Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Mậu thân 1968


Mậu thân 1968


Bài 1: Tất cả sẵn sàng cho trận đánh lớn

Dưới sự lãnh đảo của Đảng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã khiến kẻ thù kinh hoàng, khiếp sợ. Đó là hình ảnh sinh động về chiến tranh nhân dân, về ý chí quật cường của dân tộc và khẳng định tư tưởng chiến lược tiến công đúng đắn của Đảng. Dù đã 45 năm trôi qua, nhưng vẫn còn đó những con người, những khu căn cứ chứa vũ khí bí mật trong nội thành Sài Gòn… làm nên lịch sử.

F100 ra đời

Việc chuẩn bị cho trận đánh Mậu Thân 1968 đã được bắt đầu từ mùa thu 1964. Để đón lấy thời cơ chiến lược tiến lên giành thắng lợi cuối cùng vào cuối giai đoạn chiến tranh đặc biệt, Trung ương Cục miền Nam đã vạch ra “kế hoạch X”, nội dung thực hiện một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong các đô thị toàn miền Nam, trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định. Việc thành lập Đoàn Biệt động quân khu Sài Gòn - Gia Định nằm trong kế hoạch đó.

Các chiến sĩ Quân Giải phóng trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Ảnh: TTXVN
Theo kế hoạch, ta phải xây dựng lực lượng biệt động đủ mạnh, chuẩn bị các điều kiện đảm bảo cần thiết để có thể cùng một lúc đồng loạt tập kích bất ngờ chiếm lĩnh cơ quan đầu não và các mục tiêu trọng yếu của địch. Lực lượng này lấy tên là đoàn Biệt động Quân khu Sài Gòn - Gia Định (phân hiệu F100). Theo đó, lực lượng biệt động không nhất thiết là bộ đội chính quy, không nhất thiết được trang bị vũ khí và huấn luyện để chiến đấu, có thể chỉ đơn giản là ông già, trẻ con, nữ sinh... với nhiều nhiệm vụ khác nhau (tác chiến, liên lạc, điều tra địch tình, vận chuyển và cất giấu vũ khí...). Vì biệt động hoạt động trong lòng địch, mọi thành viên đều phải có vỏ bọc, giấy tờ hợp pháp để sống công khai.

Ông Trần Minh Sơn (bí danh Bảy Sơn), nguyên Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng đoàn Biệt động Quân khu Sài Gòn - Gia Định, cho biết: “F100 có nhiệm vụ tập hợp, củng cố, điều chỉnh các lực lượng biệt động hiện có của quân khu, các lực lượng trinh sát công khai của đơn vị quân báo… Tất cả tổ chức thành 11 đội chiến đấu, đứng chân tại các vùng ven. Riêng bộ phận nòng cốt nằm trong nội thành”.

Sau khi F100 được hình thành, đã có những trận đánh vang dội đánh vào một số mục tiêu trọng yếu của địch, gây chấn động trong trung tâm Sài Gòn. Ngày 25/8/1964, lực lượng F100 dùng 40 kg thuốc nổ đánh vào tầng 5 của khách sạn Caravell. Vụ nổ làm 43 căn phòng bị hư hại nặng, một số sỹ quan Mỹ bị thương vong. Ngày 24/12/1964, F100 lại dùng chất nổ đặt trong xe đâm thẳng vào cư xá Brink, diệt và làm bị thương 142 sỹ quan cấp tá của Mỹ, 24 xe quân sự bị phá hủy. Ngày 30/3/1965, F100 dùng 150 kg thuốc nổ đánh vào Đại sứ quán Mỹ trên đường Hàm Nghi làm chết và bị thương 194 tên.

Đến tháng 10/1967, Trung ương Cục quyết định giải tán quân khu 7 và quân khu Sài Gòn - Gia Định (F100) để tổ chức lại thành 6 phân khu, đồng thời tổ chức lại thành 3 cụm biệt động 6-7-9 gồm các đội 6,7,9; cụm 3-4-5 gồm các đội 3,4,5 và cụm 1-2-8 gồm các đội 1,2,8. Ngoài ra còn các đội lẻ 90C và sau đó có thêm đội 11 để đánh Tòa đại sứ Mỹ.

Theo đó, nhiệm vụ của các đơn vị biệt động là khi được lệnh sẽ tập kích, đánh chiếm và giữ mục tiêu chờ lực lượng thanh niên, sinh viên đến tiếp ứng để tăng cường sức đề kháng tại chỗ, bảo đảm giữ được 2 giờ, tạo điều kiện cho các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu tiến vào chiếm giữ mục tiêu.
Các mục tiêu đã sẵn sàng

Trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định chỉ với 88 người, vào 00h sáng mùng 2 Tết, đánh vào 9 mục tiêu như: Dinh Độc lập (đội 5), Đài phát thanh (đội 4), Bộ Tư lệnh hành quân Ngụy (đội 3), Bộ Tổng tham mưu Ngụy (đội 6), Tổng nha Cảnh sát (đội 2), Biệt khu Thủ đô (đội 8), cổng Phi Long sân bay Tân Sơn Nhất (đội 9), khám Chí Hòa (đội 90C), Tòa Đại sứ Mỹ (đội 11). Trong đó, 5 mục tiêu trọng yếu nhất phải đánh chiếm là: Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu Thủ đô và Tòa Đại sứ Mỹ.

Ông Bảy Sơn cho biết: “Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, lực lượng và vũ khí đã rải đi các mục tiêu. Đồng thời tất cả các mục tiêu đều hợp đồng giữ mục tiêu trong hai tiếng để chờ tiếp ứng của đại quân. Trong tất cả các mục tiêu, Dinh Độc Lập được coi là mục tiêu quan trọng nhất bởi nơi đây là thủ phủ của Tổng thống Ngụy và bọn tay sai của Mỹ. Mục tiêu này được giao cho đội 5, do đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) chỉ huy 14 chiến sỹ có nhiệm vụ tiến đánh chiếm lĩnh các cổng ra vào, mở cổng để đón đại quân ta về chiếm thủ phủ, giải phóng Sài Gòn. Mỗi mục tiêu có một cơ sở cung cấp vũ khí. Theo đó, hầm chứa vũ khí bí mật nằm ở số 287/70 đường Nguyễn Đình Chiểu (phường 10, quận 3 hiện nay) là hầm ém chứa nhiều loại vũ khí như súng ngắn, AK, B40, bộc phá… để đánh Dinh Độc Lập”.

Mục tiêu thứ hai là đánh vào Đài Phát thanh Sài Gòn, với 11 chiến sĩ biệt động do đồng chí Trần Phú Cương (bí danh Năm Mộc) chỉ huy, có nhiệm vụ đánh chiếm và giữ Đài phát thanh trong vòng 2 giờ, đồng thời phát đi lời hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó sẽ chờ đại quân tiếp viện. Theo đó, khu vực chuẩn bị vũ khí cho mục tiêu này là căn hầm số 1 nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận 1). Đây là căn nhà của đồng chí Năm Mộc, người chỉ huy trận đánh này.

Bên cạnh đó, các mục tiêu như đánh Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Hải quân, khám Chí Hòa, Tổng nha Cảnh sát và biệt khu Thủ đô… cũng đã được chuẩn bị hoàn chỉnh về mọi mặt và chỉ còn chờ lệnh của cấp trên là tổng tiến công.

Bài 2: Những trận đánh vang dội

Mặc dù những trận đánh trong cuộc tổng tiến công của lực lượng biệt động Sài Gòn đã bị tổn thất lớn về lực lượng nhưng về mặt chính trị những trận đánh này đã “giáng” cho địch một đòn “xiểng liểng”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.

Đánh vào đầu não của ngụy

Giờ G trên toàn miền được quy định là 00 giờ đến 2 giờ ngày 31/1/1968, tức rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân. Do đó, từ ngày 29 đến ngày 30/1/1968 (tức ngày 30 và mùng 1 Tết Mậu Thân), theo kế hoạch, các chiến sĩ biệt động, từng người, từng tốp, bằng mọi phương tiện, xe đò, xe hơi nhà, xe lam, xe gắn máy... dưới dạng người đi làm về, người đi ăn Tết... lần lượt vào các vị trí ém quân ở nội thành, gần các mục tiêu.

Lính Mỹ gác trước Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn tháo chạy trước cuộc tấn công bất ngờ của Quân Giải phóng (31/1/1968). Ảnh: Tư liệu TTXVN

Lúc 0 giờ mùng 2 Tết Mậu Thân, các mục tiêu nội thành Sài Gòn đồng loạt tấn công. Khắp Sài Gòn rung chuyển dữ dội bởi tiếng B40, tiếng bộc phá và các loại súng đồng loạt khai hỏa.

Dinh Độc Lập là trung tâm đầu não của ngụy vì vậy được canh phòng và bảo vệ với quy mô rất chắc chắn. Mục tiêu này được giao cho Đội 5, đây là đội từng đánh những trận lớn ác liệt và có tiếng vang nhất tại Sài Gòn như: khách sạn Caravelle, cư xá Brink, Tổng nha Cảnh sát... dưới sự chỉ huy tài tình dũng cảm của đội trưởng Nguyễn Thanh Xuân (bí danh Bảy Bê và anh đã không may bị bắt năm 1967). Vì vậy, trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thận năm 1968, đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) làm chỉ huy trưởng của Đội 5 với 14 chiến sỹ. Theo đó, các chiến sỹ trong đội có nhiệm vụ chiếm lĩnh các cổng ra vào, mở cổng để đón đại quân ta về chiếm thủ phủ giải phóng Sài Gòn.

Theo kế hoạch tấn công Dinh Độc Lập, ta sẽ tiếp cận mục tiêu từ bên trái, xuất phát từ đường Nguyễn Du. Sau một tràng AK, Đội 5 đã hạ gục những tên lính gác cổng, đồng thời sử dụng khối bộc phá để mở cổng nhưng do khối bộc phá lâu ngày ẩm mốc không nổ đã khiến đội 5 lâm vào thế bất lợi.

Bà Vũ Minh Nghĩa (bí danh Chính Nghĩa) - giao liên và là 1 trong những chiến sĩ Đội 5 đánh vào Dinh Độc Lập, nhớ lại: “Trong thế trận giằng co với địch, ta đã sử dụng B40 để tiêu diệt hết lính Mỹ trên xe khi chúng đến tiếp viện cho bọn tay sai ngụy. Từ đó, trận địa im tiếng súng, địch kinh hoàng khiếp sợ vì B40. Lúc này tôi nghĩ không biết nơi khác có quân tiếp viện vào không chứ nơi này nguy cấp lắm rồi mà không thấy đại quân tiếp viện của ta đâu. Mặc dù đã bị thương rất nặng nhưng đồng chí Chỉ huy trưởng Ba Thanh vẫn dặn dò anh em: “Các đồng chí phải chiến đấu đến cùng, hãy dũng cảm lên, không được rút lui khỏi trận địa, chờ quân tiếp viện vào. Rồi đồng chí Ba Thanh tắt thở và ngã xuống trong cánh tay của tôi”.

Tuy nhiên, do lực lượng liên đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống ngụy mạnh, lại có xe bọc thép yểm trợ, các chiến sỹ biệt động dù đánh trả quyết liệt nhưng vẫn có 8 đồng chí hy sinh, 7 đồng chí bị bắt và bị thương.

Đánh vào đầu não của Mỹ

Chiều 23 Tết, Bộ Tư lệnh thành phố lên thông qua kế hoạch với Bí thư Võ Văn Kiệt. Tất cả những mũi tấn công đều đã chuẩn bị rất kỹ và sẵn sàng cho trận đấu. 
Ông Bảy Sơn kể lại: Sau khi đã nghe báo cáo và hài lòng về các mục tiêu thì bỗng nhiên anh Sáu - tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt, nghiêm mặt hỏi“Tại sao Đại sứ quán Mỹ các anh không đánh? Nếu không đánh Đại sứ quán Mỹ đồng nghĩa là đợt tấn công trong thành phố lần này coi như lực lượng biệt động không đánh”. Anh Sáu khẳng định: “Bằng mọi giá các anh phải đánh cho bằng được mục tiêu này vì nhiều lý do về đối nội, đối ngoại, quốc tế”.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng (Hai Phụng) lúc đó ra về với nỗi lo âu vì toàn bộ lực lượng đã được bố trí vào vị trí chiến đấu, quân số cũng không còn và các hầm vũ khí đã được phân chia, chỉ còn chờ được lệnh nổ súng tấn công. Lúc đó, anh Hai Phụng đã gọi đồng chí Bảy Sơn (Tham mưu trưởng biệt động Sài Gòn) đến cùng giải quyết về vấn đề nan giải này. Ông Bảy Sơn nhớ lại: “Sau khi nghe anh Hai Phụng nói về tình hình, tôi cũng cảm thấy rối bời nhưng tôi lấy lại bình tĩnh, suy nghĩ và tìm ra giải pháp cấp bách đó là cho gọi đồng chí Ba Đen - là người giữ chìa khóa của 12 hầm vũ khí trong nội thành đến. Khi trao đổi với Ba Đen anh đã đồng ý tham gia vào trận đánh này với quyết tâm và hứa sẽ đánh được với yêu cầu: cho 200.000 USD để ngụy trang và hối lộ các trạm kiểm soát của địch; đồng thời trang bị súng mạnh và chuyển súng cặp quốc lộ 22 từ An Tịnh - Trảng Bàng - Tây Ninh đến Bầu Mây - Củ Chi với yêu cầu phải xong đúng ngày 25 Tết. Yêu cầu cuối cùng của Ba Đen là cung cấp quân và nhờ tham mưu huấn luyện gấp rút cho anh em kịp chiến đấu. Với yêu cầu thứ 3 này thì rất khó bởi các lực lượng đã ém trong nội thành chỉ chờ lệnh tổng tiến công”.

Để huy động quân cho Ba Đen, Bảy Sơn đã phải giải tán cơ quan tham mưu của mình rồi tập hợp lại huấn luyện chiến đấu nhanh để giao cho Ba Đen. Theo đó, có 15 đồng chí bao gồm thư ký quân lực, liên lạc bảo vệ, y sỹ… Đây đều là lính văn phòng, chưa ra trận mạc nhưng được thông suốt tư tưởng, tập trung lên Thạnh An - Bắc Bến Cát huấn luyện và tập bắn súng các loại của ta và của địch, để khi xung trận, loại súng nào cũng sử dụng được.

Với tài thao lược và thông thạo thành phố, Ba Đen đã xuất sắc tổ chức hoàn chỉnh lực lượng và đột nhập vào thành phố Sài Gòn bằng đường công khai. Sáng 28 Tết, Ba Đen đã có mặt ở các nơi ém quân. Tối 29 Tết, Ba Đen đến nghe hiệu triệu và khai lệnh ở số 7 Yên Đổ (tiệm Phở Bình). Các xe vũ khí vào ngày 29 Tết mới đưa vào các điểm hẹn.

Y như kế hoạch, lúc 0 giờ mùng 2 Tết, các toán biệt động rải rác các nơi tiếp cận gần mục tiêu và khi đến liền dỡ bỏ vật ngụy trang, nhanh chóng trang bị vũ khí tiến đến mục tiêu tấn công. Địch canh gác tại chỗ chống trả yếu ớt, sau loạt súng đầu và vài trái B40 là quân ta đã lọt vào Đại sứ quán Mỹ và lần lượt tấn công dần lên lầu 1 và lầu 2. Tờ mờ sáng, trực thăng địch đổ quân trên nóc tòa Đại sứ và ném lựu đạn liên tục vào các tầng phía dưới nơi quân ta đã chiếm. Tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ lúc hửng sáng tiếp viện từ dưới đánh lên và từ trên đánh xuống. Cuộc tiến công kéo dài đến sáng mùng 2 Tết, tất cả các chiến sỹ biệt động đã hy sinh hết, chỉ còn Ba Đen bị thương nặng và bị địch bắt.

Ông Bảy Sơn nhìn nhận: “Trận đánh lần 2 vào Đại sứ quán Mỹ, các chiến sỹ biệt động đã cảm tử hy sinh nhưng chiếm giữ được mục tiêu một cách ngoạn mục, giữ vững trận địa đến giây phút cuối cùng và chết vinh quang, ghi danh bất tử cho thành phố thân yêu. Trận tấn công oanh liệt này đã tạo ảnh hưởng lớn đến cục diện của ta từ trong đến ngoài nước”.

Bài 3: “Bông hoa” duy nhất của đội biệt động “Chiến sỹ tên lửa”

Chiến đấu gan dạ, mưu trí, dũng cảm ngay giữa trung tâm đầu não của chính quyền Mỹ - Ngụy, bà đã phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đó chính là nữ Biệt động Sài Gòn Vũ Minh Nghĩa (bí danh Chính Nghĩa).

Cô “chiến sỹ tên lửa” năm xưa giờ đây có cuộc sống an nhàn, vui vẻ bên gia đình.
Để hoạt động được trong lòng địch, những nữ Biệt động Sài Gòn phải gan dạ, nhanh nhẹn, khéo léo và phải hết sức bình tĩnh xử lý trong mọi tình huống. Chính những điều đó, đã giúp cho những nữ Biệt động Sài Gòn qua mắt địch trong tất cả các đồn bốt để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Với khuôn mặt hiền từ và giọng nói ấm áp, ít ai có thể nghĩ rằng bà Vũ Minh Nghĩa - với bí danh Chính Nghĩa, là một chiến sỹ biệt động năm xưa. Sinh ra trong cái nôi cách mạng của vùng đất Củ Chi, ngay từ năm 12 tuổi, cô bé Nghĩa đã phụ má nuôi cán bộ nằm hầm, dẫn đường cho cán bộ và chạy tin liên lạc các vùng căn cứ. Năm 18 tuổi, Chính Nghĩa đã là thành viên cứng cỏi của Đội 5 Biệt động Sài Gòn với nhiệm vụ liên lạc đưa thư và vận chuyển vũ khí vào thành phố.

Bà nhớ lại: “Với công việc giao liên, vận chuyển vũ khí vào thành, có những ngày tôi chạy liền hai ba chuyến từ căn cứ Củ Chi vào thành phố, lên Thủ Đức lại ra Củ Chi. Những chuyến đi như vậy thì phải luôn luôn được đảm bảo đúng giờ giấc. Cũng chính vì vậy mà tôi được cấp trên đặt cho cái tên là “chiến sỹ tên lửa”.

“Sau những trận đánh lớn, địch càng kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Trong một lần đi từ Củ Chi về thành phố, tới trạm kiểm soát của địch tôi được đưa vào phòng kiểm tra. Lúc đó, trong cặp xách là giấy tờ tài liệu của đơn vị giao cho. Nữ kiểm soát này lấy hết những tờ giấy trong cặp xách của tôi bỏ ra ngoài. Lúc đó, tôi sợ bị chúng lấy hết tài liệu thì lấy đâu đem về cho đơn vị. Nhân lúc chúng kiểm soát mấy người kia, tôi nhanh tay chộp lấy mấy tờ giấy cầm trên tay. Cũng may lần đó tôi thoát nạn và giao được tài liệu đến tay tổ chức” - bà Chính Nghĩa kể lại.
Người nữ chiến sĩ duy nhất

Với mong muốn được trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng do nhiệm vụ làm giao liên trinh sát địa bàn nên Chính Nghĩa không có cơ hội. Tuy nhiên, trong đợt Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, với mục tiêu đánh vào đầu não của Ngụy, lúc này Ban chỉ huy đã quyết định dồn hết lực lượng Đội 5 cho trận đánh lớn, cuối cùng ước nguyện cầm súng của bà đã thành hiện thực. Bà cũng là người nữ duy nhất của Đội 5 tham gia đánh vào mục tiêu Dinh Độc Lập.

Bà Chính Nghĩa hồi tưởng: “Khi nghe chỉ huy trưởng phân công nhiệm vụ tham gia chiến đấu tôi rất mừng. Không ngờ lần xung trận đầu tiên của mình lại đánh lớn, giải phóng Sài Gòn. Lúc đó máu trong người tôi sôi lên rạo rực, đầu nao nao như có tiếng vang reo: Tấn công xông lên giải phóng, sắp giải phóng rồi. Sáng Mùng một Tết, tôi được anh Ba Thanh giao nhiệm vụ mua bông băng, thuốc men mang theo vì trong đợt này tôi còn được anh em giao nhiệm vụ cứu thương khi cần thiết”.
Gần tới giờ G, cả đơn vị Đội 5 hành quân vào trận. Trong số 15 người trên 3 chiếc xe tải nhỏ và 2 chiếc Honda, duy nhất có một người phụ nữ là Chính Nghĩa, xuất phát từ hai hướng đánh vào Dinh. “Trong thời gian giằng co với địch chờ quân tiếp viện, hai bên bắn nhau rất dữ dội. Bỗng có hai ánh đèn pha rọi đến mà không có ánh đèn tín hiệu, tôi đã hoảng hốt kêu lên: không phải quân ta anh Ba ơi, địch đấy". Chờ tên lính trong xe trước tới gần chừng 100 thước, tôi đã bóp cò và tên lính gục ngã. Tôi rất sướng vì lần đầu tiên tôi đã tiêu diệt được lính Mỹ”.

Sau trận đánh vào Dinh Độc Lập, Chính Nghĩa bị thương và bị bắt. Mặc dù bị tra tấn rất tàn bạo, dã man nhưng người con gái Đất Thép anh hùng vẫn không khai nửa lời. Vì vậy chúng đã nhốt bà từ nhà tù Tổng nha Cảnh sát đến Thủ Đức, Biên Hòa, Chí Hòa và cuối cùng là nhà tù Côn Đảo. Năm 1973, trong đợt trao trả tù binh, bà được thả tự do. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, một lần nữa, Chính Nghĩa được lệnh đánh vào dinh Độc Lập. Tuy nhiên, chưa kịp hành quân đến Dinh thì hay tin Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã đầu hàng.

Với những đóng góp của bà trong thời gian tham gia chiến tranh giải phóng đất nước, Chính Nghĩa đã được nhà nước phong tặng Huân chương chiến công hạng Ba và nhiều bằng khen khác. Trở về thời bình, bà luôn sống gương mẫu trong công tác, cuộc sống và vẫn phát huy được vai trò của người cán bộ cách mạng, nhất là vẫn giữ được nét rắn rỏi của một người chiến sỹ biệt động.

H.Tuyết-Đ.Phương
Bài 4: Những địa chỉ đỏ trong lòng địch
Bên cạnh các chiến sỹ biệt động chiến đấu dũng cảm, mưu trí lập được nhiều kỳ tích trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, không thể không nhắc tới những đóng góp vô cùng to lớn của hệ thống hầm vũ khí trong nội thành. Đó là những cơ sở bí mật để cất giấu vũ khí, đạn dược phục vụ chiến đấu và che chở cho các chiến sĩ biệt động hoạt động trong lòng địch.

Hầm chứa vũ khí bí mật

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, Bộ Tư lệnh đã lên kế hoạch xây dựng các hầm bí mật trong nội thành để cất giấu vũ khí và nơi liên lạc của cán bộ, chiến sỹ biệt động, phục vụ cho các mục tiêu chiếm đánh của ta.

 
Hiện nay, căn hầm chứa vũ khí vẫn còn trưng bày nhiều loại súng đạn để phục vụ cho khách tham quan.

Những ngày cuối năm, chúng tôi đến thăm ngôi nhà từng là căn hầm bí mật chứa vũ khí của Biệt động Thành năm xưa ở nhà số 287/70 đường Nguyễn Đình Chiểu (phường 10, quận 3). Nhìn phía trước, đây là căn nhà phố có hai mặt tiền nằm kẹp giữa đường Nguyễn Đình Chiểu (trước đây là Phan Đình Phùng) và Võ Văn Tần (trước đây là Trần Quý Cáp) với cánh cửa sắt kéo màu xanh. Năm 1967, đồng chí Trần Văn Lai (Năm Lai) đã mua căn nhà này theo sự thống nhất với người chỉ huy đơn vị để làm cơ sở giấu vũ khí phục vụ cho các mục tiêu xung quanh và trận đánh vào đầu não của Ngụy - Dinh Độc Lập.

Ông Nguyễn Quang Vinh - nguyên thiếu tá đặc công, hội viên Hội Cựu chiến binh phường 10, đồng thời là người được ông Năm Lai tin cậy giao trông coi căn hầm này, đã bồi hồi kể: “Sau khi mua xong căn nhà, anh Năm Lai tiến hành sửa sang, xây dựng hầm bí mật chứa vũ khí. Anh Năm Lai đã biến phần dưới đất 3 căn nhà thành căn hầm bí mật 2 tầng, sâu 3 m, mỗi chiều 2,5 m có lỗ thông hơi và nắp đậy bí mật liên thông nhau. Hầm xây xong, tổ chức bố trí cho ông tiếp nhận chuyến hàng thứ nhất”.

 
Chú Nguyễn Quang Vinh đang giới thiệu về sơ đồ hầm bí mật trong căn nhà 287/70 Nguyễn Đình Chiểu- nơi chứa vũ khí phục vụ cho trận đánh vào Dinh Độc Lập.

Theo đó, để vận chuyển vũ khí về hầm, các chiến sỹ Biệt động Thành đã che giấu vũ khí khéo léo trong bộ ván, cuộn cà tăng, dưới sọt trái cây... để qua mắt địch. Đồng thời, để tránh sự chú ý của láng giềng, xe chở vũ khí từ Củ Chi đến căn nhà này thường đi vào những lúc nhá nhem tối, khi thì đi cửa trước, lúc đi cửa sau để vào nhà bốc dỡ. Vũ khí được chuyển xuống hầm lúc đó trên 2 tấn gồm các loại súng AK, súng ngắn, bộc phá, lựu đạn, đạn các loại…
Ngày 29 Tết Mậu Thân, tại xã Lộc Thuận, huyện Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh), Đội 5 biệt động đã thực tập chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công. Tới đêm mồng 1 rạng sáng mồng 2 Tết, 15 chiến sỹ Đội 5 biệt động tập trung tại căn hầm này nhận vũ khí. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh), cả đội đã thực hiện trận đánh táo bạo, vang dội vào Dinh Độc Lập. Tuy nhiên, sau khi bị phản công và không có chi viện, các chiến sỹ biệt động của Đội 5 sống sót bị bắt, địch cho lính đến bắn phá căn nhà này vì nghi ngờ đây là nơi trú ngụ của đội biệt động.

Ngày nay căn hầm chứa vũ khí năm xưa mà Đội 5 Biệt động Thành đã sử dụng đánh mục tiêu Dinh Độc Lập đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ông Nguyễn Quang Vinh trở thành người trông nom di tích và hướng dẫn khách tham quan di tích. Ông cho biết: “Sau trận đánh, Năm Lai bị đày ra Côn Đảo, căn nhà rơi vào tay địch nhưng hầm vũ khí mãi là bí mật với địch. Chỉ sau khi giải phóng, căn nhà được thu hồi trả về cho chủ cũ, lính Ngụy mới té ngửa vì không ngờ căn nhà ấy lại có căn hầm chứa vũ khí của biệt động thành. Hiện nơi đây đang lưu dấu những kỉ vật, sự kiện về trận đánh oanh liệt của Đội 5 biệt động Sài Gòn vào cơ quan đầu não của Ngụy. Đây cũng là một trường học lớn, là địa chỉ đỏ để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử chiến đấu của thế hệ cha anh”.

Nơi đọc lệnh Tổng tiến công

Bên cạnh căn hầm 287/70 Nguyễn Đình Chiểu làm nên kì tích vì giữ được bí mật, sử dụng đúng lúc và đúng kế hoạch mà cấp trên đề ra, căn nhà bí mật có tên Phở Bình ở số 7 đường Yên Đổ (nay là đường Lý Chính Thắng, phường 8, quận 3) cũng trở thành một nơi lưu dấu kí ức lịch sử hào hùng. Tiệm phở này, với địa thế nằm trung tâm khu dân cư rộng thoáng nên được cấp trên chọn làm cơ sở chỉ huy tiền phương của Biệt động Thành trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Đây cũng là nơi phát lệnh cho các trận đánh “long trời lở đất” vào Dinh Độc Lập, Đại Sứ quán Mỹ, Tổng Nha cảnh sát… Để ngụy trang, tại tiệm phở này, các chiến sỹ trong đội biệt động đã vào vai người giúp việc của tiệm.

Ông Bảy Sơn kể lại: “Từ 1967 đã có nhiều cán bộ đến trú tại tiệm Phở Bình để công tác và hội họp. Khoảng 1 tháng trước Tết Mậu Thân, người chỉ huy đơn vị là ông Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), chính trị viên đơn vị Biệt động 159 (sau đổi tên là J9/T700), thuộc Quân khu Sài Gòn - Gia Định đến chỉ thị cho ông Ngô Toại - chủ tiệm Phở Bình gấp rút dự trữ lương thực cho khoảng 100 người dùng trong một tháng.

Chấp hành chỉ thị, ông Ngô Toại đã tích lũy một số lương thực, thực phẩm. Trong thời gian này, một trung đội nữ cũng lần lượt đến, bí mật trụ lại tại phòng phía sau lầu 1 của tiệm phở. Đây là các chiến sỹ của nhiều đơn vị, điện đài, y tế, giao liên… thuộc Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6. Càng đến gần ngày cao điểm, càng có nhiều cán bộ chỉ huy đến tiệm phở để nghiên cứu tình hình, kiểm tra công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công. Mặt khác, Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6 quyết định chọn Phở Bình làm trụ sở tập kết các chiến sỹ, cán bộ để truyền đạt mệnh lệnh trong đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968.

Đúng 23 giờ kém 15 phút, ngày mùng 1 Tết, tại tiệm phở này, đồng chí Võ Văn Thạnh (bí danh Ba Thắng) nhân danh Chính ủy Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6 đã trịnh trọng đọc lời hiệu triệu của Ủy Ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Ông nhắc lại lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” và phát lệnh cho các cụm biệt động làm nhiệm vụ xung kích tiến công vào các cơ quan đầu não của Mỹ - Ngụy”.

Nhưng sau khi ta nổ súng đồng loạt tấn công địch ở các mục tiêu, tiệm Phở Bình cũng bị địch bao vây bắt được một số chiến sỹ chưa kịp thoát. Chủ tiệm Phở Bình - ông Toại và vợ bị bắt vào Tổng nha. Dù bị địch tra tấn dã man qua 20 ngày đêm chết đi sống lại, nhưng trước sau ông vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo nửa lời. Không khuất phục được ông, chúng đã đưa ông ra tòa kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo. Sau Hiệp định Pari năm 1973, ông được trao trả tù binh tại Lộc Ninh (Bình Phước).

Dù thời gian đã qua, nhưng những căn hầm chứa vũ khí, cơ sở chỉ huy được hình thành bí mật trong lòng địch đã cho thấy sự dũng cảm, kiên trung với Đảng, với cách mạng của các chiến sĩ biệt động Sài Gòn. Đây cũng là minh chứng cho tình đồng chí, đồng bào sâu nặng. Hơn nữa, những cơ sở này đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến, nhất là góp phần quan trọng làm nên các trận đánh lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 ở Sài Gòn.


Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu


Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu

Đã 45 năm trôi qua, nhưng ký ức về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế không thể phai mờ trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Thu, nguyên Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên, Chỉ huy trưởng cánh Bắc đánh vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm ấy.

Đã gần 80 tuổi, ông vẫn minh mẫn và đặc biệt là nhớ rất rõ, đến từng chi tiết của từng trận đánh mùa Xuân năm ấy.

Chiều 30/1/1968, từ núi rừng Hương Trà, cánh quân chủ yếu phía Bắc Huế cùng với toàn mặt trận bắt đầu xuất quân. Mỗi cánh quân, ngoài lực lượng bộ đội trong đội hình còn có các đội biệt động, đội công tác khởi nghĩa, cán bộ dân vận mặt trận trên 2.500 người, kéo dài trên 2km.

Cuộc hành quân bí mật, phải vượt qua đồi núi, khe suối, sông ngòi, làng mạc. Đặc biệt nhất là vượt qua vành đai tai mắt bảo vệ vòng ngoài của địch để tiếp cận mục tiêu bí mật, an toàn, đúng giờ quy định.

Từ các hướng, các mũi tiếp cận mục tiêu đã giữ được bí mật trước giờ nổ súng. Kết quả đó là nhờ công tác chuẩn bị chiến trường với thế trận chiến tranh nhân dân của các cấp ủy địa phương và các đơn vị với tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm ý thức kỷ luật của cán bộ, chiến sỹ.

Điều đáng nói là có đồng chí khi vượt sông cạnh vị trí địch đóng quân, xuồng bị chìm nhưng không một lời kêu cứu, gặp hiểm nguy sẵn sàng hy sinh, không làm lộ bí mật.

Đúng giờ G - 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968 (rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân), từ tuyến xuất phát xung phong, các mũi tấn công bằng đòn chiến đấu đồng loạt, dũng mãnh, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu như Mang Cá, cửa An Hòa, cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, Cửa Hữu, Đại Nội, Cột Cờ, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba.

Cánh phía Nam diệt Trung đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai, khu Nam Giao, Kho Rèn, Sở cảnh sát, Đài phát thanh, Tòa tỉnh trưởng, tiểu khu Thừa Thiên Phan Sào Nam, khách sạn Thuận Hóa.

Sau 3 giờ chiến đấu, ta đã chiếm được các mục tiêu trọng yếu cả quân sự lẫn chính trị và làm chủ cơ bản thành phố Huế cả phía Bắc lẫn phía Nam. Cùng với đòn tấn công quân sự, nhân dân thành phố Huế, dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, cùng đồng loạt nổi dậy làm chủ từng khu phố như Đông Ba, Gia Hội (gồm 3 phường) và Cồn Hến.

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 31/1/1968, lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, báo hiệu thành phố Huế được giải phóng. Cùng với đó là các đội bình định, phòng vệ dân sự ở nông thôn, vùng ven bị các lực lượng bộ đội địa phương, biệt động, dân quân du kích bao vây, tiêu diệt, bức hàng, bức rút. Nhân dân đồng loạt, nhất tề đứng dậy làm chủ thôn xóm, quê hương mình.

Đòn tấn công mở đầu trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế giành được thắng lợi ngay từ phút đầu, giờ đầu, ngày đầu.

Địch bị đánh bất ngờ, cả về mục tiêu, thời gian, lực lượng và phương pháp tấn công, bị đánh cả bên trong lẫn bên ngoài thành phố, cả vùng nông thôn và đồng bằng. Bị động, địch hoang mang, lúng túng, không nơi nào đối phó, ứng cứu cho nhau được.

Trong 3 ngày đầu, các đơn vị của ta vừa củng cố mục tiêu chiếm được, vừa mở rộng vùng giải phóng, cùng nhân dân lùng bắt bọn địch chạy trốn thoát, diệt bọn ác ôn, đầu sỏ, các đảng phái phản động.

Tất cả 36 cơ quan ngụy quyền thuộc thành phố Huế và trung phần đều bị ta đánh chiếm, đập tan bộ máy ngụy quyền của địch từ tỉnh, thành phố xuống tận thôn xã. Ta thiết lập chính quyền cách mạng trong các quận, phường thành phố Huế và các xã vùng ven đô, nông thôn của tỉnh.

Đánh chiếm và giữ thành phố Huế liên tục trong 25 ngày đêm, ta vẫn giữ được thế chủ động ở từng khu vực, từng mục tiêu, dù địch đã tăng viện quân lên nhiều lần. Có thời điểm trong thành phố có tới 8-9 tiểu đoàn Mỹ ngụy. Đòn đánh phản kích địch ở cống Thủy Quan của d7/F325 diệt 200 tên địch; đánh quỵ c/D4 ngụy, đại đội thám báo bắt nhiều tù binh, thu giữ 40 súng, giữ vững tuyến hành lang từ cửa Chánh Tây sang Cửa Hữu.

Đòn phản kích địch ở ngã tư Mai Thúc Loan - Đinh Tiên Hoàng, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy, diệt 120 tên, phá hủy 3 xe M113, giữ vững phía sau đội hình các đơn vị ở cửa Thượng Tứ, Đại Nội, cửa Đông Ba. Một bộ phận d2/e6 ở cửa Đông Ba đánh phản kích 1 đại đội Mỹ, diệt 50 tên, thu nhiều súng đạn.

Điển hình như d6/e6 đánh tan tiểu đoàn ngụy tại cầu An Hòa, diệt 200 tên địch, bắn cháy 5 xe M113 buộc chúng phải rút lui về sau cống Rớ.

Đại đội 5, Tiểu đoàn 7 Kỵ binh bay của Mỹ tiến vào Liễu Cốc bị c1/d816/e9 đánh tan, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 xe M113... giữ vững hành lang phía Tây Bắc Huế, đảm bảo cho các lực lượng vận chuyển thương binh, và đưa cán bộ, nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên ra khu căn cứ an toàn.

Về phía Nam, phía Đông thành phố Huế, địch tập trung lực lượng phản kích ra các nơi như An Cự, cầu Lòn, kho Rèn, ngã 6, sân vận động đều bị ta chặn đánh quyết liệt, diệt trên 2.000 quân Mỹ ngụy, bắn cháy 10 xư M113. Cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công vừa tiêu diệt địch, vừa giữ thế chủ động đánh địch, hoàn thành được nhiệm vụ đề ra...

Riêng trận đánh tại nhà lao Thừa Phủ, tại đây địch đang giam giữ hơn 2.000 tù nhân, được canh gác cẩn mật, chúng cho cài mìn clâymo để bảo vệ và ra sức chống trả các đợt tiến công của quân ta. Các chiến sỹ trinh sát vũ trang và biệt động đã kết hợp bao vây, khống chế, dùng lao thông báo tin chiến thắng của cách mạng và tìm cách đột nhập vào bên trong động viên cán bộ, bộ đội đang bị giam giữ nổi dậy kêu gọi bọn cai ngục, lính canh đầu hàng.

Nửa đêm 2/2/1968, một người lính ngụy đang bị địch giam trong lao trốn được ra ngoài, đầu hàng và nói: có đường hầm bí mật vào lao và dẫn các chiến sỹ vào giải phóng nhà lao theo đường hầm bí mật đó. Thế là từ ngoài đánh vào, trong đánh ra địch không kịp trở tay, nhà lao được giải phóng...

Theo Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tại Trị Thiên-Huế, ta đã giải phóng 227.300 dân, 40 xã và 296 thôn.

Ủy ban Nhân dân cách mạng một số huyện và thành phố được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.

Thắng lợi quan trọng này, cùng với thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Johnson phải "xuống thang" chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Paris.

Phía Mỹ phải thay Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt nam. Johnson thôi không ứng cử nhiệm kỳ 2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện trọn vẹn chiến lược "đánh cho Mỹ cút," để tiến tới "đánh cho ngụy nhào," giành độc lập thống nhất Tổ quốc.../.
Quốc Việt (TTXVN)

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào


Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào ?


Trong đêm đầu xuân mưa bay, giá lạnh và sương mù, một đòan người áo đen, quần cộc, dép cao su, từ trong rừng đi ra, vượt qua sông, qua làng, không một tiếng động, lặng lẽ tiến vào thành phố Huế bằng tất cả các ngõ đường, các cửa ô.

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào
ảnh minh họa
Đó là những hình ảnh đã làm nên sự kiện lịch sử chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968. 40 năm trôi qua nhưng chiến công oanh liệt ấy vẫn mãi mãi âm vang như một dấu son của lịch sử quân sự Việt Nam.
Cho đến nay, công việc đánh giá tổng kết về sự kiện Mậu Thân ở Huế vẫn chưa kết thúc. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong các lĩnh vực chuyên môn; về khoa học quân sự, chính trị. Nhưng dù thế nào đi nữa thì lịch sử vẫn ghi đậm những hy sinh của cả lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố Huế - những người con thành cổ đã cống hiến hết sức mình vì độc lập tự do cho Tổ quốc.
 
Được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho Mậu Thân, chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng ngắn và chất nổ C4 vào bên trong thành phố. Nhà của nhiều người dân được dùng để chứa vũ khí, tất nhiên nếu chúng biết được thì gia đình họ chắc chắn phải chịu cảnh “tan nhà, nát cửa"".
Vũ khí được đưa vào bằng xe lam, bằng các gánh hàng trái cây; còn AK thì dấu dưới những chiếc thuyền hai đáy. Tiến vào Mậu Thân, những con thuyền chở vũ khí vào Huế từ nguồn sông Bồ qua ngã Ba Sình, từ Dương Xuân Hạ xuống, từ Phú Vang lên, hoặc từ chợ Tài Ba vào để kịp thời trang bị cho bên trong.
Khâu cuối cùng trong nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường của chúng tôi là chuẩn bị đường hành quân. Người ta có thể hình dung tính chất quan trọng và phức tạp trong cái công việc tưởng chừng như nhẹ nhàng này: Làm sao để đưa được bốn – năm ngàn con người vận động trên một địa hình hẹp và trong đêm tối như mực, vượt qua làng mạc nằm trong vành đai phòng thủ của địch, để tới tận mục tiên chiến đấu.
Việc tổ chức đường hành quân và cả người dẫn đường từ trong rừng ra vùng ráp ranh, từ ráp ranh về đồng bằng, rồi băng qua đồng bằng để tới mục tiêu, tất cả đều phải chia ra nhiều đọan đường. Mỗi đoạn đều có một người dẫn đường riêng, không thể giao cho một người từ đầu đến cuối, vì lỡ trước đó họ bị bắt thì cũng chỉ biết rằng đã dẫn một đoàn cán bộ đi công tác từ làng này qua làng khác.
Mỗi hướng chính lại rẽ ra nhiều mũi, mỗi mũi phải chuẩn bị hai con đường để phòng khi địch chốt đường này thì còn có đường khác. Phải nghiên cứu trước từng đoạn đường hành quân bằng cách đi thử: Chó sủa, lội sông và cố tránh lội ruộng để khỏi hư lúa mới cấy.
Kinh nghiệm cho biết mỗi khi chó sủa rộ lên vùng nào thì địch đều bắn pháo sáng lên và cho máy bay quan sát tới đó. Do đó, việc chuẩn bị đối phó với chó phải hết sức đảm bảo: Suốt bảy đêm đó phải chọc cho chó sủa liên miên suốt từ 11 giờ đêm đến 4 gìơ sáng để địch quen lệ, nhưng đúng đến đêm hành quân thì lại phải thuốc chó để chúng ngủ im.
Tưởng như chỉ là người liên lạc thường thôi, những người dẫn đường trong Mậu Thân 1968 cực kỳ quan trọng. Do đó, chính các Bí thư huyện ủy phải đích thân dẫn đường, các mũi phụ thì do Bí thư bố trí và phải chịu trách nhiệm trước tổ chức.
Một yếu tố có tính chất sống còn để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Mậu Thân, là một kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến tuyệt đối, từ đầu cho đến tận giờ nổ súng. Kỷ luật bảo mật chặt chẽ ngay từ trong phòng họp: Cán bộ lãnh đạo ghi chép phát biểu ý kiến xong đều phải để lại sổ sách, không được mang theo một mảnh giấy, tất cả chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi.
Công việc cận chuyển lương thực cho chiến dịch từ đồng bằng lên rừng đã bắt đầu từ trước Tết hàng tháng, nhưng ta đã đánh lừa được địch bằng một mệnh lệnh nghi trang là “Tích cực chuẩn bị cho bộ đội ăn Tết mừng chiến thắng”. 
 


Các đơn vị tập dượt đánh các mục tiêu ở Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người ở quê xa tới để họ không biết mục tiêu gì, ở đâu. Mọi người đều phải tập dượt rất công phu, học tập kỹ lưỡng, và tuyệt nhiên không ai có thể biết được rằng sắp “đánh Huế”.
Trong suốt thời gian ta chuẩn bị chiến dịch, chỉ có pháo và máy bay C130 của địch thả bom lải rải tại các bến đò. Rõ ràng là chúng không được thông báo gì. Sau đó, địch có đưa tin trên đài Huế rằng “một cuộc hành quân tảo thanh đã bóp chết âm mưa của V.C trong dịp Tết từ trong trứng nước, đồng bào yên tâm ăn Tết”. Còn mã thám ta theo dõi tất cả các nguồn thông tin khác của địch đều không thấy một dấu hiệu báo động nào cả.
Thế là, trong một thời gian dài, chiến dịch đã đưa về cả ngàn vạn con người, cách trung tâm chỉ huy cách Huế 5 km, mà địch không hề biết một chút tăm hơi gì cả. Kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến độ không một mảnh giấy hay một con người để lọt vào tay địch và không một bộ phận nào bị rơi vào trạng thái kế hoạch có thể bị lộ. Đi lại nườm nượp ở trên rừng và trên đường hành quân, thế mà cho đến phút chót không một toán quân nào bị đánh vào giữa đội hình, không ai thương vong, không ai bị bắt.
Lịch chung cho toàn quân về Huế là ngày 30 ăn Tết (đúng kỷ niệm lần thứ 180 ngày Tết Quang Trung đi giải phóng Thăng Long, Mậu Thân 1876), đóng gói hành trang, sáng mùng 1 Tết thì ngủ. Nhưng tất cả đều đoán biết việc đêm đó nên người ta không ngủ mà lại hát.
Vào buổi chiều, được thông báo chính thức việc chiếm Huế, mọi người từ cán bộ đến bộ đội, du kích… đều vỗ tay reo hò, vui mừng chưa bao giờ thấy. Đêm đó im lặng hơn tất cả mọi đêm trong chiến tranh, im lặng đến mức không còn nghe thấy cái gì cả.
Lúc 1 giờ sáng thì trung đoàn 6 báo đầu tiên đã chiếm lĩnh trận địa; tiếp theo, cánh nam báo chiếm lĩnh hai mục tiêu ưu tiên; mỗi điện báo đều mật và chỉ 3 chữ. 6 giờ sáng, điện báo chiến thắng về từ khắp mọi nơi, coi như đã chiếm hết thành phố Huế, các huyện ngoại thành cũng chiếm được các xã địa bàn đã quy định. Như vậy, chỉ trong 3 tiếng đồng hồ, thành phố Huế đã bị ta đánh chiếm. Đến 11 giờ sáng mùng 2, lá cờ Mặt trận treo trên đỉnh Kỳ Đài Huế; tất cả bộ đội đều nhảy nhót, vỗ tay hoan hô…
Mậu Thân trong chiến đấu, bộ đội cả chủ lực và địa phương hy sinh lẫn bị thương khỏang 3.000 người. Trong Thành ủy có 2 đồng chí hy sinh. Nhưng ta đã diệt hơn một vạn tên địch trên mặt trận Huế. Toàn bộ căn cứ địch tại thành phố đều bị ta đánh nát; tất cả 36 cơ quan cấp tỉnh và trung phần của chúng đều bị ta chiếm hết, bọn đầu não đều ra hàng.
Thành quả vẻ vang này trước hết biểu hiện phẩm cách anh hùng của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Suốt 26 ngày chiếm giữ thành phố, chiến sĩ ta đương đầu với khó khăn ác liệt chưa từng thấy; thế mà không một đơn vị nào từ Trung đội, Đại đội trở lên bị xóa mất phiên hiệu, không một người nào ra đầu hàng hoặc đào ngũ; sống chung với dân như thế, vẫn giữ vững kỷ luật tác phong, khi xa rồi dân vẫn còn thương nhớ, người nằm xuống đó dân vẫn tiếp tục hương khói phụng thờ.
Phải nói rằng sau khi ta rút lên rừng, nếu có cái gì còn sống lâu trong tâm trí nhân dân thành phố Huế, trước hết đó là hình ảnh tỏa sáng của “người lính cụ Hồ”.


http://www.xaluan.com/

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

Bạn bè Pháp với cuộc đàm phán ký kết Hiệp định Pari


Bạn bè Pháp với cuộc đàm phán ký kết Hiệp định Pari

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pari (27/1/1973 - 27/1/2013) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, phóng viên TTXVN tại Pháp đã gặp gỡ bà Hélène Luc, cựu Nghị sĩ, Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Pháp Việt (AAFV), và ông Michel Strachinescu, một trong hai lái xe đưa đón bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, trong những năm tháng đấu tranh để đi đến ký kết văn kiện lịch sử này tại Pháp. Họ có vinh dự được chính phủ Việt Nam mời về Hà Nội tham dự các hoạt động kỷ niệm sự kiện lịch sử này.

Nữ nghị sĩ luôn sát cánh với Việt Nam

Trong cuộc gặp gỡ với chúng tôi, bà Hélène Luc cho biết, ngay từ năm 17 tuổi , bà đã luôn đấu tranh ủng hộ cuộc chiến đấu vì hòa bình của nhân dân Việt Nam, chống thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Cả cuộc đời bà đã cùng với Đảng Cộng sản Pháp đấu tranh vì hòa bình và tình hữu nghị của các dân tộc trên thế giới.

Bà Hélène Luc.
Bốn mươi năm đã qua, nhưng câu chuyện vẫn như còn mới nguyên đối với bà Hélène Luc. Bà không thể nào quên hình ảnh Việt Nam, đất nước đã giành chiến thắng Điện Biên Phủ và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong cuộc kháng chiến này, bà cùng chồng và nhiều bạn bè Pháp đã “tham gia hết mức có thể” để ủng hộ cuộc đấu tranh vì hòa bình của nhân dân Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường lịch sử ấy, bà Hélène Luc cho biết, sau sự kiện cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Pháp đã tiếp hai đoàn Việt Nam, một đoàn ở Choisy-le-Roi và một đoàn ở Massy (bà Nguyễn Thị Bình và một số người trong đoàn tùy tùng ở tại ngôi biệt thự ở Verrières-le-Buisson). Để giúp đoàn có thể giải quyết được những khó khăn về vật chất và khắc phục điều kiện làm việc của ông Xuân Thủy và ông Lê Đức Thọ, bà Hélène Luc cùng các bạn bè Đảng Cộng sản Pháp đã dành “tất cả sự giúp đỡ hiệu quả và có thể” và sự “ủng hộ của tình đồng chí và mối quan hệ anh em” cho đoàn. Bà cũng không ngờ rằng đàm phán kéo dài đến 5 năm.

Ông Michel Strachinescu trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN.
Theo bà, khi đó Mỹ chỉ có thể lựa chọn hoặc leo thang tiếp tục đánh phá miền Bắc hoặc ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Cuối cùng, họ không còn con đường nào khác phương án thứ hai - ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam. Vì lúc đó, một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ lên án cuộc chiến phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ủng hộ mạnh mẽ nhân dân Việt Nam đã dấy lên ở nhiều nước trên thế giới, như Đức, Italia, Tây Ban Nha… và kể cả Mỹ. Đài phát thanh của Pháp đã phát đi rất nhiều chương trình về các hoạt động liên quan đến Việt Nam. Ở Pháp lúc đó cũng có cuộc biểu tình rất lớn trên đại lộ Saint Michel thu hút khoảng 40.000 người nhằm kêu gọi thế hệ thanh niên cộng sản và bạn bè Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam.

Ngoài ra, bà Hélène Luc cùng các bạn bè Pháp đã kêu gọi sự giúp đỡ tự nguyện trong bảo đảm an ninh cho khu nhà của đoàn đại biểu Việt Nam và Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber và tham gia các buổi mít tinh để buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán. Trong vòng 6 tháng, Mỹ đã tìm cách thay đổi phương thức đàm phán và mặc cả với phía Pháp rằng nếu Pháp dừng viện trợ và dừng cung cấp lương thực và vũ khí cho miền Nam Việt Nam, Mỹ sẽ ngừng ném bom ở miền Bắc. Các bạn Pháp đã làm mọi cách để Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, như gặp Hồng Y giáo chủ ở Vatican để đề nghị Hồng Y gây sức ép với Mỹ.

Người lái xe tận tụy

Qua nhiều cuộc hẹn, cuối cùng chúng tôi đã gặp được ông Michel Strachinescu, lái xe trong những năm 1970 - 1973 cho bà Nguyễn Thị Bình.

Bằng một giọng sang sảng, đầy nhiệt tình, ông Michel Strachinescu cho biết ông rất vinh dự được làm công tác đưa đón đoàn đàm phán miền Nam ở Verrière-le-Buisson và một số đồng chí khác ở Massy. Trong suốt thời gian này, ông đã cảm nhận được bà Nguyễn Thị Bình là “một nhân cách lớn, một người có tầm ảnh hưởng lớn”.

Ban đầu, Đảng Cộng sản Pháp cử ông cùng một số người Pháp đến giúp đoàn Việt Nam. Ông được giải thích rằng cần tận tình giúp đỡ các bạn Việt Nam vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam. Dù thời điểm đó, ông đã 36 tuổi, có gia đình, vợ con, song ông không mấy khi được gặp mặt vợ con. Nhận thức đây là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự, ông làm việc đến gần 400 giờ mỗi tháng và đã thực sự trở thành một trong những nhà hoạt động tranh đấu vì nền hòa bình của Việt Nam.

Ông Michel Strachinescu (thứ 4 từ trái sang) chia vui với các bạn Việt Nam.
Ông Strachinescu luôn ủng hộ và đấu tranh cùng các bạn Việt Nam trên mặt trận ngoại giao - mặt trận quan trọng gắn liền với những thắng lợi trên mặt trận quân sự. Ông luôn mong mỏi “các bạn Việt Nam sớm đạt được thỏa thuận tiến tới ký Hiệp định Pari về hòa bình”. Ông cho rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là điển hình, mẫu mực, là tấm gương đấu tranh giải phóng dân tộc cho nhiều nước khác trên thế giới.

Để bày tỏ tình cảm yêu mến Việt Nam, ông luôn cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là “đảm bảo lái xe an toàn, tránh mọi sơ suất trong quá trình phục vụ bà Bình và đoàn đàm phán”. Lộ trình hàng ngày của ông là đưa đoàn đi lại giữa Verrière-le-Buisson và Massy, và đưa bà Bình đến trung tâm hội nghị Kléber họp. Một hoặc hai lần mỗi tuần, ông chở đoàn đến Choisy-le-Roi để hội kiến với đoàn miền Bắc. Ông không chỉ đơn thuần là lái xe, mà còn như vệ sĩ của bà Bình. Ông ở ngay tại Verrière-le-Buisson để hỗ trợ, phục vụ các bạn Việt Nam, vì sự thành công của cuộc đàm phán.

Ông Strachinescu kể cho chúng tôi nghe một kỷ niệm khó quên: Một hôm đang đi trên đường vành đai Pari, cán cờ hiệu trước xe bị gẫy và lá cờ hiệu rơi xuống đường. Ông đã không ngần ngại dừng xe khẩn cấp, và bất chấp mối nguy hiểm đến tính mạng, ông đã quay lại tìm lá cờ hiệu trong dòng xe cộ đông đúc, bởi ông hiểu lá cờ đó là hình ảnh biểu tượng, rất có ý nghĩa với các bạn Việt Nam đang đấu tranh trên bàn đàm phán.

Khi Việt Nam ký thành công Hiệp định Pari, với ông Strachinescu, đó thực sự là một lễ hội. Ông đã nổ sâmpanh ăn mừng và tự tay làm một cái bánh gatô to để cùng các bạn Việt Nam mừng chiến thắng này.

Ông Strachinescu tâm niệm, “những đóng góp của tôi chỉ là một phần nhỏ bé như những con suối nhỏ tạo thành dòng sông lớn, vì sự nghiệp của nhân dân Việt Nam”. Với ông, “Việt Nam là một đất nước tuyệt vời!”.

Lê Hà - Trung Dũng (P/v TTXVN tại Pháp)

Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari


Kỷ niệm 40 năm ngày ký hiệp định Pari

Bài 1: Tại sao lại chọn Pari?

Ký ức về Hội nghị Pari 40 năm đã trôi qua, đất nước đã trải qua biết bao thay đổi, nhưng với những người đã từng có mặt ở Hội nghị Pari từ năm 1968 đến 1973, những diễn biến, những câu chuyện bên trong và ngoài bàn đàm phán dường như vẫn nguyên vẹn. Trong những ngày đầu xuân 2013, chúng tôi tìm gặp ông Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, nghe ông kể về những kỷ niệm liên quan đến sự kiện lịch sử đặc biệt này.

rong căn nhà riêng ấm cúng trong một ngõ nhỏ trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội), ông Lưu Văn Lợi (ảnh) đã kể cho chúng tôi nghe những năm tháng đầy cam go trên mặt trận ngoại giao hơn 40 năm trước ở bàn Hội nghị Pari.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Mở đầu câu chuyện, ông đã nói ngay: “Các bạn nhớ tôi là Lưu Văn Lợi, thư ký của Cố vấn Lê Đức Thọ nhé, không được nhầm tôi với cụ Lưu Văn Lợi - cố vấn pháp lý cho Hiệp định Pari năm ấy đâu nhé”. Rồi ông kể, Bộ Ngoại giao hồi đó có hai người cùng tên là Lưu Văn Lợi.

Cụ Lưu Văn Lợi khi đó là trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (sau này là Trưởng ban Biên giới Chính phủ - hàm Bộ trưởng), năm nay cụ Lợi đã tròn 100 tuổi. Cụ rất giỏi, được cử làm cố vấn pháp lý cho ông Lê Đức Thọ cùng với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hoàn thành văn bản Hiệp định Pari. Còn ông là Lưu Văn Lợi, làm việc ở Vụ Liên Xô, Đông Âu. 
Qua câu chuyện với ông, chúng tôi được biết, ông sinh năm 1933, quê ở Duy Tiên, Hà Nam. Năm 1946, khi học hết lớp 3 thời Pháp thuộc, ông theo gia đình lên chiến khu. Sau đó ông vào học trường Thiếu sinh quân. Năm 1951, ông sang Trung Quốc học ở khu học xá Nam Ninh. Ba năm sau, ông được sang Liên Xô học lớp Nga văn đặc biệt. Năm 1956, ông làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô.

Việc ông trở thành thư ký cho cố vấn Lê Đức Thọ cũng thật tình cờ. Ngày 2/6/1968, trên đường tới Pari tham gia đàm phán, cố vấn Lê Đức Thọ đã dừng chân ở Mátxcơva. Khi đó, cố vấn muốn nghe những tin tức xung quanh Hội nghị Pari, cũng như dư luận thế giới về sự kiện này. Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô Nguyễn Thọ Chân đã giao cho ông Lưu Văn Lợi, lúc đó là tùy viên phòng văn hóa - báo chí hữu nghị của Đại sứ quán, trực tiếp làm tin cho cố vấn Lê Đức Thọ. Sau đó, ông Lợi còn đảm nhiệm luôn nhiệm vụ phiên dịch cho cố vấn Lê Đức Thọ trong hội đàm với một lãnh đạo cao cấp của Liên Xô đến thăm và làm việc tại tòa biệt thự trên đồi Lênin. Sau bữa cơm tối, bất ngờ cố vấn Lê Đức Thọ gọi ông tới và bảo: “Cậu thu xếp mai đi với tôi sang Pari. Tôi cần người thông thạo ngoại giao và biết tiếng giúp việc cho tôi”. Từ đó, ông Lợi bắt đầu phục vụ trong văn phòng của Cố vấn Lê Đức Thọ cho tới tháng 10/1989.

Khi chúng tôi ngỏ ý muốn nghe ông kể những câu chuyện xung quanh Hội nghị Pari, ông cười và nói: “Một người có trí nhớ rất tốt thì cũng không thể nhớ hết nổi các sự kiện của hơn 40 năm trước, và nếu có nhớ thì nói cả nhiều ngày không hết được đâu. Tôi chỉ có thể kể cho các bạn một vài chuyện mà tôi có ấn tượng sâu sắc thôi...”. Và rồi, bằng một giọng đều đều nhưng đầy cảm xúc của một người đã từng có mặt trong Hội nghị năm ấy, ông Lưu Văn Lợi đã kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện thú vị xung quanh những cuộc đấu trí trường kỳ trên bàn Hội nghị Pari hơn 40 năm về trước.

Lợi thế khi chọn Pari

Theo những tư liệu lịch sử, chủ trương kết hợp đánh với đàm trong kháng chiến chống Mỹ đã được Bác Hồ và Đảng tính tới từ cuối năm 1965. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của BCH TƯ khóa III, tháng 1/1967 đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh… Trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động…”. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13/5/1968, Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ chính thức họp phiên đầu tiên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber ở thủ đô Pari của Pháp, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Trước khi đi vào đàm phán chính thức ở Pari, chuyện địa điểm họp ở đâu cũng mất hơn tháng trời mới thống nhất được. Có rất nhiều địa điểm được ta và Mỹ đề xuất làm nơi đàm phán nhưng đều không chọn được vì hai bên không đồng thuận. Sau này ta nghiên cứu và đưa ra đề nghị chọn Pari (thủ đô của Pháp). Tám tiếng sau, Mỹ đồng ý, dù chưa thực sự “xuôi”, bởi Tổng thống Pháp lúc đó là Charles De Gaulle lại là người có quan điểm ủng hộ Việt Nam, chỉ trích sự can thiệp của Mỹ và mong muốn chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Ta chọn Pháp không chỉ vì thủ đô Pari là trung tâm thông tin, chúng ta có thể tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của dư luận Pháp và quốc tế, mà ở đó, ta còn có thể dựa vào sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp (mà Bác Hồ là một trong những người sáng lập) và phong trào hoạt động của cộng đồng Việt kiều ở Pháp khi đó cũng rất mạnh, công tác hậu cần và sân sau sẽ là lực lượng hỗ trợ chúng ta ở Pháp là tốt nhất và rất có lợi cho ta. Khi đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang, tạm thời ở khách sạn hạng sang, nhưng quá tốn kém. Chỉ vài ngày mà đã gần hết kinh phí mang theo. Ta đến nhờ Đảng cộng sản Pháp giúp đỡ và Đảng cộng sản Pháp đã nhường cho ta một trụ sở là trường Đảng mang tên Tổng bí thư Đảng cộng sản Pháp Moris Tores ở Choisy Le Roi, một biệt thự 2 tầng, hai bên là 2 tòa nhà 3 tầng, cả nhân viên, bảo vệ, đầu bếp bạn cũng để lại để giúp ta. Lúc đầu, ai cũng nghĩ cuộc đàm phán chắc khoảng 5-6 tháng, nhiều lắm thì 1 năm là cùng, nào ngờ lại kéo dài tới gần 5 năm, bạn đã phải di dời cả trường học đi chỗ khác, lấy chỗ cho chúng ta ở. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chỗ chỉ có 37 người (năm 1968) sang năm 1969 đã lên đến gần 80 người, sau này, số lượng còn hơn thế. Bên cạnh sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, các trí thức Việt kiều cũng đã đóng góp rất nhiều công sức giúp chúng ta chỉ với một tấm lòng yêu quê hương, đất nước.

Bài 2: Cuộc chiến… quanh những “chuyện nhỏ

Câu chuyện cái bàn

Trước khi khởi động họp bốn bên, một trong những tranh cãi nảy lửa và kéo dài cả tháng trời là câu chuyện về cái… bàn ở Hội nghị. Chuyện tưởng nhỏ nhưng thực chất lại có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với cả ta và Mỹ, vì vị trí ngồi ra sao sẽ xác định tư cách pháp nhân của bên tham gia. Phía Mỹ đòi bàn hình chữ nhật hoặc tròn chia đôi để thể hiện rằng cuộc đàm phán chỉ có 2 bên: Mỹ - Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Còn ta lại yêu cầu chiếc bàn hình vuông hoặc tròn có phân chia rõ 4 bên. Vì chỉ có 4 bên mới bình đẳng. Câu chuyện cái bàn nổi tiếng đến mức, các hãng làm đồ mộc lớn trên thế giới khi ấy đã gửi nhiều mẫu bàn tới chào hàng để các bên cùng chọn. Song do tranh cãi kéo dài và không đi đến thống nhất, cuối cùng, hai bên quyết định chọn cái bàn tròn bằng phẳng lớn và kê hai bàn thư ký hình chữ nhật ở hai bên. Không có cờ và biển ghi tên trước mặt các đoàn. Bố trí kiểu “nước đôi” như vậy, dư luận quốc tế hiểu đây là đàm phán “hai bên” cũng được mà “bốn bên” cũng được. Chuyện màu sắc chiếc khăn trải bàn cũng gây tranh luận khiến nước chủ nhà Pháp phải mang cả xấp khăn đủ các màu ra để các bên lựa chọn. Cuối cùng, ta với Mỹ nhất trí lựa chọn khăn trải bàn màu xanh lá cây thẫm.

Thái độ lật lọng và hành động leo thang chiến tranh của chính quyền Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ khắp thế giới. Ngày 20/1/1973, cùng với hàng trăm cuộc biểu tình chống chiến tranh nổ ra ở nhiều nước trên thế giới, nhân dân Mỹ tổ chức biểu tình lớn ở thủ đô Oasinhtơn, trong khi Richard M.Nixon làm lễ nhậm chức Tổng thống, đòi Mỹ ký ngay Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ảnh: Tư liệu - TTXVN

Sau chuyện cái bàn, màu khăn trải bàn, nhiều chuyện nhỏ khác cũng phải trải qua những tranh luận gay gắt. Đó là quy định thứ tự phát biểu của các đoàn tại cuộc họp. Có nước gợi ý để cho nước chủ nhà bốc thăm, trúng bên nào thì bên đó được đọc trước. Cuối cùng vì không muốn để vấn đề thủ tục kéo dài, ta đã đồng ý để đoàn Mỹ phát biểu trước, đồng thời chấp nhận đề nghị của Mỹ tổ chức phiên họp thứ nhất của Hội nghị bốn bên vào ngày 18/1/1969. Nhưng về sau, cuộc họp trù bị của các phó trưởng đoàn đã họp vào ngày này vì trưởng đoàn chính quyền Sài Gòn chưa có mặt ở Pari.

Theo lời kể của ông Lưu Văn Lợi, những cuộc tranh luận căng thẳng về các tiểu tiết (nhưng lại rất quan trọng) như trên trong Hội nghị Pari có rất nhiều. Đặc biệt, nhiều khi phía Mỹ còn sử dụng cả những "tiểu xảo" hòng đưa phía ta vào thế khó. Như việc Kissinger cậy mình trẻ hơn Cố vấn Lê Đức Thọ tới hơn một giáp, thường tìm cách làm cho Cố vấn Lê Đức Thọ mệt mỏi. Biết ông hay bị mất ngủ, sức khỏe hạn chế trong các cuộc thương lượng kéo dài thâu đêm, nên trong những cuộc họp riêng Kissinger luôn lòng vòng lê thê đủ chuyện xa gần hết cả ngày trời. Song cứ nhè vào lúc chiều muộn nhập nhoạng tối, Kissinger mới đưa việc chính, những vấn đề “nóng” ra tranh luận, hòng có được những kết quả có lợi về phía mình, bởi Kissinger cho rằng, lúc đó ông già kia (Cố vấn Lê Đức Thọ) đã mệt mỏi rồi, chắc sẽ dễ ừ, dễ gật. Nhưng điều mà Kissinger không thể ngờ được, là tuy đã cao tuổi, nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ là người dạn dày với chiến trường, lại rất cảnh giác trước những mánh lới này nên Kissinger đã không thể đạt được mục đích. “Có những cuộc họp kéo dài tới 12-13 tiếng đồng hồ, những người dự thay nhau lên gác nghỉ, chợp mắt, nhưng ông già thì không nghỉ, thỉnh thoảng chỉ uống một cốc nước sâm. Đàm phán càng muộn, ông Thọ càng tỉnh và diễn thuyết càng hăng, khiến cho chính Kissinger cũng phải thừa nhận: “Tôi rất ngán khi đang đàm phán căng thẳng, người cận vệ của ông Thọ lại mang nước tới. Vì tôi biết, nước đó là nhân sâm" - ông Lưu Văn Lợi nhớ lại.

Cho đến giờ, ông Lợi vẫn nhớ như in một lần họp riêng, Kissinger đưa cho Cố vấn Lê Đức Thọ khoảng 30 cái ảnh màu cỡ bằng cái khay, chụp từ vệ tinh rất rõ, toàn ảnh quân đội ta không đội mũ tai bèo mà đội mũ cối, vai đeo lon, rõ cả sao trên mũ. Kissinger nói: “Đã thỏa thuận là từ tháng 3 các ông thôi không đưa thêm quân vào nữa. Đây, ông đưa quân vào đây này”. Ông Thọ cười to, tiếng cười lạ lắm, cười khỏe kiểu vừa ở thế thắng, lại vừa có vẻ khinh miệt. Ông bảo Kissinger: “Mấy cái ảnh này các ông chụp ở đâu chẳng được, ông ra Bắc, rừng chỗ nào chả giống nhau. Tình báo các ông tồi lắm, lúc chúng tôi không đưa quân thì các ông lại bảo chúng tôi đưa quân, nhưng lúc chúng tôi đưa xe tăng và đại pháo vào sát Sài Gòn thì các ông chả biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải!”. Kissinger ngồi im, không nói được câu nào.

Sau này, chính Kissinger cũng phải thốt lên: “Ông Thọ ở Pari đã mổ xẻ tôi bằng con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà giải phẫu cừ khôi. Có những lúc ông ấy nói cả tiếng đồng hồ về lịch sử ngàn năm đấu tranh, dựng nước và giữ nước của Việt Nam, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi, thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại để ông biết…” - ông Lưu Văn Lợi kể lại.

Diễn viên… đóng thế

Khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành nỗi trăn trở của cả loài người, thành vấn đề lương tri của thời đại, thì không có gì ngạc nhiên là từ tất cả các nước, mọi người mong chờ, hướng về Hội nghị Pari này. Hàng nghìn nhà báo, điện ảnh, nhiếp ảnh, đã đổ về Pari, họ luôn tìm mọi cách để “săn” những cái tin thật “nóng” để thu hút dư luận.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó được báo giới phương Tây ví như một “nhà tu kín”, trước cửa trụ sở của đoàn ở thị trấn Choisy Le Roi luôn có hàng chục phóng viên “trực chiến”. Ngay khi phát hiện xe của phái đoàn Việt Nam rời khỏi nhà, họ lập tức dùng môtô phân khối lớn bám theo, mong lần ra địa điểm họp bí mật với phía Mỹ. Để tránh sự đeo bám của các phóng viên, có lúc, ông Lợi đã trở thành diễn viên… đóng thế vai Trưởng đoàn đàm phán. "Một lần, để đảm bảo bí mật, tôi cùng người bảo vệ quen thuộc ngồi lên xe của trưởng đoàn. Xe vừa từ sân trụ sở lăn bánh ra khỏi cổng đã phóng nhanh như mọi bận. Một tốp phóng viên trực sẵn trông thấy lập tức bám theo. Xe của “trưởng đoàn giả” cứ thế chạy lòng vòng khắp các phố với “cái đuôi” là đám phóng viên nước ngoài dính chặt. Trong khi đó, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy thì đã qua cửa phụ lên chiếc xe riêng của một trí thức người Pháp làm công tác phục vụ đoàn và tới nơi họp mà chẳng bị ai quấy rầy" - ông Lợi vui vẻ nhớ lại.

Tuy đã giữ bí mật như thế nhưng cũng nhiều lần các tay săn tin vẫn tìm ra được nơi họp kín giữa đoàn Việt Nam và Mỹ. "Họ thuê các ngôi nhà đối diện, dỡ cả mái ngói, tìm vị trí đặt ống kính, sẵn sàng chộp” lấy bất cứ hình ảnh nào của những nhân vật quan trọng trong cuộc họp".

Trong suốt gần 5 năm tham gia cuộc đàm phán ở Hội nghị Pari về Việt Nam, ông Lợi đã nhiều lần tháp tùng Cố vấn Lê Đức Thọ đi về giữa Pari và Hà Nội, nhiều lần ông đi cùng Cố vấn đến thăm và báo cáo với Hồ Chủ tịch. Ông xúc động nhớ lại: "Có lần, cả đoàn về Hà Nội, dự định về nơi ở tại khu biệt thự ở Hồ Tây chờ sự cho phép của các bác sĩ. Nhưng vừa về tới nơi, người bảo vệ đã chạy vào báo: Hồ Chủ tịch tới thăm!". Khi gặp Cố vấn Lê Đức Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo: "Nghe chuyện ở Pari tôi rất vui. Lần này nhất định sẽ có thưởng cho đoàn Pari". Nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ đã nói: "Chiến tranh còn ác liệt, bao giờ chiến thắng, đất nước độc lập thống nhất rồi, Bác thưởng cũng không muộn"…

Phương Lan

Bài 3: Trường đời ở Pari
Gần 5 năm diễn ra cuộc đàm phán ở Pari, khi các chiến sỹ, nhân dân Việt Nam không quản ngại khó khăn, gian khổ để chiến đấu giữ gìn từng tấc đất với kẻ thù, thì trên bàn đàm phán, các “chiến sỹ ngoại giao” cũng từng giờ, từng phút đấu tranh bằng lý lẽ với đối phương để đi đến thỏa thuận về bản Hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

“Không bao giờ khuất phục!”

Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút, nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu - Kỳ, mà lại không công nhận chính phủ Lâm thời. Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về Hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế, nhưng hôm sau họ lật lại. Mỹ luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: “Anh sang bây giờ, anh sẽ là Tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “quân Mỹ rút ra, quân ta ở lại”. - ông Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nhớ lại.

Từ ngày 19/7 tới đầu tháng 10/1972, các cuộc gặp riêng đã có những tiến triển khả quan. Trong phiên họp riêng kéo dài lâu nhất trong suốt gần 5 năm đàm phán, từ 9 giờ 30 phút sáng 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau, nội dung Hiệp định về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ Nixon đã xác nhận “văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành” và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký kết ngày 31/10/1972 tại Pari. Kissinger thông báo với báo giới: “Hòa bình trong tầm tay”! Tuy nhiên, khi Nixon tái đắc cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2 đã tìm cách lật lọng, đưa ra những yêu sách nhằm phá bỏ những thỏa thuận trước đó. Trong cuộc họp hẹp với Kissingger sáng 4/12/1972, Cố vấn Lê Đức Thọ nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính là nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể là các ông sẽ đem B52 đánh bom ồ ạt đất nước chúng tôi… Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không bao giờ khuất phục, không bao giờ làm nô lệ. Cho nên những lời đe dọa của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh”.

Theo ông Lưu Văn Lợi, sau phiên họp ngày 13/12/1972, ngày 14/12 Kissingger rời Pari, ngày 15/12 phái đoàn ông Lê Đức Thọ cũng rời Pari. “Khoảng hơn 6 giờ chiều ngày 18/12/1972 đoàn về đến sân bay Gia Lâm. Khoảng hơn 2 tiếng sau thì B52 trút bom xuống Hà Nội và các nơi khác. Trời đất sáng rực vì tên lửa và cao xạ bắn lên, đất rung chuyển ầm ầm, ông Lợi nhớ lại.

Việc dùng B52 ném bom Hà Nội thất bại đã phá tan “giấc mộng” đảo ngược tình thế của Mỹ, dư luận thế giới phê phán và phản đối kịch liệt. Mỹ không còn lựa chọn nào khác là phải ngừng ném bom và quay lại bàn đàm phán.

Ngày 6/1/1973, Cố vấn Lê Đức Thọ tới Pari trong hào quang của "chiến thắng Điện Biên Phủ trên không". Ngày 8/1/1973, cuộc đàm phán bốn bên tại Pari được nối lại sau trận "Điện Biên Phủ trên không". Hôm ấy, khi đoàn Mỹ đến cổng, không có bất cứ thành viên nào của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra cửa đón như thông lệ. Kissinger phải tự mình mở cửa vào nhà, tự tìm lối vào phòng họp. Ở đó, đoàn của ta đã ngồi đợi sẵn, ai nấy đều tỏ thái độ lạnh lùng. Ngay khi bắt đầu phiên họp, Cố vấn Lê Đức Thọ đã rất nhẹ nhàng và mỉa mai khi nói chuyện với Kissinger và giới ngoại giao ở Pari: "Mỹ đã đón tiếp khi tôi trở về Hà Nội "hết sức lịch sự"... Và rồi ông gay gắt: “Các ông kiếm cớ thương lượng bị gián đoạn, để dùng B52 đánh vào Hà Nội. Hành động của các ông thật là trắng trợn và rất thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi, nhưng các ông nhầm. Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông, chứ không phải ai khác đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố...”. Kissinger lúc đó rất lúng túng, chỉ biết phân bua: “Đó không phải là trách nhiệm của tôi. Việc ném bom B52 xuống Hà Nội không phải là lỗi của tôi”.

Chưa bao giờ, những người có mặt trong buổi gặp mặt hôm đó lại thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như vậy. Ông đập bàn và nói: “Hơn mười năm nay, Mỹ đã dùng bạo lực để khuất phục nhân dân Việt Nam, bom napan, B52. Nhưng các ông đã không rút ra được bài học nào từ những thất bại đó. Thật là ngu xuẩn, ngu xuẩn, ngu xuẩn”. Khi ông ngừng lời, người phiên dịch của đoàn Việt Nam nhìn xuống sàn nhà, không muốn dịch mấy từ cuối cùng. Nhưng các thành viên trong phái đoàn Mỹ không những đã dịch nốt, còn nhấn mạnh thêm mấy từ cuối: “Stupid! Stupid! Stupid!”. Khi đó, Kissinger càng lúng túng, đề nghị: “Tôi có nghe những tính từ, tôi đề nghị không dùng những từ đó”. Nhưng ông Lê Đức Thọ trả lời: “Những từ đó tôi dùng đã là kiềm chế lắm rồi, chứ dư luận thế giới, các nhà báo và cả những người Mỹ còn dùng những câu chữ dữ dội hơn nhiều”. Và ông Thọ tiếp tục nói liền một tiếng đồng hồ không hề bớt gay gắt. Thậm chí có lúc, Kissinger đã xin ông hạ giọng bớt để các nhà báo đang tụ tập bên ngoài không nghe được, nhưng ông phớt lờ.

Ngày 23/1/1973, Hiệp định Pari được ký tắt với nội dung cơ bản như bản Dự thảo mà ta đưa ra hồi tháng 10/1972. Khi ký tắt xong, Kissinger trao cây bút mà ông ta vừa ký cho ông Lê Đức Thọ và nói: “Tôi xin tặng ông cây bút này để nhớ mãi ngày lịch sử này”. Ông Lê Đức Thọ tươi cười nhận và tặng lại Kissinger cây bút mình vừa ký và nói: “Tôi tặng lại ông cây bút này - và xin ông nhớ cho ký rồi phải giữ lấy lời nhé!”. Sau đó, ngày 26/1, Cố vấn Lê Đức Thọ đi Mátxcơva nên ông Lợi không được dự lễ ký chính thức hôm 27/1/1973.

Và mùa xuân thắng lợi

Ông Lợi nhớ lại, Tết năm 1973 cũng rất đặc biệt, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ăn Tết ở 3 nước. Tại Pari, các thành viên trong đoàn được ăn một cái Tết hoành tráng do hội Việt kiều tại Pháp tổ chức. Đêm đón Tết năm ấy có những người bạn quốc tế đặc biệt: Diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Mỹ là Jane Fonda, cùng hai ca sỹ là Joan Baez (người Mỹ) và Hugues Aufray (người Pháp). Họ đã cùng cất cao tiếng hát ủng hộ, chia sẻ mất mát chiến tranh với Việt Nam. Hôm đó còn có khoảng 6.000 người Việt ở Pháp và các nước lân cận, các quan khách Pháp và quốc tế cũng đến vui Tết Việt ở Pari.

Đến sáng 26/1, Cố vấn Lê Đức Thọ về Mátxcơva. Ngay tối hôm đó, Liên Xô tổ chức mít tinh hoành tráng ở Nhà Công đoàn, có các nhà lãnh đạo Liên Xô đến dự. Máy bay đưa đồng chí Lê Đức Thọ lại quay sang Pari đón đồng chí Nguyễn Duy Trinh, rồi cả đoàn cùng về nhà. Máy bay dừng lại Bắc Kinh đúng chiều 30 Tết. Để chúc mừng Việt Nam đạt được thắng lợi ở Pari, các bạn Trung Quốc nhất định giữ đoàn ở lại đón giao thừa tại Bắc Kinh. Thật thú vị, trong bữa cơm đón giao thừa ở Bắc Kinh, cả đoàn ngạc nhiên và cảm động khi thấy mâm cơm ngày Tết lại có nem, có bánh chưng… Thì ra, bữa tiệc giao thừa năm đó được chế biến bởi một đầu bếp Trung Quốc vừa đi học nấu ăn ở Việt Nam về. Bữa tiệc liên hoan mừng năm mới đó cũng rất vui, nhưng vui nhất vẫn là khi về Việt Nam.

Đoàn về nước đúng hôm mùng 1 Tết, xông đất Việt Nam. Ngay ngày mùng 2 Tết năm Quý Sửu (tức ngày 4/2/1973), Cố vấn Lê Đức Thọ đã lên đường đến thăm các cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn tên lửa 77, Sư đoàn phòng không Hà Nội, Đại tá Trần Văn Giang, Chính ủy sư đoàn, thay mặt đơn vị chào mừng “lão tướng chiến thắng từ mặt trận ngoại giao trở về”. Cố vấn Lê Đức Thọ xua tay nói: “Không, không! Cán bộ, chiến sĩ phòng không không quân anh hùng mới chính là người chiến thắng. Không có chiến thắng của các đồng chí trên mặt trận quân sự, thì sẽ không có chiến thắng ở mặt trận ngoại giao. Các đồng chí đã bắn rơi B52 trên bầu trời Hà Nội và chính cái đó đã buộc Mỹ ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973. Chính các đồng chí đã cho tôi sức mạnh và sự kiên quyết trước kẻ thù trên bàn Hội nghị”.
Ông Lợi đã từng ví, Hội nghị Pari như một cái lò luyện cho những cán bộ tham gia Hội nghị. Ông bảo, gần 5 năm trời, Hội nghị như một trường học ngoài đời đã đào tạo nhiều người trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn. Không chỉ tôi luyện trí tuệ, bản lĩnh cho các cán bộ của ta, mà Hội nghị Pari những năm ấy còn cảm hóa bao nhiêu thế hệ không chỉ người Việt Nam. Có những người Pháp đang đi làm ở công ty, đã xin nghỉ không lương, đăng ký với Đảng Cộng sản Pháp tình nguyện đến giúp đoàn ta, họ còn mang cả xe ô tô riêng đến, rồi đảm nhiệm luôn vai trò lái xe, sẵn sàng đưa đoàn đi bất cứ nơi đâu, đi đến chỗ họp, đi thăm kiều bào, đi vận động sự ủng hộ của bạn bè khắp nơi… Bà Tôn Nữ Thị Ninh, khi đó là người của Sài Gòn cử đi Pari học, đã chuyển hẳn sang làm việc cho đoàn của ta, sau này trở về Việt Nam đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng ở Bộ Ngoại giao và Quốc hội.

Đó là những ký ức không thể nào quên của nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi, nguyên thư ký của cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại Hội nghị Pari. Bốn mươi năm đã qua, Cố vấn Lê Đức Thọ - vị “Tư lệnh” tài ba, đầy bản lĩnh trên “mặt trận ngoại giao” của Việt Nam đã đi xa, nhưng những câu chuyện về ông, những đóng góp to lớn của ông đối với đất nước vẫn còn mãi trong lòng nhân dân Việt Nam. Bây giờ, dù tuổi cũng đã cao, sức khỏe đã không còn như trước, nhưng ông Lưu Văn Lợi vẫn luôn dành thời gian để tham gia các công trình nghiên cứu về cuộc đàm phán ở Pari, cũng như về nhà ngoại giao nổi danh Lê Đức Thọ - người mà ông luôn coi như một người thày, một người anh, người thủ trưởng mà ông hằng kính trọng.


40 năm ngày ký Hiệp định Paris: Những câu chuyện ít kể


40 năm ngày ký Hiệp định Paris: Những câu chuyện ít kể


Trong khoảng thời gian gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris, ít ai biết đến những người lính bảo vệ cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên chặng đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Cũng ít ai hiểu rằng vì sao và bằng cách nào Paris lại được lựa chọn là địa điểm diễn ra cuộc đàm phán... Những ký ức ấy vẫn đậm sâu trong tâm trí những "người trong cuộc", những nhân chứng lịch sử của một sự kiện ngoại giao lớn.
Trong khoảng thời gian gần 5 năm đàm phán Hiệp định Paris, ít ai biết đến những người lính bảo vệ cho đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên chặng đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Cũng ít ai hiểu rằng vì sao và bằng cách nào Paris lại được lựa chọn là địa điểm diễn ra cuộc đàm phán... Những ký ức ấy vẫn đậm sâu trong tâm trí những "người trong cuộc", những nhân chứng lịch sử của một sự kiện ngoại giao lớn.
Gặp người bảo vệ đoàn đàm phán
Dù 40 năm đã đi qua, nhưng hình ảnh các đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn in đậm trong tâm tưởng của ông Lê Việt Hưng (Lê Việt Bắc), nguyên Đại tá, nguyên trưởng phòng Bộ Tư lệnh cảnh vệ, nguyên thành viên đội bảo vệ đoàn đám phán.
Cuối tháng 4/1968, là một trong năm đồng chí được Cục cảnh vệ (nay Bộ Tư lệnh cảnh vệ Bộ Công an) giao nhiệm vụ bảo vệ đoàn đàm phán Hiệp định Paris (với 5 bí danh: Bắc, Trung, Nam, Thống, Nhất), ông được mang bí danh Lê Việt Bắc. Ngày 9/5/1968, đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Xuân Thủy dẫn đầu đến Paris. Lúc đầu, đoàn được bố trí ở khách sạn Lutetia, số 45 Đại lộ Raspail, quận 16 Paris . Vài ngày sau, vì nhiều lý do, đoàn đã chuyển đến ở tại Trường Đảng Choisy Le Roi. Đối với ông, được làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đoàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh, giành lại hòa bình ở Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng và vinh dự lớn . Trong suốt thời gian đó, Choisy le Roi đã được giữ bí mật, tới mức không có mấy người dân ở chính thành phố này biết chỗ đoàn sống và hoạt động. Lực lượng bảo vệ đồng chí Xuân Thủy, đoàn Việt Nam Dân chủ cộng hòa gồm 5 người, lực lượng cảnh sát bảo vệ vòng ngoài do Cảnh sát Pháp, với 2 trạm gác đảm nhận.
Do thất bại ở hai miền nước ta, nhất là sau cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và đồng ý hội nghị đàm phán với đại diện của Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa, sau đó với đại diện của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ đây, ông Lê Việt Hưng được chuyển qua bảo vệ cho đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Sau gần 3 năm làm nhiệm vụ, ông Hưng vinh dự tự hào đã góp phần bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hai đoàn đàm phán, giành thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao... Trong quá trình công tác, ông được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Tự do, do Chính phủ Lào tặng và nhiều huân, huy chương khác... Năm 1993, ông nghỉ hưu tại xóm Đồng Văn, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn (Nghệ An) với quân hàm Đại tá. Nay ông đã tròn 80 tuổi đời, 50 tuổi Đảng.
* Paris, địa điểm tốt cho cuộc đàm phán
Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ L.B Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chuyện. Ngày 3/4/1968, Chính phủ ta tuyên bố đồng ý cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ nhằm xác định việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để hai bên có thể bắt đầu các cuộc nói chuyện về thực chất. Từ ngày 4/4 cho đến cuối tháng 4/1968, hai bên đưa ra những địa điểm để cùng chọn cho cuộc nói chuyện.
Từng tham gia nhiều công việc trước và sau Hiệp định Paris, trong đàm phán “bí mật” và đàm phán công khai, chứng kiến nhiều sự kiện thể hiện những thuận lợi cho ta của địa điểm Paris, ông Võ Văn Sung, nguyên Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp trong thời gian đàm phán Paris, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp cho biết: "Paris là địa điểm đàm phán mà ta và Mỹ đã nhất trí lựa chọn theo đề xuất của ta. Qua những gì xảy ra, cho đến giờ, tôi càng thấy Paris quả là địa điểm rất tốt cho ta trong cuộc đàm phán với Mỹ. Phía Mỹ từng đồng ý với ta họp ở Paris hai bên, rồi bốn bên, nhưng sau ngày 27 tháng Giêng 1973, họ lại tỏ ra không thích địa điểm này lắm. Khi cùng ta bàn việc họp Hội nghị Quốc tế về Việt Nam cuối tháng 2 năm 1973, ban đầu Mỹ không muốn chọn Paris làm địa điểm. Nhưng do ta kiên trì và vì những lý do khác, cuối cùng phía Mỹ mới chịu đồng ý".
Theo nhận định của ô ng Võ Văn Sung: Nhìn tổng quát, có thể nói Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế vào loại tốt nhất cho hai Đoàn đàm phán của ta, trong đó những yếu tố thuận lợi là: chính giới Pháp, phong trào quần chúng, lực lượng cánh tả, báo giới và đặc biệt là cộng đồng người Việt tại Pháp. Chính phủ Pháp đã rất hoan nghênh việc ta đề nghị chọn Paris làm địa điểm đàm phán và đã tạo mọi thuận lợi cho các cuộc đàm phán (đàm phán hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ năm 1968; đàm phán bốn bên từ năm 1969 đến 1973; đàm phán “bí mật” Lê Đức Thọ-Kissinger từ năm 1970 đến 1973 và cuộc đàm phán hai bên miền Nam Việt Nam ở La Celle-Saint Cloud từ tháng 3/1973 đến tháng 4/1974).
Nhớ những kỷ niệm trong 12 ngày đêm Mỹ dội bom Hà Nội năm 1972, ông Võ Văn Sung kể lại: "Trong những ngày đó, gần như ngày nào ông Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schuman và tôi cũng có những cuộc gặp, có lúc còn gọi điện thoại cho nhau cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến vì phía Pháp cần có thông tin để có thái độ và phía ta cũng mong muốn phía Pháp góp phần lên án cuộc ném bom của Mỹ vào Hà Nội. Đối với cuộc đàm phán, Chính phủ Pháp đã tạo mọi thuận lợi cho các đoàn, đặc biệt là cảnh sát Pháp đã rất vất vả để lo an ninh cho các đoàn trong năm năm. Theo tôi biết, trong lịch sử của Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Kleber, chưa hề có cuộc thương lượng quốc tế nào chiếm dụng phòng họp của Trung tâm liên tục gần 5 năm như cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Hoa Kỳ".
Viết Hùng - Nguyễn Hồng Điệp