Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

“Thắng lợi Hội nghị Paris có công lớn của bạn bè thế giới”


“Thắng lợi Hội nghị Paris có công lớn của bạn bè thế giới”


Nguyễn Vĩnh

Một mặt trận khác


Bên ngoài bàn đàm phán Hội nghị Paris mà hai phía Việt Nam và Mỹ thương thuyết đấu tranh với nhau“còn có một mặt trận khác”, đó là lời bà Nguyễn Ngọc Dung trong buổi gặp Báo TG&VN tại nhà riêng của bà ở thành phố Hồ Chí Minh hồi tháng 10/2012.
 Bà Dung là thành viên nữ của đoàn đại biểuMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuy đã cao tuổi nhưng trí nhớ còn minh mẫn, nhất là khi nhắc tới những câu chuyện cụ thể tại Hội nghị mà bà đã trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến. 

*

Điều gọi là một “mặt trận khác”- như lời bà Dung - thật vô cùng đặc biệt và độc đáo bởi nó không hề có tiền lệ và lặp lại sau này. Đặc biệt hơn nữa là chính “mặt trận khác” chúng ta nói tới kia đã đóng góp một phần không nhỏ làm nên thắng lợi vang dội của một cuộc đàm phán lâu dài và phức tạp nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Thành viên nữ hiếm hoi

Thấm thoắt qua năm mới 2013 này bà Nguyễn Ngọc Dung đã vào tuổi 86 (bà sinh năm 1927 tại Mỹ Tho). Bà Dung là thành viên đoàn đàm phán, thuộc phái nữ hiếm hoi “đếm trên đầu ngón tay” cả với đoàn miền Bắc và đoàn miền Nam của chúng ta tại Hội nghị Paris.





Theo dòng ký ức dồn dập dội về khi được gợi lên, bà Nguyễn Ngọc Dung dần dần nhớ lại:

“Giữa tháng 5/1968 Hội nghị 2 bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Mỹ chính thức họp phiên đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế ở Paris thì 7 tháng sau, tháng 12/1968, Phái đoàn đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGP) đã đặt chân tới thủ đô nước Pháp để tham gia cuộc đàm phán 4 bên”. Bà Dung kể tiếp: “Tôi nhớ hôm nhận được quyết định phân công tham gia đoàn đàm phán của Mặt trận, trong lòng vừa phấn khởi vừa lo lắng. Đoàn gồm 15 thành viên do anh Trần Bửu Kiếm, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, kiêm Trưởng Ban đối ngoại Ủy ban Trung ương MTDTGP miền Nam VN dẫn đầu đi dự Hội nghị Paris”.

Nói đến đây dường như để có dẫn chứng chính xác từng sự kiện và hoạt động cụ thể, bà Nguyễn Ngọc Dung lấy ra một tập sách, đó là hồi ký dài do bà chấp bút đã được xuất bản. Chỉ vào trang sách, bà kể hôm đến sân bay Bourget là vào ngày 16/12/1968 để kịp bắt đầu cuộc đàm phán 4 bên giữa các đoàn: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), Mỹ, MTDTGP miền Nam VN và Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Theo lời bà Dung nhấn mạnh, với một thành phố lớn như Paris, một trung tâm chính trị không những của châu Âu mà cả thế giới, Hội nghị 4 bên mà 2 đoàn Nam và Bắc chúng ta tham gia đã mở ra một cục diện "vừa đánh vừa đàm" vô cùng độc đáo và lợi hại. Từ mốc thời gian này, cùng với đoàn đại biểu VNDCCH, hai đoàn Nam và Bắc đã kiến tạo thành công một mặt trận mới: Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược và ngụy quyền tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Nói về công việc của mình đã trải qua 4 thập kỷ về trước, nữ thành viên Nguyễn Ngọc Dung bồi hồi nhớ lại:
“Cái giờ phút đầu tiên xuống sân bay sao mà cảm động! Chúng tôi được tái ngộ với rất nhiều các bạn “truyền thống” của Việt Nam trên đất Pháp. Họ chờ chúng tôi ở nhà ga hàng không, gần 600 con người Pháp và Việt, trên tay hoa và cờ với những khuôn mặt tươi cười nhưng cũng ứa lệ vì cả niềm sung sướng và kiêu hãnh”. Bà Dung nói rằng đó là những con người thuộc nhiều thế hệ. Họ thuộc lớp các nhà cách mạng tiền bối Pháp, từng là bạn của cụ Phan Chu Trinh, cụ Nguyễn Ái Quốc; rồi những cựu sinh viên đã xuống đường như bác sĩ Henri và Arlette Carpentier đòi tự do cho tù nhân Côn Đảo thời kỳ 1935 – 1940… Đó còn là Henri Martin, Raymonde Dien, những thanh niên Pháp phản đối quyết liệt cuộc chiến tranh của thực dân Pháp ở Việt Nam. Trong những người tiếp xúc trực tiếp đầu tiên với phái đoàn Mặt trận hôm đó còn có rất nhiều tổ chức đã khởi sự hoạt động ủng hộ Việt Nam từ khi Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng năm 1965. 

“Tay bắt mặt mừng trong niềm xúc động, bà Dung kể tiếp, bạn bè đón mình cũng có những người mới gặp lând sđầu xen lẫn người đã quen thân trước đó. Tuy vậy trong khoảng thời gian eo hẹp ở sân bay chẳng ai có thể nói được gì dù bao điều ấp ủ trong lòng... Tôi ghi nhớ mãi những ánh mắt của bạn bè ra đón chúng tôi hôm đó. Hình như đều ánh lên lời ước hẹn là sẽ sát cánh trong một cuộc đấu tranh mới mà cầm chắc là gay go và phức tạp”. 

Những đầu công việc “trường diễn” thường ngày…

Khi gợi lại công việc của đoàn đàm phán, đặc biệt là việc làm của chính bà - chừng như bắt đúng mạch đang suy nghĩ của mình , bà Nguyễn Ngọc Dung hào hứng kể lại: “Ngoài các phiên họp chính thức vào ngày thứ Năm hàng tuần ở hội trường Trung tâm Hội nghị quốc tế tại 19 phố Kléber - mà tất cả 15 thành viên đoàn Mặt trận đều có mặt - thì đoàn còn tiến hành rất nhiều cuộc tiếp xúc và các hoạt động khác bên ngoài Hội nghị”. 

Rồi bà Dung dần nhớ ra để điểm tên từng việc: Đó là những cuộc gặp gỡ và tiếp xúc với các quan chức sở tại, các vị đại diện trong đoàn ngoại giao ở Paris, các nhân sĩ trí thức và giới xã hội khác nhau trên đất Pháp, trong đó đặc biệt phải kể đến là các cuộc gặp gỡ với báo giới tại Pháp và quốc tế diễn ra hết sức đều đặn. Bà Dung còn muốn nhấn đến một nhóm công việc mà bà cho rằng nó không những quan trọng mà còn độc đáo và sáng tạo: Đó là các cuộc tiếp xúc và gặp gỡ với “không biết bao nhiêu người và bao nhiêu lần mà kể” với những bạn bè khắp năm châu thuộc rất nhiều thế hệ con người và khuynh hướng chính trị - xã hội khác biệt nhau nhưng có cùng một mối quan tâm, đó là Việt Nam.    

Để làm được một khối lượng công việc hết sức đồ sộ như thế này, đoàn Mặt trận đã có hẳn một nhóm chuyên trách mà bà Nguyễn Ngọc Dung gọi nôm na là “nhóm tiếp xúc”. 

Trước khi nói kỹ về những công việc cụ thể của mình, bà Dung dành ít phút nói về “ấn tượng mạnh mẽ” đối với vị trưởng đoàn miền Bắc là Bộ trưởng Xuân Thủy. 





Bà Dung kể rằng ông bộ trưởng thật “điềm đạm và sâu sắc”. Ông đã có một buổi nói chuyện không thể nào quên với tất cả các thành viên đoàn miền Nam ngày đầu khi tới Paris. Đại ý ông Xuân Thủy nói sau khi nhận nhiệm vụ trưởng đoàn đàm phán VNDCCH, ngày 5/5/1968 Hồ Chủ tịch có gặp và căn dặn đoàn là cuộc đấu tranh của chúng ta với Mỹ tại bàn đàm phán “sẽ được dư luận thế giới quan tâm rất sít sao”. Chính vì thế trong mọi công việc anh em khi đến đó “vừa phải rất khẩn trương, vừa phải thận trọng kiên trì, nghĩa là không bao giờ được sốt ruột nóng vội”. Về lập trường quan điểm đương nhiên đòi hỏi vững vàng, nhưng cũng phải sách lược, linh hoạt và khôn khéo. Bác Hồ căn dặn phải luôn cắt đặt người theo dõi sâu sát tình hình trong nước, nhất là tình hình chiến sự thì mới có quyết sách tốt và đúng đắn được. Bác Hồ còn nhấn mạnh lúc này “nhân dân các nước đã thấy chiến tranh kéo dài, gây nhiều thương vong chung nên tâm lý là muốn sớm có hòa bình”. Và chính ở điểm này Mỹ dễ lợi dụng để đổ vấy trách nhiệm chưa có hòa bình là do chúng ta, từ đó ép chúng ta “chấp nhận hòa bình theo các điều kiện Mỹ đưa ra”. Vì thế muốn thuyết phục nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta thì phải “kiên trì đưa ra thông tin đúng đắn và nói rõ thiện chí của chúng ta”. 

Bà Dung cho rằng nội dung truyền đạt như vậy của vị trưởng đoàn Xuân Thủy là “rất thấm thía và dễ nhớ”, như sợi chỉ nam xuyên suốt cho cả đoàn quán triệt vào công việc trong một cuộc đàm phán kéo một mạch 4 năm mới xong.

Khi gợi ý bà Ngọc Dung nói cảm tưởng về vị cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, bà Dung có ý khiêm tốn định chẳng nói gì. Rồi dường như muốn nói một ý gì mới nảy sinh, nhưng bà Dung bào ngay đây chỉ là ít tâm sự riêng tư thôi chứ không phải nhận xét gì về một vị lãnh đạo cấp cao: “Ông cố vấn đúng là một típ lãnh đạo thế hệ đầu tiên, là lớp học trò trực tiếp của cụ Hồ. Rõ ràng ông chẳng được đào tạo ngoại giao chính quy bài bài gì bao giờ, nhưng lại vô cùng tự tin khi thực thi nhiệm vụ đối ngoại. Vì sao vậy? Tôi nghĩ bởi ông thấy mình chính nghĩa, sự nghiệp mà mình phụng sự đích thực là chính nghĩa, con đường đấu tranh của dân tộc Việt Nam chống xâm lược Mỹ là rất quang minh chính đại. Ông thường nói với anh em trong đoàn nhà, là “Mỹ nó đánh mình là sai, tự dưng đem quân đem máy bay bom đạn đến giết hại và đánh phá đất nước và nhân dân Việt Nam là quá sai lầm”. Vì thế nên khi đối thoại với họ ông thấy mình hoàn toàn là người nắm được lý lẽ và rất chủ động nói được cái đúng cái tốt cho mình mà không lúng túng bị động gì cả. Nhiều lần nhà đàm phán lão luyện Mỹ Henry Kissinger buộc phải lặng im không phản bác được gì trước một Lê Đức Thọ có vẻ bực dọc, thậm chí to tiếng như chuyến ông cố vấn đoàn ta bỏ về nước vì Mỹ lật lọng không ký thỏa thuận tháng 10/1972 đã đạt được, huy động B52 đánh Hà Nội nhưng thua cuộc, ông Thọ trở lại Paris gặp lại cố vấn Kissinger. “Buổi đó chắc chắn ông cố vấn cao cấp Hoa Kỳ và người chứng kiến phía ông ta không thể nào quên ngài “le Duc” của chúng ta”, bà Nguyễn Ngọc Dung kết luận câu chuyện về hai vị lãnh đạo đoàn ta như vậy.     
    
Đến đây bà Ngọc Dung đi vào một số công việc cụ thể của mình. Bà kể đoàn giao cho bà làm thường trực của “nhóm tiếp xúc” (ông Nguyễn Văn Tiến là nhóm trưởng). Hàng ngày bà Dung tập hợp, bóc cả một chồng lớn thư từ và bưu phẩm, trong đó phần lớn là thư, điện tín, lời chúc mừng và những thông báo bày tỏ sự ngưỡng mộ cũng như đưa ra những gợi ý và những vấn đề dư luận thắc mắc, yêu cầu gặp mặt và cung cấp thông tin. Lại có cả những góp ý, hiến kế cho đoàn của Mặt trận, đại thể là nên lưu ý vấn đề gì trên mặt trận dư luận ở các nước phương Tây, điều gì cần nhấn mạnh với báo giới và giới trí thức ở khu vực địa-chính trị này, v.v… Thư từ không những đến từ nước Pháp mà còn từ khắp châu Âu và khá nhiều đến từ Bắc Mỹ. Nhiệm vụ của bà Dung là đọc nội dung, rồi phân loại, tổng hợp thành các ý kiến đề xuất xử lý, báo cáo cho đoàn. 

Bà Dung nói thêm rất nhiều thư từ đề nghị được gặp mặt, hoặc mời đại diện đoàn đi nói chuyện giới thiệu tình hình đàm phán tại các tổ chức và địa phương khác nhau không những trên đất Pháp mà còn ở  nhiều nước khác trên thế giới. Điều đó cho thấy nhu cầu tìm hiểu tình hình Việt Nam và sự tiến triển ở bàn đàm phán của nhân dân và dư luận thế giới khi ấy là rất lớn. 

Theo lời thuật lại thì khối lượng công việc của từng cá nhân người trong đoàn “đều ngập đầu” với việc được phân công, nhưng ai nấy đều nhận thức công việc tiếp xúc bên ngoài Hội nghị là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Và như vậy đương nhiên tất cả mọi thành viên phải sắp xếp thời gian mà thực hiện. 

Với sự phân công của lãnh đạo đoàn, có thể nói từ trưởng đoàn phó đoàn cho đến các chuyên viên ai cũng cố gắng hết sức mình. Nghĩa là mỗi cá nhân phải lập được một thời gian biểu “ngoại khóa” để đáp ứng những công việc đoàn giao thêm. Và như thế cách duy nhất là phải tận dụng tất cả các buổi tối cũng như các ngày nghỉ cuối tuần thì mới hoàn thành được nhiệm vụ.

Những hoạt động “không có trong nghị trình”  

Hội nghị quốc tế nào cũng gồm các nghị trình phải tuân thủ. Tuy nhiên ở Hội nghị Paris thì đoàn Việt Nam cả Bắc và Nam đều có rất nhiều công việc nằm bên ngoài các nghị trình thông thường định sẵn. 

Bà Dung kể rằng riêng với đoàn Mặt trận của mình, chương trình bên ngoài bàn đàm phán nhiều vô kể, đến mức nếu liệt kê ra giấy thì chắc cũng phải “cả chục trang sổ tay” mới ghi hết các đầu công việc.

Bà bảo không chỉ hai vị trưởng phó đoàn với chương trình hoạt động bận rộn chật kín thời gian suốt tuần mà tất cả đội ngũ thành viên, chuyên viên ai cũng “người nào việc nấy” và để hết tâm sức tham gia tích cực vào “mặt trận mới”. Có thể nói đây chính là các hoạt động đối ngoại nhân dân như ngày nay chúng ta đang vận dụng rất có hiệu quả trong tình hình mới. 

Bà Ngọc Dung lại lật mấy trang quyển hồi ký, và nói thêm “chỉ cần kể ra đây một số diễn đàn hoặc gặp gỡ tiêu biểu là chúng ta có thể hình dung được quy mô cũng như tính chất và tác động của các hoạt động đó tới Hội nghị là như thế nào”.
Dưới đây lược lại một số trong hàng trăm hoạt động, gặp gỡ mà đoàn Mặt trận tham gia:
Đó là với trưởng đoàn Nguyễn Thị Bình, ngay đầu năm 1969 - chỉ vài tháng sau khi tham dự đàm phán - bà Bình đã đến thăm Vương quốc Anh theo lời mời của các nghị sĩ Công Đảng (chính xác là ngày 5/3/1969 - BBT chú thêm); giữa năm đó bà Bình làm khách và được mời phát biểu tại Đại hội Đảng Xã hội Dân chủ Thụy Điển (16/5/1969); rồi chuyến thăm chính thức Algeria tháng 6/1970 và được Tổng thống Boumédiene tiếp; tháng 9 tiếp đó bà trưởng đoàn đến Lusaka, Zambia dự Hội nghị Không liên kết lần thứ III. 

Với phó đoàn Nguyễn Văn Tiến cũng có nhiều hoạt động sôi nổi: 5/1969 đi thăm và làm việc tại Quốc hội Đan Mạch (21/5/1969); dự Đại hội quốc tế bất thường tại Roma “Đoàn kết với nhân dân Đông Dương” vào cuối 2/1972 với sự tham gia của 54 tổ chức quốc tế gồm 500 đại biểu; thăm chính thức Sénégal tháng 3/1972 và được Tổng thống Léopold Senghor tiếp.

Bản thân thành viên đoàn Nguyễn Ngọc Dung cũng thực hiện một “chương trình nghị sự” hết sức đa dạng và phong phú: 5/1969 đi Hà Lan do các tổ chức đảng phái nước này mời cung cấp thông tin cho bạn (đi với bà Nguyễn Thị Chơn cũng là thành viên đoàn); 7/1969 cùng với bà Lê Thị Cao đi từ trong nước để tới Canada nói chuyện với hàng nghìn phụ nữ nước bạn tại Montreal, Toronto, Sakatchewan và Vancouver; tháng 11 cũng năm này đi thăm và làm việc ở Thụy Sĩ cùng với bác sĩ Lê Văn Lộc; đầu 1972 đi thành phố Bologna, Italia dự lễ kết nghĩa giữa tỉnh Quảng Trị với tỉnh này (cùng đi với ông Lâm Văn Khai); 9/1972 Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ quốc tế mời bà Dung tham gia đoàn của tổ chức này đến dự Hội nghị Liên hợp quốc tại Geneva về giải trừ quân bị; và 10/1972 được mời dự và phát biểu tại Bruxels với tổ chức ủng hộ Việt Nam của nước này.

Còn rất nhiều những chuyến đi và gặp gỡ của các thành viên khác trong đoàn Mặt trận. Bà Nguyễn Ngọc Dung nhận xét rằng trong suốt 4 năm ở Hội nghị Paris với hàng trăm cuộc tiếp xúc và gặp gỡ như vậy đã giúp đoàn Mặt trận (sau này có tên là đoàn Chính phủ CMLTCHMNVN) có thêm biết bao nhiêu cơ hội giới thiệu thực chất tình hình Việt Nam ở cả chiến trường cũng như trên bàn đàm phán. Qua đó những thắc mắc hoặc câu hỏi (thường là hết sức cụ thể) của nhiều nhân vật nổi tiếng, của các giới xã hội ở nhiều quốc gia đặt ra với đoàn Mặt trận đều được trả lời rõ ràng và minh bạch khiến cho mọi người hiểu thêm về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Điều đó góp phần quyết định tạo nên “bước chuyển chính trị” đối với khá nhiều người mà trước kia, hoặc ngộ nhận, hoặc hững hờ giữ khoảng cách với Việt Nam, đã dần dần thấy được các vấn đề thực chất ở Việt Nam giai đoạn đó và đi đến cảm tình, rồi trở nên những người bạn tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta. 

Nét “đời thường” bên bàn đàm phán 

Khi được gợi ý có điều gì đặc biệt với “sự tham gia của phái nữ” vào đoàn đàm phán thì tự nhiên trong câu chuyện bà Nguyễn Ngọc Dung kể lại ra chiều “hứng khởi” hơn. 

“Là nữ thành viên của đoàn, bà Dung nói, trong đoàn lại có ‘nữ tư lệnh’ là chị Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn, có chị Chơn (Nguyễn Thị Chơn), chị Thanh (Bình Thanh)… khiến phái nữ chúng tôi tự tin hơn ở mình. Nhưng ngay cả như vậy thì bà Dung vẫn chỉ ra một thực tế “tỉ lệ nữ trong hai đoàn Bắc và Nam đều rất thấp so với nam giới”, nên mọi việc phái nữ chúng tôi cũng ý thức mình phải gánh vác nhiều hơn “những công việc đời thường” mà nam giới bao giờ cũng không quen làm. Hoặc giả việc đó nếu đến tay các anh thì cũng là “sự cáng đáng bất đắc dĩ”, và khi buộc phải phân công như vậy cũng “tội cho cánh nam giới quá”, bà Dung thực thà kể lại như vậy. 

Nhưng cũng từ thực tế chênh lệch trên đây mà anh em phái nam cũng dành sự quý trọng và khích lệ nhiều hơn đối với chị em, “có phần đề cao hơn chị em nữ đoàn viên”– bà Dung kể lại với giọng cảm kích xen lẫn tự hào.

Dự cảm thấy cuộc đàm phán 4 bên là một việc có khả năng kéo dài nên ngay từ đầu các bạn Pháp đã nghĩ đến những trợ giúp hết sức thiết thực và cụ thể. Bà Dung kể tiếp: “Trước hết là vấn đề ăn, ở và đi lại. Các bạn Pháp thật là những con người vô cùng tốt bụng và chu đáo. Bạn lo lắng cho đoàn Mặt trận chúng tôi về đủ mọi phương diện, từ nơi ăn ở, thu xếp để thuê hẳn một biệt thự nhỏ xinh xắn trên đồi Verrières - le - Buisson làm trụ sở lâu dài”. Từ các phương tiện đi lại cho đến nhu cầu trong sinh hoạt đời thường từ lớn đến nhỏ có thể phát sinh khi xa gia đình và người thân đều được bạn trù liệu hoặc phối hợp với phía ta giải quyết. Nói không ngoa, các bạn Pháp “như những người chủ nhà của một gia đình lớn là cả đoàn chúng tôi vậy”, bà Dung đã nhận xét như thế. 

Rồi bà Dung lược tả vài chi tiết, như ngay hôm đặt chân đến Paris các bạn Pháp đã cắt đặt đội ngũ lái xe cho toàn đoàn đi lại, và rồi các ngày tiếp sau vẫn duy trì sự trợ giúp này. Bạn cử người đến nơi ở của đoàn để lo chỗ ăn nghỉ, rồi cáng đáng việc nấu ăn và nhiều công việc tạp vụ khác nảy sinh khi ăn ở và làm việc. Trong thời gian đầu biết là chúng ta lạ nước lạ cái, phía bạn Pháp còn bố trí người đi chợ, đi siêu thị mua giúp thức ăn và đồ dùng thông thường cho các đoàn viên trong đoàn.

Dĩ nhiên các ngày chủ nhật, ngày lễ thì vắng đội ngũ này. Và khi ấy đúng là phái nữ phát huy ưu thế tề gia nội trợ của mình. Do quá thiểu số nên việc bếp núc, dọn dẹp nhà cửa phòng ốc phái nữ dù tích cực đến đâu cũng không ôm xuể. Và khi ấy anh em nam giới cũng lăn lưng vào công việc chung của tập thể đoàn chứ chẳng ai lảng tránh. Chỉ tội là nhiều việc các anh không quen làm, thậm chí có làm thì vụng về nên lắm khi tức cười. Bà Dung kể lại mà không nín được tiếng cười phá lên khi nhắc đến chuyện “anh Nguyễn Văn Tiến và anh Hà Đăng cũng nhiều phen được phân công làm bếp”, và có vị nam giới đã cho anh em trong đoàn ăn thuần một món trứng luộc chấm muối mắm, cùng một món bắp cải lại cũng được luộc! May mà trên đất Pháp cũng sẵn dồ nguội ăn sẵn được nên cuối cùng mọi việc thuộc “ẩm thực” của đoàn cũng thu xếp ổn thỏa.     

Bạn bè Pháp ghé vai chung sức “trên từng cây số” 

Đoàn Mặt trận có rất nhiều bạn bè tốt trên khắp thế giới nhưng trong câu chuyện về một “mặt trận khác” ở Hội nghị Paris, bà Nguyễn Ngọc Dung có ý chú tâm hơn đến khối các bạn Pháp và Mỹ . Dễ hiểu bởi một là nước chủ nhà, một chính là nước mà chính phủ của họ đang tiến hành chiến tranh và nay đàm phán với chúng ta.

Theo bà Dung, cả bạn Pháp và bạn Mỹ đều có những gương mặt “thật sự dễ mến”, “thật sự hết lòng” vì Việt Nam. Chính từ những đóng góp âm thầm và kiên trì của tất cả khối bạn bè này đã nâng cao thêm uy tín và sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của chúng ta, góp thêm sức mạnh trên bàn đàm phán và đưa đến thắng lợi vẻ vang cho chúng ta tại Hội nghị Paris.

Bà Dung nhớ lại:

“Lúc mới tới Paris ngày nào hầu như cũng có vài đoàn đến thăm. Đến sớm nhất là Hội Hữu nghị Pháp - Việt (AAFV) có gần hai chục người, đại diện cho Secours Populaire (Cứu trợ bình dân), Cimade, Huynh đệ Việt Nam…”

Rồi bà Dung kể cho nghe về hai người bạn Pháp, đúng là đã “trên từng cây số” với sự bền bỉ ghé vai chung lưng với bao nhiêu công việc của đoàn. 

Trước hết là ông Henri Van Regemorter là giáo sư tiến sĩ thiên văn tại Đài Thiên văn Paris. Chân ướt chân ráo tới đất Pháp, bà Dung đã nhấc máy liên lạc điện thoại với ông Henri và nhờ ông giới thiệu các bạn có thể giúp đỡ Việt Nam mà ông biết. Vài ba ngày sau GS Henri đã cầm đến tập danh sách, với địa chỉ đầy đủ các bạn bè mà ông quen biết. Ông còn đánh dấu sao và nói đó là các vị “quyết tử vì Việt Nam” (qui se tue pour le Vietnam). Bà Dung bảo đây là lần đầu tiên được nghe một “biệt danh” như thế dành cho người “không phải Việt Nam”.

Bà Dung kể rằng suốt từ thời điểm đó bất cứ khi nào đoàn hỏi đến người trong “danh sách vàng” nói trên đều được sự giúp đỡ không chần chừ cùng với những sáng kiến có giá trị. Hơn nữa các bạn đó còn vận động thêm những bạn bè khác của mình vào việc và lấy làm hãnh diện được góp sức với đoàn.
Bà Nguyễn Ngọc Dung nhớ như in hồi sắp kết thúc đàm phán, khi bà được phân công thảo văn bản Nghị định thư về “trao trả người bị bắt” thì rất cần những tư liệu tham khảo về “tiền lệ lịch sử” trong việc trao đổi tù binh tại các hiệp định quốc tế. 

Đưa ra vấn đề với các bạn luật sư Pháp thì chỉ vài ba ngày sau các bạn đã đưa lại cả chồng tài liệu cần đến. Trong số đó còn có văn bản được các bạn đặt đơn dây chuyền, sưu tầm từ những trung tâm lưu trữ tận London hoặc Geneva để gửi cho đoàn.

Nhắc đến các bạn Pháp, bà Nguyễn Ngọc Dung đặc biệt dành cảm tình đối với một phụ nữ Pháp đã rất gắn bó với đoàn và với cá nhân bà. Đó là Mireillle Gansel, giáo sư ngôn ngữ và văn chương tại Đại học Vincennes và Lyon.

Bà Dung kể lại khi mới quen Mireille được biết chị ấy có ý định học tiếng Việt thì bà khuyên can là không nên, vì việc này sẽ chiếm nhiều thời gian. Song Mireille đáp lại rằng đấy là lựa chọn có suy nghĩ, vì biết tiếng Việt thì mới giới thiệu được ra thế giới di sản văn hóa vô giá của Việt Nam. Chị ấy còn nói trong cả đời mình mà làm được một phần nào công việc trên cũng là thấy đáng công học và mãn nguyện.

Thế là ngoài thì giờ theo lớp ở một trường chính quy, Mireille Gansel còn kết bạn giao lưu với người Việt, tranh thủ các cơ hội đi cắm trại hè với hội Việt kiều của ta để luyện thêm tiếng Việt. Năm 1971, nghĩa là hai năm sau khi đoàn Mặt trận tới bàn đàm phán, Mireille Gansel đã cho xuất bản cuốn “Kho báu của con người” (Le Trésor de l’Homme, NXB La Farrandole ấn hành). Cuốn sách sử dụng những bản thảo văn học của Việt Nam được dịch sang tiếng Pháp đã được chị Mireille biên soạn, với nhiều chú thích để người nước ngoài dễ đọc và tra cứu. Sách giành Giải thưởng “Quyển sách cho thiếu nhi hay nhất trong năm 1971”. Bộ trưởng Xuân Thủy đã “com-măng” 100 cuốn để đoàn đàm phán làm tặng phẩm cho khách quốc tế đến thăm đoàn. Cuốn sách này nửa năm sau đã được một nhà xuất bản ở Italia xin phép tác giả cho dịch sang tiếng Ý và xuất bản ở Roma.

Bà Dung kể thêm, những khi rảnh việc, bà thường dịch miệng và giới thiệu với Mireille nhiều tác phẩm văn học cách mạng của miền Nam đang chiến đấu. Với những tác phẩm thơ ca “chấm” được, vị giáo sư Pháp này yêu cầu bà Dung dịch thật sát và chuẩn. Có khi chỉ một bài thơ cũng phải mất rất nhiều thời gian, nhưng không bao giờ thấy chị Mireille nản lòng mà trái lại rất kiên trì theo sát từng lời từng ý. Rồi dịch đi dịch lại, sửa đi sửa lại có khi tới hàng chục lần.

Sau một thời gian làm việc cật lực, trên nhật báo Le Monde (Thế Giới) xuất hiện bài “Văn thơ đấu tranh ở miền Nam” ký tên Mireille Gansel. Bài viết chiếm gần hết trang văn chương của tờ báo đã gây dư chấn lớn trong dư luận độc giả tiếng Pháp. 

Cụ thể trong bài viết M. Gansel đã dịch giới thiệu “Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu; “Làm mẹ ở Việt Nam” của Chế Lan Viên; các bài thơ của Lê Anh Xuân và nhiều bài hát của phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”; các bài hát “Lời nguyền” của Trương Quốc Khánh”, “Một dân tộc không ngừng tiến lên” của Miên Đức Thắng…  

Trong thời điểm Hội nghị Paris hai cả hai đoàn Bắc và Nam đều đang cố gắng phát huy thế chính trị của mình thì sự tác động văn hóa từ những lời thơ-câu văn-bài hát phản ánh đời sống hiện thực trong cuộc đấu tranh quyết liệt của quân dân miền Nam Việt Nam đã có thêm sức thuyết phục dư luận.

Được biết người bạn nữ Mireille Gansel không chỉ dừng các hoạt động ở Pháp. Sau khi ký Hiệp định, vị nữ giáo sư này đã đi Việt Nam và làm việc nhiều năm tại NXB Ngoại văn của ta, cùng góp phần đưa ra thế giới nhiều tác phẩm văn học ưu tú của Việt Nam. “Đây thật sự là một trong những người bạn Pháp hết lòng vì đất nước và nhân dân Việt Nam chúng ta”, bà Dung nói lời kết luận về những người bạn Pháp.

Những bạn bè Mỹ “đầy nghĩa tình”

“Bốn năm đàm phán, bà Dung kể lại, Hội nghị Paris, tại phòng họp phố Kléber, chung quanh chiếc bàn tròn trải thảm xanh, đoàn Mặt trận đã gặp các đại diện chính phủ Hoa Kỳ 174 lần (trong 174 phiên họp), nhưng cùng thời gian ấy, từ trưởng đoàn cho đến các thành viên trong đoàn, chúng tôi đã gặp gỡ chắc chắn không phải 174 lần mà nhiều hơn thế với hàng nghìn những công dân Mỹ ở nhiều nơi trên đất Pháp, châu Âu và Bắc Mỹ. Tất cả đều cùng mục đích, tìm kiếm Hòa bình”. 

Trong những cuộc gặp gỡ bà Dung trực tiếp tham gia, bà nói mình có ấn tượng rất đặc biệt với buổi họp mặt tại khu rừng Vincennes ngoại ô Paris vào mùa xuân 1970 (10/5/1970). Không khí hôm đó hừng hực sôi nổi không thể quên. Đây là cuộc biểu dương lực lượng chống chiến tranh khổng lồ do 44 tổ chức và phong trào hòa bình Pháp khởi xướng, với sự tham dự của hơn 200.000 người. 

Ông Nguyễn Văn Tiến, phó đoàn đã phát biểu, đại ý đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom, rút quân, ngừng dính líu ở Việt Nam. Ngay sau đó đại biểu Mỹ, ông Sydney Lens, một nhà hoạt động công đoàn Mỹ, đồng chủ tịch một tổ chức của phong trào chống chiến tranh ở Mỹ - NMC (New Mobilisation Committee) - đã lên tiếng ngay sau đó rất thẳng thắn rằng hiện nay hàng triệu người ở khắp các tiểu bang trên nước Mỹ của ông “đang làm chiến tranh” để chống lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam (We make Wả against the Vietnam War). Rồi ông hô 3 lần “out now, out now, out now” (rút ngay bây giờ, rút ngay bây giờ, rút ngay bây giờ!). Ông Nguyễn Văn Tiến và ông Xuân Thủy (trưởng đoàn miền Bắc) bước đến bắt tay và quàng vai ông. Ông Lens giơ hai ngón tay theo hình chữ V (Victory – Thắng lợi) giữa những tràng vỗ tay và hô to hưởng ứng vang dội khắp khu rừng.

Trước thời gian đó, vào ngày 20/4/1970,  một cuộc tập hợp quy mô tuy nhỏ hơn nhiều lần nhưng ý nghĩa mở đầu hết sức quan trọng đã diễn ra tại quảng trường Trafalgar ở London. Hai tổ chức: Vietnam Moratorium Committee (Ủy ban “Đình chỉ” Việt Nam) của Mỹ; và Stop It Committee (Ủy ban đòi “dừng nó lại”) của Anh đã tổ chức biểu tình tuần hành chống chiến tranh Việt Nam. Hơn 2.00 người, gồm người Anh và cả người Mỹ đang ở Anh đã đón đoàn đại biểu Việt Nam và đại biểu Mỹ dự cuộc tuần hành này. 

Bà Nguyễn Ngọc Dung được đoàn cử đã bay sang Anh, còn đại biểu tổ chức Longshremen bang Florrida  là bà Viviane Nareini từ Mỹ tới đã cùng tham dự và phát biểu. Bà Dung kể rằng hôm đó London mưa nặng hạt, bà cùng với người bạn nữ Mỹ cùng đứng dưới chiếc ô lớn, cùng nhiệt tình vẫy chào đáp lại tiếng hô khẩu hiệu chống chiến tranh rền vang của đoàn người tụ tập trong rừng cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận. Cảnh sát Anh ngồi oai vệ trên lưng các chú ngựa to cao hiếm gặp ở nơi khác nà lúc này dàn hàng đứng chắn bên ngoài đã vô hình trung tăng vẻ long trọng cho cuộc họp mặt. Sau đó đoàn biểu tình kéo đến tòa đại sứ Mỹ đưa kiến nghị và đốt cờ Mỹ trước cổng tòa nhà này.    

Bà Dung còn kể tại trụ sở đoàn, suốt mấy năm đàm phán không lúc nào ngớt các đoàn khách thăm viếng. Bà nói: “Ở nơi đây chúng tôi đã thường xuyên đón tiếp hàng trăm lần, từ các bạn Mỹ đi một mình, hoặc một nhóm vài ba người cho tới những toán đông đến số trăm. Các nhà chính khách, nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu, luật sư, người lãnh đạo các phong trào chống chiến tranh toàn nước Mỹ , những bà mẹ tìm đến để hỏi về tình hình đàm phán hòa bình”. Rồi bà Dung lấy cuốn sách chỉ cụ thể các đoàn khách được tiếp hồi đó:
Tháng 1/1970 ông Dave Dellinger và bà Cora Weiss vừa là đồng chủ tịch các tổ chức phản chiến toàn quốc, vừa đại diện tổ chức Ủy ban liên lạc các gia đình lính Mỹ đang bị giam giữa tại Việt Nam (Coliafam); 7/1970 ông bà bác sĩ Benjamin và JaneSpock; 12/1970 đoàn Tổng hội sinh viên Mỹ do anh David Jeffshin làm chủ tịch; 8/1971 hai giáo sư thực vật Arthur Westing và W. Pfeiffer thuộc Đại học Montana, những người đã kiên trì tố cáo quân đội Mỹ tàn phá môi trường miền Nam Việt Nam, đã tặng đoàn cuốn phim do hai ông kiên trì đeo bám máy bay rải chất độc hóa học quay được; 10/1971 đoàn Liên đoàn Phụ nữ đấu tranh cho Hòa bình và Tự do (ILWPF) dẫn đầu là bà Katherrine Kamp; 11/1971 đoàn giáo sư George Wald, Đại học Harvard đến chia sẻ kết quả hoạt động của ông và các sinh viên Mỹ khi đi Sài Gòn và tặng ta một bản “Hiệp ước Hòa bình” do các bạn ký chung với sinh viên và các tổ chức phản chiến của nhân dân Sài Gòn.
Ngôi sao điện ảnh Mỹ Jane Fonda cũng như hai nữ nghệ sĩ dân ca nước này là Barbara Dane và Joan Baez đều đã tới trụ sở đoàn Mặt trận, tại đây họ đều biểu thị sự đồng tình của mình đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Có một đoàn hết sức đặc biệt là các bà mẹ và vợ của phi công Mỹ bị ta bắt và giam giữ khi máy bay ném bom bị bắn rơi trên đất Việt Nam. Họ mang đến hai bao vải xếp đầy các bức thư ngỏ có chữ ký của thân nhân và bạn bè các tù binh này cho đoàn ta để nhờ chuyển đến lãnh đạo Mặt trận. Nội dung thư đề nghị trả tự do cho tù binh. Lãnh đạo đoàn tiếp và lắng nghe nguyện vọng của các bà các chị, giải thích chính sách khoan hồng độ lượng của phía ta để họ yên tâm nhưng nêu rõ lập trường của Việt Nam là các công dân Mỹ hãy đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở nước Mỹ đòi đưa ngay quân đội Mỹ về nước, chấm dứt chiến tranh xâm lược, sớm ký kết hòa bình với Việt Nam “thì Việt Nam sẽ ngay lập tức trao trả tù binh Mỹ”.

*

Suốt một buổi bồi hồi nhớ lại từ ký ức một thời đấu tranh sôi nổi, bà Nguyễn Ngọc Dung cất những lời rưng rưng: “Nhiều khi tôi tự hỏi, công việc thì là của mình, mình từ một đất nước Việt Nam mãi xa xôi đến đây với nhiệm vụ đàm phán với đối phương, nhưng cớ sao lại có những tấm lòng của bạn bè quốc tế, đặc biệt là bạn bè Pháp và Hoa Kỳ, cứ coi đó lại như công việc của chính các bạn. Nhưng rồi chúng tôi cũng tìm ngay được câu trả lời, đó là do sự nghiệp mà chúng ta đấu tranh là chính nghĩa nên bạn bè quốc tế tự nhiên rất đồng lòng đứng về phía chúng ta”. 

Bà Ngọc Dung còn nói thêm, đại ý là không có bút mực nào tả xiết được mối thân tình và hết lòng của những người bạn Mỹ và Pháp cũng như nhiều bạn bè khác trên thế giới trong những ngày lịch sử năm xưa đó. “Tôi cứ nghĩ ngợi - giọng bà Dung trầm ấm lại sau một hồi suy tư - giả sử nếu như không có bạn bè khắp thế giới hỗ trợ và sát cánh với hai đoàn đàm phán Bắc và Nam thì chúng ta sẽ khó khăn nhường nào. Chúng ta giành thắng lợi vẻ vang ở Hội nghị Paris có công lớn của bạn bè thế giới”.    
   
Nguyễn Vĩnh thực hiện (Theo lời kể của bà Nguyễn Ngọc Dung) 


4 bài học từ Hội nghị Paris cho quá trình CNH-HĐH đất nước


4 bài học từ Hội nghị Paris cho quá trình CNH-HĐH đất nước


VOV online giới thiệu toàn văn phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các vị đại biểu khách quý,
Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước,
Hôm nay, trong không khí cả nước phấn khởi đón mừng năm mới, mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng ta tròn 83 tuổi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam - một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.
Chủ tịch nước phát biểu tại lễ mit tinh
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng và xin gửi tới các đồng chí, các vị đại biểu, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris tới dự Lễ kỷ niệm trọng thể này, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.
Cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy.
Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa.
Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán tại Paris.
Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.
Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.
Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam - một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.
Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đã trở thành một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do của Tổ quốc và cũng vì lẽ phải và công lý trên thế giới. Chúng tôi tin tưởng rằng, trái tim và khối óc của các bạn vẫn mãi mãi đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay.
Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng.
Thứ hai  là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.
Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán.
Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi. Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Ôn lại bài học lịch sử là để sống xứng đáng với các thế hệ cha anh, để hành động có trách nhiệm hơn trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để chúng ta vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Trong kháng chiến chống xâm lược, thống nhất nước nhà, mặt trận ngoại giao đã có những đóng góp to lớn. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung làm tốt những công việc sau đây:
Thứ nhất, tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; phối hợp chặt chẽ các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với kinh tế, quốc phòng và an ninh.
Thứ hai, kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam giàu mạnh; nỗ lực triển khai định hướng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Thứ ba, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Vận dụng sáng tạo bài học “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” trong bối cảnh mới, giữ vững môi trường hòa bình, tạo thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước ở khu vực và thế giới; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.
Chúc sức khỏe và cảm ơn đồng bào, đồng chí và các bạn./

Hiệp định Paris và ấn tượng của bạn bè quốc tế


Hiệp định Paris và ấn tượng của bạn bè quốc tế

(Dân Việt) - Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris lịch sử, những người bạn quốc tế từng chứng kiến thời khắc lịch sử đó, những người đã từng đứng lên đấu tranh phản đối cuộc chiến phi nghĩa của Mỹ, cùng nhớ lại.


Bà Helene Luc - cựu nghị sĩ, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp Việt:
Sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, Pháp đã tiếp 2 đoàn Việt Nam, một diễn ra ở Choisy-Le-Roi và một ở Massy. Để giúp đoàn có thể giải quyết những khó khăn về vật chất và khắc phục điều kiện làm việc của ông Xuân Thủy và ông Lê Đức Thọ, tôi cùng các bạn bè Đảng Cộng sản Pháp đã dành tất cả sự giúp đỡ có hiệu quả cho đoàn.
Tôi cũng không ngờ rằng đàm phán kéo dài đến 5 năm. Cuối cùng họ không còn con đường nào khác phải chọn phương án đàm phán.
Tiến sĩ Harish Mehta, phóng viên báo Busines Times từ 1987 - 2003, đã sang Việt Nam nhiều lần:
Tôi cho rằng thỏa thuận hòa bình này là khoảnh khắc chiến thắng lịch sử cho Bắc Việt vì nó củng cố niềm tin của họ, rằng Chính phủ Mỹ rồi sẽ kiệt lực và rút quân khỏi Việt Nam. Đó là chiến thắng chiến lược cho Hà Nội vì thỏa thuận hòa bình đánh dấu thời khắc thất bại lịch sử về ba mặt của Mỹ - quân sự, ngoại giao và chiến lược.
Quân đội Mỹ đã không đè bẹp được quân đội Bắc Việt. Ngoại giao Mỹ không buộc được quân miền Bắc rút khỏi miền Nam. Sau chót, chiến lược kiềm chế chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc của Mỹ thất bại vì đa phần nông thôn miền Nam đã do cách mạng nắm giữ.
Tom Hayden - nhà hoạt động chính trị xã hội Mỹ với 25 năm hoạt động chống chiến tranh:
Tháng 12.1965, tôi đến Hà Nội trong một hoạt động chống chiến tranh. Chúng tôi đã đến thăm một ngôi làng gần như bị xóa sổ vì bom Mỹ, và lời nói dối của Richard Nixon đã bị phơi bày.
Chúng tôi sau đó đã mở đường cho phóng viên Harrison Salisbury của tờ New York Times đến Việt Nam, sau này những điều tra và công bố của ông là bằng chứng cho thấy chính quyền Richard Nixon đã rất tàn ác và dối trá.

Lắng đọng niềm hạnh phúc

(Dân Việt) - Lần đầu tiên, một triển lãm ảnh có quy mô lớn về một mốc son lịch sử quan trọng - Ký kết Hiệp định Paris (27.1.1973 - 27.1.2013) - được tổ chức tại Hà Nội.

Những ngày cuối năm bận rộn, nhưng triển lãm đã thu hút không ít người đến xem, và dừng lại lắng đọng...
Sống lại từng phút giây…
Biết tin có triển lãm ảnh về Hiệp định Paris, ông Nguyễn Văn Gia (Lý Thường Kiệt, Hà Nội) đã phải gọi điện hỏi tổng đài 1080 về thời gian và địa điểm để tìm đến xem bằng được. Người cựu chiến binh già năm nay đã 80 tuổi, mắt rưng rưng chỉ vào từng tấm hình trong triển lãm kể cho tôi nghe:
“Đây là cụ Supanovong, cụ Phạm Văn Đồng và cụ Lê Đức Thọ… những người này tôi đều đã được gặp mặt khi còn làm cảnh giới trong quân đội lúc đóng quân tại Hoà Bình. Tôi rất ngưỡng mộ tài năng và trí tuệ của họ, cảm thấy hạnh phúc khi mình còn được đứng đây nhìn lại hình ảnh quá khứ”.
Những bức ảnh, hiện vật tại triển lãm đã khiến nhiều người xúc động nhớ lại niềm hạnh phúc 40 năm trước.
Ông Gia kể, ông là người Quảng Ngãi, tập kết ra Bắc từ năm 1954: “Lúc ấy tôi cứ nghĩ là chỉ ra Bắc khoảng 2 năm thôi rồi lại trở về, nhưng không ngờ phải đến 20 năm sau mới thống nhất đất nước”. Ông tham gia quân đội, làm công tác quân giới tại Hà Nội và Hoà Bình một thời gian, sau khi độc lập thì công tác tại ngành đường sắt. “Suốt bấy nhiêu năm chờ đợi hoà bình chỉ với mong muốn gia đình được sum họp. Chính vì vậy, sau khi biết tin Hiệp định Paris được ký kết, tôi vui mừng đến chảy nước mắt” - ông Gia kể.
Như được sống lại 40 năm về trước, bà Trần Thị Quỳnh Như – nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật nhiếp ảnh của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam đã ngồi lặng trước cuốn sổ cảm tưởng tại triển lãm để trải lòng mình: “Đã 40 năm trôi qua, nhưng tôi không bao giờ quên khoảnh khắc lịch sử ấy. Chỉ có ai chứng kiến những cảnh đổ nát của Hà Nội trong trận B52 khủng khiếp năm 1972 mới hiểu rằng chiến thắng trên bàn đàm phán này có ý nghĩa như thế nào”.
Bà Như đến triển lãm không chỉ với tư cách là một nhà phê bình nhiếp ảnh, mà còn muốn tìm lại những giây phút hạnh phúc 40 năm trước. “Niềm hạnh phúc cá nhân trong niềm vui của toàn dân tộc mà một đứa trẻ hơn 10 tuổi có thể cảm nhận và ghi nhớ đến tận bây giờ không phải là tầm thường” – bà cho biết.
Những hiện vật đặc biệt
140 bức ảnh, 21 lời trích dẫn, 23 hiện vật, 3 tài liệu và 8 cuốn sách được trưng bày tại triển lãm. Trong đó, có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày kể từ 40 năm qua, như văn bản gốc Hiệp định Paris. Tất cả đã ghi lại cuộc đấu tranh cam go trên mặt trận ngoại giao kéo dài 4 năm 8 tháng và 16 ngày với hàng trăm cuộc gặp công khai và bí mật.
Chiếc bút phớt đen dùng để ký hiệp định cũng được trưng bày. Tại triển lãm, phóng viên NTNN may mắn gặp được ông Lưu Văn Lợi - người mua chiếc bút. Hồi ấy, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và mua bút để phục vụ cho việc ký hiệp định. Ông Lợi kể: “Hồi đó tôi mua 36 chiếc bút phớt đen. Chiếc này được dùng để ký hiệp định. Nhưng sau tất cả đều được đưa vào viện bảo tàng, nhà lưu niệm”.
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27.1.1973 đã buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ VN, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi VN, tạo bước ngoặt mở đường cho thắng lợi mùa xuân 1975 thống nhất đất nước.
Chiếc xoong quấy bột trẻ con được phái đoàn của ta mang sang để đun cháy xi dùng đóng dấu niêm phong tại hội nghị cũng được trưng bày tại triển lãm. “Trước ngày ký hiệp định, ta đã chuẩn bị cẩn thận lắm. Nhưng do điều kiện đất khách lại không thực sự dư giả tài chính nên cũng lắm thứ phải tận dụng. Khi ký xong, Mỹ dùng con dấu đóng xi niêm phong rất bài bản thì ta dùng nồi nấu bột trẻ con để đun chảy xi đóng dấu” – ông Lợi hài hước kể.
40 năm đã đi qua, nhưng đối với những người làm việc trực tiếp trên bàn đàm phán, niềm hạnh phúc vẫn như còn nguyên vẹn. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã xúc động ghi lại dòng cảm tưởng của mình trong cuốn lưu bút tại triển lãm:
“Là người đã tham gia ký Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27.1.1973, nhìn lại những hình ảnh của ngày đàm phán, tôi vô cùng xúc động. Các đồng chí thuộc 2 đoàn đàm phán đã hết sức cố gắng và hoàn thành nhiệm vụ. Lúc chúng tôi ở bàn đàm phán luôn luôn nhìn về chiến trường. Thắng lợi của Hiệp định Paris về Việt Nam là thắng lợi của toàn dân chúng ở miền Bắc cũng như miền Nam, là thắng lợi to lớn về quân sự và là thắng lợi to lớn về ngoại giao. Trong dịp này, chúng ta cũng nhớ đến hàng triệu người yêu chuộng hoà bình, tự do độc lập trên toàn thế giới đã nhiệt tình ủng hộ cho sự nghiệp của chúng ta”.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris


Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris


(VOV) -Lê Đức Thọ từng khiến Kissinger phải thốt lên rằng: Ông là một đối thủ xứng đáng.

Trên bàn đàm phán Paris, người ta chú ý tới một người đàn ông cao gầy, có đôi mắt cương nghị. Đó chính là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- Lê Đức Thọ.
Gần 5 năm bên bàn đàm phán, với bề dày cách mạng, tầm nhìn xa trông rộng, bản lĩnh chính trị vững vàng, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đưa ra những sáng kiến, giải pháp ngoại giao chiến lược, khiến cho kẻ thù phải khâm phục, trân trọng.
Chính ông đã được đề nghị trao giải thưởng Nobel Hòa bình - giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.
Một tháng sau cuộc thương lượng chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber (Paris- Pháp), ngày 12/6/1968, người ta thấy xuất hiện trong Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một gương mặt mới- đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy.
Theo các tài liệu lịch sử, năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ đang là Ủy viên Bộ chính trị. Sau Tết Mậu Thân, ông được điều vào miền Nam tăng cường cho Trung ương Cục. Cuối đợt 2 của cuộc Tổng tấn công bắt đầu từ ngày 4/5/1968, Hồ Chủ tịch gọi ông ra Hà Nội và cử ông làm Cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy. 


Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ VNDCCH ký Thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris ngày 13/6/1973 - Ảnh: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao
Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ từ năm 1968 đến năm 1989 kể lại: “Tại sao Bác Hồ lại chọn đồng chí Lê Đức Thọ? Như tôi hiểu và cảm nhận thì thấy rằng, từ đầu cách mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Đức Thọ đã ở gần bên Bác. Bác rất hiểu con người này. Đó là một con người rất kiên định, đã từng trải qua nhiều công tác quan trọng, 8 năm có mặt ở Nam Bộ, hiểu được chiến trường, hiểu được tình cảm của nhân dân cho nên Bác đã trực tiếp đề cử đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris. Theo Bác nói, con người này biết cương và nhu đúng lúc. Suốt 5 năm tại hội nghị Paris, đồng chí đã thể hiện được đúng tinh thần đó”.
Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Đó cũng là cuộc đấu trí giữa ngành ngoại giao non trẻ của Việt Nam với ngoại giao nhà nghề sừng sỏi ở Mỹ với những cái tên như Harriman, Kissinger, …
Với tư cách là đại diện của Bộ Chính trị chỉ đạo cả hai đoàn đàm phán Bắc và Nam, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và các nhà ngoại giao Việt Nam luôn kiên định lập trường “Nước Việt Nam là một dân tộc. Chiến đấu và bảo vệ Việt Nam là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam từ Nam đến Bắc”.
Nhà ngoại giao Phạm Ngạc khi đó giữ vai trò phiên dịch và ghi biên bản hội nghị nhớ lại: Trên bàn thương thuyết, hai ông Xuân Thủy và Lê Đức thọ đã phối hợp với nhau rất ăn ý. Lúc người này nhu thì người kia cương và ngược lại. Trong đó, phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai cương . Không ít lần, ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt Kissinger.
“Ông Lê Đức Thọ là một con người kiên định trong lập trường, kiên quyết giữ lại các lợi ích cơ bản của mình, không mắc bẫy thủ đoạn của đối phương. Khi văn bản Hiệp định đã hoàn thành đến một mức độ nào đó rồi, Kissinger muốn phía ta ký tắt vào văn bản nội bộ nhưng ông Lê Đức Thọ không chịu nhượng bộ và Kissinger đã phải thốt lên rằng: ông là một đối thủ xứng đáng. Lập trường chính nghĩa và sáng suốt theo đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh đã được ông Lê Đức Thọ thực hiện và nhận được sự cảm phục của đối phương”- Ông Phạm Ngạc nói.
Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ. Kissinger thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông cũng nhớ như in giây phút đầu tiên gặp cố vấn Lê Đức Thọ ngày 21/2/1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ.
Có thể nói, các cuộc đấu trí giữa ông Lê Đức Thọ với đại diện phái đoàn Mỹ, cả bí mật lẫn công khai tại Paris đã trở thành một huyền thoại trong lịch sử ngoại giao thế giới.
Kết quả là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973, tạo tiền đề dẫn đến thắng lợi cuối cùng ngày 30/4/1975. Cũng trong năm 1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng Henry Kissinger được đồng trao giải Nobel Hòa bình nhưng ông đã từ chối nhận giải.
Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ cho biết: “Trong nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, đồng chí Lê Đức Thọ đã giải thích vì sao lại từ chối giải thưởng chung với Kissinger. Ông nói, tại sao lại đặt ngang hàng giữa một nước luôn luôn gây ra chiến tranh và một nước luôn đấu tranh để giành lại độc lập. Giữa xâm lược và bị xâm lược lại nhận chung một giải thưởng. Hơn nữa, vì chưa có hòa bình thực sự ở Việt Nam nên ông chưa nhận giải thưởng đó và người xứng đáng chính là nhân dân Việt Nam”
5 năm giữ vai trò Cố vấn tại Hội nghị Paris dù chỉ chiếm một khoảng thời gian ngắn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình nhưng đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh.
Trong bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng, từ kinh nghiệm hoạt động của đồng chí Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris có thể rút ra một số bài học quí báu cho thế hệ ngoại giao Việt Nam hôm nay và mai sau, trong đó bài học đầu tiên là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác ngoại giao nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia./.

Lê Đức Thọ - Nhà ngoại giao chiến lược tài ba


Lê Đức Thọ - Nhà ngoại giao chiến lược tài ba


Nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của đồng chí LÊ ĐỨC THỌ (10/10/1911-10/10/2011), TG&VN xin trích đăng bài viết của đồng chí Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Mấy chục năm trong ngành Ngoại giao, tôi đã có dịp tiếp cận đồng chí Lê Đức Thọ, một nhà lãnh đạo của Đảng đồng thời là nhà ngoại giao chiến lược tài ba. Hình ảnh lắng đọng nhất trong tôi về đồng chí Lê Đức Thọ là mái đầu bạc trắng khi đồng chí tuyên cáo với thế giới về thắng lợi của Việt Nam sau ký kết Hiệp định Paris năm 1973. Những trọng trách mà đồng chí đảm nhận, những tháng ngày trăn trở trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán đã để lại dấu ấn trên mái tóc bạc phơ ấy khiến tôi liên tưởng tới các vị tiền nhân suốt cả cuộc đời tận tụy phấn đấu và hy sinh, dành trọn trí lực và tâm hồn cho dân tộc và đất nước.
Tôi tham gia công tác ngoại giao từ năm 1954 đến 2006. Điều vinh dự lớn đối với tôi là Ngành Ngoại giao được làm việc dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của những “ngôi sao” ngoại giao Việt Nam như: Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh và sau này là đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Với đồng chí Lê Đức Thọ, điều tôi ấn tượng nhất là sự lãnh đạo của đồng chí trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và Hội nghị Paris; và giải quyết vấn đề Campuchia.
…Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được tiến hành từ tháng 10/1968 đến tháng 1/1973. Cuộc đấu trí gần 5 năm này là cuộc thương lượng kéo dài nhất thế giới để chấm dứt một cuộc chiến tranh. Ở đây có các cuộc thương lượng công khai và bí mật. Thương lượng công khai để đấu lý và tranh thủ dư luận. Thương lượng bí mật để mặc cả, đây mới là thực chất. Phía Mỹ cử Henri Kissinger, một học giả kỳ cựu và là một trong những khối óc (think-tank) lớn nhất của nước Mỹ thời bấy giờ, dẫn đầu đoàn Mỹ đàm phán bí mật. Phía ta, Bác Hồ đích thân lựa chọn đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu đoàn đàm phán.
Trong suốt gần 5 năm đàm phán ở Paris, Lê Đức Thọ được ví như vị tướng ở ngoài biên. Ông thực hiện rất nghiêm túc đường lối chiến lược trong đàm phán mà Bác Hồ đã trực tiếp căn dặn và những chủ trương của Bộ Chính trị đề ra. Nhưng phần đóng góp của cá nhân ông thật là to lớn. Ông đã có sự vận dụng sáng tạo, luôn luôn giành thế chủ động tấn công, buộc đối phương phải đi vào đàm phán theo cách của mình. Đã có lúc Kissinger phải thốt lên: "Tôi có thể làm tốt hơn nếu như đối diện trên bàn đàm phán không phải là ông Lê Đức Thọ", "đàm phán với ông Thọ quả là cân não!".
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973, cả thế giới ca ngợi tài trí ngoại giao của ông Lê Đức Thọ. Hình ảnh của ông, danh tiếng của ông tràn ngập trên các trang báo lớn của Mỹ, phương Tây và các nước khác. Vì vậy, ngay năm 1973, Ủy ban Giải thưởng Nobel đã quyết định trao Giải Nobel Hòa bình, một trong những giải thưởng danh giá nhất thế giới cho ông. Với bản lĩnh và sự nhạy cảm của mình, ông từ chối nhận giải vì lúc đó Việt Nam chưa thực sự có hòa bình, nhưng thật ra trong thời điểm đó khó có thể nhận Giải Nobel Hòa bình cùng đứng liên danh Lê Đức Thọ - Kissinger vì cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ quá khủng khiếp, tang tóc, đau thương còn hiển hiện khắp nơi trên đất nước…
Nhiều lúc tôi tự hỏi một người như ông Thọ, không qua một trường lớp ngoại giao nào, có thể nói ngoại giao là nghề tay trái của ông vì sở trường của ông là chính trị, quân sự và tổ chức, nhưng tại sao trong ngoại giao, ông lại thể hiện tài ba đến như vậy, đến kẻ thù cũng phải kính nể ông. Có lẽ trong con người ông đã hội tụ những tố chất:
1- Đó là nhiệt huyết của một người cách mạng luôn phấn đấu cho độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Ở tuổi 20, ông đã tham gia cách mạng, hai lần bị giam cầm trong nhà tù của thực dân Pháp, vào sinh ra tử trong các địa bàn nguy hiểm nhất của cuộc đấu tranh đã hun đúc trong ông ý chí và quyết tâm chiến đấu cho lý tưởng cách mạng dưới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2- Đó là sự thông minh bẩm sinh kế thừa truyền thống gia đình và quê hương. Nhưng không có sự thông minh nào mà không có sự rèn luyện, tìm tòi, học hỏi, tích lũy và sáng tạo và ông đã tích lũy được kiến thức trong cuộc chiến tranh, trong cuộc sống, trong nhân dân và nhất là sự tiếp cận với trí tuệ của lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, của nhân loại và biến nó thành nguồn trí tuệ của ông.
3- Đó là một phương pháp khoa học hết sức lôgic, hệ thống. Có lẽ ông nắm vững ngũ tri (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến hóa). Ông là nhà lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm nên ông biết mình lắm, biết rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của Việt Nam ở chiến trường và những nơi khác. Biết người, ông tinh tường lắm, ông biết Mỹ đang bế tắc tìm lối ra khỏi vũng lầy chiến tranh, nhưng lại muốn ra đi trong thế mạnh và bảo toàn cho đồng minh của mình. Ông nắm vững thời thế lúc đó, khi phong trào chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam lan rộng ra toàn thế giới và trong lòng nước Mỹ, buộc chính quyền Mỹ phải sớm kết thúc đàm phán với Việt Nam. Đàm phán có lúc rất căng, ông phê phán Mỹ hết sức gay gắt, nhưng ông biết dừng đúng chỗ, đúng lúc. Khi đàm phán đi vào bế tắc, ngõ cụt, nhất là việc Mỹ đòi quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam như quân đội Mỹ. Đó là điều không thể được. Nhưng ông biết biến hóa phá vỡ bế tắc. Ông đưa ra sáng kiến vấn đề lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Cuối cùng Mỹ không có sự lựa chọn nào khác đành phải chấp nhận phương án đó.
4- Đó là dũng khí của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, của một nhà thương lượng ngoại giao đầy bản lĩnh. Trong suốt quá trình thương lượng, phía Mỹ không ít lần đưa ra những lời đe dọa. Ông Thọ đã không ngần ngại đáp lại: "Chúng tôi đã đánh nhau với các ông 10 năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng mới đi đến giải quyết, không thể dùng đe dọa với chúng tôi được đâu". Và đúng như vậy, dưới mái đầu bạc trắng như mây, vẫn toát lên những lời nói đanh thép, nhiều lần Kissinger phải cúi mặt xuống nghe ông Thọ nói với những từ ngữ khá nặng nề như lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng... Thật là dũng cảm! Không có dũng khí không làm được. Khi nghỉ giải lao, Kissinger hỏi ông Thọ: "Ông có bao giờ phê phán cán bộ mình như phê phán tôi không?". Ông Thọ nói: "Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt, lật lọng, tráo trở đâu mà tôi phê phán họ".
Ngũ tri và "dĩ bất biến, ứng vạn biến" là điều mà Bác Hồ luôn căn dặn các nhà ngoại giao Việt Nam. Ở ông Lê Đức Thọ, những điều đó hình như đã nhập tâm, đã nhuần nhuyễn. Cái bất biến trong thương lượng của ông với Kissinger là "làm cho Mỹ cút, làm cho ngụy nhào" nhưng muốn bảo vệ được cái bất biến đó thì cần phải biết cách vạn biến và trí tuệ của ông được thể hiện chính là ở đây và điều này cũng toát lên tài trí và sự khôn khéo của nhà ngoại giao tài ba Lê Đức Thọ.
...Những năm sau này, tôi mới được làm việc trực tiếp với ông Thọ. Hơn 10 năm sau Hội nghị Paris mà ông vẫn sôi nổi, quyết liệt, quyết đoán và quyết tâm như hồi nào. Có một vài lần ông đã cho những ý kiến nhận xét, phê phán gay gắt vào những đề án đấu tranh ngoại giao của chúng tôi khi trình lên. Nhiều lúc tôi ngồi nghe mà toát mồ hôi, nhưng về bình tĩnh suy ngẫm kỹ mới thấy nhiều điều được soi sáng. Đầu năm 1990, thật là một tổn thất to lớn khi ông ốm nặng, chúng tôi không xin được ý kiến chỉ đạo của ông về công tác ngoại giao, nhất là những vấn đề liên quan đến Campuchia đang đi vào giai đoạn cuối của giải pháp.
Lê Đức Thọ là con người đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ cái đúng, chống cái sai. Chính cái không khoan nhượng đó đã đưa đến sự nhận thức khác nhau về con người ông. Khi làm thơ thi sĩ phải thật lòng. Không thật thì làm sao có cảm xúc để có những vần thơ hay. Hãy đọc những vần thơ của Lê Đức Thọ. Trong thơ, ông giãi bày tình cảm của ông đối với đất nước, quê hương, với đồng bào, đồng chí, với cán bộ, với chiến sĩ... Tình thương của ông là bao la, là chân thật từ trái tim ông, như con gái ông - chị Lê Trung Nguyệt - đã viết về người cha của mình:
"Để cha yên nghỉ - linh hồn Người
Chỉ nước trắng và hoa".
Từ lăng kính ngoại giao, chúng tôi chỉ muốn sự trung thực đến với ông, một con người đã hiến dâng trọn cuộc đời cho cách mạng và dân tộc… Nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của ông, tôi xin được thắp nén nhang với một chén nước trắng tinh khiết từ lòng đất của quê hương Nam Định trên bàn thờ ông để tỏ tấm lòng tôn kính và tri ân ông.
Nguyễn Dy Niên