Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

KHỞI NGHĨA NAM KỲ 1940 VÀ NHỮNG BÀI HỌC QUÝ

Cách đây 65 năm, ngày 23 tháng 11 năm 1940, nhân dân Nam bộ tiến hành cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ. Đây là cuộc khởi nghĩa đạt quy mô rộng so với các cuộc khởi nghĩa vũ trang trước, kể từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Đó là cuộc khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940.
Tuy cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ không thành công vì lúc đó chưa có được những điều kiện khách quan và chủ quan đầy đủ, nhưng đồng chí cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đánh giá, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc tổng diễn tập mang tầm vóc quốc gia sau Xô Viết Nghệ Tĩnh và cao trào cách mạng 1936 – 1939.
Được tin khởi nghĩa nổ ra ngày 23-11-1940, Trung ương Đảng kịp thời ra bản “Thông báo khẩn cấp” kêu gọi các đồng chí, các chiến sĩ cách mạng “phải lập tức tổ chức những cuộc hưởng ứng khởi nghĩa, gây thanh thế cho quân khởi nghĩa, phân tán lực lượng đế quốc, không để cho chúng tập trung quân đội đàn áp phong trào cách mạng" ở Nam Kỳ và Bắc Sơn.
Những biện pháp cụ thể, khẩn cấp là tổ chức bãi công, bãi khóa, bãi thị ở các thành phố, tuần hành thị uy hay ít ra là tổ chức mít tinh quần chúng để hô hào nhân dân hưởng ứng; truyền đơn, biểu ngữ, băng cờ, khẩu hiệu ở trên đất liền, dưới sông, chỗ nào có thể làm được thì: phá đường sắt, phá cầu cống, ngăn cản sự chuyên chở binh lính địch, cắt dây điện, cướp phá xe lương thực, lấy khí giới của địch, cổ động cho binh lính đứng về phía nhân dân, bắn lại địch, chạy sang hàng ngũ cách mạng Việt Nam...
Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 đã đánh thức lòng yêu nước và ý chí quyết tâm giành độc lập của nhân dân 19 tỉnh trong tổng số 21 tỉnh của Nam bộ lúc bấy giờ, tập dượt hành động cách mạng kiên quyết, tập dượt chỉ huy và tập dượt tiến công. Mặc dù phần lớn những cán bộ lãnh đạo và đảng viên trung kiên hoặc bị hy sinh hoặc bị tù đày, song những đảng viên và cốt cán còn lại đều trở thành lực lượng cốt cán lãnh đạo trong Cách mạng Tháng Tám.
Giá trị lớn lao của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là chỉ 5 năm sau, trong tình hình Đảng bộ và nhân dân bị khủng bố tàn bạo, đã cho phép cả Nam bộ hưởng ứng hiệu triệu của Trung ương Đảng đứng lên làm cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi và lập tức bắt tay tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó tiếp tục kháng chiến chống đế quốc Mỹ.
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ là lò đào tạo, sản sinh ngày càng đông đảo lực lượng tiên phong cho cuộc Cách mạng Tháng Tám. Kết quả đó được nhân lên gấp bội trong cuộc Tổng khởi nghĩa mùa thu 1945, đã bổ sung cho cuộc khởi nghĩa chống Pháp hàng triệu phần tử tiên tiến; và cuộc Đồng Khởi 1960 đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu con người hiên ngang trong kháng chiến chống Mỹ, chuyển thế cách mạng sang thời kỳ kết hợp chính trị với vũ trang, kết hợp nổi dậy của quần chúng với tiến công quân sự, đánh vào những nơi kẻ thù yếu nhất, đó là nông thôn miền Nam.
Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 tuy bị thất bại, nhưng nhân dân đã tận mắt chứng kiến những đảng viên Đảng Cộng sản là những chiến sĩ yêu nước kiên cường nhất, anh dũng nhất, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để giành độc lập. Thất bại trong khởi nghĩa Nam Kỳ, những người cộng sản tiếp tục nuôi chí, bền gan xây dựng lại cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng, chờ cơ hội mới. Không rời mục tiêu độc lập, không ngừng nhen lên ngọn lửa cách mạng trong nhân dân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, trung thành với giai cấp và dân tộc. Đó là đặc tính cao quý của những người cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng và tính chất tổ chức, đó là yếu tố quyết định thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa mùa thu năm 1945, chỉ 5 năm sau đó.
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 mặc dù bị thất bại nhưng nó khẳng định vai trò quân chủ lực cách mạng là nông dân – chiếm tuyệt đại đa số trong dân tộc ta. Nơi nào có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì nơi ấy có đông đảo nông dân hưởng ứng. Đó là bằng chứng sống động nhất minh chứng nông dân đã sát cánh với giai cấp công nhân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nông dân ngày càng có ý thức sâu sắc rằng chỉ có đi theo cờ lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân thì nông dân mới được giải phóng triệt để. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 là tiếng chuông, hồi trống thức tỉnh toàn thể dân tộc biết rằng, nhất định phải giành thời cơ chiến tranh thế giới để giải phóng dân tộc mình, thực hiện quyền dân chủ. Nếu thực sự muốn giải phóng dân tộc và giành dân chủ, thì phải dùng bạo lực cách mạng của quần chúng, quyết không dùng bất cứ một thứ mánh lới không khéo nào, không thể nhờ một lực lượng ngoại quốc nào, càng không thể ngồi chờ tự do, độc lập.
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chẳng những đã để lại những bài học kinh nghiệm lớn lao, mà còn để lại cho toàn thể dân tộc ta một vật báu thiêng liêng, tiêu biểu cho truyền thống cách mạng anh dũng của dân tộc. Đó là lá cờ đỏ sao vàng qua năm 1941 đã trở thành lá cờ đại đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi toàn dân ta đứng lên đánh Pháp, đuổi nhật. Cờ đỏ sao vàng là cờ Tổng khởi nghĩa thắng lợi năm 1945 được Đại hội Quốc dân tại Tân Trào chọn làm Quốc kỳ và đến năm 1946 thì ngọn cờ vinh quang đó đã được Quốc hội khóa I phê chuẩn là Quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả những điều vinh quang ấy đã nói lên được vị trí lịch sử của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940.
Lá cờ đỏ sao vàng và bước chân của những đoàn quân khởi nghĩa Nam Kỳ đã in bóng trong bản Quốc ca hào hùng của dân tộc, dẫn dắt dân tộc ta giành thắng lợi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ và giành những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới hôm nay.

Đỗ Quốc Hùng(Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Tự hào về một “thủ đô kháng chiến” của Nam Bộ

Khi chiến tranh lan đến các tỉnh miền Tây thì miền Tây hình thành một vùng độc lập - người ta thường gọi "vùng độc lập", hoặc "vùng tự do", hoặc "vùng giải phóng" - do chính quyền cách mạng quản lý. Trong quá trình chiến đấu chống thực dân Pháp, "vùng độc lập" ngày càng được mở rộng và được xây dựng vững chắc hơn. 
Từ đó làm cho các tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ dần dần nhận thức được tầm quan trọng về việc xây dựng căn cứ cách mạng, tạo hậu phương tại chỗ cho cuộc kháng chiến lâu dài, để mỗi cấp: khu - tỉnh - huyện - xã đều có chỗ đứng chiến đấu, có căn cứ của mình, tạo thành thế liên hoàn hỗ trợ nhau.
Tháng 7/1947, Quân khu 9 mở hội nghị bàn xây dựng căn cứ trên địa bàn rừng U Minh - Nam Cà Mau thuộc địa bàn hai tỉnh: Bạc Liêu (nay thuộc địa phận tỉnh Cà Mau) và Rạch Giá.
 
 Hào khí khởi nghĩa Nam Kỳ.                                                   Ảnh tư liệu
Trước năm 1949, các cơ quan đầu não của Nam Bộ, như: Trung ương Cục, Ủy ban Kháng chiến hành chánh và các sở, ngành của Nam Bộ đóng "đô" ở Đồng Tháp Mười. Từ cuối năm 1948 thực dân Pháp được Mỹ viện trợ xe lội nước M.113. Thực dân Pháp dùng phương tiện này tổ chức nhiều cuộc càn quét đánh phá vào Đồng Tháp Mười, đặt các cơ quan đầu não của Nam Bộ trước nguy cơ bị bao vây, bị tấn công. Đồng Tháp Mười có hai nhược điểm không khắc phục được, đó là vị trí ở gần Sài Gòn và diện tích không rộng, phần lớn là đồng trống, chưa đủ yếu tố bảo đảm an toàn...
Như nói ở trên, miền Tây Nam Bộ, vùng căn cứ có nhiều yếu tố tối ưu. Mặt khác, sau những trận đánh thủy lôi phá các tàu chiến Pháp, các con đường sông, rạch dẫn vào các khu căn cứ ở miền Tây Nam Bộ không còn dễ dàng, thuận tiện bởi phải qua nhiều lớp rào, cản. 
Đường bộ, nhất là những tuyến giao thông chính như lộ xe đều bị ta phá hoại gần hết nên giặc tổ chức càn quét trên đường bộ cũng không dễ dàng chút nào.
Trên cơ sở phân tích tình hình như trên, Xứ ủy Nam Bộ quyết định dời "đô" - dời toàn bộ các cơ quan Nam Bộ về khu rừng U Minh. Cuộc hành trình này khởi đầu vào giữa năm 1949. Các cơ quan đông người và có máy móc, dụng cụ nặng đi trước như: Đài Tiếng nói Nam Bộ, Xưởng vô tuyến điện, Binh công xưởng, các nhà in, Sở Giáo dục, Viện Văn hóa kháng chiến...
Cuối năm 1949, các cơ quan hành chính Nam Bộ di chuyển tiếp, các vị lãnh đạo ủy ban như: Phạm Văn Bạch, Phan Ngọc Thuần, Ung Văn Khiêm đặt chân tới "thủ đô mới" - rừng U Minh vào đầu năm 1950.
*
"Vùng độc lập" miền Tây Nam Bộ gồm một phần tỉnh Cần Thơ, một phần tỉnh Rạch Giá, một phần tỉnh Sóc Trăng và phần lớn ở tỉnh Bạc Liêu (ngày nay thuộc địa phận tỉnh Cà Mau). Ở đây, trên các tuyến sông, kinh, rạch, quân dân ta đã đắp cản rất chắc chắn, chặn tất cả các ngõ ngách vào căn cứ. 
Tàu giặc muốn vào trên một dòng sông hay trên một con rạch phải phá vài ba cái cản như thế, mà khi chúng dừng lại phá cản thì rất dễ bị quân ta tập kích hoặc pháo kích hoặc dễ chạm vào trái nổ, thủy lôi.
Mặt khác, vùng sông nước miền Tây chế độ thủy triều khi cao, khi thấp nên hạn chế tác dụng xe lội nước 113; rừng cây, rễ cây dày đặc trở thành phòng tuyến liên hoàn cản phá những mũi tiến công của xe lội nước. Còn máy bay thì đã tập trung cho chiến trường miền Bắc nên chúng ít có khả năng hoạt động đến vùng miền Tây xa xôi này. Bên cạnh đó, máy bay từ trên cao khó nhìn thấy mục tiêu qua các tán rừng dày đặc và cây cối trùng điệp.
"Vùng độc lập" miền Tây hội đủ những yếu tố và điều kiện xây dựng căn cứ địa an toàn, lâu dài, vì có một vùng giải phóng rộng lớn liên hoàn qua nhiều tỉnh và tiếp giáp vùng giải phóng Đông Nam Campuchia. Đặc biệt có hậu cứ rừng tràm U Minh và rừng đước Năm Căn che chở. Đặc biệt hơn, có một phòng tuyến vững chắc trên một triệu dân cư, sinh sống phân bổ theo các tuyến sông ngòi, kinh rạch chằng chịt, với nền kinh tế nông - lâm - hải sản dồi dào, phong phú. 
Vùng căn cứ miền Tây bảo đảm tốt cho việc xây dựng bổ sung lực lượng, rèn binh, dự trữ kho tàng, vũ khí phục vụ cho phía trước, bổ sung lực lượng kháng chiến. Đặc biệt hơn hết, chỗ dựa vững chắc của cách mạng là căn cứ địa trong lòng dân.
Từ Đồng Tháp Mười chuyển đến, ban đầu cơ quan Nam Bộ đóng "đô" ở vùng U Minh Thượng, dần dần dời chuyển đến vùng U Minh Hạ. Đó là để tránh mắt giặc, để không lộ mục tiêu cho máy bay, các cơ quan đóng trong nhà dân và mỗi nơi cơ quan đóng vài tháng rồi chuyển đi nơi khác. Riêng các đơn vị có máy móc, phương tiện nặng nề cất cơ quan sâu trong rừng để ít phải di chuyển. Nhờ giữ gìn bí mật tốt nên suốt mấy năm không có cơ quan nào bị máy bay địch đánh trúng.
Các địa danh cơ quan Nam Bộ đóng tương đối lâu như: Thới Bình, Rạch Bà Đặng, Tân Bằng, Cán Gáo, Biện Nhị, Huyện Sử, Chắc Băng, Khánh An, Khánh Lâm, Khánh Bình, Phó Sinh, Giáp Nước, Đồng Cùng, Quảng Phú, Thứ Vải, Rau Dừa, Cái Nước, Tân Hưng Đông, Phú Mỹ, Tân Hưng Tây, Tân Duyệt, Tân Đức, Tân Hóa, Cái Ngay, Thanh Tùng, Bàu Sen, Bà Hính, Cái Keo, Cái Muối, Cái Bát, Rạch Cui...
Khu căn cứ miền Tây không chỉ bảo vệ an toàn các cơ quan trọng yếu, các cán bộ lãnh đạo quan trọng mà còn bảo vệ an toàn tất cả các cơ quan của tỉnh, của khu và của Nam Bộ.
Từ khi các cơ quan đầu não của Nam Bộ đặc bản doanh tại căn cứ U Minh cũng là lúc kinh tế, chính trị, quân sự trong toàn miền có sự chuyển biến mới. Đặc biệt, khu căn cứ U Minh trở nên sôi động hơn nhiều nên cán bộ và nhân dân thường gọi cụm từ "Rừng U Minh tỏa sáng!". 
Đó là nhờ sự lãnh đạo của Trung ương Cục, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, các cơ quan, ban, ngành của Nam Bộ: Viện Văn hóa Nam Bộ, Sở giáo dục, Sở Y tế, các trường học, bệnh viện mọc lên, các đoàn văn công, hoạt động báo chí, văn nghệ, phong trào dạy học bình dân học vụ phát triển mạnh mẽ trong vùng căn cứ kháng chiến, miền Tây Nam Bộ.
Khu căn cứ kháng chiến U Minh được mệnh danh "thủ đô kháng chiến" của Nam Bộ. Đời sống của nhân dân trong "thủ đô" được cải thiện toàn diện, mà đặc biệt về dân trí, sinh hoạt văn hóa, đời sống tinh thần của cán bộ, của nhân dân được nâng cao rõ rệt./.
Phạm Văn Tri

Khởi nghĩa Nam kỳ: Buổi bình minh cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm

Ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan - chính thức mở màn cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Trong tình hình ấy, Chính phủ Pháp lại thực hiện chính sách chống Đảng Cộng sản Pháp, cùng các phong trào dân chủ, tiến bộ chống phát xít tại nước Pháp. 
Ở Đông Dương, chính quyền phản động thuộc địa cũng thừa cơ thi hành chính sách khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng, mà trước hết tiêu diệt Đảng cộng sản.
Ngày 28/9/1939, toàn quyền Đông Dương Catroux  ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ mọi tài liệu của cộng sản, giải tán các hội ái hữu, nghiệp đoàn, tịch thu tài sản của các tổ chức đó, hàng loạt báo chí - kể cả báo chí cách mạng và báo chí tiến bộ ở khắp 3 miền đều bị đóng cửa. Hàng ngàn người yêu nước, người cộng sản bị bắt giam tại các trại tập trung trong đất liền, phần đông bị đày ra Côn Đảo, Madagascar.
 
 Nhân dân Bà Điểm (Hóc Môn) đồng loạt sẵn sàng cho ngày khởi nghĩa Nam Kỳ.   Ảnh tư liệu
Mặt khác, đầu tháng 9/1939, tướng Catroux ra lệnh tổng động viên nhằm cung cấp cho "mẫu quốc" tiềm lực quân sự tối đa và nguồn nhân lực khác, các sản phẩm và nguyên liệu... Chỉ sau mấy tháng trong chiến tranh, trên 80.000 thanh niên Việt Nam bị đưa sang Pháp. Riêng ở Nam Kỳ, đợt tăng viện lần thứ hai trong năm 1940, chúng đưa gần 8.000 thanh niên sang Pháp.
Chính quyền phản động thuộc địa thẳng tay vơ vét vàng bạc của cải, phát hành thêm bạc giấy, kiểm soát gắt gao sản xuất và phân phối, ấn định giá cả một cách độc đoán. Chúng tăng mức thuế cũ và đặt ra nhiều loại thuế mới, tiến hành lạc quyên, xổ số, phát hành công trái. Đồng thời sa thải công nhân viên chức, tăng giờ làm, giảm tiền lương.
Ở châu Âu, giữa năm 1940, phát xít Đức lần lượt chiếm Na Uy, Đan Mạch, sau đó huy động 135 sư đoàn tràn qua Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, tấn công nước Pháp. Ngày 22/6/1940, Chính phủ Pháp đầu hàng. Ở Đông Dương, Đô đốc Decoux thay tướng Catroux làm toàn quyền. Decoux càng gia tăng biện pháp cai trị phản động.
Chiến tranh thế giới thứ hai là một thử thách lớn đối với nhân dân, nhưng nó không bất ngờ với Đảng cộng sản Đông Dương. Nhờ chủ động, sau hai tháng chiến tranh bùng nổ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ sáu tại Bà Điểm (Hóc Môn). 
Hội nghị phân tích sâu sắc tính chất của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và vị trí của Đông Dương trong cuộc chiến tranh đó; những chính sách của đế quốc Pháp, thái độ của các giai cấp, xã hội và vạch ra đường lối chính trị của Việt Nam trong thời kỳ mới.
Để tập trung mọi lực lượng vào nhiệm vụ chủ yếu chống chiến tranh đế quốc và ách thống trị của phát xít thuộc địa, hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ; thay khẩu hiệu ruộng đất bằng chính sách ruộng đất mới: Tịch thu ruộng đất của đế quốc và những địa chủ phản bội quyền lợi của dân tộc, thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô Viết công - nông bằng khẩu hiệu lập Chính phủ liên bang, cộng hòa dân chủ Đông Dương. Đó là nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược quan trọng của Đảng.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, trước chính sách khủng bố và bóc lột cùng kiệt nhân dân, Xứ ủy Nam Kỳ đã soạn thảo đề cương khởi nghĩa vũ trang, với tên "Đề cương khởi nghĩa Nam Kỳ". Bản đề cương này được đưa ra thảo luận, tranh luận ở các cuộc hội nghị của xứ ủy. Đặc biệt, tại hội nghị toàn xứ ủy từ 21-27/7/1940 chủ trương khởi nghĩa Nam Kỳ bằng vũ trang mới được quyết định. Tháng 9/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ra miền Trung và miền Bắc bàn với hai đảng bộ này để phối hợp hành động.
Giữa lúc đó, phát xít Nhật ép Pháp phải đóng cửa biên giới Việt - Trung, đòi Pháp để cho quân đội Nhật vào Đông Dương, sử dụng các sân bay để tiến hành tấn công miền Nam Trung Quốc và đặt nền kinh tế Đông Dương phụ thuộc nền kinh tế Nhật. Ngày 23/9/1940, quân Nhật vượt biên giới Bắc Kỳ đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng - đổ bộ lên Đồ Sơn. Đồng thời, phát xít Nhật xúi giục bọn quân phiệt Thái Lan (Xiêm) tấn công biên giới Cao Miên, Ai Lao. 
Pháp phải điều quân (người Việt) ra chống đỡ. Trong các đơn vị này có nhiều cơ sở cách mạng đã gây dựng từ lâu. Số anh em này yêu cầu với Đảng cho khởi nghĩa "Thà chết cho cách mạng, còn hơn ra mặt trận làm bia đỡ đạn cho quân thù".
Đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo tình hình chuẩn bị khởi nghĩa ở Nam Kỳ, hội nghị Trung ương cho rằng chưa đủ điều kiện thời cơ nên tạm hoãn, chờ Trung Kỳ, Bắc Kỳ chuẩn bị sẽ đồng loạt nổ ra. Đồng chí Phan Đăng Lưu từ hội nghị Trung ương về tới Sài Gòn chưa gặp xứ ủy thì đã bị giặc bắt (22/11/1940).
Xứ ủy đã phát lệnh khởi nghĩa!
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, Sài Gòn là trung tâm quyết định cuộc khởi nghĩa nhưng lộ bí mật (do có nội gián). Thực dân Pháp tìm mọi cách chặn lại nên Sài Gòn không nổi dậy được, dù chuẩn bị rất tích cực và khẩn trương. Khởi nghĩa tại một số đô thị lớn khác cũng bị Pháp chặn đứng. 
Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra với khí thế xung thiên ở hầu khắp các tỉnh thuộc Nam Kỳ - từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ: Ở Biên Hòa - Gia Định - Chợ Lớn - Tân An - Mỹ Tho - Bến Tre - Trà Vinh - Cần Thơ - Sóc Trăng - Bạc Liêu - Rạch Giá.
Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa nổ ra quyết liệt ở Hóc Môn - Bà Điểm (Gia Định), Cai Lậy, Châu Thành (Mỹ Tho), Vũng Liêm, Cầu Ngang, Tam Bình (Vĩnh Long). Một số nơi nông dân nổi dậy lập chính quyền cách mạng. 
Có những nơi chính quyền cách mạng tồn tại 40 ngày, tịch thu đất địa chủ chia cho nông dân nghèo, lập tòa án nhân dân xét xử, trừng trị những tên phản cách mạng. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đông đảo nông dân tham gia với tinh thần chiến đấu ngoan cường, hy sinh anh dũng.
Riêng ở Bạc Liêu (nay là Cà Mau - Bạc Liêu), lệnh khởi nghĩa Nam Kỳ đến chậm, có kế hoạch nổi dậy ở ba khu vực trọng yếu của tỉnh. Cũng như tình hình chung, thực dân Pháp biết trước, ngăn chặn, nên cũng chỉ nổ ra cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai do Phan Ngọc Hiển lãnh đạo, chỉ huy lúc 21 giờ ngày 13/12/1940. 
Cuộc khởi nghĩa tiêu diệt tên chúa đảo Olivié chiếm đảo, thu vũ khí. Sau đó, đoàn quân khởi nghĩa Hòn Khoai dùng ca-nô về Rạch Gốc (xã Tân Ân) trừng trị bọn tề Tân Ân. Vì không phối hợp được, nên nghĩa quân vào rừng, không lương thực, không nước uống, kiệt sức, bị giặc bắt tại Khai Long ngày 22/12/1940. Ngày 27/7/1941, thực dân Pháp tử hình Phan Ngọc Hiển và 9 chiến sĩ Hòn Khoai.
Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940) và khởi nghĩa Đô Lương (tháng 1/1941), khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940) tuy thất bại, nhưng đó là những tiếng pháo báo hiệu buổi bình minh của cuộc chiến đấu vũ trang chống quân thù xâm lược.
Ngày 14/4/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh tuyên dương "Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương ý chí quật cường của dân tộc", đồng thời tặng Huân chương Quân công hạng nhất - Huân chương cao quý nhất - cho cuộc khởi nghĩa Nam Bộ./.
Phạm Văn Tri

Mỹ Tho trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tiến công Ba Lan, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức bùng nổ. Pháp là một trong những nước tham chiến, nên ra sức bảo vệ Đông Dương - thuộc địa giàu có của nước Pháp.

Nam Kỳ khởi nghĩa 1940- Tranh: Huỳnh Văn Gấm
Để bảo vệ chủ quyền thống trị thuộc địa, toàn quyền Đông Dương G.Catroux tuyên bố: “Trong cuộc đấu tranh này, phải tiêu diệt cộng sản thì xứ Đông Dương mới được yên ổn và mới trung thành với nước Pháp”. Cùng với lời tuyên bố, G. Catroux ra lệnh cho bọn cai trị thuộc địa thực thi hàng loạt chính sách phản động, đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương và những người có tư tưởng yêu nước, chống phát xít; tổng động viên mọi mặt để phục vụ chiến tranh đế quốc.
Với chính sách vơ vét của thực dân Pháp, nhân dân Nam kỳ, trong đó có MT, phải sống trong cùng cực. Còn nước Pháp thì thua trận, phải đầu hàng, để cho Đức chiếm Paris. Người dân Nam kỳ chế nhạo:
“Nước mẹ nhà ta nước mẹ gì
Khoe khoang quân đội nữa mà chi
Chiến tranh một tháng mà thua thế
Danh dự ngàn năm cũng vứt đi”.
Trong bối cảnh ấy, Hội nghị Trung ương lần 6 vào tháng 11 năm 1939 khẳng định: làm cách mạng giải phóng dân tộc bằng hình thức “bạo động” để giành chính quyền. Lúc này Trung ương Đảng đang đóng tại Bà Điểm, sát nách Sài Gòn. Xứ ủy Nam kỳ do đồng chí Võ Văn Tần, ủy viên Trung ương Đảng kiêm xứ ủy cũng đóng tại đây. Ngày 21 tháng 4 năm 1940, đồng chí Võ Văn Tần bị địch bắt, trong lúc chủ trương khởi nghĩa đang được hình thành. Đồng chí Tạ Uyên thay đồng chí Võ Văn Tần, triệu tập hội nghị xứ ủy mở rộng tại Tân Hương (Mỹ Tho) vào tháng 7 năm 1940 bàn việc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Mỹ Tho, nơi diễn ra hội nghị quan trọng ấy, đã ráo riết chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa. Ngày 12 tháng 08 năm 1940, tỉnh thành lập Ban quân sự, do đồng chí Nguyễn Hữu Thường, ủy viên thường vụ Tỉnh ủy làm trưởng ban, có các bộ phận: tham mưu, quân báo, phá hoại, hậu cần. Đây là tỉnh thành lập lực lượng vũ trang sớm của cả nước.
Cuối tháng 9 năm 1940, theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Mỹ Tho, đứng đầu là đồng chí Phan Văn Khỏe, Xứ ủy viên, bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, nhiều xã ở Cai Lậy và Châu Thành tổ chức diễn tập khởi nghĩa, như Cẩm Sơn, Mỹ Hạnh Đông, Tam Hiệp, Long Hưng… Khu căn cứ Ba U (nay thuộc xã Tân Lý Đông) được Tỉnh ủy chia làm 3 khu: Mạc-xây (nơi sản xuất vũ khí), Pa-ri (nơi dự trữ lương thực, in ấn, may cờ), Đà Lạt (nơi nhận chỉ thị và đón tiếp cán bộ từ ngoài vào); các huyện cũng lập căn cứ, chủ yếu là trong vùng Đồng Tháp Mười. Các đội du kích phát triển rất nhanh. Đến tháng 10 năm 1940, tỉnh Mỹ Tho đã có trên 3.000 du kích được huấn luyện bài bản. Cả tỉnh có 114 làng thì có 70 chi bộ, với 456 Đảng viên, tăng gấp 8 lần so với tháng 2 năm 1939. Sáng 22.11.1940, thực dân Pháp nhận được tin mật báo là có cuộc khởi nghĩa. Đối với ta, mệnh lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đến Mỹ Tho lúc 22 giờ. Mệnh lệnh nêu rõ: 0 giờ ngày 23.11.1940 sẽ đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các đồn, nhà việc, thị trấn, thị xã.
Đình Long Hưng (thuộc làng Long Hưng, quận Châu Thành) được Ban khởi nghĩa tỉnh chọn làm trụ sở. Tại đây, lần đầu tiên, cờ đỏ sao vàng được cắm trên cây bàng sân đình. Khẩu hiệu “Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc” được treo tại mặt tiền ngôi đình.
Trong đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 đồng loạt các xã nổi dậy. Du kích, thanh niên, thậm chí người già và phụ nữ tham gia vào đội quân khởi nghĩa. Trống, mõ, gậy tầm vông, giáo, mác… đều trở thành vũ kh1i, tất cả đều nhắm vào đồn bót, công sở, các cơ sở hạ tầng, đường xe lửa, bưu điện, cầu cống, cột điện… để triệt phá. Mỹ Tho sống trong không khí của một cuộc “tiến công trời”. Kẻ thù mặc dù được biết trước vẫn không sao chống đỡ. 74 xã (làng) của Mỹ Tho hừng hực trong không khí khởi nghĩa. Đặc biệt, hầu hết các tầng lớp trong xã hội đều tham gia. Không chỉ bần nông, trung nông, phú nông, thợ thủ công, tiểu chủ, mà cả trí thức (250 người), địa chủ (77 người), hội tề (212 người), … cũng tham gia.
Cuộc khởi nghĩa đã giáng vào chính quyền cai trị của thực dân Pháp những đòn chí tử. Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho thành lập chính quyền cách mạng. Tại đình Long Hưng ngay trong ngày 23.11.1940, trước hơn 3.000 đồng bào đến dự, chính quyền cách mạng tỉnh ra mắt nhân dân. Đồng chí Phan Văn Khỏe, bí thư tỉnh, trưởng ban khởi nghĩa được cử làm chủ tịch, phụ trách chung; đồng chí Nguyễn Thị Thập phụ trách thường trực; đồng chí Nguyễn Văn Thường phụ trách quân sự. Hội đồng tòa án tỉnh cũng được thành lập và đặt trụ sở tại đình Long Hưng.
Chính quyền cách mạng tỉnh tồn tại 49 ngày, thực thi các thiết chế dân chủ cộng hòa. Trong khởi nghĩa Nam kỳ, Mỹ Tho là một trung tâm lớn, tiêu biểu nhất ở Nam kỳ, nơi chính quyền cách mạng tỉnh tồn tại lâu nhất, nơi địch khủng bố ác liệt nhất. (Đến cuối tháng 12 năm 1940, thực dân Pháp đã bắt bỏ tù 2981 người trong tổng số 6.000 người của toàn Nam kỳ), nơi ghi lại tên tuổi của 4 vị anh hùng: Lê Văn Giác, Nguyễn Văn Ghè, Lê Văn Quới, Nguyễn Hữu Huân tại Gò Me (xã Long Hưng) khi 4 đồng chí bị địch bao vây và tuẫn tiết, nơi địch gieo nhiều tội ác, đặc biệt là vụ ném bom thảm sát tại chợ Giữa của làng Vĩnh Kim, làm chết và bị thương hơn 100 người vào ngày 3 tháng 12 năm 1940.
Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ tại Mỹ Tho là một cuộc diễn tập toàn diện, để trong tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, Mỹ Tho là nơi giành chính quyền có thể nói sớm nhất cả nước (ngày 18 tháng 8 năm 1945) - theo số liệu ngày giành chính quyền các tỉnh thành hiện nay.
Lê Ái Siêm

ỷ niệm 72 năm khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940-23/11/2012): Trường bắn Ngã Ba Giồng – Khúc tráng ca của những người anh hùng bất tử

Ngã Ba Giồng là một khu đất gò có diện tích hơn 10ha ở làng Xuân Thới Tây, nay là xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, T/p Hồ Chí Minh.
Đây còn là vùng đất có nhiều cây bằng lăng cổ thụ mọc nên vùng đất này còn được gọi là “giồng Bằng Lăng”. Nơi đây từng chứng kiến sự kiện nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn nổi dậy vào đêm 22 rạng ngày 23/11/1940 trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cách đây 72 năm.
Trường bắn Ngã Ba Giồng chiếm khoảng đất rộng, hình thang, thực dân Pháp cho cắm một hàng 6 cột, cao 2,2m, cách đều nhau 2,8m. Cột bằng gỗ tròn có đường kính 20cm; chân cột chôn chặt xuống đất bằng xi măng trộn đá xanh nên cột đứng rất vững. Phía sau hàng cột này, chúng đắp mô đất dài 22m, cao trên 2m, cách phía sau hàng cột 1,5m dùng để chắn đạn. Trước hàng cột là khoảng đất rộng, trống trải, chúng cho tráng xi măng để làm nơi chuẩn bị cho hành động xử bắn. Đồng ruộng và các lùm cây bao bọc Ngã Ba Giồng về hướng Tây, Nam và Bắc, hướng bắn quay về phía Đông (bưng Tràm Lạc).
 
 Đền tưởng niệm trong khu di tích Ngã Ba Giồng, Hóc Môn, tp Hồ Chí Minh
Và cũng chính tại nơi đây thực dân Pháp đã tổ chức xử bắn hai đồng chí: Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư của Đảng ta và đồng chí Phan Đăng Lưu -  Ủy viên Trung ương Đảng cùng nhiều chiến sĩ cách mạng và đồng bào Sài Gòn - Gia Định sau ngày Nam kỳ khởi nghĩa (theo báo cáo chính thức của Thống đốc Nam Kỳ thì riêng tại vùng Chợ Lớn, Gia Định, Sài Gòn, Biên Hòa, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, thực dân Pháp đã bắt và xử bắn 903 cán bộ, đảng viên, nhân dân đã tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940). Trước khi dựng điểm bắn Ngã Ba Giồng, thực dân Pháp đã xử bắn tại Ngã Tư Giếng Nước (nay là bệnh viện Đa khoa Hóc Môn) các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Hà Huy Tập - nguyên Tổng Bí thư, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Minh Khai - Xứ ủy viên kiêm Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Khu vực gần rạp hát chúng đã xử bắn đồng chí đồng chí Phạm Thế Xứng - Bí thư huyện ủy Hóc Môn, đồng chí Đặng Công Bỉnh - Chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Hóc Môn.
Lịch sử ghi nhận, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ diễn ra khắp 18/21 tỉnh thành ở Nam Kỳ, là cuộc khởi nghĩa do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo có qui mô lớn ở Việt Nam kể từ khi Đảng ra đời và trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Trong đó, Hóc Môn là nơi phát khởi đầu tiên, nơi diễn ra cuộc họp Xứ ủy Nam Kỳ (tháng 9/1940) quyết định thời gian diễn ra khởi nghĩa. Vùng đất Hóc Môn còn là nơi ghi nhận: Hội nghị BCHTW V tháng 3/1938 ở Hóc Môn - Gia Định, với những cống hiến trí tuệ về lý luận và thực tiễn cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Hội nghị BCHTW VI (mở rộng) họp từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939 ở ấp Tây Bắc Lân (nay là Tây Lân), xã Bà Điểm, Hóc Môn, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, Đảng ta đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cấp bách để xây dựng và củng cố sự vững mạnh của Đảng. Hội nghị đã quyết định những vấn đề cực kỳ quan trọng trong chuyển hướng chiến lược về đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng trong giai đoạn mới. Những quyết định chiến lược ấy đã được Hội nghị BCHTW VII (11/1940) và VIII (5-1941) khẳng định là chính xác, đúng đắn, đặt cơ sở quan trọng để Đảng ta hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược cách mạng đi tới cao trào giải phóng dân tộc 1941-1945 và thắng lợi của Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám.
Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ và Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, nhiều phong trào đấu tranh cách mạng đã nổ ra và thu được nhiều thắng lợi. Để ngăn chặn phong trào cách mạng đang lên trong hai năm 1939-1940, thực dân Pháp điên cuồng mở các cuộc khám xét, bắt bớ những người cộng sản và những người yêu nước. Ngày 18/1/1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã sa vào tay giặc tại cơ quan của Đảng nằm ở đường Nguyễn Tấn Nghiêm - Sài Gòn và bị địch khép vào tội “thảo ra Nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương; chủ trương bạo động và là người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ” và bị chúng kết án tử hình. Trước đó, chiều tối ngày 22/11/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu bị mật thám Pháp vây bắt ở Chợ Lớn sau khi vừa đi dự Hội nghị Ban Chấp hành TƯ Đảng lần thứ VII về nên chưa kịp truyền đạt chỉ thị của TƯ về việc hoãn cuộc khởi nghĩa thì cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra ngày 23/11/1940. Biết đồng chí là cán bộ cao cấp của Đảng, chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn nhưng đều thất bại. Bị kết án tử hình, đồng chí vẫn hiên ngang bào chữa cho mục đích chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đồng thời kết tội chế độ thực dân Pháp. Không thể lung lay được tinh thần cách mạng trung kiên của những người chiến sĩ cộng sản; vào một sáng tháng 8/1941, thực dân Pháp đã dùng xe bịt bùng đưa hai đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Phan Đăng Lưu từ khám lớn Sài Gòn đến xử bắn tại Ngã ba Giồng. Sau đó chúng mang thi hài các đồng chí đi thủ tiêu cho đến nay chưa tìm được hài cốt. Hơn 70 năm trôi qua, đất 18 thôn vườn trầu đã ôm những người con ưu tú của đất nước vào lòng yên nghỉ vĩnh hằng.
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 14/4/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho các lực lượng là tiền thân của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam trong đó có đội quân khởi nghĩa Nam Kỳ vì đã có thành tích “Biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”. Năm 2002, di tích Ngã Ba Giồng đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia và được UBND thành phố Hồ Chí Minh qui hoạch, xây dựng thành địa điểm du lịch truyền thống để nhớ về một thời kỳ ác liệt mà người dân Nam Bộ đã cùng Đảng ta làm nên những sự kiện anh
Nguồn tin:baotanglichsuquocgia

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NAM KỲ KHỞI NGHĨA TỈNH TIỀN GIANG


Khu di tích toạ lạc tại ấp Long Thạnh A, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1995.
Khu di tích lịch sử Nam kỳ khởi nghỉa tỉnh Tiền Giang (Đình Long Hưng) với tổng diện tích 16.000m2 gồm 4 hạng mục:
1. Nhà trưng bày lịch sử Nam kỳ khởi nghĩa 23/11/1940 tại hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công.
2. Ngôi nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập - cán bộ cách mạng đầu tiên của Nam bộ được nhà nước tặng thưởng huân chương Sao vàng.
3. Ngôi Đình Long Hưng là căn cứ cách mạng đầu tiên của tỉnh Mỹ Tho.
4. Nhà bia xã Long Hưng - Ghi danh 614 liệt sĩ trong đó có 02 đồng chí được nhà nước công nhận anh hùng lực lượng vũ trang là Lê Thị Hồng Gấm và Hồ Văn Nhánh.
* Nhà trưng bày lịch sử Nam kỳ khởi nghĩa:
Bức tranh ghép gốm màu nói lên hai sự kiện khác nhau về địa điểm và thời gian nhưng cùng mô tả về sự kiện Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940.
Bức tranh nói về cuộc sống khổ cực của người dân Nam Bộ dưới sự thống trị của thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Cùng với sự bóc lột và tăng thuế dẫn đến người dân phải bần cùng đói khổ, bọn thực dân còn thực hiện chính sách bắt lính, đi phu để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương.
Trước tình hình đó, Tỉnh Uỷ đã lãnh đạo nhân dân đã đứng lên khởi nghĩa vào ngày 23 tháng 11 năm 1940. Theo lệnh khởi nghĩa của xứ uỷ, nhân dân khắp nơi trong tỉnh đồng lòng hưởng ứng bằng cách đặt mìn, phá cầu, phá trụ điện, tấn công vào nhà làm việc của địch. Trong thời điểm đó, tại Ngôi đình Long Hưng, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện bay phất phới. Tại nơi đây, thành lập chính quyền cách mạng; tịch thu tài sản, ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân nghèo. Toà án chính quyền cách mạng thành lập để xét xử những tên có tội ác đối với nhân dân, chủ yếu là hình thức giáo dục trước dân.
Sau cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp điên cuồng càn quét, ném bom khủng bố làng xóm, chúng huy động một Tiểu đoàn lính lê dương, 30 máy bay, nhiều tàu chiến để đàn áp đồng bào một cách dã man như địa điểm ném bom thảm sát chợ giữa Vĩnh Kim, gần 100 người đã chết và hàng chục ngàn người bị thương.
Tại Nhà trưng bày, còn có tượng 4 vị anh hùng của cuộc khởi nghĩa tại Gò Me - căn cứ quân sự Châu Thành gồm: Lê Văn Quân - sinh năm 1912 là cán bộ quận uỷ Châu Thành; Lê Văn Quới – sinh năm 1911, cán bộ quận uỷ Châu Thành; Lê Văn Giác - sinh năm 1902 là một trong những người lãnh đạo của Tỉnh Uỷ Mỹ Tho; Nguyễn Văn Ghè - sinh năm 1903, là Tỉnh Uỷ viên Ban khởi nghĩa.
Vào ngày 04/01/1941, do có người phản bội khai báo, Chủ tỉnh Mỹ Tho ra lệnh tập trung bao vây vùng gò cây me nơi có 4 vị cùng nghĩa quân đang tập luyện võ nghệ. Do xuất hiện bất ngờ nên biết khó có thể chống lại quân địch, các đồng chí lãnh đạo chủ trương cho anh em du kích phân tán khỏi vòng vây. 4 đồng chí rút lên Gò me chống trả đến viên đạn cuối cùng. Không để rơi vào tay giặc, đồng chí Quới rút gươm cắt cổ 3 đồng chí của mình rồi tuẫn tiết. Đồng chí Quới hy sinh còn lại 3 đồng chí của mình thì hấp hối. Bọn Pháp đã kết án tử hình đồng chí Giác, đồng chí Ghè; còn đồng chí Quân bị kết án khổ sai và đày đi Côn đảo.
* Ngôi nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập:
Là ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc cổ Nam Bộ được đưa vào hoàn tất dịp kỷ niệm 65 năm ngày Nam kỳ khởi nghĩa 23/11/2005 để làm nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập. Nhà theo kiểu 3 gian 2 chái, gian giữa là gian thờ bà Nguyễn Thị Thập.
Bà Nguyễn Thị Thập tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Tốt sinh ngày 10 tháng 10 năm 1908 tại làng Long Hưng, Châu Thành, Tiền Giang. Năm 1929, bà tham gia vào phong trào nông hội. Ngày 6/4/1931, bà được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 1935, được bầu vào Xứ uỷ Nam kỳ và trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Bà là một trong những người lãnh đạo. Năm 1952, bà làm việc tại cơ quan của Hội liên hiệp phụ nữ. Tháng 2/1956, Bà đắc cử vào Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và giữ cương vị trong 18 năm liền.
Bà là Uỷ viên Ban chấp hành TW Đảng, Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau năm 1975, bà sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh. Ngày 19/3/1996, do căn bệnh tai biến bà đã qua đời hưởng thọ 88 tuổi.
* Ngôi Đình Long Hưng:
Được xây dựng vào giữa thế kỷ thứ 18 để thờ cúng các vị thần thành hoàng bổn cảnh, tả quân Lê Văn Duyệt. Hàng năm, đình có 2 lệ cúng kỳ yên 16/4 âm lịch, cúng thượng điền 16/11 âm lịch, cúng hạ điền 1/8 âm lịch (cúng ông). Cũng tại Ngôi đình Long Hưng, lá cờ đò sao vàng bay phất phới. Cũng tại nơi đây lần đầu tiên Nhà nước theo thể chế dân chủ cộng hoà thành lập; chính quyền cách mạng tịch thu tài sản, ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân nghèo.
* Nhà bia xã Long Hưng:
Học sinh trường THCS Long Hưng Chăm sóc Nhà bia xã Long Hưng
 






Nhà bia xã Long Hưng ghi danh 614 liệt sĩ trong đó có 02 đồng chí được nhà nước công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang là Lê Thị Hồng Gấm và Hồ Văn Nhánh./.

Giá trị lịch sử của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ

Ngày 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (KNNK) bùng nổ trên diện rộng ở nhiều nơi. Ở những tỉnh đã nổ ra khởi nghĩa, nhân dân đã giành được chính quyền ở một số làng xã. Ở Long Hưng còn lập ra Tòa án nhân dân để xét xử bọn tề điệp gian ác. Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện ở Long Hưng, Phước Vĩnh Tây (Cần Giuộc - Chợ Lớn)...
Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công, bị kẻ thù dìm trong biển máu nhưng đã để lại nhiều kinh nghiệm cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 thành công và nhiều giá trị lịch sử cho sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta.
Vị thế của người cộng sản cũng từ đó phát triển trong quá trình gây dựng lại cơ sở cách mạng, dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, càng vươn cao trên khắp các trận địa chiến đấu trong suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng biểu hiện rõ ràng ở đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng; ở vai trò tiên phong gương mẫu về lý luận, về hành động, về phong cách sống của tuyệt đại đa số đảng viên.
Những ngày đầu kháng chiến ở Bến Tre. Ảnh: T.L
Cuộc KNNK năm 1940 đã làm sáng tỏ tính chính xác và đúng đắn của đường lối “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ từ thuở ra đi tìm đường cứu nước (1911), đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó con đường cứu nước. Khi đọc xong luận cương về Vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin (1921), Bác đã đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc trên lập trường của giai cấp vô sản, đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã đề ra đường lối “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Chính trên cơ sở của đường lối đó và tình hình thế giới lúc bấy giờ mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 tại xã Tân Thới Nhất (Bà Điểm - Hóc Môn) từ ngày 6 - 8/11/1939, do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì đã đề ra đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược sang Cách mạng giải phóng dân tộc, hình thành Mặt trận phản đế. Từ sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đó mà Xứ ủy Nam kỳ chủ trương khởi nghĩa năm 1940.
Ngày 8/2/1941, Bác Hồ về nước, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 - 15/10/1941, Hội nghị đã kết luận sự chỉ đạo chuyển hướng chiến lược của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 là hoàn toàn đúng đắn - Hội nghị Pác Bó đề ra nhiều chủ trương chính sách cụ thể nhằm tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh và các đoàn thể cứu quốc, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân. Cách mạng tháng 8/1945 đã bùng nổ và thành công trên cả nước từ ngày 19 - 25/8/1945. Cuộc KNNK 1940 tuy thất bại do chưa đúng thời cơ và do mất cảnh giác để kẻ phản bội chui vào hàng ngũ, kế hoạch bị lộ nhưng đã góp phần làm sáng tỏ tính chính xác và đúng đắn của đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Bác Hồ trong suốt chiều dài của sự nghiệp cách mạng ở nước ta.
Cuối cùng, cuộc KNNK 1940 đã chứng minh một chân lý là muốn lật đổ ách thống trị của thực dân, đế quốc để giành độc lập tự cho dân tộc, nhất thiết phải bằng bạo lực cách mạng, bạo lực vũ trang của toàn dân, chứ không chỉ bằng đấu tranh chính trị đơn thuần được với chúng.
Chính nhờ bài học về vũ trang KNNK 1940, vũ trang khởi nghĩa toàn quốc tháng 8/1945 mà khi giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam bộ đã nhất tề nổ súng chống xâm lược, mở đầu cuộc kháng chiến vào ngày 23/9/1945 và tiếp tục suốt 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc (1945 - 1975).
Tôn vinh ý nghĩa to lớn của cuộc KNNK, Bác Hồ đã ký sắc lệnh số 163/SL ngày 14/4/1948 long trọng tuyên dương: “Đội quân khởi nghĩa Nam bộ 1940 đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương ý chí quật cường của dân tộc”.
Tân Triều