Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Phim tài liệu “Mậu Thân- 1968” sẽ làm sáng tỏ sự thật về?


Phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968” của nữ đạo diễn Lê Phong Lan Suốt bộ phim sẽ giải đáp cho khán giả câu trả lời trong suốt một thời gian dài về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến: "10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.
Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.
 
Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968
Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968
 
Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.
Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.
 
Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.
Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.
 
 
Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập "Mậu Thân- 1968"
12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.
Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.
 
Nước Mỹ đã khủng hoảng niềm tin sau Chiến dịch Mậu Thân 1968
Nước Mỹ đã "khủng hoảng niềm tin" sau Chiến dịch Mậu Thân 1968
 
“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.
Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.
Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.
Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:
Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.
Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.
Nguồn: dantri.com.vn

Phụ nữ Sài Gòn - Gia Định trong chiến dịch Mậu Thân 1968


Phụ nữ Sài Gòn - Gia Định trong chiến dịch Mậu Thân 1968

Với phương châm "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược", phụ nữ Sài Gòn - Gia Định đã góp hết sức mình vào những ngày lịch sử sôi nổi và khói lửa của chiến dịch Mậu Thân 45 năm trước.

Đội nữ biệt động quân khu 6 nghiên cứu bản đồ trong chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968.
Tổ may cờ ở Gia Định đang may cờ mặt trận chuẩn bị cho Tết Mậu Thân.
Các mẹ trong Hội Mẹ chiến sĩ chuẩn bị lương thực cho các chiến sĩ ra tiền tuyến.
Nữ thanh niên xung phong Đội Hoàng Lệ Kha tại Suối Bà Chiêm đang dùng những tấm ván nhà kho của hậu cần bỏ lại trong rừng và kê người làm trụ cầu cho đồng đội cáng thương đi qua.
Các cô gái thanh niên xung phong vận chuyển lương thực chuẩn bị cho chiến dịch.
Nữ dân công hỏa tuyến miền Tây Nam Bộ vận chuyển vũ khí theo những kênh mương chằng chịt qua cánh đồng mênh mông về "ém" ở ven đô Sài Gòn chuẩn bị cho chiến dịch.
Các nữ Thanh niên xung phong còn vận chuyển vũ khí vào nội đô, chuẩn bị cho chiến dịch...
... vác pháo phục vụ các trận đánh vào mục tiêu đầu não của địch ở nội đô Sài Gòn.
Chiếc xe bò ông Nguyễn Văn Dần (Vĩnh Lộc, Bình Chánh) đã dùng để chở 7 thi hài liệt sĩ là những dân công Vĩnh Lộc, trong đó có con gái của ông từ đồng bưng về làng để chôn cất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Chủ tịch yêu cầu "Kế hoạch phải thật tỉ mỉ, hợp đồng phải thật ăn khớp, bí mật phải thật tuyệt đối, hành động phải thật kiên quyết, cán bộ phải thật gương mẫu".
Kỷ niệm 45 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 và chào xuân mới Quý Tỵ 2013, Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ khai mạc trưng bày chuyên đề "Phụ nữ Sài Gòn - Gia Định trong Mậu Thân 1968".
Với 120 hình ảnh và 50 hiện vật, chuyên đề này làm nổi bật những đóng góp của phụ nữ Sài Gòn - Gia Định trong những ngày khói lửa Mậu Thân, thể hiện thế chủ động tiến công, mưu trí, dũng cảm, gây cho địch những tổn thất nặng nề, góp phần vào những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược. Triển lãm kéo dài đến hết ngày 30/5.
Trung Sơn

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968

Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968


Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.

Đã có nhiều nguồn tin trái chiều về những cuộc thảm sát trả thù đẫm máu bên trong thành Huế sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô. Chính sự đẫm máu thảm khốc, trong một thời gian dài, người ta né tránh nhắc đến chiến dịch Mậu Thân năm 1968. 

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân ta đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong cuộc chiến với Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Mỹ đã hoàn toàn sa lầy trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Quân đội Mỹ không thể bình định được miền Nam Việt Nam, cũng không thể rút quân về nước. Trong tình hình đó, dư luận thế giới, dư luận của chính nội bộ nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh tại Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, quyết liệt. Nắm lấy thời cơ này, Bộ Chính trị đã quyết định đánh một trận gây tiếng vang lớn, “Một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị” (Lê Duẩn). Chiến dịch Mậu Thân năm 1968 đã bất thần được quyết định như thế để tạo bước ngoặt lớn trong chiến tranh, buộc Mỹ phải xuống thang, đi tới đàm phán.
Sáng sớm ngày 31/1/1968, trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân, quân ta đã đồng loạt tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế… Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi có tầm vóc lớn về chiến thuật của quân ta, tạo tiền đề quan trọng để Mỹ xuống thang chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Paris năm 1973.
 
Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968
Quân ta trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968
 
Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, nhiều nguồn thông tin nhiễu loạn đã khiến chiến dịch Mậu Thân năm 1968 trở thành câu chuyện lịch sử nhạy cảm, ít được nhắc đến. Những thông tin về các ngôi mộ tập thể được tìm thấy ở Huế, thông tin về những cuộc thảm sát đẫm máu mang tính trả thù cá nhân sau khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được thành Huế… được lan truyền một cách ẩn ức trong dư luận suốt một thời gian.
Khi câu chuyện về chiến dịch Mậu Thân năm 1968 vẫn tồn tại như một câu chuyện lịch sử nhiều bí ẩn, một nữ đạo diễn Việt Nam đã âm thầm chuẩn bị tài liệu trong suốt 10 năm để lật lại, để truy tìm sự thật, để nói đến tận cùng về những câu chuyện “nhạy cảm” năm 1968.
 
Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Lý do của 10 năm đổ công sức, tiền bạc đi tìm tài liệu, đi tìm nhân chứng về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nữ đạo diễn Lê Phong Lan khiến người viết thực sự cảm động. Chị nói, “Có một động lực vô hình nào đó thôi thúc tôi đi tìm hiểu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong quá trình đi tìm tài liệu, đi tìm những nhân vật là chứng nhân lịch sử của cả hai chiến tuyến, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh tư liệu ghi lại hình ảnh chiến sỹ giải phóng của ta hy sinh như thế nào, đổ xương đổ máu ra sao… Tôi không tin những người lính ấy lại có thể tạo ra những cuộc thảm sát”.
Theo đạo diễn Lê Phong Lan, “Lịch sử đã trải qua 45 năm, thời gian đã có đủ độ lùi để chúng ta nhìn nhận lại về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Thời thế đã đổi thay. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nói chuyện với nhau thật thẳng thắn về tất cả những câu chuyện xảy ra từ 45 năm trước. Trong 10 năm ròng, tôi đã đi, đã tìm kiếm, đã gặp gỡ, phỏng vấn, để xây cất nên 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Tôi gặp gỡ cả những người lính ở hai chiến tuyến, tôi gặp gỡ hỏi chuyện cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau về cuộc chiến. Suốt 10 năm tôi đi và đi, phỏng vấn và phỏng vấn… Và tôi nghĩ, 12 tập phim tài liệu xây cất trong 10 năm ròng của tôi sẽ giúp khán giả giải mã được sự thật còn gây tranh cãi của chiến dịch Mậu Thân năm 1968”.
 
 
Lính Mỹ trong thành cổ Huế năm 1968. Cuộc giao tranh 26 ngày đêm ở Huế diễn ra khốc liệt.
Nữ đạo diễn Lê Phong Lan và nhà báo, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu 12 tập "Mậu Thân- 1968"
12 tập phim tài liệu với tựa đề “Mậu Thân- 1968” là sự nhìn nhận, đánh giá của chính những người trong cuộc sau độ lùi 45 năm thời gian. Tính đến thời điểm hiện tại, 2/3 số nhân vật được phỏng vấn trong 12 tập phim tài liệu của đạo diễn Lê Phong Lan đã ra đi. 10 năm không mệt mỏi để một nữ đạo diễn bươn chải, tìm cho bằng được những sự thật về “Mậu Thân-1968”.
Và với những gì tìm được, nữ đạo diễn trả lời, “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.
 
Nước Mỹ đã khủng hoảng niềm tin sau Chiến dịch Mậu Thân 1968
Nước Mỹ đã "khủng hoảng niềm tin" sau Chiến dịch Mậu Thân 1968
 
“Tôi chỉ có một câu hỏi, “Tại sao cha ông chúng ta, thế hệ những người trẻ như tôi, như bạn thời ấy lại có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống, hy sinh gia đình của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc? Vậy, độc lập, tự do là gì? Tại sao người ta có thể hy sinh ghê gớm đến thế vì độc lập, tự do. Nếu các bạn cũng như tôi, đã đọc, đã tìm hiểu, đã nhìn tận mắt những hình ảnh về chiến tranh Việt Nam, các bạn sẽ thấy đó là một huyền thoại. Lịch sử Việt Nam đã được viết bằng những huyền thoại”- Đạo diễn Lê Phong Lan chia sẻ sự xúc động.
Nữ đạo diễn tin rằng, thế hệ trẻ bây giờ thờ ơ với lịch sử là vì họ không hiểu lịch sử, họ gần như không biết gì về lịch sử với những bài học giản đơn ở trường lớp. Nếu đã hiểu, họ cũng sẽ yêu vô cùng những huyền thoại đã được viết bằng máu của đất nước mình.
Máu đã viết nên huyền thoại về đất nước, nếu ai đã lắng nghe, đã thấu hiểu, cũng sẽ cúi đầu trước những huyền thoại ấy.
Trích dẫn lời của một trong những nhân vật của 12 tập phim tài liệu- “Mậu Thân- 1968”:
Ông Larry Berman- GS. Sử học Mỹ “Tết Mậu Thân là một bước chuyển mang tính quyết định, chấm dứt leo thang chiến tranh Việt Nam. Người Mỹ sử dụng cụm từ “khủng hoảng lòng tin”. Cuộc tấn công bộc lộ cho người Mỹ thấy rằng, toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.
Cũng trong nhiều tài liệu nghiên cứu sử học của Mỹ đã phải thừa nhận, những thông tin về vụ thảm sát tại Huế sau khi Quân giải phóng miền Nam Việt Nam chiếm được cố đô là hoàn toàn vu cáo./.
 
Theo Dan tri

Tạo bước ngoặt quyết định của chiến tranh

Tạo bước ngoặt quyết định của chiến tranh

Đã 41 năm sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đánh giá sự kiện này có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng từ thực tiễn lịch sử cho phép ta khẳng định rằng: Ta giành thắng lợi lớn, tạo bước ngoặt quyết định của chiến tranh.
Thắng lợi liên tiếp trên chiến trường tạo ra sự chuyển biến về cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta. Từ thực tiễn cuộc đọ sức trong hai mùa khô cho thấy, ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng và luôn nắm quyền chủ động chiến lược. Mỹ, ngụy liên tiếp bị động, lúng túng đối phó trên khắp các chiến trường miền Nam.
Mặc dù bị thất bại, Mỹ tiếp tục tăng quân, tăng chi phí quân sự vào miền Nam. Năm 1968, số quân Mỹ trên chiến trường miền Nam lên tới 480.000 người, chưa tính đến lực lượng đóng ở xung quanh Việt Nam và Hạm đội 7 với khoảng 20 vạn quân.
Quân ủy Trung ương nhận định: “Những thắng lợi của ta trong đông xuân 1966-1967 đã tạo ra một tình thế có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Và nếu vươn lên thực hiện được một đòn quyết chiến chiến lược thật hiểm và mạnh thì buộc đế quốc Mỹ phải thua theo ý định chiến lược của ta”.
Tuy nhiên, nếu cứ áp dụng cách đánh cũ sẽ không tạo ra một bước ngoặt quyết định trong chiến tranh. Vì vậy, chúng ta phải tìm phương pháp đánh mới nhằm đập tan cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chuẩn bị kế hoạch theo cách đánh mới nhằm giáng cho địch một đòn bất ngờ, đạt tới hiệu lực chiến lược làm cho chúng bị lung lay ý chí xâm lược, dẫn đến chuyển biến cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta. Phương án tác chiến được xây dựng theo phương hướng kết hợp tiến công quân sự với khởi nghĩa của quần chúng; tập trung đánh mạnh vào các thành phố, thị xã, thị trấn, đánh vào trung tâm đầu não của Mỹ, ngụy. Chủ trương trên của Đảng là một bất ngờ lớn đối với Mỹ, ngụy.
Trung ương quyết định: “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miềnNam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”. Thực hiện chủ trương trên, Đảng quyết định dùng lực lượng vũ trang để “điều động”, kéo căng lực lượng của địch trên khắp các chiến trường; dùng chủ lực mạnh đánh tiêu diệt chủ lực của địch. Mặt khác, kết hợp lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị đánh vào các cơ quan đầu não của địch ở các đô thị, phá hậu cứ, cơ sở hậu cần, trung tâm thông tin, phương tiện giao thông chiến lược của Mỹ, ngụy. Đây là đòn tiến công trọng yếu, đánh vào trung tâm chỉ đạo chiến tranh của Mỹ ở miền Nam, nhằm đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ.
Theo đó, quân dân ta đồng loạt nổ súng đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn và các căn cứ quân sự của địch trên khắp chiến trường miền Nam. Trong gần 2 tháng thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, lực lượng quân giải phóng đã tiến công vào 4 trong 6 thành phố, 37 trong 42 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ ở khắp miền Nam. Các cơ quan đầu não của địch hầu hết bị đánh trúng, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 bộ tư lệnh sư đoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ và 30 sân bay… Chỉ tính 6 tháng đầu năm 1968, ta đã tiêu diệt 101.000 quân địch, phá hủy 1.368.000 tấn vật tư chiến tranh, chiếm 34% dự trữ chiến tranh của địch.
Đòn tiến công của quân dân ta buộc đế quốc Mỹ phải chuyển từ chủ trương “tìm diệt” sang thực hiện chủ trương “quét và giữ”, thế chiến lược của địch tiếp tục bị đảo lộn. Đánh giá về thắng lợi và ý nghĩa thắng lợi của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Duẩn viết: “Ta đã thắng rất to, địch đã thua rất nặng. Rõ ràng trận này đã mở ra một bước ngoặt chiến lược đánh dấu thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 BCHTƯ Đảng (7-1973) khẳng định: “Mặc dầu có khuyết điểm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 vẫn giữ một vị trí rất to lớn và oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng”.
Sự thất bại của Mỹ, ngụy ở Việt Nam trong dịp Xuân Mậu Thân 1968, nhanh chóng lan truyền về nước Mỹ và tác động mạnh đến các tầng lớp nhân dân Mỹ, đến chính quyền Giôn-xơn. Gi.Am-tơ tiết lộ rằng “một cảm giác thất vọng u sầu bao trùm chính giới Oa-sinh-tơn. Chính phủ bị xúc động”. Quốc hội Mỹ yêu cầu chính quyền Giôn-xơn xét lại chính sách, cách thức tiến hành chiến tranh. Uy tín của Giôn-xơn về điều hành chiến tranh và điều hành đất nước giảm mạnh. Bộ Quốc phòng Mỹ thừa nhận “nếu leo thang thêm nữa sẽ gây ra những nguy cơ lớn làm nổ ra một cuộc khủng hoảng trong nước với quy mô chưa từng có”. Những thất bại to lớn trên, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ L.Giôn-xơn tuyên bố không tham gia tranh cử Tổng thống trong nhiệm kỳ tiếp theo, đơn phương ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhận đàm phán với ta tại Pa-ri. J.Pimlott khẳng định đó “là một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.
Đánh giá về sự kiện Xuân Mậu Thân 1968, Bộ Chính trị đã kết luận rõ: “Tết Mậu Thân thắng rất lớn, mà lớn nhất là đánh bại được ý chí xâm lược của Mỹ, tạo nên bước ngoặt quyết định của chiến tranh. Nhưng sau đó ta chuyển chậm, chủ trương tiếp tục các đợt tiến công vào đô thị khi không còn điều kiện là sai lầm về chỉ đạo chiến lược, để địch gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất”.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân 1968, cùng với những cú “đánh bồi” tiếp sau đó đã thực sự tạo ra một đòn đánh “đủ đô”, đủ sức nặng làm nhụt ý chí của đế quốc Mỹ, nhất là những chính khách trong phái diều hâu, tạo ra bước ngoặt mới về chiến lược của cuộc chiến tranh, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam tại Pa-ri.
TS Nguyễn Văn Bạo - Báo Quân đội nhân dân

"Tiến công năm 1968": Thời khắc vang dội của Lịch sử


"Tiến công năm 1968": Thời khắc vang dội của Lịch sử PGS.NGND Lê Mậu Hãn và PGS.TS Nguyễn Đình Lê - Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Tiến công năm 1968 là một trong những sự kiện nổi bật của cuộc chiến tranh ở miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Gần 40 năm đã trôi qua, nhưng sự kiện lịch sử vang động này vẫn còn đặt cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nhiều bàn luận, đánh giá khác nhau. Nhân kỉ niểm 35 sự kiện Tết Mậu thân 1968, PGS.NGND Lê Mậu Hãn và PGS.TS Nguyễn Đình Lê đã viết tiểu luận ngắn này đăng tải trong tuần báo VietTimes.
TẬN DỤNG TÌNH THẾ
Trước thời điểm bản lề kết thúc năm 1967 đầu năm 1968, Hoa Kỳ và đồng minh đã có trên 50 vạn quân chiến đấu ở chiến trường miền Nam và đã tham chiến qua 2 mùa khô. Nhằm tiêu diệt nhanh chóng đối phương, kết thúc sớm chiến tranh, Hoa Kỳ đã sử dụng tất cả các loại vũ khí tối tân nhất, trừ nguyên tử. Hoa Kỳ đã huy động tối đa lực lượng không quân và hải quân (từ 50 đến 70% lực lượng không quân và hải quân) vào chiến tranh cục bộ ở Việt Nam. Có khoảng 2 triệu lượt thanh niên Mỹ đã được huy động sang chiến đấu ở miền Nam. Về tài chính, Hoa Kỳ đã chi một khoản tiền khổng lồ vượt xa chi phí của các cuộc chiến trước đây. Trung bình hàng năm Wasinhton đã chi khoảng 30 tỷ đô la vào miền Nam và đến năm 1967 đã chi vào miền Nam tổng số khoảng 400- 500 tỷ…
Tốn tiền bạc, hao tổn sinh lực, nhưng điều cay cú nhất đối với những người hoạch định chính sách ở Washington là dù đã nổ lực cao nhất trong khuôn khổ cuộc chiến tranh cục bộ nhưng họ đã sa lầy không lối thoát.
Còn phía Sài Gòn vào năm 1967 được đánh giá là thể chế chính trị mục nát, xâu xé, tướng tá tham nhũng, quân phiệt, bất tài. Trong khi đó, bên kia Thái Bình Dương, nội tình nước Mỹ không còn giống như 4 năm về trước. Phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ đã bùng nổ mạnh mẽ, phát triển khắp mọi bang và lực lượng tham gia ngày càng đông. Hè năm 1967, hơn 130 trường đại học ở Kỳ bị sinh viên đốt trụi sau vụ quân cảnh Hoa Kỳ bắn chết mấy nữ sinh biểu tình phản chiến. Nếu như năm 1964-1965, nhân dân dân Mỹ đấu tranh phản đối chiến tranh vì lí do nhân đạo, họ xuống đường vì thấy rằng một cường quốc hiện đại bậc nhất thế giới mang kỹ thuật quân sự tối tân chống một đất nước nông nghiệp. thì đến năm 1967 mục tiêu đấu tranh đã khác. Phong trào đã kết hợp giữa chống chiến tranh xâm lược Việt Nam do Wasinhton tiến hành quá dài, làm hao tổn nhân lực và đảo lộn tài chính đất nước, làm mức thuế gia tăng.
Sự bế tắc từ cuộc chiến ở Việt Nam đã làm các cơ quan quyền lực và những người có vị thế hoạch định chính sách ở Việt Nam bất đồng, phân hóa. Thậm chí Bộ trưởng Quốc phòng Robert M.McManamara- người được coi là nhân vật chủ chiến trong việc mở rộng chiến tranh ở Việt Nam 4 năm về trước, người được dư luận Hoa Kỳ cho rằng có “bộ óc điện tử”, thì nay đã đề nghị Tổng thống xuống thang chiến tranh, tìm giải pháp mới về vấn đề Việt Nam. Khi kiến nghị không được chấp nhận, Macnamara đã từ chức.
Trong khi đó, vượt qua những khó khăn của mùa khô lần thứ nhất, đến mùa khô lần thứ 2 (1966-1967) thế và lực của cách mạng miền Nam đã trưởng thành mọi mặt. Trên các mặt trận, bộ đội chủ lực đã đứng chân đều khắp và đang làm lực lượng trụ cột cho cuộc chiến tranh nhân dân ở các địa phương phát triển. Theo ý kiến của W.Scoot Thomson và Donald D. Frizzell – 2 tác giả viết rất nhiều về chiến tranh Việt Nam, cho rằng Việt cộng đã kiểm soát 85% cuộc chiến tính đến trước tổng tiến công Tết 1968. Theo phân tích chiến sự của Hoa Kỳ 2 vào tháng 12 năm 1967 cho thấy trong tổng số 165 trận đụng độ được chọn lọc một cách ngẫu nhiên, có 73% của Việt Cộng chủ động khởi sự.
Trong khi đó các cuộc oanh kích, bắt phá của Hoa Kỳ làm miền Bắc gặp muôn vàn khó khăn, thiệt hại nhiều người và của, nhưng Hoa Kỳ đã trả giá rất đắt khi thực hiện chiến tranh phá hoại lần thứ nhất. Theo tác giả Jamess P.Harrison, Bắc Việt chỉ có vài trăm MIG.17-19 chưa đến 100 MIG. 21 với khoảng 300 bệ phóng tên lửa đất đối không, nhưng đã hạ khoảng 2.000 máy bay hiện đại nhất của Hoa Kỳ cùng với hàng ngàn phi công bị tử vong hoặc cầm tù. Những tổn thất của Hoa Kỳ khi đánh phá miền Bắc là to lớn, đến mức mà lực lượng không Hoa Kỳ từng lắm tiền và nhiều phương tiện chiến tranh vô cùng lớn cũng không thể chịu xiết.
Tóm lại, trên cả hai chiến trường, chiến lược chiến tranh cục bộ của Hoa Kỳ đã ở vào thế bế tắc. Còn trên bình diện quốc tế, Hoa Kỳ dần dần mất ưu thế của mình trên nhiều địa hạt. Trước hết, ưu thế vũ khí hạt nhân dần dần tuột khỏi tay Hoa Kỳ. Liên Xô trong thời gian này đã từng bước vươn lên cân bằng vũ khí tiến công chiến lược và trên một số phương diện đã vượt qua mặt Hoa Kỳ.
Về kinh tế, cuộc chiến quá tốn kém của Hoa Kỳ đã cơ hội cho một số nước phương Tây và Nhật Bản vươn lên cạnh tranh với hàng hóa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ dần dần mất thị trường trên nhiều địa bàn và thậm chí còn bị hàng hóa Nhật Bản, Tây Đức cạnh tranh quyết liệt ngay tại Hoa Kỳ.
Về chính trị, vì theo đuổi cuộc chiến tranh phi nghĩa bằng những thủ đoạn tàn bạo, nên Hoa Kỳ bị cô lập trên trường quốc tế. Chính phủ và nhân dân nhiều nước thuộc thế giới thứ 3 và các nước không liên kết phản đối quyết liệt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Hoa Kỳ; Nhiều chính khách đứng đầu chính phủ ở phương Tây (Thụy Sỹ, Thụy Điển, Pháp…) trực tiếp lên tiếng phản đối Mỹ; một số chính trị gia khác bắt đầu xa lánh chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam; phong trào đấu phản chiến chống Mỹ phát triển khắp các nước Tây âu. Một trung tâm phản chiến nằm ở Tây âu ra đời ở Hà Lan…; một tòa án quốc tế xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ được thành lập.v.v… Có thể nói vào năm 1967, chỉ có chính phủ nước Anh còn ủng hộ Hoa Kỳ theo đuổi chiến tranh ở Việt Nam.
Trong khi đó, cuộc chiến tranh nhân dân của nhân dân Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao. Dù khó khăn, ác liệt, tổn thất to lớn về người và của, nhưng cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở cả hai vẫn phát triển không ngừng. Trên chiến trường chính, thế và lực của cách mạng miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Tại hậu phương, miền Bắc “vững như bàn thạch” như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đánh giá và miền Bắc đã dồn sức người, sức của cao nhất cho chiến trường. .
Trong bối cảnh đó, Trung ương Đảng hạ quyết tâm tiến hành cuộc tổng tiến công vào các đô thị, sào huyệt của địch ở miền Nam, đặng giành thắng lợi quyết định, mở bước ngoặt cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Cơ sở khoa học của quyết tâm đó chính là bối cảnh lịch sử của cuộc chiến tranh Việt Nam trước Tết Mậu thân 1968.
ĐÁNH GIÁ TỪ CÁC PHÍA
Tiến công của lực lượng giải phóng trong năm 1968 nói chung và dịp Tết Mậu thân nói riêng đã làm cho lực lượng quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam bấn loạn. Một quân nhân Mỹ nhớ lại khung cảnh này đã diễn tả rằng: Tết đã làm tăng đột ngột khó khăn và mất mát cho các đơn vị chiến đấu(của Hoa Kỳ)… Chúng tôi bị lôi kéo, xâu xé không còn dáng vẻ của một đạo quân có tổ chức nữa; chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng lúc ấy đã thể hiện được vai trò một một đơn vị tác chiến chặt chẽ.
Từ các sự kiện vừa xẩy ra ở chiến trường miền Nam, Thứ trưởng Bộ không quân gửi thư cảnh tỉnh Tân Bộ trưởng quốc phòng rằng: “thắng lợi quân sự của Mỹ tại Việt Nam là một ảo tưởng nguy hiểm".
Báo chí và dư luận Hoa Kỳ nêu câu hỏi rõ ràng cho các nhà hoạch định chính sách chiến tranh ở Việt Nam là Hoa Kỳ đã có hơn nửa triệu quân thiện chiến ở miền Nam mà còn không giữ nổi tòa Đại sứ của mình ở Sài Gòn (vì bị tiến công dịp Tết), vậy tăng viện thêm cả triệu quân nữa liệu có giữ được toàn miền Nam không? Câu thúc bởi tình hình trong nước và đặc biệt từ chiến trường, nên dù có cố gắng đáp ứng tăng mấy vạn quân vào miền Nam, nhưng Clifford vẫn sớm có nhận thức rằng: “Chúng ta hình như đang có một cái thùng không đáy. Chúng ta càng đổ thêm quân thì đối phương cũng tăng quân. Tôi chỉ thấy càng giao tranh nhiều, thì càng gây thương vong nhiều hơn cho người Mỹ và đó là điều liên tục diễn ra tiếp nói nhau không bao giờ ngừng”.
Để tìm lời giải vấn cho đề Việt Nam vừa nổi cộm sau Tết Mậu thân, Tổng thống Hoa Kỳ đã nhóm lập “những nhà thông thái” (Wise Men) gồm các chuyên gia hàng đầu về mọi mặt (quân sự, chính trị, kinh tế, luật pháp…) nhằm nêu sáng để giải quyết khủng hoảng ở Việt Nam. Người đầu tiên trong nhóm cố vấn chính là tân Bộ trưởng Quốc phòng mới, đã lập luận rằng cuộc chiến ở Việt Nam như cái bình không đáy, Hoa Kỳ gửi bao nhiêu quân sang Việt Nam vẫn không xoay chuyển được tình thế. Đến cuối tháng 3 năm 1969 thì hầu hết nhóm cố vấn cao cấp của Tổng thống cho rằng phải chấm dứt chiến tranh leo thang miền Bắc và giảm lực lượng Hoa Kỳ tại miền Nam, từng bước chuyển giao trách nhiệm cuộc chiến cho Sài Gòn.
Đánh giá tổng quát về Nhà trắng và dư luận khi Tết Mậu thân bùng nổ, James William Gibson cho rằng, dù Việt Cộng có trả giá đắt, nhưng công chúng Hoa Kỳ vẫn thấy một thắng lợi lớn của Việt Cộng và Tết làm choáng váng đối với nước Mỹ. Một cảm giác thất vọng bao trùm Wasinhton. Chính phủ bị xúc động. Mọi người ở Wasinhton chẳng còn ý nghĩ sáng sủa nào!.
Bài toán hóc búa từ Tết cuối cùng có lời giải: Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, từng bước rút quân về nước và mở tọa đàm ở Paris.
 
Ngoài đánh giá vị trí, ý nghĩa của tiến công năm 1968 như trên, mặt khác cũng cần phân tích thêm về hao tổn nhân lực trong sự kiện này. Có thể nói, trong năm 1968, cả hai bên đều gặp tổn thất nặng nề. Theo đánh giá của Hoa Kỳ, chỉ riêng dịp Tết lực lượng Giải phóng đã mất khoảng 85.000 quân. Theo ý kiến của Don Oberdorfer, một người Mỹ hiểu biết sâu về cuộc chiến tranh, cho rằng Việt Cộng đã mất một nửa quân tham chiến và có lẽ mất một phần tư lực lượng chính qui của họ.
Đề cập về tổn thất quân lực, nhiều ý kiến từ phía Hoa Kỳ cho rằng, Tết và cả năm 1968, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã mất một thế hệ quân chiến đấu và buộc phải tăng cường binh lực từ Bắc vào và còn nhiều năm sau mới phục hồi lại được vị thế như đã có trước Tết 1968.
Có một học giả Hoa Kỳ nhận xét rất sâu sắc về đặc điểm của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Họ cho rằng, bởi tổn thất về nhân lực của cách mạng (cả quân đội lẫn lực lượng chính trị) rất lớn. Đặc biệt lực lượng chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bị tổn thất nặng nề nên các cuộc đấu tranh chính trị của lực lượng quần chúng chống Hoa Kỳ và chế độ Sài Gòn không còn có điều kiện bùng phát như thời gian trước. Vì thế từ sau Tết 1968 trở đi, cuộc chiến các ben ở miền Nam ngày càng mang tính cuộc chiến tranh thông thường và ít dần các cuộc nổi dậy.
Song song về tổn thất nhân lực, thế của lực lượng Giải phóng không còn như trước. Nếu như trước Tết 1968 Sài Gòn kiểm soát được 30% nông thôn, thì sau 1968, dần dần họ thu lại được hầu hết vùng nông thôn đồng bằng. Từ cuối năm 1968 đến năm 1969, hầu hết vùng giải phóng ở miền Tây bị địch tái chiếm; từ đầu năm 1969 trở đi, hầu hết căn cứ và vùng giải phóng đồng bằng khu 5 và Trị – Thiên do địch kiểm soát và hầu hết các bàn đạp tiến công chiến lược của quân Giải phóng từng có trước 1968 đã không còn…. Dân số trong vùng giải phóng giảm xuống rất thấp. Về địa giới, từ sau 1968, vùng giải phóng còn giữ được vị thế ở địa bàn Tây Nguyên, còn vùng giải phóng rộng lớn trước đây ở Khu V, VI, VII, VIII và Khu IX lần lượt bị đối phương tái chiếm.
Vì tất cả lí do trên, nên có thể nói, thế và lực lượng của lực lượng cách mạng miền Nam sau năm 1968 đến khoảng đầu năm 1971 suy giảm rõ rệt. Và đây là một trong những thời gian khó khăn nhất của cách mạng miền Nam.

Từ ý tưởng chiến lược đến bước ngoặt lịch sử


Từ ý tưởng chiến lược đến bước ngoặt lịch sử
TP - Xuân Mậu Tý 2008, cả nước kỷ niệm 40 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Ôn lại sự kiện lịch sử này nhân dân ta, thanh niên ta càng tự hào với truyền thống võ công mưu lược, nghệ thuật quân sự sáng tạo độc đáo Việt Nam.
Là những sĩ quan tại Tổng hành dinh 40 năm trước trong thời điểm ấy, qua lưu bút công tác tham mưu, nay chúng tôi ghi lại về chiến thắng đặc biệt này.
Tình huống chiến lược
Sau những thắng lợi liên tiếp của quân và dân cả hai miền Nam Bắc trong mùa khô Đông – Xuân 1966 – 1967, ta đã tạo ra thế chủ động mới trên chiến trường.
 Bởi vậy trong giới quân sự chóp bu ở Lầu năm góc – từ Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara, cố vấn quân sự đặc biệt của Nhà Trắng tướng 4 sao Taylor, đến Tư lệnh chiến trường tướng 5 sao Westmoreland, đã đưa ra nhiều phương án khác nhau về cuộc chiến tranh này cho năm 1968. Trong đó 4 phương án được họ chọn lựa để đặt lên bàn Tổng thống:
Một là Tung ra tất cả tức mở rộng chiến tranh không giới hạn tại bán đảo Đông Dương. Washington chính thức tuyên chiến với Việt Nam.
Hai là Bám chặt đến cùng tức giữ nguyên trạng, tiếp tục chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” để chiếm đóng miền Nam lâu dài.
Ba là Thoái lui từng bước tức xuống thang chiến tranh, dần chấm dứt ném bom miền Bắc, mở ra điều kiện để thương lượng với Hà Nội.
Bốn là Rút ra khỏi cuộc tức Mỹ phải nhanh chóng đưa ngay quân viễn chinh về nước, thay mầu da xác chết của quân Mỹ bằng lính ngụy Sài Gòn.
Bản đồ ở Tổng hành dinh Bộ Quốc phòng về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Cầm đầu nhóm hiếu chiến là cố vấn quân sự Taylor đã kiến nghị với Tổng thống Johnson thực thi phương án Bám chặt đến cùng, còn Mc Namara thì lơ lửng – tiến lui đều khó, nhưng thiên về phương án thoái lui để thương lượng với đối phương (Bắc Việt Nam), Westmoreland thì ngả theo phương án với Taylor.
Hành trình quyết tâm và kế hoạch Tổng tiến công
Nắm thóp được sự lúng túng, bế tắc, phân hóa về chiến lược của Mỹ tại cơ quan đầu não Washington, từ đầu năm 1967, theo chỉ đạo của Bác Hồ và Bộ Chính trị giao cho Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng nghiên cứu soạn thảo kế hoạch quân sự Đông – Xuân 1967 – 1968, thực hiện một đòn chiến lược bất ngờ, tạo ra bước ngoặt lịch sử để buộc đối phương phải chịu thua theo ý định chiến lược của ta mà chính giới quân sự Mỹ đã nghĩ tới trong phương án Thoái lui từng bước, hoặc Rút ra khỏi cuộc.
Vấn đề cốt lõi của kế hoạch chiến lược này của Tổng hành dinh ta là tấn công tiêu diệt địch về chiến lược kết hợp với nổi dậy rộng khắp của quần chúng, tạo ra sự đột biến về cuộc diện chiến tranh theo ý định của ta.
Những tài liệu được giải mật của Tổng hành dinh quân đội ta cho thấy để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị phương châm, phương  án tác chiến để Quân ủy Trung ương báo cáo Bộ Chính trị và Bác Hồ:
Phát huy mọi sức mạnh tiến công tổng hợp lớn nhất của lực lượng vũ trang và quần chúng; bảo đảm tuyệt đối bí mật để tạo ra sự bất ngờ lớn nhất cả về không gian, thời gian và quy mô lực lượng mà đối phương không thể lường tới được; thực hiện những đòn đánh hiểm hóc, táo bạo, quyết liệt nhất, khiến đối phương không kịp trở tay.
Mục tiêu của cuộc tập kích chiến lược này là hướng vào các đô thị, nhất loạt đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, thị trấn, vào trung tâm đầu não, căn cứ quân sự, kho tàng của địch. Kết hợp tổng tiến công quân sự với nổi dậy của nhân dân.
Đây là một cách đánh với nghệ thuật dụng binh chưa từng áp dụng trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ cho tới thời điểm này mà Lầu năm góc ở Washington cũng như Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn không thể nghĩ tới.
Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đã trình bày khái quát khi báo cáo dự thảo kế hoạch này với Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chuẩn bị trình ra Hội nghị Bộ Chính trị.
Vào giữa tháng 5/1967, Bộ Chính trị đã họp với sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bí thư thứ nhất Lê Duẩn để nghe Bí thư Quân ủy Trung ương – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp báo cáo kế hoạch Đông – Xuân 1967 – 1968.
Qua bàn thảo, Hội nghị đặt vấn đề chủ yếu về tư tưởng chỉ đạo Đông – Xuân này ta phải tiếp tục nỗ lực lớn hơn nữa, giáng cho địch một đòn mãnh liệt cả quân sự và chính trị với sự khôn khéo về sách lược, giành thắng lợi với mức độ thích hợp, khiến cho Washingtơn từ chỗ do dự, ngập ngừng muốn thoát ra đến chỗ buộc phải nghĩ tới phương án “Thoái lui” qua đó ta mở cho đối phương một lối thoát, mà họ có thể chấp nhận được.
 Tháng 6/1967, Hội nghị Trung ương Đảng đã nhất trí với quyết định của Bộ Chính trị: Nhân lúc nước Mỹ bước vào cuộc vận động tranh cử Tổng thống, ta cần nỗ lực giáng cho chúng những đòn mạnh hơn để thay đổi cục diện chiến tranh, làm lung lay ý chí xâm lược của giới cầm quyền, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh.
Trên cơ sở quyết tâm ấy, từ Bộ Chính trị đến Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu đã vạch ra mục tiêu cụ thể để triển khai kế hoạch chiến lược này.
Đó là đánh thẳng vào sào huyệt, vào đầu não Trung tâm chỉ huy cuộc chiến tranh tại 3 thành phố lớn nhất miền Nam: Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế và các thành phố, thị xã, thị trấn khác, vào các kho tàng dự trữ trang bị kỹ thuật, cơ sở vật chất hậu cần, sân bay trên khắp miền Nam.
Trong đó Đại sứ quán Hoa Kỳ – Lầu năm góc phương Đông ở Sài Gòn là một trong những mục tiêu trọng yếu của cuộc tập kích chiến lược.
Chỗ dựa của ta để triển khai lực lượng ém sát vào các mục tiêu trước khi nhất loạt nổ súng vào giờ G. là “trận địa lòng dân” có tổ chức ngay trong hậu phương giữa lòng địch. Đó là bí quyết “lấy dân làm gốc” vận dụng trong chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Từ tháng 9 đến tháng 12/1967 và trung tuần tháng 1/1968, theo triệu tập của Trung ương, Tư lệnh và Chính ủy các chiến trường Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trị – Thiên, Mặt trận Đường 9, lần lượt ra Tổng hành dinh Hà Nội báo cáo tình hình và nhận nhiệm vụ.
Trong đó Trung ương Cục miền Nam đã ra làm việc ba lần với Hồ Chủ tịch, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng để tiếp nhận sự chỉ đạo của Trung ương và nhận kế hoạch cụ thể của Bộ Tổng tham mưu.
Đầu tháng 12/1967, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã họp để hạ quyết tâm “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới – Thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định”.
Tại Hội nghị, để chỉ đạo thực hiện quyết tâm chiến lược này, Bộ Chính trị đã bàn thảo xác định: Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong thời kỳ này là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng nước ta tiến lên một bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định, nhằm đạt các mục tiêu:
1. Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, giành chính quyền về tay nhân dân;
2. Tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, làm cho quân Mỹ không thực hiện được ý đồ chiến lược của chúng ở Việt Nam;
3. Trên cơ sở đập tan ý chí xâm lược của Mỹ buộc Mỹ phải chịu thua ở miền Nam, chấm dứt mọi hành động chiến tranh đối miền Bắc.
Về tình huống, Bộ Chính trị dự kiến tiến hành cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa này có thể diễn ra một trong ba khả năng.
Một là, ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, thành công ở các đô thị lớn và đập tan được các cuộc phản kích của địch, làm cho địch bị thất bại đến mức không gượng lại được nữa, đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng và phải kết thúc chiến tranh theo ý đồ của ta.
Hai là, giành được thắng lợi ở nhiều nơi, nhưng địch tập trung và tăng cường thêm lực lượng từ bên ngoài vào để giành  lại và giữ vững những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn – Gia Định, và dựa vào các căn cứ lớn để tiếp tục chiến tranh.
Ba là, Mỹ động viên tăng thêm nhiều lực lượng mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc Việt Nam, sang Lào và Campuchia,  hòng xoay chuyển cục diện chiến tranh.
Trong ba khả năng này, Bộ Chính trị cho rằng ta cần nỗ lực giành cho kỳ được thắng lợi cao nhất theo khả năng thứ nhất, đồng thời phải sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai, với khả năng thứ ba tuy ít hơn, nhưng phải luôn cảnh giác.
Chuẩn bị và cài thế
Với những nội dung cơ bản trên của Nghị quyết Bộ Chính trị, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14 (khóa III) vào cuối tháng 1/1968 đã nhất trí thông qua.
Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, để bảo đảm thống nhất lãnh đạo chỉ huy trong chiến dịch này ở miền Nam, Trung ương Cục miền Nam và Bộ chỉ huy Miền (B2) đã quyết định thành lập 2 Bộ Tư lệnh tiền phương: Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Bắc do các đồng chí Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh phụ trách các hướng Bắc, Tây Bắc và Đông thành phố Sài Gòn.
Bộ Tư lệnh tiền phương cánh Nam do đồng chí Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, Trần Hải Phụng phụ trách các hướng phía Nam, Tây Nam, các lực lượng biệt động  và chỉ đạo quần chúng nổi dậy ở nội thành Sài Gòn.
Ở Quân khu 5, Trung ương cử đồng chí Võ Chí Công làm Bí thư Quân khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu, đồng chí Chu Huy Mân làm Tư lệnh. Ở mặt trận Huế, Trung ương chỉ định đồng chí Lê Minh làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Chưởng làm Chính ủy (lúc này đồng chí Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Văn Quang là Tư lệnh Quân khu Thị - Thiên).
Ở mặt trận Đường 9 – Bắc Quảng Trị do đồng chí Trần Quý Hai, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Tư lệnh, đồng chí Lê Quang Đạo – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy.
Trước khi chính thức mở màn cuộc tập kích chiến lược vào Tết Mậu Thân, Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định mở mặt trận Đường 9 – Khe Sanh nhằm vừa tiêu diệt lớn, vừa giam chân phần lớn quân địch ở Đường 9, vừa nghi binh thu hút địch, tạo điều kiện cho các chiến trường phía Nam thực hiện kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy.
Ta tập trung tại mặt trận Đường 9 – Khe Sanh 4 sư đoàn bộ binh và 10 trung đoàn các binh chủng chủ lực của Bộ để mở đầu cuộc tấn công địch trên mặt trận này từ đêm 20/1/1968, là một bộ phận của cuộc Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân của toàn miền Nam.
Bị rơi vào bẫy, lãnh đạo Mỹ nghĩ Khe Sanh là chiến trường chính của ta trong Đông - Xuân 1968 và tập trung lực lượng để giữ.
Nổ súng
Đêm 30 rạng 31/1/1968 vào giờ giao thừa Tết Nguyên đán Mậu Thân, từ Thủ đô Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát băng Bác Hồ đọc thơ chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước. Lời Người vang vọng khắp non sông:
“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam – Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta”
Lời thơ chúc Tết của Bác, đồng thời là “hiệu lệnh” mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Các lực lượng vũ trang và đồng bào miền Nam đã nhất loạt tấn công và nổi dậy – trước hết là đánh thẳng vào 3 thành phố lớn nhất miền Nam – Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Tại Tây Nguyên ta đồng loạt tấn công vào Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kon Tum.
Ở đồng bằng Quân khu 5 ta tấn công căn cứ liên hợp Đà Nẵng, thị xã Hội An, Quy Nhơn, Sông Cầu, Nha Trang. Các tỉnh cực Nam Trung Bộ, đồng bằng Nam Bộ cũng đã khởi đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy cùng với Sài Gòn theo sự chỉ đạo thống nhất của Bộ Chỉ huy Miền.
Qua suốt 2 tháng đầu Tết Mậu Thân đến cuối tháng 3/1968, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực Mỹ, ngụy và làm tan rã từng mảng lớn ngụy quyền.
Trong đó 150.000 quân ngụy, 43.000 quân Mỹ bị loại khỏi vòng chiến đấu, 200.000 quân ngụy đào rã ngũ trong những ngày Tết. Bắn rơi 2.370 máy bay, phá hủy 1.700 xe tăng, xe bọc thép, 250 tàu xuồng.
Một khối lượng lớn với 1,36 triệu tấn vật tư chiến tranh– bằng 34% dự trữ của địch đã bị phá hủy. Ta đã phá 1.500 ấp chiến lược, bức hàng, bức rút 700 đồn bót, giải phóng thêm 1,2 triệu dân.
Với cuộc tập kích chiến lược không gian bao trùm toàn miền Nam, tiến hành đồng loạt với quy mô rộng lớn chưa từng có, ta đã giành thắng lợi to lớn toàn diện, với tầm chiến lược quan trọng, tạo nên cục diện mới trên chiến trường, địch lâm vào thế thảm bại nặng nề.
Ngày 31/3/1968, từ Washington, Johnson phải đơn phương ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận cử đại diện tới Paris để đàm phán với ta, và tuyên bố không ra tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ hai.
Còn Bộ trưởng Quốc phòng Mc Namara thì đã từ chức trước đó, Taylor bị cách chức, Westmoreland bị triệu hồi. Có thể nói đó là sự thừa nhận công khai sự phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, ý chí xâm lược của giới cầm quyền Nhà trắng bị giáng một đòn thối động làm lung lay tận gốc.
Bùi Đình Nguyên

Các báo nói về Mậu Thân 1968


Vào thời điểm bình thường, Sài Gòn có 39 tờ báo, mỗi ngày phát hành 800.000 số. Điểm lại những tờ báo cũ Tết Mậu Thân 1968 chúng ta thấy :
Báo Chính Luận (số Tất niên 27-01-1968). Về chiến sự Thiệu có phần lạc quan hơn : "Từ những chiến dịch lớn chuẩn bị chuyển sang tổng phản công năm 1965, địch đã bị đẩy dần vào thế giằng co cầm cự vào năm 1966 và đến nay dần dần rơi và thế phòng ngự... Các đơn vị cộng sản đã bị đánh bật rễ khỏi các chiến khu kiên cố. 95% vùng sản xuất lúa gạo và đông dân cư đã được kiểm soát trở lại".
Báo Sống Mới số Tất niên. Trang một dành trọn cho tranh hí họa nhiều cảnh, nhiều nhân vật. Nào cảnh 15.000 quân nhân được thăng cấp, còn sinh viên lại bị gọi lính. Cảnh học sinh đâm thầy và cảnh "Quốc hội" họp hành bát nháo. Cảnh binh lính Mỹ nghênh ngang đi đứng vì có luật pháp riêng và cảnh bọn tham nhũng hoành hành...
Các trang báo cũng đã không cho biết được gì về những dấu hiệu của một cuộc tập kích lớn sẽ bùng nổ ngay trong Têt! Trong khi ấy công nhân các cơ quan quân vận Mỹ, công nhân điện nước, công nhân thương cảng đã bãi công từ cuối tháng 12. Trong khi ấy ở một số trường đại học, sinh viên vẫn tiếp tục hội thảo chống sắc lệnh tổng động viên họ, và tên Ngô Vương Toại, một sinh viên phản động, bị biệt động Thành Đoàn bắn bị thương ngay ở diễn đàn Văn khoa trong một cuộc tuyên truyền xung phong ở đây vào ngày 16-12. Và trong khi ấy, Tết 1968 đã đến! Chợ Tết đã mở, Báo Chính Luận vào những số cuối năm, nói đến hội Tết của tổ chức "Thanh niên nguồn sống" ở 96 Lê Thánh Tôn, hội Tết của "Việt võ đạo" ở sân Hoa Lư, chợ Tết của cựu chiến binh ở đường Hiền Vương... nhưng không thấy nói đến một hội Tết có quy mô gấp bội đang được chuẩn bị ở Học viện Quốc gia hành chánh. Đó là Hội Tết Quang Trung do Tổng hội sinh viên Sài Gòn tổ chức, đó cũng là địa điểm của Thành Đoàn "đăng cai" phát động khởi nghĩa khi giờ G điểm. Bí mật về cuộc tiến công trong Tết vẫn được giữ kín trước dư luận.

Đợt 1
Chiến sự xảy ra quá bất ngờ không chỉ làm cho các bộ phận ngụy quân ngụy quyền lâm vào thế bị động mà các cơ quan báo chí, nhất là báo in cũng bị lúng túng, tê liệt. Nhiều tờ báo mãi đến giữa năm 1968 mới gắng gượng xuất bản lại. Nội dung và hình thức in ấn rất lôi thôi, luộm thuộm.
Tờ Chính Luận - nhật báo vẫn được tiếng "thân chính phủ", ít đưa tin bài đối lập, đã ra được sớm nhất, cũng sau nhiều ngày chiến sự. Trên số ra ngày 8-2-1968 chỉ đưa những tin hiếm hoi về hoạt động của quân giải phóng : "Trưa 7-2 vẫn còn đánh nhau tại khu Trần Nhân Tôn, Sư Vạn Hạnh", "Việt cộng dùng thiết giáp từ Lào kéo về tấn công căn cứ ở Quảng Trị". Tin bài bị kiểm duyệt đục bỏ khá nhiều nên trên mặt báo trang một, người đọc có cảm tưởng báo giống như một mảnh đất bị pháo kích, chi chít những lõm trắng. Có cả một mẩu quảng cáo nước hoa "Au printemps" đăng chình ình trên trang 1 để lấp bài! Những tin bài nào đã bị bóc bỏ nơi những khoảng trống đó?
Một điều lý thú là ta có thể tìm thấy trên báo Chính Luận tin và bài viết về hoạt động của "Ủy ban thanh niên cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc" với Trung tâm cứu trợ đặt ở số 4 Duy Tân! Trưởng trung tâm này là sinh viên Lê Công Giàu.
Báo cho biết Ủy ban chỉ có 4 sinh viên Y khoa, 12 dì phước, một bác sĩ mà hoạt động rất "trôi chảy". Nó đã phục vụ trực tiếp 200 người dù chỉ mới nhận một ít gạo và dầu của Bộ Xã hội và đã tổ chức chương trình sinh hoạt cho thiếu nhi để các em quên đi những cảnh đau lòng.
Lê Công Giàu là ai? Số 4 Duy Tân là địa điểm nào? Chỉ một thời gian sau, người ta mới được biết người cán bộ Tổng hội sinh viên ấy bị tống giam vì là một "phần tử cộng sản" trong tổ chức Thành Đoàn. Và đến ngày 3-8-1968 thì cảnh sát đã xông vào chiếm mất trụ sở 4 Duy Tân một điểm hẹn tập hợp lực lượng đấu tranh của sinh viên học sinh thành phố do những thanh niên cộng sản bí mật tổ chức.
Trong khi báo chí Sài Gòn hầu như không đưa tin nhiều và có được cái nhìn khái quát về cuộc tập kích đợt I, thì các phóng viên nước ngoài lại có vẻ "dễ ăn dễ nói" hơn.
Báo Pháp Le Monde ngày 1-2-1968 đã đặt câu hỏi cho người Mỹ: "Người Mỹ từng khẳng định rằng dân chúng Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng, giờ đây liệu họ có thể nêu lên những lý lẽ như thế nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng khâm phục về sức mạnh và lòng dũng cảm của Việt cộng như vậy?".
Báo Pháp Le Combat ra cùng ngày nói trên lại khẳng định: "Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt chính trị trong cuộc chiến tranh này. Những gì đã xảy ra ở Sài Gòn đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã nắm được các tầng lớp nhân dân trong mức độ to lớn biết chừng nào!".
Đài B.B.C. trong buổi phát ngày 6-2-1968 cho biết : "Trong mấy ngày này, quân đội cộng sản thâm nhập đã ăn cơm của nhân dân như người trong nhà họ".
Hãng thông tấn A.P của Mỹ dẫn lại lời kể của một Pháp kiều, giám đốc Công ty BGI : "Hàng trăm thanh niên sống ở vùng nhà máy rượu Chợ Lớn đã đi theo Việt cộng và được phát băng đỏ đeo cánh tay và được phát súng".
Thông tấn xã Reuter nhận xét "Điều có ý nghĩa nhất là Việt cộng được sự ủng hộ của các nhân sĩ liên minh với Việt cộng".
Báo Time đã không để lỡ cơ hội chạy trước tờ Newsweek, nó đã dành phần lớn số báo ra ngày 9-7-1968 cho chuyên đề "The days of death in Vietnam" (Những ngày chết chóc ở Việt Nam). Hình bìa của số báo này là bức họa chân dung đại tướng Võ Nguyên Giáp (báo Time vốn có nét truyền thống là sử dụng tranh họa chân dung của các nhân vật trên bìa báo!). Còn lại hơn 10 trang kế tiếp là tin bài hình ảnh về cuộc tập kích Sài Gòn mới xảy ra. Báo đăng những tấm ảnh màu ghi nhận quang cảnh tang thương của Tòa Đại sứ Mỹ sau khi bị biệt động Sài Gòn đột nhập. Ảnh lính Mỹ trúng đạn trên đường phố Huế. Báo Time có đoạn viết : "Double Trouble!" (Họa vô đơn chí!) Quân cộng sản đã tấn công đồng loạt Nam Việt Nam làm cho chính Washington cũng choáng váng. Bởi vì trong khi mọi cặp mắt đều đổ dồn về Khe Sanh nơi có 5 sư đoàn địch đang vây chặt như là một trận đánh then chốt thì thật bất ngờ địch lại tấn công cùng lúc 38 thành phố quan trọng, kể cả việc đánh vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và chiếm giữ nó sáu giờ rưỡi đồng hồ liền".
Báo Newsweek tuy tỏ ra chậm chân hơn nhưng để bù lại, đến số 11-3-1968, báo này đã kịp cho ra mắt bài tổng luận "The Tet offensive : how they did it" (Cuộc tiến công Tết : họ đã tiến hành nó như thế nào). Có lẽ đây là lần đầu tiên báo chí Mỹ dùng nguyên xi chữ Tết vào ngôn ngữ tiếng Anh để nói đặc thù của cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Sau này, nhiều sách báo Mỹ đều dùng như vậy.
Cùng tuần, tờ Time số ra ngày 8-3-1968 có bài "Saigon under siege" (Sài Gòn trong sự phong tỏa). Bài báo điểm ra nhiều chi tiết : Các phương tiện giao thông công cộng đình trệ. Cơ sở chính quyền chỉ làm việc ít tiếng đồng hồ vì sợ quân khủng bố Việt cộng. Giá cả lên cao. Bài báo nhận xét : "Sài Gòn chỉ sống có một nửa". Một phát hiện khác của phóng viên báo Time là những chiếc áo dài xuất hiện nhiều hơn trên đường phố thay cho những chiếc áo diêm dúa, lai căng. Ở một số quán rượu người ta thấy có một thức uống mang tên "Saigon tea" (Trà Sài Gòn) đã được chuyển thành "Saigon - Hanoi tea". Đi với bài trên là tấm ảnh những cao ốc của Sài Gòn trong đêm mà nhìn xa xa nơi ngoại ô là ánh chớp hỏa châu hay là những vệt đạn đại bác cũng chính là hình ảnh của tâm trạng hoảng sợ phập phồng, lo lắng bị giáng trả sau cuộc tiến công và nổi dậy vào ngày Tết.
Thế mà đợt 2 của "Việt cộng" lại tiếp tục nổ ra.
Đợt 2
Đợt 2 Mậu Thân bắt đầu vào ngày 5-5-1968. Sang tháng 6, lại thêm một đợt tiến công khác. Cường độ chiến tranh trong thành phố gia tăng dữ dội.
Hãng thông tấn AFP (Pháp) ghi nhận trong những ngày đầu tháng 5, máy bay Mỹ phải phóng bom lửa đốt hơn 16.000 nhà để ngăn chặn quân giải phóng ở nhiều khu vực. Mỹ còn dùng cả pháo đài bay B.52 để rải thảm bom ở ngoại ô Sài Gòn.
Hãng AFP nhận xét "Trong 40 ngày qua, số bom Mỹ ném xuống vùng phụ cận ở Sài Gòn đã bằng tổng số bom Mỹ ném ở Nam Việt Nam trong năm 1962, 1963, 1964.
Còn hãng AP thì đưa tin : "Tại Sài Gòn, người ta nghe tiếng nổ ầm ầm như sấm dậy của những quả bom 500 cân Anh, 700 cân Anh, của 20 chiếc B.52 ném một triệu cân thuốc nổ!".
Sài Gòn phải đội lửa như vậy nhưng báo chí Sài Gòn không nói hết chuyện ấy!
Báo Sài Gòn Mới, số ra ngày 7-5, cho biết giờ giới nghiêm mới ở Sài Gòn là 7 giờ tối và tòa đô chính phải kêu gọi đồng bào đừng ra đường nếu không có chuyện cần thiết.
Tờ Trắng Đen ra ngày 8-5, chạy hàng tít lớn : "Nhiều trận đánh (đục bỏ) còn tiếp diễn. Đại tá Lưu Kim Cương tư lệnh Tân Sơn Nhất tử thương (...). Việt cộng pháo kích tấn công 116 nơi. Xáp lá cà ở góc đường Đề Thám - Cô Giang. Việt cộng đánh ở đường Trần Quý Cáp, Phó Cơ Điều, Tòa hành chánh quận 5, truyền đơn của liên minh Trịnh Đình Thảo xuất hiện. 4 phóng viên ngoại quốc bị bắt ở đường Minh Phụng".
Tờ Tia Sáng, có tòa soạn ở trong khu vực hành quân - nên ra báo trễ - số ra ngày 7-5 có nhiều thông tin : "Theo BBC, Bắc Việt sẽ cứng rắn ở Ba Lê (đục bỏ). Việt cộng điều động (đục bỏ) để kéo dài cuộc tấn công. Chợ Lớn, Thị Nghè và gần Tân Sơn Nhất là ba nơi có đánh nhau trong ngày vừa qua, Phi cảng Sài Gòn đóng cửa".
Tờ tuần báo hiếu chiến Văn nghệ tiền phong số ra ngày 9-5-1968 có bài bình luận thời sự tán thành tổng động viên. Số kế tiếp, ra ngày 16-5, có bài lược thuật "Trận đánh Sài Gòn lần thứ 2". Riêng số ra ngày 23-5 thì có bài "tiết lộ" về những kỹ thuật quân sự của Mỹ để bảo vệ Sài Gòn. Nào là những "Bụi kim khí mắt thần" nào là các "luồng điện rada" phát hiện cả đoàn quân... Song cuối cùng bài viết này phải thừa nhận : "Nhưng dầu sao thì việc bảo vệ thủ đô cũng cần rất sớm sự có mặt của những đoàn biệt kích chuyên đánh trong thành phố. Điều này cần hơn là các lực lượng nhân dân tự vệ. Nhân dân tự vệ là để phòng ngừa, các đoàn biệt kích thành phố là để đánh thật, ít thiệt hại".
Đề cao quân chính quy như vậy cũng phải vì lực lượng nhân dân tự vệ đã tan rã.
Một sự kiện lúc này mà cả thế giới đã biết đến qua truyền hình và báo chí là cảnh thiếu tướng cảnh sát ngụyNguyễn Ngọc Loan bắn chết tù binh quân giải phóng ngay trên đường phố Sài Gòn. Hình ảnh trên đã lột trần bản chất phi nhân phi nghĩa, hung hăng của những tên tay sai Mỹ và do đó gây ra "phản tác dụng" trong dư luận của các nước thế giới tự do, vốn bị ngợp choáng bởi hình ảnh đế quốc Mỹ văn minh bấy lâu!
Chính vì vậy mà báo Time số 7-1968 khi viết về sự kiện này đã cố gắng lồng vào một lời thanh minh bên tấm ảnh Loan trỏ súng Mỹ vào màng tang tù binh : "Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan 37 tuổi, tư lệnh của 75.000 cảnh sát quốc gia đã lạnh lùng bắn chết một người cao gầy, sợ hãi nhưng bướng bỉnh, khả nghi du kích mặc áo ca rô và quần đùi, bị bắt trên đường phố Sài Gòn. Mặt vẫn không biến sắc và trên tay vẫn còn cầm khẩu P.38, tướng Loan nói với phóng viên truyền hình : "Vừa lúc nãy có mấy người Mỹ bị giết. Nhiều người bạn thân của tôi cũng bị vậy. Đức Phật sẽ hiểu cho tôi về hành động này, phải không?".
Chỉ ít lâu sau, trên gần khắp các tờ báo trong và ngoài nước, hình ảnh tướng "Sáu Lèo" (tức Nguyễn Ngọc Loan) lại xuất hiện. Trong trận đụng độ tại Hàng Xanh, y bị thương nặng đến thân tàn ma dại. Phải chăng Đức Phật đã mượn tay quân giải phóng để trả lời Nguyễn Ngọc Loan : "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo?"
Theo sách Mậu Thân Sài Gòn - NXB Trẻ 1988

Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn

Chấp hành Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng ngày 25.10.1967, Trung ương cục miền Nam ra Nghị quyết về tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa lấy miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định làm trọng điểm, hướng tiến công chủ yếu là Sài Gòn. Nghị quyết này còn được gọi là Nghị quyết Quang Trung.
Chiến dịch Xuân Mậu Thân ở Sài Gòn - Gia Định kéo dài gần 5 tháng gồm 2 đợt tiến công: đợt 1 từ 31.1.1968 đến 28.2.1968, đợt 2 từ 5.5.1968 đến 18.6.1968.
Trong chiến dịch này, riêng ở khu vực nội thành, ta đã sử dụng từ 15 đến 22 tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị đặc công, biệt động và lực lượng vũ trang địa phương gồm quận huyện, ban ngành, đoàn thể, kết hợp với các lực lượng chính trị và binh vận.
Vào đợt 1, giờ G, ngày N trên toàn miền được quy định là 00 giờ đến 2 giờ sáng mùng 2 Tết theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ huy, các cụm biệt động đã được phổ biến 48 giờ trước giờ G. Một việc đáng tiếc là do đổi lịch nên ở miền Bắc, Khu 5 và Tây Nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ, B2 (tức miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định) nhận được lệnh hoãn, nổ súng đúng lịch mới.
Kế hoạch của ta là: biệt động bất ngờ đánh chiếm mục tiêu và giữ trong khoảng 1 giờ chờ các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng thanh niên xung kích hoặc lực lượng địch binh biến đến hỗ trợ tăng cường và giữ mục tiêu luôn. Theo hợp đồng, "giờ G" được báo hiệu bằng những loạt pháo ĐKB bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và bộ Chỉ huy MACV, vị trí của tướng Óet-mo-len (Westmoreland), nhưng đã không thực hiện được.

Chờ mãi không thấy, 2 giờ sáng ngày 31.1.1968, bộ phận phối thuộc cho tiểu đoàn 268 phân khu 2 ở phía tây Tân Sơn Nhất bắn 8 quả 82 ly vào sân bay. Cả thành phố coi đó là hiệu lệnh tấn công. Đội biệt động nổ súng đúng giờ vào các mục tiêu dinh Độc LậpĐại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh, sân bay Tân Sơn Nhất. Riêng mục tiêu Tổng nha Cảnh sát, kho xăng Nhà Bè, Bộ tư lệnh hải quân thì không thực hiện được. Lực lượng ta chiếm một nửa sân bay Tân Sơn Nhất. Các tiểu đoàn do Bộ tư lệnh tiền phương Nam phụ trách cùng với các lực lượng bán vũ trang gồm cán bộ, công nhân viên, các cơ quan khu ủy, trung ương cục lọt sâu vào nội thành, kết hợp với lực lượng quần chúng, làm chủ một vùng rộng đến tận khu Ngã Sáu Chợ Lớn, Cầu Muối, Chợ Thiếc. Nhưng lượng chính qui không vào được thành phố nên cuối cùng phải rút lui.
Ý nghĩa lớn lao nhất của đợt 1 Tết Mậu Thân chính là đòn đánh "trúng sọ não" và sự bất ngờ về mọi mặt đối với địch. Việc quân dân ta đồng loạt tấn công vào hậu phương, sào huyệt của địch, "đưa chiến tranh vào đô thị" chính là điều choáng váng nhất đối với đế quốc Mỹ trong quá trình xâm lược Đông Dương. Ngày 31.1.1968 tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, chấp nhận chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, đồng ý thương lượng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu từ ngày 3.5.1968 tại thủ đô Paris.
Đợt 2 được bắt đầu lúc 0 giờ 30 phút ngày 5.5.1968, các loạt hỏa tiễn M.12, ĐKB bắn vào các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu, Sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Tân cảng Sài Gòn, Bộ tư lệnh Hải quân, Tổng nha cảnh sát.
Trong đợt này trung đoàn 1, sư đoàn 9, tiểu đoàn 6 Bình Tân, trung đoàn bộ binh 2 phân khu 2, các lực lượng vũ trang các ngành, giới, các quận đã mở diện tấn công rộng rãi và mạnh mẽ ở các khu phố quan trọng trong khắp nội thành diệt nhiều cảnh sát, mật vụ ác ôn. Tại cửa ngõ tây nam quân ta thọc sâu vào tận đường Tổng đốc Phương.
So với đợt 1, đợt 2 quân chủ lực tiến sâu hơn: chiếm ngã tư Hàng Xanh, phía bắc đường Chi Lăng, giữa thị xã Gia Định. Vào đợt 2, mặc dầu yếu tố bất ngờ về chiến lược không còn, nhưng ta tiếp tục "đưa chiến tranh vào thủ đô địch", riêng trong thành phố ta diệt nhiều sinh lực địch hơn đợt 1.
Với hai đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, ta đã chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một giai đoạn mới giành thắng lợi quyết định.
Sau cuộc tổng công kích và nổi dậy tết Mậu Thân ở Sài Gòn - Óet-mo-len đã viết về Mậu Thân và các báo chí cũng ghi lại cuộc tiến công mùa Xuân năm 1968.
Theo "Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TP. HCM"