Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Quốc hiệu Việt Nam thời Quang Trung

Quốc hiệu Việt Nam có từ bao giờ?
Cập nhật lúc 19/08/2011
(ĐVO) Hiện, nhiều người vẫn tưởng lầm rằng hai từ Việt Nam nói chung và quốc hiệu Việt Nam nói riêng chỉ bắt đầu xuất hiện vào năm Giáp Tý (1804) dưới thời vua Gia Long triều Nguyễn, nhưng có nhiều tài liệu lại cho rằng chính hoàng đế Quang Trung là người đặt ra quốc hiệu này.
Điều này là căn cứ vào ghi chép tại bộ Đại Nam thực lục chính biên nói về việc vua Gia Long từ năm Giáp Tý (1804) đã liên tiếp cử 2 đoàn sứ bộ (do Trịnh Hoài Đức và sau đó là Lê Quang Định) sang nhà Thanh để giao thiệp và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt.   

Sợ rằng sau đó nhà Nguyễn dựa vào quốc hiệu Nam Việt để đưa ra yêu sách về lãnh thổ được rộng lớn như lãnh thổ nước Nam Việt thời nhà Triệu nên vua Thanh gửi cho vua Nguyễn một bức thư có đoạn: “…Nên lấy chữ Việt mào ở trên để tỏ rằng nước nhân đất cũ mà nối được tiếng thơm đời trước, lấy chữ Nam đặt ở dưới để tỏ rằng nước ở bờ cõi Nam giao ... Tên xưng chính đại, chữ nghĩa tốt lành, mà đối với tên gọi cũ của Lưỡng Việt ở nội địa vốn xưa đã có tên là Nam Việt lại phân biệt được ra”.
Sau khi nhận tước phong Việt Nam quốc vương, tháng 2 năm Giáp Tý (1804) vua Gia Long xuống chiếu ban bố việc đặt quốc hiệu mới là Việt Nam. Chiếu viết rằng:
“Đế vương dựng nước, trước phải trọng Quốc hiệu để tỏ thống nhất. Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang, gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước. Hơn 200 năm, nối hòa thêm sáng, vững được nền thần thánh dõi truyền, giữ được vận trong ngoài yên lặng. Chợt đến giữa chừng, vận nước khó khăn, ta lấy mình nhỏ, lo dẹp giặc loạn, nên nay nhờ được phúc lớn, nối được nghiệp xưa, bờ cõi Giao Nam đều vào bản tịch. Sau nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh mới, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kính cáo Thái miếu, cải chính Quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến Quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”....
Chính do văn bản này được phổ biến rộng nên năm Giáp Tý (1804) được coi là năm xuất hiện của quốc hiệu Việt Nam. Vậy thật sự hai tiếng Việt Nam xuất hiện từ bao giờ và trở thành quốc hiệu khi nào?
Có nhiều nhà nghiên cứu đã cất công đi tìm lời giải đáp này và họ đã tìm được 12 tấm bia có niên đại thế kỷ 16-17 khắc hai chữ Việt Nam, ngoài ra còn một bản in khắc gỗ từ năm 1752 cũng có danh xưng Việt Nam. Như vậy hai tiếng Việt Nam đã có từ lâu. Một số tác phẩm cổ cũng nhắc đến chữ Việt Nam như cuốn Việt Nam thế chí của Hồ Tông Thốc (đời Trần, thế kỷ 14), cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đời Lê, thế kỷ 15)….
Về ý nghĩa, phần lớn các tài liệu đều cho rằng từ “Việt Nam” được kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam). Nếu xét theo phương diện rộng thì “Việt Nam” chính thức được sử dụng chính thức là quốc hiệu vào năm Giáp Tý (1804), tuy nhiên có một tài liệu khác lại cho biết quốc hiệu Việt Nam còn xuất hiện sớm hơn, cụ thể là vào năm Nhâm Tý (1792) đời vua Quang Trung. Trong bộ sách Dụ Am văn tập của Phan Huy Ích - một cận thần của nhà Tây Sơn, trong đó có một văn bản do ông “phụng mệnh vua soạn thảo” mang tiêu đề “Tuyên cáo đặt mới quốc hiệu”.
Bản chiếu này viết: “Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều biết.
Trẫm nghĩ: Xưa nay các bậc đế vương dựng nước, ắt có đặt quốc hiệu để tỏ rõ sự đổi mới, hoặc nhân tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩa tốt đẹp. Xét trong sách cũ đã có chứng cớ rõ ràng
Nước ta, sao Dự, sao Chẩn, cõi Việt hùng cường. Từ trước đã có Văn Lang, Vạn Xuân nhưng còn quê kệch. Đến đời Đinh Tiên Hoàng gọi là Đại Cồ Việt, nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ. Từ đời nhà Lý về sau quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho ngày trước đặt làm hiệu nước. Tuy vậy, vận hội dù có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ theo tên cũ, thực là trái với nghĩa chân chính dựng nước vậy.
Trẫm nối theo nghiệp cũ, gây dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, tuần xét núi sông, nên đặt tên tốt để truyền lâu dài.
Nay ban đổi tên nước là Việt Nam
Đã báo sang cho Trung Quốc biết rõ.
Từ nay trở đi, cõi Viêm bang bền vững, tên hiệu tốt đẹp gọi truyền. Hễ ở trong bờ cõi đều hưởng phúc thanh minh.
Vui thay.
Nghĩa xuân thu nhất thống đã truyền khắp bốn phương, ân huệ lâu dài và muôn phúc cao dày mọi người cùng hưởng. Vậy bá cáo rộng khắp để mọi người đều biết
Nay chiếu”. (Trần Lê Hữu dịch)
Như vậy, căn cứ vào các tư liệu, tư tịch cổ được các nhà nghiên cứu phát hiện đã chứng minh rằng hai tiếng Việt Nam đã có từ xưa (ít nhất cũng từ thế kỷ 14) và (có thể) chính thức trở thành quốc hiệu nước ta vào năm Nhâm Tý (1792) đời Vua Quang Trung nhà Tây Sơn.
Lê Thái Dũng

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)

Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
Th.S Trần Thị Thanh Tâm
Khoa KHXH&NV – Đại học Duy Tân
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định tầm quan trọng của đấu tranh quân sự và sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao rằng: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”. Bởi vậy, vận dụng vào thực tiễn đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), chúng ta phải đương đầu với một thế lực lớn mạnh hơn ta rất nhiều nên Đảng và Chính phủ ta chủ trương tiến hành một cuộc kháng chiến có sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao.
  1. Thời kì từ 1945 đến trước 19/12/1946.
Sau khi nhân dân ta Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trong cả nước, dựng lên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì theo những thỏa thuận quốc tế trong phe Đồng minh chống phát xít, nhiều đạo quân xâm lược núp dưới danh nghĩa quân Đồng minh vào giải giáp bọn phát xít đã tràn vào nước ta: đó là 20 vạn quân Tưởng và sau lưng Tưởng là thế lực của Mỹ kéo vào Bắc vĩ tuyến 16, 5 vạn quân Anh - Ấn kéo vào Nam vĩ tuyến 16, ngoài ra còn 6 vạn quân Nhật còn đóng trên đất nước ta chờ được giải giáp về nước; rồi quân Pháp núp sau bóng quân Anh đã trở lại xâm lược ở Nam Bộ từ 23/9/1945. Từ đây, Nam Bộ thực sự bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Ngay từ lúc này Đảng ta nhận định thực dân Pháp là kẻ thù trước mắt, chủ yếu và nguy hiểm nhất, phải tập trung lực lượng đánh Pháp để chặn bước chân xâm lược của chúng ở Nam Bộ. Vì vậy, ta chủ trương hòa với Tưởng ở miền Bắc để chống Pháp ở miền Nam. Ta đã có những nhượng bộ đối với Tưởng như: cung cấp cho chúng một số lương thực, thực phẩm, nhường cho các tổ chức tay sai của Tưởng một số ghế trong Quốc hội (không cần qua bầu cử) và một số ghế trong Chính phủ… Nhằm hạn chế những hoạt động chống phá ta của quân Tưởng và bè lũ tay sai của chúng ở miền Bắc, tập trung lực lượng đánh Pháp ở miền Nam. Và cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến đã thu được những thắng lợi nhất định: đêm 22 – rạng ngày 23/9/1945 được sự giúp đỡ của quân Anh và Nhật, Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2. Các đơn vị bảo vệ trụ sở ủy ban nhân dân, trụ sở tự vệ, nhà bưu điện… đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Những ngày cuối tháng 9, các trận đánh liên tiếp diễn ra ở khu Tân Định, Cầu Muối, ngã ba Chú Lía, cầu chữ Y. Ngày 5 tháng 10, tổng chỉ huy Leclerc cùng với viện binh Pháp đến Sài Gòn, nhờ đó địch cố sức bao vây, chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Hóc Môn, Gò Vấp… Quân ta tiếp tục đánh địch ở Khánh Hội, Phú Lâm, An Nhơn… tiêu biểu là trận đánh địch ở cầu Thị Nghè (ngày 17/10/1945) được xem là trận đánh xuất sắc trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp.
Các cuộc vây ráp, đánh địch ở Cầu Bông, Cầu Kiệu, Thị Nghè, An Bình, Phú Nhuận… khiến quân địch lâm vào tình thế khó khăn. Tính đến tháng 12/1945, quân và dân Nam Bộ đã làm thất bại kế hoạch: lấy lại Nam kì trong vòng 18 ngày của Leclerc. Sau 2 tháng chiến đấu, bộ chỉ huy Pháp phải thừa nhận: có nhiều đơn vị, binh lính chết, bị thương… quân đội Pháp đang đứng trước “một cuộc chiến tranh kì lạ”.
Miền Nam đã được Bác Hồ tặng danh hiệu “Thần đồng Tổ quốc”; Nhân dân ta đã làm được điều như Bác Hồ đã nói: “Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu cần hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải chiến đấu bao nhiêu năm để giữ gìn độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ thì thế nào chúng ta cũng vẫn kiên quyết hy sinh. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công” [1,tr.47]. Với thắng lợi này của chúng ta, buộc địch phải nhờ Giê-xi (quân Anh) làm trung gian xin điều đình với Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Song sau nhiều lần gặp gỡ không mang lại kết quả gì, bởi Pháp ngoan cố và có nhiều đòi hỏi vô lí mà chúng ta không chấp nhận, cuộc đàm phán thất bại vì chúng ta chưa có thắng lợi quân sự nào quyết định để buộc Pháp phải thương lượng theo ý ta. Còn Pháp vẫn tiếp tục mở rộng xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lúc này Đảng ta nhận định rằng: trước sau gì rồi Tưởng và Pháp cũng dàn xếp với nhau nếu mỗi bên nhường cho nhau quyền lợi nào đó. Và đúng như dự kiến của chúng ta, ngày 28/2/1946 Hiệp định Pháp – Hoa được kí kết với nội dung quan trọng nhất là: Pháp nhường cho Tưởng đoạn đường sắt Hải Phòng – Côn Minh chạy trên đất Trung Quốc, ngược lại Tưởng đồng ý rút quân về nước để cho Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng, tước vũ khí quân Nhật. Ở miền Nam trước đó, quân Anh rút đi, để cho quân Pháp ở lại.
Đảng ta nhận định đó không chỉ là sự dàn xếp của Pháp với Tưởng mà là sự dàn xếp giữa bọn đế quốc và phản động với nhau để phá hoại cách mạng Việt Nam. Sau khi hòa ước được kí, quân Tưởng còn tính toán do dự, còn quân Pháp lại rất nóng lòng đem quân ra miền Bắc, song chúng lo sợ là ra miền Bắc thì sẽ vấp phải sức kháng chiến quyết liệt gấp bội phần với Nam Bộ, do đó, Pháp muốn tìm một cớ sao cho có thể đưa quân ra Bắc một cách hợp pháp.
Nắm lấy cơ hội ấy, Đảng ta chủ trương tạm hòa với Pháp để đẩy 20 vạn quân Tưởng về nước nhanh, cô lập quân Pháp là kẻ thù chính lúc đó. Đảng chỉ rõ: “Vấn đề lúc này không phải là muốn đánh hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình, biết người, nhận định một cách khách quan những điều lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng” [4,tr.45]. Chính vì vậy, ngày 6/3/1946 ta đã kí với Pháp Hiệp định sơ bộ, trong đó có những điều khoản chính:
-    Việt Nam đồng ý cho Pháp mang 15.000 quân ra miền Bắc và sẽ rút dần trong vòng 5 năm, tôn trọng một số quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp ở miền Bắc.
-    Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do trong lien hiệp Pháp có Quốc hội, Chính phủ, quân đội và nền tài chính riêng.
-    Hai bên sẽ tiến hành cuộc đàm phán chính thức tại một nơi thuận lợi trên đất Pháp. Để tạo bầu không khí đàm phán, hai bên sẽ đình chiến ở miền Nam.
Việc đi đến kí kết Hiệp định sơ bộ với những điều khoản cơ bản trên đây, chúng ta đã liên tục đấu tranh với Pháp, vấn đề khúc mắc nhất là hai chữ “tự do”, ta lúc đầu nhất định ghi là “độc lập”, còn Pháp nhất quyết ghi là “tự trị”. Cuộc đấu tranh gay go quyết liệt có lúc tưởng chừng chấm dứt đàm phán, vẫn bởi lúc này ta chưa có ưu thế quân sự, lực lượng ta còn non yếu chưa thể đối đầu bằng quân sự với Pháp để giành được độc lập hoàn toàn, chúng ta gặp quá nhiều khó khăn sau khi giành độc lập dân tộc, vừa phải chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, vì vậy, chúng ta cần có một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị đối phó với Pháp – kẻ thù mà chúng ta biết trước sau gì không tránh khỏi. Do đó, ta phải nhượng bộ Pháp hai chữ “độc lập” mà đồng ý lấy hai chữ “tự do”.
Sau khi kí Hiệp định sơ bộ ngày 6/31946, quân Pháp tiếp tục có những hành động khiêu khích, vi phạm hiệp định và tiếp tục có lập trường ngoan cố làm cho cuộc đàm phán tại Phongtennơblô thất bại. Một cuộc chiến tranh sắp sửa bùng nổ, trước tình hình đó để tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, cũng như nêu cao chính nghĩa và thiện chí của ta, ngày 14/9/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến kí với Pháp một bản Tạm ước quy định hai bên đình chỉ chiến sự, định thời gian nối lại đàm phán vào tháng 1/1947 và quy định một số quan hệ kinh tế, văn hóa giữa hai nước.
Cuối cùng cuộc đàm phán trù bị ở Đà Nẵng cũng như cuộc đàm phán chính thức tại Phongtennơblô đều không đi đến kết quả, lí do cũng chỉ vì thế và lực của ta còn non yếu, chưa có một thắng lợi nào trên chiến trường để quyết định trên bàn đàm phán. Tuy nhiện, cuộc đấu tranh ngoại giao này có ý nghĩa, tác dụng rất lớn đối với ta:
-    Lần đầu tiên chính phủ một cường quốc chính thức đàm phàn với chính phủ ta, do đó nâng cao uy tín của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trên trường quốc tế.
-    Nó bóc trần âm mưu và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp.
-    Tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của dư luận nhân dân Pháp và thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta.
-    Đây cũng là một chi viện lớn về tinh thần và chính trị cho cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ.
-    Ta cũng gạt được một kẻ thù to lớn và nguy hiểm là 20 vạn quân Tưởng ra khỏi nước ta, cô lập triệt để kẻ thù chính là thực dân Pháp.
Đặc biệt nhân dân ta tận dụng được khả năng và thời kì hòa hoãn quý báu do Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9/1946 đưa lại để tăng cường lực lượng của ta, chuẩn bị đầy đủ hơn nữa cho cuộc chiến đấu sắp tới. Trong thời gian hòa hoãn đó lực lượng mọi mặt của ta được tăng cường rõ rệt.
Tình hình Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên có những biến chuyển lớn: Ủy ban kháng chiến hành chính được thành lập ở 1100/1230 xã ở Nam Bộ, xây dựng được 5 đội vũ trang tuyên truyền trong nhân dân địa phương ở Tây Nguyên, xây dựng được một số đơn vị bộ đội chủ lực và các chiến khu như Đồng Tháp Mười, U Minh, chiến khu D ở Nam Bộ.
Từ tháng 5/1946 đến tháng 10/1946, lực lượng chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được tăng cường, cụ thể là ta xây dựng thành công Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Ta triệu tập được Đại hội dân tộc thiểu số ở miền Nam và toàn quốc. Đặc biệt lực lượng vũ trang của ta được tăng cường rõ rệt về số lượng và chất lượng do được huấn luyện tốt hơn với 80.000 quân thường trực (so với ngay sau khởi nghĩa toàn thắng mới có 5000) và hang triệu dân quân tự vệ, tự vệ chiến đấu ở các huyện, tỉnh. Ở khu V đã thành lập trường trung học lục quân, cả nước có trường võ bị Trần Quốc Tuấn. Ngày 28/10/1946, Quốc hội họp kì thứ II đã hoàn toàn nhất trí thông qua bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Như vậy, chỉ hơn một năm sau khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (từ 2/9/1945 đến 19/12/1946), trong bối cảnh chính quyền, quân đội còn non trẻ, chưa đủ sức, lực lượng để tiến hành những trận đánh lớn trên chiến trường thì đấu tranh ngoại giao trở thành một mũi nhọn, là mặt trận chính đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định đến việc giữ vững chính quyền, giải quyết những khó khăn trong nước, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng tiến lên chống Pháp.
  1. Thời kì từ 19/12/1946 đến năm 1950
Từ đêm 19/12/1946 cả nước ta bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì và tự lực cánh sinh, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt việc kết hợp giữa các mặt trận chống thực dân Pháp. Từ lúc bước vào cuộc kháng chiến, Đảng ta đã đáng giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của kẻ thù: Pháp mạnh về vũ khí, tiềm lực kinh tế, nhưng yếu vì tiến hành chiến tranh phi nghĩa, càng đánh càng bọc lộ điểm yếu. Ta cũng biết được ý đồ của địch: trên mặt trận quân sự Pháp muốn đánh nhanh thắng nhanh, trên mặt trận ngoại giao, Pháp muốn cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Nắm được ý đồ đó của địch, Đảng và Hồ Chủ tịch đã chú trọng cả hai mặt trận. Về quân sự: sau khi bảo toàn lực lượng rút về căn cứ địa cách mạng an toàn, ta chuẩn bị lực lượng tiến lên thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng là “phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp” lên Việt Bắc năm 1947. Trải qua 75 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân và dân ta đã biến Việt Bắc thành mồ chôn giặc Pháp. Đặc biệt với chiến thắng này ta đã đánh bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta – đánh theo cách đánh sở trường của ta và cũng là sở đoản của địch, lại thêm những khó khăn mới trong bước đường xâm lược của thực dân Pháp.
Với ta, thắng lợi Việt Bắc là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong năm đầu kháng chiến toàn quốc, đánh dấu bước tiến mới về trình độ tác chiến của bộ đội và dân quân du kích, góp thêm những bài học về chỉ đạo đấu tranh quân sự và phối hợp chiến đấu trong cả nước. Với thắng lợi này, uy tín của Đảng, Chính phủ càng được nâng cao, ý chí chiến đấu và niềm tin vào tiền đồ cuộc kháng chiến của nhân dân ta được củng cố và tăng cường, thế và lực của ta lớn lên một bước.
Trên mặt trận ngoại giao, từ năm 1947 Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã chủ trương vượt biên giới phía Nam sông Mê Kông, lập đại diện của ta ở một số nước Nam Á và Đông Âu…
Đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao đã làm phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh và thủ đoạn cô lập biên giới Việt Nam của thực dân Pháp.
Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chuyến thăm chính thức Bắc Kinh, rồi thăm Liên Xô. Bằng những hoạt động ngoại giao khôn khéo, Người đã thiết lập được quan hệ chính thức với Trung Quốc và Liên Xô. Đến tháng 1/1950, Liên Xô, Trung Quốc, rồi các nước dân chủ nhân dân Đông Âu đã đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, chính thức công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây là một thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao, có tác động hỗ trợ đắc lực cho cuộc đấu tranh quân sự, từ đây cuốc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta không chỉ được nhiều nước biết đến mà còn nhận được sự chi viện có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa. Trong một buổi làm việc ở Matxcơva cùng với Xtalin, có cả Mao Trạch Đông, Bác đề nghị Liên Xô giúp trang bị cho 10 đại đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo cao xạ. Xtalin nói: “Yêu cầu của Việt Nam không lớn. Nên có sự phân công giữa Liên Xô và Trung Quốc. Liên Xô hiện đang phải lo nhiều cho các nước Đông Âu. Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam những thứ đang cần. Những thứ gì Trung Quốc chưa có thì hãy lấy trong số hàng Liên Xô đã viện trợ cho Trung Quốc chuyển cho Việt Nam, và sẽ được Liên Xô hoàn trả” [2,tr.14]. Mao Trạch Đông nói: “Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đát Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam” [2,tr.14]. Khi trở về Bắc Kinh, Bác còn đề nghị Trung Quốc cử cố vấn sang giúp Việt Nam nay mai sẽ đi vào đánh lớn… Từ đây, chúng ta nhận được nhiều sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc: không chỉ vũ khí, trang bị, cố vấn quân sự, lương thực, thực phẩm, thuốc men mà còn được giúp huấn luyện về chiến thuật. Cho đến hết năm 1950, ta đã tiếp nhận của Trung Quốc 1020 tấn vũ khí đạn dược, 180 tấn quân trang quân dụng, 2634 tấn gạo, 20 tấn thuốc và dụng cụ quân y, 800 tấn hang quân giới, 30 ô tô, 120 tấn xăng dầu và phụ tùng ô tô. Viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước là nguồn cung cấp quan trọng và có hiệu quả cho kháng chiến, chính điều đó đã làm cơ sở cho ta mở và giành thắng lợi cuộc tiến công biên giới thu đông 1950, chúng ta đã tiêu diệt và bắt sống 8300 tên địch, giải phóng một vùng rộng lớn dài 750 km với 35 vạn dân. Với thất bại này thì hang loạt kế hoạch quân sự, chính trị của Pháp bị phá sản: vòng vây biên giới Việt Trung bị bẽ gãy, hành lang Đông – Tây bị chọc thủng, các xứ tự trị bị phá vỡ, kế hoạch Revers của Pháp có sự giúp đỡ của đế quốc Mỹ bị sụp đổ về cơ bản, ý chí xâm lược của bọn đế quốc thực dân bị giáng một đòn nặng nề.
Đối với ta, ý nghĩa của chiến thắng Biên giới thu đông 1950 hết sức trọng đại: “Chiến thắng Biên giới đã mở ra một cục diện mới. Quyền chủ động trên chiến trường chính đã về tay ta, biên giới được khai thông, thế bị bao vây cả trong lẫn ngoài bị phá vỡ, căn cứ địa Việt Bắc được củng cố và mở rộng, ta càng có điều kiện thuận lợi để phát triển lực lượng về mọi mặt, đẩy mạnh kháng chiến tiến tới” [3,tr.60]. Chiến dịch Biên giới là kết tinh thành quả của những nổ lực phi thường về đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao của quân và dân ta từ ngày đầu kháng chiến toàn quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ.
Mở rộng biên giới, nối liền cuộc kháng chiến của nhân dân ta với nhân dân Trung Quốc, với phe xã hội chủ nghĩa, những thắng lợi trên cả hai mặt trận quân sự và ngoại giao trong năm 1950 đã đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta sang một giai đoạn mới: giai đoạn giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Khi thế và lực của ta đã phát triển mạnh, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành nhiều chiến dịch mới trong những năm 1951 – 1953.
                                                                                                (Còn nữa…)
TÀI LIỆU
1. Bộ quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
2. Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nxb QĐND, Hà Nội, 2001.
3. Nguyễn Văn Hoa, Giáo trình lịch sử Việt Nam 1945 – 1954, ĐHSP Huế, Huế, 2003.
4. Huỳnh Kim Thành, Nguyễn Thị Đảm, Một số vấn đề lí luận và thực tiễn trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam (1930 – 1975), ĐHSP Huế, Huế, 1997.
  1. Thời kì 1951 – 1954
Với sự giúp đỡ của các nước và sự nỗ lực của Việt Nam, bước sang những năm 1951 – 1952, chúng ta đã đẩy mạnh phát triển đấu tranh trên các mặt: chính trị, quân sự, ngoại giao, đặc biệt là đẩy mạnh xây dựng bộ đội chủ lực. Ngoài hai đại đoàn 308 và 304 có từ trước, ngày 25/12/1950 ta thành lập them đại đoàn 312, rồi tiếp theo là các đại đoàn 320 (ngày 16/1/1951), đại đoàn 325 (ngày 11/3/1951), đại đoàn công binh – pháo binh 351 (ngày 27/3/1951), đại đoàn 316 (ngày 1/5/1951)… Như vậy, đến tháng 5/1951, bộ đội chủ lực của ta gồm có 6 đại đoàn bộ binh và 6 đại đoàn này được giữ nguyên cho đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Về vũ khí trang bị, các nước bạn đã tích cực giúp ta được 20%, phần lớn còn lại vũ khí đạn dược và phương tiện chiến tranh do ta lấy được của địch và nỗ lực sản xuất. Năm 1951, xưởng quân giới của ta sản xuất được 30 súng và 2012 đạn bazooka, 176 súng và 4811 đạn SKZ, 28.548 đạn sung cối, trên 200.000 quả lựu đạn và trên 40.000 quả mìn các loại [4,tr.71].
Trên cơ sở sự lớn mạnh của lực lượng bộ đội chủ lực và trên các mặt trận khác, ta liên tiếp mở các chiến dịch tiến công nhằm giữ vững quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Từ cuối 1950 đến 1953, chúng ta lần lượt mở các chiến dịch lớn ở cả 3 miền. Ở Bắc Bộ, ngày 25/12/1950 mở chiến dịch Trung du (Trần Hưng Đạo); ngày 20/3/1951 mở chiến dịch Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám); ngày 28/5/1951 mở chiến dịch Hà Nam Ninh (Quang Trung). Ở Trung Bộ và Nam Bộ: ngày 12/2/1951 là trận tiến công của tiểu đoàn 436 (trung đoàn 101) tiêu diệt hoàn toàn lô cốt An Gia trong hệ thống phòng thủ Phú Ốc – Sịa của địch, lần đầu tiên ta tiêu diệt một vị trí vững chắc được bố phòng theo hệ thống De Latuor của địch. Ngày 26/7/1951 quân dân Thừa Thiên thắng lợi trận Thanh Lam Bồ; ngày 6/8/1951 trung đoàn 108 tiến công và thắng lợi ở Kom Plông; từ ngày 12 đến 25/5/1951 ta mở chiến dịch Sóc Trăng, loại khỏi vòng chiến đấu 204 tên địch. Qua đó có thể thấy rằng từ giữa năm 1951, với 3 chiến dịch lớn ở Bắc Bộ và một số chiến dịch ở Trung và Nam Bộ, cuộc kháng chiến của ta lại có thêm những bước tiến mới trên mặt trận quân sự.
Bên cạnh chú trọng đấu tranh vũ trang và đấu tranh ngoại giao trực tiếp với kẻ thù thì Đảng và Chính phủ ta rất chú ý đến củng cố và tăng cường sức mạnh của hậu phương kháng chiến trên cả nước. Bởi thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Pháp nói chung và trên mặt trận quân sự nói riêng đều bắt nguồn từ sức mạnh của hậu phương, căn cứ địa - nơi ngày đêm dốc người, dốc của, dốc sức ra tiền tuyến đánh giặc. Cuộc kháng chiến càng phát triển thì vai trò của hậu phương càng quan trọng, Đảng và Chính phủ với những chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa đã góp phần củng cố và tăng cường sức mạnh của hậu phương, từng bước đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc tiến lên phía trước. Và trên cơ sở này, ta tiếp tục giành thắng lợi trong việc phá tan cuộc tấn công Hòa Bình của địch, tiêu diệt sinh lực địch cao nhất (22.000 tên) và giải phóng được nhiều đất đai, đẩy chúng vào thế bị động về chiến dịch, qua đó làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch theo hướng ngày càng có lợi cho ta trên lĩnh vực quân sự. Phát triển thế tiến công, ta mở hai chiến dịch Tây Bắc và Thượng Lào (1952 – 1953) và cũng giành được thắng lợi.
* Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp (1954)
Qua 8 năm kể từ ngày nổ súng xâm lược lại nước ta đến mùa hè năm 1953, thực dân Pháp đã tiêu phí 2130 tỷ France và mất 30 vạn binh lính, sĩ quan, các kế hoạch chiến tranh từ D’Argenlieu, Leclerec đến Revers và De Lattre de Tassigni đều thay nhau phá sản. Nhân dân Pháp ngày càng chống đối gay gắt “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” ở Đông Dương. Chính giới Pháp ngày càng lục đục, mâu thuẫn do hậu quả của cuộc chiến tranh hao người tốn của mang lại.
Trong khi đó nhân dân ta ngày càng giành được nhiều thắng lợi trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội và đang tiến lên để giành thắng lợi hoàn toàn. Thế và lực của Việt Nam đã có đủ khả năng để kết thúc chiến tranh khi có điều kiện thuận lợi.
Càng kéo dài chiến tranh, thực dân Pháp càng tổn thất nặng nề. Chiến tranh trở thành một gánh nặng về kinh tế và tâm lý đối với nước Pháp. Pháp phải xin viện trợ Mỹ và do đó ngày càng lệ thuộc vào Mỹ. Nội bộ giới cầm quyền chia làm 2 phe: phe chủ chiến và phe chủ hòa đấu tranh gay gắt với nhau trong Chính phủ và Quốc hội, làm cho nội tình nước Pháp không ổn định, phải thay đổi chính phủ nhiều lần.
Chính phủ Lanien nghĩ đến một giải pháp chính trị thông qua thương lượng. Trong khi đó, chính sách của Mỹ là lái phía Pháp tránh xa khỏi bàn hội nghị trong khi chưa giành được những thắng lợi quan trọng trên chiến trường. Dalet nhiều lần nói với Bidon rằng: kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương trong điều kiện thuận lợi cho cộng sản là một điều không nên. Ông ta muốn người Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh vì Đông Dương là một mắt xích quan trọng trong phòng tuyến ngăn chặn cộng sản trong khu vực. Ý đồ thương lượng trên thế mạnh đã dẫn tới việc cả hai chính phủ Pháp, Mỹ đồng tình với kế hoạch Navarre. Ngày 19/5/1953, Navarre đến Sài Gòn và ngày hôm sau ra Hà Nội. Đến cuối tháng 6/1953 thì Navarre hoàn thành việc xây dựng kế hoạch của mình. Hơn một tháng ở Đông Dương nắm bắt tình hình, Navarre đã có được “một bản tổng kết ảm đạm” [4,tr.91] rằng so với đối phương, lực lượng quân đội Pháp đang ở thế bất lợi, 9 phần 10 lực lượng bị giam chân vào nhiệm vụ chiếm đóng, khối chủ lực tác chiến không đủ sức đương đầu với khối chủ lực của Việt Minh.
Trong Đông Xuân 1953 – 1954 kế hoạch Navarre hoàn toàn bị đảo lộn do những cuộc tiến công chủ động và kiên quyết của chủ lực ta trên những hướng chiến lược quan trọng mà quân Pháp không thể bỏ. Navarre muốn tập trung nhưng lại phải phân tán binh lực, muốn giành quyền chủ động nhưng lại càng lung túng bị động đối phó, muốn tiến công nhưng phải kéo quân đỡ đòn xuôi ngược khắp nơi.
Trong biển lửa của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam, khắp nơi quân đội Pháp lâm vào tình trạng phân tán chiếm đóng “bất động”, tinh thần sa sút, phải thực hiện một sự bố trí hoàn toàn phòng ngự và cần phải tăng viện ngay. Nhưng khả năng tăng viện lúc đó của Pháp rất hạn chế. Cơ quan tình báo Mỹ CIA cho rằng tình hình quân sự và chính trị của Pháp ở Đông Dương rất tồi tệ. Nếu đà đó không được ngăn chặn thì sẽ đưa đến sự sụp đổ của Pháp vào nửa sau của năm 1954. Còn theo đánh giá của tướng Ely (tháng 5/1954) thì bản đồ chiến tranh của Pháp ở Đông Dương tồi tệ hơn nhiều so với dự kiến trước đó. Ngày 7/5/1954, quân Pháp đã mất Điện Biên Phủ - quả đấm tấn công. Nhiều tướng Pháp cho rằng Pháp không thể thắng, Việt Minh không thể thua.
Thất bại ở Điện Biên Phủ làm sụp đổ ý chí thực dân và làm tiêu tan hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự để kết thúc cuộc chiến tranh của thực dân Pháp. Lanien và Bidon phải từ bỏ chủ trương thương lượng trên thế mạnh. Nội bộ giới cầm quyền Pháp càng thêm chia rẽ, đấu tranh gay gắt với nhau. Sau khi chính phủ Lanien sụp đổ, chính phủ Mendet France lên thay (tháng 6/1954) chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh bằng thương lượng. Mendet France hứa với Quốc hội và nhân dân Pháp sẽ lập lại hòa bình ở Đông Dương trong vòng một tháng. Thế là ý chí xâm lược của thực dân Pháp đã bị đánh bại. Thái độ của giới cầm quyền Pháp buộc phải thay đổi, họ phải tới đàm phán để kết thúc chiến tranh.
Cơ sở của đấu tranh ngoại giao là thắng lợi quân sự. Chúng ta sẽ không thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán nếu không có thắng lợi trên chiến trường. Cuối năm 1946, khi khả năng hòa hoãn không còn nữa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc kháng chiến toàn quốc với niềm tin “Địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không sao chiếm được lòng nòng nàn yêu nước của nhân dân ta” [6,tr.160]. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam từng bước thắng lợi, nhất là từ Thu Đông 1950, với thế tiến công chiến lược ngày càng phát triển, lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành, hậu phương kháng chiến được xây dựng và củng cố vững mạnh, sự giúp đỡ quốc tế ngày càng cao, sự phối hợp với Đảng Cộng sản Pháp, kết hợp với phong trào bảo vệ hòa bình thế giới và phong trào phản chiến ở Pháp. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo lợi thế cho Việt Nam trên bàn đàm phán.
Cựu sĩ quan tình báo Mỹ L.A.Patti nhận xét: “Ngày 13/3, quân đội nhân dân Việt Nam dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tướng Giáp khởi đầu cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ. Các pháo đài mới được tăng cường này đã có tầm quan trọng về chính trị và tâm lí hơn hẳn giá trị chiến lược thực tế của nó, vì hội nghị Genève sắp khai mạc. Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thấy được một cách đúng đắn đây là một trận đánh có tính chất quyết định, không phải chỉ nhằm giành được một chiến thắng vang dội mà sẽ làm cho họ mạnh hẳn lên, họ chuẩn bị bao vây cứ điểm này.
Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng còn nhằm đánh cho quân liên hiệp Pháp một đòn chí tử để gây tác động tâm lí đối với nước Pháp, làm cho nhân dân Pháp và những người chống cộng ở Việt Nam mất ý chí tiếp tục cuộc đấu tranh” [5,tr.826-838].
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ ta trước sau như một là nỗ lực vãn hồi hòa bình, chủ trương kết hợp giành thắng lợi về quân sự với giải pháp ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến. Ngày 26/11/1953, trong bài trả lời điện phỏng vấn báo Expressen, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nguyên nhân và tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tuyên bố lập trường của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là sẵn sàng đàm phán với chính phủ Pháp để kết thúc chiến tranh trên cơ sở: “Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam” [2,tr.555].
Ngày 27/11/1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra thông tri nêu rõ: “Trong lịch sử có nhiều cuộc chiến tranh do thương lượng hòa bình mà đi đến đình chiến…nhân dân ta chiến đấu chống bọn đế quốc xâm lược là vì độc lập dân tộc và cũng vì hòa bình thế giới... Ngọn cờ hòa bình phải do ta nắm lấy và dương cao lên” [2, tr.555-556].
Đảng ta chủ trương trong đàm phán hòa bình cần có sự nhân nhượng lẫn nhau: “Muốn đàm phán có kết quả thì ta phải nhân nhượng, nhưng nhân nhượng có chừng mực, trong nguyên tắc, và đối phương cũng phải nhân nhượng ta” [3,tr.181]. “Phải tránh tả khuynh, đặt yêu cầu quá cao cho cuộc đấu tranh ngoại giao, làm cho cuộc đàm phán bị bế tắc. Nhưng cũng phải chống hữu khuynh, nhượng bộ cho địch quá mức, làm cho nhân dân chán nản và kẻ địch được đằng chân lân đằng đầu” [3,tr.185]. Thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã mở hướng đi tới để đàm phán để kết thúc một cuộc chiến tranh.
Ngày 26/4/1954, Hội nghị Genève bắt đầu họp về vấn đề Triều Tiên, nhưng không đi đến một giải pháp nào. Thời gian hội nghị bàn về vấn đề Triều Tiên là lúc quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ đang nguy kịch, sau khi các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bị tiêu diệt, quân Pháp ở Bản Kéo buộc phải đầu hàng. Hàng loạt cứ điểm ở khu Đông Mường Thanh bị tiêu diệt từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 4 năm 1954. Từ ngày 1/5/1954 khu trung tâm bắt đầu bị tấn công dồn dập. Chiều 7/5/1954, bộ chỉ huy Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng.
Thất bại ở Điện Biên Phủ làm tan vỡ thương lượng trên thế mạnh của các thế lực đế quốc hiếu chiến. Sáng ngày 8/5/1954, Thủ tướng Pháp Lanien công bố trước Quốc hội sự thất thủ của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ. Buổi chiều cùng ngày, Tổng thống Mỹ Aixenhao họp Hội đồng An ninh quốc gia để thông báo kết cục bi thảm này. Tại Hội nghị Genève, Ngoại trưởng Bidon của Pháp thông báo tin quân Pháp thất trận và đề nghị chấp nhận nguyên tắc của một cuộc tổng ngưng chiến tại Đông Dương.
Ngày 8/5/1954, vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được đưa ra thảo luận. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào Hội nghị với tư thế người chiến thắng.
Hội nghị Genève về Đông Dương diễn ra trong bối cảnh khác trước: Cuộc kháng chiến của ta đã giành được nhiều thắng lợi vang dội mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Mặt khác, trên bình diện ngoại giao, vấn đề Đông Dương cũng được quốc tế hóa. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một bên chủ yếu của chiến tranh, đã được mời đến dự Hội nghị Genève để bàn về chính công việc của mình, chứ không phải là tham gia một cách chủ động trong cuộc đàm phán song phương với đối thủ như tình hình năm 1946. Và một sự khác trước nữa đó là những thành tựu ta giành được trong các văn kiện của Hiệp định. Trong tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève nêu rõ: Pháp cùng các nước lớn khác công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, điều mà 9 năm trước, tại hiệp định Sơ Bộ (ngày 6/3/1946), Pháp không chịu công nhận. Cuộc đàm phán lần này không chỉ tiến hành giữa hai đối thủ trực tiếp là Việt Nam và Pháp như năm 1946 mà có sự tham gia của các nước lớn. Với yếu tố quốc tế hóa như vậy, dấu ấn của các cường quốc là không thể tránh khỏi. Trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, theo xu hướng giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa chấp nhận kí Hiệp định Genève.
Ngày 20/7/1954, các nước tham dự Hội nghị đã ra tuyên bố cuối cùng và kí các văn bản hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia, tạo nên khung pháp lí của Hiệp định Genève về Đông Dương.
Cho đến nay, vẫn còn có những đánh giá khác nhau về kết quả Hội nghị Genève, nhưng đối với dân tộc Việt Nam, thì đây chỉ là kết thúc một chặng trên con đường đấu tranh lâu dài và gian khổ để đi tới độc lập, tự do. Tại phiên họp cuối cùng của Hội nghị, đoàn đại biểu nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra tuyên bố kêu gọi đồng bào của mình: “Nhân dân Việt Nam! Đồng bào miền Nam! Thắng lợi thuộc về chúng ta! Độc lập và thống nhất Tổ quốc chúng ta là ở trong tay chúng ta. Những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới đều đồng tình với chúng ta. Đồng bào hãy nhớ lấy lời Hồ Chủ tịch: “Cuộc đấu tranh phải gian khổ, nhưng cuối cùng chúng ta nhất định thắng”” [1,tr.80].
Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài và gian khổ của dân tộc Việt Nam. Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xóa bỏ cơ đồ thực dân cũ của Pháp ở Đông Dương, góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mĩ Latinh. Việt Nam – Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng và niềm tin chiến thắng của các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập, tự do.
Như vậy, chúng ta thấy rằng năm 1946 qua nhiều lần thương lượng, đàm phán, thực dân Pháp vẫn ngoan cố không chịu thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Khi kí bản hiệp định Sơ Bộ ngày 6/3/1946, Pháp mới chỉ công nhận tính thống nhất của Việt Nam là “một quốc gia tự do” nhưng không công nhận là độc lập và họ quyết tâm xâm lược nước ta bằng một cuộc chiến tranh đẫm máu. Vì vậy, trái với mong muốn hòa bình của ta, thực dân Pháp đã biến hiệp định Sơ Bộ thành hiệp định đổ bộ đưa quân ra miền Bắc Việt Nam để gây chiến.
Tuy nhiên, cùng với thắng lợi to lớn tại Điện Biên Phủ, tại Hội nghị Genève – một hội nghị quốc tế với sự tham gia của các nước lớn đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ - các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào, Campuchia. Tạo cơ sở pháp lí cho Việt Nam tiếp tục đấu tranh trong hai thập kỉ tiếp theo để giành độc lập, thống nhất hoàn toàn.
Những thắng lợi đạt được trên đây là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ ta qua việc kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để có thể giành được thắng lợi trọn vẹn nhất.
KẾT LUẬN
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, trong các cuộc kháng chiến, ông cha ta luôn biết kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, vừa đánh vừa đàm để kết thúc chiến tranh, điều đó trở thành một nghệ thuật quân sự của dân tộc như thời nhà Lê chống quân Minh xâm lược, Lê Lợi đã mở hội thề Đông Quan để kết thúc chiến tranh một cách hòa bình, đỡ tốn xương máu của nhân dân cả hai nước, mở đường cho quân giặc rút về nước trong danh dự và làm cho chúng kính nể ta…Vận dụng và phát huy một cách sáng tạo truyền thống đánh giặc đó, cũng như học tập kinh nghiệm của hầu hết các cuộc chiến tranh trên thế giới luôn có sự kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao. Lấy đấu tranh quân sự làm cơ sở để đấu tranh ngoại giao và đấu tranh ngoại giao để tạo những điều kiện thuận lợi cho đấu tranh quân sự phát triển mạnh. Đặc biệt chúng ta tranh thủ sự ủng hộ về tinh thần của nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới, sự giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ của các nước láng giềng trong cuộc đấu tranh chính nghĩa vì độc lập, tự do của dân tộc ta. Và một khi quân sự mạnh lên, thế và lực vững vàng, sẽ tiến hành đấu tranh quân sự để giành một thắng lợi quyết định buộc kẻ thù phải ngồi vào bàn đàm phán với ta.
Thắng lợi Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève được kí kết là hai sự kiện lớn thể hiện sự kết hợp tuyệt vời giữa hai mặt trận quân sự và ngoại giao, trong đó quân sự làm cơ sở để đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp, kết thúc chiến tranh. Đây cũng là một nghệ thuật đấu tranh, một bài học quý báu mà chúng ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để giành thắng lợi trọn vẹn, vẻ vang nhất.
TÀI LIỆU
1.       Bộ Ngoại giao, Những bản tham luận của đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa ở Hội nghị Genève, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1954.
2.       Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14 (1953), Nxb CTQG, Hà Nội, 2001.
3.       Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15 (1954), Nxb CTQG, Hà Nội, 2001.
4.       Nguyễn Văn Hoa, Giáo trình lịch sử Việt Nam 1945 – 1954, ĐHSP Huế, Huế, 2003.
5.       L.A.Patti, Tại sao Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2002.
6.       Hồ Chí Minh, Biên niên về những sự kiện và tư liệu quân sự, Nxb QĐND, Hà Nội, 1990.

Thứ Bảy, 10 tháng 3, 2012

Chiếc BÁNH CHƯNG góp công Đại Phá Quân Thanh


Chiếc BÁNH CHƯNG góp công Đại Phá Quân Thanh


10-06-2009
HOÀNG THIÊN LÝ
Dân tộc ta vốn có truyền thống lâu đời tốt đẹp là mỗi lần Tết đến Xuân sang, trong những ngày thiêng liêng nhất của năm mới thường nhớ đến người xưa, những vị anh hùng dân tộc đã có công dựng nước với tấm lòng tôn kính, biết ơn. Nhân năm Kỷ Sửu 2009, chúng ta hãy cùng nhau lần theo lịch sử, ôn lại đôi điều về một chiến công hiển hách của nước nhà vào tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) , trong đó có liên quan đến chiếc bánh chưng ngày Tết.
Vua Tây Sơn khi ở Nghệ An cất quân ra Bắc đã vấn kế Xử sĩ Nguyễn Thiếp mà xưa nay vua vẫn quý trọng như bậc quân sư. Ông Thiếp vốn trước dạy học ở nhà vị quan Đề lĩnh họ Đinh, vừa ở Thăng Long về Nghệ An và đã hiểu tình trạng quân Thanh. Ông bèn hiến kế Vua Quang Trung sai sứ giả làm một phong thư đưa cho Tôn Sĩ Nghị, giả ý sợ oai thiên triều, sẽ tự trói mình đến Thăng Long tạ tội, đâu dám chống cự quân Thanh cốt để làm cho Tôn Sĩ Nghị thêm lòng khinh địch, không nghĩ đến việc đề phòng; đồng thời, cho đại quân tiến gấp ra Bắc khiến Nghị lúng túng trở tay không kịp.
Gần Tết, tình thế quân Thanh rất nguy khốn, không còn kiêu căng, huênh hoang như mọi ngày, Tôn Sĩ Nghị đâm ra lo sợ cuống cuồng, bèn hạ lệnh đóng chặt các cửa thành, quân dân ta ra vào đều bị quân Thanh khám xét tra hỏi rất nghiêm ngặt. Sáng mồng một tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), quân dân ta không còn ai nghĩ đến chuyện ăn Tết thưởng Xuân nữa. Vị Đề lĩnh họ Đinh, một võ quan triều Lê, do không đồng ý việc mượn sức quân Thanh nên không được triều Lê trọng dụng. Ông chỉ giữ một chức nhỏ là Giám ti, cai quản một toán lính già yếu để canh giữ các kho lương thực và khí giới của quân Thanh ở liền ngay cạnh sói phủ Tôn Sĩ Nghị.

Chiếc bánh chưng được chuẩn bị cho ngày tết
Sáng mồng ba Tết, ông Đề lĩnh đang ngồi trong gian phòng lo nghĩ gần xa, chợt một tên lính hầu vào trình có một người xứ Nghệ đem biếu một cặp bánh chưng. Giật mình, ông cho gọi ngay vào xem là ai. Ông vui vẻ nhận ra ngay là Xử sĩ Nguyễn Thiếp trước dạy học của nhà ông. Ông vồn vã hỏi:
Năm mới sao thầy không ở nhà ăn Tết cho vui lại ra đây làm gì cho vất vả? Nguyễn Thiếp thong thả đáp:
Tại kinh đô năm nay e mất Tết nên tôi vội thân hành ra mừng Tết ngài.
Ông vừa nói vừa dâng cặp bánh chưng, đồng thời liếc mắt nhìn ông Đinh và nhìn cả tứ phía. Ông Đinh hiểu ý ngay, bèn đuổi mấy tên lính hầu ra ngoài. Nguyễn Thiếp bóc ngay một chiếc bánh, cắt làm đôi, chỉ vào nhân bánh và nói:
Anh hùng nên phải thức thời và tuỳ thời mà lập công. Vận mệnh nhà Lê đã đến ngày tuyệt vong, chúng ta nên sớm biết đường, giúp nước. Vua Quang Trung anh dũng khác thường, nay đem quân ra quét sạch quân Thanh giày xéo đất nước. Vì thế, ngài tự viết một tờ mật dụ uỷ thác cho tôi đưa tới ông. Khi tới nơi thấy quân Thanh khám xét rất nghiêm, tôi phải để tờ dụ vào chiếc bánh chưng này để che mắt chúng và may đã lọt vào tới đây. Một cơ hội rất tốt để giúp nước trừ giặc, ta chớ nên bỏ lỡ…
Dứt lời, ông rút tờ dụ để lẫn trong nhân bánh chưng đưa ông Đề lĩnh. Vui mừng như người được của, ông Đinh hẹn sẽ theo đúng kế hoạch thi hành.
Đến mồng bốn rạng ngày mồng năm tháng Giêng năm Kỷ Dậu, giữa lúc quân Thanh đang liều chết chống cự với quân Tây Sơn, Tôn Sĩ Nghị đang cố gượng đứng trên kỳ đài đốc chiến. Chợt có tin cấp báo như sét đánh ngang trời: Soái phủ và các kho khí giới lương thực ở trong thành tự nhiên phát hoả dữ dội, lửa bốc cao rực đỏ trời. Tôn Sĩ Nghị sợ hãi rụng rời vì cho rằng quân Tây Sơn đã lọt được vào trong thành, liền bỏ cả việc đốc chiến ra lệnh rút quân, rồi nhảy lên ngựa cùng mấy tên tì tướng thân cận chạy trốn như bay. Còn quân lính thình lình thấy lệnh rút lui, thấy chủ soái cũng biến đâu mất, quân Thanh như rắn mất đầu, hoảng sợ tìm đường chạy trốn.
Đám tàn quân chạy theo Sĩ Nghị ra tới bờ sông Nhị Hà (sông Hồng) cũng tranh nhau xô đẩy xuống phù kiều để sang bên Bồ Đề (Bắc Ninh) mong tìm đường trốn chạy về nước. Người đông, cầu nhỏ yếu, quân sĩ chen chúc đè lên nhau ngã xuống sông, chết đuối không biết bao nhiêu mà kể. Cuối cùng riêng có Tôn Sĩ Nghị, mấy viên tì tướng và một toán vệ binh nhỏ qua sông từ trước, may đã sống sót chạy về Trung Quốc.
Lê Chiêu Thống thấy tướng sĩ nhà Thanh đại bại, hết chỗ nương tựa, đành phải uất hận đem cung quyến và mấy chục viên quan trung thành, từ bỏ thành Thăng Long chạy theo Tôn Sĩ Nghị.
Ngày hôm sau, vua Quang Trung kéo quân vào thành trước sự hoan hô của dân chúng. Xử sĩ Nguyễn Thiếp tâu bày mọi việc. Vua Quang Trung rất đẹp lòng và cho triệu ngay ông Đề lĩnh họ Đinh tới hỏi chuyện. Ngài tỏ lời ban khen và trọng thưởng ông Đinh vì đã sớm tỉnh ngộ và tuân theo đúng tờ dụ trong chiếc bánh chưng ngày Tết.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger: cuộc đối đầu lịch sử


Lê Đức Thọ và Henry Kissinger: cuộc đối đầu lịch sử


03-03-2010
QUANG DOÃN (DỊCH)
A.J.Langguth là nhà báo, nhà nghiên cứu và là giáo sư khoa Báo chí tại Đại học Southern (California). Ông viết nhiều sách về lịch sử, về chiến tranh, về cuộc cách mạng Mỹ… và đã từng có mặt tại Việt Nam những năm 1964, 1968, 1970. Năm 1997, ông tham gia đoàn các học giả và tướng lĩnh Mỹ do McNamara dẫn đầu dự hội thảo Việt Nam - Mỹ về chiến tranh Việt Nam tổ chức ở Hà Nội. Trong cuốn Our Vietnam - The War 1954-1975 (Việt Nam của chúng ta - cuộc chiến tranh 1954-1975), ông viết về những ngày cuối cùng của cuộc đàm phán Paris. Xin giới thiệu với bạn đọc một trích đoạn nhân dịp kỷ niệm 37 năm ngày ký hiệp định Paris về Việt Nam (1973-2010).
… Qua nhiều năm đàm phán ở Paris, Kissinger đã cảm nhận được giọng nói gay gắt của Lê Đức Thọ. Có lần, sau khi bị ông Thọ phê phán gay gắt, Kissinger nói: “Xin cho tôi được hỏi ngài một câu. Ngài có hay mắng mỏ (scold) đồng sự của ngài trong Ban chấp hành Trung ương như cách ngài thường mắng chúng tôi không?”.

Lê Đức Thọ và Ngoại trưởng Henry Kissinger. Ảnh TL.
Nhưng lần này thì những gì vẫn thường diễn ra từ phía đoàn Hà Nội trong các cuộc thương lượng trước đây, đã không còn chờ đón Kissinger trong cuộc họp của hai bên sau đợt ném bom dịp lễ Giáng Sinh (1972) nữa.
Ngày 8 tháng Giêng (1973) khi Kissinger đến ngôi biệt thự tại thị trấn Gif-sur-Yvette (Paris), không có một người nào trong đoàn Bắc Việt Nam đón ông ở cửa. Kissinger phải tự mình bước vào nhà và tự tìm lối vào phòng họp, ở đó đoàn Bắc Việt Nam đang chờ ông ta, ai nấy đều tỏ thái độ lạnh lùng. Kissinger cảm thấy lúng túng, bèn mở đầu bằng câu thanh minh xin lỗi: “Đó không phải là trách nhiệm của tôi. Việc ném bom không phải là lỗi của tôi”.
Nhớ lại lần đầu tiên gặp nhau giữa hai người, Kissinger đã cảm thấy bực tức trước cách đối xử của ông Lê Đức Thọ, coi Kissinger như là học trò của mình, và hôm nay, một lần nữa, điều ấy lại tái diễn ở một mức độ khác hẳn.
Ông Thọ bắt đầu nói: “Bịa ra cái cớ thương lượng bị gián đoạn, các ông ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam đúng vào hôm tôi vừa về đến nhà, các ông chào đón tôi một cách rất lịch sự. Hành động của các ông, tôi có thể nói là rất trắng trợn, rất thô bạo (flagrant and gross)!”. “Chính các ông chứ không phải ai khác, đã bôi nhọ danh dự nước Mỹ” - ông Thọ nói tiếp.
Ông Thọ nói liền một tiếng đồng hồ không hề bớt gay gắt. Có một lúc, Kissinger đã xin ông hạ giọng bớt để các nhà báo đang tụ tập bên ngoài không nghe được, nhưng ông phớt lờ.
Ông nói: “Hơn mười năm nay, Mỹ đã dùng bạo lực để khuất phục nhân dân Việt Nam, bom napan, B-52. Nhưng các ông đã không rút ra được bài học nào từ những thất bại đó. Thật là “ngu xuẩn, ngu xuẩn, ngu xuẩn” (nguyên văn tiếng Việt vẫn được giữ trong bài viết bằng tiếng Anh - QD).
Khi ông ngừng đập bàn, người phiên dịch của đoàn Việt Nam nhìn xuống sàn nhà, không muốn dịch hai tiếng cuối cùng. Các thành viên trong phái đoàn Mỹ phải dịch thêm mấy từ ông Thọ vừa nhấn mạnh: “Stupid! Stupid! Stupid!”.

Ngoại trưởng Henry Kissinger.
Kissinger đành chịu khuất phục (was subdued). Ông ta thanh minh: “Sở dĩ đã có việc ném bom bằng B-52 là do cách xử sự của phía Hà Nội hồi tháng Chạp, đã làm cho Washington nghĩ rằng phía Bắc Việt Nam không chịu giải quyết”. Ông Thọ nói: “Các ông lấy ném bom làm liều thuốc để cứu chế độ Sài Gòn”, và tiếp tục tố cáo: “Các người đã chi phí hàng tỷ đô la và hàng bao nhiêu tấn bom đạn khi đã có sẵn một văn bản chỉ chờ ký”.
Kissinger cố gắng phản ứng lại cơn giận của ông Thọ: “Tôi nghe thấy nhiều tính từ ông đã dùng trong phát biểu vừa rồi. Đề nghị ông không nên dùng những từ ấy”.
Ông Thọ lạnh lùng trả lời: “Tôi đã dùng những từ ấy một cách hết sức kiềm chế rồi đấy. Dư luận thế giới, báo chí Mỹ và những chính khách Mỹ còn dùng những từ nghiêm khắc hơn nhiều”.
Kissinger không nói gì nữa.
Khi bước vào đàm phán, Kissinger nêu yêu sách của Sài Gòn về việc rút quân Bắc Việt Nam, ông Thọ bác bỏ ngay nhưng Kissinger cũng không nói gì thêm.
Ông Thọ nói bây giờ chỉ còn lại hai cản trở lớn. Đoàn miền Bắc không thừa nhận khu phi quân sự bởi vì Hà Nội luôn cho rằng Việt Nam là một nước. Ông Thọ nói không thể có nhượng bộ về vấn đề này. Phía Mỹ thì muốn chỉ cho phép thường dân qua lại vùng này, nhằm không cho bộ đội và trang bị tiếp tục đi vào Nam. Sau một hồi tranh cãi, Kissinger đồng ý hoãn vấn đề này lại và chấp nhận một cách lấp lửng: “Trong số các vấn đề còn phải tiếp tục thương lượng, có vấn đề về cách thức di chuyển của dân thường qua đường ranh giới quân sự tạm thời”. Hiệp định mới cũng nói đến việc tôn trọng các hiệp định Genève 1962 về Lào và Campuchia.
Một câu trong bản hiệp định nêu yêu cầu rút quân đội nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, đã xóa nhòa khá dễ dàng sự chống đối của chính quyền Thiệu, bởi Kissinger có thể biện minh điều này hàm ý bao trùm cả quân đội Bắc Việt Nam, còn Hà Nội vẫn có thể cứ tiếp tục giữ vững lập luận, bất cứ một người Việt Nam nào trên đất nước Việt Nam đều không thể coi là người nước ngoài.
Ngoài các điều khoản được viết thành văn trong hiệp định, Lê Đức Thọ có đưa ra một cam kết bằng miệng là trong vòng mười lăm ngày, sau đình chiến ở Việt Nam, sẽ có đình chiến ở Lào. Nhưng ông cũng nói thêm là Hà Nội không thể đưa ra một lời cam kết như vậy liên quan đến Khmer Đỏ tại Campuchia.
Lúc bấy giờ, ở Campuchia chính phủ Lon Nol chỉ còn giữ được một phần ít ỏi quanh thủ đô Phnompenh. Kissinger vẫn không tin ông Thọ đã nói thật là Hà Nội không có ảnh hưởng gì đối với Pol Pot - lãnh tụ cộng sản Campuchia. Không lâu sau đó, khi một ủy viên Bộ Chính trị của Bắc Việt Nam lên tiếng đề nghị Pol Pot chấp nhận ngưng bắn như đã được đề ra tại Paris, Pol Pot trả lời rằng chế độ Lon Nol sắp kết thúc rồi, và bác bỏ đề nghị trên.
Khi cuộc họp kết thúc, Kissinger ngượng ngập làm ra dáng vui vẻ và khẩn khoản yêu cầu Lê Đức Thọ: “Chúng ta hãy quên đi mọi chuyện vừa xảy ra. Đề nghị ông khi bước ra khỏi phòng họp, chúng ta cần giữ nụ cười vui vẻ”.
Để đi đến được văn bản cuối cùng cũng phải qua tranh cãi gay go, giống như việc đi đến thống nhất về hình dáng cái bàn họp. Nhưng đến đêm 9 tháng Giêng, Kissinger gọi điện mừng sinh nhật lần thứ sáu mươi của Nixon, đồng thời báo cho ông biết cuộc hội đàm đã có lối ra. Nixon vẫn còn nghi ngờ không biết Kissinger có lạc quan thái quá không nhưng cũng đồng ý là sẽ chưa nói cho ai biết cả - kể cả Rogers, Laird, Haig hay Abrams.
Sang ngày 10 tháng Giêng, đoàn đàm phán gặp phải một khó khăn đột xuất về vấn đề tù binh. Kissinger nêu yêu cầu thả hết tù binh Mỹ sau khi hiệp định được ký, nhưng chỉ cam kết sẽ yêu cầu (Sài Gòn) trao trả phần lớn số tù binh do chính quyền Sài Gòn giam giữ trong vòng 60 ngày.
Ông Thọ nói: “Tôi không thể chấp nhận đề nghị của ông. Tôi hoàn toàn bác bỏ đề nghị đó”. Tất cả tù binh phải đồng thời được trao trả. Đoàn Bắc Việt Nam nêu vấn đề này vì họ nghĩ sẽ có nguy cơ không thể lấy hết số người của phía mình cả đàn ông lẫn đàn bà còn bị giam giữ… Kissinger nói rằng dàn xếp được chuyện này là rất khó. Lê Đức Thọ nổi nóng lên: “Ông chưa bao giờ là một người tù”. Ông Thọ nói với sức mạnh của một người từng sống trong nhà tù Côn Đảo: “Ông không hiểu thế nào là chịu đựng cảnh tù đày. Như thế là không công bằng”.
Kissinger có vẻ lắng nghe một cách thông cảm. Ông ta nói: “Ngài không thỏa mãn. Tôi cũng hoàn toàn không thỏa mãn. Chúng ta phải cố gắng tìm được sự nhất trí chung”.
Cuối cùng, Hà Nội cũng chấp nhận có một nghị định thư buộc Mỹ phải cam kết sẽ dùng “ảnh hưởng tối đa của mình”, để đạt được việc thả hết tù chính trị ở Việt Nam trong vòng 60 ngày, sau khi ký hiệp định và thả hết những người bị bắt giữ trong vòng 90 ngày.
Đến ngày 13 tháng Giêng, Kissinger trở về Washington với bản hiệp định đã sẵn sàng chờ ký, nhưng rất bực mình khi thấy Nhà Trắng đánh giá thấp công lao của ông ta. Nixon lại còn trách cứ Kissinger, không phải không có lý do, về một bài bình luận của nhà báo Scotty Reston vào thời gian Mỹ tiến hành đợt đánh bom dịp lễ Giáng Sinh, bài báo nói Kissinger phản đối các cuộc oanh tạc bằng B-52 và thậm chí có thể xin từ chức để viết một cuốn sách về cuộc hội đàm tại Paris. Một cuốn sách như thế “hẳn sẽ làm cho Nixon vô cùng bối rối”.
Kissinger khăng khăng chối cãi chuyện đã nói với Reston, nhưng khi đem cuốn băng ghi lại các cuộc gọi điện thoại ra thì ông ta đành chịu. Ông ta thừa nhận: “Vâng, tôi có nói chuyện với bình luận viên Reston, nhưng đó chỉ là nói chuyện qua điện thoại thôi”.
… Nửa đêm 13 tháng Giêng, Kissinger đến gặp Nixon tại Nhà Trắng. Ông ta vẫn cho rằng, Tổng thống thật nhẫn tâm, vẫn lảng tránh việc biểu dương công trạng của mình, nhưng lúc này ông ta bỗng cảm thấy cái gì đó như là lòng thương hại đối với Nixon. Ông ta nghĩ, xét cho cùng thì Nixon xứng đáng được hưởng giờ phút vui mừng thắng lợi trước dư luận.
Tiếp đó, Haig bay sang Sài Gòn để thuyết phục Thiệu chấp nhận ký hiệp định. Nixon lúc này đã bực bội lắm rồi, dứt khoát muốn thẳng tay với Thiệu. Nixon nói thẳng với Kissinger: “Có tàn bạo cũng chẳng là gì hết (brutality is nothing). Rồi anh sẽ thấy ra sao nếu tên chó đẻ này (this son of a bitch) không chịu nghe theo, hãy tin lời tôi”.
Nhưng Thiệu vẫn cố tình trì hoãn, mặc dù đến lúc này những đồng minh cứng rắn của ông ta như các thượng nghị sĩ diều hâu John Stennis và Goldwater đều đã công khai tuyên bố rằng cản trở việc ký hiệp định sẽ chỉ làm tổn hại đến quan hệ giữa Thiệu và Washington.
Đến 21 tháng Giêng, Thiệu đành phải chấp nhận.
Ngày hôm sau, Kissinger trở lại Paris thì được tin Lyndon Johnson từ trần. Ông ta nghĩ cái chết của Johnson thật trùng hợp. Cuộc đời của Johnson đúng là phải chấm dứt đồng thời với cuộc chiến tranh đã từng đẩy ông ta ra khỏi chiếc ghế Tổng thống. Có thể Kissinger cũng đã ngẫm nghĩ về một thực tế là những điều khoản ông ta vừa chấp nhận ở Paris cũng chẳng khác gì nhiều những điều mà nước Mỹ có thể đạt được vào cuối nhiệm kỳ Tổng thống của Johnson.
Việc Nixon quyết duy trì chính quyền Thiệu, ít nhất cho đến khi ông ta tái trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ II đã phải trả giá bằng sinh mạng của 20.533 lính Mỹ trong bốn năm từ 1969 đến 1972 và sinh mạng của 107.000 lính Nam Việt Nam trong cùng thời gian. Tổn thất của quân Bắc Việt Nam và Việt Cộng hẳn không phải là nhỏ, còn thương vong của dân thường thì thật khó mà ước đoán được. Con số đó có thể lên đến một triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em.

Ông Lê Đức Thọ. Ảnh TL.
Đến phút cuối cùng của hội nghị, Lê Đức Thọ nhắc lại vấn đề Mỹ cam kết viện trợ kinh tế cho miền Bắc mà Mỹ đã từng hứa, Kissinger bực bội trả lời việc đó còn tùy thuộc vào Quốc hội Mỹ và việc Hà Nội thực hiện hiệp định Paris.
Đến 12 giờ 45 trưa ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Lê Đức Thọ và Kissinger ký tắt vào văn bản cuối cùng. Chiến tranh đã chấm dứt. Nói đúng hơn cuộc chiến tranh của Mỹ đã chấm dứt.

Nhận định của giới sử học phương Tây về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (*)


Nhận định của giới sử học phương Tây về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (*)


24-10-2010
TS. PHAN VĂN HOÀNG (**)
Khi nghiên cứu cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, giới sử học phương Tây đều nhất trí nhận định tầm quan trọng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà họ gọi là “cuộc tiến công Tết” hay – ngắn gọn hơn – “Tết”. Chẳng hạn: Đây là “những trận đánh đẫm máu nhất của chiến tranh” (George C. Herring) (1), đây là “một trong những trận đánh có tính quyết định nhất trong lịch sử nước Mỹ” (Phillip B. Davidson) (2), đây là một trong “những trận đánh có tính quyết định nhất của thế kỷ XX” (Noble Frankland và Christopher Dowling) (3)…
Trong các cuốn sách của họ, họ thường dành một chương để đề cập đến sự kiện lịch sử này. Một vài tác giả viết hẳn một cuốn sách, như The Tet Offensive – Intelligence Failure in War (của James J. Wirtz, xuất bản tại New York năm 1991), After Tet – The Bloodiest Year in Vietnam (của Ronald H. Spector, xuất bản tại New York năm 1993)… và nhất là cuốn sách nổi tiếng của Don Oberdorfer với nhan đề ngắn gọn mà độc đáo: TET! (do nhà xuất bản Doubleday & Company tại New York ấn hành năm 1971, dày ngót 400 trang).
Hầu hết các nhà sử học nhất trí nhận định sự kiện này vừa là thất bại, vừa là thắng lợi của bên này hay bên kia:
“Có lẽ chỉ có trong cuộc tiến công Tết mà bên thua hoàn toàn xét về ý nghĩa chiến thuật lại có một thắng lợi trội hơn hẳn về mặt tâm lý và, vì thế, cả về mặt chính trị nữa” (Bernard Brodie) (4).
“Về mặt quân sự, Tết là một chiến thắng rõ ràng của Mỹ; về mặt tâm lý, đó lại là một sự đảo ngược có tính quyết định” (Michael Maclear) (5).
Tết là “một chiến thắng quân sự của Mỹ, biến thành một thất bại chính trị và tâm lý đối với Mỹ” (Phillip B. Davidson) (6).
“Một số người quan sát phương Tây cho rằng cuộc tiến công Tết là một thất bại [của Việt Cộng]… Một số người khác lại chỉ ra tác động tâm lý của cuộc tiến công đối với dư luận công chúng ở Mỹ và ảnh hưởng to lớn đối với chính sách của Mỹ, xem đó là một chỉ dẫn cho thấy cuộc tiến công là một thành công nổi bật [của Cộng sản]” (William J. Duiker) (7).
“Mặc dù xét về mặt kỹ thuật, cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự đối với Mặt trận dân tộc giải phóng, nhưng về mặt chính trị, nó được xem là một chiến thắng” (Marilyn B. Young, John J. Fitzgerald và A. Tom Grunfeld) (8).
Cộng sản “không hoàn thành các mục tiêu quân sự của họ trong cuộc tiến công Tết… nhưng đồng thời, nhiều nhà quan sát xem cuộc tiến công Tết như là một chiến thắng tâm lý xuất sắc đối với đối phương, một thắng lợi chính trị vẻ vang đối với họ tại nước Mỹ” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War(9).
“Cuộc tiến công Tết là một thảm họa về mặt chiến thuật đối với Cộng sản… Nhưng thảm họa về mặt chiến thuật không có nghĩa là thất bại về mặt chiến lược. Quả thật, Tết là một thắng lợi chiến lược áp đảo của Cộng sản” (James S. Olson và Randy Roberts) (10)

Quốc huy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Tòa đại sứ Mỹ.
1. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN LÀ MỘT THẤT BẠI QUÂN SỰ CỦA CỘNG SẢN
Theo Stanley Karnow, Cộng sản “tấn công vào các thành phố và thị xã với hi vọng rằng một bộ phận của chính quyền đô thị trong chế độ Miền Nam sẽ quay ra chống lại Mỹ. Và mưu toan của họ muốn phá vỡ những cố gắng bình định là nhằm lôi kéo các viên chức ở nông thôn về phía họ.
Họ cũng tin rằng Miền Nam Việt Nam đã chín muồi với cách mạng, và rằng những người lính mỏi mệt của chính phủ [Sài Gòn], những nông dân bị dời chỗ ở, những giáo phái thất vọng, những thanh niên cứng đầu và những phần tử bất hạnh khác trong dân chúng Miền Nam sẽ nổi dậy chống lại chính quyền Sài Gòn và người Mỹ…
Họ hi vọng lật đổ chế độ Sài Gòn và xúc tiến việc thành lập một chính phủ liên hiệp trung lập, do những người đại diện của Việt Cộng chi phối, chính phủ này sẽ đuổi Mỹ đi, đưa Việt Nam lên con đường tái thống nhất dưới sự kiểm soát của Cộng Sản”(11).
Vì vậy, vẫn theo Stanley Karnow, Cộng sản “lần đầu tiên đã chuyển chiến tranh từ môi trường nông thôn đến một đấu trường mới – đó là khu vực thành thị được cho là không thể đánh chiếm được ở Miền Nam Việt Nam”. Đây là “một loại hình chiến tranh rất khác… Họ đã chiến đấu một cách ngoan cường, đôi khi mù quáng, và thường bỏ rơi các chiến thuật linh hoạt của họ để giữ những vị trí không thể giữ được. Tại nhiều nơi, họ nhanh chóng bị đè bẹp bởi sức mạnh quân sự quá mạnh của Mỹ và Nam Việt Nam”(12).
Các nhà sử học phương Tây đều nhất trí nhận định: “Cuộc tổng tiến công thất bại với thương vong to lớn” (Phillip B. Davidson) (13). “Có người ước lượng số thương vong lên tới 40 000” (George C. Herring)(14) hay “45 000 người trong tổng số 84 000 người mà họ sử dụng trong các cuộc tiến công” (Phillip B. Davidson)(15) , tức khoảng 1/2 lực lượng tiến công (William J. Duiker)(16).
Không chỉ bộ đội hi sinh, mà ở thành thị “cán bộ lãnh đạo chính trị xuất đầu lộ diện trong các cuộc tiến công” cũng bị tổn thất (Phillip B. Davidson)(17), trong khi đó ở nông thôn “tổ chức chính trị của Cộng sản Miền Nam bị phá vỡ bởi chương trình Phượng Hoàng của CIA” (Stanley Karnow)(18).
“Họ không hoàn thành bất cứ mục tiêu lớn nào của họ” (James S. Olson và Randy Roberts)(19).
Một mặt, “họ không thể thiết lập những vị trí vững chắc trong vùng đô thị” (George C. Herring)(20), “cuối cùng bị đẩy ra khỏi các thành thị lớn” (Chester L. Cooper)(21), “chính phủ [Thiệu] nắm lại quyền kiểm soát đại đa số các thành phố và thị xã (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War)(22). Ở nông thôn cũng vậy, “trong vòng một năm, quân đội Việt Nam cộng hòa đã chiếm lại phần lớn những khu vực bị mất vào tay lực lượng nổi dậy và lại tiếp tục các cuộc hành quân bình định” (William J. Duiker)(23).
Mặt khác, “không chỉ cuộc tổng tiến công… gặp thất bại, mà cuộc tổng khởi nghĩa cũng không hề xảy ra” (Phillip B. Davidson)(24). “Người dân Miền Nam không chịu theo Việt Cộng, ngay tại những thành thị mà Việt Cộng tạm thời cai trị” (Phillip B. Davidson)(25). “Họ không nổi dậy [chống Mỹ – Thiệu] và không đón tiếp Việt Cộng như những người đến giải phóng họ” (James S. Olson và Randy Roberts)(26). Ngược lại, theo Phillip B. Davidson, “họ ủng hộ chính phủ Nam Việt Nam”(27).
“Quân đội Việt Nam cộng hòa không đầu hàng hay đào ngũ” (Phillip B. Davidson)(28), “chính phủ Nam Việt Nam không sụp đổ” (James S. Olson và Randy Roberts)(29).
“Các đơn vị quân sự Việt Cộng gồm phần lớn người dân bản xứ Miền Nam đã chịu gánh nặng chính của cuộc chiến đấu và bị thương vong nặng nề nhất” (Stanley Karnow)(30).
Do đó, “sau cuộc tiến công Tết, quân chính qui Miền Bắc Việt Nam đảm nhận một nhiệm vụ lớn hơn nhiều trong chiến đấu” (James S. Olson và Randy Roberts)(31). Vì vậy, “trong những năm sau đó, quân chính qui Miền Bắc Việt Nam ngày càng đông hơn ở nông thôn Miền Nam” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War)(32).
Là một sĩ quan quân báo cao cấp của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, Phillip B. Davidson lập luận: Thay vì phân tán lực lượng để tiến công hàng chục thành thị khắp Miền Nam, Cộng sản sẽ có nhiều cơ may chiến thắng nếu tập trung quân số khoảng 4 hay 5 sư đoàn để mở các cuộc tiến công chủ yếu vào hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, đồng thời mở các cuộc tiến công thứ yếu vào Tây Nguyên, các tỉnh ven biển Trung Bộ và vùng xung quanh Sài Gòn để kìm chân quân Đồng minh.
Theo Phillip B. Davidson, Quảng Trị và Thừa Thiên gần vĩ tuyến 17 nên công việc hậu cần và yểm trợ từ Miền Bắc và từ vùng giải phóng Lào sẽ dễ dàng hơn. Khi cần rút lui, quân Cộng sản cũng nhanh chóng rút về Miền Bắc hay sang Lào. Khe Sanh có nhiều đặc điểm giống Điện Biên Phủ. Nếu ngay từ đầu, Cộng sản dùng một lực lượng lớn tiến công thì có thể tràn ngập Khe Sanh một cách dễ dàng. Sau khi mở cuộc tiến công Tết, việc chiếm Khe Sanh trở nên khó khăn hơn.
Vẫn theo Phillip B. Davidson, Cộng sản không chọn cách đánh này, vì tuy có nhiều lợi điểm, nhưng chỉ có tiến công quân sự mà không có khởi nghĩa của quần chúng (33).

Johnson và McNamara lo lắng đối phó cuộc tổng tiến công.
2. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN LÀ MỘT THẮNG LỢI TÂM LÍ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CỘNG SẢN
Mãi cho đến cuối năm 1967 – đầu năm 1968, các viên chức Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Washington đều đưa ra những lời tuyên bố lạc quan về tình hình Miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu là tuyên bố của phó tổng thống Hubert H. Humphrey: “Chúng ta đang bắt đầu chiến thắng trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta đang ở thế chủ động. Chúng ta đang giành được đất đai. Chúng ta đang tiến bộ vững chắc” (34).
Do đó, khi xảy ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nhất là khi các chiến sĩ biệt động Sài Gòn tiến công Tòa đại sứ Mỹ, phía Mỹ vô cùng bàng hoàng.
Tướng David Richard Palmer cho biết: “Một sách giáo khoa về lịch sử quân sự in năm 1969 và được các học viên Học viện quân sự West Point [Mỹ] sử dụng trong việc nghiên cứu chiến tranh Việt Nam, viết: Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công… là tình báo của Đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Bắc Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn” (35).
Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB) nhận định: “Mặc dù đã được cảnh báo, nhưng [Mỹ] đã không lường trước được một cách đầy đủ tính cách mãnh liệt, sự phối hợp và thời điểm của cuộc tiến công của đối phương. Đại sứ Bunker và tướng Westmoreland thừa nhận điều đó”.
Theo PFIAB, “yếu tố quan trọng nhất là thời điểm: có ít viên chức Mỹ và Việt Nam [cộng hòa] tin rằng đối phương sẽ tiến công trong dịp Tết… Yếu tố bất ngờ lớn thứ hai là số lượng các cuộc tiến công được mở ra cùng một lúc… Quan trọng hơn là không đoán được tính chất của các mục tiêu [bị tiến công]” (36).
Người Mỹ đầu tiên bị bất ngờ là Ellsworth Bunker, vì chính tòa đại sứ của ông ta bị tiến công rất sớm. Ông tâm sự: “Những báo cáo của tướng Westmoreland gửi cho tôi đều viết: về mặt quân sự, Mỹ đang kiểm soát tình hình”. Vì vậy, khi các cuộc tiến công nổ ra, ông cảm thấy “kinh ngạc vì có nhiều người xâm nhập vào thành phố như vậy, kinh ngạc vì họ lọt được vào bên trong khuôn viên Tòa đại sứ” (37).
Khi tin tức bay về Washington, “cuộc tiến công Tết khiến Johnson sửng sốt. Cả tin vào phần lớn các báo cáo cho rằng Cộng sản đã bị làm suy yếu, ông ta không bao giờ tưởng tượng rằng họ lại có thể đột kích vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn hay tiến công các thành thị ở Miền Nam” (38).
Báo chí – bao gồm báo viết, báo nói và nhất là báo hình – đã đưa chiến tranh Việt Nam đến tận nhà người dân Mỹ. George C. Herring nhận định: “Trong chừng mức Bắc Việt Nam có ý định tiến công Tết để gây ảnh hưởng đối với nước Mỹ thì họ đã thành công, vì cuộc tiến công đã tạo ra những làn sóng chấn động ngay lập tức trong toàn nước Mỹ. Những bài tường thuật trên truyền hình về các trận đánh đẫm máu ở Sài Gòn và Huế chế giễu các báo cáo đầy lạc quan của Johnson và Westmoreland hồi cuối năm [1967], làm tăng thêm sự thiếu niềm tin, và những nhà báo công khai nhạo báng điều mà Westmoreland tự cho là chiến thắng” (39).
Các tác giả cuốn The Lessons of Vietnam War cũng xác nhận “Tác động lớn nhất của Tết… được cảm nhận ở nước Mỹ. Tin tức về các trận đánh trên đài truyền hình đã vẽ nên một bức tranh khác xa những báo cáo tô màu hồng của các người phát ngôn của chính phủ.
Đa số người Mỹ không bao giờ nghĩ rằng những người Cộng sản ở Nam Việt Nam lại đủ mạnh và cả gan tiến công các thành thị hay đột kích Tòa đại sứ Mỹ” (40). “Tính chất dũng cảm táo bạo của cuộc tiến công Tết đã phủ nhận hình ảnh một đối phương kiệt sức và sắp bị đánh bại”(41) như chính quyền Johnson rêu rao, do đó “sau Tết, niềm tin của công chúng [Mỹ] đối với sự lãnh đạo của tổng thống Johnson bị xói mòn nghiêm trọng”(42).
Cho đến cuối năm 1967, lực lượng quân sự Đồng minh có 1 343 800 quân (gồm 485 600 quân Mỹ, 798 800 quân Nguyễn Văn Thiệu, 47 830 quân Hàn Quốc, 6 820 quân Australia, 2 200 quân Thái Lan, 2 020 quân Philippines và 530 quân New Zealand)(43), tất cả đều được trang bị với vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Mỹ vẫn thường tuyên bố: cả chiến lược “tìm và diệt” lẫn chương trình bình định của họ đã và đang thành công.
Chester L. Cooper viết: Với cuộc tiến công Tết, “một điều hiện ra rõ ràng: bất chấp những chương trình bình định đầy tham vọng và những luận điệu lạc quan về sự tiến bộ, Cộng sản dường như vẫn kiểm soát được nông thôn Việt Nam nên có thể đi lại tùy theo ý muốn của họ. Rõ ràng là các nỗ lực [của Mỹ] trong 2 hay 3 năm qua nhằm củng cố vùng thôn quê chống lại Cộng sản tiến công hay xâm nhập trở thành vô ích”(44).
Nhận định của Chester L. Cooper tương tự với ý kiến của Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB): “Tại sao 84 000 bộ đội Việt cộng và Bắc Việt Nam di chuyển ngang qua vùng nông thôn để áp sát các thành thị mà nông dân [Nam] Việt Nam không báo cho chính quyền Sài Gòn hay quân Đồng minh hay biết? Thế thì chương trình bình định nông thôn đã tranh thủ được con tim và khối óc của người dân đến đâu? Ở nông thôn, Việt Nam cộng hòa hay Việt Cộng kiểm soát nhiều đất đai hơn, tranh thủ được nhiều người dân hơn?”(45).
Chester L. Cooper viết tiếp: “Ngay cả đô thị, nơi mà cho đến nay vẫn được xem là nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền [Thiệu], vẫn có thể bị tấn công như thường”(46).
Báo chí Mỹ lúc đó phản ánh suy nghĩ của đa số người Mỹ về cuộc chiến tranh mà chính phủ của họ đang tiến hành ở Việt Nam:
“Nhân dân Mỹ sẽ phải sẵn sàng để thừa nhận viễn cảnh theo đó toàn bộ nỗ lực [của Mỹ] ở Việt Nam có thể sẽ thất bại” (Báo Wall Street Journal)(47).
“Chiến tranh [của Mỹ] ở Việt Nam là không thể thắng được. Chiến tranh ấy càng kéo dài thì người Mỹ càng chịu tổn thất và nhục nhã” (nhà báo Joseph Kraft)(48).
“Một chiến lược tiếp tục làm như cũ là điều không thể tha thứ được” (Tuần báo Newsweek)(49).
Các tác giả The Lessons of Vietnam War nhận định: “Tết đã làm thay đổi ý kiến của công chúng dứt khoát chống lại chiến tranh… Số người ủng hộ chiến tranh giảm mạnh từ 62% xuống còn 41%. Lần đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh, số người chủ hòa chiếm đa số, hầu như tăng gấp đôi chỉ trong vòng 1 tháng (từ 23% lên 43%)”(50).
Nhiều người trước kia là “diều hâu”, nay biến thành “bồ câu”. Dean Rusk, bộ trưởng ngoại giao Mỹ trong hai chính phủ Kennedy và Johnson, nhìn nhận: “Sau cuộc tiến công Tết, có một điều rất rõ ràng là nhiều người dân bình thường [ở Mỹ] cuối cùng đi tới kết luận rằng: nếu chúng ta [tức chính phủ Mỹ] không thể nói cho họ biết lúc nào cuộc chiến tranh này kết thúc thì chúng ta nên vứt nó đi”(51).

Johnson với bản tuyên bố ngày 30/3/1968.
Tại hội nghị chọn ứng cử viên của Đảng Dân chủ ra tranh cử chức tổng thống (tổ chức tại New Hampshire tháng 3-1968), thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, một người chưa có tiếng tăm bao nhiêu, đã giành được 300 phiếu nhờ chủ trương đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam.
“Ngày càng có nhiều người [Mỹ] tin rằng gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm… Nhiều người [Mỹ] yêu cầu chính quyền Johnson rút khỏi Việt Nam”(52). Nhà báo nổi tiếng của hãng CBS, Walter Cronkite, đề nghị: “Cách hợp lí duy nhất để thoát ra [khỏi chiến tranh Việt Nam] là thương thuyết, không phải với tư cách những người chiến thắng, mà như những người chính trực làm điều tốt nhất họ có thể làm”(53).
Tổng thống Johnson lâm vào cảnh bối rối khi phải đối phó cùng một lúc với diễn tiến quân sự ở Việt Nam và với tình hình chính trị ngay tại nước Mỹ trong năm bầu cử tổng thống.
Đầu tháng 2-1968, tướng Westmoreland đề nghị ông gửi thêm 206 000 quân sang Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Earl D. Wheeler, ủng hộ đề nghị này. Bản thân Johnson cũng thấy “bác bỏ yêu cầu này có thể là nguy cơ dẫn tới thất bại trên chiến trường”(54). Nhưng muốn đáp ứng nó, Johnson phải chấp nhận gọi quân dự bị nhập ngũ, tăng thêm thuế, cắt giảm nhiều chương trình phúc lợi xã hội cho người dân Mỹ…, nghĩa là chấp nhận sự thất cử của Đảng Dân chủ.
Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Johnson quyết định bác bỏ yêu cầu tăng quân của Westmoreland. Theo Chester L. Cooper, “đây là lần đầu tiên tổng thống dường như không còn tin rằng, về mặt quân sự, Mỹ đang đi đúng đường”(55). Ngày 31/3/1968, Johnson chính thức đề nghị với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành ngay cuộc đàm phán để thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Đáp ứng điều kiện tiên quyết do đối phương đặt ra, Johnson chấp nhận ngưng ném bom Miền Bắc trong hai bước: một phần (31/3/1968) và hoàn toàn (31/10/1968).
Các quyết định này mở đầu cho sự cáo chung của chiến lược “hai gọng kìm” (tìm – diệt và bình định) của chiến tranh cục bộ ở Nam Việt Nam. Đây là chiến thắng quan trọng nhất của cuộc tiến công Tết như William J. Duiker viết: “Tết dẫn tới một sự thay đổi quan trọng trong chiến lược chiến tranh của Mỹ”(56). Ngoài sự “phá sản hiển nhiên” của chiến lược cũ và đi tìm chiến lược mới, Phillip B. Davidson còn nói tới sự kết thúc của chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ở Miền Bắc và “sự gần như diệt vong của chương trình bình định”(57) như là những kết quả khác của cuộc tiến công Tết.
Đi đôi với sự thay đổi chiến lược là sự thay đổi nhân sự ở cấp cao. Tổng thống Johnson ký giấy cho bộ trưởng quốc phòng McNamara rời Lầu Năm Góc, cho tổng chỉ huy MACV Westmoreland rời “Lầu Năm Góc phương Đông” và sau đó tuyên bố rời Nhà Trắng khi mãn nhiệm kỳ tổng thống chứ không tìm kiếm sự tái tranh cử.
Trong những ngày đầu xuân cách nay tròn 40 năm, bằng xương máu của chính mình, quân và dân Việt Nam đã viết nên một trang sử vẻ vang mà ngay cả giới sử học phương Tây cũng phải thừa nhận là “một bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam”(58), “có tác động to lớn đối với nước Mỹ và dẫn tới một thời kỳ mới trong cuộc chiến tranh tưởng chừng như vô tận này”(59).
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12/2007

(*)
Tham luận tại Hội thảo khoa học “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968”do Bộ Quốc phòng tổ chức ở thành phố Huế, 10-11/1/2008
(**)
Cựu chiến binh, Giảng viên Đại học, Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Tham luận được in trong sách Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, NXB Quân đội Nhân Dân, Hà Nội, 2008, từ trang 977 đến trang 989.
(1)
George C. Herring, America’s Longest War – The United States and Vietnam 1950 – 1975, NXB McGraw – Hill, New York, 1979, tr. 206.
(2)
Phillip B. Davidson, Vietnam at War – The History 1946 – 1975, Oxford University Press xuất bản, New York, 1988, tr. 473.
(3)
Noble Frankland và Christopher Dowling (chủ biên), Decisive Battles of the Twentieth Century, London, 1976.
(4)
Bernard Brodie, “The Tet Offensive”, trong Frankland và Christopher Dowling (chủ biên), sđd, tr. 321.
(5)
Michael Maclear, Vietnam: The Ten Thousand Day War, NXB Thames Methuen, London, 1984, tr. 274.
(6)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 473.
(7)
William J. Duiker, Vietnam – Nation in Revolution, NXB Westview Press, Colorado, 1983, tr. 63, 64.
(8)
Marilyn B. Young, John J. Fitzgerald và A. Tom Grunfeld, The Vietnam War – A History in Documents, Oxford University Press xuất bản, New York, 2002, tr. 86.
(9)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, Center for Social Studies Education xuất bản, Pennsylvania, 1988, tr. 19.
(10)
James S. Olson và Randy Roberts, Where the Domino Fell – America and Vietnam, 1945 to 1995, NXB Brandywine Press, New York, 1999, tr. 187.
(11)
Stanley Karnow, Vietnam, A History – The First Complete Account of Vietnam at War, NXB Penguin Books, New York, 1983, tr. 537.
(12)
Stanley Karnow, sđd, tr. 523, 525.
(13)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(14)
George C. Herring, sđd, tr. 208.
(15)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(16)
William J. Duiker, sđd, tr. 64.
(17)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(18)
Stanley Karnow, sđd, tr. 534.
(19)
James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187.
(20)
George C. Herring, sđd, tr. 208.
(21)
Chester L. Cooper, The Lost Crusade – America in Vietnam, NXB Dodd, Mead & Company, New York, 1970, tr. 388.
(22)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22.
(23)
William J. Duiker, sđd, tr. 64.
(24)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(25)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(26)
James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187.
(27)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(28)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475.
(29)
James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187.
(30)
Stanley Karnow, sđd, tr. 534.
(31)
James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187.
(32)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22.
(33)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 481.
(34)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 21.
(35)
David Richard Palmer, Summons of the Trumpet, NXB Presido Press, California, 1978, tr. 179.
(36)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 479.
(37)
Michael Maclear, sđd, tr. 276.
(38)
Stanley Karnow, sđd, tr. 547.
(39)
George C. Herring, sđd, tr. 209.
(40)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22.
(41)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 20.
(42)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22.
(43)
Shelby L. Stanton, Vietnam Order of Battle, NXB Galahad, New York, 1987, tr. 333.
(44)
Chester L. Cooper, sđd, tr. 388.
(45)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 481.
(46)
Chester L. Cooper, sđd, tr. 388.
(47)
James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187.
(48)
George C. Herring, sđd, tr. 218.
(49)
George C. Herring, sđd, tr. 218.
(50)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 5.
(51)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 19.
(52)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22.
(53)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 19.
(54)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 23.
(55)
Chester L. Cooper, sđd, tr. 390.
(56)
William J. Duiker, sđd, tr. 64.
(57)
Phillip B. Davidson, sđd, tr. 473.
(58)
Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 18.
(59)
George C. Herring, sđd, tr. 204.