Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Khởi nghĩa Nam Kỳ - bài học sâu sắc cho cách mạng Việt Nam


(Tin tức) - Lễ kỷ niệm 70 năm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa (23/11/1940 – 23/11/2010) đã được Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ TP Hồ Chí Minh tổ chức trọng thể sáng 22/11, tại Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Dự lễ kỷ niệm có các đồng chí: Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Phan Văn Khải, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ; Trương Vĩnh Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ; Hà Thị Khiết, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Dân vận T.Ư; lãnh đạo các bộ, ban, ngành, đoàn thể T.Ư, TP Hồ Chí Minh và đại diện 13 tỉnh, thành Nam bộ đã tham gia cuộc khởi nghĩa. Cùng dự còn có gần 4.000 đại biểu gồm các Mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí lão thành cách mạng, đại diện các tầng lớp nhân dân TP Hồ Chí Minh và vùng đất Hóc Môn – Bà Điểm, quê hương của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Trước đó, các đại biểu đã dâng hương, dâng hoa, viếng các liệt sĩ Nam Kỳ Khởi Nghĩa tại tượng đài Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nhà tưởng niệm Liệt sĩ Ngã Ba Giồng. 
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và các đại biểu tại lễ kỷ niệm. Ảnh: Thế Anh-TTXVN
Tại lễ kỷ niệm, đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh đọc diễn văn ôn lại những mốc son sáng ngời của cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940, đã để lại những trang sử hào hùng, chói lọi trong lịch sử cách mạng của Đảng và nhân dân ta, đã nêu tấm gương đấu tranh cực kỳ anh dũng, ý chí quật cường, tinh thần cách mạng tiến công, để lại cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau truyền thống bất khuất, kiên cường của lòng yêu nước. 

Đồng chí Lê Thanh Hải nhấn mạnh: Khởi Nghĩa Nam Kỳ là nền tảng cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vẻ vang trong cách mạng tháng Tám; đã để lại những bài học vô cùng sâu sắc, quý báu trong các giai đoạn cách mạng, cho đến hôm nay và mãi mãi mai sau. Bảy mươi năm đã đi qua, nhưng tinh thần của cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ vẫn luôn hiển hiện và sống mãi cùng thời gian. Thiết thực kỷ niệm 70 năm cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ, Đảng bộ, nhân dân TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam bộ kế tục, phát huy truyền thống vẻ vang, ra sức phấn đấu, vượt qua mọi thách thức, trở lực, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của từng địa phương; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng quê hương Nam Kỳ Khởi Nghĩa, góp phần cùng cả nước xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. 

Đại diện thế hệ trẻ, Bí thư Huyện đoàn Hóc Môn Đặng Trần Trúc Dao khẳng định, tinh thần của cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ sẽ là truyền thống quý báu cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau học tập, noi theo, ra sức phấn đấu tiếp bước truyền thống anh hùng của các thế hệ cha anh, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố và của đất nước. 

Sáng 22/11, tại huyện Vũng Liêm, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh Vĩnh Long đã long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm 70 năm Ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa (1940-2010) và mừng sinh nhật lần thứ 88 cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (23/11/1922 - 23/11/2010), người con ưu tú của quê hương Vĩnh Long và là người đã tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Nam Kỳ ở huyện Vũng Liêm. 

lTối 22/11, tại Khu di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đình Long Hưng), xã Long Hưng, huyện Châu Thành (Tiền Giang), tỉnh Tiền Giang long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm 70 năm Ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa (23/11/1940 – 23/11/2010).

Hoàng Liên Sơn - Phạm Thị Bình - Công Trí

Truyền nhân ‘độc nhất’ của người vẽ lá cờ tổ quốc

Hơn 70 năm qua, từ khi lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện và bay phấp phới trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (năm 1940) cũng là gần ấy thời gian bà Nguyễn Thị Xu (85 tuổi) truyền nhân “độc nhất” của liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến – tác giả quốc kỳ Việt Nam ở huyện Duy Tiên, Tỉnh Hà Nam gìn giữ và trân trọng những kỷ vật kháng chiến của cha.
Con đường nhỏ dẫn về làng Lũng Xuyên, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xưa gọi với cái tên cổ là Kim ngân điền (tức là con đường vua) giờ đây đã được bê tông hóa. Căn nhà cấp 4 đề tên: “Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Hữu Tiến – Tác giả vẽ lá cờ Tổ Quốc” là nơi bà Nguyễn Thị Xu người con duy nhất đang sống và hằng ngày gìn giữ những kỷ vật đáng quý của cha.
Nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Hữu Tiến.
Căn bệnh suy tim tái phát nhiều năm khiến hơi thở của bà trở nên yếu ớt. “Tôi vừa mới được đứa cháu nội đưa ra nghĩa trang để sửa sang lại cho ngôi mộ của ông cụ. Dạo này sức khỏe yếu, đi lại khó khăn nhưng tôi muốn mình ra dọn sạch cỏ và thắp hương cho ông, đó chỉ là ngôi mộ tượng trưng để mỗi khi lễ, tết con cháu ra thăm cụ”, bà Xu kể.
Những bức hình cũ, những bức thư mật trong cuộc đời hoạt động cách mạng của cha hơn 70 năm qua kể từ khi Nguyễn Hữu Tiến bị địch xử bắn được bà và gia đình cất rất cẩn thận, và nhất là lá cờ đỏ sao vàng được bà dựng bay phấp phới trước nhà, xem đó như những báu vật đáng quý.
Chân dung liệt sĩ Nguyễn Hữu Tiến do nhạc sĩ Văn Cao vẽ bằng sơn dầu.
Bà Xu kể lại: “Cha tôi tham gia hoạt động cách mạng từ khi tôi còn nằm trong lòng mẹ, nên tôi không được biết trực tiếp về cha mình mà chỉ nghe từ mẹ và các cụ trong làng kể lại. Về sau này, cuộc đời cha tôi được tái hiện lại qua cuốn sách ‘Nguyễn Hữu Tiến’ do nhà văn Sơn Tùng viết nên tôi mới hiểu rõ”.
Hoạt  động cách mạng bí mật, Nguyễn Hữu Tiến đã không ít lần đối diện với nguy hiểm cùng đồng đội chiến đấu trong chiến trường miền nam chống chế độ thực dân Pháp. Năm 1940 sau nhiều đêm thức trắng ông đã vẽ nên lá cờ đỏ sao vàng tượng trưng cho máu thịt và tinh thần đoàn kết của các giai cấp Việt Nam đã được dựng lên trước ngày khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940). Sau thất bại của Nam Kỳ khởi nghĩa, ngày 28/8/1941 ông Nguyễn Hữu Tiến cùng nhiều đồng đội đã bị địch bắt và xử bắn tại Hóc Môn – Gia Định.
Chân dung và bút tích của ông được treo trang trọng trong nhà.
Sau hơn 70 năm sống trong cảnh mất cha, với bà Xu, ông là một người cả cuộc đời vì bảo vệ nền độc lập dân tộc cho đến khi mất ông cũng vẫn nhắn nhủ lại với đồng đội, đồng chí:“Vĩnh biệt hôm nay có mấy lời/ Nhắn cùng đồng chí khắp nơi nơi/ Tinh Thần để lại cho non nước/ Thù hận ghi sâu giữa đất trời/ Án chém Hà Nam đã rũ sạch/ Khổ sai Côn Đảo đã qua rồi/ Anh em đi trọn con đường nhé/ Cờ đỏ sao vàng sáng tương lai”. Hiện bút tích được treo trang trọng bên trên tấm chân dung sau này được nhạc sĩ Văn Cao đích thân vẽ bằng tranh sơn dầu và được bà Xu lưu giữ.
Những kỷ vật về cha được bà Nguyễn Thị Xu gìn giữ cẩn thận.
Quyển sách kể về cuộc đời Nguyễn Hữu Tiến do nhà văn Sơn Tùng viết.
Bà nhớ lại: “Thời kỳ ấy mẹ con tôi sống trong vô vàn khó khăn, bom đạn ác liệt như mưa của giặc khiến nhiều đêm phải đi sơ tán, có lúc tôi đã khóc vì sợ hãi nhưng mẹ lại động viên và kể về cha mình đã chiến đấu rồi hy sinh vì nước khiến tôi không còn sợ nữa và cứ muốn mẹ kể thật nhiều về cha”.
Năm 1945 lá cờ đỏ sao vàng do Nguyễn Hữu Tiến vẽ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm quốc kỳ Việt Nam. Tuy rằng Nguyễn Hữu Tiến không còn nữa nhưng mỗi khi nhìn thấy lá cờ đỏ tươi bay phấp phới trong gió bà Xu cùng con cháu lại tự hào về cha ông mình.  
Ở tuổi 85 sức khỏe đã yếu khiến mọi việc làm của bà Xu gặp nhiều khó khăn nhưng bà đã sống gần trọn đời mình trong hạnh phúc, tự hào và hãnh diện với xóm giềng về người cha của mình.
Năm 1993 UBND tỉnh Hà Nam đã khởi công xây dựng nhà lưu niệm người vẽ lá cờ tổ quốc để góp phần gìn giữ những tư liệu quý mà bà Xu đã gìn giữ, UBND xã Yên Bắc đã trích số tiền 180 nghìn đồng mỗi tháng để hỗ trợ tiền chăm lo hương khói cho cụ. Giờ đây để tưởng nhớ tác giả của quốc kỳ Việt Nam trên nhiều tuyến đường, trường học ở tỉnh Hà Nam cũng được mang tên Nguyễn Hữu Tiến.
“Nếu 1 ngày tôi không còn sống trên đời này nữa thì tôi cũng sẽ dặn dò con cháu giữ gìn và trân trọng những kỷ vật kháng chiến thiêng liêng của ông cha mình để lại, để ai ai cũng biết về ý nghĩa của lá cờ đỏ sao vàng mà ông cụ đã vẽ ra để mãi trở thành quốc kỳ của Việt Nam. Đó là sự đoàn kết dân tộc của con người Viêt Nam máu đỏ da vàng”. Bà Xu bày tỏ.
Ánh chiều vàng vọt dần khuất sâu về phía tây sau chân núi, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay phấp phới, mỗi lần nhìn thấy hình ảnh ấy mỗi con dân người Việt Nam lại thổn thức trái tim và lòng tự hào dân tộc.

Theo Người đưa tin

Hào khí Nam Kỳ khởi nghĩa bất diệt

Với lòng căm thù sôi sục bọn cướp nước và bè lũ Việt gian bán nước, cách đây đúng 73 năm (23-11-1940 - 23-11-2013) với số lượng đảng viên ít ỏi, với giáo mác gậy gộc, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, nhân dân Mỹ Tho, Gò Công đã hạ hoặc bứt rút đồn bót, chiếm nhà việc của bọn tề ngụy, làm chủ tình hình trong nhiều ngày.
Cuộc khởi nghĩa nổ ra mạnh mẽ ở huyện Châu Thành trong đó xã Long Hưng là nơi tiểu biểu nhất, với sự xuất hiện lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng ở đình Long Hưng với phiên tòa xử tên Hương quản Sâm và tấm gương quyết tử và tuẫn tiết của 4 liệt sĩ ở gò Trâm bầu.
Đình Long Hưng. Ảnh: nguoilambao.vn
Sau cuộc họp tháng 7-1940 của Xứ ủy ở làng Tân Hương, quận Châu Thành và 2 cuộc: tháng 9, tháng 10-1940 ở Gia Định, Tỉnh ủy Mỹ Tho đã có 3 cuộc họp ở làng Thạnh Phú, quận Châu Thành để bàn việc thành lập Ban khởi nghĩa tỉnh, các Ban khởi nghĩa quận, bàn kế hoạch triển khai thực hiện theo hướng khẩn trương chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.

Toàn Đảng bộ nhất trí và phấn khởi nghiêm túc thực hiện chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa để giành chính quyền của Trung ương Đảng và Xứ ủy đề ra.
Trước hết Tỉnh ủy quan tâm xây dựng củng cố Đảng, đẩy mạnh việc phát triển Đảng, xây dựng chi bộ cơ sở, tăng cường cán bộ cho các Quận ủy Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè và lập Quận ủy lâm thời Chợ Gạo.

Cùng với công tác xây dựng Đảng, Tỉnh ủy lãnh đạo các cấp ủy chú trọng việc phát triển các hội phản đế: Thanh niên phản đế, Phụ nữ phản đế, Nông hội phản đế, Binh sĩ phản đế, Nhi đồng cứu vong.Tất cả nằm trong Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.
Chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, Tỉnh ủy quyết định chọn vùng rừng Ba U, toàn cây tràm, năn, lác rậm rạp thuộc làng Tân Lý Đông (quận Châu Thành) làm căn cứ cách mạng của tỉnh.

Vùng này giáp ranh 3 làng: Long Định, Tam Hiệp, Tân Lý Đông, kế cận Đồng Tháp Mười rộng mênh mông, còn hoang hóa. Kinh rạch chằng chịt, Tỉnh ủy chia căn cứ này làm 3 khu, đặt cho mỗi khu 1 bí danh:
- Khu Mác-xây (tên một thành phố cảng miền Nam nước Pháp) làm nơi sản xuất vũ khí.
- Khu Paris (Thủ đô nước Pháp) là nơi dự trữ lương thực, làm khẩu hiệu, in tài liệu, truyền đơn, may cờ.
- Khu Đà Lạt: là nơi đón tiếp cán bộ từ ngoài vào.
Các quận cũng chọn những nơi có cơ sở, phong trào mạnh để làm căn cứ.
Thực hiện quyết định của Tỉnh ủy, nhiều chi bộ đã tổ chức các đội cảm tử du kích. Hầu hết các làng của quận Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo và An Hóa đều đã lập đội du kích. Có nơi lập được 1 đại đội như làng Thạnh Phú, đặc biệt làng Vĩnh Kim có 50 du kích. Trong các hãng xưởng của TP. Mỹ Tho cũng lập đội tự vệ vũ trang để chuẩn bị khởi nghĩa.
Các đội du kích thường xuyên luyện tập vào ban đêm. Ở vùng sâu luyện tập cả ban ngày. Hàng chục lò võ được mở ra ở tất cả các quận để cho du kích, thanh niên đến luyện tập.
Tỉnh mở lớp đào tạo cán bộ quân sự tại căn cứ, rồi tỏa về các quận, làng huấn luyện lại. Nội dung học tập quân sự gồm những động tác cơ bản, học bắn súng, học kỷ luật tạm thời của du kích, cách đánh du kích, công tác phá hoại.
Gần ngày khởi nghĩa, Tỉnh ủy lập thêm các ban giúp cho Ban khởi nghĩa tỉnh như Ban Tham mưu, Ban tác chiến, Ban Binh vận, Ban hậu cần, Cứu thương…
Trong công tác lãnh đạo, tất cả các quận, cơ sở đều quy về một mối do Tỉnh ủy và Ban khởi nghĩa chỉ huy. Riêng chi bộ làng Thanh Bình, Trung Hòa, Mỹ Tịnh An, Tân Bình Thạnh, Phú Kiết do sự khủng bố của địch đầu năm 1940 đã bị đứt liên lạc với Quận ủy Chợ Gạo, nên các đồng chí đã bắt liên lạc với Tỉnh ủy Tân An và được Tỉnh ủy Tân An cử người về tận nơi giúp đỡ. ( Lúc này Mỹ Tho, Tân An cùng nằm trong Liên Tỉnh ủy Mỹ Tho).
Nhìn chung công tác chuẩn bị rất sôi nổi, khẩn trương chỉ còn chờ đợi lệnh cuối cùng của Xứ ủy quyết định ngày giờ là quần chúng nổi dậy.
Mệnh lệnh của Xứ ủy gửi đến Trạm giao liên Trung Lương của Ban khởi nghĩa tỉnh vào hồi 20 giờ ngày 22-11-1940. Mệnh lệnh ghi rõ: “0 giờ ngày 23-11 sẽ đồng loạt nổi dậy đánh chiếm các đồn, thị trấn, nhà việc, cắt đứt các đường giao thông, nhất là lộ 4 Đông Dương, chặn đường không cho địch kéo về ứng cứu Sài Gòn.

Sau khi ta chiếm được Sài Gòn thì quân khởi nghĩa của Xứ sẽ kéo về tỉnh phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh chiếm tỉnh lỵ”. Lập tức bằng mọi phương tiện mệnh lệnh được chuyển đi các nơi.
Châu Thành là trọng điểm của cuộc khởi nghĩa nên hầu hết các đồng chí lãnh đạo chủ chốt tập trung chỉ huy việc nổi dậy tại đây.
Gần nửa đêm 22-11, đồng chí Nguyễn Văn Tân, nhận được lệnh khởi nghĩa. Nhờ có tập dượt từ trước, đồng chí liền tập trung đội cảm tử và một số đồng chí trung kiên trang bị vũ khí thô sơ; vào 1 giờ sáng ngày 23-11, lực lượng khởi nghĩa đánh đồn Thạnh Phú, dưới sự chỉ huy của đồng chí Danh ta chiếm đồn rất nhanh gọn.

Lúc này chi bộ làng Tam Hiệp cũng điều du kích và quần chúng các làng Thân Cửu Nghĩa, Long An, Trung An kéo đến tập trung tại làng Nhơn Huề phối hợp với lực lượng của đồng chí Mười Thập mang theo cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, vũ khí thô sơ từ rừng Ba U nổi trống mõ, pháo tre kéo ra đánh đồn Chợ Bưng.
Sau khi phá xong đồn Thạnh Phú, lực lượng kéo sang xóm Vựa phối hợp với lực lượng của đồng chí Bảy Ghè và các đồng chí chỉ huy các làng Nhị Bình, Long Định, Long Hưng để đi đánh cầu Long Định. Tại đây nghĩa quân đã chạm trán với chủ quận Cai Lậy Nguyễn Văn Tâm đang chỉ huy một đơn vị đi tuần bằng ô-tô.

Ta đã kịch chiến 1 giờ với địch, kết quả ta thu hai súng lửa nhưng ta có 2 chiến sĩ hy sinh và 16 bị thương. Ở Bàn Long, Bình Trưng, Nhị Bình nghĩa quân chiếm phá việc, đốt sổ sách, phá kho lúa của địa chủ Nguyễn Thành Long chia cho dân.
Trong khi quần chúng khắp nơi nổi dậy, trước trụ sở của Ban Chỉ huy khởi nghĩa tỉnh ở đình Long Hưng lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh phấp phới tung bay cùng với một tấm băng có khẩu hiệu: “Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc”, tạo khí thế cách mạng rất uy nghi, phấn khởi, biểu hiện chủ quyền cách mạng của nhân dân.
Sáng 23-11, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Tân Lý Tây, Tân Hương, Tân Lý Đông mấy trăm quần chúng được trang bị gươm, giáo, mác kéo đến tập trung ở gò Ông Lãnh, rối tiến thẳng đến nhà việc Tân Lý Tây.

Khi nghĩa quân kéo ra tới Đường số 4 thì đồn Tân Hiệp đã được mật báo, chúng vội cho lính đến ứng cứu, nhưng vì thấy nghĩa quân quá đông nên chúng hoảng sợ bỏ chạy.
Sau khi phá xong nhà việc Tân Lý Tây, nghĩa quân kéo về Tân Lý Đông, cửa ngõ căn cứ Ba U, hạ cây cản đường, tổ chức canh gác, tịch thu lúa của địa chủ Xập chia cho dân nghèo, thu súng của hương cả Trưng ở làng Hòa Tịnh, giải tán tề các làng chung quanh vận động quần chúng ủng hộ nghĩa quân.
Đêm 22 và ngày 23-11 và những ngày tiếp sau thật sôi động, chính quyền cách mạng các làng Song Thuận, Bình Trưng, Kim Sơn đã treo cờ đỏ sao vàng trước trụ sở.

Riêng trụ sở cách mạng làng Vĩnh Kim còn treo khẩu hiệu “Việt Nam dân chủ cộng hòa quốc”, một số nơi treo cờ búa liềm của Đảng.
Cuộc nổi dậy ở các nơi do chi bộ Đảng lãnh đạo.
Tuy nhiên trong cao trào cách mạng dâng lên, nhiều xã chưa có chi bộ Đảng như Tân Hội Đông, Phú Mỹ, Phú Phong, Bàn Long… hoặc như Tân Hòa Thành mới có nòng cốt chứ chưa có đảng viên quần chúng đã xuống đường thị uy, trương cờ, biểu ngữ, phá tề trấn áp bọn phản động giữ trật tự trị an trong làng xã.
Ở Cai Lậy, mệnh lệnh khởi nghĩa được chuyển tới Mỹ Hạnh Đông lúc 2 giờ khuya ngày 23-11 và chuyển gấp đến tất cả các nơi. 3 giờ sáng, đồng chí Lê Văn Thơ, triệu tập Chi bộ Mỹ Hạnh Đông để nghe đồng chí Phan Văn Khỏe, Bí thư Tỉnh ủy truyền đạt mệnh lệnh khởi nghĩa và động viên các đồng chí quyết tâm thi hành nhiệm vụ.
Ngay sau đó trống mõ khắp nơi nổi lên, khoảng 400 quần chúng tập hợp có du kích dẫn đầu tiến thẳng tới nhà việc Mỹ Hạnh Đông, đốt hết sổ sách, trương cờ khẩu hiệu…
Quần chúng kéo tới mỗi lúc một đông, khí thế đang lên như nước tràn bờ, 4 tên tề có tội là Hương thôn Vẹn, chủ Thơ, chủ Nuôi, hào Vương bị bắt, nhân dân quyết định tử hình tên Nuôi vì hắn có nhiều nợ máu với nhân dân, các tên khác sau khi giáo dục ta đã tha về.

Cùng lúc đó ở Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Trung quần chúng nổi dậy phá nhà việc đốt sổ sách, sau đó nhập với đoàn biểu tình của xã Mỹ Hạnh Đông rầm rập kéo về phía quận lỵ.
Lúc 22 giờ ngày 23 - 11, nghĩa quân chiếm nhà việc Hưng Long, rồi chiếm chợ Ba Dừa. Chợ Hưng Long trở thành chỉ huy sở của Ban khởi nghĩa. Lúc này quần chúng làng Cẩm Sơn tập hợp hàng ngũ chỉnh tề vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu: Đánh đổ thực dân Pháp, phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân - Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm!
Lúc 23 giờ chi bộ làng Long Tiên lãnh đạo quần chúng nổi dậy phá nhà việc, đốt hết sổ sách, mít tinh biểu tình thị uy.Tại Nhị Quý, Phú Quý, Mỹ Long, Tân Hội nổi trống mõ chiếm nhà việc, đốt hết sổ sách, sáng 24 mít tinh trước nhà việc có treo cờ, khẩu hiệu.
Theo lệnh của Quận ủy Cai Lậy, khoảng 200 nghĩa quân của làng Tân Phú tập hợp tại nhà việc để kéo đi chiếm dinh quận. Trên đường ra lộ Đông Dương nghĩa quân Tân Phú phối hợp với nghĩa quân Điềm Hy đốt đồn cảnh sát, khi nghĩa quân tới ngã ba Nhị Quý thì gặp lính của Quận Tâm đi bằng xe hơi tới, chúng nổ súng, nghĩa quân phải tản ra rút về Tân Hội.
Ở Cái Bè, các đồng chí chọn vùng Hậu Mỹ - Phụng Thớt làm điểm khởi nghĩa vì ở đây có 2 chi bộ mạnh lãnh đạo và vùng này giáp ranh Đồng Tháp Mười, nếu gặp khó khăn có thể rút vào Đồng Tháp Mười bảo toàn lực lượng.
Khi nhận được lệnh khởi nghĩa, chi bộ Hậu Mỹ, Phụng Thớt đã huy động quần chúng có trang bị vũ khí thô sơ, mang cờ, khẩu hiệu chia làm 3 hướng rầm rập tiến về chợ Cậu 17 (nay là chợ Hậu Mỹ Bắc A). Khí thế của quần chúng rất cao, bọn tề ấp, làng, địa chủ hoảng sợ bỏ trốn.
Tại chợ Cậu 17, quần chúng nghe đọc hiệu triệu nổi dậy khởi nghĩa rồi chuyển thành cuộc biểu tình thị uy rầm rập kéo đi phá nhà việc tại Cà Dâm. Quần chúng các làng Hội Cư, Mỹ Thiện, Mỹ Đức Tây, Mỹ Lợi đều có người tham gia vào đoàn biểu tình, đi phá kho lúa của Đốc phủ Mầu, Hội đồng Bền, Hương sư Chỉnh, cả Kiệt, huyện Thạnh…
Sáng 24-11, dưới sự chỉ huy của đảng viên, quần chúng biểu tình tuần hành dọc theo kênh Bằng Lăng, kinh Tổng đốc Lộc (nay là kinh Nguyễn Văn Tiếp), kinh Hầm Dồ, kinh phủ Huyện, từ Thiên Hộ đi lên Ngã Sáu.

Tên Bửu, chủ quận chỉ huy một đơn vị lính dùng ghe máy chạy theo kinh 28 hạ lệnh cho lính bắn vào đoàn biểu tình làm cho 3 người chết. Nhưng xuồng của quần chúng vẫn kéo ra bao vây ghe máy của lính, trước khí thế của quần chúng, tên Bửu vội cho lính rút lui.
Tại quận Chợ Gạo, sau khi nhận được lệnh khởi nghĩa, đồng chí Sáu Hòa, Bí thư Quận ủy liền chỉ đạo Ban khởi nghĩa quận sáng ngày 23-11 huy động quần chúng các làng Quơn Long, An Thạnh Thủy, Bình Phan, Bình Ninh, Bình Phục Nhứt đi biểu tình thị uy, đánh trống mõ, rải truyền đơn gây không khí sôi sục cách mạng.
Cũng trong ngày, Ban khởi nghĩa tổng Thanh Quơn huy động quần chúng các làng Thanh Bình, Trung Hòa, Mỹ Tịnh An, Tân Bình Thạnh, Phú Kiết biểu tình thị uy, phá nhà việc đốt hết hồ sơ, sổ sách, rồi kéo ra phá cầu Tịnh Hà, truy lùng bọn tề có tội ác, chúng hoảng sợ bỏ chạy, nghĩa quân bắt được một số đưa ra giáo dục rồi tha cho về, họ hứa không dám chống lại cách mạng.
Ngay tối hôm đó, trên 1200 quần chúng 5 làng biểu tình thị uy kéo tới Miếu Điền thuộc xã Mỹ Tịnh An dự mít tinh. Tiếng trống mõ, tù và, pháo tre và tiếng hò reo nổi lên liên hồi. Đuốc đốt sáng một góc trời.
Ở Gò Công, quần chúng ấp Đồng Ninh B (Đồng Sơn) nổi dậy giành chính quyền cùng với làng Quơn Long (quận Chợ Gạo) còn các làng khác như: Bình Phú Tây, Vĩnh Thạnh, Long Chánh…quần chúng đi cắt dây điện từ Ngã ba Bình Công đến Ngã ba Vĩnh Trị, rải truyền đơn tại các làng Tân Hòa, Tân Thành, Tân Niên Tây trước dinh chủ tỉnh Gò Công.
Tại quận An Hóa, ta chưa lập được Quận ủy, chỉ có sự hướng dẫn của một số đồng chí ở các làng Lộc Thuận, Phú Vang, Vang Quới quần chúng đã may sẵn 8 lá cờ đỏ sao vàng, in nhiều truyền đơn, khẩu hiệu, lập được 2 đội tư vệ, sắm vũ khí…nhưng lúc nổ ra khởi nghĩa không nhận được lệnh nên không có nổi dậy.
Vào lúc nhân dân nổi dậy, tại Mỹ Tho địch có 2 đại đội lính tập, một số lính mã tà, cảnh sát. Sau đó chúng được tăng cường thêm mấy trung đội lính lê dương, 3 tàu hải quân.Tuy địch cố gắng tìm mọi cách ngăn chặn, đối phó nhưng vì cao trào đang lên mạnh và rộng nên địch không đủ sức dập tắt ngay cuộc khởi nghĩa.
Vì vậy trong 8 ngày đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Phan Văn Khỏe, làm Trưởng ban, nghĩa quân tỉnh, quận, cùng 75 làng đã nổi dậy đánh và đốt hàng loạt đồn của địch, diệt 1 đội sếp, 2 lính mã tà, 1 cảnh sát, 8 tề và làm bị thương 11 tên khác, thu 37 súng các loại, chưa kể số súng do ta vận động thu được, đánh và phá sập hàng loạt cầu, hầu như tất cả các cầu trên trục lộ đều bị phá hủy; đào hàng trăm cây số đường bộ, tháo dỡ một đoạn đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho, hạ hàng trăm cột bê-tông, làm hỏng hoàn toàn 4 đường điện thoại, hệ thống thông tin liên lạc của địch bị tê liệt hoàn toàn, đốn cây làm hàng rào cản kinh, cản sông và đường bộ không cho tàu và xe địch lưu thông.
Quần chúng đã thành lập chính quyền cách mạng ở tỉnh và nhiều làng trương cờ đỏ sao vàng, cờ Đảng búa liềm và khẩu hiệu trước trụ sở, thực hiện việc trấn áp bọn phản cách mạng. Hội đồng tòa án tỉnh cũng được thành lập, gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Ghè, Đặng Văn Hiệp, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Thị Thập… đặt trụ sở tại Đình Long Hưng và lưu động ở một số làng.
Trong suốt thời gian tồn tại, Tòa đã đưa Hương quản Sâm ra xử cảnh cáo, nhưng lúc tan ra về bị nhân dân giết. Hầu hết các trường hợp khác tòa đều giáo dục khoan hồng nhằm làm cho họ ăn năn hối cải là chính. Riêng phiên tòa tại làng Bình Trưng, có Bí thư chi bộ Vĩnh Kim xử, nhân dân đã biểu quyết tử hình tên Cai Vi.
Nhận thấy Mỹ Tho trong tình thế nguy ngập, ngày 30-11 tên Thống đốc Nam kỳ thay tên chủ tỉnh Mỹ Tho Gô-chi-ê (Gauthier) bằng tên Đuy-phua (Dufour- sĩ quan tình báo) và hôm sau 1-12, chúng ra lệnh tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn Lê Dương thứ 5 cùng với 2 đại đội mật thám và bọn mã tà sẵn có ở Mỹ Tho với hơn 1.000 tên được trang bị hiện đại, mở cuộc hành quân càn quét chống lại cuộc khởi nghĩa.
Chúng đã tiến hành càn đi quét lại, khủng bố nhân dân khắp nơi hết sức dã man. Chúng đã triệt hạ cả một vùng cù lao ngũ Hiệp và ném bom ở chợ Giữa (Vĩnh Kim) lúc đang họp chợ; ở Tân Hương, lính lê dương bắt được hai vợ chồng, chúng hiếp người vợ trước mặt chồng. Có người mới sinh con chỉ vài ngày đã bị chúng hiếp cho đến chết. Có nơi địch bắt người rồi cho lính về đốt nhà của người bị bắt.
Ngày 04-01-1941, được 1 tên phản bội chỉ điểm, địch tập trung bao vây lực lượng của ta ở vùng đồng Cây me, gần gò Trâm bầu.

Biết khó có thể chống lại quân địch, các đồng chí lãnh đạo chủ trương cho anh em du kích phân tán rút ra khỏi vòng dây, chỉ còn lại các đồng chí: Lê Văn Giác, Bí thư chi bộ Long Hưng, Nguyễn Văn Ghè, Tỉnh ủy viên; Lê Văn Quới, Quận ủy viên Châu Thành và đồng chí Nguyễn Văn Quân, cán bộ Quận ủy Châu Thành phụ trách chi bộ làng Bình Trưng ở lại.
Vòng vây của địch siết chặt, 4 đồng chí rút lên Gò Cây me chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Chỉ còn lại cây gươm.

Các đồng chí thề không để giặc bắt. Đồng chí Quới lần lượt cắt cổ 3 đồng chí mình rồi tự sát, đồng chí Quới chết tại chỗ, còn 3 đồng chí Giác, Ghè, Quân hấp hối, thực dân pháp bắt 3 đồng chí đưa ra tòa án binh kết án tử hình đồng chí Giác và đồng chí Ghè. Còn đồng chí Huân địch kết án chung thân khổ sai và đày đi Côn Đảo.
Ngay trong lúc địch càn quét nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng đã xuất hiện như: Em Trọng ở Vĩnh Kim mới 15 tuổi đã dũng cảm hy sinh không khai báo một lời trước sự tra tấn dã man của địch, đồng chí Huỳnh Văn Hành, Bí thư chi bộ làng Long Định trước khi chết còn lừa địch để tiêu diệt; đồng chí Ba Cò bị địch vây quét, leo lên ngọn dừa trốn tránh, biết không thể thoát, đồng chí bình tĩnh giải thích cho binh lính địch và đồng chí đã anh dũng hy sinh.
Nhiều quần chúng trung kiên cũng tỏ rõ tinh thần kiên cường bất khuất như chị Thanh bị địch tra tấn dã man nhưng vẫn không khai người cán bộ chị đang giấu trong hầm bí mật.Và hàng trăm, hàng ngàn đồng bào, đồng chí khác đã kiên cường giữ khí tiết cách mạng trong nhà tù, trong xà lim, án chém.

Và như chị Thẩm, một quần chúng nghèo, khi cuộc khởi nghĩa thất bại được giao giữ nửa cán dù chứa vàng, chị đã tìm cách giữ gìn nguyên vẹn, đến Cách mạng Tháng Tám thành công đem nộp lại cho UBND cách mạng.
Năm tháng sẽ qua đi, nhưng khí thế hào hùng, tinh thần chiến đấu oanh liệt và ý chí quật cường của đồng bào và chiến sĩ trong Khởi nghĩa Nam kỳ mãi mãi vang vọng trong lòng mỗi người chúng ta.

Kỷ niệm Nam kỳ khởi nghĩa, chúng ta vô cùng tự hào về khí phách anh hùng của cha anh mình, càng trân trọng vô cùng thành quả cách mạng hôm nay, thành quả được đổi bằng biết bao xương máu của các thế hệ cha anh, chúng ta quyết tâm củng cố và phát huy truyền thống cách mạng đó, ra sức thi đua lao động sản xuất, học tập, công tác, giữ vững ổn định chính trị, đẩy mạnh công cuộc đổi mới vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh”.
Nguồn:
1/Lịch sử Khởi nghĩa Nam kỳ (NXB CTQG HN 2002)
2/Những mẫu chuyện về cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ ( Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang biên soạn và XB tháng 11-1990)
Theo Ấp Bắc Online

TAND Mỹ Tho trong "bão lửa" Nam Kỳ khởi nghĩa


Congly.vn - 1 giờ sáng 23-11-1940, khởi nghĩa Nam Kỳ tại Mỹ Tho, Tiền Giang bùng nổ. Với lòng căm thù sôi sục bọn cướp nước, nhân dân Mỹ Tho, Gò Công đã hạ hoặc bức rút đồn bót, với sự xuất hiện lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới.

Chỉ trong vài ngày, lực lượng cách mạng đã giải phóng được 54 xã. Uỷ ban nhân dân cách mạng được thành lập, trụ sở đóng tại Đình Long Hưng, xã Long Hưng, huyện Châu Thành. Việc làm đầu tiên của chính quyền cách mạng là thành lập Hội đồng TAND cách mạng để xét xử bọn phản cách mạng. Với sự kiện đó, lần đầu tiên ở Nam bộ và cũng là lần đầu tiên trong cả nước, một TAND cấp tỉnh được thành lập là TAND Mỹ Tho…
Hội đồng TAND cách mạng Mỹ Tho gồm có bà Nguyễn Thị Thập (sau này là Đại biểu Quốc hội Việt Nam và là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam từ năm 1956-1974), ông Lê Văn Giác (Bí thư Chi bộ Long Hưng), ông Lê Văn Quới (Quận ủy viên Châu Thành), ông Đặng Văn Hiệp, ông Nguyễn Hữu Thường, ông Trương Văn Ti... Trụ sở Tòa án cách mạng được đóng tại đình Long Hưng. Hội đồng xét xử thường tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động tại các xã. Nhiều vụ án nổi tiếng đã được xét xử kịp thời như vụ án tên Hương quản Sâm ở Long Định. Với tội ác gây ra cho nhân dân và cách mạng, Tòa án đã tuyên bản án tử hình đối với Hương quản Sâm. Nhiều đối tượng phản động, chống phá cách mạng bị trừng trị nghiêm khắc với những phiên tòa xét xử công khai với sự tham dự của đông đảo quần chúng nhân dân. Đã bao nhiêu năm, người dân phải chịu sự cai trị bất công, tàn bạo của những kẻ áp bức, bị xử tù dưới Tòa án thực dân phong kiến, nay cách mạng bước đầu thành công, nhân dân không khỏi tự hào khi có chính quyền nhân dân, Tòa án nhân dân. Nhân dân có người đại diện tham gia luận tội những kẻ phản quốc, áp bức bóc lột.
 
Bà Nguyễn Thị Thập, một thành viên Hội đồng TAND cách mạng Mỹ Tho
 
Bên cạnh việc trừng trị những kẻ bán nước, Tòa án cách mạng đã cảm hóa những đối tượng lầm đường lạc lối, trong đó có bản án cảnh cáo Cai Vi ở xã Vĩnh Kim, cảnh cáo Cai Trí ở xã Long Hưng… Cai Trí còn gọi là Bùi Văn Trí, giữ chức đồn trưởng Thạnh Phú (Châu Thành), Bếp Khương, tức Lê Văn Khương bị bắt trong ngày 23-1940 tại đồn Tam Hiệp. Phiên tòa xét xử Cai Trí diễn ra vào ngày 30-11-1940 tại đình làng xã Long Hưng, với sự tham dự của cả ngàn người dân. Họ chờ phiên tòa với ánh mắt háo hức. Dưới lá cờ Tổ quốc treo trên mái đình, một cán bộ cách mạng bước ra long trọng tuyên bố Hội đồng Tòa án tỉnh Mỹ Tho mở phiên tòa xét xử những tên tay sai của giặc Pháp có tội với nhân dân. Người dân ai cũng háo hức muốn nhìn cho rõ “Tòa” là những ai. Từ trong đình, các đồng chí được cử làm HĐXX bước ra gồm bà Nguyễn Thị Thập, ông Nguyễn Văn Quới, ông Lê Văn Giác, ông Đặng Văn Hiệp, ông Nguyễn Văn Thòng, ông Trương Văn Ty. Họ đều hồi hộp và cảm động trước những lời động viên của bà con. Họ đã luận tội Cai Trí, Bếp Khương về hành vi đi lính, làm tay sai cho giặc áp bức nhân dân. Các bị cáo đã nhận thức được tội lỗi và được nhân dân tha chết, cho một cơ hội “cải tà quy chính”. Sau khi được bà con tha tội, Cai Trí òa khóc: “Tôi đời đời đội ơn Tòa án cách mạng, đội ơn bà con”. 
 
Mặc dù Tòa án nhân dân Mỹ Tho trong giai đoạn Nam Kỳ Khởi Nghĩa chưa được tổ chức và hoạt động quy củ nhưng thực sự là một Tòa án cách mạng. Hội đồng Tòa án đã căn cứ vào các chính sách cụ thể của Xứ ủy đề ra trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cụ thể là “Khoan hồng với người lầm lạc; Bảo vệ quyền lợi nhân dân; Tôn trọng tự do tín ngưỡng; Hủy bỏ các khế ước giao kèo có tính chất áp bức nhân dân; Tịch thu địa bạ của bọn địa chủ phản động để luận tội và kết án”. TAND Mỹ Tho đã thực hiện đúng chính sách của Đảng đề ra trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thể hiện rõ sự công bằng và nhân đạo. Hoạt động xét xử công khai của Tòa án cách mạng có sự tham dự của đông đảo quần chúng và người dân lần đầu tiên trong đời mình được trực tiếp tham gia luận tội đã thể hiện rõ tính dân chủ của chính quyền cách mạng. Các phiên tòa đều như những buổi huấn luyện chính trị, có tác dụng tốt và có ảnh hưởng lâu dài đến thời kỳ kháng chiến sau này.
 
Trước hoạt động của chính quyền cách mạng tại Mỹ Tho, thực dân Pháp đã điên cuồng đàn áp. Ngày 30-11-1940, Thống đốc Nam Kỳ ra lệnh tiểu đoàn 3 cùng 2 đại đội mật thám và hơn 1.000 lính được trang bị vũ khí hiện đại, mở cuộc hành quân càn quét nhằm dìm cuộc khởi nghĩa tại Mỹ Tho vào biển máu. Chúng khủng bố nhân dân hết sức dã man, xóa sổ cả vùng cù lao Ngũ Hiệp và ném bom vào chợ Giữa (Vĩnh Kim) trong lúc nhân dân đang họp chợ. Ngày 4-1-1941, địch tập trung bao vây lực lượng cách mạng tại vùng đồng Cây Me, gần gò Trâm Bầu. Biết khó có thể chống lại quân địch, các cán bộ lãnh đạo chủ trương cho anh em du kích phân tán rút ra khỏi vòng vây, chỉ còn lại hai người từng tham gia hội đồng Tòa án cách mạng là ông Lê Văn Giác, ông Lê Văn Quới và các ông Nguyễn Văn Ghè, Tỉnh ủy viên, ông Nguyễn Văn Quân, cán bộ Quận ủy Châu Thành. Bốn người đã rút lên gò Cây Me dũng cảm chiến đấu đến cùng. Khi hết đạn, ông Quới cùng các đồng đội tự sát để tránh rơi vào tay địch. Tuy nhiên, ông Giác, ông Ghè và ông Quân chỉ bị thương nặng nên bị thực dân Pháp bắt. Bọn chúng kết án tử hình đối với ông Giác và ông Ghè. Còn ông Huân địch kết án chung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo.
 
Mặc dù bị đàn áp dã man nhưng qua hoạt động của chính quyền cách mạng và Tòa án cách mạng trong “bão lửa” Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nhân dân Mỹ Tho đã vững vàng niềm tin, nhiệt huyết tham gia cách mạng để giành chính quyền trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945. 
 
An Dương

Khởi nghĩa Hòn Khoai phát súng cuối cùng của Cuộc khởi nghĩa Nam bộ

    Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 đã diễn ra với diện rộng ở các tỉnh Nam Bộ. Đây là cuộc khởi nghĩa có ý nghĩa rất quan trọng như Bác Hồ đã đánh giá… Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của các dân tộc ở Đông Dương… 
    Cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai nằm trong bối cảnh chung của Nam Kỳ khởi nghĩa, là nơi diễn ra sau cùng của các điểm nổi dậy ở Nam Bộ. Bởi vì, Cà Mau là nơi xa xôi, đồng thời nhận lệnh khởi nghĩa chậm của Xứ ủy (so với các tỉnh), nhưng với tinh thần tiến công, Tỉnh ủy khẩn trương khắc phục mọi khó khăn thực hiện theo tinh thần Nghị quyết của Xứ ủy.

Tượng đài Khởi nghĩa Hòn Khoai tại huyện Năm Căn.
 
    Với khí thế chuẩn bị cho khởi nghĩa, Tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức triển khai Nghị quyết của Xứ ủy đến các quận ủy, chi bộ xã và cán bộ nòng cốt đoàn thể, đồng thời lập kế hoạch thực hiện chủ trương của Xứ ủy. Đó là tiến hành củng cố xây dựng thực lực cách mạng, nhất là ở các tổ chức: Hội Công nhân phản đế, Hội Nông dân phản đế, Hội Phụ nữ và Hội Thanh niên phản đế… với mục tiêu chiến đấu là đánh đổ đế quốc và bọn vua quan phong kiến tay sai, giải phóng dân tộc… Đặc biệt là thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban Thường trực Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương:
“Không được do dự lừng chừng, phải hăng hái và cương quyết đấu tranh.
Phải trọng kỷ luật của Đảng và tuân theo, thi hành mệnh lệnh của thượng cấp.
Phải luôn siết chặt hàng ngũ Đảng và làm gương anh hùng, dũng cảm cho nhân dân trong cuộc tranh đấu giải phóng phen này”.
    Tuy lúc bấy giờ (thời gian diễn ra của khởi nghĩa Nam Kỳ) tại Cà Mau, địch tăng cường theo dõi các hoạt động cách mạng của ta ở thành thị lẫn nông thôn, nhất là những nơi địch nắm được. Nhưng với quyết tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, nhiều nơi trong tỉnh đã phát động trong nòng cốt và lực lượng quần chúng, tạo được sự hưởng ứng mạnh mẽ ở nhiều khu vực, như ở Tân Hưng Tây, Phong Lạc, Tân Hưng, Khánh Bình… các tổ chức đoàn thể như thanh niên, phụ nữ hăng hái đi luyện tập võ thuật. Có những nơi anh chị em rủ nhau đi tập mỗi ngày thêm đông. Học tập cách tuyên truyền quần chúng và hình thức rải truyền đơn, dán biểu ngữ, đặc biệt là những thao tác của quân sự như phóng lao, tầm vông, ném chất nổ, bắt trói bọn tề… nhiều nơi tổ chức luyện tập rất say sưa, tạo thành khí thế cách mạng sôi nổi của những ngày khởi nghĩa Nam Kỳ ở tỉnh. Như đội du kích ở Tân Hưng Tây luyện tập cả ngày đêm, đây là đội du kích được thành lập đầu tiên trong tỉnh, cũng là lực lượng tiền thân võ trang tỉnh nhà. Tuy những ngày đầu mới thành lập, trang bị còn thô sơ, nhưng các đồng chí rất phấn khởi, hăng hái, sẵn sàng cùng quần chúng nổi dậy đập tan xiềng xích. Và cũng đội du kích này, được Tỉnh ủy chọn là lực lượng xung kích kết hợp với lực lượng khởi nghĩa Hòn Khoai - khi về đất liền tiếp tục giải phóng Năm Căn; là điểm khởi nghĩa ở khu vực 1 do đồng chí Quách Văn Phẩm - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo. Ở khu vực 2 thị trấn Cà Mau (nay là Tp.Cà Mau), đồng chí Trần Văn Thời - Bí thư Tỉnh ủy, là Trưởng Ban khởi nghĩa của tỉnh chỉ đạo trực tiếp; khu vực 3 thị xã Bạc Liêu do đồng chí Trần Phán - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, cùng với đồng chí Trần Văn Sớm, Nguyễn Văn Đáng phụ trách.
Đảo Hòn Khoai. 
    Tỉnh ủy chọn Hòn Khoai làm điểm mở đầu cho cuộc khởi nghĩa trong tỉnh, vì ở đây ta có khả năng giành thắng lợi trọn vẹn, nhằm tạo khí thế ban đầu và có thêm vũ khí trang bị cho lực lượng khởi nghĩa. Phải nói, chuẩn bị cho khởi nghĩa ở tỉnh Bạc Liêu (nay là hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu) Tỉnh ủy đã chuẩn bị khá chu đáo về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, cho nên khí thế chuẩn bị khởi nghĩa lúc này khá rầm rộ. Nhưng do cục diện chung, nhiều nơi đã nổ ra khởi nghĩa từ ngày 23-11-1940 và phát triển dần ra khắp các tỉnh Nam Bộ, vì thế yếu tố bất ngờ ở tỉnh không còn nữa. Địch bắt đầu canh gác nghiêm ngặt và tập trung chuẩn bị đối phó, cho nên các điểm ở đất liền ta không nổ ra được. Còn ở điểm Hòn Khoai vẫn tiếp tục nổ ra như kế hoạch đã định.
    Vào 21 giờ đêm 13-12-1940, đồng chí Phan Ngọc Hiển và đồng đội thực hiện nhiệm vụ của Tỉnh ủy giao khởi nghĩa Hòn Khoai đã giành thắng lợi, giết tên sếp đảo Ô-li-vi-ê và thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Đến 5 giờ sáng ngày 14-12, đoàn khởi nghĩa cùng với quần chúng xuống ca-nô Po-lo-ô-bi và ghe đánh cá chạy về đất liền, trương cờ đỏ búa liềm và tấm băng mang dòng chữ: “Mặt trận Dân tộc phản đế muôn năm”. Khi đoàn quân khởi nghĩa về đất liền không liên hệ được Ban chỉ đạo khởi nghĩa của tỉnh, đồng chí Phan Ngọc Hiển đã linh hoạt dẫn đoàn quân khởi nghĩa đánh tiếp quận Kiểm lâm của Pháp ở Thủ Tam Giang vào lúc 9 giờ sáng ngày 15-12. Tên đốc Đông (coi việc quản lý rừng) ở khu vực Tân Ân khiếp sợ nộp toàn bộ vũ khí cho đoàn quân khởi nghĩa. Đây là chiến thắng thứ hai của đoàn quân khởi nghĩa đã giành thắng lợi ở mũi đất tận cùng của Tổ quốc, cũng là phát súng cuối cùng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.  
    Chiến thắng cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai tuy nổ ra sau cùng của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, nhưng nó để lại những bài học quý báu và ý nghĩa sâu sắc cho Đảng bộ và quân dân tỉnh nhà. Đó là tinh thần vượt khó khăn, nghiêm túc chấp hành Nghị quyết, chủ trương của Đảng. Đồng thời biết dựa vào quần chúng để vận động cách mạng (từ không đến có) nhằm tạo thế, tạo lực mới đảm bảo cho giành thắng lợi; đặc biệt là biểu hiện được ý chí cách mạng và lòng tin vào lý tưởng để thực hiện Nghị quyết của Đảng. Và, nó còn có ý nghĩa to lớn là cổ vũ phong trào cách mạng trong tỉnh, phát huy được truyền thống yêu nước và tinh thần quật khởi của dân tộc ta, đồng thời còn đánh dấu sự trưởng thành của Đảng bộ về tư tưởng, chính trị và tổ chức trong lãnh đạo quần chúng đấu tranh cách mạng.
    Những bài học và ý nghĩa đó vẫn còn có giá trị đối với Đảng bộ và quân dân tỉnh nhà vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
HỮU THÀNH
Ảnh: THANH DŨNG

Khởi nghĩa Nam kỳ ở An Giang:Kỷ niệm 60 năm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940 – 23/11/2010)

(Cổng TTĐT AG)- Tháng 9/1939, cuốn vào vòng xoáy chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp vừa phải chống trả với quân đội Đức tại chính quốc, vừa đề phòng quân đội Nhật tấn công Đông Dương và còn phải lo đối phó với phong trào cách mạng ở Việt Nam. Thực dân Pháp đã vơ vét sức người, sức của để phục vụ cho chiến tranh, đồng thời cố bóp chết cách mạng Việt Nam.
Nhằm đủ sức đáp ứng cuộc chiến đang ngày càng lan rộng, chính quyền hai tỉnh Long Xuyên- Châu Đốc tăng cường thu gom các loại thuế, phạt vạ, sưu dịch điều tăng; hàng hóa thiết yếu như dầu lửa, thuốc trị bệnh…hết sức khan hiếm đã đưa cuộc sống nhân dân càng thêm điêu đứng. Cán bộ đảng viên và quần chúng cách mạng bị khám xét, lùng sục  truy bắt hằng ngày.

Thực hiện chủ trương của Xứ ủy về việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đồng chí Lương Văn Cù Bí thư Liên tỉnh ủy Long Xuyên triệu tập cuộc họp tại nhà ông Nguyễn Văn Bội ở xã Kiến An, quận Chợ Mới Hội nghị đề ra kế hoạch đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng và phát triển các đoàn thể phản đế: Nông dân, Thanh niên, Phụ nữ…và quyết định thành lập Ban khởi nghĩa.

Sau hội nghị, các tỉnh ủy Long Xuyên - Châu Đốc mở rộng và phát triển đoàn thể để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa, thành lập Ban Liên lạc giữa tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên. Các đoàn thể quần chúng phát triển nhanh về số lượng, mở rộng và phát triển về tổ chức. Mặt trận ngoài lực lượng công nhân, nông dân còn tập hợp rộng rãi các tầng lớp khác. Các đội du kích tuyên truyền vận động, luyện tập võ nghệ ngày đêm, nhiều lò rèn Chợ Mới, Tân Châu làm việc suốt ngày đêm ,cung cấp vũ khí cho du kích. Quần chúng kẻ góp gạo, người góp tiền, góp tầm vông, góp sắt để rèn giáo, mác và dao găm …Phong trào đã lôi cuốn đông đảo quần chúng, cá biệt hội tề, địa chủ cũng tham gia, mạnh nhất là quận Chợ Mới, Tân Châu, Tịnh Biên.

Đêm 22 rạng 23/11/1940, Sài Gòn và các nơi khởi nghĩa. Liên tỉnh ủy Long Xuyên nhận được lệnh trễ 7 ngày. Liên tỉnh ủy cấp tốc triệu tập cuộc họp vào ngày 28-29/11/1940. Hội nghị đã thảo luận và phân tích tình hình thống nhất tiến hành khởi nghĩa toàn tỉnh vào lúc 0 giờ ngày 2/12/1940, phân công cán bộ Liên tỉnh ủy và Tỉnh ủy Long Xuyên, Châu Đốc trực tiếp triển khai kế hoạch và phụ trách các hướng tấn công.

Do cơ sở Đảng trong tỉnh phát triển không đều, hội nghị chọn điểm tấn công chính của Long Xuyên là Chợ Mới; Châu Đốc là Tân Châu. Cánh quân đánh vào vùng điểm Chợ Mới do Nguyễn Ngọc Quang chịu trách nhiệm tiến công vào dinh quận, lực lượng các xã chung quanh hợp đồng với vùng điểm nhất loạt nổi dậy. Điểm Tân Châu do Võ Quang Hẳng, …chỉ huy lực lượng xã Phú Lâm và Long Sơn đánh vào dinh quận. Lực lượng xã Hòa Hảo, Phú Thuận, Phú An do Lê Minh Quang lãnh đạo giành chính quyền. Ở vùng diện, cánh quân Long Xuyên do Nguyễn Văn Cự (Chà) chỉ huy, có nhiệm vụ đánh phà Vàm Cống chặn đường tiếp viện của địch, đốt phá trụ sở tại tỉnh lỵ. Ở Tịnh Biên, Phạm Văn Thừa lãnh đạo lực lượng Nhơn Hưng, Thới Sơn, Xuân Tô kéo ra phá rối tỉnh lỵ Châu Đốc để căng kéo lực lượng địch cho Tân Châu. Quận Hồng Ngự huy động lực lượng các xã Thường Thới, An Bình do chi bộ lãnh đạo đánh vào dinh quận.

Đúng giờ pháo lệnh nổ, vùng điểm ở Chợ Mới, đội du kích do Nguyễn Giáp chỉ huy tiến thẳng vào đốt cháy một góc Nhà dây thép (bưu điện), đập phá máy móc, triển khai đội hình chuẩn bị đánh dinh quận thì bị địch bắn chặn dữ dội không thể tiến tới được nữa, nên phải rút lui. Hai cánh quân Long Điền, Kiến An do Mai Văn Tần chỉ huy tập kết tại bãi cồn Chín Dư triển khai thành hai mũi: từ mé lộ đánh vào và từ bãi sông đánh lên đã bị phục kích, không thể đột nhập vào dinh quận được.

 Các đồng chí lãnh đạo liền triển khai dọc theo lộ Long Điền Mỹ Luông phối hợp với lực lượng Mỹ Luông, Long Điền…do Huỳnh Văn Hoành (Tám Hoành) phụ trách, cắt dây thép, đào lộ, đốn cây cản đường nhiều đoạn, đốt phá cầu Kinh Thầy Cai, kinh Cựu Hội, kinh Trà Thôn, mương Ông Cha, mương Quản Bèn, đồng thời treo cờ Đảng, cờ đỏ sao vàng trên cột dây thép và các cây lớn dài theo đường giao thông. Tại Kiến An lực lượng du kích giải tán tề xã tịch thu một súng lửa. Đồng bào các xã lân cận nổi trống mõ, đốt pháo đại, hô khẩu hiệu “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”, “Đả đảo chính quyền thực dân Pháp và tay sai, chính quyền về tay nhân dân”. Truyền đơn bươm bướm rải khắp nơi.

Trong khi đó, cánh quân Long Xuyên lại hoàn toàn bất động do Nguyễn Văn Cự không hạ lệnh hành động.

Mũi đánh vào Nhà dây thép và dinh quận Tân Châu, địch đã phát hiện đề phòng nên cũng không thực hiện được kế hoạch. Riêng lực lượng xã Hòa Hảo dưới sự chỉ huy của Lê Minh Quang đã vận động hương sư Vàng giao nộp một súng lửa và 5 viên đạn, rồi tổ chức tuyên truyền khắp xóm làng. Chi bộ các xã Long Sơn, Phú Thuận lãnh đạo nhân dân hưởng ứng nỗi dậy đốt pháo, treo băng, cờ, rải truyền đơn, đốn cây, phá lộ…

 Tại Hồng Ngự, chi bộ Thường Thới tập trung lực lượng bắt đầu từ Mương Kinh băng đồng đến một điểm cách dinh quận 200 mét chờ lệnh. Nhưng được tin mũi đánh vào Tân Châu  đã bị lộ nên lực lượng phải rút lui.

 Từ Tịnh Biên, Trung đội du kích Thới Sơn, Nhơn Hưng dưới sự chỉ huy của Phạm Văn Thừa tiến ra tỉnh lỵ Châu Đốc, nhưng trong đêm nhận được lệnh tạm dừng cuộc khởi nghĩa nên phải rút về.

 Hưởng ứng cuộc nổi dậy với các điểm chính, nhiều xã ở Châu Thành, vùng ven Châu Đốc phá cấu, treo băng cờ, nổi trống mõ, đốt pháo, rải truyền đơn làm cho bọn tề xã và binh lính hoang mang, có tên nằm im, có tên chạy trốn, hoặc ra thú tội; một số xã ta đã làm chủ hoàn toàn như: Kiến An, Hòa Hảo, An Phong…Thanh thế của Đảng và sức mạnh của nhân dân lao động được biểu dương mạnh mẽ.

 Không đánh chiếm được mục tiêu đã định, lực lượng khởi nghĩa ở Chợ Mới rút vào giồng Bánh Lái (nơi giáp ranh 3 xã Kiến An,Nhơn Mỹ,Mỹ Hội Đông) tính cách đối phó. Bọn lính Pháp huy động lực lượng đến vây chặt, nhiều đồng chí đã hy sinh và bị bắt. Trong đó có Bí thư Liên Tỉnh ủy Lương Văn Cù và các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Long Xuyên, Quận ủy Chợ Mới.

Từ ngày 10-14/12/1940, địch huy động lính tập, lính Khmer cùng lính địa phương mở cuộc ruồng bố khắp các xã thuộc quận Chợ Mới, Tân Châu, An Phong (Phong Thạnh Thượng) do chính tên Tỉnh trưởng Long Xuyên Legeat chỉ huy. Trên 200 căn nhà bị chúng đốt phá, cướp giựt, hàng trăm người bị vây bắt…Theo báo cáo của Thống đốc Nam kỳ, thì đến cuối tháng 12/1940, vùng Long Xuyên đã bắt giam 227 người, Châu Đốc 88 người, nhưng kỳ thực còn cao hơn con số đó nhiều. Hầu hết cơ sở Đảng của Long Xuyên, Châu Đốc bị tan rã. Gần như chi bộ nào cũng có đảng viên bị bắt. Nặng nhất là Chợ Mới, luôn có từ khoảng 500-700 người bị giam ở các trại tạm giam. Nhiều đồng chí lãnh đạo trong Liên tỉnh ủy và Tỉnh ủy Long Xuyên, Châu Đốc bị kêu án tử hình như Lương Văn Cù bị xử tử tại Hóc Môn (28/8/1941), Nguyễn Lương Dược, Lê Minh Ngươn, Huỳnh Văn Hây bị bắn ở núi Sam (6/6/1941), Lê Minh Quang bị xử tử ở Cần Thơ (10/6/1941). Hầu hết những người bị bắt đều bị kêu án ít nhất 5 năm tù. Các đồng chí Nguyễn Ngọc Quang, Lê Duy Hinh, Mai Văn Tần, Nguyễn Giáp, Chi…bị tù chung thân, đày đi Côn Đảo.

Khởi nghĩa nổ ra đã biểu dương tinh thần chiến đấu, ý chí thống nhất, kiên cường của người cộng sản với tấm gương trung can tiết liệt mà ai ai cũng cảm phục. Những người cộng sản và quần chúng yêu nước ở Long Xuyên, Châu Đốc đã góp máu của mình cùng với 19 tỉnh Nam kỳ viết lên những trang sử vẻ vang, làm cho những địa danh như Long Điền, Kiến An, Mỹ Luông, Nhơn Mỹ, Phú Lâm…đi vào lịch sử hào hùng để người sau luôn tự hào về mảnh đất mà mình đang sống. Cuộc khởi nghĩa còn giúp cho Đảng bộ Long Xuyên, Châu Đốc những kinh nghiệm quý báu về vấn đề thời cơ, lực lượng.v.v…để tổ chức khởi nghĩa và lãnh đạo nhân dân giành chính quyền cách  mạng tháng Tám thắng lợi không đầy năm năm sau.

Tinh thần chiến đấu anh dũng của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ mãi mãi sống trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc và của Đảng bộ An Giang.

Kim Huê

Cơ quan Liên tỉnh ủy Cần Thơ trong khởi nghĩa Nam Kỳ

ĐỊA ĐIỂM CƠ QUAN LIÊN TỈNH ỦY CẦN THƠ
(1938 -1940)
1.    Tên di tích: Địa điểm cơ quan Liên Tỉnh Ủy Cần Thơ
2.    Loại công trình:
3.    Loại di tích:
 lịch sử
4.    Quyết định: Được công nhận di tích theo quyết định số 154-QĐ ngày 25 tháng 01 năm 1991
5.    Địa chỉ di tích: xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
6.    Tóm lược thông tin về di tích
Khu di tích tỉnh ủy Hậu Giang ở xã Phú Hữu nằm trên địa phận rạch Ngã Lá, địa danh này đi vào thơ ca như những huyền thoại bất khuất của người dân Hậu Giang, đi liền với những chiến công lịch sử chói lọi như Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Tổng nổi dậy tết mậu Thân, Tổng nổi dậy mùa xuân 1975, nơi này cũng sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc vĩ đại như Trần Phú Hữu, Trần Phú Nghĩa,...
Năm 1936, Liên Tỉnh ủy Cần Thơ được thành lập do đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư, đồng chí Quảng Trọng Hoàng làm Phó Bí thư Liên Tỉnh ủy, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ. Căn cứ Tỉnh ủy được đặt ở xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, bên bờ Nam sông Hậu. Nơi đây cũng là điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đầu tiên của tỉnh Cần Thơ và miền Tây sông Hậu. Liên Tỉnh ủy Cần Thơ đặt ở vùng trọng yếu này để lãnh đạo phong trào cách mạng của 7 tỉnh đến năm 1940 (gồm: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp, Sa Đéc và Rạch Giá). Năm 1937, Chi bộ dự bị với 3 đồng chí đảng viên đầu tiên được thành lập, đến tháng 6-1938 trở thành Chi bộ Đảng chính thức ở Phú Hữu. Tại rạch Ngã Lá, ấp Phú Lễ có nhà bà Ngô Thị Lụa là cơ sở cách mạng kiên cường và đây cũng được chọn làm trụ sở của cơ quan Liên Tỉnh ủy. Cũng từ nơi này, Liên Tỉnh ủy đã trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam kỳ tại vùng Hậu Giang. Do một địa danh có truyền thống như vậy, ngày 25-1-1991, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định số 154-VH/QĐ để công nhận Phú Hữu là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Sau ngày thành lập ĐCS Việt Nam 3/2/1930, Xứ ủy Nam kỳ ra đời để trực tiếp lãnh đạo Đảng bộ và phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Nam kỳ. Để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với tình hình thực tế ở từng nơi, Xứ ủy Nam kỳ đã thành lập các Liên Tỉnh ủy.
 
          Địa điểm cơ quan Liên Tỉnh ủy Cần Thơ (1938-1940)
 Phong trào cách mạng và cơ sở Đảng các tỉnh miền Hậu Giang phát triển mạnh đòi hỏi phải thành lập các Tỉnh ủy để lãnh đạo phong trào cách mạng các địa phương.
- Năm 1938, Tỉnh ủy Cần Thơ được thành lập, do đồng chí Quản Trọng Hoàng làm Bí thư.
- Tháng 10 -1939, Quận ủy Phước Long (Rạch Giá) được thành lập. Cuối năm 1939 Quận ủy Châu Thành (Rạch Giá) được thành lập. Đó là những nhân tố quan trọng dẫn đến sự ra đời của Tỉnh ủy Rạch Giá sau này.
Từ căn cứ này, Liên Tỉnh ủy đã triệu tập Hội nghị phổ biến nghị quyết của Xứ ủy và kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa Nam kỳ cho Đảng bộ các tỉnh miền Hậu Giang.
 
                              Bà Ngô Thị Lụa - Chủ gia đình nơi
                             Cơ quan Liên Tỉnh ủy Cần Thơ đóng
Với tinh thần yêu nước của nhân dân và gia đình bà Ngô Thị Lụa ở rạch Ngã Lá, ấp Phú Lễ, xã Phú Hữu đã đùm bọc, che chở bảo vệ cho các đồng chí lãnh đạo và cơ quan Liên Tỉnh ủy an toàn hoạt động, chỉ đạo phong trào cách mạng các tỉnh miền Hậu Giang suốt thời gian từ đầu năm 1938 đến tháng 11 năm 1940.
Do thời gian và trải qua hai cuộc kháng chiến, bom đạn tàn phá ác liệt nên ngôi nhà của bà Ngô Thị Lụa và cảnh vật xưa không còn, nhưng nơi đây vẫn khắc ghi một sự kiện lịch sử sâu sắc, một truyền thống cách mạng mãi sáng chói của các tỉnh miền Hậu Giang