, "đạo diễn" chính của cuộc thảm sát bằng B52 với dân lành Khâm Thiên, An Dương... chỉ biết cúi đầu đứng nghe.
Mãi sau ông ta mới lắp bắp: "Tôi có nghe thấy những tính từ... Tôi xin không dùng những tính từ đó ở đây. Xin ông Cố vấn nói khe khẽ thôi không các nhà báo ngoài kia nghe được lại đưa tin là ông mắng chúng tôi!".
Kissinger một lần đã tò mò hỏi Lê Đức Thọ trong mấy phút nghỉ giải lao: "Bây giờ ông Cố vấn đàm phán với tôi, nói như mắng tôi. Thế còn sau này kết thúc đàm phán chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình rồi, ông Cố vấn mắng ai? Ngài có mắng cán bộ của mình như mắng tôi không?".
Lê Đức Thọ điềm nhiên: "Xin Ngài chớ nặng lời lúc tôi trình bày với Ngài. Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt lật lọng tráo trở đâu mà tôi phải mắng!".
Tôi hỏi người lính già trong trận đàm đánh ở Paris ấy, cuộc nào là "căng" nhất thì ông cười "cuộc nào mà chả căng! Anh em trong đoàn đàm phán nói vui là đoàn có ông Sáu Thọ, thọ là lâu dài lại có ông phó đoàn Hà Văn Lâu, cũng là lâu dài nên nhiệm vụ ở Paris phải là trường kỳ kháng chiến?!".
Nhưng có một cuộc, theo ông là "căng" nhất. Đó là phiên hai bên soạn thảo những điểm cơ bản trong Hiệp định, vào ngày 11-10-1972. Từ 9 giờ sáng 11 kéo một mạch đến 2 giờ sáng hôm sau mà như Kissinger đã ghi trong hồi ký "nói là thương lượng một mạch 16 giờ liền nhưng trên thực tế là 22 giờ đồng hồ".
"Quân" của cả hai bên thi thoảng phải ra ngoài dùng cà phê đặc hoặc hút thuốc, nhưng, Lê Đức Thọ trừ những lúc đi vệ sinh, liên tục ngồi đấu lý với Kissinger!
... Căn phòng ngủ kiêm nơi làm việc tiếp khách của người lính già trong trận đánh - đàm Paris năm ấy có vẻ hơi bề bộn. Các loại sách tài liệu, thứ tiếng Anh, thứ tiếng Pháp từ trên giá tràn xuống, đậu chi chít trên hai chiếc ghế lớn ghép lại được coi là bàn.. Lọt thỏm trong đám sách vở giấy tờ là chiếc máy chữ chuyên gõ tiếng Anh kiểu cổ chỉ bằng khổ chiếc điện thoại để bàn.
Thứ bề bộn của những người lấy sự mê say công việc làm trọng và thứ nữa, thiếu vắng bàn tay chăm sóc của người vợ thân yêu... Xong Hội nghị Paris, ông về công tác ở Bộ Ngoại giao.
Đang ở cương vị Vụ trưởng Tây Bắc Âu, ông được kiêm thêm chức bằng việc làm đại sứ kiêm nhiệm ở các nước Bắc Âu gồm Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy, Iceland...
Giữa những năm 1980, ông về đưa vợ sang theo tiêu chuẩn vì bao năm vợ chồng ông cứ biền biệt... Vợ ông bảo chồng cứ sang trước còn mình thu xếp việc nhà ít bữa nữa sẽ qua.
Có ai ngờ một trận cảm nặng đã cướp mất bà. Từ ấy đến lúc về hưu năm 1992, ông cứ vò võ như thế. May mà tổ ấm của 4 người con, hai trai với hai gái cùng 7 đứa cháu đã giúp ông trụ lại trong cái thành phố ràn rạt những người là người này...
Chứng nhân lịch sử Nguyễn Đình Phương mất ở tuổi quá bát thập.




40 NĂM HIỆP ĐỊNH PARIS LỊCH SỬ: Đường đi đến bàn đàm phán Paris


40 NĂM HIỆP ĐỊNH PARIS LỊCH SỬ:

Đường đi đến bàn đàm phán Paris

Bài 1: Thế trận của hai bên
- 87 chiếc pháo đài bay Boeing B-52 Stratofortress từ căn cứ không quân Andersen (Guam) cùng 42 B-52 từ căn cứ không quân Hoàng gia Thái Lan U-Tapao gần Sattihip (Thái Lan) đã kéo vào bầu trời Hà Nội đêm 18/12/1972, mở đầu chiến dịch oanh kích kinh hoàng nhất kể từ Thế chiến thứ hai. Trận chiến 12 ngày đêm khốc liệt nhất chiến tranh Việt Nam - “Điện Biên Phủ trên không” - bắt đầu.
Ngay trong trận đầu tiên, chiếc B-52 số 8201 đã bị tên lửa SAM bắn rơi và 3 trong 6 phi công phi hành đoàn nhảy dù bị bắt. Chiến dịch “Linebacker II”, mà quân đội Mỹ gọi là “món quà Giáng sinh” cho Hà Nội, được thiết kế để có thể làm thay đổi thế trận xuống dốc và cục diện bất lợi của Mỹ tại chiến trường Việt Nam.
sau loạt thất bại trên mặt trận ngoại giao - cuối cùng cũng không cứu nổi sự nghiệp chính trị hết thời của Tổng thống Nixon và chính “Điện Biên Phủ trên không” đã mở màn cho sự đổ vỡ của một cuộc chiến dài hơi. Chúng ta nhìn lại nguyên nhân chính đưa đến sự kiện “Điện Biên Phủ trên không” và kết quả của nó…
Đàm phán
Từ tháng 5/1968, cuộc chiến Việt Nam bắt đầu tiến hành song song hai mặt trận: mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao. Ngày 13/5/1968, phái đoàn đàm phán Mỹ và Bắc Việt Nam gặp nhau lần đầu tiên tại Pháp, mở đầu cuộc thương lượng marathon kéo dài hơn 4 năm.
Từ Hà Nội, chỉ thị được gửi đến phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) với nội dung: 1. Mỹ chấm dứt ném bom không điều kiện; 2. VNDCCH ngừng tấn công các khu phi quân sự; 3. VNDCCH đồng ý cuộc họp bốn bên về giải pháp chính trị cho tình hình Nam Việt Nam nhưng chính quyền Sài Gòn phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP).
Suốt từ năm 1968 đến đầu 1972, hàng loạt cuộc gặp gỡ đã diễn ra, nhưng hai bên - với Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn Lê Đức Thọ đại diện VNDCCH và ông William Averell Harriman (sau đó là Henry Kissinger) đại diện Chính phủ Mỹ - đều bất đồng. Thời gian này, Chính phủ Nixon bắt đầu thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh (“Vietnamization” - thuật ngữ do Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird đặt).
Mệt mỏi với cuộc chiến Việt Nam, Nixon và Kissinger tìm cách rút lui
Tháng 6/1969, trong khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) Nguyễn Văn Thiệu gặp Tổng thống Mỹ Richard Nixon tại đảo Midway để bàn chương trình Việt Nam hóa chiến tranh (kế hoạch rút quân từng bước của quân đội Mỹ khỏi chiến trường Việt Nam) thì tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành thuộc vùng giải phóng Tây Ninh, MTDTGP cùng nhiều tổ chức yêu nước cũng tổ chức bầu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng cố vấn do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu.
Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời - như một đối tác chính trị chính thức đại diện cho miền Nam Việt Nam - đã gây thêm áp lực trong vòng đàm phán Paris…
Từ đầu năm 1970, cuộc đấu tranh ngoại giao xảy ra chủ yếu giữa hai đối thủ: Henry Kissinger và ông cố vấn Lê Đức Thọ (hai người gặp nhau lần đầu tiên trong cuộc họp vào ngày 21/2/1970 tại Pháp). Đầu năm 1972, khi cuộc đấu trí căng thẳng Kissinger và ông Thọ tại Pháp chưa ngã ngũ, Hà Nội đánh giá: “Năm 1972 là năm hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Nhiệm vụ quân sự cần kíp là đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị, binh vận, phát triển thế tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam… đánh bại chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ…”.
Ngày 30/3/1972, bộ đội tổ chức tấn công quy mô vào Quảng Trị, Thừa Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Một tuần sau, ngày 6/4/1972, Mỹ phản hồi bằng cuộc không kích ác liệt (chiến dịch Linebacker I). Mùa hè đỏ lửa 1972 bắt đầu. Ngày 2/5/1972, trong khi tiếng súng chưa ngưng tại Việt Nam, ở Paris, cuộc họp giữa Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn Lê Đức Thọ được tái lập.
Ngày 18/10/1972, Kissinger sang Sài Gòn, đưa Chính quyền VNCH bản dự thảo kế hoạch hòa bình. Nguyễn Văn Thiệu bất mãn, cho rằng mình bị xử ép vì Mỹ chỉ tìm tiếng nói từ phía Hà Nội chứ không phải Sài Gòn. Trong hồi ký Our endless war, Trần Văn Đôn (Tổng tư lệnh Quân lực VNCH kiêm Tổng trưởng Quốc phòng) kể rằng, Thiệu chỉ đồng ý với dự thảo hiệp định hòa bình với bốn điều kiện: 1. Không có chính phủ liên hiệp; 2. Quân miền Bắc phải rút khỏi miền Nam; 3. Tôn trọng tính trung lập của khu phi quân sự; 4. Giải quyết những bất đồng chính trị còn lại giữa hai miền mà không có sự can thiệp nước ngoài.
Tại sao bế tắc?
Với chính quyền Sài Gòn, sự rút lui quân đội miền Bắc khỏi miền Nam là yếu tố quan trọng mang tầm chiến lược lâu dài. Điều này có thể thấy rõ trong báo cáo của Bùi Diễm (Đại sứ VNCH tại Mỹ từ 1962-1972): “Tôi vẫn còn nhớ những gì Tổng thống Thiệu nói, khi tôi gặp ông ấy vài tuần trước khi ký hiệp định Paris: “Hãy đến gấp Washington và Paris và ráng cố hết sức. Đặt vấn đề quân đội miền Bắc rút khỏi lãnh thổ chúng ta vào lúc này có lẽ quá muộn nhưng còn cơ hội thì chúng ta cứ thử. Nếu không thể đạt được những đòi hỏi cơ bản cho sự tồn tại của chúng ta, chúng ta sẽ gặp rắc rối về lâu dài…”.
Cùng lúc, chính quyền Thiệu nhận ra rằng, chính sách Việt Nam hóa chiến tranh là đòn thoái bộ trong danh dự của Mỹ.
Hai ngày sau khi Văn bản thỏa thuận (cho việc ký hiệp định) được ấn định, trong cuộc gặp Kissinger ngày 22/10/1972, Nguyễn Văn Thiệu trình bày: “Liệu có vấn đề gì với Mỹ khi các vị mất một nước nhỏ như Nam Việt Nam? Chúng tôi chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ thế giới đối với các ngài. Nếu các ngài muốn từ bỏ cuộc chiến, chúng tôi sẽ chiến đấu một mình cho đến khi chết.
Một cuộc gặp giữa ông Lê Đức Thọ và Henry Kissinger tại một biệt thự thuộc đảng Cộng sản Pháp ở ngoại ô Gif-sur-Yvette vào ngày 22/5/1973
Chính sách thế giới của Mỹ cho thấy các ngài đang nhảy nhót với Moscow và Bắc Kinh và các ngài tạo ra những chọn lựa khác nhau để đáp ứng chính sách mới. Nhưng với chúng tôi, sự chọn lựa chỉ là sự sống và cái chết. Với chúng tôi, việc ký vào hiệp định đồng nghĩa với đầu hàng để chấp nhận bản án tử hình. Cuộc sống không tự do tức là chết. Không, còn tệ hơn chết!”. Hai ngày sau, Thiệu đọc diễn văn trước Quốc hội, chỉ trích và bác bỏ Văn bản thỏa thuận ngày 20/10/1972; trong khi đó, bên Mỹ, khi trở về Washington, Kissinger công bố với giới báo chí: “Hòa bình đang trong tầm tay”…
Văn bản thỏa thuận ngày 20/10/1972 nói gì? Có thể điểm lại vài điểm chính:
1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký hiệp định này, Mỹ phải hoàn thành việc rút quân, bao gồm nhân viên quân đội và cố vấn quân sự; cùng lúc, hủy mọi căn cứ quân sự Mỹ trên đất Việt Nam.
2. Việc thống nhất hai miền Nam - Bắc sẽ thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và đặc biệt không có sự can thiệp nước ngoài; trong khi chờ đợi, miền Nam và miền Bắc không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự.
3. Chính phủ VNDCCH, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ VNCH cử đại diện thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên để giám sát việc thực hiện ngừng bắn cũng như việc rút quân Mỹ khỏi Nam Việt Nam…
Tháng 11/1972, Thiệu cử đặc phái viên Nguyễn Phú Đức sang Mỹ, gõ cửa Nhà Trắng, thuyết phục Washington tìm cách “câu giờ” tiến trình đàm phán giữa Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ. Tiếp đó, Nguyễn Văn Thiệu đưa tướng Alexander Haig bức giác thư yêu cầu Washington giúp sửa 69 điểm trong Văn bản thỏa thuận (theo Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger; vài tài liệu khác ghi “96 điểm”). Tuy nhiên, dù muốn cứu Thiệu, Nixon cũng không còn cách vì chính ông cũng đang chết đuối trong chính trường Mỹ.
Trong 4 năm cuối cùng ở cương vị tổng thống, Nixon đã làm mất thêm 20.553 lính Mỹ tại chiến trường Việt Nam, đối mặt làn sóng phản chiến bạo động lớn nhất và uy tín bị suy yếu bởi ảnh hưởng từ scandal “Bộ tài liệu Lầu Năm Góc” (toàn bộ kế hoạch chi tiết về cuộc chiến Việt Nam mà viên chức Lầu Năm Góc Daniel Ellsberg bí mật cung cấp cho tờ New York Times đăng tải vào tháng 6/1971).
Trong hồi ký, Tổng thống Nixon thú nhận rằng việc Quốc hội tước quyền hành động quân sự khiến ông chỉ có thể hù dọa VNDCCH bằng miệng. Thật không may, Hà Nội lại biết rõ điều này. Cuối năm 1972, các cuộc đàm phán nhằm thống nhất những bất đồng còn lại tiếp tục bế tắc, trong khi Hà Nội lợi dụng mùa tranh cử Tổng thống Mỹ để gây áp lực Washington - như kể trong quyển Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger. Khi Kissinger đưa kiến nghị sửa đổi gồm 69 điểm của Nguyễn Văn Thiệu cho cố vấn Lê Đức Thọ, phía VNDCCH bác bỏ.
Ngày 13/12/1972, khi quan điểm tiếp tục bất đồng và VNCH cương quyết không ngồi vào bàn thương lượng, hai bên Henry Kissinger - Lê Đức Thọ tạm ngưng làm việc. Hôm sau, Tổng thống Nixon gửi tối hậu thư, yêu cầu Hà Nội trở lại đàm phán trong vòng 72 giờ. Hà Nội từ chối. Ngày 15/12/1972, cố vấn Lê Đức Thọ lên đường về nước, tạt qua Bắc Kinh và Moscow. Ngày 18/12/1972, khi cố vấn Lê Đức Thọ vừa từ sân bay Gia Lâm về tới nhà ở phố Nguyễn Cảnh Chân, chiến dịch “Linebacker II” cũng bắt đầu…
Trận chiến cuối cùng của sự nghiệp Nixon
Theo Trung tướng Lê Văn Tri (nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân), kế hoạch đánh B-52 được phác thảo từ tháng 2/1972 và hoàn thành vào tháng 5/1972. Như vậy, một trận chiến như “Điện Biên Phủ trên không” đã nằm trong thế chủ động trước.
Trước năm 1972, miền Bắc có hệ thống phòng không với 145 chiến đấu cơ MiG cùng 26 vị trí tên lửa đất đối không SAM-2 Guideline (21 vị trí tại Hà Nội và Hải Phòng) - theo sử gia quân sự Mỹ Walter J. Boyne. Đêm đầu tiên, Mỹ sử dụng 129 chiếc B-52. Hơn 200 tên lửa SAM được bắn trong đêm này và 3 chiếc B-52 bị trúng.
Cũng trong đêm đầu tiên, xạ thủ Samuel Turner trên chiếc B-52 Brown 03 bị 1 MiG-21 bắn gục (vụ tử nạn đầu tiên trong lịch sử B-52). Những phi công Mỹ bị bắt trong trận đầu tiên đã được đăng ảnh trên hai tuần báo Time và Newsweek vào vài tuần sau. Đêm thứ hai kết thúc với 2 chiếc B-52 bị hỏng và đêm thứ ba trở thành bi kịch, khi 4 B-52G và 2 B-52D bị bắn cháy. Một trong những phi công bị bắt - Trung tá Keith Heggen - chết vào 10 ngày sau do vết thương nặng từ vụ cháy máy bay.
Pháo đài bay B-52 không kích Hà Nội trong chiến dịch “Linebacker II”
Vào Giáng sinh, Nixon ra lệnh 36 giờ ngừng bắn và trận “Điện Biên Phủ trên không” đợt hai tiếp tục được tiến hành với cường độ kinh hoàng hơn, bởi sự tham gia của 120 chiếc B-52. Chỉ trong đêm này, B-52 đã thả 9.932 quả bom. Cuối cùng, ngày 30/12/1972, chiến dịch “Linebacker II” kết thúc. Chiếc B-52 cuối cùng hạ cánh xuống căn cứ Guam vào trưa cùng ngày. Trong chiến dịch “Linebacker II”, B-52 thực hiện 729 chuyến bay (trong số 741 chuyến bay dự kiến), thả 15.000 tấn bom xuống Bắc Việt (một tài liệu khác của Mỹ ghi “hơn 36.000 tấn bom”).
Hà Nội đáp trả với khoảng 1.240 tên lửa SAM. Theo Việt Nam - những sự kiện lịch sử 1945-1975, riêng tại Hà Nội, số nạn nhân thiệt mạng là 2.380 người; 1.355 người bị thương; 7 trong 9 ga xe lửa bị phá hủy; 4 trong 5 cầu; 4 trong 5 bến phà; 1/3 nhà máy; 5 bệnh viện; Đài Tiếng nói Việt Nam và phố cổ Khâm Thiên cũng như nhiều tài sản - di tích văn hóa khác bị hỏng nặng…
Theo Thiếu tướng Trần Văn Giang, nguyên Chính ủy Sư đoàn Phòng không Hà Nội, số máy bay Mỹ bị bắn cháy trên bầu trời Việt Nam trong 12 ngày đêm kinh hoàng tháng 12/1972 là 81 chiếc trong đó có 34 B-52 và 47 máy bay chiến thuật, 47 phi công bị bắt sống. Theo sử gia quân sự Mỹ Walter J. Boyne, số máy bay B-52 bị bắn rơi là 15 chiếc, cùng 13 máy bay chiến thuật và có tổng cộng 92 phi công B-52 bị bắn rơi (59 người bị bắt sống, số còn lại chết hoặc mất tích). Số phi công bị bắn rơi từ các máy bay Mỹ khác là 29 người, với 17 người bị bắt sống và phần còn lại chết hoặc mất tích...
Giá trị lịch sử của “Điện Biên Phủ trên không” như thế nào? Washington còn cố vớt vát danh dự để nói rằng: “Chiến dịch “Linebacker II” là chiến thắng, một chiến thắng kinh điển của chiến thuật dùng quân sự gây áp lực ngoại giao. Hà Nội chấp nhận tái đàm phán và không còn yêu sách”. Đúng là Hà Nội đồng ý thương lượng sau khi nhận “món quà Giáng sinh” của Nixon nhưng để đánh giá chiến thắng thuộc phe nào thì chỉ cần xem kết quả chung cuộc từ Hiệp định Paris 27/1/1973.
Hiệp định này gần như không khác mấy bản dự thảo tháng 10/1972 và như vậy bên thật sự thắng lại chính là Hà Nội và kẻ thua nặng nhất là chính quyền Sài Gòn. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu không còn chọn lựa nào khác hơn là ký vào Hiệp định Paris 27/1/1973, dù trong thâm tâm bất mãn tột độ. Tại sao Thiệu chịu ký?
11 ngày trước khi các bên ngồi quanh chiếc bàn tròn tại Paris để ký Hiệp định 27/1/1973, ngày 16/1/1973, Nixon phái tướng Alexander Haig sang Sài Gòn thuyết phục Thiệu (chính xác hơn là gây sức ép).
Bùi Diễm đã thuật lại vài chi tiết từ cuộc gặp này (dẫn lại từ www.ehistory.com): “Quyết định cuối cùng của Sài Gòn trong việc ký Hiệp định chỉ ra đời sau loạt thông điệp đau đớn giữa hai tổng thống Nixon và Thiệu mà trong vài thông điệp, Tổng thống Nixon đã dùng thứ ngôn ngữ ngoại giao cứng rắn nhất ít thấy trong hoạt động ngoại giao, chẳng hạn nếu Thiệu ngoan cố không ký vào Hiệp định, viện trợ của Mỹ sẽ “cắt hoàn toàn… và nếu ông (Thiệu) từ chối không tham gia với chúng tôi, Chính phủ VNCH sẽ gánh toàn bộ trách nhiệm các hậu quả…
Nếu ông không đưa câu trả lời tích cực vào trước 12 giờ trưa, theo giờ Washington, vào ngày 21/1/1973, tôi sẽ cho phép Tiến sĩ Kissinger tham gia tiến trình ký Hiệp định mà không cần có mặt chính phủ ông”.
Đúng là Nguyễn Văn Thiệu không còn chọn lựa nào khác và chấp nhận nhiều điều kiện khó chịu, kể cả yêu cầu về sự có mặt của quân đội miền Bắc tại miền Nam và việc đòi hỏi nhìn nhận sự tồn tại hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam! Như ông từng nói, về số phận mình cũng như nền “Đệ nhị Cộng hòa”: “Với chúng tôi, việc ký vào hiệp định đồng nghĩa với đầu hàng để chấp nhận bản án tử hình…”.
Bài 2: Chiến thắng ngoại giao lịch sử
Kéo dài gần 5 năm, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, quá trình đàm phán hòa bình đưa đến việc ký Hiệp định Paris 27/1/1973 là một trong những cuộc đàm phán kéo dài nhất lịch sử ngoại giao thế giới. Kết quả của nó khẳng định chiến thắng tuyệt đối trên mặt trận ngoại giao (tiến hành song song mặt trận chiến tranh). Mỹ chấp nhận rút lui, ngụy quyền Sài Gòn buộc phải chịu sự có mặt hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam (CPCMLTMNVN)…
Để có thể cùng thương lượng…
Trước hết, cần nói ngay, thắng lợi 27/1/1973 là một trong những hệ quả của Chiến dịch Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Chính sự kiện Mậu Thân gây kinh hoàng Nhà Trắng đã khiến Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đi đến 3 quyết định then chốt cho sự nghiệp chính trị của ông nói riêng cũng như cho cuộc chiến Việt Nam nói chung: Mỹ đơn phương ngừng bắn từ vĩ tuyến 20 trở ra (Bắc); Johnson không tranh cử nhiệm kỳ hai và Washington chấp nhận thương lượng hòa bình với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH). 3 tháng sau sự kiện Mậu Thân, Hà Nội tuyên bố sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ nhằm thiết lập quá trình đàm phán. Cuộc thương lượng hòa bình tại Việt Nam giữa Mỹ và VNDCCH bắt đầu từ lúc này.
Ngày 13/5/1968, đại diện hai bên gặp nhau. Cuộc chiến Việt Nam từ lúc đó tiến hành song song hai chiến tuyến: Trên mặt trận ngoại giao và trên mặt trận chiến trường. Với thái độ chấp nhận đàm phán, Mỹ đã gián tiếp thừa nhận họ thất bại trong cuộc chiến Việt Nam và đàm phán hòa bình chính là cuộc thoái bộ từng bước trong danh dự. Cuộc thoái bộ càng thể hiện rõ với chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống kế nhiệm Richard Nixon. Bởi tính chất quan trọng mang tính sống còn của “danh dự chính trị”, những hiệp đấu đầu tiên giữa Mỹ và VNDCCH đã căng thẳng ngay từ “vòng đấu loại”, từ vấn đề chọn địa điểm đến các tranh cãi quanh việc lựa kiểu bàn cho cuộc gặp 4 bên (VNDCCH, CPCMLTMNVN, Mỹ và ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH), từ những điều khoản trong hiệp định đến cả cách thức ký…
Ngoại trưởng Mỹ William P. Rogers ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973)
Đầu tiên, việc chọn địa điểm đã gây nhiều tranh luận. Ngày 4/4/1968, Tòa đại sứ Mỹ tại Lào thông báo với Tòa đại sứ Việt Nam về dự định tổ chức cuộc gặp đầu tiên tại Geneva (Thụy Sĩ). Tuy nhiên, Hà Nội chọn Phnom Penh (do gần chiến trường Việt Nam, dễ phục vụ công tác tuyên truyền và cổ vũ tinh thần nhân dân 3 nước anh em Đông Dương). Mỹ không chịu và đưa ra 4 địa điểm khác: New Delhi, Jakarta, Vientiane và Ragoon. Hà Nội tiếp tục bác và lại đề xuất Warsaw (Ba Lan). Washington không đồng ý, đồng thời đưa ra một danh sách dài (Colombo, Kathmandu, Kuala Lumpur, Kabul, Tokyo, Helsinki, Rome…).
Cuối cùng, ngày 2/5/1968, Hà Nội đề nghị Paris. Lần này, Washington nhượng bộ. Ngoài địa điểm họp, hình dáng cái bàn cũng là đề tài tranh luận giữa các bên. Thoạt đầu, Mỹ đề nghị dùng bàn chữ nhật với Mỹ và VNCH ngồi một bên và bên kia là VNDCCH và CPCMLTMNVN. Do VNDCCH không đồng ý, Mỹ đưa tiếp 3 kiểu bàn khác (1. Hai bàn hình cung đối diện không tách nhau; 2. Hai bàn hình cung đối diện, tách nhau; 3. Hai bàn hình cung đối diện, tách nhau, hai đầu bàn hai bên có hai bàn nhỏ chữ nhật cho thư ký ngồi). VNDCCH đề nghị dùng kiểu bàn thứ hai (trong ba mẫu trên) nhưng ghép lại thành bàn tròn. Vài tháng liên tiếp, vụ cái bàn vẫn chưa ngã ngũ. Cuối cùng, sau gần 3 tháng, ngày 15/1/1969, hai bên thống nhất dùng kiểu bàn do Liên Xô đề xuất: Chiếc bàn tròn cho 4 bên tham gia đàm phán, cùng hai bàn chữ nhật đặt cách bàn tròn 0,45m ở vị trí đối diện làm chỗ ngồi cho thư ký; trên bàn tròn không có cờ và biển.
Và cùng quyết đấu
Trong cuộc gặp đầu tiên, phía Mỹ được dẫn đầu bởi hai nhà ngoại giao tên tuổi Averell Harriman (mất năm 1986) và Cyrus Vance (mất năm 2002); trong khi đó, phía VNDCCH đến Paris dưới sự dẫn dắt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy. Trong những cuộc gặp đầu tiên (5/1968), Mỹ tập trung 3 vấn đề chính: Các cuộc thương lượng phải có tiếng nói tham gia của phe VNCH; Bắc Việt Nam không được vi phạm khu phi quân sự; Bắc Việt Nam không được tấn công các thành phố lớn tại miền Nam như Đà Nẵng, Huế và Sài Gòn.
Tháng 1/1969, phiên họp thứ nhất với sự tham gia của 4 bên được tổ chức, khi nước Mỹ bấy giờ được thay tổng thống bằng gương mặt mới Richard Nixon. Đầu năm 1970, quá trình thương lượng nhiều lần diễn ra trong bí mật, giữa hai nhân vật: Henry Kissinger (cố vấn An ninh quốc gia Hoa Kỳ) và cố vấn Chính phủ VNDCCH Lê Đức Thọ. Ngày 21/2/1970, tại căn nhà số 11 đường Darthé thuộc Choisy-Le-Roi (Paris), hai nhà đàm phán Kissinger - Lê Đức Thọ (mà sau này đều được trao Nobel hòa bình 1973 và ông Thọ không nhận) đã lần đầu gặp nhau.
Một trong những cuộc họp riêng cuối cùng giữa Henry Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ vào tháng 1/1973 tại Saint Nom la Breteche, Pháp
Sang năm 1972, một trong những vướng mắc chính của quá trình đàm phán là cuộc chiến ngôn ngữ ngoại giao giữa VNCH và CPCMLTMNVN. Trong khi chính quyền Sài Gòn một mực không công nhận tính hợp pháp chính trị của CPCMLTMNVN, ngày 2/2/1972, tại hội nghị 4 bên, Ngoại trưởng CPCMLTMNVN Nguyễn Thị Bình đưa ra hai yêu cầu: 1. Về quân sự, CPCMLTMNVN đòi Mỹ công bố thời hạn dứt khoát cho việc rút toàn bộ lính Mỹ tại Việt Nam và chấm dứt tấn công quân sự ở cả hai miền Việt Nam; 2. Về chính trị, CPCMLTMNVN yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu từ chức và chính quyền Sài Gòn chấm dứt chiến tranh, trả tự do tù nhân chính trị, hủy bỏ chính sách bình định…
Tại chiến trường Việt Nam, tình hình chiến sự chuyển sang giai đoạn căng thẳng, với những cuộc tấn công quy mô của bộ đội và lực lượng giải phóng quân cùng các cuộc dội bom trả đũa của Mỹ. Đây cũng là thời điểm Nixon triển khai mạnh chính sách Việt Nam hóa chiến tranh.
Sau vài tháng gián đoạn bởi các cuộc giao tranh quân sự tại chiến trường Việt Nam, tiến trình đàm phán giữa Henry Kissinger và cố vấn Lê Đức Thọ được nối lại, với 3 cuộc gặp chính: cuộc họp thứ nhất vào ngày 19/7/1972; cuộc họp thứ hai ngày 1/8/1972; và cuộc họp thứ ba ngày 14/8/1972. 3 cuộc họp là cơ sở cho văn bản thỏa thuận hiệp định hòa bình Việt Nam được hai bên Mỹ - VNDCCH gần như nhất trí vào vài tuần sau đó.
Đầu tháng 10/1972, VNDCCH đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Tuy nhiên, đúng lúc này, Nguyễn Văn Thiệu giãy nảy cho rằng, VNCH bị xử ép và phản đối nhiều điều khoản trong dự thảo. Ủng hộ Thiệu, Washington trở mặt, không những đòi VNDCCH chấp nhận hàng chục kiến nghị sửa đổi (trong dự thảo) của Thiệu mà còn tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền VNCH. Sự cản mũi của Thiệu khiến quá trình đàm phán bế tắc và Nixon đã dùng đến B-52 trong chiến dịch Linebacker II dội bom Hà Nội suốt 12 ngày đêm để buộc VNDCCH quay lại bàn thương lượng.
Hiệp định ra đời và một cuộc chiến chuẩn bị bế mạc
Ngày 6/1/1973, cố vấn Lê Đức Thọ đến Paris. Tất cả những gì từng nêu trong văn bản thỏa thuận hiệp định về tái lập hòa bình Việt Nam (tháng 10/1972) lần này được bàn lại và Mỹ gần như chấp nhận hầu hết các điểm chính. Những kiến nghị sửa đổi của phe VNCH đều bị phớt lờ. Sau chiến dịch Linebacker II, Washington không còn tinh thần để tiếp tục gây khó dễ VNDCCH. Ngày 27/1/1973, lễ ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được thực hiện tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber (Paris).
Bản Hiệp định Paris gồm 9 chương, 23 điều. Nội dung chính nêu: Hoa Kỳ cùng các nước khác cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam; Hoa Kỳ chấm dứt hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ngưng viện trợ hay dính líu vào nội bộ Nam Việt Nam; nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Với kết quả Hiệp định Paris 27/1/1973, cục diện chiến trường Nam Việt Nam thay đổi nhanh từng ngày và kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ chỉ đào sâu thêm huyệt mộ cho chính quyền Sài Gòn…
Quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris 27/1/1973
- Ngày 13/5/1968: Hội nghị 2 bên Mỹ - VNDCCH khai mạc tại Paris.
- Ngày 25/1/1969: Hội nghị 4 bên Mỹ - VNCH và VNDCCH - Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) khai mạc tại Paris.
- Ngày 8/6/1969: Tổng thống Richard Nixon tuyên bố rút quân đợt đầu tiên gồm 25.000 lính khỏi miền Nam Việt Nam.
- Ngày 10/6/1969: CPCMLTMNVN quyết định đoàn đại biểu MTDTGPMNVN tham gia tiến trình đàm phán hòa bình tại Paris được chính thức gọi là đoàn đại biểu CPCMLTMNVN, do bà Nguyễn Thị Bình, với cương vị Ngoại trưởng, làm trưởng đoàn.
- Ngày 25/8/1969: Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời thư Tổng thống Richard Nixon. Bác Hồ nêu rõ: Muốn có hòa bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam.
- Ngày 17/9/1970: Tại phiên họp toàn thể lần thứ 84 Hội nghị Paris về Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đưa ra đề nghị tám điểm.
- Ngày 18/10/1970: Tổng thống Nixon đưa đề nghị năm điểm.
- Ngày 26/6/1971: VNDCCH đưa đề nghị chín điểm.
- Ngày 8/10/1972: VNDCCH chủ động đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
- Ngày 22/10/1972: VNDCCH và Mỹ hoàn thành văn bản Hiệp định nhưng sau đó Mỹ lập cầu hàng không tiếp tế mạnh cho ngụy quyền Sài Gòn.
- Ngày 18/12/1972: Tổng thống Nixon ra lệnh thực hiện chiến dịch Linbebacker II đánh phá Hà Nội và Hải Phòng.
- Ngày 23/1/1973: VNDCCH - Mỹ ký tắt Hiệp định Paris.
- Ngày 27/1/1973: Lễ ký chính thức Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được tiến hành tại Trung tâm Kléber (Paris).
- Ngày 29/1/1973: Quân đội Mỹ bắt đầu rút khỏi Nam Việt Nam.
- Ngày 30/1/1973: Đoàn đại biểu quân sự VNDCCH do Thiếu tướng Lê Quang Hòa làm trưởng đoàn bắt đầu vào Sài Gòn tham gia Ban Liên hợp quân sự bốn bên và giám sát sự rút quân của Mỹ.
- Từ ngày 10 đến 13/2/1973: Cố vấn Chính phủ Mỹ Henry Kissinger đến Hà Nội để thảo luận việc thi hành Hiệp định.
- Từ ngày 12/2 đến 27/3/1973: CPCMLTMNVN trao trả nhân viên quân sự và dân sự Mỹ.
- Từ ngày 12/2 đến 24/7/1973: CPCMLTMNVN trao trả nhân viên quân sự và dân sự thuộc chính quyền Sài Gòn.
(Nguồn: Chính phủ Việt Nam 1945-1998, NXB Chính trị Quốc gia 1999; Việt Nam - những sự kiện lịch sử 1945-1975, Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn Quốc gia, Viện Sử học, NXB Giáo dục 2002).

Cao Minh

Hiệp định Pari - trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam

Hiệp định Pari - trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam


Cách đây đúng 40 năm, ngày 27/1/1973, tại Pari, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Pari về Việt Nam, đã được ký kết. Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 13/5/1968 đến 27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn và đã có hàng nghìn cuộc mít tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đã giành được thắng lợi.

Năm 1968, sau hàng loạt những thất bại nặng nề của chiến lược "chiến tranh cục bộ" và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức diễn ra ở Pari. Phái đoàn Việt Nam do Bộ trưởng Xuân Thuỷ đứng đầu, đã khẳng định lập trường không thay đổi của Việt Nam là trước tiên Mỹ phải chấm dứt không điều kiện các cuộc ném bom bắn phá và mọi hoạt động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, sau đó mới bàn các vấn đề có liên quan của hai bên. Hội nghị hai bên ở Pari sau nhiều phiên họp trong năm 1968 vẫn không giải quyết được vấn đề cơ bản, nhưng đã mở đầu cho một thời kỳ Việt Nam tiến công trực diện Mỹ về ngoại giao trên bàn hội nghị. Trong quá trình đấu tranh đó, phái đoàn Việt Nam luôn khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; lên án tội ác chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên hai miền Nam, Bắc Việt Nam, hành động phá hoại hiệp định Giơnevơ của Mỹ; đòi Mỹ rút quân và chư hầu ra khỏi Việt Nam; chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam; từ bỏ nguỵ quân Sài Gòn; đáp ứng lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trước quan điểm đúng đắn, thái độ kiên quyết của phái đoàn Việt Nam, cùng với những thất bại nặng nề trên chiến trường và tình hình nước Mỹ trước ngày bầu cử Tổng thống, ngày 1/11/1968, Giôn - xơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau sự kiện này, cuộc đấu tranh giữa Việt Nam và Mỹ bắt đầu xoay quanh vấn đề hình thức, thành phần hội nghị và đã đi đến thống nhất tổ chức Hội nghị 4 bên bao gồm: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam), Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hoà (chính quyền Sài Gòn).

Tháng 1 năm 1969, Hội nghị 4 bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên tại Pari. Lập trường bốn bên, mà thực chất là của hai bên, Việt Nam và Mỹ, giai đoạn đầu rất xa nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cho các cuộc đấu tranh diễn ra gay gắt trên bàn hội nghị, đến mức nhiều lúc phải gián đoạn thương lượng. Trong thời gian này, những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Campuchia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm quân Mỹ - nguỵ bị thiệt hại nặng nề, từng bước làm phá sản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” và tạo thế thuận lợi cho ta trên bàn đàm phán.

Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Lúc đầu, bản dự thảo được các bên nhất trí nhưng đến ngày 22/10/1972 phía Mỹ lật lọng viện dẫn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đòi sửa đổi bản dự thảo. Đêm 18/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon ra lệnh ném bom huỷ diệt Hà Nội và Hải Phòng bằng B52. Cuộc đụng đầu lịch sử trong 12 ngày đêm được ví là "Trận Điện Biên Phủ trên không" kết thúc bằng việc 34 pháo đài bay B52 và 47 máy bay chiến đấu khác của Mỹ bị bắn rơi ngay trên bầu trời Hà Nội. Thất bại của Mỹ trên chiến trường miền Nam cùng với thất bại của không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời Hà Nội, đẩy Mỹ vào thế thua không thể gượng nổi, buộc chúng phải chấp nhận thất bại, nối lại đàm phán tại Pari. Trên tư thế bên chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán đã kiên quyết đấu tranh giữ vững nội dung của dự thảo Hiệp định đã thoả thuận.

 Cuối cùng, ngày 22/1/1973, tại Trung tâm các Hội nghị quốc tế Clêbe, đúng 12 giờ 30 phút (giờ Pari) Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kit-xinh-giơ ký tắt. Ngày 27/1/1973 Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký chính thức giữa Bộ trưởng Ngoại giao các bên.

 Hiệp định Pari về Việt Nam là kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho nguỵ nhào”. Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pari là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ cho chân lý, giành độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hội nghị Pari và Hiệp định Pari mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ.
VƯƠNG TÔN KIÊN

Paris 1973: Bảo vệ thành công cuộc đấu trí lịch sử


Paris 1973: Bảo vệ thành công cuộc đấu trí lịch sử

40 năm trước, ngày 27/1/1973 tại Paris, "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam", gọi tắt là Hiệp định Paris đã được ký kết, đánh dấu một thắng lợi lớn trong cuộc đấu tranh ngoại giao cam go nhất, lâu dài nhất, trong lịch sử gần 70 năm của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.

Đóng góp vào thành công đó có những hoạt động thầm lặng nhưng quan trọng của lực lượng công an trong công tác bảo vệ an ninh cho phái đoàn Việt Nam gần 5 năm trên đất khách. 

Bảo đảm an toàn bí mật các tài liệu 

Nguyên Đại tá, Trưởng phòng Hậu cần Bộ Công an, nguyên thành viên Đội bảo vệ Đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, ông Trần Hữu Diệt (1932), hiện tham gia Ban hưu trí đội cảnh vệ, thuộc Bộ Tư lệnh cảnh vệ hồi tưởng lại những năm tháng huy hoàng đó. 

Lực lượng Cảnh vệ lúc đó do Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh cảnh vệ của công an nhân dân Việt Nam phụ trách trực tiếp. Mỗi cán bộ chiến sỹ đều nhận thức đây là một nhiệm vụ rất nặng nề, cũng là một vinh dự lớn lao mà Đảng và nhân dân tin cậy giao phó, ai nấy đều tâm niệm làm hết sức mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 

Ông Trần Hữu Diệt kể: “Trước năm 1965, tôi được cử đi học lớp đào tạo đầu tiên tại C500 của Bộ Công an, sau đó được chuyển về Cục cảnh vệ, nay thuộc Bộ Tư lệnh cảnh vệ, với nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Sau năm 1965, tôi rất vinh dự khi được lựa chọn để bảo vệ phái đoàn Việt Nam sang đàm phán Hiệp định Paris. Công việc của tôi lúc bấy giờ là bảo đảm an toàn cho lãnh đạo khi tiếp các đoàn, trước khi ra hội trường, kiểm tra bảo quản an toàn thực phẩm... Với trách nhiệm của người chiến sỹ tôi luôn nỗ lực cao và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.”

Trong suốt thời gian ông Diệt và các đồng đội làm nhiệm vụ, hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn diễn ra, không một thông tin, một địa điểm bí mật nào bị tiết lộ. 

Các vị lãnh đạo cùng cán bộ công nhân viên của hai đoàn được bảo vệ tuyệt đối an toàn. An toàn về chính trị của hai đoàn được đảm bảo cùng với việc bảo vệ an toàn bí mật các tài liệu quan trọng và chủ động thực hiện tốt các phương án đấu tranh với địch trong cũng như ngoài hội nghị. 

Lời Bác dặn là phương châm hành động 

Cùng nhận nhiệm vụ bảo vệ đoàn tại Paris, ông Tăng Văn Soát (1931), nguyên Đại tá, nguyên Trưởng phòng Bộ Công an, nguyên Chuyên viên bảo vệ Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết: “Nhiệm vụ của tôi được giao tại Paris là bảo vệ tuyệt đối an toàn về tính mạng, tài liệu và tránh sự tiếp xúc của các phần tử phản động lôi kéo... Khi được nhận nhiệm vụ này, cảm giác lo lắng đan xen niềm tự hào trong tôi. Để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, tôi luôn khắc sâu lời Bác Hồ căn dặn và lấy đó làm phương châm hành động: 'Khi không có địch phải coi như có địch, khi có địch phải bình tĩnh như không có địch'". 

Ông Tăng Văn Soát nhớ lại, trong quá trình công tác ở Paris, điều nhận thấy rõ nét nhất là phái đoàn Việt Nam được nhân dân thế giới ủng hộ và đồng tình rất cao, nhất là người dân Pháp, từ người phục vụ, lái xe của Pháp, Việt kiều, họ động viên đoàn cả về vật chất lẫn tinh thần. 

Vì vậy, dù xa quê hương trong thời gian khá dài, nhưng cả đoàn luôn cảm thấy ấm áp về tinh thần. Ông Soát còn nhớ mãi cử chỉ thân thiện của ông Xuân Thủy trước mỗi cuộc đàm phán. Với tư cách là Trưởng đoàn, ông thường gặp gỡ những người dân đứng trước cổng hội nghị và chào đồng bào, kèm theo những lời động viên đến tất cả mọi người với niềm tin tất thắng, rồi mới bước vào cuộc họp. 

Gần 5 năm trong một căn phòng 

Ít ai có thể tưởng tượng về một cuộc sống gần 5 năm ở nước ngoài nhưng chỉ quanh quẩn trong một căn phòng và âm thầm đóng góp cho những bước thành công của Hiệp định Paris. 

Ông Nguyễn Tiến Chất (1931), nguyên Trưởng ban cơ yếu Trung ương, nguyên Tổ trưởng Tổ cơ yếu Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tâm sự: “Chúng tôi được ở trong một căn phòng kín, thường gọi đùa là 'phòng hạnh phúc.' Phái đoàn có việc cần bàn bạc đều phải vào phòng đó vì ở đây có thiết bị cách âm với bên ngoài, chống chụp ảnh, ghi âm... để bảo đảm thông tin không bị lọt ra ngoài. Căn phòng cũng được các đồng chí công an của Pháp và Việt Nam canh gác 24/24 giờ 'nội bất xuất, ngoại bất nhập'; mọi sinh hoạt hàng ngày từ nấu ăn, vệ sinh cá nhân... đều chỉ diễn ra trong phạm vi căn phòng đó. Ngoài ra, chúng tôi phải hết sức cảnh giác từ lời ăn, tiếng nói, tiếp xúc, đến các sinh hoạt hàng ngày... Nhờ vậy, trong hơn 5 năm không có một thông tin cơ mật nào bị lọt ra ngoài."

Thành tích này sau đó đã được ông Lê Đức Thọ biểu dương toàn đoàn. Ông Chất nhấn mạnh: "Nhiệm vụ chính của chúng tôi là bảo đảm công tác cơ mật, chuyển và dịch thông tin, tài liệu của phái đoàn từ Paris về Hà Nội và ngược lại. Năm 1973 được coi là năm quyết liệt nhất, tôi được trực tiếp phục vụ đồng chí Lê Đức Thọ. Công việc của tôi tập trung chủ yếu nghiên cứu giúp trưởng, phó đoàn về nội dung trong Hiệp định Paris, ngoài ra còn các bộ phận khác nghiên cứu đối sách, ngoại giao có kinh nghiệm đấu tranh với địch và vận động quần chúng. Mặc dù chỉ làm việc trong căn phòng khép kín, nhưng chúng tôi hết sức phấn khởi vì Hà Nội liên tục gửi tin điện mừng chiến thắng đến Paris. Nhờ vậy, ai cũng tràn đầy sinh lực và lạc quan đấu tranh với niềm tin Hiệp định Paris sẽ thành công, đất nước Việt Nam sẽ hoàn toàn thống nhất."

Công tác bảo vệ hội nghị được lãnh đạo đoàn đàm phán đánh giá: "Công lao của các chiến sỹ cảnh vệ góp phần quan trọng vào thắng lợi của Việt Nam." Đó là một vinh dự to lớn và đầy tự hào của các cán bộ chiến sỹ trực tiếp bảo vệ thuộc lực lượng cảnh vệ và Bộ Công an. 

Ông Trần Hữu Diệt cũng bày tỏ phấn khởi khi những đóng góp của ông và các đồng đội đều được ghi nhận bằng những Kỷ niệm chương của Bộ Ngoại giao, Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc"... 

27 người làm công tác bảo vệ Hội nghị Paris ngày ấy giờ đây đều đã bước vào tuổi bảy mươi, tám mươi..., những người còn lại vẫn luôn giữ mối liên lạc thường xuyên. Về với đời thường, những chiến sỹ cảnh vệ, người chiến sỹ công an nhân dân năm xưa vẫn luôn phát huy truyền thống hào hùng của những năm tháng không thể nào quên, tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu./. 

Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế là những nhân tố quyết định thắng lợi của Hiệp định Paris


Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế là những nhân tố quyết định thắng lợi của Hiệp định Paris
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ảnh: dangcongsan.vn
Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973 - 27-1-2013), phóng viên đã có cuộc phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, vào thời điểm đó là người đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký vào văn kiện lịch sử này.


Phóng viên (PV): Quá trình đàm phán Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam là sự kiện tâm điểm của thế giới trong giai đoạn từ 1968 - 1972. Vậy, với tư cách là Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và là người phụ nữ duy nhất tham gia vào sự kiện quan trọng này, bà có thể chia sẻ cảm xúc của bà tại thời điểm đặt bút ký vào Hiệp định Paris?
Bà Nguyễn Thị Bình: Năm 1960, khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được thành lập thì tôi được cử làm Ủy viên Trung ương Mặt trận phụ trách về đối ngoại. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1967, tôi cũng đã tham gia vào nhiều hoạt động đối ngoại. Các đồng chí lãnh đạo đã quyết định cử tôi tham gia đoàn đàm phán Hiệp định Paris với tư cách là Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Khi nhận được quyết định này, tôi cảm thấy rất vinh dự, song cũng rất lo lắng vì đây là một nhiệm vụ, trọng trách nặng nề. Song với quyết tâm, tôi nghĩ mình có thể làm và phải cố gắng làm tốt nhiệm vụ cấp trên giao cho.
Ngày 27-1-1973, tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, tôi - đại diện đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và ông Nguyễn Duy Trinh, đại diện cho đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH); ông Williams Rogers, đại diện cho Hoa Kỳ và ông Trần Văn Lắm, đại diện cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã chính thức ký Hiệp định Paris và các Nghị định thư liên quan về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam sau gần 5 năm đàm phán. Tại thời điểm đó, tôi cảm thấy rất xúc động vì đã được thay mặt cho nhân dân miền Nam Việt Nam ký vào một văn kiện lịch sử.
Để có được kết quả trên là có sự đóng góp xương máu của đồng chí, đồng bào đã ngã xuống vì cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc kéo dài gần 20 năm; có sự ủng hộ của hàng triệu bạn bè quốc tế… Tất cả những điều đó khiến tôi vô cùng xúc động và có lẽ cảm xúc này sẽ đi theo tôi suốt cuộc đời mình.
PV: Cuộc đàm phán Hiệp định Paris là một cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử và có những lúc tưởng chừng như dậm chân tại chỗ. Bà có thể chia sẻ một vài thông tin về cuộc đàm phán và những suy nghĩ của mình trong quá trình tham gia đàm phán?
Bà Nguyễn Thị Bình: Chính xác cuộc đàm phán Hiệp định Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, với 202 phiên họp công khai diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber từ ngày 13-5-1968 đến ngày 27-1-1973, và 36 phiên gặp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Cuộc đàm phán chia làm hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất từ ngày 13-5-1968 đến hết tháng 10-1968, giai đoạn thứ hai từ ngày 25-1-1969 đến ngày 27-1-1973.
Cuộc đàm phán diễn ra gần 5 năm, cũng có lúc tưởng chừng như dậm chân tại chỗ và có những lúc báo chí đã nói, đây là “cuộc đàm phán giữa những người điếc” vì mỗi bên đều thể hiện lập trường của mình và không ai nghe ai hết. Mặc khác, trên chiến trường, tương quan lực lượng chưa có quyết định gì cho ai mạnh hơn ai, hai bên giằng co. Cứ vào thứ 5 hàng tuần, tại Trung tâm Kléber, các cuộc họp cứ lặp đi lặp lại. Nhiều lúc các đại biểu cảm thấy chán ngán và không biết đến khi nào cuộc đàm phán sẽ kết thúc.
PV: Được biết, về nội dung của Hiệp định Paris đã được ký kết cơ bản giống bản dự thảo Hiệp định Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” của đoàn Chính phủ VNDCCH đưa ra tháng 10-1972. Vậy, bà có thể chia sẻ một số nội dung của Hiệp định này?
Bà Nguyễn Thị Bình: Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10-1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Nixon nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hòan toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết. Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam. Ngoài ra, Mỹ đã dùng B52 để không kích, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Cuộc không kích của Mỹ thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị. Chưa chấm dứt ném bom, Mỹ đặt vấn đề nối lại cuộc đàm phán. Sau thất bại đó, Mỹ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định Paris đã được ký kết cơ bản về nội dung giống như bản Hiệp định đã được dự thảo trước đó.
Hiệp định Paris là một tổng thể bao gồm Hiệp định, 4 Nghị định thư, 8 bản Hiểu biết (Understanding), Định ước quốc tế, Tuyên bố chung và các văn thư trao đổi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hiệp định Paris đã ghi nhận cam kết của Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; Quy định việc Mỹ rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương trong khi quân đội của miền Bắc Việt Nam tiếp tục ở lại miền Nam Việt Nam; Công nhận ở miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, có hai lực lượng vũ trang đối lập kiểm soát hai vùng lãnh thổ khác nhau ở miền Nam Việt Nam. Việc thi hành Hiệp định Paris 1973 làm thay đổi so sánh lực lượng ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng, củng cố lực lượng của cách mạng, làm cho chính quyền thân Mỹ ở miền Nam mất chỗ dựa, suy yếu về chính trị, vì trên thực tế, Mỹ không còn công nhận ngụy quyền là chính quyền duy nhất đại diện cho Nam Việt Nam.
PV: Bà đánh giá thế nào về vai trò, thế của đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris?
Bà Nguyễn Thị Bình: Phải nói là khi bắt đầu đàm phán, một trong những vấn đề giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Mỹ phải đấu tranh rất quyết liệt bởi sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên. Mỹ hoàn toàn không muốn sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhưng tình thế buộc Mỹ chấp nhận. Việc Mỹ phải chấp nhận đàm phán với sự có mặt của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một thắng lợi chính trị - ngoại giao bước đầu, một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chúng ta trên bàn Hội nghị. Mỹ vô hình chung đã phải thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có một phong trào yêu nước, có một cuộc chiến đấu của nhân dân chống lại sự xâm lược của Mỹ và chính quyền thân Mỹ.
Trong 4 đoàn, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho cuộc chiến đấu trực tiếp với Mỹ. Do đó theo tôi, chú ý của thế giới tập trung vào đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; và hơn nữa, như chúng ta biết, hai đoàn này là một, mục tiêu là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, tất cả những đề nghị giải pháp đưa ra đều do Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ủng hộ. Vì thế, vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là rất quan trọng trong đàm phán Hiệp định Paris. Bên cạnh đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn có vị trí quan trọng, bởi là người trực tiếp chiến đấu, với đường lối độc lập hòa bình trung lập, nhấn mạnh đến đường lối hòa bình, mềm dẻo đối ngoại trong đàm phán.
PV: Bà đánh giá thế nào về sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, một trong những yếu tố quan trọng, góp phần vào thắng lợi của Hiệp định Paris nói riêng, cũng như thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước?
Bà Nguyễn Thị Bình: Trước hết, tôi nhấn mạnh rằng, Hiệp định Paris được ký kết là thắng lợi lịch sử trọng đại của nhân dân Việt Nam, tiến hành trên 3 mặt trận: Quân sự, chính trị và ngoại giao. Và đây cũng là thắng lợi của tất cả những ai trên thế giới đã ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Để có được thắng lợi trên là do những đóng góp tích cực không mệt mỏi của các đồng chí đã tham gia hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, những người đã trực tiếp tham gia cuộc đàm phán Hiệp định Paris lâu dài và hết sức khó khăn; sự hy sinh của các đồng chí, đồng bào ta trong suốt 20 năm đấu tranh giành độc lập dân tộc… Nếu không có chiến thắng Mậu Thân 1968, không có những ngày chiến đấu ác liệt bảo vệ thành cổ Quảng Trị, không có chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, không có sự hỗ trợ chi viện của miền Bắc thì không có Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và đương nhiên, nếu không có Hiệp định Paris năm 1973 thì sẽ không có Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Tại cuộc đàm phán, hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên cương vị và nhiệm vụ của mình, khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Với những lý lẽ đanh thép nhưng có tình có lý, đã ảnh hưởng đến các quốc gia, ảnh hưởng mạnh mẽ đến dư luận quốc tế, khơi dậy được tình cảm mến phục của bạn bè quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của chúng ta.
Như tôi đã nói, hai đoàn Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuy hai mà một, nên sự tranh thủ vận động bạn bè quốc tế có khác nhau về đối tượng. Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với đường lối rộng rãi, có thể tranh thủ các lực lượng yêu chuộng hòa bình, công lý, những người có chính kiến khác nhau, các tôn giáo… Đoàn VNDCCH đã thu hút sự ủng hộ của các nước XHCN và các lực lượng yêu chuộng hòa bình tiến bộ và lực lượng cánh tả. Vì vậy, đoàn kết quốc tế do hai đoàn chúng ta triển khai tạo thành mặt trận đoàn kết quốc tế rất lớn, chưa từng có trong lịch sử, một mặt có tác động đến chính phủ Mỹ, tạo thuận lợi cho cuộc chiến tranh.
Chúng ta không thể không kể đến đông đảo người dân trên thế giới đã tham gia phong trào phản chiến, ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam. Ngoài ra, phong trào đoàn kết với Việt Nam của nhân dân Pháp, với sự tham gia nhiệt tình, mạnh mẽ của Đảng Cộng sản Pháp, nhiều đảng phái chính trị, các đoàn thế và nhân dân Pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của hai đoàn đàm phán Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.
PV: Bà có thể chia sẻ kỷ niệm sâu sắc nhất trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris?
Bà Nguyễn Thị Bình: Đối với tôi, trong gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris có nhiều kỷ niệm sâu sắc, song có một câu chuyện mà mỗi khi nhớ đến tôi lại rất xúc động. Trong giai đoạn 1968 đến 1973, cuộc đàm phán Paris trở thành sự kiện tâm điểm, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Họ theo dõi xem bao giờ chiến tranh ở Việt Nam có thể chấm dứt vì nó đã kéo dài gần 20 năm. Sự kiện này thu hút được sự quan tâm của nhiều hãng thông tấn quốc tế. Riêng trên cột 1 của Tờ New York Time (Mỹ) đã tổng kết, trong 10 năm liền chỉ nói về Việt Nam; các kênh truyền hình của thế giới đã ghi hình và phát rộng rãi trong vòng gần 5 năm các cuộc đàm phán diễn ra vào thứ 5 hàng tuần. Tôi và các thành viên tham gia đàm phán đã trở thành những khuôn mặt quen thuộc với bạn bè quốc tế.
Có một lần, trong chuyến đi từ Paris đến một quốc gia ở châu Phi, đi qua sân bay Ai Cập, có một số phụ nữ đã đến gặp tôi, tay bắt mặt mừng như những người bạn thân lâu ngày gặp lại, mặc dù tôi không hề quen biết họ. Họ nói đã rất quen với tôi qua các chương trình truyền hình phát về cuộc đàm phán Hiệp định vào thứ 5 hàng tuần. Điều đó khiến tôi rất xúc động và nó cũng thể hiện được sự quan tâm, ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta.
PV: Xin trân trọng cảm ơn bà Nguyễn Thị Bình!