Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn hiện nay

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn hiện nay
                                                                                                                 Thái Nguyễn Đức Minh Quân
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời cũng là đội tiên phong của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Đảng cũng là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, nhưng Đảng đồng thời cũng là bộ phận cấu thành chính trị, một bộ phận của xã hội. Có thể nói rằng vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu, khách quan trong sự nghiệp Đổi mới để khẳng định Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhận thức được điều đó, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) khẳng định: “Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của dân, do dân và vì dân[1]. Trong khuôn khổ của bài viết này, tác giả xin trình bày khái lược vấn đề nhà nước pháp quyền trong lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam; về Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Đảng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xa hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trước tiên khi muốn làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng với nhà nước pháp quyền, chúng ta tìm hiểu xem “Nhà nước pháp quyền” có từ bao giờ ? “Nhà nước pháp quyền” là gì ? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền; nhưng nhìn chung, các quan điểm này cho rằng nhà nước pháp quyền hình thành do các yếu tố cụ thể như: tính tối cao của luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của chính nhà nước[2]; cơ chế phân chia quyền lực thành 3 cơ quan quyền lực kìm chế và đối trọng nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp; dân chủ, xã hội công dân và quyền con người… Như vậy, “nhà nước pháp quyền” là một khái niệm có nội hàm khái niệm rộng lớn, thể hiện trong mối quan hệ biện chứng: Nhà nước và pháp luật, nhà nước và xã hội công dân, dân chủ. Từ những quan điểm đó, người ta đưa ra nhiều định nghĩa về “nhà nước pháp quyền” nhưng tựu chung thì có định nghĩa chung như sau: Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao động, khoa học và hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tự pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân dạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người. Nhà nước pháp quyền chỉ hoạt động được dựa trên nguyên tắc: chính quyền chỉ có nhiệm vụ thực thi quyền lực mà văn bản pháp luật đã soạn ra và công bố rộng rãi; nguyên tắc đó đặt ra nhằm ngăn ngừa sự cai trị độc đoán hay chuyên quyền[3]. Nhà nước pháp quyền (ở bất kỳ nước nào) đều đó những đặc điểm sau: (1) nó là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất để quản lý xã hội dựa nền tảng đạo đức; (2) xác lập và có cơ chế hữu hiệu để đảm bảo tính tối cao của luật trong các hệ thống văn bản pháp luật; (3) pháp luật trong nhà nước phải có tính khách quan và công bằng, nhân đạo phù hợp đạo đức và lợi ích chính đáng của con người; (4) quan hệ nhà nước – công dân là bình đẳng, công dân có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nhà nước, ngược lại nhà nước phài chịu bồi thường thiệt hại tài sản, nhân phẩm cho nhân dân về các quyết định sai trái của mình; (5) nhà nước tổ chức hệ thống ba cơ quan phải cân bằng quyền lực, kiểm soát lẫn nhau; (6) nhà nước đảm bảo quyền tự do của cá nhân với tổ chức của họ trên pháp luật, đạo đức xã hội…
Nhà nước pháp quyền có từ bao giờ ? Câu hỏi này đã được nhiều người đặt ra từ rất lâu và các nhà khoa học đã cố gắng đi tìm câu trả lời. Trải qua một thời gian dài suy nghĩ và tìm tòi, cuối cùng họ tìm ra đáp án: nhà nước pháp quyền đầu tiên và sơ khai xuất hiện ở Hy Lạp – Roma cổ đại, là những nước có nền kinh tế thủ công nghiệp – thương nghiệp phát triển và người dân có quyền dân chủ cao hơn các nước cùng thời. Ở hai quốc gia này, bộ máy nhà nước đã được phân chia thành 3 cơ quan là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Theo pháp lệnh của Périklès (Hy Lạp) thì: Đại hội nhân dân nắm quyền lập pháp, Hội đồng nhân dân nắm quyền hành pháp và Tòa án nhân dân nắm quyền tư pháp[4]. La Mã thì tổ chức cũng 3 cơ quan, nhưng chỉ thay đổi tên gọi. Với tổ chức bộ máy quy củ như vậy thì chính quyền có điều kiện đề ra luật pháp cai trị đất nước, kêu gọi nhân dân phát huy quyền dân chủ của mình trong bầu cử, ứng cử… vào các cơ quan nhà nước. Cũng chính cấu trúc nhà nước hoàn chỉnh như vậy đã nảy sinh ra ý tưởng về nhà nước pháp quyền đầu tiên. Socrates là người đầu tiên đề ra ý tưởng “nhà nước pháp quyền” . Bằng luận điểm: “Quyền lực căn cứ không phải trên luật pháp, mà trên thói chuyên quyền của người cầm quyền, quyền lực như vậy chống lại nhân dân[5], ông nhận định dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật; con người phải tuân thủ pháp luật nhà nước. Platon kế tục xuất sắc tư tưởng của Socrates. Trong tác phẩm “Nền cộng hòa”, ông cho rằng người cầm quyền phải cai trị theo pháp luật chứ không được theo ý chí, pháp luật thuộc về tập thể. Aristotle và Ciceron lại cho rằng, nhà nước khi được xây dựng thì phải công minh, công bằng và đúng đắn về mặt tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật, có như thế quốc gia mới phồn thịnh được.
 Đến thời trung – cận đại, ý tưởng này đã được củng cố và có nhiều bước phát triển mới. Vào thế kỷ XVII, John Locke (1632 – 1704) đưa ra Học thuyết phân chia quyền lực, đặt cơ sở cho việc thành lập nhà nước pháp quyền. Theo ông, nhà nước pháp quyền sẽ có 3 cơ quan chính: lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời đề ra khế ước xã hội nhằm tạo sự ràng buộc giữa các cơ quan trong chính quyền. Có thể nói, Locke là người đầu tiên xây dựng lý thuyết về nhà nước pháp quyền, “một chính thể nhà nước tự do chủ nghĩa đứng đối lập với chế độ quân phiệt, chế độ chuyên chế và nền bạo chính[6]. Tiếp theo, Montesquieu và Rousseau đã củng cố thêm học thuyết pháp quyền tư sản của Locke. Montesquieu chủ trương phân chia 3 loại quyền lực không phụ thuộc nhưng kiểm soát lẫn nhau đó là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Người dân được làm chủ[7] (được tự do bầu cử, ứng cử vào chính quyền) và bình đẳng và không bị cưỡng bức, áp bức. Rousseau củng cố thêm một bước khi chủ trương thành lập nhà nước cộng hòa dân chủ, trong đó chủ quyền thuộc về những người sở hữu nhỏ. Các học thuyết trên góp phần tạo dựng cấu trúc nhà nước tư sản ở một số nước lớn như Anh, Pháp, Mỹ… thời kỳ đó.
Nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, K. Marx và Lenin đã nêu những luận điểm về nhà nước pháp quyền. Trong quan điểm của mình, Marx khẳng định: “Tự do là ở chỗ biến Nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội thành cơ quan phục tùng xã hội ấy[8]; Lenin cũng cho rằng, chính chế độ dân chủ và tự do là con đường duy nhất tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền. Đồng thời với quan niệm về nhà nước pháp quyền, Marx - Lenin đưa ra ý tưởng về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước pháp quyền. Về mặt lý luận, chủ nghĩa Marx - Lenin khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và vai trò của đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản có nhiệm vụ giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột; hai ông cho rằng: “Chỉ có những người vô sản, nhiệt tình hừng hực vì nhiệm vụ xã hội mới mà họ có nhiệm vụ thực hiện cho toàn thể xã hội, tức là thủ tiêu tất cả các giai cấp và sự thống trị giai cấp, mới là những người có thể đập tan nhà nước, công cụ của sự thống trị giai cấp đó, đập tan quyền lực chính phủ tập trung và có tổ chức đó, cái quyền lực do tiếm đoạt mà trở thành chủ nhân của xã hội, chứ không phải là đầy tớ của xã hội[9]. Nhiệm vụ giành chính quyền và xây dựng chính quyền đòi hỏi tất yếu phải có Đảng lãnh đạo, và Lenin cho đó là nguyên tắc: “Về nguyên tắc Đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều kiện không còn nghi ngờ được nữa”[10]. Sau này, Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa và khái quát thành các vai trò của Đảng đối với nhà nước pháp quyền xạ hội chủ nghĩa Việt Nam. Các vai trò của Đảng đối với nhà nước là:
Thứ nhất, Đảng đã thiết lập một mô hình nhà nước phù hợp với thực tiễn nước ta. Mô hình nhà nước Đảng sử dụng là mô hình nhà nước pháp quyền[11], vốn có nguồn gốc từ thiết chế “tam quyền phân lập”, một thiết chế khá phổ biến ở các nước tư bản trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Philippines…; nó gồm 3 cơ quan chính: quốc hội (lập pháp), chính phủ (hành pháp) và tòa án (tư pháp). Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất quốc gia, quyết định những công việc quan trọng của Nhà nước; Chính phủ thực thi quyền hành pháp và Tòa án nhân dân thực thi quyền tư pháp. Với một cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước như vậy, Đảng có những quyết sách, quy định cụ thể về công việc của mỗi cơ quan. Quốc hội là cơ quan đứng đầu và có quyền lực cao nhất quốc gia, quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia. Theo Hiến pháp 1992, Quốc hội là cơ quan có quyền ra và sửa đổi luật pháp; đề ra các chính sách đối nội và đối ngoại và giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan thực thi quyền hành pháp, có quyền lãnh đạo các cơ quan khác trong chính phủ, trình dự luật, pháp lệnh. Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp, có quyền xét xử các tội danh của người dân theo đúng quy định của pháp luật; mỗi cơ quan quyền lực trên đều chia thành các cơ quan, bộ phận nhỏ hơn nhưng tất cả đều là quy củ và thống nhất. Với việc xác lập mô hình nhà nước như thế, Đảng ta đã tỏ rõ sự thức thời khi nhận định đầy đủ tình hình nước ta trong việc xây dựng mô hình nhà nước mới, một mô hình cần thiết để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay và các giai đoạn tiếp theo; đồng thời, tiếp thu các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền trong xây dựng mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền XHCN một cách sáng tạo. Mô hình nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đã dày công xây dựng và lãnh đạo thực sự là là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi ý kiến đề xuất một mô hình Nhà nước pháp quyền tách rời bản chất ấy đều xa lạ và không thực tế đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay[12].
Thứ hai, đồng thời với việc xác lập mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đề ra nguyên tắc, phương thức phù hợp lãnh đạo bộ máy nhà nước pháp quyền. Trong quá trình xây dựng nhà nước, Đảng ta quán triệt các nguyên tắc về xây dựng nhà nước pháp quyền: xây dựng và củng cố liên minh công – nông, đảm bảo tính dân tộc và nhân dân trong quốc gia; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Nhà nước; tiếp thu có chọn lọc để xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn. Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau, trong đó nguyên tắc củng cố liên minh công – nông là nguyên tắc quan trọng trong xây dựng quốc gia. Nguyên tắc này được Đảng kế thừa từ học thuyết về liên minh công – nông của Lenin (về sau thêm “trí” vào) và phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử và trình độ của các cơ quan trong Đảng trong việc thực hiện các nguyên tắc trên. Củng cố liên minh công – nông giúp Đảng tăng cường sự thống nhất của Đảng đối mọi người dân trong nước, phát huy sức mạnh để lãnh đạo Nhà nước vững mạnh và phồn vinh. Các nguyên tắc kế tiếp chỉ là bổ sung, phát triển cho nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Về phương thức lãnh đạo, Đảng ta đề xuất 3 điểm: nội dung lãnh đạo, phương thức lãnh đạo, lề lối và tác phong làm việc. Ba điểm trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng phương thức lãnh đạo[13] là cái quan trọng. Có phương thức lãnh đạo tốt thì mới thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng, chuyển tải nội dung lãnh đạo đến đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện mục đích đề ra. Phương thức lãnh đạo phụ thuộc vào người lãnh đạo, hoàn cảnh, điều kiện lịch sử và cả chủ thể lãnh đạo là Đảng. Trong thời Đổi mới, Đảng ta đã cải cách, đổi mới phương thức lãnh đạo cho phù hợp theo đúng tinh thần của các Hội nghị Trung ương Đảng[14] để tránh các trường hợp Đảng gặp phải sai lầm đáng tiếc trong khi lãnh đạo Nhà nước theo các phương thức hiện hành. Các phương hướng đối mới là: về nội dung lãnh đạo, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chiến lược, định hướng và chủ trương, chính sách; giới thiệu người ưu tú vào Đảng và chỉ đạo các hoạt động của các tổ chức Đảng, liên hệ mật thiết với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; công khai tuyên truyền, giáo dục trên thông tin đại chúng giúp nhân dân hiểu được các chính sách và chủ trương của Đảng, từ đó ủng hộ nhiệt liệt và tin tưởng và sự lãnh đạo thành công của Đảng trong bộ máy nhà nước.
Thứ ba, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền được thể hiện thông qua việc thực hiện chính sách dân chủ ở các cơ sở Đảng, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân với Nhà nước chính là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước pháp quyền.
Như chúng ta đã biết, dân chủ chính là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội. Dân chủ ở Việt Nam chính là nền dân chủ của toàn thể nhân dân cả nước; nhân dân là người nắm quyền lực (họ chỉ cho Đảng nắm quyền lực chứ không sở hữu quyền lực hoàn toàn) và họ được thực thi quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, quản lý nhà nước – kinh tế xã hội của từng cấp, từng ngành và từng địa phương cụ thể. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách thích hợp và cụ thể như mở rộng các hình thức đối thoại, tuyên truyền với nhân dân để lấy ý kiến của họ đóng góp vào các dự luật, văn bản pháp luật cũng như tổ chức nhà nước. Hình thức này được tổ chức đa dạng tùy theo tình hình địa phương và hoàn cảnh cho phép để thực hiện. Ở các địa phương, chính quyền tổ chức nhiều hình thức đa dạng để thu thập thông tin và lấy ý kiến của nhân dân đóng góp vào hoạt động của Đảng cũng như của Nhà nước, như: cho phép các cơ quan thông tấn, phương tiện truyền thông (báo chí, tài liệu tham khảo…) được kịp thời đưa tin, đăng tải các văn bản chỉ đạo cũng như những đóng góp của nhân dân, tổ chức hội nghị, sinh hoạt cơ quan – đoàn thể, hệ thống loa truyền thanh, áp phích, pa-nô… và nhiều hình thức khác. Gần đây, trong thời gian lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào Dự thảo Hiến pháp 1992, nhiều địa phương đã sáng tạo nhiều hình thức phong phú. Có địa phương in tờ rơi, phát hành đĩa VCD, xây dựng bản so sánh giữa Hiến pháp năm 1992 với Dự thảo sửa đổi,... sau đó đưa đến từng xã, thôn, bản, khum, sóc, từng hộ gia đình. Các tỉnh vùng cao như Lào Cai, Bắc Kạn,… đã tiến hành tuyên truyền nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 bằng nhiều thứ tiếng dân tộc khác nhau, cử cán bộ đến từng nương, rẫy để phổ biến và lấy ý kiến nhân dân. Nhờ đó, tính đến ngày 25-03-2013, theo số liệu của Ban Chỉ đạo tổng kết thi hành Hiến pháp 1992, trong cả nước đã tổ chức khoảng 28.014 hội thảo, hội nghị lấy ý kiến và tiếp nhận khoảng 15 triệu lượt ý kiến đóng góp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân về nội dung của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây chính là kết tinh trí tuệ, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, là cơ sở để chúng ta từng bước bổ sung, hoàn chỉnh nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trước khi trình Quốc hội thông qua, dự kiến vào tháng 10-2013[15].
Thứ tư, Đảng thể hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước pháp quyền trong việc thi hành luật pháp và các văn bản dưới luật. Chúng ta đã biết, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là căn cứ chính thức để xây dựng hệ thống pháp luật từ Trung ương đến địa phương, điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội và công dân. Sự ra đời của Hiến pháp đã thể hiện “thành quả đấu tranh sau hàng loạt thắng lợi giành giật một cách khó khăn của chế độ mới chống lại chế độ cũ và hàng loạt thất bại mà chế độ cũ chống trả chế độ mới gây nên[16]. Do đó, việc Hiến pháp khẳng định về mặt nguyên tắc Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật[17] không phải do Đảng tự đề xướng, mà có tính chất bắt buộc đối với chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật. Vi phạm nguyên tắc này là vi phạm pháp luật và phải bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp, mà còn được thể hiện ở các văn bản dưới luật về tổ chức hoạt động của Nhà nước tùy theo mối quan hệ cụ thể. Như vậy, có thể nói, vai trò lãnh đạo của Ðảng được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Ðiều lệ Ðảng "đơn phương" quy định. Ðây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ của quy định tại Hiến pháp và Ðiều lệ Ðảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội về mối quan hệ của Ðảng với các tổ chức khác.
Thứ năm, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước thông qua quyền giám sát, việc thực hiện của các cơ quan, cán bộ viên chức theo đường lối do Đảng đề ra. Thật vậy, tại Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) xác định quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vì vậy, để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước pháp quyền đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế những biểu hiện lạm quyền trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Các cơ quan trong Nhà nước đều chịu sự kiểm tra, giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân (giám sát nhà nước), kiểm tra trong nội bộ hệ thống các cơ quan nhà nước và chịu sự giám sát của nhân dân thông qua tổ chức đoàn thể của nhân dân, đồng thời cũng chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng. Kiểm tra và giám sát là phương thức cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước; khuyến khích nhân tố tích cực và hạn chế tiêu cực , qua đó góp phần củng cố, ổn định đường lối của Đảng đối với Nhà nước. Ngoài ra, Đảng còn thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với các cán bộ, công nhân viên chức trong Nhà nước. Trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta thì đa số các cán bộ, công chức là Đảng viên, các tổ chức Đảng gắn liền với các cấp chính quyền và trong những cơ quan cao cấp của Nhà nước. Các cán bộ, công nhân viên chức và các Đảng viên luôn gương mẫu cháp hành các chính sách, chủ trương của Đảng, phù hợp với cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Các đảng viên ưu tú của Đảng được bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan cấp cao nhà nước, hợp thành đội ngũ những người lãnh đạo, các công chức cấp cao, chuyên gia, chuyên viên... Thông qua đội ngũ này, đường lối, chủ trương của Đảng được chuyển hóa thành hoạt động cụ thể, sinh động của bộ máy nhà nước[18].
Ngoài ra, để thực hiện giám sát Nhà nước dễ dàng hơn thì Đảng ngoài việc tự mình kiểm tra và giám sát, Đảng còn trao cho nhân dân thay mặt mình quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước pháp quyền. Ví dụ, Đảng cho phép người dân được viết thư, gửi đơn và kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyềm để báo cáo việc giám sát của mình ở các cơ quan, cán bộ viên chức Nhà nước và các cơ quan nhận được đơn kiến nghị của dân thì sau 30 ngày phải trả lời cho dân biết. Nhờ thực hiện những chính sách đó nên Đảng tạo được vai trò với Nhà nước pháp quyền xạ hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, có một vấn đề được đặt ra là hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước không thể có sự bao biện làm thay của các tổ chức đảng và làm thế nào để phát huy vai trò của đảng viên là cán bộ, công chức trong hoạt động của các cơ quan nhà nước đó.
Thứ sáu, Đảng xác lập vai trò lãnh đạo Nhà nước thông quan năng lực lãnh đạo và uy tín của mình. Về năng lực lãnh đạo, Đảng trong quá trình lãnh đạo Nhà nước đã xác định năng lực chính là: năng lực xây dựng đường lối chính trị của Đảng; năng lực của các của đội ngũ cán bộ, đảng viên được Ðảng giới thiệu để bầu cử (bổ nhiệm) vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước và bởi năng lực kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị của Ðảng trong hoạt động nhà nước. Vì vậy, để thực hiện được vai trò cầm quyền của mình mà không làm thay công việc Nhà nước, Ðảng cần tập trung trí tuệ và bộ máy của mình vào thực hiện tốt ba công tác cơ bản: Xây dựng và quyết định đường lối chính trị; đào tạo, rèn luyện một đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ và uy tín để thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị của Ðảng thông qua các hoạt động của nhà nước; kiểm soát được quá trình thực hiện đường lối chính trị trong thực tiễn. Ba nhóm công tác cơ bản này, thực chất hợp thành nội dung cầm quyền của  Ðảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Uy tín của Đảng trong lãnh đạo Nhà nước cũng là vấn đề mà Đảng hết sức quan tâm và tìm cách áp dụng sâu vào thực tiễn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bối cảnh mới, Ðảng chỉ có thể tiếp tục giữ vững được vị trí cầm quyền của mình khi uy tín của Ðảng trong xã hội tiếp tục được khẳng định và không ngừng nâng cao, khi niềm tin của nhân dân đối với Ðảng tiếp tục được củng cố, hiệu quả lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội được tăng cường. Và một khi đã có sự lạm dụng vốn uy tín và niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Ðảng được xây đắp trong các thời kỳ cách mạng sẽ dẫn đến nguy cơ làm suy giảm uy tín của Ðảng, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Ðảng. Ðúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Nếu Ðảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên”[19].
Tóm lại, với những luận cứ mà chúng tôi nêu trên đây đã khẳng định rõ những vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, các thế lực thù địch âm mưu đòi đa nguyên đa đảng, đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp 1992 để thay đổi chế độ chính trị. Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta cần có chính sách, đường lối phù hợp để xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền được vững mạnh, xứng đáng là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” như lời Bác Hồ và các văn kiện Đảng đã khẳng định.
Tài liệu tham khảo:
1.      Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2.      Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
3.      Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, Hà Nội
4.      Mác- Ănghen, Toàn tập , tập 16; tập 17.
5.      Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, Nxb CTQG,Hà Nội, 1996.
6.      Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý – Bộ Tư pháp (2002), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Đề tài KX.05.09, Hà Nội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 131 – 132.
[2] Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý – Bộ Tư pháp (2002), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Đề tài KX.05.09, Hà Nội, tr.72.
[3] Nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền ra đời đầu tiên trong cuốn: Lex, Rex (1644), và sau này là Montesquieu trong cuốn Tinh thần Pháp luật xuất bản năm 1748.
[4] Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, tr.187.
[5] P. S. Taranov (2000), 106 nhà thông thái, NXB Chnh trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 475.
[6] Đỗ Minh Hợp (và những người khác) (2006), Đại cương lịch sử triết học phương Tây, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 401.
[7] Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 96.
[8] Mác- Ănghen , Toàn tập , tập 16 tr.17; tập 17 tr.26
[9] Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, Nxb CTQG,Hà Nội, 1996, tr. 716 – 717.
[10] Chính trị học đại cương, NXB Tp. Hồ Chí Minh, tr. 479.
[11] Các lý do thúc đầy Đảng chọn mô hình nhà nước pháp quyền: (1) duy trì truyền thống tốt đẹp và lâu đời của người Việt; (2) đấu tranh chống lại quan liêu, bao cấp và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền với Nhà nước; (3) xây dựng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; (4) đề cao quyền tự do, dân chủ của người dân trong đất nước. Xem: http://tailieutonghop.com/free/tinh-tat-yeu-hay-vi-sao-viet-nam-phai-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen_f176-9875.html

[12] Lê Minh Thông (2013), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – mọi mô hình Nhà nước pháp quyền tách rời bản chất này đều xa lạ và không thực tế”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, xem: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=276442

[13]  Người ta định nghĩa phương thức lãnh đạo là: là một hệ thống các hình thức, biện pháp, phương pháp mà Đảng sử dụng để tác động đến đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra. Xem: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, http://www.saigonminhluat.com/index.php?option=com_content&view=article&id=2773:s-lanh-o-ca-ng-i-vi-nha-nc-phap-quyn-xa-hi-ch-ngha&catid=359:ly-luan-nha-nuoc-va-phap-luat&Itemid=546
[14] Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX) nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm tránh cả hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng sự lãnh đạo, hoặc bao biện, làm thay, nhất là phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước (Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 158). Điều đó khẳng định Đảng phải tăng cường thế lực thật mạnh mẽ, đổi mới mạnh về phương thức để xây dựng Nhà nước vững mạnh.
[15] Tạ Quang Đạo (2013), “Phát huy dân chủ, đề cao quyền làm chủ của nhân dân – thực tế không thể phủ nhận ở Việt Nam”, Tạp chí Đảng Cộng sản Việt Nam, xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2013/20869/Phat-huy-dan-chu-de-cao-quyen-lam-chu-cua-nhan-dan.aspx
[16] Lenin toàn tập, tập 6, NXB Sự thật, tr.373 (tiếng Nga). Dẫn lại theo: Thái Vĩnh Thắng (2009), Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 42.
[17] Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 137 – 138.


[18] Lê Đinh Mùi (2013), “Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước”, Tạp chí Cộng sản, xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen/2012/19107/Phat-huy-vai-tro-lanh-dao-cua-Dang-trong-nang-cao-hieu.aspx
[19] Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, xem: http://vov.vn/Chinh-tri/Phat-bieu-cua-Tong-Bi-thu-be-mac-Hoi-nghi-Trung-uong-4-khoa-XI/195969.vov

Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa ở Đông Nam Á: lịch sử và hiện tại

Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa ở Đông Nam Á: lịch sử và hiện tại
Thái Nguyễn Đức Minh Quân[1]
Đông Nam Á là môt khu vực lịch sử - văn hóa đặc biệt, có nền tảng chung được sản sinh trong điều kiện tự nhiên thuận lợi ở khu vực, đồng thời nơi đây là cái nôi của nền nông nghiệp lúa nước từ lâu đời, trải dài từ phía Nam sông Dương Tử đến vùng Đông Bắc Ấn Độ và thậm chí sang cả châu Đại Dương. Trong lịch sử phát triển của mình, người dân các nước Đông Nam Á đã không ngừng củng cố văn hóa bản địa, tăng cường tiếp thu nền văn hóa bên ngoài, trong đó có văn hóa Ấn Độ, tạo điều kiện để văn hóa này giao thoa với Đông Nam Á và để lại những dấu ấn văn hóa rất riêng, đậm chất Ấn Độ ở khu vực Đông Nam Á. Chính việc giao thoa giữa Ấn Độ với Đông Nam Á đã hình thành nhiều nền văn hóa khác nhau trên vùng đất này. Tất cả đã tạo nên sự thống nhất và đa dạng của văn hóa khu vực Đông Nam Á ngày nay. Trong tham luận này, chúng tôi không có tham vọng trình bày hết về những dấu ấn tiêu biểu của Ấn Độ trong giao thoa văn hóa với Đông Nam Á, mà chỉ muốn trình bày những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Ấn Độ trong việc giao thoa, tạo dấu ấn riêng biệt ở Đông Nam Á về một số lĩnh vực chủ yếu, từ đó giúp người đọc có cái nhìn toàn cục về những dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa Đông Nam Á, từ đó giúp củng cố và phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ ngày càng bền vững và lâu dài.
1. Khái quát về khu vực Đông Nam Á và quá trình tiếp xúc văn hóa Ấn Độ vào khu vực Đông Nam Á
1.1. Khái quát về Đông Nam Á
Đông Nam Á – khu vực nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ - từ lâu được xem là một khu vực địa lý - lịch sử, văn hóa, đồng thời cũng là một trong những trung tâm văn minh phát triển nhất thế giới với nhiều nét phát triển độc đáo. Về vị trí địa lý thì đây là một khu vực khá rộng lớn với diện tích là 4,45 triệu km2, dân số là 568,3 triệu người (số liệu năm 2012); phạm vi khu vực khu vực trải dài trên một phần Trái Đất từ 92 – 140oĐ và từ 28oB đến 15oN. Về địa lý hành chính, khu vực này gồm 2 phần đất liền và hải đảo, gồm 11 quốc gia là Brunei,  Campuchia,  Đông  Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Philippines, Singapore và Việt Nam. Với vị trí địa lý và phạm vi hết sức rộng lớn như vậy, Đông Nam Á đã gần như thừa hưởng tất cả mọi đặc điểm mà hầu hết các vùng khác trên thế giới đều có: khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, cảnh quan sinh thái rất phong phú và đa dạng. Ở Đông Nam Á do điều kiện địa lý của mình nên ngay từ thời xưa, Đông Nam Á đã là nơi chịu ảnh hưởng của gió mùa (gió Tín phong, gió mậu dịch) nên thời tiết ở khu vực này tương đối dễ chịu, con người sống một cuộc sống thoải mái, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới lớn và cũng chính vì thế mà Đông Nam Á trở thành quê hương của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, cây gia vị và hương liệu. Ngoài ra, do vị trí địa lý đặc biệt của mình nên Đông Nam Á từ lâu đã là nơi đan xen của nhiều loại địa bàn quy tụ như đồi núi, duyên hải, đồng bằng, ven biển đã góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú của văn hóa tộc người ở khu vực Đông Nam Á[2]. Trong quá trình phát triển của mình, lãnh thổ Đông Nam Á gần tương đương với hiện nay cùng với nền văn hóa Nam Á đặc trưng, mang tính bản địa sâu sắc. Cư dân Đông Nam Á hiện nay là nói 4 ngữ hệ chính: Thái – Kadai, Nam Á, Nam Đảo, Tạng – Miến. Về mặt nhân chủng, cư dân Đông Nam Á thuộc tiểu chủng Mongoloid phương Nam, người Indonesiens cổ là tộc người đầu tiên và là tổ tiên của các tộc người có mặt ở khu vực Đông Nam Á rộng lớn này. Tộc người này trong quá trình phát triển (gốc gác là ở Trung Quốc, nhiều nhất ở Nam Trường Giang) đã thực hiện nhiều cuộc di cư lớn về phía Nam; nhưng tiêu biểu nhất là sự kiện quân Tần tấn công vùng Lĩnh Nam (tức nước Việt cổ) vào cuối thế kỷ III TCN. Trong cuộc tấn công này, trong khi một số nhóm người Việt trụ lại ở Bắc Việt Nam và hình thành các tộc người Việt (Bách Việt, Nam Việt, Đông Việt…) thì nhiều nhóm người Indonesiens di cư vào phía Nam và dần bị phân hóa: một nhóm Indonesiens nói ngữ hệ Nam Á chạy xuống vùng Miến Điện, Bắc Campuchia và hình thành người Môn; đại bộ phận người Indonesiens còn lại rút về phía Nam. Ở Trung Bộ (vùng Quảng Nam – Quảng Ngãi), người Indonesiens phân thành 5 tộc người là Churu, Giarai, Raglai, Edeh và Chăm. Người Chăm chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo nên sống ở miền biển, 4 tộc người còn lại dị ứng với văn hóa Ấn Độ thì rút lên Tây Nguyên ở, giữ lại tính Indonesiens bản địa, nói ngữ hệ Nam Á; một số tộc khác như Stieng, Mạ sinh sống ở vùng Đông Nam Bộ ngày nay[3]. Chính sự di cư, phân hóa giữa các dân tộc trong khu vực đã làm cho dân cư Đông Nam Á phong phú, đa dạng như ngày nay.
Do vị trí địa lý nằm ngay trên con đường hàng hải giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương cho nên Đông Nam Á ngay từ rất lâu đã được coi là hành lang, cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải. Ngay từ sớm, đã có nhiều thương nhân, người đi buôn đóng thuyền vượt biển sang buôn bán ở Đông Nam Á. Theo tài liệu khảo cổ học, W. G. Solheim II nhận định những người sống ở vùng duyên hải Zulu, Mindanao, Borneo là những người đầu tiên đóng thuyền vượt biển sang các vùng khác để trao đổi, buôn bán từ 9.000 năm trước đây[4]. Thư tịch cổ Trung Hoa cũng ghi nhận các sư tăng như Khang Thái, Pháp Hiển, Nghĩa Tĩnh, Trịnh Hòa, Chu Đạt Quan và Marco Polo đều đi thuyền sang Đông Nam Á với các vai trò như buôn bán, truyền đạo hay lo công việc nhà nước. Họ đã ghi chép và để lại nhiều tài liệu quý cho chúng ta nghiên cứu về Đông Nam Á. Người Trung Quốc thời xưa gọi là Nam Dương (chỉ những nước nằm ở vùng đất phía Nam Trung Quốc); Nhật Bàn gọi là Nam Yo (Nam Dương); người Arab gọi là Waq Waq, Zabag; người Ấn Độ gọi là Suvanabhumi (Đất Vàng). Trong Thế chiến 2, Lord Mountbatten (người thống lĩnh Bộ Tư lệnh tối cao của Anh ở Đông Nam Á) đã gọi vùng đất này là Southeast-Asia.
Như vậy thì với vị trí địa lý thuận lợi này đã tạo điều kiện cho cư dân Đông Nam Á phát huy những thành tựu mình đạt được trong khu vực, đồng thời còn muốn tiếp nhận và giao lưu với các nền văn hóa bên ngoài khu vực để làm văn hóa trong khu vực thêm phong phú, đa dạng hơn và tạo sự phát triển mạnh mẽ hơn trong khu vực Đông Nam Á vốn đa dạng này; trong đó nền văn hóa Ấn Độ là nền văn hóa tiêu biểu nhất và đó cũng chính là vấn đề chính mà chúng tôi muốn đề cập trong bài tham luận này. Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn do người Arya thành lập vào thiên niên kỷ II – I TCN ở miền Bắc Ấn Độ. Người Arya xâm nhập vào Ấn Độ vào năm 1500 TCN, chiếm đất của người bản địa Dravida và nhanh chóng xác lập sự thống trị của mình ở Ấn Độ ở thời kỳ Vedda (1.500 – 1.000 TCN). Đến thời kỳ thành lập nhà nước, người Arya bắt đầu tạo lập nền văn hóa Ấn Độ sơ khai: công nhận Balamon là quốc giáo, hai sử thi Mahabharata - Ramayana của Balamon và 2 tôn giáo lớn là đạo Phật, đạo Jaina ra đời[5] và cho ra nhiều thành tựu đặc sắc. Đến thời kỳ vương triều Morya của đế quốc Magadha (321 – 187 TCN) và vương triều Gupta – Harsha (320 – 647) thì văn hóa Ấn Độ mới có điều kiện thuận lợi để tràn xuống phía Nam và ảnh hưởng ra xung quanh, trong đó có vùng Đông Nam Á rộng lớn này. Đối với vùng đất Đông Nam Á này, văn hóa Ấn Độ đã xâm nhập vào sâu trong vùng đất này, phát triển và bước đầu tạo những dấu ấn riêng biệt góp phần làm cho văn hóa Đông Nam Á vốn đã đa dạng trên nền tảng nền văn hóa bản địa vốn có từ lâu đời lại càng phát triển, tạo nên nền văn hóa ở Đông Nam Á phong phú, đa dạng như hiện nay. 
1.2. Quá trình du nhập và lan tỏa của văn hóa Ấn Độ vào khu vực Đông Nam Á
Trước khi người Hồi và người phương Tây biết tới Đông Nam Á thì người Ấn Độ đã biết đến vùng đất này từ khá sớm, khoảng thiên niên kỷ II – I TCN. Nhiều tài liệu lịch sử ghi nhận, trong thời kỳ này đã có người Ấn Độ đến vùng Đông Nam Á, nhưng người ta cũng chưa rõ là họ đến đây từ sớm để làm gì (buôn bán, truyền giáo ?) mà chỉ biết rằng, họ đến nơi này để tìm vàng vì nhiều sách viết rằng, nơi đây có nhiều vàng (nhiều tài liệu gọi là Suvanabhumi – Xứ sở Vàng), nhiều hương liệu quý giá nên đã kích thích họ đến vùng Đông Nam Á này; tuy nhiên vào thời kỳ đó thì dân cư cũng còn thưa thớt (vài chục đến vài trăm nghìn người), phương tiện di chuyển còn thiếu thốn nên việc sang khu vực Đông Nam Á có phần bị hạn chế. Nhưng về sau, do nhu cầu phát triển kinh tế, cộng với dân cư tăng nhanh và phương tiện di chuyển trên biển được cải tiến nhiều, người Ấn Độ đã có thể đi sang Đông Nam Á và lúc này, mục đích rõ ràng hơn: họ không phải đến đây tìm vàng nữa mà đến để trao đổi, buôn bán với các xứ khác.
Niddesa, một thư tịch Phật giáo viết bằng tiếng Pali đã ghi nhận, người Ấn Độ đã thường xuyên qua lại ở các địa điểm: Takkola (chợ Đậu khấu) ở Bắc Malaysia, Kupuradvipa (Đảo Long não), Nakikelavidpa (Đảo Dừa) và Đảo Vàng – chỉ vùng Indonesia; với mục đích là buôn bán các sản vật quý, gia vị, hương liệu… với Đông Nam Á để trao đổi với các xứ khác. Đặc biệt thì từ sau Đại hội Phật giáo đầu tiên ở Pataliputra (242 TCN), đại đế của nước Magadha là Ashoka đã khuyến khích các nhà sư, nhà tu hành Ấn Độ sang Đông Nam Á, trước hết là Ceylan, Myanmar, Malayu (thuộc Malaysia)… mà dấu tích còn để lại ở vùng lưu vực Menam: các tượng Phật theo phong cách Dvaravati ở Myanmar; tượng Phật ở Đồng Dương, Sumatra và một số hiện vật ở Óc Eo (An Giang). Tiếp đó, từ thế kỷ I – II thì do Ấn Độ loạn lạc nên làn sóng di cư của người Ấn Độ sang Đông Nam Á ngày càng nhiều hơn, mà nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể là:
Thứ nhất, một số tiểu quốc, vương quốc lớn thấy dân cư của vương quốc mình quá nhiều nên ra chính sách di cư để đưa dân sang nơi khác để tránh sức ép về gia tăng dân số; tiêu biểu là các vương quốc Kushan, Adhra, Gupta… Dưới tác động của chính sách trên, nhiều người Ấn đã di cư sang các vùng đất mới lạ ở Đông Nam Á, thiết lập các khu định cư và thường thì các khu định cư là tên của các địa danh Ấn Độ cũ: Campuchia – tên gốc là Kambuja (một thành phố nổi tiếng ở Tây Bắc Ấn Độ cổ xưa).
Thứ hai, người Ấn Độ di cư mạnh mẽ sang Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, trước hết là do sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về cơ tầng văn minh nông nghiệp cổ xưa, sự giống nhau về phong tục tập quán, văn hóa dân gian, di tích khảo cổ…
Thứ ba, do nhu cầu tìm sản vật địa phương và mở rộng địa bàn buôn bán mới. Đúng như vậy, việc các lái buôn Ấn thi nhau sang tìm vàng ở khu vực Đông Nam Á đã đẩy nhanh tốc độ giao lưu, giao thoa văn hóa giữa hai khu vực. Do được buôn bán ở Đông Nam Á, người Ấn Độ học được của họ kỹ thuật hàng hải – nghề đi biển, một thứ kỹ thuật mà xưa kia họ chưa hề biết đến, hoặc nếu có thì biết qua sách vở chứ chưa có thực tế. Họ học được nghề đóng thuyền, đóng tàu buồm lợi dụng sức gió mùa của người Ba Tư để chở nhiều người (600 – 700 người), thực hiện chuyến đi dài ngày trên biển và vận chuyển nhiều hàng hóa hơn để sang khu vực Đông Nam Á trao đổi, buôn bán. Để tạo điều kiện cho các chuyến đi biển diễn ra thuận lợi, người Ấn Độ lập chợ búa, hải cảng ở Nam Ấn, Đông Ấn, Java, Malaya… để hoạt động đường biển được tiện lợi hơn.
Thứ tư, đó là do sự phát triển của các tôn giáo, nhất là Phật giáo; các tư tưởng của Phật giáo nhanh chóng phát triển thuận lợi là do giáo lý của nó. Trước kia, người Ấn Độ theo Balamon giáo rất sợ tiếp xúc với người bên ngoài, vì nếu tiếp xúc thì họ sẽ bị xem là “không trong sạch” và bị đuổi ra khỏi đẳng cấp. Quy định ngặt nghèo đó phần nào cản trở việc xuất dương của họ ra bên ngoài. Nhưng các tín đồ Phật giáo đã gạt bỏ những điều cấm đoán đó; dùng tư tưởng “không thành kiến về chủng tộc” của mình để mở đường cho người Ấn Độ di cư sang Đông Nam Á một cách thuận lợi. Tận dụng điều kiện thuận lợi đó, nhiều thương nhân, nhà tu hành vả thủy thủ và cả những vị tu sĩ Balamon đã vứt bỏ thành kiến đã xuất dương sang Đông Nam Á. Đông Nam Á với những mảnh đất xanh tươi màu mỡ, dân cư hiền hòa và hiếu khách đã hấp dẫn họ. Khi định cư hẳn nơi này, họ bắt đầu lập những khu định cư rồi sau đó biến những nơi này thành những trung tâm văn hóa, kinh tế với biểu hiện ngày càng rõ nét của văn hóa Ấn Độ, đồng thời có sự đan xen của văn hóa địa phương.
Ở những nơi thuận lợi, từ các tổ chức kinh tế sơ khởi thì người Ấn Độ bắt đầu hình thành các quốc gia chính trị có tổ chức; và các quốc gia này được người phương Tây gọi là các quốc gia “Ấn Độ hóa” (Hindouisés – từ dùng của Coedes) và thời kỳ này người ta gọi là thời kỳ “Ấn Độ hóa”. Mặc dù cách dùng như vậy chưa đúng lắm vì nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á còn đang thời kỳ tiền văn minh, mông muội và những nước này vẫn còn giữ lại bản sắc văn hóa dân tộc riêng mình, khác Ấn. Chúng ta dùng thuật ngữ “Ấn Độ hóa” với 2 ý nghĩa: Một là, “Ấn Độ hóa” là chỉ các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ; Hai là, “Ấn Độ hóa” còn có ý nghĩa chỉ một quá trình dài ngày diễn ra trong nhiều thế kỷ, thâm chí cho đến nay ngoài hàm ý dẫn dắt, hướng dẫn người dân hướng theo tôn giáo mới (Ấn Độ giáo, Phật giáo), còn cố gắng sàng lọc những cái gì không phải của Ấn Độ và cố gắng cho trào lưu này (ý nói: trào lưu Ấn Độ hóa) được hiện thực hóa trong cuộc sống hàng ngày từ chính trị, kinh tế đến văn hóa – nghệ thuật[6]. Về thực chất, công cuộc “Ấn Độ hóa” của người Ấn Độ đến Đông Nam Á không phải là dùng vũ lực để đánh chiếm, mà là cuộc thâm nhập hòa bình không có kế hoạch nào cả. Các quốc gia này không lệ thuộc vào Ấn Độ mà nó chỉ quan hệ với người Ấn về kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, kết quả của sự thâm nhập đó là hết sức to lớn: thúc đẩy nhanh quá trình truyền bá văn minh Ấn Độ sang Đông Nam Á, góp phần đẩy mạnh quá trình tan rã của công xã thị tộc bộ lạc và sự hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước ở đây; đồng thời thì ảnh hưởng này cũng lan rộng trong chiều dài lịch sử các nước Đông Nam Á về sau này.
2. Những dấu ấn của văn hóa Ấn Độ qua từng phương diện trong giao thoa văn hóa với khu vực Đông Nam Á
Ở phần trên chúng ta đã đề cập thì, do tình hình Ấn Độ bị loạn lạc – chia cắt liên tục (lịch sử Ấn Độ là lịch sử của sự chia cắt - sự tồn tại lâu dài thiết chế công xã làm cản trở sự thống nhất của Ấn Độ[7]) nên người Ấn Độ có xu hướng muốn ra bên ngoài để sinh sống và làm ăn. Trong Phát hiện Ấn Độ, Nehru chỉ ra rằng những người Ấn Độ sau khi vượt qua hàng rào núi cao, biển rộng, không chỉ mang theo tư tưởng mà còn mang theo nghệ thuật, ngôn ngữ, văn học và thiết chế chính trị để rồi từ đó, họ đã cùng với dân bản địa xây dựng các quốc gia “Ấn Độ hóa”, và để lại những dấu ấn không thể phai nhạt trong quá trình giao thoa với văn hóa Đông Nam Á trên nhiều phương diện như: ngôn ngữ, tôn giáo, văn học, thiết chế nhà nước ở các quốc gia Đông Nam Á. Và một điều chắc chắn rằng, nền văn hóa Ấn Độ khi du nhập và giao thoa với văn hóa bản địa thì sẽ tạo nên nhiều sắc thái đa dạng song không làm mất đi bản sắc địa phương. Giáo sư Lương Ninh đã nhận xét rất xác đáng: “Hình như mỗi nước Đông Nam Á đã chọn trong cây cổ thụ xum xuê của Ấn Độ một vài cành lá thích hợp với mình”[8].
2.1. Thiết chế nhà nước
Dấu ấn đầu tiên của văn hóa Ấn Độ trong quá trình giao thoa với văn hóa Đông Nam Á được thể hiện ở phương diện thiết chế nhà nước. Thời kỳ đầu trước khi người Ấn Độ di cư vào Ấn Độ thì cư dân ở khu vực Đông Nam Á còn đang sống trong thời kỳ mông muội, thời kỳ nông nghiệp Đông Nam Á rất phát triển nên dẫn tới xu hướng tập quyền là phổ biến. Biết được điều này, cư dân Đông Nam Á đã hợp nhau hình thành những liên minh bộ lạc – tiền đề cơ bản cho sự thành lập của quốc gia thống nhất. Nhưng do trình độ nhận thức còn hạn chế nên họ chưa biết chon hình thức nào làm hình thức chính cho quốc gia mới sắp thành lập của mình; trong lúc họ đang bí về thiết chế nhà nước thì người Ấn Độ đã đến, mang theo một thiết chế nhà nước vốn còn rất xa lạ với người bản xứ - thiết chế Mandala. Mandala là thiết chế nhà nước đặc biệt trong lịch sử Đông Nam Á, là dấu ấn quan trọng nhất của người Ấn Độ trong quá trình giao thoa văn hóa với vùng Đông Nam Á lịch sử. Về khía cạnh tôn giáo, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nó có nguồn gốc từ thần thánh – hàm ý chỉ một thể chế chính trị, xã hội và tôn giáo phổ biến ở Đông Nam Á. Trong tiếng Sankrit, mandala có nghĩa là vòng luân xa thần thánh (sacred circle); dịch theo tiếng Hán nghĩa là một hình vẽ biểu thị vũ trụ. Đó là một biểu đồ bao gồm những hình vuông, vòng tròn đồng tâm, có các vị thần ngồi trên tòa sen theo một hệ thống rất có trật tự. Nhiều nghiên cứu chi tiết hơn thì cho rằng, mandala là một từ ghép gồm hai từ “manda” là “bản chất; “la” là “cái chứa đựng”, “người sở hữu” và “biển chỉ đường”[9]. Như vậy, mandala xét về thực chất thì nó là một thể tổng hợp của nhiều yếu tố khác biệt vào một sơ đồ chung duy nhất mà thông qua sự thiền định có thể nhận thức bản chất của sự tồn tại.
Về phương diện chính trị, mandala phát sinh từ một chữ Phạn dịch ra tiếng Tây Tạng là “Dkyilkhor”, nghĩa là “Trung tâm và ngoại vi”; tuy nhiên do ý nghĩa còn chung chung nên người ta chưa hiểu rõ tường tận: vậy thiết chế chính trị của Đông Nam Á là thiết chế gì ? Thiết chế đó được biểu hiện như thế nào trong tổ chức nhà nước Đông Nam Á ? Sau một thời gian dài suy nghĩ và tìm tòi, cuối cùng vào năm 1982 giáo sư O. W. Wolters đã tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi trên. Trong tác phẩm History, Culture and region in Southeast Asian Perspertives xuất bản năm 1982, ông định nghĩa Mandala là “một trạng thái chính trị và thường là không ổn định trong một khu vực địa lý được xác định mơ hồ vì không có những đường ranh giới cố định, tại đó những trung tâm nhỏ hơn có xu hướng vươn ra mọi phía”[10].
Chúng ta xem xét ở khu vực Đông Nam Á, nơi mà dấu ấn của Ấn Độ được thể hiện rõ nét nhất. Ở Đông Nam Á, mandala bao gồm một chính quyền trung ương và các chính quyền chư hầu (tributary rulers). Vua đứng đầu chính quyền trung ương, nắm vương quyền và thần quyền; vua phân phong đất đai cho các chư hầu và ràng buộc họ bằng quan hệ tôn chủ - bồi thần (giống với phong kiến châu Âu đầu thời kỳ Trung đại). Tuy nhiên do quyền lực địa phương còn lớn nên dẫn đến tình trạng quốc gia chư hầu đòi xóa bỏ phụ thuộc trung ương và tự độc lập và thậm chí, một số chư hầu có thể rời bỏ địa vị chư hầu của họ khi có cơ hội và nỗ lực xây dựng một mạng lưới chư hầu cho riêng họ. Mandala không có biên giới nhất định, biên giới chỉ thay đổi tùy theo quyền lực và sức mạnh, tầm ảnh hưởng của vương quyền thống trị. Các quốc gia có thể chế mandala thời kỳ đó là Champa, Phù Nam, Chân Lạp, Pagan, Sukhothay – Ayuthaya. Chúng ta cụ thể hơn một chút: ở Champa (và các quốc gia khác như Sukhothay – Ayutthaya; Pagan, Chân Lạp…), dấu ấn của Ấn Độ ở phương diện chính trị là Vua nắm vương quyền và thần quyền (ruộng đất, mở rộng lãnh thổ, khơi thông thủy lợi…). Sau Vua là một bộ máy quan lại bao gồm nhiều vị quan, làm nhiều việc khác nhau: Vua Chân Lạp tổ chức bộ máy nhà nước gồm Tể tướng và 4 Thượng thư; Vua Xiêm (Thái Lan) tổ chức bộ máy quan lại là Tể tướng, sau ông có 4 bộ (Kun) là Kunna (bộ điền địa), Kunvang (Bộ lễ); Kunklang (Bộ tài chính); Kunmuong (Bộ nội vụ); ở Lan Xang thì Vua tổ chức bộ máy nhà nước đứng đầu là Tể tướng, kế là Hội đồng Bô lão (Sen Muong) và bộ máy quan lại có 3 người gồm 2 vị quan tiền; 1 vị quan hậu. Vị quan tiền lo việc quân đội (thời chiến) và đối ngoại, nghi lễ (thời bình); còn vị quan hậu lo việc nội chính, tài chính….
Ngoài ra, dấu ấn Ấn Độ trong chính trị Đông Nam Á còn thể hiện trong vấn đề kế thừa dòng Cha – Mẹ. D. G. E. Hall trong sách Lịch sử Đông Nam Á, dẫn lời của một nhà nghiên cứu về Đông Nam Á là Sahai thì cho rằng, hệ thống kế vị (dòng nam – dòng nữ) là mối quan hệ giữa ảnh hưởng của con gái và con trai trưởng, và có nhiều ví dụ về ảnh hưởng của trưởng nam hơn trưởng nữ. Sahai nói thêm rằng các vị quan thượng thư có vai trò quyết định trong việc lựa chọn các ứng viên để cho các giáo sĩ đưa lên ngôi. Ngoài ra, dấu ấn của Ấn Độ trong chính trị Đông Nam Á thể hiện ở chỗ là tăng cường tính thần quyền của Vua: đồng nhất Vua – Thần. Nguồn gốc của tập tục Vua – Thần này có thể là sự kết hợp tập tục này với tập tục thờ cúng tổ tiên cổ xưa và gắn lên với truyền thuyết núi Meru của người Ấn Độ cổ xưa. Các vị vua khi lên ngôi sẽ được giáo sĩ Balamon chúc tụng niệm, đồng nhất Vua với Thần. Ở Myanmar, Vua được đồng nhất với Thagyamin (tức Indra). Ở Campuchia thì Vua đồng nhất với thần Shiva (sau thì đồng nhất với Vishnu, Lokesvara), coi vua là trung tâm của đất nước và các nơi xung phải thần phục, tôn sùng vua. Ở một số nước theo Phật giáo, vua thường tự xưng mình là Đức Phật phôi thai. Ở Campuchia theo Phật giáo Đại thừa, vua tự xưng là chakravartin, nghĩa là Đức Phật phôi thai. Ngay cả vua đầu tiên của triều Konbaung (1752 – 1885) của Myanmar lấy vương hiệu là “Alaungpya” (Đức Phật phôi thai). Các biểu trưng của vua đếu có chức năng thần thông, đặc biệt là hoàng bào và thanh kiếm thần, lọng trắng…, vua sau khi băng hà cũng được đặt thụy hiệu theo tên vương hiệu + tên vị thần. Các vị quan phò tá vua gọi là “cột trụ của vua” có quyền hành lớn.
Dấu ấn của Ấn Độ trong giao thoa với Đông Nam Á còn thể hiện nhiều trong lĩnh vực pháp luật. Theo PGS, TS Nguyễn Văn Kim, các quốc gia Đông Nam Á đã tiếp thu tinh thần và nguyên tắc biên soạn luật pháp của “Thiên Trúc”(Ấn Độ) vào việc biên soạn bộ luật cho quốc gia của mình[11]. Về nội dung, luật pháp thời kỳ này bảo vệ những lợi ích, đặc quyền của giai cấp thống trị hay các thế lực tôn giáo. Những điều khoản về việc bảo vệ tài sản, về quyền lực đối với nô lệ được đặc biệt coi trọng. Hiển nhiên, cũng giống như nhiều bộ luật nổi tiếng trên thế giới, những tầng lớp xã hội bên dưới, những “kẻ tiện dân”nếu vi phạm luật pháp thì đều bị trừng phạt vô cùng hà khắc. Nói cách khác, cũng như chính trị, quân sự… luật pháp luôn là công cụ của kẻ mạnh và bảo về lợi ích của những người quyền thế[12].
2.2. Tôn giáo
Đồng thời với để lại dấu ấn của mình trong thế chế chính trị, người Ấn Độ còn để lại dấu ấn của minh vào Đông Nam Á trên phương diện tôn giáo, cụ thể là Ấn Độ giáo và Phật giáo.
Về Ấn Độ giáo thì: ngay từ khi cư dân bắt đầu di cư sang Đông Nam Á thì các vị tu sĩ Balamon đã đi theo và khi đến nơi thì đã truyền bá tôn giáo này của mình cho người dân khu vực Đông Nam Á. Cư dân Đông Nam Á cũng như các thủ lĩnh thị tộc, bộ lạc đã nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng vào việc củng cố chính quyền; người dân cũng tiếp thu để giúp cho cuộc sống của họ được sung túc, vui vẻ hơn. Vào buổi đầu khi vào Đông Nam Á, các tu sĩ Balamon và các thủ lĩnh địa phương đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa tín ngưỡng, tổ chức nhà nước và xã hội ở Đông Nam Á; nhiều tu sĩ Balamon khi sang Đông Nam Á đã được vua chúa nơi đây trọng dụng và được cử vào nắm những chức vụ cao trong chính quyền. Để tỏ lòng biết ơn cho sự ưu đãi đó, nhiều tăng lữ Balamon ban phước lành cho các Vua bản địa trở thành dòng dõi của các triều đại Mặt Trăng, Mặt Trời bên Ấn Độ hoặc dòng dõi của những bậc thánh hiền có liên quan đến các thần. Các tu sĩ Balamon thực hiện các nghi thức Ấn Độ giáo để tôn phong các Vua bản địa, giúp vua cai trị tốt thông qua các điều phán bảo mà mình đưa ra và xây dựng triều đình theo kiểu của vương triều Ấn Độ. Ngoài ra, các tu sĩ Balamon còn dựng tượng các thần, nhưng đổi tên cho phù hợp; đồng thời đặt ra các lễ cúng thần, phong tục của người Ấn Độ áp dụng vào Đông Nam Á. Thần Trời nguyên thủy của bản địa được Ấn Độ giáo hóa thành Shiva, tôn giáo thịnh hành nhất thời đó chính là Shiva giáo.
Ngoài Ấn Độ giáo thì Phật giáo là tôn giáo thứ hai được người Ấn Độ du nhập vào Đông Nam Á, và nó có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng – tôn giáo của người dân nơi đây. Phật giáo là tôn giáo do tầng lớp vương công – đại diện là thái tử xứ Kapilavastu Siddharta Gautama (563 – 483 TCN) – thành lập với mục đích chống lại sự lũng đoạn, mâu thuẫn giữa nhân dân – tầng lớp Balamon vốn có từ lâu khi người Arya xâm nhập và thống trị người Dravida bản địa vào 1.500 – 1.000 TCN. Với tư tưởng của mình (tư tưởng về sự diệt khổ, sự chống lại những cái ác – cái bất công để xây dựng niềm tin cho con người), Phật giáo đã nhanh chóng lan tỏa và bắt rễ sâu trong lòng quần chúng nhân dân. Vào thời Ashoka (273 – 232 TCN), đế quốc Magadha ở Ấn Độ phát triển cực thịnh; ông đã thực hiện chính sách khoan dung tôn giáo, đề cao Phật giáo và tạo điều kiện thuận lợi để nó phát huy ảnh hưởng ra bên ngoài, nhất là vùng Đông Nam Á – khu vực láng giềng và gần gũi với Ấn Độ.
Thời kỳ đầu khi Phật giáo bắt đầu tạo chỗ đứng ở Ấn Độ (về sau bị tách thành phái Đại thừa – phái Tiểu thừa), tôn giáo này đã dần dần có ảnh hưởng ra bên ngoài mà địa điểm gần nhất với Ấn Độ là Sri Lanka. Thời Ashoka chính là thời kỳ mà Phật giáo phát triển nhất và truyền bá ra bên ngoài mạnh nhất và quy mô nhất. Theo sử cũ, Phật giáo đã lan truyền ra khắp nơi: Campuchia, Myanmar, Lào, Thái Lan, Việt Nam…, trong thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ VIII (tùy nơi), là những quốc gia tiêu biểu và có ảnh hưởng tương đối rõ của Phật giáo vào các nơi này, nhưng được lan truyền qua nhiều con đường khác nhau và mức độ lan truyền không giống nhau, nên sẽ dẫn tới việc Phật giáo có ảnh hưởng không đều giữa các quốc gia này. Và chúng tôi cũng không ngoa khi cho rằng, Phật giáo của Ấn Độ giao thoa rất tốt với văn hóa bản địa mà dấu tích còn để lại đó chính là tượng Phật (Myanmar, Phù Nam, Champa…), hình Phật (Thái Lan, Indonesia…), bánh xe luân hồi; bia ký (Champa). Trong suốt nhiều thế kỷ sau đó, với sự hỗ trợ nhiệt tình của triều đình cũng như các sư tăng, Phật giáo đã thâm nhập sâu và ngày càng có vai trò to lớn trong các lĩnh vực ở Đông Nam Á, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục. Ngôi chùa không chỉ là trung tâm văn hóa mà còn là hình tượng “chân, thiện, mỹ” đối với mọi người dân, trở thành nơi lưu giữ văn hóa, tri thức của dân chúng.
2.3. Chữ viết:
Hai ngôn ngữ cổ Ấn Độ là chữ Phạn (Sankrit) và chữ Pali góp phần quan trọng hình thành nên các ngôn ngữ ở Đông Nam Á. Từ rất sớm, người Chăm đã dùng chữ Phạn để ghi chép các sự kiện, hiện tượng diễn ra trong cuộc sống của con người và tình hình quốc gia mà dấu tích còn để lại đó là các văn bia, bia ký. Bia Võ Cạnh với cách viết gần với kiểu viết của các bia ký Amaravati ở Nam Ấn Độ đã được các nhà nghiên cứu định niên đại ở thế kỉ III - IV là bằng chứng đầu tiên về sự du nhập của chữ Phạn vào Champa. Trên cơ sở chữ Phạn, người Chăm sáng tạo ra chữ viết cho riêng họ. Chữ viết Chăm cổ gồm có 31 phụ âm và 32 âm sắc; xuất hiện lần đấu tiên trong bia Đông Yên Châu (Quảng Nam). Đây là tâm bia cổ nhất ghi bằng chữ địa phương ở Đông Nam Á[13]. Các nguồn sử liệu Trung Quốc cũng chép rằng ngay từ trước thế kỷ VII, người Chăm dùng văn tự của mình để ghi chép kinh sách và trao đổi thư từ. Năm 605, Lưu Phương, viên tướng của nhà Tùy (Trung Quốc) sau khi bình định Giao Châu đã đem quân đánh Lâm Ấp, thu về 18 thần chủ bằng vàng và hơn 1.350 bộ kinh Phật và nhiều sách viết bằng chữ Chiêm bà[14]. Theo các nhà nghiên cứu, chữ Chăm cổ có đến 16 nguyên âm, 31 phụ âm và 32 âm sắc và chính tả[15]. Theo sự nghiên cứu của Antoine Cabaton (Pháp) thì trong suốt quá trình tồn tại của mình, người Chăm dùng số kiểu chữ Ấn Độ như akhar rik (chữ thánh), akhar tapuk ( chữ sách), akhar ator (chữ treo), và phổ biến hơn cả là chữ thảo (akhar thrah). Chữ thảo là loại chữ mà người Chăm hiện nay còn sử dụng. Loại chữ akhar thrah cũng có một số biến thể như: akhar yok (chữ thần bí), akhar atwơt (chữ viết tắt, chữ treo) và akhar galinưng (chữ viết tháu, chữ con nhện)[16]. Từ thế kỷ XI thì chữ Chăm phổ biến là nét cong, nhưng đến thế kỷ XIV – XV thì chữ Chăm có nét vuông và được dùng phổ biến trong các bia ký Chăm.
Chữ Khmer bắt nguồn từ miền Nam Ấn Độ và theo truyền thuyết thì xuất hiện vào khoảng thế kỷ II. Nhưng tấm bia đầu tiên của người Khmer bằng chữ Khmer cổ mà hiện nay ta biết được đó là bia Angkor Borey (tỉnh Takeo, Campuchia) có niên đại năm 611[17]. Bia này nói về việc dựng một ngôi đền trong đó có 22 nhạc công và vũ nữ, 58 nô lệ làm ruộng, 100 bò và 20 trâu. Thế kỷ VIII, loại chữ này được phát triển và hoàn thiện dần vào thế kỷ XV. Thời kỳ Angkor là thời kỳ chữ Khmer hoàn thiện nhất và các văn bản, bia ký của nó được ghi chép, trau chuốt rất tỉ mỉ. Chữ Khmer thời kỳ phong kiến Angkor có đặc điểm: coi trọng phụ âm là chính, nguyên âm là phụ nên các phụ âm được bao quanh bởi các nguyên âm; cách sắp xếp chữ cái thì giống Ấn Độ: phụ âm đứng trước nguyên âm, và nguyên âm được tính từ trong ra ngoài theo vị trí của cấu âm. Ngoài ra, người Khmer cũng rất thông minh khi đặt ra ký hiệu ghi phụ âm của người Ấn thành nguyên âm của người Khmer; họ dùng 2 ký hiệu: khosak để ghi phụ âm có “âm thanh to”, akhosak để ghi phụ âm có “âm thanh nhỏ”; đó chính là cách giải quyết chữ viết của người Khmer khi sử dụng ngôn ngữ Ấn Độ. Ở nước Myanmar thì trên cơ sở chữ Pali, người Miến Điện (tức người Môn) sáng tạo ra chữ viết Môn cổ mà dấu tích còn để lại là các văn bia viết bằng chữ Môn cổ xuất hiện ở thành phố Thaton (thế kỷ VI) ở lưu vực sông Menam. Thế kỷ XI, chữ Miến xuất hiện thay thế chữ Môn và phát triển mạnh ở Pagan, Srivijaya với hình thù của nó là chữ nét tròn. Về cơ bản, tiếng Miến là đơn âm tiết và dùng nhiều tiểu từ có tiếp thu từ Tây Tạng; từ đa âm tiết của tiếng Pali; có 4 thanh điệu[18]. Chữ Malay cổ xuất hiện sớm nhất vào năm 683 trên tấm bia Bangkar[19]. B. Prahike, một học giả Liên Xô nhận định: “có thể có chữ viết Melayu cổ có chứa tải những bản dịch bằng tiếng Sankrit, nhưng dấu tích đó đã bị mất đi như văn học sơ khai của Chăm và Khmer[20].
Theo nhiều tài liệu khảo cổ đã biết, chữ Thái cổ xuất hiện khoảng thế kỷ VII – VIII ở Bắc Đông Dương, Bắc Myanmar mà tổ tiên của nó chính là chữ Pegu cổ và chữ Shan cổ vốn có nguồn gốc ở Ấn Độ truyền sang từ lâu đời. Từ hai loại chữ đầu tiên này, cư dân Thái vốn sinh sống ở Bắc Đông Dương vào thế kỷ X – XI tiếp thu và cải biên thành chữ Thái Lan vào thế kỷ XIII. Bia đầu tiên khắc chữ Thái Lan cổ là bia Rama Kamheng có niên đại năm 1296. Bia này viết: “Trước đây chữ Thái này chưa có. Năm 1205 Shaka (1283), Phà Khun Rama Kamheng đã tìm kiếm và ao ước sử dụng chữ Thái. Cho nên đã có những dòng chữ này[21]. Như vậy có thể nhận định chữ Thái xuất hiện đầu tiên vào năm 1283, mãi đến 1296 mới được ứng dụng rộng rãi trong khắc bia, viết văn, làm thơ…
Trên nền tảng chữ Thái, chữ Lào có thể hình thành muộn hơn một chút, vào cuối thế kỷ XIV. Chữ Lào bắt nguồn từ chữ Khmer và sau này chịu ảnh hưởng của chữ Môn, đã hình thành chữ Thăm[22] dùng để viết kinh Phật. Một số triều đại cổ Lào đã sáng tạo ra kiểu chữ riêng, nhưng về cơ bản đã có những nét chung: được hình thành từ dạng chữ Khmer gấp khúc, nhiều cạnh với chữ Môn nét cong mềm mại. Nhưng mãi tới thế kỷ XVI thì mới có chữ Lào chính thức xuất hiện ở mặt bên của tấm bia khánh thành bệnh viện Say Phong. Điều này chứng tỏ chữ Lào đã được sử dụng song song với chữ Khmer. Lời huấn thị của Vua Lào Pha Ngừm năm 1353 hoàn toàn bằng tiếng Lào phổ thông có thể đã được viết bằng một thứ chữ Lào đã có từ thế kỷ XIV. Chữ Lào vừa gọn gàng lại có đường nét duyên dáng, khác với chữ Khmer và Thái Lan[23]. Còn các văn khắc bằng chữ Lào mà chúng ta biết hiện nay có niên đại tương đối muộn – đó là bia Vat That 1548, bia Donsai 1560 và Thạt Luông 1566.
2.3. Văn học
Các tác phẩm văn học Ấn Độ như Mahabharata và Ramayana khi truyền xuống Đông Nam Á đã nhanh chóng thâm nhập vào khu vực này, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử văn học thế giới.
Lĩnh vực văn học dân gian là lĩnh vực mà văn học Đông Nam Á nhắc tới nhiều nhất. Từ các tác phẩm như Mahabharata và Ramayana khi du nhập vào đời sống của cư dân Đông Nam Á, vốn rất hiền hòa và sống động thì nó được dân gian hóa, được tái sinh trong dân gian, chúng làm giàu thêm cho kho tàng văn học vùng này. Một số tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu: Punha – Nhunhơ của Lào, Prah Thong của Khmer, Đẻ đất đẻ nước của người Mường Việt Nam…. Từ nền tảng là các câu chuyện, bài văn mang tính truyền miệng trong các dân tộc Đông Nam Á, các triều đại bản địa Đông Nam Á bị “Ấn hóa” đã chủ trương du nhập mạnh và cải biên chữ viết Ấn Độ thành chữ viết của mình, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành văn học viết. Có nhiều loại hình văn học viết: bia ký, minh văn, sách… Ở Champa, người dân dùng chữ viết của mình viết trên bia ký; bia ký của Champa thời kỳ này phản ánh ý tưởng của vua quan muốn trình bày, ca tụng công đức và sự nghiệp của mình: các bia ký ở Mỹ Sơn nói về sự thành kính của vua với các thần như Mahesvara, Uma, Vishnu…; bia ký của Sambhuvarman, Vikrantavarman có nói về đạo Shiva và ảnh hưởng của nó ở Champa. Bia nhấn mạnh Shiva: đáng kính trọng hơn Brahma, Visnu, Indra, Surya, Asura, hơn những vị Bàlamôn và hơn những Rsi, các vua chúa; bia Mỹ Sơn D3 của vua Harivarman IV ca ngợi và so sánh vua với các vị thần Ấn Độ: Krisna, Kama, Indra, Brahama và Siva – gần hết các vị thần chính của Ấn Độ giáo (cả Siva và Visnu). Ở Phù Nam là minh văn và sách. Minh văn là thể loại đầu tiên của văn học Phù Nam, được Coedes tìm ra vào năm 1931. Các minh văn này phần lớn là trường ca, điển tích (kavya), dài khoảng 10 – 15 câu thơ với ngôn ngữ trau chuốt, tỉ mỉ đã đưa người đọc vào những câu chuyện vốn được phổ biến trong xã hội Phù Nam thời đó. Ngoài minh văn, người Phù Nam còn biết viết sách. “Họ (người Phù Nam – MQ chú) cũng có sách vở, có nhà lưu nhiều sách vở và tài liệu (…). Vua Phù Nam lại có khả năng viết sách của Thiên Trúc (Ấn Độ), sách có khoảng 3.000 lời nói về nguyên do kiếp trước của vua, cũng tương tự như kinh Phật[24]. Ở Campuchia, người dân dựa trên những sự kiện đời thường và truyền thuyết để sáng tạo ra các câu chuyện dân gian như: Thmeng Chay, Chàng Alêu thông minh, Neang Cantoc – Neang Song Acat ở Campuchia; các câu chuyện dân gian về con khỉ, con rùa, con gà mái đen của người Indonesia, và những tác phẩm trên đã khởi xướng cho thể loại folklore (truyền miệng) ở Indonesia thời cổ trung đại.
Cũng từ các tác phẩm như Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ, khi du nhập vào Đông Nam Á thì tạo ra những tác phẩm văn học viết dù có dấu ấn của Ấn Độ, nhưng vẫn mang tính dân tộc cao, nhưng đa dạng về thể loại. Tiêu biểu cho văn học Đông Nam Á là tác phẩm Riêmkê (thế kỷ IX – XIV) của Campuchia. Đây là tác phẩm mang nhiều dấu ấn thời đại và cũng là tác phẩm đầu tiên đặt ra vấn đề về thân phận người phụ nữ trong văn học Campuchia với hình tượng nhân vật Sedha tượng trưng cho người phụ nữ Campuchia chung thủy, hết lòng yêu thương chồng con, cùng chồng gánh vác những việc khó khăn, không bị tình yêu, của cải, sức mạnh, quyền lực cám dỗ. Tuy lấy đề tài từ sử thi Ramayana và Ramayana thì thần linh hóa các nhân vật nhưng Riêmkê lại khác, họ đã kéo các nhân vật có nguồn gốc thần linh lại gần cuộc sống bình thường của người dân Campuchia bằng cách đưa tính nhân bản vào các nhân vật này: ghen tuông, mù quáng, cố chấp…đưa ra một kết cục bi thảm. nó diễn tả hậu quả của những sai lầm của con người và có tác dụng răn đe những người xem, người đọc. Tác phẩm thứ hai cũng rất hấp dẫn người đọc là Ramakien (Thái Lan) được vua Taksin của triều Thonburi sáng tác (chuyển thể thành Iakhon – một dạng vũ kịch) vào cuối thế kỷ XVIII. Vua Rama I cho thu thập nhiều dị bản của Ramakien tập hợp thành tác phẩm thống nhất với 117 tập, cho vẽ tranh của tác phẩm này lên tường của chùa Phật ngọc. Mãi đến thời Rama III, ông cho viết lại tác phẩm này gồm 36 tập với nhiều tình tiết mới lạ, ngôn ngữ giàu chất thơ, đồng thời ông cho dàn dựng kịch Ramakien mới[25]. Thơ ca cũng rất phát triển, dồi dào âm điệu và cảm xúc trữ tình, phản ánh nội dung về tình hình xã hội, quốc gia, tình yêu gia đình và quê hương đất nước. Thể loại trường ca (Malaysia là truyện sử - na ná như trường ca) và sử thi cũng rất thịnh hành ở các quốc gia mang dấu ấn của Ấn Độ ở các nơi này: ở Champa là các trường ca Đăm Săn – Xinh Nhã; MalaysiaHikayat Seri Rama, Hikayat Pandawa[26]
2.4. Nghệ thuật kiến trúc
Cùng với văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng nhiều đến Đông Nam Á qua các lĩnh vực tôn giáo, âm nhạc, lễ hội… nhưng có lẽ nghệ thuật và kiến trúc là lĩnh vực ở Đông Nam Á chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ Ấn Độ; cụ thể nhất đó là qua kiến trúc Angkor Wat, Angkor Thom, Borobudur… Mặc dù chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, nhưng ta không thể nói rằng những công trình kiến trúc Đông Nam Á đều sao chép hoàn toàn của kiến trúc Ấn Độ, nhưng kiến trúc Ấn Độ đã được đồng hóa và biến thành tài sản riêng của Đông Nam Á. Nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng người Nga thế kỷ XIX – P.I.Busleev nói: “Tính dân tộc của mỗi dân tộc là một tương lai vĩ đại đã định sẵn cho họ rồi, thì bằng một sức mạnh đặc biệt, nó có thể đồng hóa tất cả những gì bên ngoài vào thành sở hữu của chính mình[27].
Một điểm mà chúng tôi cho là có dấu ấn của Ấn Độ trong nghệ thuật – kiến trúc Đông Nam Á, đó là kiến trúc của Ấn Độ khi du nhập vào Đông Nam Á thì được người dân nơi ấy tiếp thu, và họ không tiếp thu một cách thụ động, một chiều mà tiếp thu chủ động; chọn lọc những cái hay, cái tinh túy và cái đẹp nhất của nghệ thuật Ấn Độ đưa vào tác phẩm nghệ thuật của mình; đồng thời dùng nghệ thuật Ấn Độ kết hợp với nghệ thuật bản địa rồi sáng tạo, để hình thành nền nghệ thuật kiến trúc mang đậm dấu ấn của Ấn Độ, nhưng mang đậm tính dân tộc cao. Ngoài ra, một điểm đặc biệt đó là các trường phái nghệ thuật Ấn Độ như Gandara, Amaravati, Gupta… khi sang Đông Nam Á cũng lập lại các trường phái này, nhưng đổi tên gọi sao cho phù hợp điều kiện địa lý và lịch sử phát triển của quốc gia. Mỗi quốc gia thì hình thành sẽ kéo theo hình thành các trường phái nghệ thuật (có tài liệu ghi là phong cách nghệ thuật). Nhưng có lẽ do tính dân tộc, điều kiện địa lý và ý thức hệ cao nên mỗi quốc gia đều có trường phái nghệ thuật riêng. Các trường phái thường đặt theo tên của triều đại, tên địa điểm phát tích ra nền nghệ thuật đó; ví dụ: theo địa điểm phát tích thì có trường phái Mỹ Sơn, Hòa Lai, Đồng Dương ở vương quốc Champa cổ; phong cách Phù Nam (4 phong cách), Phnom Da ở quốc gia Phù Nam cổ; theo triều đại thì có phong cách Angkor của triều Angkor (Campuchia), phong cách Sukhothai – Ayutthaya của Thái Lan… Cách đặt tên cho phong cách nghệ thuật như vậy, vừa mang đậm dấu ấn của Ấn Độ và vừa mang tính bản địa cao; hay nói đúng hơn: sự kết hợp Ấn + bản địa đã tạo nên cho nghệ thuật Đông Nam Á một sức phát triển vượt bậc mà ít có nền nghệ thuật nào sánh kịp, làm cho nền nghệ thuật Đông Nam Á vốn đã phát triển đa dạng thì lại càng đa dạng và phong phú hơn nhiều.
Về nghệ thuật ở Đông Nam Á, chúng tôi thống nhất chia thành 2 mảng là kiến trúc và điêu khắc. Về kiến trúc thì ở Đông Nam Á có nhiều kiểu, loại kiến trúc nhưng tựu trung thì có các kiểu kiến trúc sau:
1. Kiến trúc đền – núi: Đây là kiểu kiến trúc rất đặc biệt ở Đông Nam Á, nó gồm một ngôi đền xây theo kiểu hình ngọn núi Meru, núi thiên ở Ấn Độ thời cổ trung đại. Các công trình kiến trúc xây theo kiểu này có: đền Angkor Wat, Angkor Thom ở Campuchia; đền Borobudur ở Indonesia, quần thể đền núi Lara Jonggran ở Indonesia… Đầu tiên là đền Angkor Wat. Angkor Wat là một đền – núi lớn, do vua Suryavarman II (1113 – 1150) xây dựng, là một trong những kỳ quan kiến trúc của Campuchia nói riêng và vùng châu Á nói chung. Từ “Angkor Wat” dịch là Kinh đô Chùa (Angkor: gốc từ tiếng Phạn negara nghĩa là kinh đô; Wat là đền thờ, chùa). Khu Angkor Wat có chu vi gần 6 km và diện tích khoảng 200 ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp có độ cao 65,5 m. Angkor Wat là địa điểm duy nhất có lối ra vào là hướng Tây, tức hướng Mặt Trời lặn. Khu đền tháp (khu trung tâm) có 4 tầng nền (tầng đầu là 3,5 m, tầng hai: 7 m; tầng ba: 13 m và tháp trung tâm: 42 m[28]), cao lên cao thì càng thu nhỏ như mô hình núi vũ trụ Meru thu nhỏ của người Ấn Độ. Quanh khu trung tâm có các hồi lang kín bằng đá và ở các hồi lang này đều có các tháp ở góc và các cổng phòng ở giữa bốn mặt; đồng thời ở các hồi lang này thì người ta đếm được 398 gian phòng với nghệ thuật chạm khắc đá trên trần phòng, hành lang, các lan can… Bên dưới các tòa tháp lớn là các đường hành lang dài hun hút, mát lạng với các phù điêu sống động, nhưng không làm mất vẻ linh thiên của nó. Lúc đầu nó thờ Vishnu, sau thì thờ Phật. Sau khi Angkor bị Xiêm đánh bại phải lui về Phnom Pênh (1434), Angkor Wat bị lãng quên và cuối cùng, nó đã sống lại sau phát hiện của Henri Mouhot (Pháp) vào năm 1860.
Kiến trúc thứ hai mà ta có thể kể đến là Angkor Thom. Angkor Thom là một đền núi lớn, được Jayavarman VII (1181 – 1218) xây dựng để làm kinh đô quốc gia, đồng thời khẳng định Phật giáo là quốc giáo của đế quốc Angkor. Nằm cách Angkor Wat 2 km về phía Bắc, Angkor Thom là tổng thể kiến trúc đô thành và tôn giáo rộng lớn: Angkor Thom xây trên bình đồ hình vuông với diện tích 16 km2, cạnh đáy dài hơn 3 km, tường thành cao 6 m và hào nước rộng 200 m bao quanh và có 4 đường trục vuông mở ra 4 phía. Trong Angkor Thom có nhiều đền đài như: đền Bayon, đền Baphuon, Sân Voi, Sân Vua Cùi, đền Phimeanakas, đền Khleang, Preah Palilay…, trong đó nổi bật nhất là đền Bayon. Đây là đền tháp 3 tầng, có 4 tháp mặt người quay ra 4 hướng. Tháp chính Bayon cao 23 m với 52 tháp phụ hình mặt người cười tạo thành khối tháp – nhìn giống như ngọn núi Meru hùng vĩ của Ấn Độ cổ. Trên một cây cầu lớn dẫn vào đền, người ta chạm khắc được các dãy gồm 54 tượng thể hiện thần – quỷ ôm rắn Naga khuấy biển sữa để lấy thuốc trường sinh. Kiến trúc đền – núi thứ ba có thể kể tới nữa là đền – núi Borobudur ở Indonesia. Đền Borobudur được xây vào khoảng năm 800 dưới thời vua Warak của vương triều Núi Sailendra (800 – 819). Tên Borobudur bắt nguồn từ chữ Vihara Buddha Ur (tiếng Phạn) nghĩa là “nơi thờ Phật trên núi”. Borobudur cao 42 m (có tài liệu ghi là 31,5 m) bao gồm 12 tầng (vuông – tròn xen kẽ nhau), và chân nền vuông rộng 123 m (có tài liệu ghi là 110 m); đây là công trình kiến trúc, điêu khắc tuyệt mỹ mang ảnh hưởng sâu sắc của vùng Đông Nam Á hải đảo. Cả ngôi đền xây trên lưng đồi vào cách chân đồi 15,5 m; toàn bộ tháp là 300.000 viên đá lớn và không có nội thất bên trong. Có 5 hồi lang vuông kế tiếp nhau theo chiều cao của tầng dưới và 3 hồi lang tròn đồng tâm ở phía trên (co 72 tháp nhỏ bao quanh tháp lớn), thể hiện quan điểm trời tròn đất vuông của người phương Đông cổ. Toàn bộ tháp được trang trí bằng 1506 phù điêu, 1212 hình điêu khắc mang tính trang trí và 504 tượng Phật (trong có 72 tượng Phật ở 3 hồi lang tròn trên cùng). Nếu nhìn dưới góc độ Phật giáo thì khu đền này là một vũ trụ thu nhỏ. Các bậc thềm từ tầng một đến tầng chín đều được phủ kín bởi những phù điêu kể về chuyện Phật như Phật truyện, Nguồn gốc loài người, Tranh 53 điều… nói về cuộc đời Đức Phật, bồ tát và các anh hùng giác ngộ Phật pháp… Ba tầng trên cùng bằng phẳng, có trổ ra 72 tháp chuông bên trong chứa 72 tượng Phật ngồi. Đó thực sự là tác phẩm điêu khắc Phật giáo – một kho tàng nghệ thuật điêu khắc bậc nhất thế giới, được gọi là sử thi trên đá.
Tháp cũng là kiểu đền – núi như các đền – núi khác ở Campuchia, Indonesia. Trong thời kỳ phát triển của vương quốc Champa thì có khoảng 70 tháp (tập trung nhiều nhất ở thánh địa Mỹ Sơn), nhưng cho đến năm 1994 thì Ngô Văn Doanh thống kê được chỉ còn 19 khu tháp, 40 kiến trúc nhỏ[29] mà thôi. Về hình dáng, các tháp Chăm có cấu trúc như kiểu đền – núi của người Ấn Độ gọi là Shikara (shikara là đỉnh núi nhọn), trên các tầng tháp có các tháp nhỏ ở các góc. Tuy hình núi non có gốc là Ấn nhưng với người Chăm, nó là hình tượng của núi cao trùng điệp và sinh thực khí nam; mái của tháp cong hình thuyền – đặc trưng của kiến trúc nhà ở ở Đông Nam Á (Phù Nam, Đông Sơn). Người Chăm tiếp thu và hòa quyện, đồng thời sáng tạo ra những công trình mặt dù mang dấu ấn Ấn Độ nhưng tính bản địa hóa ngày càng ăn sâu bền chặt và người Chăm gọi là kalan (lăng mộ). Các kalan có chức năng là thờ Vua, thờ Thần, thánh đường thờ các vị thần bảo trợ cho nhà vua[30]. Trong các đền tháp Chăm, vị thần thờ là Shiva và linh vật để thờ là linga – giống như thờ sinh thực khí nam và Shiva + linga xem như là một. Linga có nhiều loại: linga một thành phần, linga hai thành phần, linga ba thành phần, linga hình mặt người… Các tháp Chăm tiêu biểu: Tháp Poklong Giarai, tháp Po Rome, tháp Mẫm, tháp Bánh Ít, tháp Ba Tháp… Trong xây dựng các tháp Chăm, tháp Khmer thì nguyên vật liệu và cách xây dựng có phần khác nhau, nhưng nó đều giống một điểm là các công trình này đều xây bằng gạch nung đỏ và không vữa, các viên gạch đặt rất khít nhau đến nỗi một lưỡi dao mới lách qua nổi mà thôi. Ta có thể thấy điều này ở Angkor Wat, Angkor Thom. Đền tháp Champa xây cũng bằng gạch (không vữa), nhưng hiện nay giới khoa học cho rằng có vữa để xây và vữa chủ yếu là dầu rái. Thế nhưng hiện nay, người ta vẫn chưa giải mã được kỹ thuật xây tháp của người Khmer, người Chăm (cũng trong thời ký đó thì người Maya, Inca ở châu Mỹ cũng xây dựng theo kiểu này, tuy nhiên việc xây dựng như thế nào vẫn còn là câu hỏi cần được các nhà khoa học đầu ngành giải đáp tường tận).
Một điểm rất đặc biệt của tháp Chăm là có tháp Vàng – tháp Bạc, điều xưa nay chưa từng thấy trong kiến trúc Đông Nam Á. Ở Champa có tháp Bánh Ít là tháp Bạc, tháp Dương Long là tháp Vàng. Hiện chưa rõ vì sao người ta đặt tên như vậy, theo chúng tôi suy đoán thì có lẽ Vàng, Bạc ở đây dùng để chỉ vật liệu xây tháp, đồng thời hiểu khác hơn nữa là Vàng là chốn giàu sang của Vua chúa, Bạc thể hiện cuộc sống người dân. Do văn hóa Đông Nam Á coi trọng nông nghiệp nên khoảng cách giàu – nghèo không rõ rệt, các vua có chính sách thân dân nên tạo được sự tín nhiệm của dân với vua, đồng thời dân cũng giúp vua hình thành lực lượng mạnh để vua tiến hành xâm lược bên ngoài. Chùa cũng thế, cũng Chùa Vàng – Chùa Bạc và xuất hiện ở Campuchia, Thái Lan, Myanmar và có lúc lan sang Nhật Bản (thời Mạc Phủ Muromachi, các shogun cho xây dựng Chùa Vàng – Chùa Bạc).
2. Kiến trúc chùa: chùa là kiểu kiến trúc đặc biệt, là đặc trưng của Phật giáo ở khu vực Đông Nam Á; khi nói tới Phật giáo Đông Nam Á thường là người ta nghĩ tới chùa. Chùa chính là nơi thờ Phật, các vị bồ tát, các vị Phật trong kinh kệ Phật và ngay cả các vị Phật trong dân gian. Ở Ấn Độ, vào thời cực thịnh của Ashoka thì nhà vua cho xây rất nhiều chùa, tạo điều kiện cho đạo Phật ăn sâu vào lòng nhân dân Ấn và đồng thời tạo điều kiện cho Phật giáo truyền bá ra ngoài, trong đó có Đông Nam Á. Ở Đông Nam Á, chùa được xây rất nhiều và có nhiều tên gọi khác nhau: Thạt, Vắt (Lào), Cetiya (Myanmar), Wat (Thái Lan). Ở Lào hiện có một số ngôi Vắt sau: Vắt Hỏ Xiệng, Vắt In Peng, Vắt Long Khun, Vắt Pạ Khe… . Thạt là ngôi chùa ở Lào, chức năng của nó là nơi chứa hài cốt của cao tăng Phật; các Thạt là: Xỉkhốt Tạboong, Pu Xí, Xỉ Khôttabong…và nhất là Thạt Luông – kiến trúc kinh điển của Phật giáo ở Lào; ở Thái Lan là các Bọt, Vihara. Vihara là tu viện Phật giáo ở Thái Lan, Champa, có 3 kiểu là tu viện trong rừng, tu viện xa xôi – hiu quạnh; Bọt là chùa ở Thái Lan, dùng để thờ Phật. Mỗi bọt thường có tường cao, mái rất dốc và trên mái thường chạm khắc hình quái vật makara, rồng, chim… bằng gỗ; xung quanh bọt là các miếu (sema) nhỏ làm tôn thêm vẻ linh thiên cho bọt. Và đôi khi, các bọt cũng được gọi là chùa cho hợp với khẩu ngữ địa phương; ví dụ: chùa Bovornivet (thế kỷ XIX), chùa Aranik, chùa Ana Bavannarama…. . Ở Myanmar, một quốc gia nổi tiếng là nhiều chùa Phật (4000 chùa) cũng có những chùa nổi tiếng như: chùa Chantauji, Lokananda, Bupaya (thế kỷ VIII – IX), Chapata…. Có những ngôi chùa rất lớn như chùa Ananda, chùa Shweidagon. Chùa Shweidagon (còn gọi là Chùa Vàng) là ngôi chùa lớn và tiêu biểu nhất của Myanmar; được xây năm 1372 và được trùng tu nhiều lần (có cất giữ 8 sợi tóc Phật). Chùa hình tháp nhọn, cao 120 m với cạnh đáy vuông dài 400 m, đặt trên nền bệ 8 cạnh. Đỉnh chóp là quả cầu vàng được khảm bởi 54.448 viên kim cương to nhỏ khác nhau. Toàn bộ thân tháp được phủ bởi 9.300 lá vàng, bên trọng treo 1.065 chuông vàng và 421 chuông bạc; trong chùa có chuông đồng lớn cao 4 m.
Điêu khắc cũng rất phát triển ở Đông Nam Á cổ trung đại; các tác phẩm điêu khắc lúc này thường là các tượng Phật, tượng các vị thần trong Phật - Ấn giáo và hình khắc trên tường các đền, chùa và hầu hết đều chịu ảnh hưởng của các trường phái Ấn Độ: Gandara, Amaravati, Gupta…. Ở Champa chịu ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo, các tượng xuất hiện rất nhiều. Người Chăm đã chạm khắc rất nhiều tượng thần, ví dụ tượng Yasha có tư thế ngồi theo phong cách Amaravati, Uma giết quỷ đầu trâu, chim thần Garuda, thần voi Ganesha theo phong cách của Ấn giáo. Về Phật giáo có các tượng Phật ở Đồng Dương (hai tay đưa ra trước, áo cà sa có gờ và hở vai phải), tượng Bồ tát Avalokitesvara 8 tay, Phật đứng ở Đăng Bình… nhưng nhiều nhất là tượng Phật đứng (Buddhapad). Tượng Phật đứng (Buddhapad) xuất hiện đầu tiên ở Óc Eo (kinh đô của Phù Nam thời cổ trung đại, người ta thống kê có 50 tượng như thế ở vùng Óc Eo (An Giang) và Campuchia. Ở Indonesia cũng có tượng Phật đứng trên đảo Celebre (cà sa để hở vai phải), tượng Bồ Tát ở Pura Subak Kedaagan (Bali). Thái Lan là tượng Phật đa dạng với 4 tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi với nhiều đường nét đa dạng, phong phú. Ví dụ tượng Phật đi ở Pedi Wat Bencham Mapopit ở Bangkok (Thái Lan). Điêu khắc trên tường (phù điêu) của các công trình có ở khắp nơi. Trên các bức tường, lan can của Angkor Wat, Angkor Thom và Borobudur đều có các phù điêu kể về cuộc đời đức Phật (Borobudur), phù điêu có nhiều tiên nữ (apsara), các thần thánh trong Ấn Độ giáo thấy trong Angkor Wat , Angkor Thom; phù điêu Vua múa Shiva trên tháp Chăm…
2.5. Lễ hội, ẩm thực
Dưới ảnh hưởng của Ấn Độ, lễ hội Đông Nam Á vốn đã hình thành từ thời cổ xưa thì đến thời gian này vẫn phát triển và ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Do ảnh hưởng từ Phật giáo của Ấn Độ nên người dân Đông Nam Á tổ chức nhiều lễ hội đa dạng, phong phú; nhất là lễ Tết. Tết của Lào cũng chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, nhưng đặc biệt nhất là ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ do Phật giáo đang là quốc đạo của Lào và Tết Lào gọi là Bunpimay, diễn ra vào giữa tháng 4 theo Phật lịch Lào. Tết của người Thái là Songkhran và rơi vào giữa tháng 4 âm lịch theo lịch Thái; ở Tết này, người ta tổ chức hội Té nước; ở Campuchia là Tết Chol Chnam Thmay, cũng vào tháng 4 hoặc tháng 5 dương lịch, thời gian chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa và cũng nhằm mục đích cầu mưa qua những tục té nước tắm tượng Phật... Tết của Myanmar là mang tên vị thần (nát) tối cao Thagyarmin. Nguồn gốc của cái tên được truyền thuyết của người Miến truyền tụng trong những câu chuyện huyền thoại đại để với nội dung như sau: "Xưa kia, cả mặt đất không hề có sự sống và đắm chìm trong bóng tối. Thấy tình cảnh như vậy Chúa tể của các thần là Thagyarmin bèn ra lệnh cho mặt trăng và mặt trời chiếu sáng mặt đất. Rồi thần tạo ra mọi vật. Khi mặt đất đã có cuộc sống yên ổn rồi, thần về trời. Lúc chia tay, vị thần tối cao hứa là hàng năm sẽ trở lại mặt đất với con người vào dịp năm mới. Bởi vậy, người dân lấy tên thần gọi ngày tết của mình". Mặc dầu cái tên có vẻ không gắn gì lắm với tính chất của lễ hội, nhưng Thagyarmin của người Miến bao giờ cũng là lễ tết của té nước cầu mưa và bao giờ cũng rơi vào những ngày cuối của mùa khô (vào một ngày nào đó trong tháng 4 dương lịch). Lễ hội ở Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của Ấn Độ nhiều nhất là lễ hội Deepvali, Diwali có nghĩa là lễ hội ánh sáng, tượng trưng cho nền văn hóa lâu đời của Ấn Độ. Ý nghĩa của hai lễ hội này là dạy cho con người biết vượt qua sự ngu dốt và tìm đến ánh sáng của tri thức. Vào dịp này, mọi gia đình dù giàu hay nghèo, đều thắp những ngọn đèn nhỏ nhấp nháy ánh sáng vàng cam rực rỡ để chào đón Lakshmi, vị thần của sự giàu có và thịnh vượng. Đặc biệt, lễ Diwali được người Ấn xem là quan trọng, được tổ chức vào đêm 13 kỳ trăng khuyết (tức đêm 28) của tháng Ashwin cho tới ngày thứ 2 của tháng Kartika trong lịch Ấn Độ. Đây còn được gọi là Lễ hội ánh sáng vì mọi người có phong tục thắp đèn dầu bấc vải (gọi là dipa) để ăn mừng chiến thắng của thần Krishna trước Narakasura, biểu tượng cho chiến thắng của các thiện trước cái ác. Lễ hội Deepvali được tổ chức nhiều nơi, nhất là Singapore – nơi quan trọng nhất và tổ chức lễ hội tương đối rình rang nhất. Ngoài ra, người dân Đông Nam Á còn tổ chức lễ hội Thaipuam, vốn xuất hiện từ người Ấn di cư vào Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX. Lễ hội này nhằm biểu dương sức mạnh con người, thể hiện lòng mộ đạo của con người với các thần linh bằng cách dùng vật thể nhọn xuyên qua cơ thể họ, cho tới cách làm trần tục khác là dùng hoa và sữa tưới lên thân thể mình … để tỏ lòng tôn kính thần Chúa tể Murugan (Subramanian). Người Chăm còn tiếp thu lễ hội của người Ấn, thể hiện rõ trong các lễ hội đền tháp của người Chăm ở Trung Bộ.
Ngoài lễ hội, ẩm thực của Ấn Độ cũng được lan truyền và để lại dấu ấn cho người dân Đông Nam Á từ lâu đời. Món cà ri (kari: tiếng Ấn nghĩa là nước sốt) vốn nổi tiếng ở Ấn Độ từ lâu mà khi sang Đông Nam Á thì được phổ biến rộng rãi. Nếu người Việt dùng cơm làm món ăn hàng ngày thì người Ấn cũng dùng cà ri làm món ăn hàng ngày. Cà ri kiểu Ấn du nhập vào Việt Nam được người dân ta cải biên phù hợp khẩu vụ từng vùng miền: người Nam thì nấu cà ri với nước cốt dừa, còn người Bắc thì lại thích nấu với sữa bò tươi. Các loại nguyên liệu chính trong món cà ri của người Việt thường là thịt gà, dê, bò kèm thêm cà rốt, khoai tây, khoai môn... và một số gia vị. Món cà ri Ấn du nhập vào người Chăm cũng được họ cải biên lại với khẩu vị khác lạ. Chẳng hạn trong bữa cơm bình dân của người Chăm thường thấy có món pài ga ghênh, bao gồm gạo rang xay nhuyễn thành thính rồi nấu chung với cà ri, cà pháo, đu đủ sống, củ cải, cà rốt... Ngoài những gia vị thông thường còn có thêm trái bứa chua và cả mắm bò hóc của người Khmer cho thêm phần đậm đà. Cũng về món cà ri, người Việt nấu khá nhiều nước, không dùng nhiều gia vị nên cà ri người Việt bớt mùi nồng (người Ấn cho ít nước, nhiều gia vị nên rất nồng). Đặc biệt, người Ấn thường chỉ ăn cà ri với cơm và bánh mì, trong khi người Việt Nam còn chan cà ri cả lên bún (ăn kèm giống như một loại nước lèo) và dùng đũa lua. Món cà ri Ấn Độ khi du nhập vào Việt Nam đã trở nên rất phổ biến. Nó không chỉ được biết đến ở các nhà hàng, quán ăn mà đã đi vào đời sống của mỗi gia đình bên mâm cơm hàng ngày và trở thành một món ăn quen thuộc đối với mỗi người Việt Nam
Kết luận: Tóm lại, trong suốt 15 thế kỷ sau Công nguyên, Đông Nam Á đã trở thành và đã là một khu vực văn hóa, chính trị - xã hội thống nhất với nét đặc trưng lớn nhất là chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ. Chính những ảnh hưởng của Ấn Độ đã là một sợi dây vô hình, nhưng đầy sức mạnh, liên kết các nhà nước, các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á vào một quỹ đạo văn hóa chung, hay một thế giới văn hóa đồng nhất với một tôn giáo chung, một chữ viết chung, một hệ tư tưởng chính trị chung, một nền văn học và nghệ thuật chung, một hệ thống luật pháp và lịch pháp chung và khá nhiều phong tục và lễ hội chung. Có lẽ hiếm thấy trong lịch sử nhân loại một khu vực địa lý phức tạp và đa dân tộc lại thống nhất mạnh mẽ và sâu sắc về văn hóa trong suốt một thời gian dài cả hơn chục thế kỷ như khu vực Đông Nam Á thời kỳ một thiên niên kỷ rưỡi sau công nguyên. Tuy cùng chịu ảnh hưởng chung của Ấn Độ, nhưng mỗi quốc gia cổ đại Đông Nam Á lại tạo ra cho mình một nền văn hóa, một mẫu hình tổ chức chính trị - xã hội riêng rất đặc trưng của mình.

Tài liệu tham khảo:
1.      Nguyễn Huy Cận (1997), Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
2.      Coedes, G. (2008), Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nguyễn Thừa Hỷ dịch, NXB Thế giới, Hà Nội.
3.      Ngô Văn Doanh (1999), Từ điển văn hóa Đông Nam Á phổ thông, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
4.      Phạm Đức Dương (2013), Lịch sử văn hóa Đông Nam Á, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
5.      Nguyễn Tấn Đắc (2000), Văn hóa Đông Nam Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
6.      Grey, Maggie (2001) “Encountering the Mandala: The Mental and Political Architectures of Dependency”, in trong: The Culture Mandala (The centre for East-west Cultural and Economic Studies, Bond University, Gold Coast, Australia), Vol.4, No.2, November, p..2
7.      Hall, D. G. E (1997), Lịch sử Đông Nam Á (nhiều người dịch), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8.      Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
9.      Nguyễn Đức Hòa (2013), Lịch sử thế giới (bản đánh máy, lưu hành nội bộ), Đại học Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh.
10. Nguyễn Quốc Lộc (1995), Đông Nam Á ngày nay, số 3, NXB Đại học Mở - bán công Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh
11. Khoa Đông Phương học (2012), Văn hóa – xã hội các nước Ả rập: truyền thống và hiện tại (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Trường ĐH KHXH – NV Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
12. Hồ Xuân Mai (2013), Ngôn ngữ sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long (kỷ yếu Hội thảo khoa học), Đại học An Giang, An Giang.
13. Nehru, Jawaharlal (1990), Phát hiện Ấn Độ, tập 1, NXB Văn học, Hà Nội.
14. Vũ Dương Ninh (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
15. Vũ Dương Ninh (2001), Một số chuyên đề lịch sử thế giới, tập 1, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
16. Thái Nguyễn Đức Minh Quân (2012), Sự du nhập và ảnh hưởng của Hồi giáo đến Malaysia (thế kỷ XV_2000), Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sài Gòn
17. Trương Hữu Quýnh, Đào Tố Uyên (1998), Các nền văn minh trên đất nước Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
18. Reid, Anthony (1988), Southeast Asia in the Age of Commerce 1450-1680, Vol. 1: The Land below the Winds, Yale University Press.
19. Trần Ngọc Thêm (1998), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
20. Wolters, O. W. (1999), History, Culture and region in Southeast Asian Perspertives xuất bản năm 1982, Asian Studies, Revised Edition.


Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

KỶ NIỆM 68 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (19/8/1945 – 19/8/2013) VÀ QUỐC KHÁNH (02/9/1945 – 02/9/2013)

KỶ NIỆM 68 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (19/8/1945 – 19/8/2013) VÀ QUỐC KHÁNH (02/9/1945 – 02/9/2013)

Nhà văn Đỗ Chu  - Báo An ninh – Thủ đô
Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt trọng đại trong tiến trình lịch sử nước nhà. Một chân trời mới mở ra với nền Cộng hòa non trẻ. Đứng đầu Nhà  nước này là một vị Chủ tịch giàu cốt cách gánh vác, dường như ở đây đã có sự chuẩn bị mang ý nghĩa cơ trời vận đất.
Đây là những ngày tháng đẹp nhất trong những ngày tháng đẹp, để hôm nay ngoảnh lại mỗi người trong chúng ta còn chưa hết rưng rưng. Hãy hình dung, từ vũng bùn nô lệ một đám đông khổng lồ bật dậy với hai bàn tay trắng và quả tim nóng, gọi nhau đứng quanh Người, gọi nhau làm một cuộc lên đường rất dài và rất nhiều chông gai, dám sống và dám chết cho nền tự do độc lập dân tộc, trong đó có chính mình. Từ buổi đầu Bác đã trang trọng nói trước toàn thể đồng bào: “Tự do cho một dân tộc mà không có tự do cho mỗi người thì cái tự do ấy liệu để làm gì!”.

Thân phận mỗi người dân nước Việt đã được Người nhìn nhận bằng một tầm nhìn mang khát vọng nhân quyền ở một xã hội có đẳng cấp. Người trở về Tổ quốc như một huyền thoại, như một giấc mơ mà lại cũng hết sức gần gũi. Người ra đồng cùng bà con tát nước chống hạn, cùng các cụ già trồng cây, bón cơm mớm cháo cho trẻ thơ và làm thơ gửi cả nước mỗi bận xuân về.

Đầu tháng chín năm ấy Người đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Quảng trường Ba Đình. Bản Tuyên ngôn tự tay Người thảo bằng nội lực giống nòi, bằng hồn thiêng núi sông, bằng khí phách toàn dân tộc.

Vài hôm sau Người cho gọi mấy đồng chí phụ trách Nha Công an Bắc Việt lên làm việc, lúc chia tay người dặn dò, sinh ra các chú là phải có bắt bớ, vậy Bác tặng các chú mấy câu để mang theo trên đường công tác lâu dài: “Hay bắt không bằng bắt hay, bắt hay không bằng không hay bắt”.

Phương Tây có câu người mạnh là người biết nói đùa. Lại có câu mọi việc nghiêm chỉnh đều giấu dưới nụ cười. Càng đau càng phải biết cười, cho nên Bác mới hay cười. Thiết nghĩ sau nụ cười hôm ấy của Bác còn có mênh mông một tình yêu thương con người. Nhà văn Xô Viết Mendenxtam từng nói: “Tôi nhìn thấy nụ cười Nguyễn Ái Quốc có mang ánh sáng của một nền văn hóa tương lai”.

Khoan hòa mà lẫm liệt, Người đã thực hiện một cuộc lên đường đầy tinh thần minh triết giữa một nhân loại đang vỡ ra biết bao biến cố khôn lường. Đó là một chuyến đi dài ba chục năm, mỗi chặng đường một cái tên. Những cái tên khiến đồng chí đồng bào ngóng đợi mà kẻ thù thì ngần ngại. Con người nhân ái là thế lại có thể cũng là một nỗi ám ảnh khiếp hãi đối với các thế lực thực dân cũ và mới.

Là Tổ quốc? Vâng, quả có thế. Là kẻ bị  săn đuổi ruồng bỏ? Vâng, quả có thế... Nhưng thưa, không hẳn chỉ có thế. Đây còn là Người một mai sẽ nhảy xuống sông mở đập, áo vải phong phanh mà trí lực nuốt ngưu, là người lĩnh xướng, người chỉ huy, nhà kiến tạo, nhà tổ chức xuất sắc của một nhân dân xuất sắc.

Người ấy đã từng khóc thầm trong đêm vắng Paris ngồi đọc Luận cương Lênin bàn về phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đã từng kể trong những năm tháng bôn ba, chỉ thấy có dạo ở Mỹ nghe chừng dễ chịu hơn cả, bước ra đường người ta còn muốn chuyện trò với mình. Đã từng ghi vào tâm khảm câu nói hay của thổ dân da đỏ “Một người vì mọi người, mọi người vì một người” và đọc Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776, say mê luôn Thomas Jefferson, một chính khách lỗi lạc, cha đẻ của bản tuyên ngôn đó, khen ông này có nhân cách liêm chính, tầm mắt rộng, yêu con người.

Suốt bốn mươi năm hoạt động Thomas Jefferson đã từng ở  các cương vị Chủ tịch Đảng Dân chủ, Thống đốc bang, Ngoại trưởng rồi Tổng thống. Ông từng để lại những câu nói nổi tiếng, minh triết cần phải lớn lên cùng quyền lực của chúng ta. Minh triết dạy chúng ta càng ít sử dụng quyền lực thì quyền lực càng lớn!


Hồ Chí Minh ra đời sau Thomas Jefferson gần hai thế kỷ, ở hai miền xa lạ vậy mà cả hai đã cùng yêu, và đều là hiện thân của minh triết. Họ đã gặp nhau trong cách tiếp cận xem xét sự vật, lắng nghe được cả những tiếng gọi xa vời của thực tiễn, và cả hai đều nhún vai trước tất cả những gì gọi là giáo điều thô bạo, với đủ mọi biểu hiện thê thảm của nó và tất nhiên, sẵn sàng dẫm lên nó mà đi tới.

Còn có một điểm chung giữa họ nghĩ thật rất lạ lùng, cả hai người ấy sinh khác ngày nhưng lại đều biết chọn ngày quốc khánh nước mình để qua đời.

Thomas Jefferson mất ngày 4-7-1815, còn Hồ Chí Minh mất ngày 2-9-1969, một sự trùng hợp ngẫu nhiên không giải thích, chỉ có một điều không hề ngẫu nhiên đấy là Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trích dẫn những lời hào sảng mang tinh thần nhân quyền cao mà Thomas  Jefferson  đã đưa vào Tuyên ngôn Độc lập Mỹ như một thông điệp gửi đến nhân loại tương lai.