Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VÀ SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐÚNG ĐẮN CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA HỒ CHÍ MINH

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VÀ SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG ĐÚNG ĐẮN CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA HỒ CHÍ MINH
Th.S. Nguyễn Anh Minh
                                            PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Trong lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới, có những thời điểm xuất hiện của những con người làm nên lịch sử và có những quyết định lựa chọn của những con người mang lại sự thay đổi cho cả một dân tộc, Một trong những con người như vậy là Hồ Chí Minh, Người đã lựa chọn cho cách mạng Việt Nam một con đường đi đúng đắn, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam đó là con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo con đường Cách Mạng Tháng Mười Nga.
Vào đầu thế kỷ XX sự tác động của nhiều trào lưu tư tưởng nước ngoài, trong đó có trào lưu của các cuộc cách mạng tư sản phương tây, đặc biệt là cách mạng tư sản Pháp (1789) đã ảnh hưởng và thu hút sự chú ý của nhiều nhà yêu nước Việt Nam. Tuy vậy, việc lựa chon con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam vẫn là một câu hỏi lớn chưa tìm được câu trả lời cho các nhà yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ. Sinh ra và lớn lên khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, Nguyễn Tất Thành với tấm lòng yêu nước thương dân lại đang ấp ủ ý chí và hoài bảo lớn, không khỏi băn khoăn khi thấy nhiều cuộc nổi dậy của dân ta không thành công và câu hỏi “ làm thế nào để cứu nước ” sớm hình thành lớn dần trong tâm trí Anh. Những ngày được Cha xin cho học lớp dự bị ở Trường tiểu học Pháp bản xứ ở thành phố Vinh, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu: Tự do, bình đẳng, bác ái. Từ đó Anh muốn tìm hiểu nền văn minh Pháp và những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Điều đó, hơn mười năm sau khi trả lời phỏng vấn một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng và bác ái. …và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu xem những gì ẩn giấu những từ ấy” (1). Thời gian học tại trường Quốc học Huế Nguyễn Tất Thành đượcgiao lưu với những luồng tư tưởng yêu nước, tiếp xúc với nhiều sách báo Pháp, các thầy giáo của trường có những người yêu nước. Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà Anh được tiếp xúc, Nguyễn Tất Thành mang một bản lĩnh mới, một tầm nhìn sâu sắc về xã hội, con người,ý muốn sang phương tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi những thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn dần cổ vũ cho ý chí ra đi tìm đường cứu nước. Những tháng ngày làm thầy giáo ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, ngoài giờ lên lớp, Anh thường tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng khai sáng Pháp như: Rútxô, Vônte, Môngtétxkiơ. Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc ý chí và nghị lực anh phải đi ra nước ngoài. Một lần trả lời nhà văn Mỹ, Người nói: “ Nhân dân Việt Nam trong đó ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp, Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(2).
Nhìn lại các phong trào yêu nước như Phong trào Cần Vương; Phong trào Đông Du; Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi nghĩa Yên Thế; cuộc vận động cải cách của cụ Phan Châu Trinh… Anh rất khâm phục và coi trọng các các bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không đi theo con đường đó. Thực tiễn thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiều câu hỏi và tác động đến lựa chọn của Nguyễn Tất Thành, để rồi anh có một quyết định là xuất dương tìm đường cứu nước cho dân tộc.
 Sau nhiều năm suy ngẫm, trăn trở , ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành với cái tên Văn Ba, rời bến cảng Nhà Rồng trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin bắt đầu cuộc hành trình mang theo hành trang là tấm lòng yêu nước nồng nàn và ý chí quyết tâm tìm con đường đi đúng đắn cứu dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách xâm lược. Nguyễn Tất Thành đã đi đến nhiều nơi trên khắp các Châu lục: châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ, Người trải qua những tháng ngày lao động gian khổ với nhiều nghề vất vả, khó khăn hoà mình cùng với cuộc sống của những người lao động để xem xét và khảo nghiệm nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống nhân dân các nước trên thế giới mà Người đã có dịp đặt chân đến.
Những ngày đầu tiên đặt chân lên nước Pháp (7/1911) tại thành phố cảng Mác- xây tiếp xúc với cuộc sống văn minh, Nguyễn Tất Thành đã trăn trở đi tìm những giá trị thực tiễn của cái khẩu hiệu mà giai cấp tư sản thường rêu rao: “Tự do, bình đẳng, bác ái”. Anh không khỏi ngạc nhiên khi nước Pháp nổi tiếng là văn minh mà ngập tràn các tệ nạn xã hội: gái điếm, ăn xin, các khu nhà ổ chuột bẩn thỉu tối tăm và hôi hám ở một thành phố cảng lớn nhất nước Pháp. Anh đã nhân thấy, ở Pháp cũng có những người dân nghèo khổ và đáng thương như ở Việt Nam. Từ đó Nguyễn Tất Thành thay đổi cách nhìn về nước pháp và người Pháp và hoài nghi về cái goi là: “tự do, bình đẳng, bác ái” mà giai cấp tư sản Pháp tự vẽ ra để che đậy bản chất Thực dân của mình. Ở lại nước Pháp một thời gian ngắn, Nguyễn Tất Thành tiếp tục cuộc hành trình vòng quanh châu Phi, đó là quãng thời gian mà anh đã chứng kiến sự bất công, bóc lột, tra tấn dã man của của bon Thực dân đối với những người dân thuộc địa da đen. Từ thực tiễn trải nghiệm đã giúp Nguyễn Tất Thành rút ra nhân thức quan trọng: “Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người : giống người bóc lột và giống người bị bót lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(3).Đây là nhận thức ban đầu có ý nghĩa quan trọng trong thế giới quan, nhân sinh quan của Người, đặt nền móng cho tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản trên hành trình tìm đường cứu nước.
Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành đặt chân đến nước Mỹ. Anh lao động để kiếm sống và tìm hiểu cuộc sống của người dân nơi đây, nhất là những ngày ở khu Háclem đã để lại trong anh nhiều ấn tượng về cuộc sông nghèo khổ của người Mỹ da đen bên cạnh những khu phố sang trọng và những toà nhà cao chọc trời. Những ngày trên đất Mỹ, Nguyễn Tất Thành đã có dịp tìm hiểu về cuộc cách mạng tư sản Mỹ và biết đến bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử . Tuy nhiên, càng tìm hiểu cụ thể hơn thì Nguyễn Tất Thành lại càng nhận thấy trong thực tế sự bất bình đẳng, nạn phân biệt chủng tộc và đời sống đói nghèo, đau khổ của hàng triệu người lao động và phụ nữ, đặc biệt là người da đen. Khi đến thăm Nữ thần tự do ở thành phố NewYork, Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy sự cách biệt giữa thực tiễn và những điều mà giai cấp tư sản thường ca ngợi về quyền con người ở Mỹ:“Anh sáng trên đầu thần tự do toả rộng khắp trời xanh, còn dưới chân thần tự do thì người da đen đang bị chà đạp, số phận người phụ nữ bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”(4).
Năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời nước Mỹ để đến nước Anh, một đất nước có nhiều thuộc địa nhất thế giới và được mệnh danh là: “mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh”. Mặc dù không có những cuộc chiến tranh xung đột, nhưng nước Anh cũng tiềm ẩn những mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, đặc biệt là cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa Anh ở khắp các Châu lục. Những ngày trên đất nước Anh, Nguyễn Tất Thành cũng trải qua những tháng ngày lao động với nhiều nghề vất vả hoà mình cùng với cuộc sống của những người lao động và tìm hiểu bản chất thực sự của xã hội tư bản. Từ thực tiễn sinh động trên đất nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã hoàn toàn cảm nhận được sự bất ổn trong xã hội tư bản Anh lúc bấy giờ. Không những vậy, Người còn tích luỹ được thêm nhiều hiểu biết về chế độ chính trị của xã hội tư bản, về đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc và thuộc địa.
Trong những năm đầu hành trình tìm đường cứu nước cho dân tộc, Nguyễn Tất Thành đã đặt chân đến các nước tư bản đế quốc, Người đã dành nhiêu thời gian, tâm sức dể nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình kinh tế- xã hội ba nước tư bản là Pháp, Mỹ, Anh, Người đã nhận thấy rõ sự trái ngược giữa thực tiễn đời sống khổ cực của nhân dân lao động với lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái được nêu trong các cuộc cách mạng tư sản. Từ đó, Người đã rút ra những nhận xét sát thực hơn, sâu sắc hơn về tính chất không triệt để của các cuộc cách mạng tư sản, Người cho rằng: “ Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai. ấy là vì cách mệnh Mỹ là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh”(5) Còn :“Cách mệnh Pháp cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy” (6).
 Có thể nói rằng, lá cờ dân chủ tư sản của các nước phương Tây đầu thế kỷ XX với sự hấp dẫn của khẩu hiệu: “tự do, bình đẳng, bác ái” đã góp phần thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Những cũng chính quá trình hoạt động thực tiễn ở các nước tư bản đã giúp Người nhìn nhận ra những mặt trái của xã hôi tư bản và bản chất của những lời lẽ hoa mỹ mà giai cấp tư sản thường ra sức tô vẻ lừa bịp nhân dân lao động với thực tế phũ phàng của xã hội phương Tây lúc đó.Vì nền độc lập dân tộc giành được từ các cuộc cách mạng tư sản chỉ mở đường cho sự phát triển và lợi ích của giai cấp tư sản, chứ không giải phóng con người và xã hội loài người ra khỏi sự áp bức bóc lột. Do đó chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản và cách mạng tư sản chỉ thực hiện dân tộc một cách có giới hạn. Độc lập dân tộc của chủ nghĩa tư bản không những không thủ tiêu áp bức bót lột mà con duy trì và phát triển ở trình độ cao hơn, tinh vi hơn.Mặc dù không tán thành với Cách mạng tư sản Pháp và Cách mạng tư sản Mỹ Nguyễn Tất Thành vẫn chưa tìm ra con đường đi đúng đắn cho dân tộc mình.
Cuối năm 1917 Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp giữa những ngày ác liệt của chiến tranh thế giói lần thứ nhất để tiếp tục tìm con đường cứu nước cho dân tộc, Anh đã lao vào cuộc đấu tranh của công nhân Pháp. Giữa những ngày đang hoạt động sôi nổi thì một sự kiện quan trọng trong lịch sử nhân loại đã nổ ra: Cách mạng Tháng Mười Nga thành công làm chấn động địa cầu. Như tiếng sấm mùa xuân, cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vừng dậy đấu tranh cách mạng. Cách mạng tháng mười là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do đảng của Lênin lãnh đạo, nhằm mục đích là đánh đổ tư bản chủ nghĩa, giải phóng nhân dân lao động. Cách mạng Tháng Mười thực hiện quyền tự quyết của dân tộc. Chính quyền được thành lập từ các quốc gia dân tộc trước kia bị Nga Hoàng sáp nhập, nay đã có thể tự quyết định lấy vận mệnh của mình. Chính quyền Xô Viết tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của giai cấpcông nhân ở các nước tư bản và ủng hộ phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa:“Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là thành công đến nới, nghĩa là dân chúng được hưởng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật.. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(7). Từ thành công của cách mạng Tháng Mười Nga đã có một ảnh hướng quyết định trong đời hoạt động hoạt động cách mạng của Người. Phấn khởi và tin tưởng, Người quyết tâm lựa chon đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga.
Sau Cách mang Tháng Mười, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1919 quốc tế thứ ba được thành lập, đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với đường lối cơ hội hưu khuynh và chủ nghĩa sô - vanh của quốc tế thứ hai. Tiếp đó tháng 7 năm 1920 Người đã đọc được sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Luận cương đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nưóc thuộc địa và phụ thuộc, đã giải đáp cho Người con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào mà người đã trải qua bao nhiêu gian truân để tìm kiếm. Luận cương Lênin đã đến với Người như một luồng ánh sáng mới đầy hy vọng và tin tưởng, Người nhớ lại:“Luận cương của Lênin là cho tôi rât cảm động phấn khởi, sáng tỏ và tin tưởng biêt bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:“Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! đây là cái cần thiết của chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(8). Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, đứng hẳn về Quốc tế thứ ba. Tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua (12-1920). Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba và trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Nó đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người. Từ đó, Người đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, người tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho nhân dân Việt Nam, con đường kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, kết hợp tinh thần yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
 Như vậy, có thể nói rằng từ chủ nghĩa yêu nước chân chính và khát vọng giải phóng dân tộc thoát khỏi ách xâm lược của thực dân, Hồ Chí Minh đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.Trải qua hành trình bôn ba khắp các châu lục vừa tìm hiểu vừa khảo nghiệm từ thực tiễn của các cuộc cách mạng tư sản phương tây, đặc biệt là sự tìm hiều về tình hình kinh tế- xã hội ba nước tư bản là Pháp, Mỹ, Anh. Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự bất ổn trong lòng xã hội tư bản và tính chất không triệt để của các cuọc cách mạng tư sản. Giữa lúc đang trăn trở để tìm một con đường đi mới, thì cách mạng Tháng Mười Nga thành công và sau đó Luận cương của Lênin về dân tộc và vấn đề thuộc địa đến với Người. Từ những trải nghiệm thực tiễn và nhạy cảm chính trị cùng với những nhận định và cách nhìn biện chứng trên cơ sở phân tích đánh giá khoa học, Hồ Chí Minh đã quyết định lựa chọn đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lê nin, con đường cách mạng vô sản. Đây là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người, mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, đưa đất nước phát triển theo con đường XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ , công bằng, văn minh./.
 
Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t1, tr.477.
(2) Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t1, tr.266.
(4 )Mai Văn Bộ: Con đường vạn dặm của HCM, Nxb. Trẻ, H.1999, tr62.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t2, tr.270.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t2, tr.274.
 (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t2, tr.280.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t10, tr.127.

Bác Hồ với Cách mạng Tháng Mười Nga

Bác Hồ với Cách mạng Tháng Mười Nga
TS Phạm Văn Khánh - báo Nam Định
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết đấu tranh để giải phóng mình khỏi chủ nghĩa tư bản, thực dân, tự mình làm chủ vận mệnh của mình để xây dựng xã hội mới tốt đẹp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười soi sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người đứng lên đấu tranh chống lại áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc… Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tình cảm đặc biệt với Cách mạng Tháng Mười và V.I.Lênin lãnh tụ thiên tài của Cách mạng Tháng Mười và nhân dân lao động toàn thế giới. Từ lòng kính trọng và biết ơn vô cùng sâu nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm hiểu những kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Tháng Mười và cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Lênin, học tập, nghiên cứu học thuyết của Lênin để vận dụng vào cách mạng Việt Nam, đưa nhân dân ta vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và tiến vào thời đại mới.
Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trung tâm thủ đô Mátxcơva (Liên bang Nga). Ảnh: Internet
Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trung tâm thủ đô Mátxcơva (Liên bang Nga). Ảnh: Internet
Nhớ lại những năm 20 của thế kỷ XX, trên hành trình tìm đường cứu nước lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được tiếp xúc với học thuyết của Lênin về vấn đề giải phóng thuộc địa và Người nhận ra rằng, đây là cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam… Ngay từ đấy Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và viết nhiều tác phẩm về Lênin và cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga. Người ca ngợi thiên tài và tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của Lênin. Tin tưởng và đi theo con đường cách mạng do Lênin lãnh đạo, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và ủng hộ Quốc tế Ba do Lênin thành lập. Đồng thời lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.
Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lênin là một cuộc gặp lịch sử. Với quyết tâm tìm con đường cứu nước, sau bao năm bôn ba khắp các châu lục, vừa lao động kiếm sống, vừa hoạt động trong phong trào các dân tộc bị áp bức, phong trào công nhân, tháng 7 năm 1920, trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc được đọc tác phẩm: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité) của Đảng Xã hội Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình mà Người đã nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vui mừng như vậy đã tìm thấy con đường cứu nước, cứu dân, con đường giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ, áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp và chế độ phong kiến - đó là con đường cách mạng vô sản. Tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Hướng về Lênin - lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ cuối năm 1923, đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Liên Xô. Ngay sau khi Lênin từ trần, Hồ Chí Minh đã viết bài: Lênin và các dân tộc thuộc địa đăng trên báo Sự thật, số ra ngày 27-1-1924, với những dòng vô cùng xúc động: Khi còn sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Trong những năm tháng học tập, hoạt động, nghiên cứu trên đất nước Xô viết, Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm xuất sắc về Lênin và cuộc Cách mạng Tháng Mười. Đặc biệt vào năm 1927, Hồ Chí Minh đã cho xuất bản cuốn sách Đường cách mệnh làm tài liệu huấn luyện cán bộ để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng. Trong tác phẩm quan trọng này, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng có vững cách mạng mới thành công. Ngày nay học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng cách mạng nhất, chân chính nhất là chủ nghĩa Lênin…; trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công và đã thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới. Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc. Phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo Chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin…
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước nhà độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều tác phẩm về Cách mạng Tháng Mười và Lênin đã giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân ta luôn ghi nhớ công ơn và học tập, vận dụng học thuyết cách mạng của Mác, Ăng-ghen, Lênin, học tập kinh nghiệm của nhân dân các dân tộc Xô-viết trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vấn đề cốt tử nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục Đảng và toàn dân ta là chăm lo xây dựng Đảng thật sự là một đảng Mác - Lênin chân chính. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của nhân dân, mà Lênin là tấm gương tiêu biểu để Đảng xứng đáng là “trí tuệ, lương tâm, danh dự” của dân tộc và thời đại, được nhân dân tin yêu…
Từ khi Đảng ta thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dẫn dắt nhân dân ta vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do, kháng chiến chống các cuộc chiến tranh xâm lược thắng lợi, thống nhất đất nước, hàn gắn các vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định xã hội, phát triển toàn diện, nâng cao mức sống nhân dân và vị thế dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.
Đảng ta, nhân dân tự hào khẳng định rằng, trong hơn 8 thập kỷ qua, đi theo con đường cách mạng của Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát triển và làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng thực tiễn lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là các vấn đề về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đã kết hợp nhuần nhuyễn ba yếu tố là chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào yêu nước và phong trào công nhân; về con đường cách mạng Việt Nam giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; về đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công, nông, trí; về tiến hành hai chiến lược cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam; về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…
Trong quá trình tiến hành đổi mới đất nước, trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thời cuộc và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đưa đất nước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH với những cơ hội mới và thách thức to lớn. Kỷ niệm 95 năm Cách mạng Tháng Mười, chúng ta cần suy ngẫm và hành động theo lời dạy của Bác Hồ, mỗi khi cách mạng gặp khó khăn hay trước những bước ngoặt cần có những quyết sách đúng đắn thì phải nghiên cứu những chỉ dẫn của Lênin - Vì đó chính là cẩm nang thần kỳ cho Đảng và cách mạng Việt Nam.

Ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với cách mạng Việt Nam

Ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với cách mạng Việt Nam




Quá trình “khai hoá văn minh” ở các nước nhược tiểu và ra sức bóc lột chính quốc, chủ nghĩa đế quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt nhân loại trước khó khăn, thách thức lớn và con đường chung tất yếu của các dân tộc bị áp bức là giải phóng khỏi chế độ bóc lột, áp bức, bất công, thực hiện mục tiêu hoà bình, độc lập, tự do và phát triển. Đáp ứng yêu cầu trên, nhiều tư tưởng, mô hình, phương án để thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa đã lần lượt xuất hiện, trong đó có tư tưởng Hô-xê Mác-ti (Cuba, 1853-1895) chủ trương chống đế quốc, xây dựng một chế độ xã hội của tất cả và cho mọi dân nghèo trên thế gian; tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc, 1866-1925); tư tưởng dân chủ - xã hội cách mạng châu Âu; tư tưởng yêu nước và giải phóng dân tộc của đông đảo quốc gia Á, Phi, Mỹ La tinh... Kết tinh của mọi tư tưởng giải phóng và phát triển tiến bộ của thời đại, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 nổ ra, đáp ứng đầy đủ nhất những yêu cầu bức bách của lịch sử đặt ra, xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, đưa “một bóng ma ám ảnh châu Âu” trở thành hiện thực ở nước Nga, mở ra chân trời mới cho mục tiêu phát triển và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Cuộc cách mạng 10 ngày làm rung chuyển cả thế giới, phá vỡ mắt xích yếu nhất trong sợi dây truyền của chủ nghĩa đế quốc, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng, đó là lần đầu tiên liên minh công nhân - nông dân - binh lính, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhân dân nước Nga đã đồng loạt đứng lên lật đổ chế độ Nga Hoàng, lập ra nhà nước Nga Xô viết - Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đồng thời mở ra thời đại mới - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là chế độ tốt đẹp nhất trong lịch sử và chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại.
Thành công của cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng to lớn đối với cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam. Ảnh hưởng của cuộc cách mạng này đến Việt Nam thông qua vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sau bao năm bôn ba tìm đường cứu nước, cuối năm 1917, Người trở lại Pháp hoạt động. Như tiếng sấm mùa xuân, cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vừng dậy đấu tranh, giải phóng dân tộc và gây sự chú ý đối với Nguyễn Ái Quốc!
Sau sự kiện này, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ. Đầu năm 1919, Quốc tế thứ ba được thành lập, đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với khuynh hướng cơ hội hữu khuynh và chủ nghĩa sô-vanh của Quốc tế thứ hai cũng gây ảnh hưởng lớn đối với Nguyễn Ái Quốc. Tiếp đó, tháng 7-1920, Người đã đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Luận cương đã vạch ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, giải đáp cho Người về con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào Việt Nam mà Người đang tìm kiếm bấy lâu nay. Luận cương Lênin như luồng ánh sáng mới đầy hy vọng và tin tưởng! Về sau Người nhớ lại:“Luận cương của Lênin là cho tôi rất cảm động phấn khởi, sáng tỏ và tin tưởng biêt bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo:“Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! đây là cái cần thiết của chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[1]. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, đi theo con đường cách mạng mà Lênin đã lựa chọn. Người đã có những nhận xét rất sâu sắc, toàn diện về cách mạng Tháng Mười Nga: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là thành công đến nới, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”[2]. Người còn khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh giấc mơ hàng thế kỷ, trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa lớn và sâu xa như thế. Đồng thời, Người cũng chỉ ra: Cách mạng Tháng Mười như một mẫu mực tuyệt vời về khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền; về phương pháp cách mạng - phương pháp dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và chế độ phong kiến địa chủ, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới - xã hội không còn người bóc lột người...
Từ nhãn quan chính trị thiên tài cùng với những nhận định, cách nhìn biện chứng, trên cơ sở phân tích đánh giá khoa học và những trải nghiệm thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định lựa chọn đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin, con đường cách mạng vô sản. Đây là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người, mang lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, đưa đất nước phát triển theo con đường XHCN.
Từ ngọn lửa cách mạng Tháng Mười Nga thắp sáng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, một chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời. Với đường lối đúng đắn ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả dân tộc Việt Nam đứng lên giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chế độ phát xít, thực dân và phong kiến tay sai gần thế kỷ, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1945, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược năm 1954-1975. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sức công phá của dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười Nga mở ra đã làm hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân đế quốc thiết lập trong suốt 5 thế kỷ (từ 1492) đã bị sụp đổ hoàn toàn trong vòng chưa đầy 5 thập kỷ. Lịch sử thế giới hiện đại không thể không khắc ghi công lao và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga!

Sau năm 1975, cả nước ta bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước Đông Âu vẫn là “tấm gương lớn” để nước ta học tập và noi theo. Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, một tổn thất nặng nề trong lịch sử phát triển của phong trào cộng sản và CNXH thế giới. Nhận thức sâu sắc được nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm sau sự sụp đổ của CNXH hiện thực và sự tan rã của các Đảng Cộng sản cầm quyền ở Đông Âu và Liên Xô, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước và lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới với bước đi cụ thể và nguyên tắc chỉ đạo sát hợp với điều kiện cụ thể nước ta.

Tiếp tục quán triệt đường lối đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội mà Đại hội lần thứ VII của Đảng đã xác định mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng gồm 6 đặc trưng và bảy phương hướng. Trong đó xác định kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, kiên trì định hướng XHCN và chính thức đưa vào văn kiện “Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Đảng ta xác định ngày càng sáng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, tiếp tục bổ sung phát triển mô hình xã hội XHCN mà Đại hội VII đã đưa ra. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã và đang nỗ lực thúc đẩy công cuộc đổi mới, từng bước thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa gần 30 năm đổi mới đất nước, hiện trạng và vị thế của nước ta trong khu vực và thế giới là minh chứng con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể dân tộc ta đồng tâm lựa chọn. Đây cũng là cơ sở để mỗi người Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc lịch sử, ý nghĩa và giá trị hiện thực của Cách mạng Tháng Mười, của Lênin vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

Kiên định theo con đường và phát huy bài học sáng tạo của Cách mạng Tháng Mười Nga, từ cuối thế kỷ XX đến nay, các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng cộng sản thế giới tích cực đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và cải cách chính sách phát triển trên mọi lĩnh vực. Những nguyên lý và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin được nhận thức đúng đắn hơn; những kinh nghiệm thành công và những hạn chế, vấp váp của chủ nghĩa xã hội được xác định một cách chân thực hơn; xu thế vận động của thế giới hiện đại được lĩnh hội kịp thời, khách quan hơn. Cách mạng Tháng Mười - ý nghĩa lịch sử và giá trị hiện thực đã ăn sâu vào tâm thức và trở thành biểu tượng thiêng liêng của nhiều thế hệ người Việt Nam. 

Phạm Thị Nhung, Trần Bá Đồng
Trường sĩ quan Lục quân 2



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t10, tr.127.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, t2, tr.280

Cách mạng Tháng Mười Nga với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc


Ngày 7-11-1917, cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tháng Mười Nga thắng lợi, mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Cho đến nay, mặc dù còn có những đánh giá khác nhau, song một thực tế không thể chối cãi là, kể từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, lịch sử nhân loại đã bước sang một trang mới với những biến đổi vô cùng sâu sắc.
Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu và phu nhân trong buổi lễ nhận danh hiệu viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga
Đúng như V.I. Lênin đã khẳng định, Cách mạng Tháng Mười đã mở đầu “một sự nghiệp mới mẻ”, “sự nghiệp sáng tạo ra một chế độ nhà nước xưa nay chưa từng có”. Cách mạng Tháng Mười Nga đã xây dựng nên một thời kỳ dài trong lịch sử là chỗ dựa cho hàng trăm dân tộc bị áp bức, đứng lên chống ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, bảo vệ hòa bình thế giới. Có thể nói, nếu không có Cách mạng Tháng Mười, nhân loại không thể sống trong kỷ nguyên độc lập, tự do. Ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại, những quyền dân sinh, dân chủ, quyền con người... mà nhân dân lao động có được là nhờ ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, làm thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước - kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đánh thắng các đế quốc sừng sỏ trong thế kỷ XX, nêu gương sáng cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn vận dụng đúng đắn, sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, những bài học của Cách mạng Tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mới đặt ra hiện nay là đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo cơ sở để thực hiện mục tiêu Chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ là: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị-xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” . Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, có năng lực, nhất là “Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân” . Đây là vấn đề rất mới, rất cấp bách cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có phẩm chất và năng lực, đảm bảo đến năm 2020 đội ngũ cán bộ có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ có phẩm chất tốt và đủ năng lực thực thi nhiệm vụ, tận tuỵ phục vụ sự nghiệp BVTQ, phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, người coi đây là công việc gốc của Đảng. Bản lĩnh người cán bộ cách mạng là sự kết tinh những phẩm chất nhân cách ở họ, tạo nên năng lực “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, thể hiện tập trung ở tính kiên định, sáng tạo, quyết làm và biết làm. Theo Bác, phải có một đội ngũ cán bộ như thế cách mạng mới thắng lợi. Người khẳng định: “Phải đào tạo một đội ngũ cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Có thế Đảng mới thành công”. Người cán bộ có bản lĩnh là người rất trung thành, kiên định với sự nghiệp cách mạng, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi. Đó cũng là người biết tuỳ cơ ứng biến, hết sức sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Không có sáng kiến, không phải là người lãnh đạo” .
Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ cách mạng phải là người trung thành và hăng hái trong mọi công việc. Đó là những người gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hiểu biết nhân dân, luôn luôn chú ý đến lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Trong bất cứ thời kỳ nào của cách mạng, cán bộ và công tác cán bộ cũng là vấn đề trọng yếu. Công tác cán bộ chẳng những có ý nghĩa to lớn đối với công tác xây dựng Đảng, mà còn góp phần quyết định đến việc thành bại trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng của Đảng. Bác chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” . Cán bộ phải là người có năng lực tương xứng với nhiệm vụ được giao, phải có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ của Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó. Người cán bộ còn phải có phong cách lãnh đạo và công tác khoa học. Tuy nhiên, cùng với những ưu điểm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, hiện nay “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt để chống phá Đảng ta và chế độ ta.
Với phương châm đúng đắn, cầu thị “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã chỉ rõ những khuyết điểm trong tư duy; giáo điều, rập khuôn, máy móc trong nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Thượng tướng, TS Nguyễn Huy Hiệu, Nguyên ủy viên BCHTƯ Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòn
g

Ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

Ý nghĩa lịch sử và thời đại của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
Ngược dòng lịch sử trở về với thời điểm cách nay gần một thế kỷ - năm 1917, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thắng lợi đã đạt tới đỉnh cao bằng việc giành chính quyền về tay nhân dân. Đây là một sự kiện lịch sử vĩ đại của loài người và nó mang ý nghĩa lịch sử và thời đại to lớn.

Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã đập tan ách thống trị của giai cấp phong kiến và tư bản Nga, thiết lập nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới trên phạm vi diện tích bằng 1/6 diện tích thế giới. Cách mạng đã đưa nhân dân Nga từ thân phận nô lệ lên cuộc sống làm chủ đồng thời mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga - kỷ nguyên độc lập tự do và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đối với thế giới, Cách mạng tháng Mười Nga đã đập tan chủ nghĩa đế quốc ở khâu yếu nhất là đế quốc Nga, từ đó phân chia thế giới thành hai chế độ đối lập nhau là Chủ nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội; mở ra con đường Cách mạng vô sản cho giai cấp công nhân ở các nước tư bản và nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Cách mạng tháng Mười như một tấm gương chói lọi, nó thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng; và lần đầu tiên trong lịch sử loài người, sự gắn bó chặt chẽ giữa phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc thành một mặt trận chung chống chủ nghĩa đế quốc. Cách mạng tháng Mười còn đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời nó mở đường cho chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào tất cả các quốc gia, dân tộc khác nhau trên thế giới, nhất là các nước thuộc địa và phụ thuộc; cung cấp những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu cho phong trào Cách mạng thế giới, mở ra thời kỳ phát triển mới trong lịch sử loài người: Lịch sử thế giới hiện đại - giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi như một tấm gương mang tính đột phá sáng tạo có sức lôi cuốn tất cả những trào lưu và khuynh hướng chủ yếu của cuộc đấu tranh cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc. Cao trào cách mạng thế giới sau Cách mạng Tháng Mười đã thực sự làm chấn động dinh luỹ của CNTB. Các dân tộc thuộc địa ở hầu khắp các châu lục được thức tỉnh, vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển ngày càng mạnh mẽ, liên tiếp giành thắng lợi, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, đưa độc lập dân tộc trở thành giá trị phổ biến mang tính thời đại. Tiếp bước trên con đường lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhiều dân tộc ở châu Âu, châu Á và Mỹ Latinh dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản tiến hành cách mạng thành công, đưa đất nước đi lên xây dựng CNXH. Hệ thống XHCN thế giới từng bước được xác lập và ảnh hưởng to lớn đến xu thế phát triển tiến bộ của lịch sử nhân loại. 


Từ sau Cách mạng tháng Mười, phong trào cách mạng ở mỗi nước trong đó có Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam cũng chính từ Cách mạng tháng Mười Nga. Năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người  đã  nêu rõ: “Chỉ có đi theo con đường Cách mạng tháng Mười - con đường duy nhất đúng đắn - Cách mạng Việt Nam mới giành được độc lập, tự do thực sự”. Và Cách mạng Việt Nam được soi đường, dẫn lối từ Cách mạng tháng Mười Nga, Chủ nghĩa Mác - Lênin để sau bao năm không lối thoát, ngày 03/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối lãnh đạo đúng đắn đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tiêu biểu cho những thắng lợi ấy là cuộc Cách mạng tháng Tám - 1945 thành công, với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước công nông đầu tiên trong khu vực Đông Nam châu Á, hay chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), gây chấn động địa cầu kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ 2 thắng lợi, cũng là kết thúc một chế độ thực dân kiểu cũ và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ - một chế độ thực dân kiểu mới để giành thắng lợi thống nhất đất nước, đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là thành quả rực rỡ sau hơn 20 năm nước ta tiến hành đổi mới…
Gần trọn một thế kỷ qua, kể từ khi cuộc Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga thắng lợi (7-11-1917), nhân loại đã chứng kiến biết bao biến cố thăng trầm, phức tạp. Nhưng Cách mạng Tháng Mười vẫn là một trong những sự kiện trọng đại nhất của lịch sử thế giới hiện đại. Cách mạng Tháng Mười đã chứng tỏ rằng, bất cứ một chế độ nào đi ngược lại lợi ích chân chính của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị vượt qua, bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác tốt đẹp hơn. Tiếp tục cuộc đấu tranh xoá bỏ mọi sự lạc hậu, lỗi thời, áp bức bất công cũng chính là sự tiếp tục sự nghiệp cao cả của Cách mạng Tháng Mười.
Do đó, lý tưởng và con đường Cách mạng Tháng Mười vẫn tiếp tục toả sáng, soi rọi cuộc đấu tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiếp thêm nguồn sinh lực cho phong trào XHCN hiện nay trên thế giới kiên định vượt qua những khó khăn, thử thách, không ngừng đổi mới, sáng tạo cả về lý luận và hoạt động thực tiễn nhằm vươn tới mục tiêu chiến lược của mình.
Ngày nay, mặc dù CNXH hiện thực vẫn đứng trước nhiều khó khăn thử thách lớn, nhưng con đường được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười với ý nghĩa trọng đại của nó vẫn là một xu thế vận động tất yếu của lịch sử nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Trong điều kiện lịch sử mới, tiếp tục kiên định con đường Tháng Mười vĩ đại, các đảng cộng sản, công nhân và lực lượng tiến bộ trên thế giới nỗ lực đoàn kết củng cố đội ngũ, sáng tạo điều chỉnh chiến lược, sách lược, tìm kiếm cách thức hoạt động, đấu tranh bằng nhiều hình thức đa dạng, đổi mới tập hợp lực lượng,... chuẩn bị từng bước những tiền đề hiện thực cho sự nghiệp đi lên CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể ở mỗi nước, mỗi dân tộc, phù hợp với những biến đổi diễn ra trên thế giới trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá. Tin chắc rằng, với tinh thần của cách mạng tháng Mười Nga bất diệt, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi.
Quang Trung (Ban Tuyên giáo Đồng Tháp) 

Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại chiếu sáng khắp năm châu

Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại chiếu sáng khắp năm châu

Để đánh giá ý nghĩa của một cuộc cách mạng cần nhìn nhận nó trong cả một tiến trình lịch sử mới có thể tránh được sự phiến diện hoặc cường điệu. Trong lịch sử loài người có những cột mốc lịch sử vĩ đại mà càng đứng lùi càng thấy rõ tầm cao của chúng. Trong số những cột mốc lịch sử ấy, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là cột mốc đánh dấu bước chuyển của loài người từ kỷ nguyên của chế độ người bóc lột sang kỷ nguyên con người tự làm chủ vận mệnh của mình.
 
Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva
Lăng Lenin trên Quảng trường Đỏ ở Matxcơva
 
Lịch sử nước Nga đã cho thấy: bước vào năm 1917, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga buộc phải lựa chọn: hoặc là tiếp tục cam chịu sống dưới ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản và địa chủ quý tộc, hoặc đứng lên làm cách mạng, giành chính quyền về tay Xô Viết đại biểu nhân dân và Nhân dân Nga đã chọn con đường cách mạng. Sau khi từ Thụy Sĩ trở về, ngày 4-4-1917, Lênin trình bày trước Trung ương Đảng Bônsêvích bản báo cáo quan trọng: “Nhiệm vụ của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng hiện nay”(sau này gọi là Luận cương tháng Tư). Luận cương của Lênin đã được toàn Đảng thông qua đề ra đường lối chuyển biến từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng XHCN và đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản và thành lập Quốc tế cách mạng mới của giai cấp công nhân. Dưới ánh sáng của Luận cương tháng Tư, Đảng Bônsêvích đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng. Đại hội VI của Đảng Bônsêvích họp từ 26-7 đến 3-8-1917 đã chủ trương “lật đổ nền chuyên chính của giai cấp tư sản bằng con đường khởi nghĩa vũ trang”. Rạng sáng 25-10 lịch Nga (tức 7-11 theo lịch mới), quân khởi nghĩa tiến đánh với Chiến hạm Rạng Đông nã pháo vào Cung điện Mùa đông - sào huyệt của chính phủ lâm thời phản động. Cận vệ đỏ của công nhân, binh lính cách mạng chiếm giữ vị trí then chốt ở thủ đô, nhanh chóng làm chủ tình hình. Các Bộ trưởng của Chính phủ lâm thời bị bắt. Cuộc khởi nghĩa ở Pêtrôgrat thắng lợi hoàn toàn. Cũng trong đêm đó, Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ 2 đã khai mạc, tuyên bố chính quyền đã về tay các Xô Viết. Đại hội ra quyết nghị: các Xô Viết đại biểu công nhân, binh lính và nông dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự cách mạng. Tối 26-10, trong buổi họp thứ 2, Đại hội thông qua 2 văn kiện đầu tiên của Chính quyền Xô Viết: 1/ Sắc luật hòa bình, 2/ Sắc luật ruộng đất. Đại hội cử ra Chính phủ Xô Viết đầu tiên, gọi là Hội đồng ủy viên nhân dân, do Lênin đứng đầu. Ngày 10-1-1918, Đại hội Xô Viết toàn Nga lần thứ III đã khai mạc. Đại hội tán thành quyết định của Đảng Bônsêvích và Chính phủ Xô Viết về việc giải tán Quốc hội lập hiến của chính phủ cũ; quyết định hợp nhất các Xô Viết đại biểu nông dân với Xôviết đại biểu công nhân và binh lính. Đại hội thông qua Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột khẳng định nước Nga là một nước cộng hòa Xô Viết, mục tiêu là xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người, xóa bỏ giai cấp. Đại hội thông qua quyết định lịch sử, thành lập Cộng hòa Xô Viết XHCN Liên bang Nga, trên cơ sở liên minh tự nguyện giữa các dân tộc ở nước Nga… 
 
Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa lịch sử trọng đại, không chỉ với nước Nga mà còn đối với cả thế giới. Đó chính là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một đất nước rộng 1/6 diện tích thế giới. Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đập tan bộ máy thống trị của giai cấp bóc lột, phản cách mạng, thiết lập nền chính trị mới do nhân dân lao động làm chủ; công khai mục tiêu cách mạng mang tính nhân văn cao cả là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng một xã hội tự do, hạnh phúc và công bằng cho người lao động, mở ra trang mới trong lịch sử các dân tộc Nga. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử và cục diện thế giới. Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười đã khai sinh ra chế độ XHCN đầu tiên trong lịch sử, chấm dứt thời kỳ làm mưa làm gió của chủ nghĩa tư bản trên thế giới; đồng thời mở ra giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội như một chủ thể hùng mạnh, một xu thế tất yếu của lịch sử, đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành và phát triển lớn mạnh của nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và sau đó là hệ thống các nước XHCN đã buộc chủ nghĩa tư bản phải thực hiện hàng loạt những điều chỉnh về kinh tế – xã hội, đáp ứng ngày càng nhiều hơn những yêu cầu của người lao động về việc làm, tiền công, giáo dục, y tế, an sinh xã hội... Con đường Cách mạng Tháng Mười đã đưa nhân loại sang một thời đại mới, thời đại hiện thực hóa ước mơ khát vọng về một cuộc sống không còn áp bức, bóc lột, bất công. Khát vọng giải phóng và phát triển của nhân dân lao động đã đem lại thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười, tạo động lực để chính quyền Xô Viết non trẻ vượt qua sự chống phá của các thế lực đế quốc tàn bạo, trở thành một cường quốc xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cách mạng Tháng Mười đã thức tỉnh và cổ vũ mạnh mẽ ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, dẫn dắt các dân tộc năm châu hình thành dòng thác cách mạng, đánh đổ hệ thống thuộc địa, chấm dứt chế độ thực dân, đưa các quốc gia đi vào quỹ đạo mới, trong đó nhiều nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng Tháng Mười đã đáp ứng những đòi hỏi cấp bách trong cuộc đấu tranh giải phóng của các giai cấp bị áp bức, bóc lột và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới… 
 
96 năm đã trôi qua, thế giới có biết bao đổi thay, đảo lộn; đã xuất hiện rất nhiều sự đánh giá khác nhau về sự nghiệp của những người cộng sản. Tuy nhiên, chính thực tiễn lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua, với những sự thật không thể thêm bớt, đã khẳng định vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga: đó chính là cột mốc mở đầu thời đại ngày nay. Sự phát triển của thế giới trong thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI dù đầy biến động, cũng không thể phủ nhận giá trị lịch sử và thời đại của Cách mạng Tháng Mười. Bất chấp những thăng trầm của lịch sử, thắng lợi của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sự chấm dứt chế độ thuộc địa, sự ủng hộ của cộng đồng thế giới đối với giá trị nhân văn tiến bộ, dân chủ, tự do, bình đẳng, sự phục hồi kỳ diệu của một số nước XHCN sau khủng hoảng, sự lớn mạnh của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh v.v... đã chứng tỏ vai trò mở đường của Cách mạng Tháng Mười hướng nhân loại tới một tương lai tươi sáng hơn. Nó cũng chứng tỏ rằng, bất cứ một chế độ nào đi ngược lại lợi ích chân chính của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị vượt qua, bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác tốt đẹp hơn. Tiếp tục cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi sự lạc hậu, lỗi thời, áp bức bất công cũng chính là sự tiếp tục sự nghiệp cao cả của Cách mạng Tháng Mười…
 
Đi theo con đường của Lênin vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, vẻ vang trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường XHCN, tiếp tục khẳng định và tiếp nối những giá trị nhân văn, tiến bộ của Cách mạng Tháng Mười như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Giống mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
 
BÙI THANH LONG

Ngọn cờ hiệu triệu hòa bình

Ngọn cờ hiệu triệu hòa bình

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa lịch sử về nhiều mặt, không chỉ vạch mốc thời đại, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga và các dân tộc bị nô dịch, phụ thuộc trên thế giới, mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở chỗ đã trở thành ngọn cờ hiệu triệu của thời đại mới, thời đại đấu tranh vì những mục tiêu cao cả: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Ngọn cờ hiệu triệu hòa bình của thời đại mới

Cách mạng Tháng Mười nổ ra khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bước vào giai đoạn quyết liệt, hai phe đế quốc đang xâu xé nhau dữ dội. Cách mạng Tháng Mười đã "chặn lại những bàn tay chém giết" và chấm dứt chiến tranh đúng với mong muốn của nhân loại. Một trong những khẩu hiệu mà Cách mạng Tháng Mười giương cao là: hòa bình, phản đối chiến tranh, chấm dứt chiến tranh đế quốc. Bởi vậy, Cách mạng Tháng Mười đã giành được thiện cảm sâu sắc của nhân dân yêu chuộng hòa bình ở châu Âu và cả nhân loại tiến bộ, tạo ra phong trào phản chiến ngày càng lớn ở châu Âu lúc bấy giờ.

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, Nhà nước Xô-viết đã thực hiện những nguyên tắc mới trong quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia. Hành động đầu tiên của chính quyền Xô-viết là thông qua Sắc luật về hòa bình của V. I. Lê-nin (đăng trên báo Sự thật, số 171, ngày 28-10-1917).

Trong Sắc luật về hòa bình, V. I. Lê-nin không chỉ lên án những hành động xâm chiếm của các nước đế quốc, mà còn kịch liệt phê phán sự cưỡng bức dân tộc, coi đó cũng như "một cuộc xâm chiếm và một hành vi bạo lực"(1). Tiếp tục tiến hành chiến tranh để phân chia quyền lợi của giai cấp tư sản, theo V. I. Lê-nin, đó là "một tội ác lớn nhất đối với nhân loại"(2). Trong Sắc luật về hòa bình, V. I. Lê-nin kêu gọi tất cả các nước tham gia chiến tranh tiến hành ngay những cuộc đàm phán về một hòa ước dân chủ và công bằng, không có thôn tính (không xâm chiếm đất đai, không cưỡng ép sáp nhập các dân tộc khác). V. I. Lê-nin khẳng định: "Chính phủ Nga rất sẵn sàng tiến hành ngay không chút chậm trễ tất cả các bước quyết định, cho đến khi các hội nghị đại biểu toàn quyền do nhân dân tất cả các nước và các dân tộc cử ra phê chuẩn cuối cùng tất cả các điều kiện của hòa ước đó"(3).

Sắc luật về hòa bình nói lên bản chất của chủ nghĩa xã hội là yêu chuộng hòa bình, đối lập với bản chất của chủ nghĩa đế quốc là chiến tranh, xâm lược. Sắc luật về hòa bình đã nêu những nguyên tắc của một kiểu quan hệ quốc tế mới, được đề ra không phải trên cơ sở các dân tộc lớn áp bức các dân tộc nhỏ, yếu, mà là trên nền hòa bình của tất cả các dân tộc và sự bình đẳng của các quốc gia, dân tộc. Chính sách ngoại giao của chính quyền Xô-viết cũng được trình bày rõ trong văn kiện ấy. Với niềm tin vào sức mạnh chính nghĩa của hòa bình và dân chủ, V. I. Lê-nin kết luận: "Phong trào công nhân sẽ giành được phần thắng và sẽ vạch ra con đường đi tới hòa bình và chủ nghĩa xã hội"(4). 
Cách mạng tháng 10 Nga, vô sản, người lao động
Cách mạng Tháng Mười Nga - ngọn cờ hiệu triệu hòa bình cho nhân loại
Không chỉ dừng lại ở Sắc luật có tính chất văn bản pháp lý, chính quyền Xô-viết đã kiên trì phấn đấu trong thực tiễn để đạt tới mục tiêu hòa bình, kể cả việc phải ký hòa ước, trong đó nước Nga Xô-viết phải chấp nhận những thiệt thòi về đất đai, kinh tế như Hòa ước Brét Li-tốp đầu năm 1918. Thực tế cho thấy, việc công bố Sắc luật về hòa bình và toàn bộ nỗ lực của Nhà nước Xô-viết đã đưa nước Nga ra khỏi cuộc chiến tranh đế quốc. Lập lại nền hòa bình, nước Nga có điều kiện thuận lợi để củng cố chính quyền nhân dân, ổn định kinh tế - xã hội, tập trung lực lượng đập tan sự phản kháng của bọn phản cách mạng. Chiến thắng trong cuộc nội chiến ác liệt bốn năm, chính quyền Xô-viết được củng cố. Nhân dân lao động Nga và nhân dân các dân tộc thuộc Nga một lần nữa thoát khỏi thảm họa chiến tranh, thoát khỏi nguy cơ trở lại ách bóc lột của địa chủ, tư sản phản động. Về sau, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã giương cao, giữ vững ngọn cờ hòa bình ấy.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Nhà nước Xô-viết mà từ ngày 30-12-1922 là Liên Xô, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa cách mạng và phản cách mạng bước sang một giai đoạn mới, quyết liệt hơn. Chủ nghĩa tư bản buộc phải điều chỉnh, không thể "làm mưa làm gió" như trước được nữa. Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng vô sản mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười và phong trào giải phóng dân tộc đã thu hẹp "hậu phương" của chủ nghĩa đế quốc, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc sụp đổ từng mảng lớn. Các dân tộc từng bị thực dân nô dịch nay "hiên ngang bước lên vũ đài quốc tế", trở thành lực lượng đưa thế giới phát triển theo xu hướng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, do chủ nghĩa phát-xít gây ra. Nhiều quốc gia trên các châu lục bị cuốn vào cuộc chiến tàn khốc. Để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cứu nhân dân thế giới khỏi họa diệt chủng, giương cao ngọn cờ hòa bình của Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô đã hy sinh nhiều người, nhiều của, đóng góp lớn nhất trong lực lượng Đồng minh để làm nên chiến thắng chung của thế giới. "Việc đánh bại chủ nghĩa phát-xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã mở ra những khả năng mới cho cuộc đấu tranh của các dân tộc và hòa bình dân chủ, giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội"(5).

Sự phát triển mạnh mẽ và thần kỳ của Liên Xô sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã đưa Liên Xô trở thành biểu tượng, trụ cột của nền hòa bình thế giới, ghi những dấu ấn đậm nét trong lịch sử phát triển xã hội loài người. Đất nước Xô-viết đã đạt những thành tựu kỳ diệu trên mọi lĩnh vực, chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học - kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là chinh phục vũ trụ vì mục đích hòa bình.

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, vấn đề đặt ra nóng bỏng trước nhân loại là vấn đề chiến tranh và hòa bình. Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới đã thực thi chính sách giành giật thị trường, ngăn cản các quốc gia thực hiện nền độc lập tự chủ, ngăn cản phong trào giải phóng dân tộc, kìm hãm xu hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội của nhiều quốc gia, dân tộc (mà họ gọi là "ngăn chặn làn sóng đỏ"), kìm giữ nhân dân các nước trong quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, những thành tựu của loài người vào cuộc chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí giết người hàng loạt; theo đuổi các chính sách, tư duy hiếu chiến, xâm lược nhiều quốc gia độc lập có chủ quyền. Thế giới trong thời kỳ Chiến tranh lạnh đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh cục bộ đẫm máu bắt nguồn từ bản chất hiếu chiến và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc: chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Triều Tiên,... Nhưng xu thế phát triển của thế giới là không thể đảo ngược: sự lớn mạnh của các quốc gia độc lập trẻ tuổi; sự tăng lên về vai trò, vị trí của các nước đang phát triển; sự hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ngăn chặn sự áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa đế quốc trên một phạm vi rất lớn của thế giới, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đạt được những thắng lợi to lớn. Nhờ sự hợp lực đấu tranh của các nước xã hội chủ nghĩa, của loài người tiến bộ, chiến tranh thế giới đã không xảy ra, hòa bình thế giới về cơ bản vẫn được giữ vững. Cộng đồng xã hội chủ nghĩa thế giới với bản chất yêu chuộng hòa bình, đã trở thành thành trì vững chắc của hòa bình thế giới, người bảo vệ kiên quyết nhất các nguyên tắc công bằng, hòa bình, dân chủ trong quan hệ quốc tế và là trở lực chủ yếu đối với các thế lực phản động quốc tế.

Có thể khẳng định, lần đầu tiên trong lịch sử, chủ nghĩa xã hội đã xây dựng thành công một kiểu mẫu về quan hệ quốc tế hoàn toàn mới: Đó là mối quan hệ quốc tế dựa trên tình đoàn kết giai cấp, tình hữu nghị giữa các dân tộc, sự hợp tác và tương trợ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ xã hội mới, vì hòa bình, an ninh quốc tế và tiến bộ xã hội, sự bình đẳng và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước. Chính mối quan hệ này là tác nhân tích cực thúc đẩy các nước trong cộng đồng quốc tế xích lại gần nhau hơn trong quá trình phát triển, phong trào hòa bình thế giới đã hình thành được những lực lượng hùng hậu.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, sau khi nhà nước xã hội chủ nghĩa được khai sinh từ Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đặc biệt là từ sau năm 1945, khi nhiều nước giành được độc lập, đã lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Hệ thống này đã có vai trò rất quan trọng và cống hiến to lớn đối với tiến trình thực hiện các mục tiêu nóng bỏng của nhân loại là: hòa bình, an ninh và phát triển. Hòa bình vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội đã khai sinh ra một kiểu quan hệ quốc tế mới, sớm nêu lên và thực hiện một cách mẫu mực nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau. Nguyên tắc này còn bao hàm sự phủ nhận chiến tranh với tư cách là phương tiện thực hiện chính sách đối ngoại của các nước đế quốc, đồng thời thừa nhận quyền của tất cả các dân tộc được tự mình giải quyết vận mệnh của mình, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và phát triển sự hợp tác bình đẳng giữa các nước. Mặt khác, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã nâng cuộc đấu tranh cho hòa bình thế giới lên tầm cao mới khi gắn hòa bình với các mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Như vậy, có thể thấy, chủ nghĩa xã hội "sinh thành" từ nước Nga Xô-viết đã trở thành một thực thể quan trọng cấu thành nền chính trị thế giới và tác động sâu rộng đến quan hệ quốc tế, đến sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã nhân lên sức mạnh của phong trào đấu tranh bảo vệ hòa bình, sự sống và nền văn minh nhân loại, chống chiến tranh và nguy cơ chiến tranh, góp phần củng cố, phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa các dân tộc.

Tiếp tục phất cao ngọn cờ hòa bình của Cách mạng Tháng Mười

Kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, sau khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thế giới đã có những biến chuyển sâu sắc, nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Trong trật tự thế giới mới đã diễn ra xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hòa hoãn, bình thường hóa, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và phát triển, nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ xung đột, chiến tranh cục bộ, khu vực. Các vấn đề toàn cầu ngày càng gay gắt, đòi hỏi sự hợp sức của tất cả các quốc gia. Mỗi quốc gia đều phải tham gia đấu tranh để tiến tới thiết lập một trật tự quan hệ quốc tế công bằng hơn, trong đó, mỗi nước đều có vai trò, đóng góp cần thiết trong việc giải quyết các công việc chung của thế giới, trên nền tảng Hiến chương của Liên hợp quốc và các cam kết khu vực, quốc tế. Khi những sự việc xảy ra gần đây xung quanh vấn đề Xy-ri, từ nước Nga, quê hương của Cách mạng Tháng Mười, Tổng thống Liên bang Nga Vla-đi-mia Pu-tin đã có bài viết gửi tờ New Yorks Times (Mỹ), nhấn mạnh một trong những nguyên tắc để giải quyết vấn đề khủng hoảng chính trị cũng như xung đột vũ trang là phải tôn trọng Hiến chương của Liên hợp quốc, tôn trọng những giá trị dân chủ của mỗi quốc gia, dân tộc, trên nguyên tắc bình đẳng, đề cao giải pháp chính trị và giương cao ngọn cờ hòa bình: "Những người sáng lập Liên hợp quốc hiểu rõ rằng những quyết định về chiến tranh và hòa bình cần phải đạt được sự nhất trí,... Điều đúng đắn này chính là nền tảng cho sự ổn định trong mối quan hệ quốc tế suốt hàng thập niên qua". Và rằng, khi giải quyết những vấn đề khu vực và toàn cầu, "Chúng ta phải dừng ngay việc sử dụng vũ lực để trở lại với con đường ngoại giao và giải pháp chính trị"; "Có nước lớn, nước nhỏ, có nước giàu nước nghèo, có nước có truyền thống dân chủ lâu dài, và có nước mới chỉ đang đi trên con đường hướng tới dân chủ. Chính sách của mỗi nước cũng sẽ khác nhau. Chúng ta đều khác nhau, nhưng khi mỗi chúng ta nhận ơn từ Tạo hóa, chúng ta không được phép quên rằng Tạo hóa đã sinh ra chúng ta bình đẳng"(6).

Với tư cách là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, suốt gần 7 thập niên qua (1945 - 2013), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã làm hết sức mình để hiện thực hóa những tuyên ngôn về hòa bình của Cách mạng Tháng Mười và của Tuyên ngôn độc lậpngày 2-9-1945 trên đất nước mình và cho những mục tiêu cao cả của thời đại. Với khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và củng cố hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế. Đường lối đối ngoại hòa bình của Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước đã có tiếng vang lớn, được sự ủng hộ và hưởng ứng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.

Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều vận hội, thời cơ lớn đan xen với nhiều thách thức, nguy cơ không thể xem thường. Đại hội XI của Đảng nhận định: "Nước ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu, như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp... Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á, là khu vực phát triển năng động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo ngày càng gay gắt"(7). Nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh toàn diện và sâu rộng sự nghiệp đổi mới, tích cực, chủ động trong hội nhập quốc tế cũng là quá trình Việt Nam nhận thức sâu sắc phải thực thi có hiệu quả, tích cực hơn nữa việc giải quyết các vấn đề của khu vực và thế giới bằng chính thực lực của đất nước được tạo ra sau gần 30 năm đổi mới, bằng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì một thế giới hòa bình và phát triển bền vững.

Từ bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định, để bảo vệ vững chắc nền hòa bình, giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu không chỉ là trách nhiệm của riêng một quốc gia nào, mà đòi hỏi sự hợp sức, nỗ lực của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Cần phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế: cùng tồn tại hòa bình, tương trợ, giúp đỡ nhau nhưng không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không phân biệt đối xử trong các quan hệ quốc tế; bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết những bất đồng, xung đột bằng con đường ngoại giao, đàm phán hòa bình với tinh thần thiện chí, nhân văn; đề cao độc lập, tự chủ, nhưng không biệt lập trong quan hệ quốc tế. Đó cũng chính là sự tiếp nối và phất cao ngọn cờ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển của Cách mạng Tháng Mười Nga trong bối cảnh mới của đất nước và thời đại./.
TS Đỗ Xuân Tuất (Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức - cán bộ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)
TheoTạp chí Cộng Sản
--------------------------------------

(1) V. I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1976, t. 35, tr. 15

(2) V. I. Lê-nin: Sđd, t. 35, tr. 15

(3) V. I. Lê-nin: Sđd, t. 35, tr. 14

(4) V. I. Lê-nin: Sđd, t. 35, tr. 19

(5) Cương lĩnh, Điều lệ Đảng Cộng sản Liên Xô (được Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô thông qua), Nxb. Sự thật - Nxb. Thông tấn Nô-vô-xti, Mát-xcơ-va, 1986, tr. 10-11

(6) Xem Bài viết của V. Pu-tin trên New York Times: vnexpress.net/.../bai-viet-cua-putin-tren-new-york-times-2879043.html, ngày13-9-2013

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 27-29