Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Hoạt động đối ngoại nhân dịp Tết cổ truyền Quý Tỵ


Hoạt động đối ngoại nhân dịp Tết cổ truyền Quý Tỵ

Tối 7/2, tại khách sạn Borobudur ở trung tâm thủ đô Jakarta, Indonesia, Phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam tại Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã tổ chức tiếp tân đối ngoại nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc Quý Tỵ 2013 và chào mừng tân Tổng Thư ký ASEAN của Việt Nam.

Đến dự buổi tiếp tân có Tổng Thư ký ASEAN Lê Lương Minh, đại diện Bộ Ngoại giao nước chủ nhà Indonesia, Đại sứ-Trưởng phái đoàn đại diện các nước tại ASEAN, Đại sứ các nước ASEAN tại Indonesia, Đại sứ-Đại diện thường trực các nước tại ASEAN, Đại sứ các nước Đối thoại và các nước bên ngoài tại Indonesia, đại điện Đoàn Ngoại giao và các phương tiện truyền thông.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ-Trưởng phái đoàn đại diện Việt Nam tại ASEAN Vũ Đăng Dũng nhấn mạnh rằng tình hình khu vực và thế giới năm 2012 tiếp tục có nhiều biến động, đặt ra cho ASEAN cũng như từng nước thành viên những cơ hội mới cùng nhiều thách thức không nhỏ.

Đại sứ Vũ Đăng Dũng nêu rõ Việt Nam đã tiếp tục nêu cao tinh thần chủ động tham gia, đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào việc duy trì đà hợp tác và phát triển của ASEAN, đồng thời khẳng định trong năm 2013 Việt Nam sẽ phát huy hơn nữa vai trò thúc đẩy những nỗ lực chung xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội vào năm 2015, phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

Đại sứ Vũ Đăng Dũng gửi lời chúc Tết và cám ơn chân thành Đại diện thường trực các nước tại ASEAN, Đại sứ các nước đối thoại và bè bạn đã nhiệt tình ủng hộ, hợp tác tích cực với Việt Nam trong năm 2012 và mong muốn duy trì, phát huy hơn nữa mối quan hệ tốt đẹp trong năm 2013.

Đại sứ cũng chúc mừng Tổng Thư ký ASEAN đầu tiên của Việt Nam và bày tỏ tin tưởng ông Lê Lương Minh trong nhiệm kỳ 5 năm của mình (2013-2017) sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách, góp phần thúc đẩy các mục tiêu của ASEAN, cũng như tăng cường năng lực và đóng góp hiệu quả của Ban thư ký ASEAN.

Về phần mình, Tổng Thư ký Lê Lương Minh đã bày tỏ vui mừng và vinh dự được đảm nhận cương vị Tổng Thư ký của Hiệp hội, đánh giá cao nỗ lực tham gia đóng góp của Phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam tại ASEAN vào các hoạt động của Ủy ban các Đại diện thường trực tại ASEAN (CPR), và mong muốn Phái đoàn Đại diện các nước tại ASEAN tiếp tục hợp tác và hỗ trợ tích cực Ban Thư ký ASAN đáp ứng các yêu cầu thúc đẩy và hoàn thành các mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN.

Buổi lễ đã diễn ra trong không khí thân mật, ấm cúng. Các vị khách quốc tế đã cùng thưởng thức chương trình nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc và những món ăn trong ngày Tết truyền thống của Việt Nam.

Cùng ngày, trong không khí ấm cúng chào đón Tết cổ truyền của dân tộc, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đã tổ chức buổi gặp mặt thân mật mừng Xuân Quý Tỵ 2013 với sự tham gia của toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, cán bộ các cơ quan Việt Nam thường trú cùng đông đảo bà con Việt kiều, doanh nghiệp và các lưu học sinh đang sinh sống, học tập và lao động tại Bắc Kinh.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Đại sứ Nguyễn Văn Thơ bày tỏ vui mừng được đón bà con Việt kiều, lưu học sinh và cộng đồng Việt Nam tại Bắc Kinh về sum họp.

Đại sứ cho biết năm qua là một năm đáng ghi nhớ khi Đảng, Chính phủ đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tiếp tục giành được những kết quả quan trọng về mọi mặt; an ninh-chính trị tiếp tục được bảo đảm; kinh tế-xã hội tiếp tục có bước phát triển; đời sống nhân dân tiếp tục được chăm lo và cải thiện; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ tiếp tục được giữ vững; vị thế đất nước tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế.

Những thành tựu mà đất nước đạt được đó là kết tinh của ý chí quyết tâm, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên không ngừng của cả dân tộc, của sức mạnh đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng, của sự đóng góp quan trọng từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài - bộ phận không thể trách rời của đại dân tộc Việt Nam.

Thay mặt Đảng và Nhà nước, Đại sứ gửi tới bà con Việt kiều và toàn thể cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, công tác và học tập tại Trung Quốc tình cảm thân thương, sâu nặng của đồng bào trong nước cùng lời chúc năm mới tốt đẹp nhất.

Cũng nhân buổi gặp mặt cộng đồng Việt Nam và bà con Việt kiều tại Bắc Kinh, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đã tổ chức chiêu đãi giao lưu hữu nghị với Đại sứ quán Lào tại Trung Quốc.

Tham dự có Đại sứ Lào tại Trung Quốc Somdy Bounkhoum và phu nhân, toàn thể cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Lào và gia đình, cùng các lưu học sinh Lào đang học tập tại Bắc Kinh.

Phát biểu tại buổi giao lưu, Đại sứ Nguyễn Văn Thơ cho biết năm 2012 là "Năm đoàn kết hữu nghị Việt-Lào." Thông qua rất nhiều hoạt động phong phú, đa dạng và thiết thực kỷ niệm 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt-Lào, mối tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt là hợp tác toàn diện Việt-Lào tiếp tục được củng cố và phát triển.

Hai bên luôn ý thức sâu sắc rằng phát triển quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào vừa là lợi ích căn bản và thiết thân của hai dân tộc anh em vừa là quy luật của cách mạng hai nước trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai mà không một thế lực nào có thể phá vỡ.

Thay mặt Đại sứ quán Lào tại Trung Quốc, Đại sứ Somdy Bounkhoum bày tỏ lòng cảm ơn và vinh dự được tham dự mừng Tết cổ truyền dân tộc của Việt Nam trong bầu không khí ấm cúng, cho rằng hai Đại sứ quán Lào và Việt Nam tại Trung Quốc đã có mối quan hệ hợp tác thân thiết và truyền thống tốt đẹp.

Việc tổ chức mừng Tết cổ truyền Việt Nam năm 2013 đầy ý nghĩa trong không khí hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Lào-Việt năm 2012 vừa hoàn thành việc chào mừng hai ngày lịch sử quan trọng là kỷ niệm 35 năm Ngày ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác Lào-Việt và 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Lào-Việt.

Nhân dịp này, Đại sứ Somdy Bounkhoum chúc mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa Lào-Việt Nam đời đời bền vững./.
(TTXVN)

Tết cổ truyền của một số quốc gia Đông Nam Á

Tết cổ truyền của một số quốc gia Đông Nam Á
Các nhà nghiên cứu phong tục tập quán chia khu vực Đông Nam Á thành 4 nhóm quốc gia ăn Tết theo truyền thống. Đó là nhóm ảnh hưởng Trung Quốc (Việt Nam và Singapore); nhóm Hồi giáo (Indonesia và Malaysia); nhóm Tháng tư (Thái Lan, Lào, Campuchia và Myanmar) và nhóm theo dương lịch (Philippines). Mặc dù phong tục mỗi nơi mỗi khác, nhưng tất cả các nghi lễ, phong tục đón năm mới ở các nước đều cầu mong năm mới đem lại may mắn, hạnh phúc và an lành.

Lào
Tết đón năm mới của người Lào có tên là Bunpimay (còn gọi là Tết “Buộc chỉ cổ tay”, hay lễ hội “Hốt Nậm” - Té nước, cầu mong nước về, cho cuộc sống sinh sôi, đâm chồi, nảy lộc). Trong ngày Tết, người Lào rất chú trọng tới việc ăn món lạp, đặc biệt là các doanh nhân. Theo ngôn ngữ của nước này, lạp có nghĩa lộc. Lạp được xem như là linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem chúc nhau bằng món lạp. Gia đình nào nhận được nhiều món này thì hy vọng năm mới sẽ có nhiều lộc. Lạp ở đây thường được làm bằng thịt gà hay thịt bò tươi sau đó đem trộn với gia vị. Đặc biệt, món này mà không có thính thì sẽ làm giảm hương vị độc đáo của chúng. Trong mỗi gia đình, đặc biệt là những người làm nghề kinh doanh, món lạp thường được các đầu bếp làm rất công phu, vì nếu món này trong ngày Tết mà không ngon thì họ thường ví năm mới làm ăn có nhiều điềm xui. Trong ngày Tết nước Lào thường có tục biếu vải, biếu khăn cho người già. Ban ngày người ta đến đền chùa cầu nguyện. Vào buổi tối, mọi người tập trung ở chùa để vui chơi, biểu diễn âm nhạc truyền thống (morlam) và múa lam vong. Nếu làng nào đặt tượng Phật trong hang núi thì lễ tắm Phật gọi là Song Namphaphou. Các nhà sư và dân làng ăn trưa ngay tại núi sau khi làm lễ. Đặc biệt, người Lào sử dụng hoa trong ngày tết để cầu may, có hai loại hoa: hoa muồng (bò cạp vàng, hoa hoàng hậu) được người dân cài trên xe, trang trí trong nhà. Còn hoa Champa được người dân kết thành chùm hay cài trên tóc để cầu mong điều phước lành. Vào các buổi chiều, sư trụ trì hướng dẫn các nhà sư, ni cô và dân làng đi hái hoa tươi đem về chùa cúng Phật. Trong khi đi hái hoa người ta chơi trống và các nhạc cụ cổ truyền. Những người khác thì đem nước đến lau rửa hoa.
Campuchia
Trong dịp Tết, các đền chùa Campuchia thường treo cờ ngũ sắc và cờ Phật giáo. Trước khi đón năm mới, mọi nhà đều dựng bàn thờ để đón ông bà tổ tiên, trên bàn thờ thường thắp 5 nén nhang và 5 cây nến. Các gia đình cũng đắp 5 núi cát, có nơi đắp bằng trái cây, các loại bánh hoặc những chẽn lúa... Đêm giao thừa, dân nước bạn tổ chức rước thần Thê-vê-đa cũ đi, mời thần Thê-vê-đa mới về ngự trị. Mồng một làm thức ăn ngon vào chùa dâng Phật và bày cho sư sãi ăn. Các nhà sư phải gắp mỗi phần ăn một miếng để ai cũng được phước như nhau. Ngày mồng hai họ cũng dâng cơm vào chùa, làm lễ đắp 9 ngọn núi và cầu siêu cho những linh hồn siêu thoát. Mồng ba thì làm lễ tắm Phật, sau đó đua thuyền do một sư trưởng dẫn đầu cuộc thi. Ngày Tết ở Campuchia có màn múa Lân – môn truyền thống rất vui nhộn. Ngày tết cuối cùng, người ta căng một sợi dây ngang sông cho người đứng đầu địa phương chặt dây ra lệnh cho nước rút ra biển để dân cày cấy. Ngày đầu năm mới, mọi người trong nhà đều ngồi trước bàn thờ, chắp tay cầu nguyện Trời Phật để xin tận hưởng phúc lộc. Sau đó họ “diện” những bộ quần áo mới chỉnh tề đến viếng chùa, nghe sư đọc kinh cầu nguyện, tưới nước thơm vào tượng Phật, sư sãi. Ở nhà, người Campuchia dâng các loại bánh ngon lên ông bà cha mẹ, để chúc thọ và báo hiếu. Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố, lấy nước tạt nhau chúc mừng năm mới.
Thái Lan
Tết cổ truyền của đất nước Thái Lan có tên gọi là Songkran được tổ chức từ ngày 13-15/4 hàng năm. Đây là thời điểm người Thái tỏ lòng kính trọng với Đức Phật. Họ dọn dẹp nhà cửa, rũ bỏ những cái cũ, té nước lên nhau bằng xô, súng phun nước, bóng... những người càng được té nhiều nước càng may mắn. Lễ hội này có nét giống Lào và Campuchia, tuy nhiên mỗi nước có nghi thức lễ và hội có vài chi tiết khác nhau. Trong thời gian diễn ra lễ hội, nhiều cuộc diễu hành, thi sắc đẹp được tổ chức. Ngoài ra, người ta còn nấu các món ăn truyền thống và mặc các trang phục nhiều màu sắc. Tiếp đó là Wan Nao - ngày dành riêng để chuẩn bị đồ ăn trong những ngày lễ sắp tới. Theo tập tục, người dân sẽ tới bờ sông và thi nhau dựng các ngôi chùa bằng cát, mỗi hạt cát sẽ cuốn đi một tội lỗi. Ngày Wan Nao tương tự như ngày 30 của Tết cổ truyền Việt Nam. Wan Payawan là ngày đầu tiên của năm mới. Mở đầu là một số nghi lễ trên chùa vào lúc sáng sớm, người dân sẽ cúng đồ ăn và quần áo. Còn tại nhà, các bức ảnh của Đức Phật sẽ được lau và vẩy nước thơm. Wan Payawan cũng là ngày bắt đầu của lễ hội té nước. Cuối cùng là ngày Wan Parg-bpee - ngày để cầu nguyện, tưởng nhớ người già, tổ tiên và rắc nước thiêng. Songkran là Tết mọi người nghĩ tới người đã khuất nên họ thường chuẩn bị những bữa ăn thịnh soạn để cúng tổ tiên rồi tiếp đó mới vui chơi thỏa thích.
Myanmar     
Tết truyền thống của Myanmar có tên gọi là tết Thingyan trùng vào dịp lễ Phục Sinh của các nước phương Tây. Thingyan là thời điểm của ngày Bố Tát (hay Trai Giới), tương tự như ngày Sabbath (ngày Yên Nghỉ) của đạo Chúa. Của bố thí và các mâm lễ vật được dâng lên các nhà sư trong các nơi thờ tự, và một loại lễ vật gồm dừa non và thân dừa còn nguyên vẹn được kết thành vòng tròn và bó trong lá chuối xanh và các nhánh tha byay hoặc jambul đặt trước các di ảnh của đức Phật Thích Ca; di ảnh này sẽ được đổ nước thơm từ phía trên xuống trong nghi lễ tắm Phật. Trước khi trời tối, những cuộc vui thật sự bắt đầu với âm nhạc, hát múa, các trò hề và các trò bói toán… Những thiếu nữ địa phương đều mặc váy áo sặc sỡ, đầu đội vòng hoa và gắn kim tuyến. Họ bôi lên mặt loại phấn thơm từ vỏ cây Murraya paniculata, có công dụng như là một loại kem chống nắng và se lỗ chân lông, và cài hoa giáng hương có màu vàng rực, mùi thơm ngọt ngào lên tóc. Hoa giáng hương chỉ nở một ngày mỗi năm vào Tết Thingyan nên được gọi là “hoa Thingyan”. Ngày Tân Niên của Tết Thingyan là thời điểm mọi người viếng thăm người lớn tuổi và quỳ lạy để thể hiện lòng tôn kính cũng như dâng nước đựng trong các nồi đất nung và xà phòng thơm. Người nhỏ tuổi sẽ gội đầu cho người lớn tuổi, theo cách thức truyền thống là với hạt và vỏ của cây keo Acacia rugata. Cũng vào ngày này, người Myanmar quyên góp thức ăn ở nhiều nơi, đặc biệt là phát thức ăn miễn phí cho những người tham gia lễ hội năm mới.
Philippines
Tại Philippines, dù Giáng sinh là ngày lễ được chờ đợi nhất trong năm nhưng Tết dương lịch lại là ngày vui nhất, rộn rã và náo nhiệt nhất. Ở nơi đây, Giáng sinh là ngày để mọi người hồi tưởng quá khứ. Còn ngày tết thì có sự khác biệt. Đó là dịp để những người trong gia đình suy ngẫm về những chuyện đã diễn ra trong một năm qua, và cùng hướng về tương lai với những hi vọng tươi sáng. Đối với người Philippines, ngày tết biểu tượng cho sự thay đổi, hi vọng, cơ hội sửa sai và làm những điều tốt đẹp. Cách chào mừng ngày tết của người dân Philippines vừa chịu ảnh hưởng của phương Tây lẫn Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng mang những nét truyền thống đặc trưng. Những ngày giáp tết, hầu hết các gia đình Philippines đều thu dọn nhà cửa, kiểm lại đồ đạc, dẹp bớt những thứ không sử dụng hoặc vô giá trị. Trước đêm giao thừa, các gia đình bắt tay vào chuẩn bị bàn tiệc “Media Noche” để cả gia đình cùng thưởng thức vào đúng nửa đêm. Bàn tiệc thường có trái cây xếp theo hình vòng tròn, biểu thị những đồng tiền xu, với ước vọng đem lại may mắn về tài chính cho gia đình. Món chính thường là pancit (mì sa tế với gà và rau), gà rán, bánh gạo ngọt hoặc bánh pudding, cùng các món ăn truyền thống khác, trên bàn tiệc luôn phải có một chai rượu sâm banh hoặc rượu vang đỏ. Trước khi ăn, mọi người trong gia đình đọc lời cầu nguyện cảm ơn một năm đã qua và đón mừng năm mới. Trong bữa tiệc, các bà nội trợ thường mặc váy có chấm tròn, cũng là biểu hiện của đồng tiền xu. Người lớn sẽ chất đầy tiền xu vào túi trẻ nhỏ. Làm như vậy, họ mong muốn cả năm sẽ không phải lo lắng về chuyện tiền bạc. Sau bữa ăn, tất cả mọi người cùng làm mọi cách để gây ra những tiếng động rộn rã nhất và đốt pháo với niềm tin tiếng động sẽ xua đi ma quỉ. Những đứa trẻ sẽ chơi trò nhảy lên nhảy xuống, vì người Philippines tin rằng làm như vậy sẽ giúp bọn trẻ cao hơn. Những năm gần đây, Chính phủ Philippines hạn chế đốt pháo, do đó nhiều gia đình chỉ ở trong nhà ngắm pháo hoa tỏa sáng trên bầu trời. Trong ngày đầu năm, rất nhiều người Philippines có truyền thống ngồi liệt kê những thói quen xấu mà họ muốn từ bỏ, và đưa ra một bản danh sách những mục tiêu muốn hoàn thành trong năm mới... Mặc dù là quốc gia Đông Nam Á nhưng Philippines chịu ảnh hưởng của châu Âu. Đa số dân Philippines đều theo đạo Công giáo, tin lành nên ngôn ngữ chính của họ là tiếng Anh. Dân Philippines đón Tết cổ truyền từ trước lễ Giáng sinh. Ở vùng nông thôn, người Philippines leo lên các ngọn núi cao để cầu phúc kéo dài trong 9 ngày và chỉ chấm dứt vào ngày Noel. Trẻ con Philippines vào ngày Tết cũng được mặc quần áo mới, người lớn thì ca hát, ăn nhậu. Mỗi khu phố, bản làng đều có những cuộc chơi tập thể. Vùng quê đám thanh niên đeo mặt nạ giả thần núi nhảy múa chung với cả làng để cầu phúc, cầu may, cầu mùa màng bội thu và một năm mới tốt lành.
Indonesia
Indonesia là một quốc gia có nhiều tôn giáo và sắc tộc, do đó cách chào đón tết cũng rất đa dạng và khác biệt. Đó là tết của người Hồi giáo (Tahun Baru Hijriah), tết của người Hindu tại đảo Bali (Tahun Baru Saka) và tết cổ truyền theo kiểu Trung Quốc (Tahun Baru Imlek). Thông thường, nói chung các thành phố lớn đều bắn pháo hoa đón mừng năm mới. Thanh thiếu niên trên xe máy hoặc ôtô đổ ra đường đi diễu hành xung quanh thành phố, thổi kèn, đánh trống rất rộn rã. Những sân khấu ngoài trời mở cửa với hàng loạt hoạt động nghệ thuật như hát, nhảy, múa rối... Tết truyền thống của người Hồi giáo Indonesia được gọi là Tết Hijriah hoặc Hijra. Trong năm 2007, ngày lễ tết này rơi vào 20. Vào đêm Hijra, người dân tại Indonesia thường đến nhà thờ Hồi giáo nghe các giáo sĩ giảng đạo, đọc và lắng nghe kinh Koran, nghe những bài hát đạo Hồi. Một số tổ chức Hồi giáo mở cửa các chợ, cung cấp thực phẩm, tiền, dịch vụ y tế miễn phí cho dân nghèo, đặc biệt là người già và trẻ em. Nói chung, ngày lễ tết của người dân Indonesia theo đạo Hồi khá trầm lắng chứ không sôi động như ngày kết thúc tháng Ramadan. Khi đó, mọi người thường xin lỗi lẫn nhau vì những va chạm trong quá khứ và đi thăm cha mẹ. Phần lớn người theo đạo Hindu tại Indonesia sống tại đảo Bali, hòn đảo du lịch nổi tiếng. Ngày tết ở đây còn được gọi là Nyepi, được tổ chức vào ngày 19-3-2007. Ngày bắt đầu năm mới tại Bali vô cùng náo nhiệt và rộn rã. Tất cả dân làng cùng tập trung ở một khu vực để ăn mừng. Thức ăn được chuẩn bị trong hai ngày để phục vụ số lượng người tham gia đông đảo. Năm 2000, tết âm lịch Trung Quốc, hay còn được gọi là Imlek, chính thức được công nhận là ngày lễ quốc gia tại Indonesia. Trong những ngày này, múa lân trở thành hoạt động thường nhật tại nhiều thành phố, đặc biệt là các trung tâm mua sắm. Đối với người dân Indonesia, chứng kiến múa lân là một hoạt động vô cùng thú vị. Vào dịp Tết Imlek, các cuộc thi thể thao, biểu diễn thời trang liên tục diễn ra. Các khu chợ cung cấp thực phẩm, tiền cho người nghèo. Nhiều cửa hàng, trung tâm mua sắm tràn ngập màu đỏ và hình trang trí kiểu Trung Quốc. Những người gốc Trung Quốc tại Indonesia cũng hay có thói quen gửi thiếp mừng năm mới tặng bạn bè và người thân.
 Đoàn Gia  - Đại học Quốc gia Hà Nội

Độc đáo phong tục Tết cổ truyền của người Thái


Độc đáo phong tục Tết cổ truyền của người Thái

Khi màn sương còn phủ dày không gian, bước chân trên con đường quanh co vào bản người Thái nằm lọt thỏm trong thung lũng Mường Lò, tôi đã nghe xung quanh rộn lên tiếng người cười nói, tiếng lợn réo, và đâu đó thoảng lẫn trong sương sớm, hương khói bếp đang ấm lên những rộn ràng.
Đó là cảm nhận đầu tiên của tôi khi bước chân vào Bản Cại, xã Thạch Lương, thị trấn Nghĩa Lộ, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, một bản của người dân tộc Thái đen vào buổi sáng sớm một ngày giáp Tết.

Độc đáo phong tục ăn tết của người Thái đen

“Nhất Thanh – nhì Lò – tam Than - tứ Tấc”. Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía bắc, cùng với Mường Thanh - Điện Biên – , Mường Thanh – Than Uyên và Mường Tấc – Phù Yên là những địa danh nổi tiếng khắp vùng Tây Bắc. Nếp Tú Lệ, tẻ Mường Lò đã thành danh từ lâu. Hương  thơm của hạt gạo nơi này đã bay xa, vượt núi non đến nhiều nơi được rất đông người biết đến. Cùng đến chung vui ngày tết với người dân tộc Thái đen ở Mường Lò mới thấy hết những nét độc đáo trong phong tục đón tết truyền thống của người dân tộc Thái đen nơi vùng cao Tây Bắc này.

Người Thái ở Việt Nam có khoảng hơn một triệu người, chủ yếu sống ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An. Đối với người Thái ở nhiều vùng, thường 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất tong năm sau đó là nghỉ ngơi chơi Tết. Sáng ngày 27 hoặc 28, ông trưởng bản chủ trì tổng vệ sinh cho cả bản. Tối 29 thì các nhà bắt đầu gói bánh chưng và chuẩn bị đồ tết trong từng nhà.

 
Trong ngày Tết, những trò chơi dân gian như tung còn, ném còn, xòe, lượn giao duyên … sẽ diễn ra khắp đầu thôn, cuối bản.

Người Thái thường gói hai loại bánh chưng màu đen và màu trắng. Để làm bánh màu đen, họ đốt rơm lên, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch muội tro mà vẫn giữ lại màu đen. Nhiều nơi không cho nhân bánh. Người ta quan niệm hương vị của tết ở trong bánh chưng chủ yếu thể hiện ở hương vị của lá dong, và đó cũng là cái chủ yếu để dâng lên tổ tiên (ma nhà ).

Sáng 30, các nhà luộc bánh chưng và thịt lợn. Tối 30 là bữa cơm tất niên, có sự góp mặt  của bà con, bạn bè, rồi cả đêm người ta thức uống rượu, hương không bao giờ tắt. Sau lễ cúng giao thừa bằng thịt, bánh, các đồ thổ cẩm, bạc nén … nhà nào có chiêng hay cồng thì mang ra gõ tại nhà.

Cũng không thể không nhắc tới phong tục gọi Tổ tiên “ma nhà” của người Thái. Vào tối 28, 29 hoặc 30 Tết, gia đình người Thái thịt hai con gà, một con gà để cúng tổ tiên, một con gà dùng để gọi tổ tiên trong nhà về ăn tết. Khi làm lễ gọi “ma nhà” gia đình mời thầy cúng trong bản lấy của mỗi người một chiếc áo, bó lại một đầu với nhau, vắt lên vai, tay thầy cầm một thanh củi đang cháy, rồi mang ra đầu làng gọi hồn 2, 3 lần , sau đó về chân cầu thang lại gọi một lần nữa. Xong việc, thầy cúng đích thân buộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà, sợi chỉ đó phải để tự đứt, nếu dứt đứt thì chủ nhân dễ bị ốm.

Sáng mùng một người Thái dậy sớm, múc nước luộc bánh chưng cho mỗi người uống một ít. Phụ nữ trong nhà hôm mùng một tết được đem xôi đã đồ ra quạt ở giữa gian cúng “ma nhà”. Sau đó, người ta dọn ra 2 hoặc 3 mâm cúng, mâm đặt trên cao là để cúng tổ tiên nhà chồng, còn mâm thấp hơn cúng tổ tiên nhà vợ. Cúng xong, tất cả con trai trong nhà để cho phụ nữ ăn trước, và chỉ như vậy mỗi ngày mùng một tết (hàng ngày, phụ nữ thường ăn sau hoặc ăn cùng đàn ông).

Bữa cơm tết của người Thái có một món không thể thiếu, đó là cá suối với các món nướng, chua, khô gác bếp, bánh chưng sừng trâu và các món rau thập cẩm … Người Thái kiêng vứt lá dong xuống gậm sàn, kiêng quét nhà vào ngày mùng một tết. Tối ngày mùng một họ đã làm lễ tạ ơn. Trong ngày Tết, những trò chơi dân gian như tung còn, ném còn, xòe, lượn giao duyên … sẽ diễn ra khắp đầu thôn, cuối bản. Đây là dịp để thanh niên nam nữ người dân tộc Thái cùng vui chơi, tìm hiểu nhau.

Rộn ràng ngày Tết trong Bản Cại, Mường Lò

Ngày 29 Tết chưa phải là ngày chính tết nhưng lại là một ngày đặc biệt với mọi gia đình, mọi người dân trong bản. Bởi vào ngày này tất cả gia đình đều mổ lợn từ sáng sớm, chuẩn bị mâm cơm cúng thần linh và “ma nhà”  “những người thân đã mất”, mời thần linh và “ma nhà” về cùng gia đình tất niên năm cũ, chuẩn bị một năm mới nhiều may mắn.

Mờ mờ sáng, tôi bước chân trên con đường quanh co vào bản người Thái nằm lọt thỏm trong thung lũng Mường Lò. Khi màn sương còn phủ dầy không gian sớm, tôi đã nghe xung quanh rộn lên tiếng người cười nói, tiếng lợn hộc lên eng éc, và đâu đó thoảng lẫn trong sương sớm, hương khói bếp đang ấm lên những rộn ràng. Nhà nhà trong bản đều đang mổ lợn, rửa lá dong, chuẩn bị những loại thức phẩm tươi ngon để đón mừng năm mới.

Chúng tôi vào thăm nhà ông Hoàng Văn Hào để cùng hưởng không khí tết. Ông Hào chia sẻ: “Gia đình năm nay mổ lợn to để ăn tết, con này 70 kg. Nhà ông sẽ gói hơn 100 cái bánh chưng để cảm ơn mọi người đến chúc tết gia đình. Gia đình sẽ ăn tết đến khi nào hết thịt, hết bánh thì mới thôi. Năm nay lúa tốt, gia đìnhh có nhiều thóc, nuôi được nhiều gà, nhiều lợn nên phải ăn tết dài, thịt lợn to, gói nhiều bánh. Như thế thì thần linh và “ma nhà” sẽ vui, sẽ phù hộ cho gia đình sang năm mới được no đủ hơn, nhiều thóc, nhiều lợn hơn …”.

Sau khi thịt lợn, gia đình soạn một mâm bao gồm thủ lợn và mỗi bộ phận của con lợn thì lấy một miếng cùng với rượu, tiết, gạo, muối và vải trắng, tất cả bày thành một mâm để ngoài sân để cúng thần linh. Nhà nào có điều kiện thì sẽ nhờ thầy mo cúng hộ, nếu không thì sẽ để người đàn ông cao niên trrong gia đình làm lễ cúng. Kết thúc việc cúng lễ thần linh thì sẽ soạn hai mâm cơm khác, một để cúng “ma nhà”, mời “ma nhà” về ăn tết và một để cúng những người là con dâu trong gia đình đã qua đời. 

Ông Hào chia sẻ: “Chỉ người Thái đen mới có phong tục này, những người con dâu khi còn sống có công phụng dưỡng gia đình và thờ cúng ông bà tổ tiên nhà chồng, thế nên khi chết đi, gia đình phải làm cơm cúng riêng cho họ để tỏ lòng biết ơn”. Năm nay nhà ông Hào mời được thầy mo trong bản về cúng thần linh, vậy nên ngoài những mâm cơm cúng, vợ và mấy người con gái, con dâu còn làm thêm hai mâm cơm nữa để mời người thân đến ăn bữa cơm cuối cùng trong năm của gia đình.

Cuối cùng, tiệc rượu luôn là lúc vui vẻ và đông đủ nhất trong những ngày này. Cả gia đình quây quần xung quanh mâm cơm và chuyện trò những câu chuyện trong năm cũ, nói những mong muốn của mình trong năm mới. Sau bữa tiệc, nếu chưa say thì các gia đình sẽ gói bánh chưng, nếu say thì sẽ gói bánh vào ngày hôm sau. Bánh chưng sẽ được luộc vào sáng ngày 30 tết để đến khi vớt bánh, những chiếc bánh đầu tien sẽ được bày trên mâm cơm cúng mừng năm mới vẫn phảo còn bốc hơi. Nếu như vậy thì năm mới sẽ được tốt hơn, nhiều may mắn hơn năm cũ.

Tối ngày 30 tết, ban thờ đặt tại một góc trang trọng và riêng biệt ở góc gia phòng chính sẽ được dọn sạch sẽ. Mâm cơm cũng có gạo, muối, gà và thịt lợn được bày lên để cúng giao thừa mừng năm mới. Cả gia đình thay quần áo mới, những người phụ nữ mặc trang phục truyền thống của người thái. Ông Hào là người đàn ông lớn tuổi trong gia đình sẽ làm lễ cúng thần linh mừng năm mới. 

Sau lễ cúng giao thừa, cả gia đình cũng ngồi bên mâm rượu, uống bát rượu đầu tiên trong năm và chúc mừng những điều may mắn, sung túc cho cả gia đình. Trong mâm rượu, ông Hào cho biết: "Sau ngày mùng một tết, mọi người sẽ đi chơi và chúc tết họ hàng và các gia đình trong bản, đi chúc ở đâu thì uống rượu, ăn cơm ở đó. Chiều mùng một sẽ làm lễ tạ, sau đó thì thanh niên nam nữ sẽ đi chơi xuân, người Thái sẽ chơi tết cho đến hết ngày mùng 10 âm lịch mới thôi".

Chia tay gia đình ông Hào trong ngày mùng một tết, khi những hương vị ngày tết cổ truyền trong bản thái vẫn còn thấm đậm trong men rượu lâng lâng, trong vị bánh chưng thơm bùi và những lời hát chúc mừng rộn ràng vang vọng. Một cái tết truyền thống mang những sắc màu văn hóa độc đáo của người Thái ở vùng cao nhưng lại có không ít điểm tương đồng với người ở miền xuôi khiến cho ai nấy đều có cảm giác gần gũi và ấm áp.
Pháp luật & Cuộc sống

TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM


Tết cổ truyền Việt nam


Gà là một trong những món cúng Tổ tiên trong dịp Tết Khai hạ

Một năm, người Việt có nhiều ngày Tết. Mỗi một ngày Tết đều mang một sự tích, hàm chứa nhiều ý nghĩa, nét đẹp văn hoá đặc sắc khác nhau.  
Tết Nguyên Đán
Riêng Tết Nguyên Đán (đúng mồng Một tháng Giêng âm lịch) là ngày Tết lớn nhất. Đây là thời điểm mọi người nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau và cũng là lúc giao thời của Đông tàn Xuân tới.
Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của gia đình. Chiều 30 Tết, nhà nhà làm lễ cúng "rước" gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày Tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Trước tiên là cuộc "gặp gỡ" của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vị tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà. Thứ hai là cuộc "gặp gỡ" tổ tiên, ông bà, những người đã khuất. Nhân dân quan niệm, hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết. Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà.
Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm Tết đến, dù đang ở đâu làm gì, hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

Tết Khai hạ
Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng với gà, mùng Hai - chó, mùng Ba - lợn, mùng Bốn - dê, mùng Năm - trâu, mùng Sáu-ngựa, mùng Bảy - người, mùng Tám - lúa. Trong 8 ngày đầu năm, cứ ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc.
Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Đán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai hạ - Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.

Tết Thượng nguyên
Tết Thượng nguyên (Tết Nguyên tiêu) vào đúng rằm tháng Giêng-ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền vì Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Thành ngữ: “Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng" xuất phát từ đó. Sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cỗ.

Tết Hàn thực
"Hàn thực" nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này, vào ngày mùng Ba tháng Ba (âm lịch). Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công tử Trùng Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng mình nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi! Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Điền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được. Vua sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy! Đau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi. Hôm ấy đúng ngày mùng Ba tháng Ba.
Người đời thương Tử Thôi nên mỗi năm, đến ngày đó thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn. Từ thời Lý (1010 - 1225), nhân dân ta đã tiếp nhập Tết này và thường làm bánh trôi, bánh chay để thay cho đồ nguội. 

Tết Thanh Minh 
 "Thanh Minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"  (Truyện Kiều)
"Thanh Minh" có nghĩa là trời trong sáng. Nhân có người ta đi thăm mồ mả của những người thân. Tết Thanh minh - thường vào tháng Ba âm lịch, trở thành lễ tảo mộ. Đi thăm mộ, nếu thấy cỏ rậm thì phát quang, đất khuyết lở thì đắp lại cho đầy…

Tết Đoan ngọ
Tết Đoan ngọ (Tết Đoan dương) vào mùng Năm tháng Năm (âm lịch). Khuất Nguyên là một nhà thơ, vị trung thần do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng là mùng Năm tháng Năm.
Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, người dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên. Ở Việt Nam, ít người biết chuyện Khuất Nguyên, mà chỉ coi mùng Năm tháng Năm là "Tết giết sâu bọ" vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh.
Lấy lá ngải cứu (một vị thuốc Nam), năm nào kết hình con vật tượng trưng năm đó (năm Thân - kết con khỉ và gọi là Hầu Tử, năm Dần - kết con cọp và gọi là Ngài Hổ...) treo lên giữa nhà để trừ tà. Về sau, khi có bệnh, lấy lá đó sắc làm thuốc. Lại có tục đi hái lá thuốc mồng Năm (ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối) sắc uống vào giờ Ngọ.

Tết Trung nguyên
Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bảy. Người xưa tin theo sách Phật, coi hôm ấy là ngày vong nhân được xá tội, ngày báo hiếu cha mẹ... nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu Lan. Vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch có 2 ngày lễ cúng:
- Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: "Tháng 7, ngày rằm xá tội vong nhân" (tha tội cho tất cả người chết), nhiều người gọi là cúng cô hồn các đẳng. Quan niệm dân gian cho rằng, đây là lễ cúng những linh hồn vật vờ lang thang không nơi nương tựa, không còn người thân ở trần gian để thờ phụng hoặc thất lạc hoặc vì một oan khiên nào đó...
- Cũng ngày Rằm tháng Bảy còn có lễ Vu Lan, xuất phát từ tích truyện Đại Mục Kiều Liên. Vu Lan được coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà, cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu. Trong những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục "Bông Hồng cài áo".
 
Tết Trung thu
Tết Trung thu vào Rằm tháng Tám. Trung thu là Tết của trẻ con nhưng người lớn cũng nhân đây mà họp mặt, uống rượu, uống trà, ngắm trăng... Thường ban ngày người ta làm lễ cúng gia tiên, tối mới bày hoa quả, bánh kẹo, chè cháo để trẻ con vui chơi, phá cỗ, trông trăng, rước đèn...

Tết Trùng cửu
Mùng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Thời Hán, có người tên gọi là Hoàn Cảnh, đi học phép tiên. Một hôm, thầy bảo Hoàn Cảnh khuyên mỗi người trong nhà nên may một túi lụa đựng hoa cúc, rồi lên chỗ cao mà trú ngụ. Quả nhiên, ngày Chín tháng Chín có lụt to, ngập hết làng mạc. Nhờ làm theo lời thầy, Hoàn Cảnh và gia đình thoát nạn.
Từ xưa, nho sĩ nước ta đã theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc - gọi là thưởng Tết Trùng dương.

Tết Trùng thập
Đây là Tết của các thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì đến ngày Mười tháng Mười, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời, trở nên tốt nhất. Ở nông thôn Việt Nam, đến ngày đó người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc chứ không quan tâm mấy đến chuyện cây thuốc, thầy thuốc.

Tết Hạ nguyên
Hạ nguyên (Tết Cơm mới) vào Rằm hay mùng Một tháng Mười. Ở nông thôn, Tết này được tổ chức rất lớn vì đây là dịp nấu cơm gạo mới trước để cúng Tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cấy.
 


Tết Táo quân
Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.
Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau đó, người vợ lấy được chồng giàu. Một hôm, đang đốt vàng mã ngoài sân, thấy một người vào ăn xin, nhận ra chính là chồng cũ nên người vợ động lòng, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ. Người vợ đâm khó xử, lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ nặng tình, cũng nhảy vào lửa chết theo. Người chồng mới ân hận, đâm đầu vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp".
Từ sự tích đó mới có tục thờ cúng "Táo quân" và trong dân gian có câu: "Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một bà". Ngày nay, cứ đến phiên chợ 23 tháng Chạp hàng năm, mỗi gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà bằng giấy và 3 con cá làm "ngựa" (cá chép hóa rồng) để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và 3 con cá chép được mang thả ở ao, hồ, sông.../.

Hồn cốt của người Việt ăn Tết theo âm lịch

Hồn cốt của người Việt ăn Tết theo âm lịch

(VnMedia) – “Sự giản tiện đánh mất đi một kho di sản văn hóa. Ở đây mình phải giải quyết hệ thống nghi lễ, hệ thống giá trị văn hóa chứ không phải chỉ là chuyện ăn tết theo thời gian” – GS.TS Ngô Đức Thịnh phản bác lại ý kiến nên chuyển ăn tết cổ truyền theo lịch dương.
Trong số nhiều ý kiến phản bác về quan điểm “Tết hội nhập” của GS Võ Tòng Xuân, không ít người cho rằng, Tết dương lịch chỉ là món ăn thêm, là thứ gia vị mới với người dân Việt. Còn hồn cốt của người Việt, vẫn phải là ăn Tết theo lịch âm, ăn Tết cổ truyền với cả hệ thống giá trị văn hóa từ trong gia đình tới ngoài xã hội.
Đầu xuân năm mới, phóng viên VnMedia đã có buổi trò chuyện với GS.TS Ngô Đức Thịnh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hoá tín ngưỡng Việt Nam về việc có nên đón Tết hội nhập hay không?
 Ảnh minh họa
 GS.TS Ngô Đức Thịn

- Thưa GS.TS Ngô Đức Thịnh, Tết âm luôn có ý nghĩa linh thiêng với người Việt. Vào ngày này, tự dưng nói chuyện ăn tết âm theo lịch dương, Giáo sư nghĩ gì?
Tôi có đọc sơ sơ qua của giáo sư Tòng và giáo sư Huy. Nhưng tôi nghĩ, Tết là văn hóa chứ không phải là một hiện tượng đơn lẻ.
Tết là ngày sum họp, từ 23 ông Táo chầu giời đến ngày mùng 7 hạ cây nêu hoặc tới 15 Trung nguyên với hàng loạt các sự kiện văn hóa mang dấu ấn truyền thống Việt Nam. Tôi nghĩ, liệu mình có thể rinh cả một hệ thống tết sang tết dương lịch được không. Bởi vì, nó không đơn giản là vấn đề thời gian, thời điểm văn hóa thuần túy mà là một hệ thống kéo dài suốt cả tháng với nhiều sự kiện, phong tục, nghi lễ mang ý nghĩa về không gian, môi trường.
Truyền thống tốt đẹp đó để mất đi thì rất khó. Không thể xê dịch, lại càng không thể xóa hết trí nhớ của con người Việt Nam về việc bỏ Tết cổ truyền. Nếu Tết dương lịch diễn ra tất cả những gì của Tết âm lịch thì sẽ hay, nhưng chuyện đó không đơn thuần là thời gian sống. Chúng ta đánh đổi một cái phong phú mang ký ức con người sang cái thuần túy thời gian trống không thì nó vô nghĩa.
- Tuy nhiên, không ít ý kiến lại cho rằng, chuyển ngày nghỉ lễ sang tết dương sẽ là một cách để hội nhập văn hóa?
Nếu đánh đổi theo kiểu lấy thời gian tiện với thế giới thì không nên đánh đổi làm gì vì chúng ta mất đi nhiều quá, đánh đổi không ngang bằng. Sự giản tiện đánh mất đi một kho di sản văn hóa. Ở đây mình phải giải quyết hệ thống nghi lễ, hệ thống giá trị văn hóa chứ không phải chỉ là chuyện ăn tết.
Tôi thấy không có gì là gay cấn lắm trong chuyện này. Chuyện thời gian hoàn toàn là do chúng ta thôi.Nhưng tôi nghĩ, nếu chúng ta chuyển thời gian thì phải chuyển cả hệ thống văn hóa, không đơn giản để làm việc đó.
Nghỉ nhiều đang là xu hướng kích cầu của thế giới. Việt Nam chúng ta đang là nước chưa phải có nhiều ngày nghỉ, như thế, khó để kích thích tiêu dùng, du lịch để tăng chất lượng đời sống.
Nếu để song song ăn cả tết dương và tết âm như nhau thì còn lâu lắm. Chúng ta là những người duy lý, khó chấp nhận. Người dân cả hàng trăm nghìn năm nay đã ăn sâu cội rễ chuyện ăn tết âm, thì sao họ chịu đánh đổi.
- Việc nghỉ tết âm quá lâu dẫn đến nhiều biến tướng khiến việc đón Tết cổ truyền mất đi ý nghĩa thiêng mà chỉ là dịp để hội tụ, bài bạc khiến cho nhiều ý kiến càng phản đối về cách ăn tết âm?
Biến tướng hay không là do mình, chứ không phải vì ăn tết âm. Đó là sự quản lý xã hội thôi. Tôi nghĩ, dù ăn tết theo ngày nào cũng thế, không thể chạy trốn những cái phong tục cũng như những cái hệ lụy đi theo nó. Đó là nhu cầu xã hội, không phải thấy biến tướng thì bỏ đi.
 Ảnh minh họa
 

- Nhưng có phải thực tế là, cách ăn tết của người Việt Nam giờ đây phần nào đã khác xưa, thưa Giáo sư?
Đến năm nay thì tôi đã ăn gần 70 cái tết rồi. Cảm giác tết nào có giống cái nào đâu. Mỗi năm tết nó lại khác nhau. Với người Việt Nam, tết nó có thể lặp lại tất cả nhưng nó cũng không lặp lại, luôn có cái mới làm cho đời sống đa dạng phong phú hơn. Quan trọng là giữ được tính đa dạng của đời sống con người.
Bản thân tết âm lịch cũng có cái thay đổi chứ không giữ như ngày xưa. Ví dụ giờ người ta quan niệm tết là sum họp nhưng đâu chỉ sum họp ở nhà mà còn đi du lịch Singapore, sang các nước khác du lịch. Đó là xu hướng hưởng thụ văn hóa của người Việt Nam.
Bây giờ, đời sống vật chất không quan trọng lắm, người dân quan tâm tới đời sống tinh thần nhiều hơn. Đặc biệt, vấn đề đời sống tâm linh lại rất được chú trọng chứ không phải giảm đi. Con người bây giờ gặp nhiều biến động chông chênh, muốn tìm chỗ dựa tâm linh đó cũng là điều dễ hiểu thôi. Đó là nhu cầu mới của con người, nó không những mất đi mà nó lại còn tăng lên theo xu hướng chung.
- Vậy cá nhân ông, ông có phản đối chuyện đón tết theo lịch dương như một vài nước đã làm để hội nhập với thế giới?
Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á vẫn đón tết theo cổ truyền. Đây là vấn đề đồng văn văn hóa. Tôi nghĩ mình chẳng việc gì phải chuyển theo một số nước khác.
Tôi nghĩ, vấn đề môi trường rất quan trọng. Tôi đã vào miền Nam ăn tết một lần và thề sẽ không bao giờ ăn tết ở đó nữa. Liệu chuyển sang tết dương, chúng ta sẽ còn phong tục cúng ông Công, ông Táo; còn làm lễ tất niên, giao thừa.
Lúc này, hệ thống tính lịch sẽ không còn gắn với vấn đề môi trường, khí hậu, cảnh quan và yếu tố sinh học trong mỗi con người. Không khí đêm giao thừa với tiết trời mù, mưa bụi liệu có thể có được vào tháng 12?
- Với người dân Việt, cũng như nhiều nước Đông Nam Á khác, tết cổ truyền mới được coi là sự mở đầu cho một năm may mắn, thành công. Thời điểm đó là không thể thay thế đúng không thưa Giáo sư?
Đúng. Tết là sự mở đầu tạo nhiều nét văn hóa cho con người. Đó là chu kỳ mở đầu, kết thúc gắn với khí hậu, cảnh quan, tâm trạng của con người.
Nếu không có tết thì không biết đời sống con người như thế nào, sẽ là một chuỗi liên tục không có mở đầu, kết thúc. Nếu con người không có thời điểm tạo nên hy vọng thì con người sẽ như thế nào.
Vì thế, người dân Việt Nam mình vẫn mong chờ cái tết để kết thúc năm cũ với nhiều phiền muộn, mong chờ một năm mới tươi sáng, mới mẻ hơn với nhiều hy vọng và kỳ vọng hơn.
Xin cảm ơn GS. Ngô Đức Thịnh về cuộc trò chuyện ý nghĩa đầu năm này!

Thiên Lam

Bun Pi May – Tết cổ truyền ở Lào


Bun Pi May – Tết cổ truyền ở Lào

Giữa tháng 4, khi gió mùa tây-nam thổi, mưa mùa sắp rơi, bắt đầu năm mới ở nhiều nước trong khu vực Ðông – Nam Á, Tết cổ truyền Bun Pi May của Lào (lễ hội năm mới) hay Lễ hội Hốt Nậm (Té nước), cầu mong nước về, cho cuộc sống sinh sôi, đâm chồi, nảy lộc.
Mỗi quốc gia trên thế giới đón năm mới theo phong tục và truyền thống riêng. Ðể chào đón năm mới, mỗi nước lại có những lễ hội độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Năm mới của nhân dân các bộ tộc Lào bắt đầu từ ngày 13 đến ngày 15/4 dương lịch. Theo truyền thống cách đây hàng nghìn năm, mỗi khi Tết đến xuân về, người Lào lại tổ chức lễ hội té nước. Trong lễ hội này, người dân Lào và cả khách du lịch nước ngoài, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo đều cùng hưởng niềm vui, niềm hạnh phúc của một ngày hội thực thụ.

Người Lào sống hiền lành và thiên về điều thiện. Trong ngày Tết, vui nhất là ở các chùa chiền. Người ta cho nước thơm (nước ngâm từ các loài hoa thơm) vào lọ, vào bình, vào xô, chậu… để tắm cho Phật, cho các nhà sư. Cầu mong trong năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống no đủ, đất nước thanh bình, thịnh vượng.
Tục té nước ngày Tết cổ truyền Bun Pi May của Lào còn có nét đặc trưng là trong những ngày này không kể dù lạ hay quen, dù có hay không có địa vị trong xã hội cũng đều được gia chủ tiếp đón ân cần như nhau và được thể hiện sự quý trọng bằng những “gầu” nước dội lên khắp người khi đến thăm.

Người được té nước nhiều, áo quần ướt đẫm, càng sung sướng vì tin rằng mình sẽ gặp nhiều may mắn trong năm, đồng thời cũng như sự minh chứng là mình được nhiều người yêu mến. Ngày đầu năm, ngoài tục vẩy nước, té nước còn diễn ra nhiều trò vui, khỏe gắn với sông nước, trong đó nhộn nhịp nhất là các cuộc đua thuyền. Tỉnh nào hầu như cũng mở hội đua thuyền. Mỗi vùng đều có các loại thuyền đua đẹp khác nhau, trang trí rực rỡ và độc đáo. Nhiều nhất là thuyền rồng, có thuyền độc mộc khoét từ một thân cổ thụ quý từ trên rừng già, có thuyền sơn son thếp vàng và khảm xà cừ những hoa văn lạ mắt. Những phường bạn chèo, mặc đồng phục đủ mầu, mái chèo loang loáng… Thuyền lướt sóng trước hết là liên hoan gặp mặt hằng năm tay bắt mặt mừng của đại biểu rừng đại ngàn với dòng chảy lớn của con sông Mẹ để dân làng bày tỏ sự tri ân với các vị Thần nước, với tổ tiên đã phù hộ cho được yên ổn làm ăn phong đăng, hòa cốc.

Những người không ra xem hội đua thuyền, lại có thú đón Tết bằng trò vui khác cũng từ sông nước. Họ rủ nhau ra bờ sông, xúc những xe cát đầy chở về đắp thành những núi cát nhỏ quanh các gốc cây cổ thụ nơi sân chùa. Ðỉnh núi cát, có cờ đuôi nheo, cờ phướn bằng những dải lụa mầu sắc. Có người chăng trên đỉnh và sườn núi cát những chỉ ngũ sắc. Trẻ em chạy vòng quanh các núi cát, người lớn ngắm nhìn và trò chuyện vui vẻ bên những công trình nghệ thuật và cầu nguyện sang năm mới có nhiều điều phúc như hạt cát trên núi sẽ đến với mọi người. Nhiều gia đình trong những ngày này lại ra sông thả cá, kiểu như lễ hội phóng sinh ở cố đô Huế của ta. Ngày hội thả cá trên sông cũng tấp nập không kém các trò vui khác. Dân Lào coi việc phóng sinh cá trong ngày Tết, để ước vọng quê hương mình trù phú, trên cánh đồng lúa thơm, dưới sông nước đầy cá béo.

Nhưng có một lễ hội được đông đảo người Lào tham gia trong ngày Tết là rước nữ chúa xuân. Tập tục này có từ thời xa xưa. Nữ chúa xuân, là nàng Xẳng Khản, một trong bảy người con gái của Thần bốn mặt – vị thần có công đem những điều tốt lành cho dân Lào. Theo đó, mỗi năm trước lễ hội, người ta thi hoa hậu để tuyển bảy cô gái đẹp người, đẹp nết, làm ăn chăm chỉ và giỏi giang trong cuộc sống. Ðến giờ hoàng đạo, đoàn rước nữ chúa xuân thật tưng bừng. Một cô gái đóng chúa xuân một tay gươm, một tay cầm vòng lửa cùng sáu người em gái xiêm y rực rỡ ngồi trên xe mui trần trang hoàng lộng lẫy. Trong đoàn diễu hành, người ta mang mặt nạ Pu Nhơ và Nha Nhơ, theo truyền thuyết là người đàn ông và đàn bà đầu tiên sinh ra dân tộc Lào. Ði theo đoàn rước là một dòng người nối tiếp nhau vừa đi, vừa múa hát trong tiếng trống vang lừng. Người bên đường tươi cười té nước mát cho đoàn hội, chúc nhau những lời đẹp nhất của năm mới.
Những năm gần đây, Bun Pi May đã mang những nội dung mới. Ðó là dịp các cơ quan, công sở họp mặt tổng kết công tác năm vừa qua và phát động đợt thi đua mới để năm tiếp theo có thêm nhiều thành tích mới. Tiếp đó, là các hoạt động vui chơi giải trí được tổ chức với nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn phù hợp đặc điểm dân cư, tập quán của từng vùng. Ðối với người Lào, vui là chính, ăn uống là phụ. Ở đâu có tiếng trống nổi lên và điệu múa lăm vông làm xốn xang lòng người thi ở đó vui thâu đêm suốt sáng.
Vui từ trong nhà ra ngoài ngõ, vui làm cho đêm lăm vông như ngắn lại, nhưng dù vui đến mấy người Lào vẫn giữ được bản chất hiền hòa, lối ứng xử mềm mại và luôn coi trọng giá trị nhân bản. Chính vì vậy mà ở tất cả các cuộc vui chơi không hề xảy ra chuyện to tiếng, cãi vã hoặc ẩu đả nhau làm ảnh hưởng sự bình yên vốn có của bản làng.

Tết cổ truyền và vấn đề tái tạo, phát triển vốn văn hóa nông thôn


Tết cổ truyền và vấn đề tái tạo, phát triển vốn văn hóa nông thôn

báo Văn hóa Nghệ An
TẾT hãy còn Thiêng
Khởi nguyên, Tết là một nghi lễ chuyển mùa, rồi dần được nâng lên thành một thứ siêu lễ hội của nhiều xã hội nông nghiệp trên thế giới, đặc biệt là ở các cộng đồng làm lúa nước vùng châu Á gió mùa. Từ một sinh hoạt mang đậm màu sắc tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền - trong đó con người tìm cách giao cảm với các lực lượng siêu nhiên đặng kiếm tìm một sự bảo trợ cho đời sống thế tục, theo thời gian, các chức năng của Tết ngày càng trở nên đa dạng. Tết trước hết là dịp để con người hướng về tổ tiên, cội nguồn. Tết là sự kiện để con người làm mới và gia cố các quan hệ cộng đồng trước khi trở lại với chu kỳ vận hành quen thuộc. Tết còn là thời điểm để con người cộng thông với vũ trụ trong bước chuyển mình hứa hẹn những điều mới mẻ của nó. Và, khi cuộc mưu sinh còn chồng chất khó khăn thì con người cũng mong ngóng Tết để được “cải thiện” nhu cầu áo cơm.
Trong quá khứ, sự hội tụ của tất cả các chức năng nói trên khiến cho Tết mang một ý nghĩa đặc biệt. Tết đồng nghĩa với cái thiêng, cái mới, cái hi vọng. Người Việt Bắc bộ cổ truyền xem Tết là biểu tượng của niềm vui (vui như Tết) và dành cả tháng Giêng để vui xuân (Tháng Giêng là tháng ăn chơi). Trong khi đó, với người Việt vùng cao, chẳng hạn Tây Nguyên, người ta dành hẳn ba tháng đầu năm (mùa Ninh Nong) để mặc sức chơi Tết. Cách ngày nay chưa lâu lắm, vào mùa Ninh Nong, theo tục lệ cổ truyền, nhiều cộng đồng ở Tây Nguyên sẽ tạm bỏ buôn làng, theo bước thủ lĩnh vào tận con nước đầu nguồn để sống lại cuộc sống nguyên thủy hồng hoang giữa một thiên nhiên trần trụi, nguyên sơ, phóng khoáng. Thẳm trong sinh hoạt nguyên thủy ấy là một minh triết tế vi: đôi khi, con người cần trở về đằm mình giữa thế giới tự nhiên để rũ bỏ những váng cặn, làm lành những tật nguyền, phục chế những năng lực mà nó đã mất đi trong quá trình vật vã tách khỏi tự nhiên để đi vào xã hội loài người, xã hội văn hóa.
Bước sang thời kì hiện đại, các chức năng của Tết dần thay đổi. Với quá trình thế tục hóa toàn bộ đời sống xã hội (kể cả đời sống tôn giáo tư tưởng) và sự tiến bộ của điều kiện vật chất, vai trò của Tết chủ yếu biểu lộ trên bình diện tinh thần. So với quá khứ, con người hiện đại trở nên duy lí, tự chủ và sung túc hơn. Nhưng cuộc sống con người vẫn luôn cần đức tin, cộng đồng, nguồn cội. Nghịch lí của cuộc sống hiện đại là cá nhân trở nên cô đơn, lạc lõng và có nguy cơ tha hóa giữa một xã hội ngày càng tối tân nhưng cũng đầy rủi ro, bất trắc. Trước tình thế này, con người phải nương vào sự bổ trợ của các nguồn lực ngoại tại. Các phương pháp tu tập, các lễ hội hay các sự kiện cộng đồng chính là các loại vốn xã hội đặc biệt, một thứ “của kho vô tận” mà cá nhân có quyền sử dụng để chữa trị những chấn thương tâm lí hay kích hoạt sức đề kháng tinh thần. Do vậy, ngay tại các khu vực có trình độ phát triển cao như châu Âu, Bắc Mỹ hay Đông Á, con người vẫn háo hức chờ đợi các lễ hội thấm đẫm tinh thần cộng đồng và nhân văn.
Ở Việt Nam - một quốc gia nông nghiệp đang trên đà chuyển đổi, tính chất phức tạp, khắc nghiệt, khó lường của cuộc sống hiện tại càng thúc đẩy con người (đa phần trong số họ còn duy trì liên hệ với thế giới làng xã) tìm lấy một chốn an trú tinh thần trong các sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn, mà Tết là tâm điểm của những sinh hoạt đó. Tết lay thức những phức cảm đặc biệt trong mỗi người: ý thức hướng nguồn (tổ tiên, bản quán), tình cảm cộng đồng hay ước vọng tái tạo - chuyển tiếp - hồi sinh. Rõ ràng, với một cộng đồng duy cảm như người Việt, Tết hãy còn là một thực tại hiện hữu. Trong một chừng mực nào đó, Tết hãy còn Thiêng.
Tái sinh các giá trị của Tết cổ truyền: nhu cầu và kì vọng
Tuy nhiên, có một thực tế khác đang khiến nhiều người băn khoăn: sinh hoạt Tết cổ truyền ngày một trở nên nghèo nàn, tẻ nhạt. Vấn đề nên được “đọc” như thế nào? Theo chúng tôi, diện mạo đương đại của Tết cổ truyền là hệ quả của một vấn đề lớn - một vấn đề đang chứa đựng những điểm bất cập: cách thức khai thác, quản lí Tết - kì thực là quản lí, khai thác một thứ siêu lễ hội, một biểu trưng của vốn văn hóa cộng đồng trong khung cảnh hiện đại hóa nông thôn - không gian cổ truyền và đặc trưng của Tết Việt.
 Đặc điểm cơ bản của Tết nông thôn hiện nay là sự thiếu vắng một không gian văn hóa để con ngườichơi Tết theo nghĩa sang trọng nhất của từ này. Ở đa phần nông thôn Việt Nam, trong ngày Tết, ngoài một vài công việc quen thuộc (tân trang nhà cửa, tảo mộ, sắm Tết, chúc Tết và... bù khú), người ta gần như không tìm thấy bất cứ hình thức sinh hoạt nào cho phép thỏa mãn nhu cầu chơi xuân và thưởng xuân. Nghĩa là, bản thân môi trường nông thôn đang trở nên bất lực trong việc đáp ứng các nhu cầu văn hóa của những chủ thể tồn tại trong đó. Cho nên, con người cảm thấy tẻ nhạt và nhàm chán dù đang nhập thân vào một sự kiện đặc biệt như Tết và đang đón Tết ngay giữa quê hương. Không đủ sức tái sinh, sáng tạo và phát triển các giá trị của riêng mình, nông thôn đành đi theo và bắt chước đô thị. Thành ra, Tết nông thôn hiện nay là sự gá lắp tự phát giữa những tập quán cũ còn sót lại với các kiểu sinh hoạt mang hơi hướng thị thành. Đoạn kí họa Tết ở một làng miền Trung được dẫn ra dưới đây sẽ giúp hình dung rõ hơn bức tranh Tết hiện đại:
...“Nhưng Tết quê giờ đã khác xưa. Người làng đã có tiền để ăn Tết cho thật đàng hoàng. Không mấy người rủ bố tôi lên núi chặt đào phai nữa. Một chậu quất trĩu quả hay một cành đào đất Bắc tuy đắt nhưng sang hơn nhiều. Hàng xóm đã thôi giã thịt, quây bột làm giò. Bánh chưng gói ít thôi, vì gói nhiều cũng không ai ăn, hoài của... Bạn bè tôi, mỗi đứa một phương, nhờ Tết mới hội ngộ. Nhưng gặp nhau thật không dễ. Muốn tìm bạn, chỉ còn cách đến quán café. Bạn đến thăm nhà, ngồi chưa ấm chỗ đã rủ tôi “đi quán”... Đêm xuống, làng vắng hẳn. Không còn những cảnh chúc Tết thân mật như thuở trước. Có chăng chỉ người lớn đi thăm nhau. Thanh niên dồn lại trong các tụ điểm café, karaoke. Cha mẹ muốn tâm tình với con cái cũng chịu, lặng lẽ ngồi bó gối xem ti vi và chờ điện thoại những đứa ăn Tết ở xa gọi về. Trẻ con miễn cưỡng xách bánh trái đi mừng tuổi người quen. Vì tiền lì xì không hấp dẫn bằng phim hoạt hình, nhạc Xuân Mai, quán nét. Chiều mồng Bốn Tết, không khí được hâm nóng chút ít nhờ trận bóng giao lưu giữa kẻ ở người về. Nhưng tan bóng thì tan vui, ai về nhà nấy. Mấy người xa xứ lâu ngày, gặp bố tôi phàn nàn: “Tết bây giờ khác quá anh ạ. Chẳng hơn gì cuộc giỗ, ngày rằm. Biết thế, bọn em đã không về”(1).
Về bản chất, bộ mặt Tết phản chiếu tình trạng xuống cấp của đời sống văn hóa nông thôn. Thực tế, sau những biến động dồn dập diễn ra suốt một thời gian dài, cơ tầng văn hóa - xã hội nông thôn đã bị xáo trộn mạnh. Nông thôn đã mất đi nền tảng vô cùng vững chắc của nó đúng vào thời điểm Mở Cửa, để rồi nếm trái đắng sau một quá trình cộng sinh với vô số thượng vàng hạ cám tràn về từ thế giới bên ngoài. Tỉnh giấc sau viễn mộng đô thị hóa - công nghiệp hóa, ngoài một vài thành quả an ủi (điện khí hóa, bê tông hóa, viễn thông hóa) nông thôn đã thôi không còn là bệ đỡ dồi dào, vững chãi mà chỉ còn là sân sau để mua vui và bị động tiêu thụ những hạ phẩm của văn hóa đô thị.     
Như vậy, thực tế nông thôn đang đặt ra đòi hỏi và nhu cầu tái tạo, phát triển các giá trị của Tết cổ truyền theo một cách hiệu quả và hợp lí hơn. Nếu nhìn trên bình diện tổng quát thì đó còn là nhu cầu tái tạo, phát triển một nguồn vốn cộng đồng trong bối cảnh tập trung các nguồn lực nhằm hiện đại hóa nông thôn. Quá trình ấy cần được bắt đầu bằng việc xác lập một không gian sinh hoạt cho toàn thể cộng đồng. Có thể chấm phá các đường nét chính của không gian đó như sau: Tái tạo sinh hoạt lễ hội và các sự kiện cộng đồng - bao hàm các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các khu vực nông thôn từ lâu đã tắt ngấm các sinh hoạt lễ hội hay sinh hoạt cộng đồng theo đúng nghĩa của nó; Phát triển mạng lưới tổ chức cộng đồng (gồm những người có chung sở thích, nhu cầu hay quyền lợi) nhằm hình thành quan hệ gắn kết giữa các thành viên với nhau và giữa họ với cộng đồng, từ đó thúc đẩy tính năng động xã hội ở từng cá thể; Phục chế các không gian công cộng chuyên trách các chức năng văn hóa - xã hội bên cạnh các không gian hành chính của nhà nước (đình làng, chùa làng...); Và, điều quan trọng nhất, nhân dân phải là chủ thể đích thực của quá trình đổi mới các giá trị của Tết cổ truyền, trong đó giới trẻ là lực lượng nòng cốt. Nghĩ cho cùng, nhân dân mới là người hiểu hơn ai hết nhu cầu và tâm tính của mình, và cũng biết hơn ai hết những hình thức sáng tạo nhằm gìn giữ và trao truyền các giá trị văn hóa tập thể của họ.  
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các đường nét vừa nêu chính là con đường khả dĩ giúp nông thôn dần tái tạo nền tảng văn hóa và sức sáng tạo muôn đời của nó. Điều này không những giúp nông thôn giữ được thế cân bằng trước làn sóng đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra như một xu hướng khó cưỡng, mà còn giúp cho sự phát triển thuần thục của con người nông thôn trong quá trình nhập thân vào môi trường bên ngoài. Trong chiều hướng ấy, công năng của Tết cổ truyền, với tư cách là một thứ siêu lễ hội của cộng đồng, sẽ còn được phát huy nhiều hơn nữa trong sinh hoạt nông thôn.
Có thể nói rằng, đã đến lúc cần phải nghĩ về Tết theo một cách khác với những gì chúng ta vẫn quan niệm lâu nay. Ăn Tết hay đón Tết không đơn thuần là thực hiện một tập quán xưa cũ, mà còn là nghệ thuật tổ chức một sự kiện văn hóa nhằm tái tạo, phát triển một nguồn vốn cộng đồng vẫn đang thực sự hữu dụng cho cuộc sống đương đại. Vậy nên, câu chuyện Tết cổ truyền vừa được xới lên không chỉ giới hạn trong phạm vi thảo luận của giới “làm” văn hóa; mà cần được chuyển hóa thành những suy tư và thao tác cụ thể của toàn xã hội.