Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Chiếc nóp - Kỷ vật của cán bộ, chiến sĩ ở Đồng Tháp Mười thời Chín năm kháng chiến

Mùa thu rồi, ngày 23
Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Nóp với giáo mang ngang vai,
Nhưng thân trai nào kém, oai hùng… (*)
    Lời bài hát gợi nhớ về mùa Thu tháng Chín năm 1945. Đó là cuộc kháng chiến chống Pháp mở đầu với những ngày gian khổ và quyết tâm như vậy. Trong khúc ca hùng tráng ấy có hình ảnh của chiếc nóp, cây giáo là thứ vũ khí và vật dụng không thể thiếu nhất là đối với cán bộ, chiến sĩ trong những cuộc hành quân ở chiến khu Đồng Tháp Mười. Nhưng chiếc nóp có mặt ở Nam Bộ không phải trong những ngày đầu khói lửa ấy mà ở Long An nó gắn liền với nghề đan đệm bàng khi lưu dân người Việt, đến khai phá vùng đất Đồng Tháp Mười và ven sông Vàm Cỏ Đông vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVII. Đó là quá trình khẩn hoang, mở đất tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới với muôn vàn gian truân và khắc nghiệt, cùng với hành trang văn hóa mang theo bên mình là những ngành nghề truyền thống, với nguồn nguyên liệu bàng sẵn có tại chỗ, họ đã tạo ra những sản phẩm đơn giản để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hàng ngày.
    Có nhiều truyền thuyết chung quanh về chiếc nóp thật lý thú: người ta kể rằng vào thời Thiên Hộ Dương lập chiến khu kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười, có rất nhiều nghĩa quân về tụ nghĩa nơi đây vì quân số quá đông nên không có khả năng sắm mùng màn, đêm đến để bảo vệ sự tấn công của lũ muỗi, mỗi người chỉ được phát một chiếc đệm bàng để vừa nằm, vừa đắp. Vì đệm có hai đầu trống nên không tránh được muỗi đốt, còn nếu un khói thì sợ bị địch phát hiện… Trong hòan cảnh ấy, một nghĩa quân đã nghĩ ra cách xếp đôi chiếc đệm, dùng dây dừa nước để may kín ở hai đầu, chui vào nằm lật úp lại thế là không còn chú muỗi nào có thể tấn công. Sau sáng kiến ấy, chiếc đệm bàng được đặt một cái tên nôm na là chiếc xếp. Từ đó, chiếc xếp lan tràn khắp vùng Đồng Tháp Mười, theo các ghe thương hồ, những người làm thuê, làm mướn đến khắp miền Lục tỉnh. Sau đó, chiếc xếp được nói trại thành nếp vì người ta sợ phạm tội trịch thựơng với quan lớn khi nói đến từ xếp có âm trùng với chữ chef (thường để chỉ những quan Tây). Chiếc nếp lại được gọi là chiếc nốp để tránh gọi trùng với tên tục của một viên đội kiểm soát đồn ở Đồng Tháp Mười. Và cuối cùng, gọi nốp nghe khó khăn quá, dần dần người ta nói trại ra thành nóp cho tới ngày nay.
    Quá trình thay đổi ấy thật ra là những câu chuyện vui, vì nó không có cơ sở khoa học. Nhưng có một điều chắc rằng thời chiến, ở vùng Đồng Tháp Mười - Long An đã có những người mẹ, người vợ, người yêu, người chị, người em gái hậu phương, tất cả không kể ngày đêm gian khó, thâu đêm giã bàng, đương đệm, đan chiếc nóp, gởi ra tiền tuyến, tặng các anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn. Ngày nay, hình ảnh ấy vẫn còn ẩn hiện qua làn điệu dân ca Nam Bộ:
 Chiếc nóp

Nóp này em gởi tặng anh
Xuồng em bơi tận trong kinh Tháp Mười
…Gởi ba nó ngủ ấm lòng
Để đi giết giặc lập công thật nhiều
    Trở lại với chiếc nóp nó được xem là sản phẩm vật chất của nghề đan đệm bàng. Trước khi được mang tên nóp nó là chiếc đệm có chiều dài 2m, ngang 1m, được may hai đầu lại, chừa miệng để chui ra chui vào. Đây là vật dụng rất cần thiết và gắn bó một thời với đời sống của người nông dân Nam Bộ, là vật bất ly thân đối với cán bộ, chiến sĩ từng tham gia kháng chiến ở Đồng Tháp Mười. Nó có thể thay cho chiếc ba lô đựng những vật dụng cần thiết, thay cho chiếc mùng để chiến sĩ ta nghỉ ngơi sau những đêm dài hành quân và trong chiến đấu, nó có thể làm bệ tì súng, làm gối gối đầu… nóp che chở cho người lính nhiều như vậy đó và còn hơn thế nữa, nếu chẳng may, chiến sĩ hy sinh, chiếc nóp thủy chung còn thay cho quan tài đưa người xuống mộ…
    Dấu ấn một thời chiếc nóp đã đóng vai trò lịch sử của nó, như một biểu tượng của Đồng Tháp Mười. Nhắc đến nó như nhắc đến một người bạn tri ân, theo anh chiến sĩ trong những ngày mưa bom, khói lửa… Nó là những kỷ vật mang theo bên mình, đồng hành cùng chiến sĩ ta trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến.
    Ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau khi mà hoàn cảnh sống của con người ngày càng thay đổi, chiếc nóp không còn được sử dụng trong đời sống cộng đồng, nhưng người ta vẫn luôn trân trọng, nhớ về nó với vị trí xứng đáng trong chặng đường lịch sử nhất định. Hai thập kỷ đã trôi qua, chiếc nóp - người bạn đồng hành thủy chung gắn bó với nhân dân Nam Bộ, với anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn đã lùi vào dĩ vãng, nay chỉ lưu lại trong ký ức như một kỷ niệm. Điều đó không có gì lạ, chẳng ai trách nhưng chỉ mong sao đừng quên quá khứ, đùng quên chiếc nóp - kỷ vật của chiến sĩ ta thời chín năm kháng chiến ở chiến khu Đồng Tháp Mười mà nó được tạo ra từ cọng bàng của quê hương anh nước mặn đồng chua và một thời anh đã mang nặng ơn nghĩa với nó, nhờ nó mà anh sống, chiến đấu và trưởng thành./.
                                                                                       Bài, ảnh: Đỗ Thị Lan
(Bảo tàng Long An)

Tân An - Chợ Lớn trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ

Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã đi vào lịch sử như là một trong những điểm son chói lọi nhất của dân tộc trên con đường cởi ách nô lệ. Ngày 14-4-1948, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940, đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc” (Điều 1 Sắc lệnh 163-SL ngày 14-4-1948 của Chủ tịch Chính phủ), như một sự khẳng định tinh thần bất diệt của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ở vị trí sát cạnh trung tâm Sài Gòn, Long An (lúc bấy giờ là hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn) trở thành một trong những địa bàn sôi động nhất mà những địa danh lịch sử ngày nay đã trở thành di tích lịch sử-văn hóa như nhắc nhở thế hệ hôm nay không được quên khúc bi tráng đầy tinh thần quật cường này trong lịch sử dân tộc.
 Xà beng, phi tiêu, một trong số  những vũ khí của lực lượng khởi  nghĩa ở Trung Quận chuẩn bị cho  việc “đi thành”.
 Cây súng, quân khởi nghĩa do đồng chí Lê  Văn Tưởng (sau này là trung tướng Quân đội  nhân dân Việt Nam ) chỉ huy lấy được của tên thực dân Rylski ở đồn điền mía Roly, ấp  Xuân Khánh, làng Hòa Khánh (quận Đức  Hòa), ngày 26/11/1940.

Trước tình hình chuyển biến nhanh chóng của thế giới và Đông Dương sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939), Trung ương Đảng (đóng ở Sài Gòn) kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Sau nhiều lần hội nghị, nhiều tranh luận, đến tháng 3-1940, chủ trương khởi nghĩa vũ trang của Xứ ủy, do đồng chí Võ Văn Tần làm bí thư đề ra dần dần hình thành với “Đề cương khởi nghĩa Nam kỳ” được phổ biến đến các tỉnh ủy và cơ sở. Thực dân Pháp phát hiện được tài liệu của Xứ ủy, đã ra tay đàn áp dữ dội. Nhiều đồng chí của Trung ương và Xứ ủy như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến… bị bắt. Tình hình lại chuyển biến mới, Pháp đầu hàng phát xít Đức, địch ở Đông Dương hoang mang, Pháp điều quân lên biên giới Tây Nam để vãn hồi tình hình quân Xiêm do Nhựt giật dây tiến đến biên giới Lào và Campuchia; lính trại Ô Ma (có cơ sở Đảng làm binh vận) phản kháng, không chịu đi làm bia đỡ đạn, muốn nổi dậy khởi nghĩa. Tất cả diễn biến trên đã đưa đến cuộc hội nghị ở Tân Hương, Mỹ Tho (21 đến 27-7-1940) với sự có mặt của 24 đại biểu của 21/24 tỉnh thành, quyết định khẩn trương chuẩn bị mọi mặt về tổ chức, xây dựng và phát triển lực lượng, lập Mặt trận phản đế, mua sắm vũ khí, vận độntg binh lính, sắp xếp lực lượng… để chuẩn bị khởi nghĩa; đồng thời cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra miền Trung, miền Bắc hợp đồng cùng phối hợp hành động. Nhật tràn vào Lạng Sơn, đồng thời đổ quân vào Hải Phòng (9-1940), Pháp bạc nhược đầu hàng, cả nước xôn xao; khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ (27-9-1940). Ở Nam Kỳ, Xứ ủy sốt ruột chờ đợi tin đồng chí Phan Đăng Lưu, ngày 20-11-1940, Thường vụ Xứ ủy họp khẩn cấp hạ lệnh các địa phương nổi dậy vào lúc 0 giờ đêm 22 rạng 23-11-1940, hiệu lệnh: “đèn Sài Gòn tắt” hoặc có “tiếng súng nổ”. Khi đồng chí Phan Đăng Lưu bắt liên lạc được với Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ, trên đường vào Nam truyền đạt chủ trương hoãn khởi nghĩa do thời cơ chưa chín mùi, nhưng về đến Sài Gòn vào chiều 22-11-1940 thì bị địch bắt và lệnh khởi nghĩa đã truyền đi khắp các tỉnh.
 
 Cầu Bà Thơm, làng Hiệp Thạnh, nơi lực lượng khởi nghĩa quận Châu Thành đốt phá đêm 22 rạng 23/11/1940.
 Hai tỉnh Tân An-Chợ Lớn lúc bấy giờ có 7 quận (Cần Đước, Cần Giuộc,  Đức Hòa, Trung Quận (Chợ Lớn), Châu Thành, Thủ Thừa, Mộc Hóa (Tân An), 22 tổng, 128 làng. Cho đến trước thời điểm khởi nghĩa, riêng tỉnh Chợ Lớn có 37 chi bộ với khoảng 160 đảng viên, tỉnh Tân An cũng khoảng chừng ấy. Là địa bàn sát cạnh Sài Gòn, Tân An-Chợ Lớn, nhất là “Vành đai đỏ” Chợ Lớn trở nên rất nhạy cảm trước những diễn biến trong nước và thế giới, vì vậy mà không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở đây trong những ngày giữa tháng 11-1940 luôn sôi sục. Từ khi tiếp thu tinh thần chỉ đạo của hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (7-1940), việc chuẩn bị khởi nghĩa ở Tân An-Chợ Lớn được xúc tiến mạnh mẽ với các hoạt động tuyên truyền, tổ chức, chuẩn bị võ trang, binh vận, quyên tiền mua sắm vũ khí… Nhiều nơi, các lò rèn chuyển sang rèn đúc vũ khí. Đặc biệt, ở Đức Hòa, làng Hựu Thạnh trở thành “khu tạo tác” chuyên chế tạo súng thủ công, bom tay, in truyền đơn, may cờ, khẩu hiệu…Đến đầu tháng 11-1940, các ban chỉ đạo khởi nghĩa cấp quận của hai tỉnh lần lượt ra đời. Một số nơi, do đặc thù, có ban chỉ đạo cấp tổng như Cần Đước. Tổng Long Hưng Hạ ở Trung Quận, ngoài ban chỉ đạo ấp quận còn có sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng ủy và một số Xứ ủy viên và do có phong trào mạnh, 5/7 làng thành lập Ủy ban bạo động. 94/128 làng của hai tỉnh xây dựng được kế hoạch cướp chính quyền. Theo kế hoạch hành động, ngoài nhiệm vụ cướp chính quyền tại chỗ, một bộ phận của quận Thủ Thừa còn tiếp ứng cho Sài Gòn, quận Châu Thành kiêm cả nhiệm vụ đánh chiếm tỉnh lỵ Tân An. Các quận của tỉnh Chợ Lớn phải tổ chức lực lượng tiếp ứng cho Sài Gòn. Cánh Trung Quận có lực lượng Cần Đước sáp nhập tham gia phá Khám Lớn Sài Gòn. Cánh Cần Giuộc phối hợp với Bình Xuyên tiến công các cơ sở địch ở phía Nam Sài Gòn. Cánh Đức Hòa tiếp ứng cuộc nổi dậy của binh lính thành Ô Ma.
Tất cả đã sẵn sàng chờ giờ khởi nghĩa. Địch đánh hơi và dựa vào chỉ điểm, khủng bố dữ dội, ngày 22-11-1940 đã giăng bẫy trong thành phố Sài Gòn đón bắt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, ra lệnh giới nghiêm, báo động khắp nơi, huy động cả hải, lục quân trợ lực cho cảnh sát, mật thám sẵn sàng chống khởi nghĩa, dù vậy, vẫn bị bất ngờ.
 Một số đồng chí của Tân An-Chợ Lớn từ thời Nam Kỳ khởi nghĩa. Thứ tự từ trái sang phải: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Văn Chính (Chín Cần), Trương Văn Bang, Huỳnh Thị Thinh, Trần Văn Giàu, Lê Hồng Vũ, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thị Nguyệt.

Đến giờ khởi nghĩa, đèn Sài Gòn vẫn sáng, vẫn không có tiếng súng nổ, lực lượng “đi thành” được lệnh rút về chờ lệnh mới.Tuy nhiên, cuộc nổi dậy vẫn nổ ra mạnh mẽ ở khắp nơi trong hai tỉnh ngay trong đêm 22 rạng ngày 23-11-1940 và những ngày sau đó.Với nhiều mức độ khác nhau và khí thế chưa từng có, lực lượng khởi nghĩa ở các làng đã đánh đồn, tiến chiếm nhà việc, nhà hội, nổi trống mõ, tù và, đốt sổ bộ, tài liệu, đốt trụ sở, xuống đường tuần hành, mít tinh, hô hào khởi nghĩa, trừng trị tay sai ác ôn, cảnh cáo, giáo dục tề, kềm chế lính, tước súng tề, treo cờ đỏ, rải truyền đơn, ngã cây, phá đường, phá cầu, tạo chướng ngại vật, cắt dây thép, nổi lửa…, làm cho làng lính địa phương hoảng sợ lẩn trốn.Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, toàn Tân An-Chợ Lớn có 94 làng /128 làng thực hiện kế hoạch cướp chính quyền và tham gia tham gia hưởng ứng khởi nghĩa với nhiều hình thức khác, tiến đánh 12 đồn bót, chiếm và đốt phá 37 nhà việc, ngăn lộ phá cầu ở 21 địa điểm, thu 52 súng, trừng trị 49 tên ác ôn, tay sai... Nhiều vụ trừng trị ác ôn ở Đức Hòa, Cần Giuộc, Trung Quận, Mộc Hóa, diệt đồn ở Thủ Thừa, treo cờ ở Cần Giuộc… đã gây tiếng vang lớn. Từ cuộc khởi nghĩa, đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất, dũng cảm kiên cường, hy sinh oanh liệt trước pháp trường, như các đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Nhâm, Lê Văn Lao, Võ Văn Siêng (con đồng chí Võ Văn Tần), Nguyễn Văn Dường, Lê Công Phép…
Địch khủng bố dã man sau khởi nghĩa, đã đốt hàng trăm ngôi nhà, đưa quân ruồng bố, càn quét, bắn giết hàng trăm cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào, lập đài xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa ở Đức Hòa, Cần Giuộc…Dù bị dìm trong bể máu, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Tân An-Chợ Lớn đã làm kẻ thù khiếp sợ. Lần đầu tiên kể từ khi quân xâm lược đặt chân lên mảnh đất này, cùng với các tỉnh ở Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn đã làm rung chuyển từng mảng lớn chính quyền địch ở cơ sở mà thực dân Pháp và tay sai đã thống trị hơn nửa thế kỷ qua.“Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”.

       Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

Phú Hữu - quê hương Nam Kỳ khởi nghĩa

QĐND - Từ sau ngày thành lập Đảng 3-2-1930, vùng đất Hậu Giang nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long là đầu mối liên lạc giữa các tỉnh Tây Nam bộ, nên đã được Xứ ủy Nam Kỳ tập trung chỉ đạo. Năm 1936, Liên Tỉnh ủy Cần Thơ được thành lập do đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư, đồng chí Quảng Trọng Hoàng làm Phó bí thư liên Tỉnh ủy, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ. Căn cứ Tỉnh ủy được đặt ở xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, bên bờ Nam sông Hậu. Nơi đây cũng là điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đầu tiên của tỉnh Cần Thơ và miền Tây sông Hậu. Liên Tỉnh ủy Cần Thơ đặt ở vùng trọng yếu này để lãnh đạo phong trào cách mạng của 7 tỉnh đến năm 1940 (gồm: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp, Sa Đéc và Rạch Giá). Năm 1937, Chi bộ dự bị với 3 đồng chí đảng viên đầu tiên được thành lập, đến tháng 6-1938 trở thành Chi bộ Đảng chính thức ở Phú Hữu. Tại rạch Ngã Lá, ấp Phú Lễ có nhà bà Ngô Thị Lụa là cơ sở cách mạng kiên cường và đây cũng được chọn làm trụ sở của cơ quan Liên Tỉnh ủy. Cũng từ nơi này, Liên Tỉnh ủy đã trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tại vùng Hậu Giang.
Tháng 4-1940, Tỉnh ủy Cần Thơ họp nhất trí chủ trương của Xứ ủy, tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tại tỉnh nhà; khí thế chuẩn bị khởi nghĩa trong quần chúng dâng cao, thanh niên luyện tập quân sự, nhiều nơi sản xuất vũ khí thô sơ, các cuộc mít tinh diễn ra liên tục hằng đêm ở các làng, xóm… sẵn sàng bước vào cuộc khởi nghĩa.
Bia truyền thống Nam Kỳ khởi nghĩa tại xã Phú Hữu, huyện Châu Thành (Hậu Giang).
Ngày 20-11-1940, Thường vụ Xứ ủy đã ban hành Lệnh khởi nghĩa đi các nơi, quyết định toàn xứ thống nhất hành động vào đêm 22 rạng 23-11-1940. Do gián điệp chui vào tổ chức của ta nên kế hoạch bị bại lộ. Chiều ngày 22-11-1940, đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy và nhiều đồng chí trong Xứ ủy bị bắt. Tuy nhiên, giờ hành động đã đến, lòng dân đang sục sôi đấu tranh, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn nổ ra.
Tại thị xã Cần Thơ - trọng điểm số một của tỉnh, địch đã chủ động đối phó, tăng cường 200 lính Pháp và lê dương tuần tra canh gác khắp thị xã, nên cuộc khởi nghĩa không thực hiện được. Vì vậy lực lượng bên ngoài chỉ đốn cây, hạ cột dây thép, phá giao thông, treo cờ, băng khẩu hiệu… Mấy ngày sau, địch truy lùng ráo riết, hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước bị bắt giam vào lao tù và tra tấn rất dã man, trong đó có đồng chí Lê Văn Nhung – Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ và đồng chí Ngô Hữu Hạnh – Thường vụ tỉnh ủy Cần Thơ. Sau khi bắt giam, bọn chúng biết hai đồng chí là cán bộ cấp cao của ta nên đã giam hai đồng chí ở Khám lớn (Cần Thơ), sau đó chuyển lên giam ở Khám lớn Chí Hòa. Sau những trận đòn tra tấn rất dã man đối với hai đồng chí, nhưng chúng vẫn không khai thác được gì. Chiều ngày 3-6-1941, chúng quyết định chuyển về giam ở Khám lớn Cần Thơ để sáng hôm sau xử bắn, hòng đè bẹp tinh thần đấu tranh của người dân nơi đây. 7 giờ sáng, địch đưa hai đồng chí ra pháp trường, hai đồng chí kiên quyết không cho kẻ thù bịt mắt để nhìn lần cuối đồng bào và quê hương yêu dấu của mình. Đồng chí Ngô Hữu Hạnh bước lại bàn ghi mấy dòng chữ để lại cho đồng bào, đồng chí và gia đình: “Hãy vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng”. Giữa pháp trường vang lên tiếng thét của hai đồng chí “Đả đảo thực dân Pháp!”. Vào thời điểm đó bọn chúng còn đưa một linh mục đến rửa tội, hai đồng chí nói là chỉ có thực dân Pháp mới cần rửa tội, rồi cùng hát bài “Quốc tế ca” trước quân thù.
Cuộc khởi nghĩa ở Cần Thơ nói riêng, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nói chung đã nêu cao được khí thế cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cuộc khởi nghĩa đã gây một tiếng vang và tầm ảnh hưởng rộng lớn trong cả nước, là bài học quý báu về khởi nghĩa vũ trang cũng như bài học kinh nghiệm cho Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.
Phát huy truyền thống anh hùng của quê hương, xã Phú Hữu hôm nay đang thay da, đổi thịt từng ngày. Chợ Mái Dầm có “nhà việc” của thực dân Pháp trước kia bây giờ là một trạm quan trọng của giao thông đường thủy. Tàu đò từ Sóc Trăng, Đại Ngãi, Kế Sách; từ Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá chạy đường sông Hậu, ghé Mái Dầm để đưa rước khách và lên xuống hàng hóa. Phú Hữu còn là vùng quê trù phú của vườn cây ăn trái. Khi nói tới tuyến miệt vườn “Cái Răng – Ba Láng – Vàm Xáng – Phong Điền” là nói luôn tới Phú Hữu. Tại đây có trái bưởi Năm Roi đã trở thành thương hiệu có tiếng cho miền Hậu Giang. Nơi đây trở thành điểm du lịch sinh thái-về nguồn.
Từ truyền thống của căn cứ Liên Tỉnh ủy, của Nam Kỳ khởi nghĩa, những người con của Phú Hữu hôm nay đang ra sức phát huy truyền thống vẻ vang của cha ông để lại, viết tiếp những trang sử vàng của thời kỳ đổi mới; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bài và ảnh: Bùi Văn Bồng

KHỞI NGHĨA NAM KỲ NĂM 1940 Ở HÓC MÔN

KHỞI NGHĨA NAM KỲ NĂM 1940 Ở HÓC MÔN
  
             Hóc Môn, Bà Điểm, 18 thôn vườn trầu – vùng nông thôn ngoại thành nên thơ, đẹp như tranh vẽ của Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử cận hiện đại của dân tộc, bằng tấm lòng yêu nước và cách mạng của nhân dân và bằng những phong trào đấu tranh bất khuất chống áp bức xâm lược của ngoại bang. Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp ở Đông Dương đi vào con đường phát xít hóa, thẳng tay đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu họp tại Bà Điểm đã nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới, nhấn mạnh nhiệm vụ giải phòng dân tộc là hàng đầu của cách mạng Đông Dương, tập trung lực lượng chống đế quốc và tay sai, lôi kéo những phần tử tiến bộ trong giai cấp địa chủ, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Hội nghị đề ra hình thức đấu tranh: “ Bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc, song phải hết tránh những cuộc đấu tranh non, đấu tranh vô phương pháp, vô chuẩn bị”.
Tháng 6 năm 1940, chính quyền Pháp đầu hàng phát xít Đức, phản bội quyền lợi của nước Pháp. Ngày 20 tháng 6 năm 1940, hàng ngàn quần chúng  SàiGòn – Gia Định cùng binh sĩ yêu nước biểu tình đả đảo phát xít, đả đảo chính phủ Pháp phản bội lại quyền lợi dân tộc Pháp và các dân tộc thuộc địa. Hoảng sợ trước khí thế đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp tăng cường đàn áp khủng bố, lục soát trụ sở Trung ương Đảng, Thành ủy, bắt bớ giam cầm những Đảng viên Cộng sản và những người yêu nước. Các đồng chí đã bị giặc bắt như: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ , Lê Duẩn, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến…. Bên cạnh đó, tình hình sản xuất đình đốn, thất nghiệp gia tăng, giá cả tăng vọt, thuế má chồng chất, đời sống các tầng lớp nhân dân rất cơ cực, bầu không khí chính trị xã hội khắp nơi rất căng thẳng. Đảng viên và quần chúng đều mong mỏi nhân cơ hội này nổi dậy giải phóng đất nước.
Trước tình hình đó, tháng 7 năm 1940, Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng tại xã Tân Hương, Huyện Châu Thành, Tỉnh Mỹ Tho. Hội nghị Tân Huơng đã chủ trương khởi nghiã, cho thành lập các ban quân sự các cấp, cử đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư Xứ ủy (thay đồng chí Võ Văn Tần bị địch bắt) và cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Trung ương xin chỉ thị về chủ trương khởi nghiã. Thi hành Nghị quyết của Hội nghị Tân Hương, Tỉnh ủy Gia Định do đồng chí Lê Văn Khương, Thường vụ Xứ ủy kiêm Bí thư Gia Định  đã chỉ thị cho các quận, tổng thành lập các Ban quân sự, tổ chức các đội vũ trang, rèn sắm vũ khí, tập luyện võ nghệ, chuẩn bị cho khởi nghiã. Nghị quyết khởi nghiã của Xứ ủy đã làm nức lòng nhân dân Nam bộ, khắp nơi từ thành thị cho đến nông thôn, không khí chuẩn bị vô cùng sôi nổi. Ở nội thành SàiGòn, công nhân các nhà máy Bason, Fasi, bến tàu Khánh Hội, nhà đèn Chợ Quán, Trường Bá nghệ …. đều tổ chức các đội tự vệ sẵn sàng khởi nghiã. Ở nông thôn, trên các cánh đồng, vườn cây, bãi trống, các tổ chức công, nông, thanh, phụ, các tổ chức du kích tập luyện quân sự, rèn sắm vũ khí chuẩn bị  khởi nghiã, có nơi gần như công khai.
  
Tháng 9 năm 1940, Phát xít Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp đầu hàng Nhật. Trước tình hình ấy, Xứ ủy Nam kỳ triệu tập hội nghị ở làng Xuân Thới Đông, quận Hóc Môn. Hội nghị đánh giá địch có nhiều khó khăn, lung lay và hỗn độn, ta thì tổ chức chưa thật củng cố, phong trào chưa đủ mạnh . Nhưng Pháp – Nhật đang đánh nhau nên cho rằng thời cơ đã đến, đặc biệt là tinh thần quần chúng sôi sục đòi hỏi khởi nghiã. Hội nghị đã quyết định tích cực chuẩn bị khởi nghiã và trao cho Thường vụ xứ ủy quyền ra lệnh khởi nghiã sớm mà không chờ ý kiến của Trung ương .
Ngày 20 -11-1940, Thường vụ Xứ ủy ra lệnh khởi nghiã vào đêm 22 -11-1940, lệnh đã được gởi đi các tỉnh trong toàn xứ thì trưa ngày 22/11/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ở Bắc vào mang chỉ thị của Trung ương hoãn cuộc khởi nghiã nhưng lệnh khởi nghiã đã xuống đến cơ sở rồi không thể lấy lại được nữa, nên cuộc khởi nghiã Nam kỳ đã nổ ra. Nhưng cuộc khởi nghiã đã bị lộ, trong ngày 22-11-1940, lãnh đạo Xứ ủy, Thành uỷ các đồng chí Tạ Uyên, Nguyễn Như Hạnh ( Bí thư Thành uỷ), Phan Đăng Lưu … đã bị địch bắt, hàng ngàn lính tập người Việt ở trại lính thành Ô Ma bị tước vũ khí và nhốt vào trại, lính Pháp và lê dương trang bị đại bác, xe tăng  tăng cường bố, phòng các con đường lớn, bảo vệ các công sở,  trật tự an ninh được chúng xiết chặt nghiêm ngặt, bọn mật thám và cảnh sát đi lùng sục bắt bớ những người tình nghi. Tại tỉnh Gia Định, Chợ Lớn và các vùng xung quanh Thành phố, đêm 22-11-1940, nhân dân ta vẫn tiến hành khởi nghiã vì không bắt được liên lạc với Thành uỷ và Xứ uỷ. Tại các quận của tỉnh Gia Định, cuộc khởi nghiã đã tiến hành từ sau chiều tối. Quận Gò Vấp tiếp cận Thành phố, nghĩa quân đã tấn công các đồn bót địch ở Lăng Cha Cả, bót Vườn Tiêu, bót Ngã Năm Vĩnh Lộc và bót Phú Lâm…
Trước sức mạnh của nhân dân khởi nghiã, địch ở các đồn đầu hàng hoặc bỏ chạy. Một số nơi chờ súng lệnh nổ theo kế hoạch khởi nghiã nhưng không có nên không khởi nghiã. Quận Hóc Môn huy động được một lực lượng lớn quần chúng tham gia khởi nghiã, cùng lực lượng nghiã quân 4 tổng Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung và Bình Thạnh Trung, chia thành 4 mũi tấn công áp sát vào dinh lũy tên quận trưởng Hóc Môn, có hai trong đội lính khố xanh bảo vệ, hạ các bót và trừ tề ở các làng, phá hoại cầu cống, đường giao thông các địa phương để ngăn địch chi viện, kế hoạch nổ súng vào đồn Hóc Môn vẫn chờ pháo lệnh chung của Thành Phố. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh cao khoảng 15 đến 16 mét, có ụ súng và lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Đồn xây từ sau cuộc khởi nghiã 18 Thôn Vườn Trầu năm 1885, như một pháo đài vững chắc. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm một trung đội để đối phó với các cuộc tấn công của nghiã quân mà ta không nắm được.
Bốn cánh quân của 4 tổng kéo về trung tâm quận lỵ Hóc Môn với khí thế hừng hực, đã tiêu diệt, đánh phá các đồn bót , đình làng trên đường đi và trừng trị những tên Hội tề, Việt gian theo Pháp, tập trung về công đồn Hóc Môn. Đến 24 giờ đêm ngày 22/11/1940 vẫn chưa nghe tiếng pháo lệnh ở SàiGòn, Ban lãnh đạo khởi nghiã quyết định tấn công. Lập tức nghiã quân ồ ạt tiến lên xông vào đồn như nước vỡ bờ, cờ đỏ búa liềm đã xuất hiện trước sân đồn để cổ động tinh thần các nghiã quân. Bọn lính trong đồn lớp chết, lớp chạy trốn, lớp đầu hàng nghiã quân, chỉ còn một tốp lính ngoan cố do một tên đội chỉ huy bảo vệ tên quận trưởng Bùi Ngọc Thọ, rút lên lầu cao, bịt cửa cầu thang, cố sức chống trả và điện kêu cứu về SàiGòn, Gia Định và Thủ Dầu Một. Nghiã quân anh dũng chiến đấu, lớp này hy sinh lớp khác tiến lên, tuy nghiã quân đã làm chủ thị trấn và toàn quận Hóc Môn, song vẫn chưa dứt điểm được đồn Hóc Môn và cuộc quyết chiến kéo dài gần đến sáng với bất lợi nghiêng về phía nghiã quân. Nghiã quân phải rút lui khỏi thị trấn, phân tán về các làng, số lực lượng vũ trang thì rút về ấp Bến Đò, làng Tân Phú rồi băng bưng sang đóng quân tại ấp Giồng Ông Hoà (làng Mỹ Hạnh, quận Đức Hòa).
Khoảng 4 giờ sáng ngày 23/11/1940, thực dân Pháp cho hai đội quân từ Thủ Dầu Một và Gia Định đến giải vây cho Hóc Môn, quân Pháp chia ra nhiều ngã, nổ súng tiến vào thị trấn giải vây cho tên quận Thọ và bọn lính còn lại trong đồn. Ngày hôm đó Hóc Môn bãi thị, không ai ra đường, xe cộ ngừng hoạt động, các hiệu buôn, nhà dân đóng cửa. Cuộc tấn công đồn Hóc Môn tuy thất bại, nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân về sự dũng cảm kiên cường của các chiến sĩ cộng sản và sức mạnh vô biên của quần chúng yêu nước, những bài học về chuẩn bị lực lượng tổ chức khởi nghiã, khả năng lãnh đạo chỉ huy và trên hết là khả năng khởi nghiã đánh đuổi quân xâm lược giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau khi khởi nghiã thất bại, thực dân Pháp đã tiến hành những cuộc khủng bố trắng dã man tàn bạo nhất, chúng lùng sục khắp xóm làng bắt các chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước, hành quân bố ráp, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ và giết chóc vô tội vạ khắp các thôn xóm; bọn lính làng được dịp hống hách, đe dọa, tống tiền và trả thù những người yêu nước. Tại Hóc Môn chúng dựng 3 trường bắn để xử tử những người yêu nước cách mạng tại: một ở cạnh Rạp hát cũ thị trấn Hóc môn, giặc xử bắn đồng chí Phạm Văn Sáng (Bí thư Quận ủy), Đặng Công Bỉnh (Tổng chỉ huy các cánh quân); một cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn, giặc xử bắn công khai các đồng chí Hà Huy tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến ( Hải Đông), và một ở Ngã Ba Giồng Bằng lăng, làng Xuân Thới Tây (nay là Xuân Thới Thượng), giặc xử bắn bí mật đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và nhiều đồng bào, đồng chí khác đã anh dũng hy sinh.
        Các đồng chí chết đi, song khí tiết anh hùng và tiếng vang chính nghiã của Khởi nghiã Nam Kỳ sống mãi, chẳng những đối với nhân dân Hóc Môn- Bà Điểm, 18 Thôn Vườn Trầu, mà còn với nhân dân Nam bộ và cả nước nói chung. Cuộc Khởi nghiã Nam Kỳ trở thành một nguồn nội lực thôi thúc nhân dân quyết chiến quyết thắng, đánh đuổi quân xâm lược giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.
                                                                                                                     KIM HÂN
 ( Ghi theo Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Hóc Môn)  

Hào khí Nam Kỳ khởi nghĩa bất diệt (23/11/1940 - 23/11/2013)

Tháng 9-1939, chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương thực dân Pháp phát-xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, chỉa mũi nhọn vào Đảng Cộng sản. Sự chà đạp và tước đoạt của thực dân Pháp đối với nhân dân ta lên đến cực điểm cùng mưu mô đầu hàng thỏa hiệp với phát-xít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp ngày càng gay gắt.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra từ ngày 6 đến 8-11-1939, tại Bà Điểm (Hóc Môn - Gia Định) đã xác định: Trong hoàn cảnh mới, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách của các dân tộc Đông Dương. “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”. Nghị quyết của Hội nghị được phổ biến tới các địa phương, như một luồng gió mới tiếp thêm sinh khí cho phong trào cách mạng trên cả nước.
Từ tháng 7 đến tháng 10-1940, Đảng bộ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức nhiều cuộc họp để bàn chủ trương và gấp rút lãnh đạo các tầng lớp nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Đến giữa tháng 11-1940, trước tình hình phong trào cách mạng sôi sục, tinh thần phản chiến trong binh lính người Việt lên cao, Xứ ủy Nam Kỳ đã quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 21-11-1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ đảng nhất loạt phát động nhân dân nổi dậy vào lúc 24 giờ ngày 22-11-1940.  
Hội nghị Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng từ ngày 6 đến 9 tháng 11-1940 đã quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa vì điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi. Đồng chí Phan Đăng Lưu trở về truyền đạt quyết định của Trung ương cho Xứ ủy Nam Kỳ. Nhưng khi đồng chí Phan Đăng Lưu về tới Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã ban hành tới các địa phương, một số cán bộ chủ chốt của Xứ ủy đã bị địch bắt, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch.
Cả Nam Kỳ rung chuyển dưới sức nổi dậy của quần chúng cách mạng. Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở 20/21 tỉnh, thành phố ở Nam Kỳ, kéo dài từ đêm 22, rạng sáng 23-11 đến ngày 31-12-1940, mạnh nhất là ở Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long... Lực lượng vũ trang và quần chúng đã nổi dậy tiến công địch ở các xã, tập kích nhiều đồn bốt, tiến đánh một số quận lỵ, phá hỏng nhiều cầu, đường, cắt dây điện thoại... Ở Vĩnh Long, chính quyền cách mạng cấp quận đã được thành lập tại Vũng Liêm. Ở Mỹ Tho, chính quyền cách mạng ở vùng khởi nghĩa tồn tại trong 40 ngày; một số nơi, nhân dân lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu thóc gạo của địch chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân. Trong bão táp cách mạng, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu được giương cao trong các cuộc biểu tình, tiến công đồn bốt ở Mỹ Tho (vùng Long Hưng, Long Định), Gia Định (vùng Hóc Môn), Vĩnh Long (vùng Bà Càng), Bạc Liêu (vùng Cà Mau), Chợ Lớn, Tân An, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, Long Xuyên, Thủ Dầu Một...
Tuy chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Thực dân Pháp khủng bố khốc liệt những người khởi nghĩa. Hàng nghìn người bị xử tử, bị đày ra Côn Đảo và các trại tập trung Bà Rá, Tà Lài... Pháp cũng nhân cơ hội này hành hình nhiều đồng chí cán bộ chủ chốt của Đảng bị bắt từ trước khởi nghĩa như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Đăng Lưu...
Mặc dù thất bại do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa rất to lớn. Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ “là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương”. Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện sức mạnh quật khởi, lòng tin tưởng và sẵn sàng hy sinh của nhân dân các tỉnh Nam Bộ trong cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngày 14/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 163-SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940 “đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với kẻ địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”. Đó là sự khắc ghi của dân tộc đối với công lao và sự hy sinh của quân và dân Nam Kỳ.
Hiện thực hào hùng của khởi nghĩa Nam Kỳ 23-11-1940 đã để lại những bài học quý giá. Đó là bài học về xây dựng thực lực cách mạng gắn với nắm bắt thời cơ; bài học về khơi dậy và nhân lên sức mạnh vĩ đại từ sự hiệp lực, đồng tâm của quần chúng; bài học về phối hợp địa phương với cả nước, về nghệ thuật giành và giữ chính quyền nhân dân... Đặc biệt nổi lên bài học về xây dựng Đảng. Đảng bộ Nam Kỳ mới mười tuổi đã phát động được một cuộc khởi nghĩa long trời lở đất chính vì đã sớm nắm bắt và vận dụng đường lối của Đảng, xây dựng được hệ thống tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức quần chúng rộng khắp, tạo dựng được một đội ngũ cán bộ đảng viên trung thành, dũng cảm và tiên phong gương mẫu, luôn luôn gắn bó với quần chúng, tin tưởng ở sức mạnh của quần chúng, hòa mình trong quần chúng mà dẫn dắt quần chúng tiến lên.
Phát huy truyền thống hào hùng của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, lực lượng vũ trang và nhân dân Quận 12 không ngừng phát huy sức mạnh đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, quyết tâm khắc phục khó khăn, tích cực tham gia các phong trào hành động cách mạng, thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội của quận đề ra trong năm 2013.
                                                                                                                                         Tin, ảnhMinh Anh(bt)

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Hé lộ bí mật về cái chết của Lý Tiểu Long

Hé lộ bí mật về cái chết của Lý Tiểu Long

(Văn hóa) - Những giả thiết được đưa ra về cái chết của “vua kungfu” Lý Tiểu Long được hé lộ bằng những chứng cứ đanh thép.
Ngày 20/7/1973, bậc thầy võ thuật đối kháng huyền thoại, ngôi sao Hollywood Lý Tiểu Long qua đời. Báo chí phong tặng ông là người Trung Quốc nổi tiếng nhất hành tinh. Chỉ trong vài năm, ông đã làm chấn động mọi nền tảng của Hollywood và tạo nên một thể loại phim điện ảnh hoàn toàn mới. Những bộ phim với sự tham gia của ông hoàn toàn không giống với những gì có trước đó. Thế nhưng, ông đột ngột qua đời khi đang ở trên đỉnh vinh quang. Đã hơn 30 năm trôi qua nhưng câu chuyện về huyền thoại này vẫn còn nóng hổi.
Báo chí trung ương Hong Kong luôn dành những vị trí quan trọng để đăng tải về cái chết Lý Tiểu Long
Lý Tiểu Long qua đời, tin tức này lan đi trên các báo trung ương của Hong Kong ngày 21/7/1973. Nhiều độc giả cho rằng, đó chỉ là cách nói đùa của các nhà báo, là cách truyền thông đề cập đến các bộ phim mới của ông. Sau đó sự ngạc nhiên ban đầu chuyển thành sự đau đớn và tiếc thương khi tin về đám tang của ngôi sao này được phát đi trên truyền hình.
Những tờ tin về việc bậc thầy kungfu, diễn viên, nhà sản xuất phim Hollywood Lý Tiểu Long qua đời ở tuổi 32 nhanh chóng được bán hết. Sang ngày hôm sau, cái chết bí ẩn của ông lập tức trở thành điểm nóng gây tò mò, tranh cãi. Người ta không tin rằng Lý Tiểu Long chết vì chứng phù não như kết luận pháp y.
Ông vua tuyệt kỹ kungfu qua đời khiến nhiều người bàng hoàng
Những diễn biến tiếp theo của sự kiện chỉ khẳng định sự hoài nghi của dư luận. Trình tự mọi việc như sau: Buổi chiều ngày 20/7/1973, Lý Tiểu Long cảm thấy đau đầu. Như bất kỳ ai trong tình huống này, ông uống hết một liều thuốc giảm đau và nằm xuống giường nghỉ ngơi. Tuy nhiên, thay vì chìm vào giấc ngủ, ông lại rơi vào trạng thái hôn mê, khó thở và mạch yếu. Lý Tiểu Long được đưa đến bệnh viện Queen’s Elizabeth nằm khá xa quận Kowloon Tong (Cửu Long) nơi ông sinh sống. Tại đó các bác sĩ làm mọi biện pháp để cứu chữa cho bệnh nhân nổi tiếng.
Sang ngày hôm sau, không ai trong số những người ở cạnh thi hài Lý Tiểu Long có thể trả lời một cách rành rọt cho câu hỏi: “Tại sao Lý Tiểu Long lại được đưa tới bệnh viện này chứ không phải bệnh viện lân cận?”.
Không ai quanh thi hài Lý Tiểu Long có thể trả lời vì sao ông lại được đưa tới bệnh viện Elizabeth.
Nơi đây chỉ gần như một nhà thương. Tình trạng ông ngày một xấu đi, nhưng các bác sĩ cố gắng để cứu ngôi sao kungfu sống lại. Suốt mấy tiếng người ta cố gắng hết sức giúp ông thoát khỏi tình trạng hôn mê, cho thở oxi, mát xa tim. Đến 23h23, các phóng viên túc trực tại cửa bệnh viện được thông báo, Lý Tiểu Long đã qua đời. Giả thuyết về cái chết của vua tuyệt kỹ kungfu là chứng phù não cấp tính do dị ứng với thuốc giảm đau.
Tại Hong Kong, các bác sĩ kết luận ông bị phù não, nhưng không ai muốn tin điều đó. Nghi vấn phát sinh từ chữ “có thể” cũng như từ việc các bác sĩ không thể xác minh nguyên nhân dẫn đến chứng phù não. Một yếu tố nữa là việc khám nghiệm tử thi chỉ được thực hiện 36 tiếng sau khi Lý Tiểu Long qua đời. Biên bản pháp y sau đó bị mất. Khi tin đồn Lý Tiểu Long bị ám sát bắt đầu rộ lên, báo chí, phát thanh truyền hình đồng loạt đưa ra những giả thuyết có thể xảy ra. Song cho đến nay, không giả thuyết nào bị bác bỏ, vì thế chúng đều có quyền tồn tại.
Hình ảnh đám tang của Lý Tiểu Long ở Hong Kong.
Lãnh đạo câu lạc bộ võ thuật Kondzio, ông Viacheslav Bolonov, nói thêm về cái chết bí ẩn của Lý Tiểu Long cho biết: “Cái chết của bất kỳ người nổi tiếng nào, luôn luôn gắn với những câu chuyện, luôn là huyền thoại. Là điều đáng quan tâm đến bất kỳ bậc thầy môn võ đối kháng nào, không chỉ đối với bậc thầy võ lâm Trung Hoa là không đơn giản họ qua đời khi đang nghỉ ngơi trên giường, hoàn toàn bình thản”. Ông Bolonov hoài nghi về cái chết đột ngột của Lý khi cho rằng, những người tập luyện võ phương Đông thường rất ít khi bị bệnh tật.
25.000 người Hong Kong xuất hiện tại đám tang Lý Tiểu Long
Còn Venhiamin Dzitlovskij, thạc sĩ y học, PGS Đại học Y quốc gia Nga chia sẻ thêm: “Trước khi anh qua đời đã xảy ra một vài trường hợp tương tự, anh đã bị chấn động. Các bác sĩ chẩn đoán, anh có thể bị chứng phù não, ó là dấu hiệu của bệnh động kinh, vì vậy, họ đã kê cho anh thuốc chống động kinh”. Ý kiến của đạo diễn dàn dựng kỹ xảo Aleksandr Malusev lại cho hay: “Sự kết hợp giữa căng thẳng tâm lý và thể chất, đồng thời không có sự bố trí tổng thể cho toàn bộ quá trình làm việc đã dẫn đến sự việc. Ngoài ra theo báo chí, anh không tuân theo chế độ tập luyện thể thao, vẫn sử dụng ma túy trong một vài lần tập luyện.
Búa rìu dư luận nghiêng sang giả thuyết Đinh Bội chính là người ám sát Lý Tiểu Long
Đối với anh, mọi việc đã kết thúc quá nhanh”. Kết luận ban đầu về cái chết của Lý Tiểu Long do chứng phù não hoàn toàn hợp lý, bởi các sự việc xảy ra hôm 20/7 rất giống với những gì xảy ra trước đó 2 tháng. Ngày 10/5/1973, Lý Tiểu Long vẫn hoàn toàn khỏe mạnh, bỗng nhiên cảm thấy bất ổn trong quá trình lồng tiếng cho bộ phim Long tranh hổ đấu. Ông bị ngất đi và nửa tiếng sau mới hồi tỉnh. Các bác sĩ cho Lý Tiểu Long biết ông có thể mắc triệu chứng của bệnh động kinh. Vì vậy, những cơn đau tương tự có thể xảy ra do chấn động tâm lý. Rượu và căng thẳng thần kinh, đặc biệt đối với những người bị chấn động thần kinh như Lý Tiểu Long sẽ khiến gia tăng căn bệnh.
Không một ai muốn tin, ông vua tuyệt kỹ kungfu lại chết trên giường của một cô gái chưa chồng.
Trong khi nghề nghiệp của ông không giống với bất kỳ những nghề thông thường nào, do đó đã gây ra các chấn động như vậy. Bác sĩ đã kê thuốc động kinh cho ông kèm lời, khuyên nên giảm bớt cường độ vận động, nghỉ ngơi nhiều hơn và tránh nổi cáu. Nhưng với Lý Tiểu Long, những khuyên này không thể thực hiện được do nghề nghiệp và tình yêu với võ thuật.
Trong thời gian này, tờ Star của Hong Kong đăng tải một tin giật gân: Lý Tiểu Long được xe cứu thương chở đến bệnh viện không phải từ nhà riêng của ông mà từ nhà một người phụ nữ tên là Đinh Bội. Những người hành xóm của nữ nghệ sĩ trẻ đã thông tin cho báo chí tin này. Khi được phỏng vấn, Đinh Bội cho biết, đã vài tháng bà không gặp Lý Tiểu Long. Hơn nữa, ngày 20/7 bà hầu như không ở nhà.
Bạn bè, đồng nghiệp và anh trai của Lý Tiểu Long là Lý Trung Sâm phủ nhận địa điểm ông qua đời là nhà Đinh Bội. Điều này không có gì ngạc nhiên, bởi tất cả họ đều muốn che giấu về nơi huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long qua đời. Sẽ thật khó tin khi một ngôi sao thần tượng của hàng triệu khán giả, một người cha mẫu mực, một người chồng chung thủy lại qua đời trên giường của một phụ nữ khác. Tuy nhiên, hàng xóm và các nhân viên cấp cứu đã khẳng định, địa chỉ họ cấp cứu cho Lý Tiểu Long chính là ở ngôi nhà số 67 đường Beacon Hill Road, nơi ở nữ diễn viên Đinh Bội. Hình ảnh của siêu sao Lý Tiểu Long đã được định hình trên màn ảnh dần dần biến mất.
Giám đốc công ty Gia Hòa là Trâu Văn Hoài trả lời báo chí, phủ nhận Lý Tiểu Long chết tại nhà Đinh Bội.
Số lượng các ấn phẩm, chương trình truyền hình điều tra cái chết của Lý Tiểu Long vượt qua mọi số lượng người ta có thể hình dung. Các phóng viên phải làm sao cho những giả thuyết về cái chết của Lý Tiểu Long trở nên hoang đường hơn. Chỉ có vậy mới đủ sức cạnh tranh với các tờ báo và kênh truyền hình khác. Vài năm sau khi Lý Tiểu Long qua đời, cuốn sách Huyền thoại Lý Tiểu Long được xuất bản tại Mỹ, khẳng định rằng những năm cuối đời, lối sống của ngôi sao Hollywood đã không còn “thuần phác”.
Ông đã bị đầu độc bởi một loại chất độc bí mật. Không một chứng cứ nào trong cuốn sách được chứng minh. Tác giả lập luận cho những tìm kiếm của mình, bởi khi xét nghiệm máu không phát hiện ra những loại chất độc thông thường. Do đó, tác giả đưa ra kết luận duy nhất. Điều đó có nghĩa, chất độc là một loại bất thường, thậm chí không xem xét đến trường hợp, không có chất độc nào là nguyên nhân dẫn đến cái chết của huyền thoại.
(Khám Phá)

Đề xuất chính sách đào tạo đội ngũ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật Khmer, trong đó có loại hình nghệ thuật sân khấu Dù Kê

Đề xuất chính sách đào tạo đội ngũ hoạt động trên lĩnh vực văn  hóa, nghệ thuật Khmer, trong đó có loại hình nghệ thuật sân khấu Dù Kê
Lý Sóc Kha - Phó trưởng ban dân tộc tỉnh Sóc Trăng, phát biểu tham luận tại Hội thảo: “NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ KHMER NAM BỘ, DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC”
Đồng bào Khmer Nam Bộ có một kho tàng nghệ thuật dân tộc được lưu truyền từ xưa đến nay rất độc đáo, phong phú và đa dạng. Với nhiều loại hình khác nhau như: Nghệ thuật ca, múa, nhạc, nghệ thuật tạo hình… Đặc biệt là đã sáng tạo ra 2 loại hình sân khấu mang bản sắc riêng của người Khmer Nam Bộ mà người Khmer ở Campuchia không có; đó là nghệ thuật sân khấu Rô Băm và Dù Kê. Đó là di sản vô giá do các thế hệ tiền nhân sáng tạo được lưu truyền cho hậu thế đến hôm nay.
Nhờ có ngọn đuốc bởi đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam nền văn hóa, văn nghệ của người Khmer Nam Bộ trong đó có nghệ thuật sân khấu Dù Kê luôn được giữ gìn và phát triển từng bước, ngay trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; sau 30/4/1975 loại hình nghệ thuật sân khấu này luôn được các nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc độc đáo của loại hình nghệ thuật sân khấu nói chung, sân khấu Dù Kê nói riêng.
Hôm nay, được tham dự buổi Hội thảo này, dưới gốc độ người lãnh đạo, quản lý nhà nước trên lĩnh vực công tác dân tộc ở tỉnh, một tỉnh được xem là loại hình sân khấu Dù kê ra đời sớm khoảng năm 1921*. Trong buổi Hội thảo này tôi xin tham gia phát biểu xung quanh chuyên đề mà Ban tổ chức đã gợi ý.
Kính thưa quý đại biểu!
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước chúng ta đang xây dựng “Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Đường lối văn hóa, văn nghệ Đảng và Nhà nước đã làm chuyển biến về nhận thức và hành động, nên chúng ta đã đạt được kết quả bước đầu đáng khả quan tạo tiền đề cho những bước đi tiếp theo thuận lợi hơn. Nhưng hiện nay đang có nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận, tìm hiểu để có những giải pháp cụ thể, nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của người Khmer Nam Bộ chúng ta.
Trong xu hướng giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, trong cộng sinh văn hóa nhân loại làm thế nào không để đánh mất giá trị nhân bản văn hóa truyền thống của mình?. Đó là điều cần quan tâm nhất; song những vấn đề như sưu tầm các tài liệu, vỡ diễn; về nguồn gốc lịch sử phát triển; về những yếu tố truyền thống và hiện đại; về những sự giao thoa tiếp biến; về những giải pháp bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu Dù Kê di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam. Tôi nhận thức rằng việc đưa ra chính sách cụ thể đào tạo nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và chính sách quan tâm đến nhân lực tham gia hoạt động trong loại hình nghệ thuật Dù Kê Khmer Nam Bộ cũng không kém phần quan trọng.
Như thực trạng ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay, ngoài đoàn nghệ thuật Khmer của tỉnh hoạt động chuyên nghiệp, số Đoàn Dù Kê tư nhân còn lại như Đoàn: Ánh Bình Minh (xã Tham Đôn); Ron Ron (xã Phú Tân), Đờ Đập (xã Viên An), với phương thức biễu diễn bán vé doanh thu, hoạt động dưới dạng hợp tan; nội dung, hình thức biễu diễn chưa đi vào bài bản, nề nếp, chất lượng nghệ thuật và phục vụ nhiệm vụ chính trị chưa cao; do nhiều nguyên nhân như: chưa được thông qua trường lớp đào tạo, nhất là diễn viên khi diễn chủ yếu là nhớ tuồng, nhưng lời ca tiếng hát vẫn còn theo kiểu ngẫu hứng, hát cương, thậm chí không có kịch bản.
Bởi vì, xưa nay các Đoàn Dù Kê nghiệp dư chủ yếu truyền dạy theo kiểu cha truyền con nối, lớp trẻ có năng khiếu học theo lớp người đi trước từ cách diễn xuất đến bài hát… với cách làm ấy các thế hệ kế tiếp đã giữ gìn và phát huy được truyền thống di sản của dân tộc mình.
Nghệ sĩ ưu tú, nhạc sĩ Sơn Lương Phó Chủ tịch Hội Văn hóa Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nhận xét “Sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ ra đời vào khoảng 1920 – 1921, khi mới ra đời sân khấu Dù Kê đã sớm có ảnh hưởng và chiếm được vị thế trong lòng công chúng người dân tộc”. Xem Dù Kê người ta cảm nhận: các nghệ nhân Dù Kê Khmer hầu hết đều có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh chẳng khác nào là người có học thức sâu rộng. Trên thực tế trình độ văn hóa dân tộc của các nghệ nhân Dù Kê còn rất hạn chế, thậm chí có người hoàn toàn không biết chữ, vậy mà khi diễn cương (không kịch bản) họ đã thể hiện ứng xử, đối đáp trên sân khấu, thông minh, bao giờ cũng mang đậm chất văn thơ, làm cho khán giả cứ nghĩ rằng: người nào cũng rất giỏi về ngôn ngữ văn học Khmer sự tài tình ấy, chẳng những làm cho khán giả thán phục mà còn nhanh chóng chinh phục được tình cảm, thị hiếu của đông đảo công chúng người dân tộc Khmer.
Một vấn đề nữa: Do khó khăn về đời sống, kinh tế. Hiện nay đa số các nghệ nhân Dù Kê từ bầu gánh hát đến diễn viên, nhạc công, phục vụ tất cả đều là nông dân, thậm chí có người không có một tất đất sản xuất chuyên đi làm thuê, làm mướn, lao động phổ thông, khi đến mùa khô là thời điểm thuận lợi cho việc lưu diễn họ mới tập hợp nhau lại tập dợt tuồng và đi diễn. Có thể nói hoạt động của Đoàn Dù Kê này hoàn toàn do có tinh thần yêu nghề, việc bán vé doanh thu chỉ mang tính chất bồi dưỡng tiền son phấn mà thôi.
Đối với Đoàn nghệ thuật Khmer tỉnh Sóc Trăng là Đoàn hoạt động chuyên nghiệp trực thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh, hiện nay cũng gặp khó khăn không ít, mặc dù có sự hỗ trợ 100% của Nhà nước, nhất là trong giải quyết chính sách cho đội ngũ đã hết tuổi nghề. Như chúng ta đã biết, bất cứ loại hình sân khấu nào những người diễn viên bao giờ cũng đòi hỏi phải trẻ, đẹp mới thu hút được nhiều người xem; nhưng trên thực tế nếu tuyển thêm diễn viên trẻ, diễn viên lớn tuổi phải giải quyết như thế nào?, trong khi kinh phí, biên chế chỉ có bao nhiêu?. Một mặt nữa, các nghệ nhân, diễn viên hiện tại của Đoàn đa số cư trú nhà tập thể của Đoàn, khi đến tuổi hưu trí họ phải rời nhà tập thể, vậy họ đi đâu?, về đâu?, khi trở về quê nhà khi người thân của họ chỉ mới lo được cái ăn, cái ở của riêng mình. Từ thực tế này, nó dẫn đến hụt hẩng về đội ngũ nghệ nhân, diễn viên… chỉ trừ những người đam mê, yêu nghề họ mới tìm đến nghề này mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì.
Trong phạm vi bài tham luận này, tôi không có kỳ vọng cầu toàn là giải quyết được tất cả những nội dung đặt ra chỉ xin dẫn chứng mang tính chất tham khảo, từ đó đưa ra những đề xuất chính sách đào tạo đội ngũ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật Khmer, trong đó có loại hình nghệ thuật sân khấu Dù Kê.
Kính thưa quý đại biểu!
Trước hết chúng ta cần khẳng định, nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ là một bộ phận cấu thành trong nền văn hóa truyền thống của đống bào Khmer Nam Bộ và là một bộ phận nghệ thuật Việt Nam nói riêng và của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nói chung.
Sân khấu Dù Kê là một sản phẩm văn hóa phi vật thể của đồng bào Khmer Nam Bộ cần được quan tâm đúng mức trong việc đề ra chính sách bảo tồn và phát huy đầy đủ các chuẩn mực của loại hình nghệ thuật này. Từ đó, tạo hướng đi cho sự phát triển đúng đắn, tạo được vị trí xứng đáng trong nghệ thuật sân khấu Việt Nam hôm nay và mai sau.
Chúng ta biết khó khăn lớn nhất của đống bào Khmer Nam Bộ đó là nguồn nhân lực. Hiện nay nguồn nhân lực trong đồng bào Khmer còn rất thiếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ hiểu biết về văn hóa dân tộc nói riêng rất ít, cán bộ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói chung không nhiều. Do đó, Nhà nước cần đưa ra giải pháp đột phá về tào tạo cán bộ, có chính sách cụ thể đối với cán bộ là người Khmer hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật các cấp.
Tôi rất hoan nghênh Trường Đại học Trà Vinh có thành lập Khoa ngôn ngữ - văn hóa - nghệ thuật Khmer Nam Bộ, có nhiệm vụ trọng điểm Quốc gia chuyên đào tạo nguồn nhân lực cho vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, trong đó có bộ môn nghệ thuật Khmer. Tôi có nhận thức rằng, nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ cũng giống như loại hình nghệ thuật sân khấu khác, đó là nghệ thuật tổng hợp bao gồm kịch bản, đạo diễn, mỹ thuật, vũ đạo, nhạc công, diễn viên… Nhưng sân khầu Dù Kê nó là một loại hình sân khấu mang tính đặc thù của đồng bào Khmer Nam Bộ. Do vậy, muốn bảo tồn và phát huy, trước hết phải có nguồn nhân lực. Hiện nay ở các tỉnh trong vùng đều có Trường Trung cấp Văn hóa, Nghệ thuật; ngoài chương trình đào tạo chung cần có bộ phận chuyên sâu đào tạo về văn hóa, nghệ thuật sân khấu Dù Kê. Về lâu dài, tôi rất mong Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đề xuất với Chính phủ thành lập Trường Văn hóa, Nghệ thuật Khmer cho cả khu vực để đào tạo đội ngũ cán bộ hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật nói chung và nghệ thuật sân khấu Dù Kê nói riêng.
Trước mắt, cần phải đào tạo, bồi dưỡng ngay đội ngũ biên kịch, diễn viên… để Đoàn Dù Kê không chuyên trong khu vực hoạt động đúng định hướng, đáp ứng kịp thời nhu cầu hưởng thụ của đồng bào và phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Đối với Đoàn Dù Kê không chuyên ở các tỉnh mặc dù do tư nhân quản lý, nhưng cần có sự hỗ trợ của Nhà nước về khâu tào tạo, bồi dưỡng nghề nghiệp kể cả quản lý, sáng tạo, dàn dựng… và hướng dẫn họ hoạt động cũng như diễn xuất đi vào bài bản có nề nếp. Đồng thời, hỗ trợ một phần kinh phí mua sắm, sưu tầm nhạc cụ truyền thống đưa vào diễn xuất.
Đối với Đoàn Dù Kê chuyên nghiệp, nên có sự ưu tiên đầu tư nhiều hơn nhằm giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu đề ra một số chính sách đặc thù, ưu tiên, khuyến khích, huy động nhân lực, vật lực trong đồng bào Khmer tham gia sáng tạo và hoạt động nghệ thuật dân tộc theo phương thức xã hội hóa.
Sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ mang bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào Khmer cần được đầu tư thỏa đáng để nâng cao phát triển bản sắc đặc thù của sân khấu Dù Kê lên tầm cao mới, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam Bộ. Góp phần làm giàu thêm nền văn hóa, nghệ thuật Việt Nam phong phú đa dạng./.

*Ghi chú: tìm hiểu nghệ thuật sân khấu Dù Kê Khmer Nam Bộ trên địa bàn Sóc Trăng do nghệ sĩ ưu tú Sơn Lương biên soạn – Hội Văn hóa Nghệ thuật Sóc Trăng xuất bản.