Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Từ ý tưởng chiến lược đến bước ngoặt lịch sử


Từ ý tưởng chiến lược đến bước ngoặt lịch sử
TP - Xuân Mậu Tý 2008, cả nước kỷ niệm 40 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ôn lại sự kiện lịch sử này nhân dân ta, thanh niên ta càng tự hào với truyền thống võ công mưu lược, nghệ thuật quân sự sáng tạo độc đáo Việt Nam.
Là những sĩ quan tại Tổng hành dinh 40 năm trước trong thời điểm ấy, qua lưu bút công tác tham mưu, nay chúng tôi ghi lại về chiến thắng đặc biệt này.
Tình huống chiến lược
Sau những thắng lợi liên tiếp của quân và dân cả hai miền Nam Bắc trong mùa khô Đông – Xuân 1966 – 1967, ta đã tạo ra thế chủ động mới trên chiến trường.
 Bởi vậy trong giới quân sự chóp bu ở Lầu năm góc – từ Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara, cố vấn quân sự đặc biệt của Nhà Trắng tướng 4 sao Taylor, đến Tư lệnh chiến trường tướng 5 sao Westmoreland, đã đưa ra nhiều phương án khác nhau về cuộc chiến tranh này cho năm 1968. Trong đó 4 phương án được họ chọn lựa để đặt lên bàn Tổng thống:
Một là Tung ra tất cả tức mở rộng chiến tranh không giới hạn tại bán đảo Đông Dương. Washington chính thức tuyên chiến với Việt Nam.
Hai là Bám chặt đến cùng tức giữ nguyên trạng, tiếp tục chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” để chiếm đóng miền Nam lâu dài.
Ba là Thoái lui từng bước tức xuống thang chiến tranh, dần chấm dứt ném bom miền Bắc, mở ra điều kiện để thương lượng với Hà Nội.
Bốn là Rút ra khỏi cuộc tức Mỹ phải nhanh chóng đưa ngay quân viễn chinh về nước, thay mầu da xác chết của quân Mỹ bằng lính ngụy Sài Gòn.
Bản đồ ở Tổng hành dinh Bộ Quốc phòng về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Cầm đầu nhóm hiếu chiến là cố vấn quân sự Taylor đã kiến nghị với Tổng thống Johnson thực thi phương án Bám chặt đến cùng, còn Mc Namara thì lơ lửng – tiến lui đều khó, nhưng thiên về phương án thoái lui để thương lượng với đối phương (Bắc Việt Nam), Westmoreland thì ngả theo phương án với Taylor.
Hành trình quyết tâm và kế hoạch Tổng tiến công
Nắm thóp được sự lúng túng, bế tắc, phân hóa về chiến lược của Mỹ tại cơ quan đầu não Washington, từ đầu năm 1967, theo chỉ đạo của Bác Hồ và Bộ Chính trị giao cho Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng nghiên cứu soạn thảo kế hoạch quân sự Đông – Xuân 1967 – 1968, thực hiện một đòn chiến lược bất ngờ, tạo ra bước ngoặt lịch sử để buộc đối phương phải chịu thua theo ý định chiến lược của ta mà chính giới quân sự Mỹ đã nghĩ tới trong phương án Thoái lui từng bước, hoặc Rút ra khỏi cuộc.
Vấn đề cốt lõi của kế hoạch chiến lược này của Tổng hành dinh ta là tấn công tiêu diệt địch về chiến lược kết hợp với nổi dậy rộng khắp của quần chúng, tạo ra sự đột biến về cuộc diện chiến tranh theo ý định của ta.
Những tài liệu được giải mật của Tổng hành dinh quân đội ta cho thấy để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị phương châm, phương  án tác chiến để Quân ủy Trung ương báo cáo Bộ Chính trị và Bác Hồ:
Phát huy mọi sức mạnh tiến công tổng hợp lớn nhất của lực lượng vũ trang và quần chúng; bảo đảm tuyệt đối bí mật để tạo ra sự bất ngờ lớn nhất cả về không gian, thời gian và quy mô lực lượng mà đối phương không thể lường tới được; thực hiện những đòn đánh hiểm hóc, táo bạo, quyết liệt nhất, khiến đối phương không kịp trở tay.
Mục tiêu của cuộc tập kích chiến lược này là hướng vào các đô thị, nhất loạt đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, thị trấn, vào trung tâm đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng của địch. Kết hợp tổng tiến công quân sự với nổi dậy của nhân dân.
Đây là một cách đánh với nghệ thuật dụng binh chưa từng áp dụng trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ cho tới thời điểm này mà Lầu năm góc ở Washington cũng như Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn không thể nghĩ tới.
Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã trình bày khái quát khi báo cáo dự thảo kế hoạch này với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chuẩn bị trình ra Hội nghị Bộ Chính trị.
Vào giữa tháng 5/1967, Bộ Chính trị đã họp với sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bí thư thứ nhất Lê Duẩn để nghe Bí thư Quân ủy Trung ương – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp báo cáo kế hoạch Đông – Xuân 1967 – 1968.
Qua bàn thảo, Hội nghị đặt vấn đề chủ yếu về tư tưởng chỉ đạo Đông – Xuân này ta phải tiếp tục nỗ lực lớn hơn nữa, giáng cho địch một đòn mãnh liệt cả quân sự và chính trị với sự khôn khéo về sách lược, giành thắng lợi với mức độ thích hợp, khiến cho Washingtơn từ chỗ do dự, ngập ngừng muốn thoát ra đến chỗ buộc phải nghĩ tới phương án “Thoái lui” qua đó ta mở cho đối phương một lối thoát, mà họ có thể chấp nhận được.
 Tháng 6/1967, Hội nghị Trung ương Đảng đã nhất trí với quyết định của Bộ Chính trị: Nhân lúc nước Mỹ bước vào cuộc vận động tranh cử Tổng thống, ta cần nỗ lực giáng cho chúng những đòn mạnh hơn để thay đổi cục diện chiến tranh, làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh.
Trên cơ sở quyết tâm ấy, từ Bộ Chính trị đến Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu đã vạch ra mục tiêu cụ thể để triển khai kế hoạch chiến lược này.
Đó là đánh thẳng vào sào huyệt, vào đầu não Trung tâm chỉ huy cuộc chiến tranh tại 3 thành phố lớn nhất miền Nam: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thành phố, thị xã, thị trấn khác, vào các kho tàng dự trữ trang bị kỹ thuật, cơ sở vật chất hậu cần, sân bay trên khắp miền Nam.
Trong đó Đại sứ quán Hoa Kỳ – Lầu năm góc phương Đông ở Sài Gòn là một trong những mục tiêu trọng yếu của cuộc tập kích chiến lược.
Chỗ dựa của ta để triển khai lực lượng ém sát vào các mục tiêu trước khi nhất loạt nổ súng vào giờ G. là “trận địa lòng dân” có tổ chức ngay trong hậu phương giữa lòng địch. Đó là bí quyết “lấy dân làm gốc” vận dụng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Từ tháng 9 đến tháng 12/1967 và trung tuần tháng 1/1968, theo triệu tập của Trung ương, Tư lệnh và Chính ủy các chiến trường Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trị – Thiên, Mặt trận Đường 9, lần lượt ra Tổng hành dinh Hà Nội báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ.
Trong đó Trung ương Cục miền Nam đã ra làm việc ba lần với Hồ Chủ tịch, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng để tiếp nhận sự chỉ đạo của Trung ương và nhận kế hoạch cụ thể của Bộ Tổng tham mưu.
Đầu tháng 12/1967, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã họp để hạ quyết tâm “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới – Thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”.
Tại Hội nghị, để chỉ đạo thực hiện quyết tâm chiến lược này, Bộ Chính trị đã bàn thảo xác định: Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ này là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng nước ta tiến lên một bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, nhằm đạt các mục tiêu:
1. Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành chính quyền về tay nhân dân;
2. Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được ý đồ chiến lược của chúng ở Việt Nam;
3. Trên cơ sở đập tan ý chí xâm lược của Mỹ buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối miền Bắc.
Về tình huống, Bộ Chính trị dự kiến tiến hành cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa này có thể diễn ra một trong ba khả năng.
Một là, ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, thành công ở các đô thị lớn và đập tan được các cuộc phản kích của địch, làm cho địch bị thất bại đến mức không gượng lại được nữa, đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng và phải kết thúc chiến tranh theo ý đồ của ta.
Hai là, giành được thắng lợi ở nhiều nơi, nhưng địch tập trung và tăng cường thêm lực lượng từ bên ngoài vào để giành  lại và giữ vững những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn – Gia Định, và dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến tranh.
Ba là, Mỹ động viên tăng thêm nhiều lực lượng mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc Việt Nam, sang Lào và Campuchia,  hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh.
Trong ba khả năng này, Bộ Chính trị cho rằng ta cần nỗ lực giành cho kỳ được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất, đồng thời phải sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai, với khả năng thứ ba tuy ít hơn, nhưng phải luôn cảnh giác.
Chuẩn bị và cài thế
Với những nội dung cơ bản trên của Nghị quyết Bộ Chính trị, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14 (khóa III) vào cuối tháng 1/1968 đã nhất trí thông qua.
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, để bảo đảm thống nhất lãnh đạo chỉ huy trong chiến dịch này ở miền Nam, Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) đã quyết định thành lập 2 Bộ Tư lệnh tiền phương: Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Bắc do các đồng chí Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn.
Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Nam do đồng chí Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động  và chỉ đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành Sài Gòn.
Ở Quân khu 5, Trung ương cử đồng chí Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, đồng chí Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế, Trung ương chỉ định đồng chí Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy (lúc này đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Thị - Thiên).
Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do đồng chí Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.
Trước khi chính thức mở màn cuộc tập kích chiến lược vào Tết Mậu Thân, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định mở mặt trận Đường 9 – Khe Sanh nhằm vừa tiêu diệt lớn, vừa giam chân phần lớn quân địch ở Đường 9, vừa nghi binh thu hút địch, tạo điều kiện cho các chiến trường phía Nam thực hiện kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy.
Ta tập trung tại mặt trận Đường 9 – Khe Sanh 4 sư đoàn bộ binh và 10 trung đoàn các binh chủng chủ lực của Bộ để mở đầu cuộc tấn công địch trên mặt trận này từ đêm 20/1/1968, là một bộ phận của cuộc Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân của toàn miền Nam.
Bị rơi vào bẫy, lãnh đạo Mỹ nghĩ Khe Sanh là chiến trường chính của ta trong Đông - Xuân 1968 và tập trung lực lượng để giữ.
Nổ súng
Đêm 30 rạng 31/1/1968 vào giờ giao thừa Tết Nguyên đán Mậu Thân, từ Thủ đô Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát băng Bác Hồ đọc thơ chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước. Lời Người vang vọng khắp non sông:
“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam – Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Lời thơ chúc Tết của Bác, đồng thời là “hiệu lệnh” mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Các lực lượng vũ trang và đồng bào miền Nam đã nhất loạt tấn công và nổi dậy – trước hết là đánh thẳng vào 3 thành phố lớn nhất miền Nam – Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Tây Nguyên ta đồng loạt tấn công vào Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kon Tum.
Ở đồng bằng Quân khu 5 ta tấn công căn cứ liên hợp Đà Nẵng, thị xã Hội An, Quy Nhơn, Sông Cầu, Nha Trang. Các tỉnh cực Nam Trung Bộ, đồng bằng Nam Bộ cũng đã khởi đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy cùng với Sài Gòn theo sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Chỉ huy Miền.
Qua suốt 2 tháng đầu Tết Mậu Thân đến cuối tháng 3/1968, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, ngụy và làm tan rã từng mảng lớn ngụy quyền.
Trong đó 150.000 quân ngụy, 43.000 quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, 200.000 quân ngụy đào rã ngũ trong những ngày Tết. Bắn rơi 2.370 máy bay, phá hủy 1.700 xe tăng, xe bọc thép, 250 tàu xuồng.
Một khối lượng lớn với 1,36 triệu tấn vật tư chiến tranh– bằng 34% dự trữ của địch đã bị phá hủy. Ta đã phá 1.500 ấp chiến lược, bức hàng, bức rút 700 đồn bót, giải phóng thêm 1,2 triệu dân.
Với cuộc tập kích chiến lược không gian bao trùm toàn miền Nam, tiến hành đồng loạt với quy mô rộng lớn chưa từng có, ta đã giành thắng lợi to lớn toàn diện, với tầm chiến lược quan trọng, tạo nên cục diện mới trên chiến trường, địch lâm vào thế thảm bại nặng nề.
Ngày 31/3/1968, từ Washington, Johnson phải đơn phương ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận cử đại diện tới Paris để đàm phán với ta, và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai.
Còn Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara thì đã từ chức trước đó, Taylor bị cách chức, Westmoreland bị triệu hồi. Có thể nói đó là sự thừa nhận công khai sự phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, ý chí xâm lược của giới cầm quyền Nhà trắng bị giáng một đòn thối động làm lung lay tận gốc.
Bùi Đình Nguyên

Các báo nói về Mậu Thân 1968


Vào thời điểm bình thường, Sài Gòn có 39 tờ báo, mỗi ngày phát hành 800.000 số. Điểm lại những tờ báo cũ Tết Mậu Thân 1968 chúng ta thấy :
Báo Chính Luận (số Tất niên 27-01-1968). Về chiến sự Thiệu có phần lạc quan hơn : "Từ những chiến dịch lớn chuẩn bị chuyển sang tổng phản công năm 1965, địch đã bị đẩy dần vào thế giằng co cầm cự vào năm 1966 và đến nay dần dần rơi và thế phòng ngự... Các đơn vị cộng sản đã bị đánh bật rễ khỏi các chiến khu kiên cố. 95% vùng sản xuất lúa gạo và đông dân cư đã được kiểm soát trở lại".
Báo Sống Mới số Tất niên. Trang một dành trọn cho tranh hí họa nhiều cảnh, nhiều nhân vật. Nào cảnh 15.000 quân nhân được thăng cấp, còn sinh viên lại bị gọi lính. Cảnh học sinh đâm thầy và cảnh "Quốc hội" họp hành bát nháo. Cảnh binh lính Mỹ nghênh ngang đi đứng vì có luật pháp riêng và cảnh bọn tham nhũng hoành hành...
Các trang báo cũng đã không cho biết được gì về những dấu hiệu của một cuộc tập kích lớn sẽ bùng nổ ngay trong Têt! Trong khi ấy công nhân các cơ quan quân vận Mỹ, công nhân điện nước, công nhân thương cảng đã bãi công từ cuối tháng 12. Trong khi ấy ở một số trường đại học, sinh viên vẫn tiếp tục hội thảo chống sắc lệnh tổng động viên họ, và tên Ngô Vương Toại, một sinh viên phản động, bị biệt động Thành Đoàn bắn bị thương ngay ở diễn đàn Văn khoa trong một cuộc tuyên truyền xung phong ở đây vào ngày 16-12. Và trong khi ấy, Tết 1968 đã đến! Chợ Tết đã mở, Báo Chính Luận vào những số cuối năm, nói đến hội Tết của tổ chức "Thanh niên nguồn sống" ở 96 Lê Thánh Tôn, hội Tết của "Việt võ đạo" ở sân Hoa Lư, chợ Tết của cựu chiến binh ở đường Hiền Vương... nhưng không thấy nói đến một hội Tết có quy mô gấp bội đang được chuẩn bị ở Học viện Quốc gia hành chánh. Đó là Hội Tết Quang Trung do Tổng hội sinh viên Sài Gòn tổ chức, đó cũng là địa điểm của Thành Đoàn "đăng cai" phát động khởi nghĩa khi giờ G điểm. Bí mật về cuộc tiến công trong Tết vẫn được giữ kín trước dư luận.

Đợt 1
Chiến sự xảy ra quá bất ngờ không chỉ làm cho các bộ phận ngụy quân ngụy quyền lâm vào thế bị động mà các cơ quan báo chí, nhất là báo in cũng bị lúng túng, tê liệt. Nhiều tờ báo mãi đến giữa năm 1968 mới gắng gượng xuất bản lại. Nội dung và hình thức in ấn rất lôi thôi, luộm thuộm.
Tờ Chính Luận - nhật báo vẫn được tiếng "thân chính phủ", ít đưa tin bài đối lập, đã ra được sớm nhất, cũng sau nhiều ngày chiến sự. Trên số ra ngày 8-2-1968 chỉ đưa những tin hiếm hoi về hoạt động của quân giải phóng : "Trưa 7-2 vẫn còn đánh nhau tại khu Trần Nhân Tôn, Sư Vạn Hạnh", "Việt cộng dùng thiết giáp từ Lào kéo về tấn công căn cứ ở Quảng Trị". Tin bài bị kiểm duyệt đục bỏ khá nhiều nên trên mặt báo trang một, người đọc có cảm tưởng báo giống như một mảnh đất bị pháo kích, chi chít những lõm trắng. Có cả một mẩu quảng cáo nước hoa "Au printemps" đăng chình ình trên trang 1 để lấp bài! Những tin bài nào đã bị bóc bỏ nơi những khoảng trống đó?
Một điều lý thú là ta có thể tìm thấy trên báo Chính Luận tin và bài viết về hoạt động của "Ủy ban thanh niên cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc" với Trung tâm cứu trợ đặt ở số 4 Duy Tân! Trưởng trung tâm này là sinh viên Lê Công Giàu.
Báo cho biết Ủy ban chỉ có 4 sinh viên Y khoa, 12 dì phước, một bác sĩ mà hoạt động rất "trôi chảy". Nó đã phục vụ trực tiếp 200 người dù chỉ mới nhận một ít gạo và dầu của Bộ Xã hội và đã tổ chức chương trình sinh hoạt cho thiếu nhi để các em quên đi những cảnh đau lòng.
Lê Công Giàu là ai? Số 4 Duy Tân là địa điểm nào? Chỉ một thời gian sau, người ta mới được biết người cán bộ Tổng hội sinh viên ấy bị tống giam vì là một "phần tử cộng sản" trong tổ chức Thành Đoàn. Và đến ngày 3-8-1968 thì cảnh sát đã xông vào chiếm mất trụ sở 4 Duy Tân một điểm hẹn tập hợp lực lượng đấu tranh của sinh viên học sinh thành phố do những thanh niên cộng sản bí mật tổ chức.
Trong khi báo chí Sài Gòn hầu như không đưa tin nhiều và có được cái nhìn khái quát về cuộc tập kích đợt I, thì các phóng viên nước ngoài lại có vẻ "dễ ăn dễ nói" hơn.
Báo Pháp Le Monde ngày 1-2-1968 đã đặt câu hỏi cho người Mỹ: "Người Mỹ từng khẳng định rằng dân chúng Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt cộng như vậy?".
Báo Pháp Le Combat ra cùng ngày nói trên lại khẳng định: "Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này. Những gì đã xảy ra ở Sài Gòn đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã nắm được các tầng lớp nhân dân trong mức độ to lớn biết chừng nào!".
Đài B.B.C. trong buổi phát ngày 6-2-1968 cho biết : "Trong mấy ngày này, quân đội cộng sản thâm nhập đã ăn cơm của nhân dân như người trong nhà họ".
Hãng thông tấn A.P của Mỹ dẫn lại lời kể của một Pháp kiều, giám đốc Công ty BGI : "Hàng trăm thanh niên sống ở vùng nhà máy rượu Chợ Lớn đã đi theo Việt cộng và được phát băng đỏ đeo cánh tay và được phát súng".
Thông tấn xã Reuter nhận xét "Điều có ý nghĩa nhất là Việt cộng được sự ủng hộ của các nhân sĩ liên minh với Việt cộng".
Báo Time đã không để lỡ cơ hội chạy trước tờ Newsweek, nó đã dành phần lớn số báo ra ngày 9-7-1968 cho chuyên đề "The days of death in Vietnam" (Những ngày chết chóc ở Việt Nam). Hình bìa của số báo này là bức họa chân dung đại tướng Võ Nguyên Giáp (báo Time vốn có nét truyền thống là sử dụng tranh họa chân dung của các nhân vật trên bìa báo!). Còn lại hơn 10 trang kế tiếp là tin bài hình ảnh về cuộc tập kích Sài Gòn mới xảy ra. Báo đăng những tấm ảnh màu ghi nhận quang cảnh tang thương của Tòa Đại sứ Mỹ sau khi bị biệt động Sài Gòn đột nhập. Ảnh lính Mỹ trúng đạn trên đường phố Huế. Báo Time có đoạn viết : "Double Trouble!" (Họa vô đơn chí!) Quân cộng sản đã tấn công đồng loạt Nam Việt Nam làm cho chính Washington cũng choáng váng. Bởi vì trong khi mọi cặp mắt đều đổ dồn về Khe Sanh nơi có 5 sư đoàn địch đang vây chặt như là một trận đánh then chốt thì thật bất ngờ địch lại tấn công cùng lúc 38 thành phố quan trọng, kể cả việc đánh vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và chiếm giữ nó sáu giờ rưỡi đồng hồ liền".
Báo Newsweek tuy tỏ ra chậm chân hơn nhưng để bù lại, đến số 11-3-1968, báo này đã kịp cho ra mắt bài tổng luận "The Tet offensive : how they did it" (Cuộc tiến công Tết : họ đã tiến hành nó như thế nào). Có lẽ đây là lần đầu tiên báo chí Mỹ dùng nguyên xi chữ Tết vào ngôn ngữ tiếng Anh để nói đặc thù của cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Sau này, nhiều sách báo Mỹ đều dùng như vậy.
Cùng tuần, tờ Time số ra ngày 8-3-1968 có bài "Saigon under siege" (Sài Gòn trong sự phong tỏa). Bài báo điểm ra nhiều chi tiết : Các phương tiện giao thông công cộng đình trệ. Cơ sở chính quyền chỉ làm việc ít tiếng đồng hồ vì sợ quân khủng bố Việt cộng. Giá cả lên cao. Bài báo nhận xét : "Sài Gòn chỉ sống có một nửa". Một phát hiện khác của phóng viên báo Time là những chiếc áo dài xuất hiện nhiều hơn trên đường phố thay cho những chiếc áo diêm dúa, lai căng. Ở một số quán rượu người ta thấy có một thức uống mang tên "Saigon tea" (Trà Sài Gòn) đã được chuyển thành "Saigon - Hanoi tea". Đi với bài trên là tấm ảnh những cao ốc của Sài Gòn trong đêm mà nhìn xa xa nơi ngoại ô là ánh chớp hỏa châu hay là những vệt đạn đại bác cũng chính là hình ảnh của tâm trạng hoảng sợ phập phồng, lo lắng bị giáng trả sau cuộc tiến công và nổi dậy vào ngày Tết.
Thế mà đợt 2 của "Việt cộng" lại tiếp tục nổ ra.
Đợt 2
Đợt 2 Mậu Thân bắt đầu vào ngày 5-5-1968. Sang tháng 6, lại thêm một đợt tiến công khác. Cường độ chiến tranh trong thành phố gia tăng dữ dội.
Hãng thông tấn AFP (Pháp) ghi nhận trong những ngày đầu tháng 5, máy bay Mỹ phải phóng bom lửa đốt hơn 16.000 nhà để ngăn chặn quân giải phóng ở nhiều khu vực. Mỹ còn dùng cả pháo đài bay B.52 để rải thảm bom ở ngoại ô Sài Gòn.
Hãng AFP nhận xét "Trong 40 ngày qua, số bom Mỹ ném xuống vùng phụ cận ở Sài Gòn đã bằng tổng số bom Mỹ ném ở Nam Việt Nam trong năm 1962, 1963, 1964.
Còn hãng AP thì đưa tin : "Tại Sài Gòn, người ta nghe tiếng nổ ầm ầm như sấm dậy của những quả bom 500 cân Anh, 700 cân Anh, của 20 chiếc B.52 ném một triệu cân thuốc nổ!".
Sài Gòn phải đội lửa như vậy nhưng báo chí Sài Gòn không nói hết chuyện ấy!
Báo Sài Gòn Mới, số ra ngày 7-5, cho biết giờ giới nghiêm mới ở Sài Gòn là 7 giờ tối và tòa đô chính phải kêu gọi đồng bào đừng ra đường nếu không có chuyện cần thiết.
Tờ Trắng Đen ra ngày 8-5, chạy hàng tít lớn : "Nhiều trận đánh (đục bỏ) còn tiếp diễn. Đại tá Lưu Kim Cương tư lệnh Tân Sơn Nhất tử thương (...). Việt cộng pháo kích tấn công 116 nơi. Xáp lá cà ở góc đường Đề Thám - Cô Giang. Việt cộng đánh ở đường Trần Quý Cáp, Phó Cơ Điều, Tòa hành chánh quận 5, truyền đơn của liên minh Trịnh Đình Thảo xuất hiện. 4 phóng viên ngoại quốc bị bắt ở đường Minh Phụng".
Tờ Tia Sáng, có tòa soạn ở trong khu vực hành quân - nên ra báo trễ - số ra ngày 7-5 có nhiều thông tin : "Theo BBC, Bắc Việt sẽ cứng rắn ở Ba Lê (đục bỏ). Việt cộng điều động (đục bỏ) để kéo dài cuộc tấn công. Chợ Lớn, Thị Nghè và gần Tân Sơn Nhất là ba nơi có đánh nhau trong ngày vừa qua, Phi cảng Sài Gòn đóng cửa".
Tờ tuần báo hiếu chiến Văn nghệ tiền phong số ra ngày 9-5-1968 có bài bình luận thời sự tán thành tổng động viên. Số kế tiếp, ra ngày 16-5, có bài lược thuật "Trận đánh Sài Gòn lần thứ 2". Riêng số ra ngày 23-5 thì có bài "tiết lộ" về những kỹ thuật quân sự của Mỹ để bảo vệ Sài Gòn. Nào là những "Bụi kim khí mắt thần" nào là các "luồng điện rada" phát hiện cả đoàn quân... Song cuối cùng bài viết này phải thừa nhận : "Nhưng dầu sao thì việc bảo vệ thủ đô cũng cần rất sớm sự có mặt của những đoàn biệt kích chuyên đánh trong thành phố. Điều này cần hơn là các lực lượng nhân dân tự vệ. Nhân dân tự vệ là để phòng ngừa, các đoàn biệt kích thành phố là để đánh thật, ít thiệt hại".
Đề cao quân chính quy như vậy cũng phải vì lực lượng nhân dân tự vệ đã tan rã.
Một sự kiện lúc này mà cả thế giới đã biết đến qua truyền hình và báo chí là cảnh thiếu tướng cảnh sát ngụyNguyễn Ngọc Loan bắn chết tù binh quân giải phóng ngay trên đường phố Sài Gòn. Hình ảnh trên đã lột trần bản chất phi nhân phi nghĩa, hung hăng của những tên tay sai Mỹ và do đó gây ra "phản tác dụng" trong dư luận của các nước thế giới tự do, vốn bị ngợp choáng bởi hình ảnh đế quốc Mỹ văn minh bấy lâu!
Chính vì vậy mà báo Time số 7-1968 khi viết về sự kiện này đã cố gắng lồng vào một lời thanh minh bên tấm ảnh Loan trỏ súng Mỹ vào màng tang tù binh : "Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan 37 tuổi, tư lệnh của 75.000 cảnh sát quốc gia đã lạnh lùng bắn chết một người cao gầy, sợ hãi nhưng bướng bỉnh, khả nghi du kích mặc áo ca rô và quần đùi, bị bắt trên đường phố Sài Gòn. Mặt vẫn không biến sắc và trên tay vẫn còn cầm khẩu P.38, tướng Loan nói với phóng viên truyền hình : "Vừa lúc nãy có mấy người Mỹ bị giết. Nhiều người bạn thân của tôi cũng bị vậy. Đức Phật sẽ hiểu cho tôi về hành động này, phải không?".
Chỉ ít lâu sau, trên gần khắp các tờ báo trong và ngoài nước, hình ảnh tướng "Sáu Lèo" (tức Nguyễn Ngọc Loan) lại xuất hiện. Trong trận đụng độ tại Hàng Xanh, y bị thương nặng đến thân tàn ma dại. Phải chăng Đức Phật đã mượn tay quân giải phóng để trả lời Nguyễn Ngọc Loan : "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo?"
Theo sách Mậu Thân Sài Gòn - NXB Trẻ 1988

Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn

Chấp hành Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng ngày 25.10.1967, Trung ương cục miền Nam ra Nghị quyết về tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa lấy miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định làm trọng điểm, hướng tiến công chủ yếu là Sài Gòn. Nghị quyết này còn được gọi là Nghị quyết Quang Trung.
Chiến dịch Xuân Mậu Thân ở Sài Gòn - Gia Định kéo dài gần 5 tháng gồm 2 đợt tiến công: đợt 1 từ 31.1.1968 đến 28.2.1968, đợt 2 từ 5.5.1968 đến 18.6.1968.
Trong chiến dịch này, riêng ở khu vực nội thành, ta đã sử dụng từ 15 đến 22 tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị đặc công, biệt động và lực lượng vũ trang địa phương gồm quận huyện, ban ngành, đoàn thể, kết hợp với các lực lượng chính trị và binh vận.
Vào đợt 1, giờ G, ngày N trên toàn miền được quy định là 00 giờ đến 2 giờ sáng mùng 2 Tết theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ huy, các cụm biệt động đã được phổ biến 48 giờ trước giờ G. Một việc đáng tiếc là do đổi lịch nên ở miền Bắc, Khu 5 và Tây Nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ, B2 (tức miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định) nhận được lệnh hoãn, nổ súng đúng lịch mới.
Kế hoạch của ta là: biệt động bất ngờ đánh chiếm mục tiêu và giữ trong khoảng 1 giờ chờ các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng thanh niên xung kích hoặc lực lượng địch binh biến đến hỗ trợ tăng cường và giữ mục tiêu luôn. Theo hợp đồng, "giờ G" được báo hiệu bằng những loạt pháo ĐKB bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và bộ Chỉ huy MACV, vị trí của tướng Óet-mo-len (Westmoreland), nhưng đã không thực hiện được.

Chờ mãi không thấy, 2 giờ sáng ngày 31.1.1968, bộ phận phối thuộc cho tiểu đoàn 268 phân khu 2 ở phía tây Tân Sơn Nhất bắn 8 quả 82 ly vào sân bay. Cả thành phố coi đó là hiệu lệnh tấn công. Đội biệt động nổ súng đúng giờ vào các mục tiêu dinh Độc LậpĐại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất. Riêng mục tiêu Tổng nha Cảnh sát, kho xăng Nhà Bè, Bộ tư lệnh hải quân thì không thực hiện được. Lực lượng ta chiếm một nửa sân bay Tân Sơn Nhất. Các tiểu đoàn do Bộ tư lệnh tiền phương Nam phụ trách cùng với các lực lượng bán vũ trang gồm cán bộ, công nhân viên, các cơ quan khu ủy, trung ương cục lọt sâu vào nội thành, kết hợp với lực lượng quần chúng, làm chủ một vùng rộng đến tận khu Ngã Sáu Chợ Lớn, Cầu Muối, Chợ Thiếc. Nhưng lượng chính qui không vào được thành phố nên cuối cùng phải rút lui.
Ý nghĩa lớn lao nhất của đợt 1 Tết Mậu Thân chính là đòn đánh "trúng sọ não" và sự bất ngờ về mọi mặt đối với địch. Việc quân dân ta đồng loạt tấn công vào hậu phương, sào huyệt của địch, "đưa chiến tranh vào đô thị" chính là điều choáng váng nhất đối với đế quốc Mỹ trong quá trình xâm lược Đông Dương. Ngày 31.1.1968 tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, chấp nhận chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, đồng ý thương lượng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu từ ngày 3.5.1968 tại thủ đô Paris.
Đợt 2 được bắt đầu lúc 0 giờ 30 phút ngày 5.5.1968, các loạt hỏa tiễn M.12, ĐKB bắn vào các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu, Sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Tân cảng Sài Gòn, Bộ tư lệnh Hải quân, Tổng nha cảnh sát.
Trong đợt này trung đoàn 1, sư đoàn 9, tiểu đoàn 6 Bình Tân, trung đoàn bộ binh 2 phân khu 2, các lực lượng vũ trang các ngành, giới, các quận đã mở diện tấn công rộng rãi và mạnh mẽ ở các khu phố quan trọng trong khắp nội thành diệt nhiều cảnh sát, mật vụ ác ôn. Tại cửa ngõ tây nam quân ta thọc sâu vào tận đường Tổng đốc Phương.
So với đợt 1, đợt 2 quân chủ lực tiến sâu hơn: chiếm ngã tư Hàng Xanh, phía bắc đường Chi Lăng, giữa thị xã Gia Định. Vào đợt 2, mặc dầu yếu tố bất ngờ về chiến lược không còn, nhưng ta tiếp tục "đưa chiến tranh vào thủ đô địch", riêng trong thành phố ta diệt nhiều sinh lực địch hơn đợt 1.
Với hai đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, ta đã chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một giai đoạn mới giành thắng lợi quyết định.
Sau cuộc tổng công kích và nổi dậy tết Mậu Thân ở Sài Gòn - Óet-mo-len đã viết về Mậu Thân và các báo chí cũng ghi lại cuộc tiến công mùa Xuân năm 1968.
Theo "Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TP. HCM"


Mậu thân 1968


Mậu thân 1968


Bài 1: Tất cả sẵn sàng cho trận đánh lớn

Dưới sự lãnh đảo của Đảng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã khiến kẻ thù kinh hoàng, khiếp sợ. Đó là hình ảnh sinh động về chiến tranh nhân dân, về ý chí quật cường của dân tộc và khẳng định tư tưởng chiến lược tiến công đúng đắn của Đảng. Dù đã 45 năm trôi qua, nhưng vẫn còn đó những con người, những khu căn cứ chứa vũ khí bí mật trong nội thành Sài Gòn… làm nên lịch sử.

F100 ra đời

Việc chuẩn bị cho trận đánh Mậu Thân 1968 đã được bắt đầu từ mùa thu 1964. Để đón lấy thời cơ chiến lược tiến lên giành thắng lợi cuối cùng vào cuối giai đoạn chiến tranh đặc biệt, Trung ương Cục miền Nam đã vạch ra “kế hoạch X”, nội dung thực hiện một cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong các đô thị toàn miền Nam, trọng tâm là Sài Gòn - Gia Định. Việc thành lập Đoàn Biệt động quân khu Sài Gòn - Gia Định nằm trong kế hoạch đó.

Các chiến sĩ Quân Giải phóng trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Ảnh: TTXVN
Theo kế hoạch, ta phải xây dựng lực lượng biệt động đủ mạnh, chuẩn bị các điều kiện đảm bảo cần thiết để có thể cùng một lúc đồng loạt tập kích bất ngờ chiếm lĩnh cơ quan đầu não và các mục tiêu trọng yếu của địch. Lực lượng này lấy tên là đoàn Biệt động Quân khu Sài Gòn - Gia Định (phân hiệu F100). Theo đó, lực lượng biệt động không nhất thiết là bộ đội chính quy, không nhất thiết được trang bị vũ khí và huấn luyện để chiến đấu, có thể chỉ đơn giản là ông già, trẻ con, nữ sinh... với nhiều nhiệm vụ khác nhau (tác chiến, liên lạc, điều tra địch tình, vận chuyển và cất giấu vũ khí...). Vì biệt động hoạt động trong lòng địch, mọi thành viên đều phải có vỏ bọc, giấy tờ hợp pháp để sống công khai.

Ông Trần Minh Sơn (bí danh Bảy Sơn), nguyên Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng đoàn Biệt động Quân khu Sài Gòn - Gia Định, cho biết: “F100 có nhiệm vụ tập hợp, củng cố, điều chỉnh các lực lượng biệt động hiện có của quân khu, các lực lượng trinh sát công khai của đơn vị quân báo… Tất cả tổ chức thành 11 đội chiến đấu, đứng chân tại các vùng ven. Riêng bộ phận nòng cốt nằm trong nội thành”.

Sau khi F100 được hình thành, đã có những trận đánh vang dội đánh vào một số mục tiêu trọng yếu của địch, gây chấn động trong trung tâm Sài Gòn. Ngày 25/8/1964, lực lượng F100 dùng 40 kg thuốc nổ đánh vào tầng 5 của khách sạn Caravell. Vụ nổ làm 43 căn phòng bị hư hại nặng, một số sỹ quan Mỹ bị thương vong. Ngày 24/12/1964, F100 lại dùng chất nổ đặt trong xe đâm thẳng vào cư xá Brink, diệt và làm bị thương 142 sỹ quan cấp tá của Mỹ, 24 xe quân sự bị phá hủy. Ngày 30/3/1965, F100 dùng 150 kg thuốc nổ đánh vào Đại sứ quán Mỹ trên đường Hàm Nghi làm chết và bị thương 194 tên.

Đến tháng 10/1967, Trung ương Cục quyết định giải tán quân khu 7 và quân khu Sài Gòn - Gia Định (F100) để tổ chức lại thành 6 phân khu, đồng thời tổ chức lại thành 3 cụm biệt động 6-7-9 gồm các đội 6,7,9; cụm 3-4-5 gồm các đội 3,4,5 và cụm 1-2-8 gồm các đội 1,2,8. Ngoài ra còn các đội lẻ 90C và sau đó có thêm đội 11 để đánh Tòa đại sứ Mỹ.

Theo đó, nhiệm vụ của các đơn vị biệt động là khi được lệnh sẽ tập kích, đánh chiếm và giữ mục tiêu chờ lực lượng thanh niên, sinh viên đến tiếp ứng để tăng cường sức đề kháng tại chỗ, bảo đảm giữ được 2 giờ, tạo điều kiện cho các tiểu đoàn mũi nhọn của các phân khu tiến vào chiếm giữ mục tiêu.
Các mục tiêu đã sẵn sàng

Trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định chỉ với 88 người, vào 00h sáng mùng 2 Tết, đánh vào 9 mục tiêu như: Dinh Độc lập (đội 5), Đài phát thanh (đội 4), Bộ Tư lệnh hành quân Ngụy (đội 3), Bộ Tổng tham mưu Ngụy (đội 6), Tổng nha Cảnh sát (đội 2), Biệt khu Thủ đô (đội 8), cổng Phi Long sân bay Tân Sơn Nhất (đội 9), khám Chí Hòa (đội 90C), Tòa Đại sứ Mỹ (đội 11). Trong đó, 5 mục tiêu trọng yếu nhất phải đánh chiếm là: Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, Biệt khu Thủ đô và Tòa Đại sứ Mỹ.

Ông Bảy Sơn cho biết: “Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, lực lượng và vũ khí đã rải đi các mục tiêu. Đồng thời tất cả các mục tiêu đều hợp đồng giữ mục tiêu trong hai tiếng để chờ tiếp ứng của đại quân. Trong tất cả các mục tiêu, Dinh Độc Lập được coi là mục tiêu quan trọng nhất bởi nơi đây là thủ phủ của Tổng thống Ngụy và bọn tay sai của Mỹ. Mục tiêu này được giao cho đội 5, do đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) chỉ huy 14 chiến sỹ có nhiệm vụ tiến đánh chiếm lĩnh các cổng ra vào, mở cổng để đón đại quân ta về chiếm thủ phủ, giải phóng Sài Gòn. Mỗi mục tiêu có một cơ sở cung cấp vũ khí. Theo đó, hầm chứa vũ khí bí mật nằm ở số 287/70 đường Nguyễn Đình Chiểu (phường 10, quận 3 hiện nay) là hầm ém chứa nhiều loại vũ khí như súng ngắn, AK, B40, bộc phá… để đánh Dinh Độc Lập”.

Mục tiêu thứ hai là đánh vào Đài Phát thanh Sài Gòn, với 11 chiến sĩ biệt động do đồng chí Trần Phú Cương (bí danh Năm Mộc) chỉ huy, có nhiệm vụ đánh chiếm và giữ Đài phát thanh trong vòng 2 giờ, đồng thời phát đi lời hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sau đó sẽ chờ đại quân tiếp viện. Theo đó, khu vực chuẩn bị vũ khí cho mục tiêu này là căn hầm số 1 nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận 1). Đây là căn nhà của đồng chí Năm Mộc, người chỉ huy trận đánh này.

Bên cạnh đó, các mục tiêu như đánh Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Hải quân, khám Chí Hòa, Tổng nha Cảnh sát và biệt khu Thủ đô… cũng đã được chuẩn bị hoàn chỉnh về mọi mặt và chỉ còn chờ lệnh của cấp trên là tổng tiến công.

Bài 2: Những trận đánh vang dội

Mặc dù những trận đánh trong cuộc tổng tiến công của lực lượng biệt động Sài Gòn đã bị tổn thất lớn về lực lượng nhưng về mặt chính trị những trận đánh này đã “giáng” cho địch một đòn “xiểng liểng”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.

Đánh vào đầu não của ngụy

Giờ G trên toàn miền được quy định là 00 giờ đến 2 giờ ngày 31/1/1968, tức rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân. Do đó, từ ngày 29 đến ngày 30/1/1968 (tức ngày 30 và mùng 1 Tết Mậu Thân), theo kế hoạch, các chiến sĩ biệt động, từng người, từng tốp, bằng mọi phương tiện, xe đò, xe hơi nhà, xe lam, xe gắn máy... dưới dạng người đi làm về, người đi ăn Tết... lần lượt vào các vị trí ém quân ở nội thành, gần các mục tiêu.

Lính Mỹ gác trước Sứ quán Mỹ ở Sài Gòn tháo chạy trước cuộc tấn công bất ngờ của Quân Giải phóng (31/1/1968). Ảnh: Tư liệu TTXVN

Lúc 0 giờ mùng 2 Tết Mậu Thân, các mục tiêu nội thành Sài Gòn đồng loạt tấn công. Khắp Sài Gòn rung chuyển dữ dội bởi tiếng B40, tiếng bộc phá và các loại súng đồng loạt khai hỏa.

Dinh Độc Lập là trung tâm đầu não của ngụy vì vậy được canh phòng và bảo vệ với quy mô rất chắc chắn. Mục tiêu này được giao cho Đội 5, đây là đội từng đánh những trận lớn ác liệt và có tiếng vang nhất tại Sài Gòn như: khách sạn Caravelle, cư xá Brink, Tổng nha Cảnh sát... dưới sự chỉ huy tài tình dũng cảm của đội trưởng Nguyễn Thanh Xuân (bí danh Bảy Bê và anh đã không may bị bắt năm 1967). Vì vậy, trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thận năm 1968, đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh) làm chỉ huy trưởng của Đội 5 với 14 chiến sỹ. Theo đó, các chiến sỹ trong đội có nhiệm vụ chiếm lĩnh các cổng ra vào, mở cổng để đón đại quân ta về chiếm thủ phủ giải phóng Sài Gòn.

Theo kế hoạch tấn công Dinh Độc Lập, ta sẽ tiếp cận mục tiêu từ bên trái, xuất phát từ đường Nguyễn Du. Sau một tràng AK, Đội 5 đã hạ gục những tên lính gác cổng, đồng thời sử dụng khối bộc phá để mở cổng nhưng do khối bộc phá lâu ngày ẩm mốc không nổ đã khiến đội 5 lâm vào thế bất lợi.

Bà Vũ Minh Nghĩa (bí danh Chính Nghĩa) - giao liên và là 1 trong những chiến sĩ Đội 5 đánh vào Dinh Độc Lập, nhớ lại: “Trong thế trận giằng co với địch, ta đã sử dụng B40 để tiêu diệt hết lính Mỹ trên xe khi chúng đến tiếp viện cho bọn tay sai ngụy. Từ đó, trận địa im tiếng súng, địch kinh hoàng khiếp sợ vì B40. Lúc này tôi nghĩ không biết nơi khác có quân tiếp viện vào không chứ nơi này nguy cấp lắm rồi mà không thấy đại quân tiếp viện của ta đâu. Mặc dù đã bị thương rất nặng nhưng đồng chí Chỉ huy trưởng Ba Thanh vẫn dặn dò anh em: “Các đồng chí phải chiến đấu đến cùng, hãy dũng cảm lên, không được rút lui khỏi trận địa, chờ quân tiếp viện vào. Rồi đồng chí Ba Thanh tắt thở và ngã xuống trong cánh tay của tôi”.

Tuy nhiên, do lực lượng liên đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống ngụy mạnh, lại có xe bọc thép yểm trợ, các chiến sỹ biệt động dù đánh trả quyết liệt nhưng vẫn có 8 đồng chí hy sinh, 7 đồng chí bị bắt và bị thương.

Đánh vào đầu não của Mỹ

Chiều 23 Tết, Bộ Tư lệnh thành phố lên thông qua kế hoạch với Bí thư Võ Văn Kiệt. Tất cả những mũi tấn công đều đã chuẩn bị rất kỹ và sẵn sàng cho trận đấu. 
Ông Bảy Sơn kể lại: Sau khi đã nghe báo cáo và hài lòng về các mục tiêu thì bỗng nhiên anh Sáu - tên thường gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt, nghiêm mặt hỏi“Tại sao Đại sứ quán Mỹ các anh không đánh? Nếu không đánh Đại sứ quán Mỹ đồng nghĩa là đợt tấn công trong thành phố lần này coi như lực lượng biệt động không đánh”. Anh Sáu khẳng định: “Bằng mọi giá các anh phải đánh cho bằng được mục tiêu này vì nhiều lý do về đối nội, đối ngoại, quốc tế”.

Thiếu tướng Trần Hải Phụng (Hai Phụng) lúc đó ra về với nỗi lo âu vì toàn bộ lực lượng đã được bố trí vào vị trí chiến đấu, quân số cũng không còn và các hầm vũ khí đã được phân chia, chỉ còn chờ được lệnh nổ súng tấn công. Lúc đó, anh Hai Phụng đã gọi đồng chí Bảy Sơn (Tham mưu trưởng biệt động Sài Gòn) đến cùng giải quyết về vấn đề nan giải này. Ông Bảy Sơn nhớ lại: “Sau khi nghe anh Hai Phụng nói về tình hình, tôi cũng cảm thấy rối bời nhưng tôi lấy lại bình tĩnh, suy nghĩ và tìm ra giải pháp cấp bách đó là cho gọi đồng chí Ba Đen - là người giữ chìa khóa của 12 hầm vũ khí trong nội thành đến. Khi trao đổi với Ba Đen anh đã đồng ý tham gia vào trận đánh này với quyết tâm và hứa sẽ đánh được với yêu cầu: cho 200.000 USD để ngụy trang và hối lộ các trạm kiểm soát của địch; đồng thời trang bị súng mạnh và chuyển súng cặp quốc lộ 22 từ An Tịnh - Trảng Bàng - Tây Ninh đến Bầu Mây - Củ Chi với yêu cầu phải xong đúng ngày 25 Tết. Yêu cầu cuối cùng của Ba Đen là cung cấp quân và nhờ tham mưu huấn luyện gấp rút cho anh em kịp chiến đấu. Với yêu cầu thứ 3 này thì rất khó bởi các lực lượng đã ém trong nội thành chỉ chờ lệnh tổng tiến công”.

Để huy động quân cho Ba Đen, Bảy Sơn đã phải giải tán cơ quan tham mưu của mình rồi tập hợp lại huấn luyện chiến đấu nhanh để giao cho Ba Đen. Theo đó, có 15 đồng chí bao gồm thư ký quân lực, liên lạc bảo vệ, y sỹ… Đây đều là lính văn phòng, chưa ra trận mạc nhưng được thông suốt tư tưởng, tập trung lên Thạnh An - Bắc Bến Cát huấn luyện và tập bắn súng các loại của ta và của địch, để khi xung trận, loại súng nào cũng sử dụng được.

Với tài thao lược và thông thạo thành phố, Ba Đen đã xuất sắc tổ chức hoàn chỉnh lực lượng và đột nhập vào thành phố Sài Gòn bằng đường công khai. Sáng 28 Tết, Ba Đen đã có mặt ở các nơi ém quân. Tối 29 Tết, Ba Đen đến nghe hiệu triệu và khai lệnh ở số 7 Yên Đổ (tiệm Phở Bình). Các xe vũ khí vào ngày 29 Tết mới đưa vào các điểm hẹn.

Y như kế hoạch, lúc 0 giờ mùng 2 Tết, các toán biệt động rải rác các nơi tiếp cận gần mục tiêu và khi đến liền dỡ bỏ vật ngụy trang, nhanh chóng trang bị vũ khí tiến đến mục tiêu tấn công. Địch canh gác tại chỗ chống trả yếu ớt, sau loạt súng đầu và vài trái B40 là quân ta đã lọt vào Đại sứ quán Mỹ và lần lượt tấn công dần lên lầu 1 và lầu 2. Tờ mờ sáng, trực thăng địch đổ quân trên nóc tòa Đại sứ và ném lựu đạn liên tục vào các tầng phía dưới nơi quân ta đã chiếm. Tiểu đoàn thủy quân lục chiến Mỹ lúc hửng sáng tiếp viện từ dưới đánh lên và từ trên đánh xuống. Cuộc tiến công kéo dài đến sáng mùng 2 Tết, tất cả các chiến sỹ biệt động đã hy sinh hết, chỉ còn Ba Đen bị thương nặng và bị địch bắt.

Ông Bảy Sơn nhìn nhận: “Trận đánh lần 2 vào Đại sứ quán Mỹ, các chiến sỹ biệt động đã cảm tử hy sinh nhưng chiếm giữ được mục tiêu một cách ngoạn mục, giữ vững trận địa đến giây phút cuối cùng và chết vinh quang, ghi danh bất tử cho thành phố thân yêu. Trận tấn công oanh liệt này đã tạo ảnh hưởng lớn đến cục diện của ta từ trong đến ngoài nước”.

Bài 3: “Bông hoa” duy nhất của đội biệt động “Chiến sỹ tên lửa”

Chiến đấu gan dạ, mưu trí, dũng cảm ngay giữa trung tâm đầu não của chính quyền Mỹ - Ngụy, bà đã phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đó chính là nữ Biệt động Sài Gòn Vũ Minh Nghĩa (bí danh Chính Nghĩa).

Cô “chiến sỹ tên lửa” năm xưa giờ đây có cuộc sống an nhàn, vui vẻ bên gia đình.
Để hoạt động được trong lòng địch, những nữ Biệt động Sài Gòn phải gan dạ, nhanh nhẹn, khéo léo và phải hết sức bình tĩnh xử lý trong mọi tình huống. Chính những điều đó, đã giúp cho những nữ Biệt động Sài Gòn qua mắt địch trong tất cả các đồn bốt để hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Với khuôn mặt hiền từ và giọng nói ấm áp, ít ai có thể nghĩ rằng bà Vũ Minh Nghĩa - với bí danh Chính Nghĩa, là một chiến sỹ biệt động năm xưa. Sinh ra trong cái nôi cách mạng của vùng đất Củ Chi, ngay từ năm 12 tuổi, cô bé Nghĩa đã phụ má nuôi cán bộ nằm hầm, dẫn đường cho cán bộ và chạy tin liên lạc các vùng căn cứ. Năm 18 tuổi, Chính Nghĩa đã là thành viên cứng cỏi của Đội 5 Biệt động Sài Gòn với nhiệm vụ liên lạc đưa thư và vận chuyển vũ khí vào thành phố.

Bà nhớ lại: “Với công việc giao liên, vận chuyển vũ khí vào thành, có những ngày tôi chạy liền hai ba chuyến từ căn cứ Củ Chi vào thành phố, lên Thủ Đức lại ra Củ Chi. Những chuyến đi như vậy thì phải luôn luôn được đảm bảo đúng giờ giấc. Cũng chính vì vậy mà tôi được cấp trên đặt cho cái tên là “chiến sỹ tên lửa”.

“Sau những trận đánh lớn, địch càng kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Trong một lần đi từ Củ Chi về thành phố, tới trạm kiểm soát của địch tôi được đưa vào phòng kiểm tra. Lúc đó, trong cặp xách là giấy tờ tài liệu của đơn vị giao cho. Nữ kiểm soát này lấy hết những tờ giấy trong cặp xách của tôi bỏ ra ngoài. Lúc đó, tôi sợ bị chúng lấy hết tài liệu thì lấy đâu đem về cho đơn vị. Nhân lúc chúng kiểm soát mấy người kia, tôi nhanh tay chộp lấy mấy tờ giấy cầm trên tay. Cũng may lần đó tôi thoát nạn và giao được tài liệu đến tay tổ chức” - bà Chính Nghĩa kể lại.
Người nữ chiến sĩ duy nhất

Với mong muốn được trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng do nhiệm vụ làm giao liên trinh sát địa bàn nên Chính Nghĩa không có cơ hội. Tuy nhiên, trong đợt Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, với mục tiêu đánh vào đầu não của Ngụy, lúc này Ban chỉ huy đã quyết định dồn hết lực lượng Đội 5 cho trận đánh lớn, cuối cùng ước nguyện cầm súng của bà đã thành hiện thực. Bà cũng là người nữ duy nhất của Đội 5 tham gia đánh vào mục tiêu Dinh Độc Lập.

Bà Chính Nghĩa hồi tưởng: “Khi nghe chỉ huy trưởng phân công nhiệm vụ tham gia chiến đấu tôi rất mừng. Không ngờ lần xung trận đầu tiên của mình lại đánh lớn, giải phóng Sài Gòn. Lúc đó máu trong người tôi sôi lên rạo rực, đầu nao nao như có tiếng vang reo: Tấn công xông lên giải phóng, sắp giải phóng rồi. Sáng Mùng một Tết, tôi được anh Ba Thanh giao nhiệm vụ mua bông băng, thuốc men mang theo vì trong đợt này tôi còn được anh em giao nhiệm vụ cứu thương khi cần thiết”.
Gần tới giờ G, cả đơn vị Đội 5 hành quân vào trận. Trong số 15 người trên 3 chiếc xe tải nhỏ và 2 chiếc Honda, duy nhất có một người phụ nữ là Chính Nghĩa, xuất phát từ hai hướng đánh vào Dinh. “Trong thời gian giằng co với địch chờ quân tiếp viện, hai bên bắn nhau rất dữ dội. Bỗng có hai ánh đèn pha rọi đến mà không có ánh đèn tín hiệu, tôi đã hoảng hốt kêu lên: không phải quân ta anh Ba ơi, địch đấy". Chờ tên lính trong xe trước tới gần chừng 100 thước, tôi đã bóp cò và tên lính gục ngã. Tôi rất sướng vì lần đầu tiên tôi đã tiêu diệt được lính Mỹ”.

Sau trận đánh vào Dinh Độc Lập, Chính Nghĩa bị thương và bị bắt. Mặc dù bị tra tấn rất tàn bạo, dã man nhưng người con gái Đất Thép anh hùng vẫn không khai nửa lời. Vì vậy chúng đã nhốt bà từ nhà tù Tổng nha Cảnh sát đến Thủ Đức, Biên Hòa, Chí Hòa và cuối cùng là nhà tù Côn Đảo. Năm 1973, trong đợt trao trả tù binh, bà được thả tự do. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, một lần nữa, Chính Nghĩa được lệnh đánh vào dinh Độc Lập. Tuy nhiên, chưa kịp hành quân đến Dinh thì hay tin Tổng thống chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã đầu hàng.

Với những đóng góp của bà trong thời gian tham gia chiến tranh giải phóng đất nước, Chính Nghĩa đã được nhà nước phong tặng Huân chương chiến công hạng Ba và nhiều bằng khen khác. Trở về thời bình, bà luôn sống gương mẫu trong công tác, cuộc sống và vẫn phát huy được vai trò của người cán bộ cách mạng, nhất là vẫn giữ được nét rắn rỏi của một người chiến sỹ biệt động.

H.Tuyết-Đ.Phương
Bài 4: Những địa chỉ đỏ trong lòng địch
Bên cạnh các chiến sỹ biệt động chiến đấu dũng cảm, mưu trí lập được nhiều kỳ tích trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, không thể không nhắc tới những đóng góp vô cùng to lớn của hệ thống hầm vũ khí trong nội thành. Đó là những cơ sở bí mật để cất giấu vũ khí, đạn dược phục vụ chiến đấu và che chở cho các chiến sĩ biệt động hoạt động trong lòng địch.

Hầm chứa vũ khí bí mật

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, Bộ Tư lệnh đã lên kế hoạch xây dựng các hầm bí mật trong nội thành để cất giấu vũ khí và nơi liên lạc của cán bộ, chiến sỹ biệt động, phục vụ cho các mục tiêu chiếm đánh của ta.

 
Hiện nay, căn hầm chứa vũ khí vẫn còn trưng bày nhiều loại súng đạn để phục vụ cho khách tham quan.

Những ngày cuối năm, chúng tôi đến thăm ngôi nhà từng là căn hầm bí mật chứa vũ khí của Biệt động Thành năm xưa ở nhà số 287/70 đường Nguyễn Đình Chiểu (phường 10, quận 3). Nhìn phía trước, đây là căn nhà phố có hai mặt tiền nằm kẹp giữa đường Nguyễn Đình Chiểu (trước đây là Phan Đình Phùng) và Võ Văn Tần (trước đây là Trần Quý Cáp) với cánh cửa sắt kéo màu xanh. Năm 1967, đồng chí Trần Văn Lai (Năm Lai) đã mua căn nhà này theo sự thống nhất với người chỉ huy đơn vị để làm cơ sở giấu vũ khí phục vụ cho các mục tiêu xung quanh và trận đánh vào đầu não của Ngụy - Dinh Độc Lập.

Ông Nguyễn Quang Vinh - nguyên thiếu tá đặc công, hội viên Hội Cựu chiến binh phường 10, đồng thời là người được ông Năm Lai tin cậy giao trông coi căn hầm này, đã bồi hồi kể: “Sau khi mua xong căn nhà, anh Năm Lai tiến hành sửa sang, xây dựng hầm bí mật chứa vũ khí. Anh Năm Lai đã biến phần dưới đất 3 căn nhà thành căn hầm bí mật 2 tầng, sâu 3 m, mỗi chiều 2,5 m có lỗ thông hơi và nắp đậy bí mật liên thông nhau. Hầm xây xong, tổ chức bố trí cho ông tiếp nhận chuyến hàng thứ nhất”.

 
Chú Nguyễn Quang Vinh đang giới thiệu về sơ đồ hầm bí mật trong căn nhà 287/70 Nguyễn Đình Chiểu- nơi chứa vũ khí phục vụ cho trận đánh vào Dinh Độc Lập.

Theo đó, để vận chuyển vũ khí về hầm, các chiến sỹ Biệt động Thành đã che giấu vũ khí khéo léo trong bộ ván, cuộn cà tăng, dưới sọt trái cây... để qua mắt địch. Đồng thời, để tránh sự chú ý của láng giềng, xe chở vũ khí từ Củ Chi đến căn nhà này thường đi vào những lúc nhá nhem tối, khi thì đi cửa trước, lúc đi cửa sau để vào nhà bốc dỡ. Vũ khí được chuyển xuống hầm lúc đó trên 2 tấn gồm các loại súng AK, súng ngắn, bộc phá, lựu đạn, đạn các loại…
Ngày 29 Tết Mậu Thân, tại xã Lộc Thuận, huyện Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh), Đội 5 biệt động đã thực tập chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công. Tới đêm mồng 1 rạng sáng mồng 2 Tết, 15 chiến sỹ Đội 5 biệt động tập trung tại căn hầm này nhận vũ khí. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Tô Hoài Thanh (Ba Thanh), cả đội đã thực hiện trận đánh táo bạo, vang dội vào Dinh Độc Lập. Tuy nhiên, sau khi bị phản công và không có chi viện, các chiến sỹ biệt động của Đội 5 sống sót bị bắt, địch cho lính đến bắn phá căn nhà này vì nghi ngờ đây là nơi trú ngụ của đội biệt động.

Ngày nay căn hầm chứa vũ khí năm xưa mà Đội 5 Biệt động Thành đã sử dụng đánh mục tiêu Dinh Độc Lập đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Ông Nguyễn Quang Vinh trở thành người trông nom di tích và hướng dẫn khách tham quan di tích. Ông cho biết: “Sau trận đánh, Năm Lai bị đày ra Côn Đảo, căn nhà rơi vào tay địch nhưng hầm vũ khí mãi là bí mật với địch. Chỉ sau khi giải phóng, căn nhà được thu hồi trả về cho chủ cũ, lính Ngụy mới té ngửa vì không ngờ căn nhà ấy lại có căn hầm chứa vũ khí của biệt động thành. Hiện nơi đây đang lưu dấu những kỉ vật, sự kiện về trận đánh oanh liệt của Đội 5 biệt động Sài Gòn vào cơ quan đầu não của Ngụy. Đây cũng là một trường học lớn, là địa chỉ đỏ để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử chiến đấu của thế hệ cha anh”.

Nơi đọc lệnh Tổng tiến công

Bên cạnh căn hầm 287/70 Nguyễn Đình Chiểu làm nên kì tích vì giữ được bí mật, sử dụng đúng lúc và đúng kế hoạch mà cấp trên đề ra, căn nhà bí mật có tên Phở Bình ở số 7 đường Yên Đổ (nay là đường Lý Chính Thắng, phường 8, quận 3) cũng trở thành một nơi lưu dấu kí ức lịch sử hào hùng. Tiệm phở này, với địa thế nằm trung tâm khu dân cư rộng thoáng nên được cấp trên chọn làm cơ sở chỉ huy tiền phương của Biệt động Thành trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968. Đây cũng là nơi phát lệnh cho các trận đánh “long trời lở đất” vào Dinh Độc Lập, Đại Sứ quán Mỹ, Tổng Nha cảnh sát… Để ngụy trang, tại tiệm phở này, các chiến sỹ trong đội biệt động đã vào vai người giúp việc của tiệm.

Ông Bảy Sơn kể lại: “Từ 1967 đã có nhiều cán bộ đến trú tại tiệm Phở Bình để công tác và hội họp. Khoảng 1 tháng trước Tết Mậu Thân, người chỉ huy đơn vị là ông Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), chính trị viên đơn vị Biệt động 159 (sau đổi tên là J9/T700), thuộc Quân khu Sài Gòn - Gia Định đến chỉ thị cho ông Ngô Toại - chủ tiệm Phở Bình gấp rút dự trữ lương thực cho khoảng 100 người dùng trong một tháng.

Chấp hành chỉ thị, ông Ngô Toại đã tích lũy một số lương thực, thực phẩm. Trong thời gian này, một trung đội nữ cũng lần lượt đến, bí mật trụ lại tại phòng phía sau lầu 1 của tiệm phở. Đây là các chiến sỹ của nhiều đơn vị, điện đài, y tế, giao liên… thuộc Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6. Càng đến gần ngày cao điểm, càng có nhiều cán bộ chỉ huy đến tiệm phở để nghiên cứu tình hình, kiểm tra công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công. Mặt khác, Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6 quyết định chọn Phở Bình làm trụ sở tập kết các chiến sỹ, cán bộ để truyền đạt mệnh lệnh trong đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968.

Đúng 23 giờ kém 15 phút, ngày mùng 1 Tết, tại tiệm phở này, đồng chí Võ Văn Thạnh (bí danh Ba Thắng) nhân danh Chính ủy Sở Chỉ huy tiền phương phân khu 6 đã trịnh trọng đọc lời hiệu triệu của Ủy Ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Ông nhắc lại lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” và phát lệnh cho các cụm biệt động làm nhiệm vụ xung kích tiến công vào các cơ quan đầu não của Mỹ - Ngụy”.

Nhưng sau khi ta nổ súng đồng loạt tấn công địch ở các mục tiêu, tiệm Phở Bình cũng bị địch bao vây bắt được một số chiến sỹ chưa kịp thoát. Chủ tiệm Phở Bình - ông Toại và vợ bị bắt vào Tổng nha. Dù bị địch tra tấn dã man qua 20 ngày đêm chết đi sống lại, nhưng trước sau ông vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo nửa lời. Không khuất phục được ông, chúng đã đưa ông ra tòa kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo. Sau Hiệp định Pari năm 1973, ông được trao trả tù binh tại Lộc Ninh (Bình Phước).

Dù thời gian đã qua, nhưng những căn hầm chứa vũ khí, cơ sở chỉ huy được hình thành bí mật trong lòng địch đã cho thấy sự dũng cảm, kiên trung với Đảng, với cách mạng của các chiến sĩ biệt động Sài Gòn. Đây cũng là minh chứng cho tình đồng chí, đồng bào sâu nặng. Hơn nữa, những cơ sở này đóng góp rất nhiều cho cuộc kháng chiến, nhất là góp phần quan trọng làm nên các trận đánh lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968 ở Sài Gòn.


Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu


Tổng tấn công Mậu Thân 1968: Đòn tấn công mở đầu

Đã 45 năm trôi qua, nhưng ký ức về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế không thể phai mờ trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Thu, nguyên Tham mưu phó Quân khu Trị Thiên, Chỉ huy trưởng cánh Bắc đánh vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy năm ấy.

Đã gần 80 tuổi, ông vẫn minh mẫn và đặc biệt là nhớ rất rõ, đến từng chi tiết của từng trận đánh mùa Xuân năm ấy.

Chiều 30/1/1968, từ núi rừng Hương Trà, cánh quân chủ yếu phía Bắc Huế cùng với toàn mặt trận bắt đầu xuất quân. Mỗi cánh quân, ngoài lực lượng bộ đội trong đội hình còn có các đội biệt động, đội công tác khởi nghĩa, cán bộ dân vận mặt trận trên 2.500 người, kéo dài trên 2km.

Cuộc hành quân bí mật, phải vượt qua đồi núi, khe suối, sông ngòi, làng mạc. Đặc biệt nhất là vượt qua vành đai tai mắt bảo vệ vòng ngoài của địch để tiếp cận mục tiêu bí mật, an toàn, đúng giờ quy định.

Từ các hướng, các mũi tiếp cận mục tiêu đã giữ được bí mật trước giờ nổ súng. Kết quả đó là nhờ công tác chuẩn bị chiến trường với thế trận chiến tranh nhân dân của các cấp ủy địa phương và các đơn vị với tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành nghiêm ý thức kỷ luật của cán bộ, chiến sỹ.

Điều đáng nói là có đồng chí khi vượt sông cạnh vị trí địch đóng quân, xuồng bị chìm nhưng không một lời kêu cứu, gặp hiểm nguy sẵn sàng hy sinh, không làm lộ bí mật.

Đúng giờ G - 2 giờ 33 phút ngày 31/1/1968 (rạng sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân), từ tuyến xuất phát xung phong, các mũi tấn công bằng đòn chiến đấu đồng loạt, dũng mãnh, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu như Mang Cá, cửa An Hòa, cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, Cửa Hữu, Đại Nội, Cột Cờ, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba.

Cánh phía Nam diệt Trung đoàn thiết giáp ngụy ở Tam Thai, khu Nam Giao, Kho Rèn, Sở cảnh sát, Đài phát thanh, Tòa tỉnh trưởng, tiểu khu Thừa Thiên Phan Sào Nam, khách sạn Thuận Hóa.

Sau 3 giờ chiến đấu, ta đã chiếm được các mục tiêu trọng yếu cả quân sự lẫn chính trị và làm chủ cơ bản thành phố Huế cả phía Bắc lẫn phía Nam. Cùng với đòn tấn công quân sự, nhân dân thành phố Huế, dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, cùng đồng loạt nổi dậy làm chủ từng khu phố như Đông Ba, Gia Hội (gồm 3 phường) và Cồn Hến.

Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 31/1/1968, lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh cột cờ trước Ngọ Môn, báo hiệu thành phố Huế được giải phóng. Cùng với đó là các đội bình định, phòng vệ dân sự ở nông thôn, vùng ven bị các lực lượng bộ đội địa phương, biệt động, dân quân du kích bao vây, tiêu diệt, bức hàng, bức rút. Nhân dân đồng loạt, nhất tề đứng dậy làm chủ thôn xóm, quê hương mình.

Đòn tấn công mở đầu trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Huế giành được thắng lợi ngay từ phút đầu, giờ đầu, ngày đầu.

Địch bị đánh bất ngờ, cả về mục tiêu, thời gian, lực lượng và phương pháp tấn công, bị đánh cả bên trong lẫn bên ngoài thành phố, cả vùng nông thôn và đồng bằng. Bị động, địch hoang mang, lúng túng, không nơi nào đối phó, ứng cứu cho nhau được.

Trong 3 ngày đầu, các đơn vị của ta vừa củng cố mục tiêu chiếm được, vừa mở rộng vùng giải phóng, cùng nhân dân lùng bắt bọn địch chạy trốn thoát, diệt bọn ác ôn, đầu sỏ, các đảng phái phản động.

Tất cả 36 cơ quan ngụy quyền thuộc thành phố Huế và trung phần đều bị ta đánh chiếm, đập tan bộ máy ngụy quyền của địch từ tỉnh, thành phố xuống tận thôn xã. Ta thiết lập chính quyền cách mạng trong các quận, phường thành phố Huế và các xã vùng ven đô, nông thôn của tỉnh.

Đánh chiếm và giữ thành phố Huế liên tục trong 25 ngày đêm, ta vẫn giữ được thế chủ động ở từng khu vực, từng mục tiêu, dù địch đã tăng viện quân lên nhiều lần. Có thời điểm trong thành phố có tới 8-9 tiểu đoàn Mỹ ngụy. Đòn đánh phản kích địch ở cống Thủy Quan của d7/F325 diệt 200 tên địch; đánh quỵ c/D4 ngụy, đại đội thám báo bắt nhiều tù binh, thu giữ 40 súng, giữ vững tuyến hành lang từ cửa Chánh Tây sang Cửa Hữu.

Đòn phản kích địch ở ngã tư Mai Thúc Loan - Đinh Tiên Hoàng, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy, diệt 120 tên, phá hủy 3 xe M113, giữ vững phía sau đội hình các đơn vị ở cửa Thượng Tứ, Đại Nội, cửa Đông Ba. Một bộ phận d2/e6 ở cửa Đông Ba đánh phản kích 1 đại đội Mỹ, diệt 50 tên, thu nhiều súng đạn.

Điển hình như d6/e6 đánh tan tiểu đoàn ngụy tại cầu An Hòa, diệt 200 tên địch, bắn cháy 5 xe M113 buộc chúng phải rút lui về sau cống Rớ.

Đại đội 5, Tiểu đoàn 7 Kỵ binh bay của Mỹ tiến vào Liễu Cốc bị c1/d816/e9 đánh tan, diệt 50 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, bắn cháy 3 xe M113... giữ vững hành lang phía Tây Bắc Huế, đảm bảo cho các lực lượng vận chuyển thương binh, và đưa cán bộ, nhân dân, thanh niên, học sinh, sinh viên ra khu căn cứ an toàn.

Về phía Nam, phía Đông thành phố Huế, địch tập trung lực lượng phản kích ra các nơi như An Cự, cầu Lòn, kho Rèn, ngã 6, sân vận động đều bị ta chặn đánh quyết liệt, diệt trên 2.000 quân Mỹ ngụy, bắn cháy 10 xư M113. Cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, đặc công vừa tiêu diệt địch, vừa giữ thế chủ động đánh địch, hoàn thành được nhiệm vụ đề ra...

Riêng trận đánh tại nhà lao Thừa Phủ, tại đây địch đang giam giữ hơn 2.000 tù nhân, được canh gác cẩn mật, chúng cho cài mìn clâymo để bảo vệ và ra sức chống trả các đợt tiến công của quân ta. Các chiến sỹ trinh sát vũ trang và biệt động đã kết hợp bao vây, khống chế, dùng lao thông báo tin chiến thắng của cách mạng và tìm cách đột nhập vào bên trong động viên cán bộ, bộ đội đang bị giam giữ nổi dậy kêu gọi bọn cai ngục, lính canh đầu hàng.

Nửa đêm 2/2/1968, một người lính ngụy đang bị địch giam trong lao trốn được ra ngoài, đầu hàng và nói: có đường hầm bí mật vào lao và dẫn các chiến sỹ vào giải phóng nhà lao theo đường hầm bí mật đó. Thế là từ ngoài đánh vào, trong đánh ra địch không kịp trở tay, nhà lao được giải phóng...

Theo Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tại Trị Thiên-Huế, ta đã giải phóng 227.300 dân, 40 xã và 296 thôn.

Ủy ban Nhân dân cách mạng một số huyện và thành phố được thành lập. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thành phố Huế ra đời.

Thắng lợi quan trọng này, cùng với thắng lợi trên toàn chiến trường miền Nam đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Johnson phải "xuống thang" chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Paris.

Phía Mỹ phải thay Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Tổng chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt nam. Johnson thôi không ứng cử nhiệm kỳ 2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ, mở ra cho ta khả năng thực hiện trọn vẹn chiến lược "đánh cho Mỹ cút," để tiến tới "đánh cho ngụy nhào," giành độc lập thống nhất Tổ quốc.../.
Quốc Việt (TTXVN)

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào


Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào ?


Trong đêm đầu xuân mưa bay, giá lạnh và sương mù, một đòan người áo đen, quần cộc, dép cao su, từ trong rừng đi ra, vượt qua sông, qua làng, không một tiếng động, lặng lẽ tiến vào thành phố Huế bằng tất cả các ngõ đường, các cửa ô.

Tấn công Huế trong Tết Mậu thân 1968 diễn ra như thế nào
ảnh minh họa
Đó là những hình ảnh đã làm nên sự kiện lịch sử chiến thắng Xuân Mậu Thân 1968. 40 năm trôi qua nhưng chiến công oanh liệt ấy vẫn mãi mãi âm vang như một dấu son của lịch sử quân sự Việt Nam.
Cho đến nay, công việc đánh giá tổng kết về sự kiện Mậu Thân ở Huế vẫn chưa kết thúc. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong các lĩnh vực chuyên môn; về khoa học quân sự, chính trị. Nhưng dù thế nào đi nữa thì lịch sử vẫn ghi đậm những hy sinh của cả lực lượng vũ trang và nhân dân thành phố Huế - những người con thành cổ đã cống hiến hết sức mình vì độc lập tự do cho Tổ quốc.
 
Được giao nhiệm vụ chuẩn bị cho Mậu Thân, chúng tôi đã đưa 200 khẩu súng ngắn và chất nổ C4 vào bên trong thành phố. Nhà của nhiều người dân được dùng để chứa vũ khí, tất nhiên nếu chúng biết được thì gia đình họ chắc chắn phải chịu cảnh “tan nhà, nát cửa"".
Vũ khí được đưa vào bằng xe lam, bằng các gánh hàng trái cây; còn AK thì dấu dưới những chiếc thuyền hai đáy. Tiến vào Mậu Thân, những con thuyền chở vũ khí vào Huế từ nguồn sông Bồ qua ngã Ba Sình, từ Dương Xuân Hạ xuống, từ Phú Vang lên, hoặc từ chợ Tài Ba vào để kịp thời trang bị cho bên trong.
Khâu cuối cùng trong nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường của chúng tôi là chuẩn bị đường hành quân. Người ta có thể hình dung tính chất quan trọng và phức tạp trong cái công việc tưởng chừng như nhẹ nhàng này: Làm sao để đưa được bốn – năm ngàn con người vận động trên một địa hình hẹp và trong đêm tối như mực, vượt qua làng mạc nằm trong vành đai phòng thủ của địch, để tới tận mục tiên chiến đấu.
Việc tổ chức đường hành quân và cả người dẫn đường từ trong rừng ra vùng ráp ranh, từ ráp ranh về đồng bằng, rồi băng qua đồng bằng để tới mục tiêu, tất cả đều phải chia ra nhiều đọan đường. Mỗi đoạn đều có một người dẫn đường riêng, không thể giao cho một người từ đầu đến cuối, vì lỡ trước đó họ bị bắt thì cũng chỉ biết rằng đã dẫn một đoàn cán bộ đi công tác từ làng này qua làng khác.
Mỗi hướng chính lại rẽ ra nhiều mũi, mỗi mũi phải chuẩn bị hai con đường để phòng khi địch chốt đường này thì còn có đường khác. Phải nghiên cứu trước từng đoạn đường hành quân bằng cách đi thử: Chó sủa, lội sông và cố tránh lội ruộng để khỏi hư lúa mới cấy.
Kinh nghiệm cho biết mỗi khi chó sủa rộ lên vùng nào thì địch đều bắn pháo sáng lên và cho máy bay quan sát tới đó. Do đó, việc chuẩn bị đối phó với chó phải hết sức đảm bảo: Suốt bảy đêm đó phải chọc cho chó sủa liên miên suốt từ 11 giờ đêm đến 4 gìơ sáng để địch quen lệ, nhưng đúng đến đêm hành quân thì lại phải thuốc chó để chúng ngủ im.
Tưởng như chỉ là người liên lạc thường thôi, những người dẫn đường trong Mậu Thân 1968 cực kỳ quan trọng. Do đó, chính các Bí thư huyện ủy phải đích thân dẫn đường, các mũi phụ thì do Bí thư bố trí và phải chịu trách nhiệm trước tổ chức.
Một yếu tố có tính chất sống còn để đảm bảo thắng lợi cho chiến dịch Mậu Thân, là một kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến tuyệt đối, từ đầu cho đến tận giờ nổ súng. Kỷ luật bảo mật chặt chẽ ngay từ trong phòng họp: Cán bộ lãnh đạo ghi chép phát biểu ý kiến xong đều phải để lại sổ sách, không được mang theo một mảnh giấy, tất cả chỉ được ghi nhớ bằng bộ óc mà thôi.
Công việc cận chuyển lương thực cho chiến dịch từ đồng bằng lên rừng đã bắt đầu từ trước Tết hàng tháng, nhưng ta đã đánh lừa được địch bằng một mệnh lệnh nghi trang là “Tích cực chuẩn bị cho bộ đội ăn Tết mừng chiến thắng”. 
 


Các đơn vị tập dượt đánh các mục tiêu ở Huế đều không chọn người địa phương ra, chỉ lấy người ở quê xa tới để họ không biết mục tiêu gì, ở đâu. Mọi người đều phải tập dượt rất công phu, học tập kỹ lưỡng, và tuyệt nhiên không ai có thể biết được rằng sắp “đánh Huế”.
Trong suốt thời gian ta chuẩn bị chiến dịch, chỉ có pháo và máy bay C130 của địch thả bom lải rải tại các bến đò. Rõ ràng là chúng không được thông báo gì. Sau đó, địch có đưa tin trên đài Huế rằng “một cuộc hành quân tảo thanh đã bóp chết âm mưa của V.C trong dịp Tết từ trong trứng nước, đồng bào yên tâm ăn Tết”. Còn mã thám ta theo dõi tất cả các nguồn thông tin khác của địch đều không thấy một dấu hiệu báo động nào cả.
Thế là, trong một thời gian dài, chiến dịch đã đưa về cả ngàn vạn con người, cách trung tâm chỉ huy cách Huế 5 km, mà địch không hề biết một chút tăm hơi gì cả. Kế hoạch bảo mật hoàn chỉnh đến độ không một mảnh giấy hay một con người để lọt vào tay địch và không một bộ phận nào bị rơi vào trạng thái kế hoạch có thể bị lộ. Đi lại nườm nượp ở trên rừng và trên đường hành quân, thế mà cho đến phút chót không một toán quân nào bị đánh vào giữa đội hình, không ai thương vong, không ai bị bắt.
Lịch chung cho toàn quân về Huế là ngày 30 ăn Tết (đúng kỷ niệm lần thứ 180 ngày Tết Quang Trung đi giải phóng Thăng Long, Mậu Thân 1876), đóng gói hành trang, sáng mùng 1 Tết thì ngủ. Nhưng tất cả đều đoán biết việc đêm đó nên người ta không ngủ mà lại hát.
Vào buổi chiều, được thông báo chính thức việc chiếm Huế, mọi người từ cán bộ đến bộ đội, du kích… đều vỗ tay reo hò, vui mừng chưa bao giờ thấy. Đêm đó im lặng hơn tất cả mọi đêm trong chiến tranh, im lặng đến mức không còn nghe thấy cái gì cả.
Lúc 1 giờ sáng thì trung đoàn 6 báo đầu tiên đã chiếm lĩnh trận địa; tiếp theo, cánh nam báo chiếm lĩnh hai mục tiêu ưu tiên; mỗi điện báo đều mật và chỉ 3 chữ. 6 giờ sáng, điện báo chiến thắng về từ khắp mọi nơi, coi như đã chiếm hết thành phố Huế, các huyện ngoại thành cũng chiếm được các xã địa bàn đã quy định. Như vậy, chỉ trong 3 tiếng đồng hồ, thành phố Huế đã bị ta đánh chiếm. Đến 11 giờ sáng mùng 2, lá cờ Mặt trận treo trên đỉnh Kỳ Đài Huế; tất cả bộ đội đều nhảy nhót, vỗ tay hoan hô…
Mậu Thân trong chiến đấu, bộ đội cả chủ lực và địa phương hy sinh lẫn bị thương khỏang 3.000 người. Trong Thành ủy có 2 đồng chí hy sinh. Nhưng ta đã diệt hơn một vạn tên địch trên mặt trận Huế. Toàn bộ căn cứ địch tại thành phố đều bị ta đánh nát; tất cả 36 cơ quan cấp tỉnh và trung phần của chúng đều bị ta chiếm hết, bọn đầu não đều ra hàng.
Thành quả vẻ vang này trước hết biểu hiện phẩm cách anh hùng của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân. Suốt 26 ngày chiếm giữ thành phố, chiến sĩ ta đương đầu với khó khăn ác liệt chưa từng thấy; thế mà không một đơn vị nào từ Trung đội, Đại đội trở lên bị xóa mất phiên hiệu, không một người nào ra đầu hàng hoặc đào ngũ; sống chung với dân như thế, vẫn giữ vững kỷ luật tác phong, khi xa rồi dân vẫn còn thương nhớ, người nằm xuống đó dân vẫn tiếp tục hương khói phụng thờ.
Phải nói rằng sau khi ta rút lên rừng, nếu có cái gì còn sống lâu trong tâm trí nhân dân thành phố Huế, trước hết đó là hình ảnh tỏa sáng của “người lính cụ Hồ”.


http://www.xaluan.com/