Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NAM KỲ KHỞI NGHĨA TỈNH TIỀN GIANG


Khu di tích toạ lạc tại ấp Long Thạnh A, xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1995.
Khu di tích lịch sử Nam kỳ khởi nghỉa tỉnh Tiền Giang (Đình Long Hưng) với tổng diện tích 16.000m2 gồm 4 hạng mục:
1. Nhà trưng bày lịch sử Nam kỳ khởi nghĩa 23/11/1940 tại hai tỉnh Mỹ Tho và Gò Công.
2. Ngôi nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập - cán bộ cách mạng đầu tiên của Nam bộ được nhà nước tặng thưởng huân chương Sao vàng.
3. Ngôi Đình Long Hưng là căn cứ cách mạng đầu tiên của tỉnh Mỹ Tho.
4. Nhà bia xã Long Hưng - Ghi danh 614 liệt sĩ trong đó có 02 đồng chí được nhà nước công nhận anh hùng lực lượng vũ trang là Lê Thị Hồng Gấm và Hồ Văn Nhánh.
* Nhà trưng bày lịch sử Nam kỳ khởi nghĩa:
Bức tranh ghép gốm màu nói lên hai sự kiện khác nhau về địa điểm và thời gian nhưng cùng mô tả về sự kiện Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940.
Bức tranh nói về cuộc sống khổ cực của người dân Nam Bộ dưới sự thống trị của thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn. Cùng với sự bóc lột và tăng thuế dẫn đến người dân phải bần cùng đói khổ, bọn thực dân còn thực hiện chính sách bắt lính, đi phu để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương.
Trước tình hình đó, Tỉnh Uỷ đã lãnh đạo nhân dân đã đứng lên khởi nghĩa vào ngày 23 tháng 11 năm 1940. Theo lệnh khởi nghĩa của xứ uỷ, nhân dân khắp nơi trong tỉnh đồng lòng hưởng ứng bằng cách đặt mìn, phá cầu, phá trụ điện, tấn công vào nhà làm việc của địch. Trong thời điểm đó, tại Ngôi đình Long Hưng, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện bay phất phới. Tại nơi đây, thành lập chính quyền cách mạng; tịch thu tài sản, ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân nghèo. Toà án chính quyền cách mạng thành lập để xét xử những tên có tội ác đối với nhân dân, chủ yếu là hình thức giáo dục trước dân.
Sau cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp điên cuồng càn quét, ném bom khủng bố làng xóm, chúng huy động một Tiểu đoàn lính lê dương, 30 máy bay, nhiều tàu chiến để đàn áp đồng bào một cách dã man như địa điểm ném bom thảm sát chợ giữa Vĩnh Kim, gần 100 người đã chết và hàng chục ngàn người bị thương.
Tại Nhà trưng bày, còn có tượng 4 vị anh hùng của cuộc khởi nghĩa tại Gò Me - căn cứ quân sự Châu Thành gồm: Lê Văn Quân - sinh năm 1912 là cán bộ quận uỷ Châu Thành; Lê Văn Quới – sinh năm 1911, cán bộ quận uỷ Châu Thành; Lê Văn Giác - sinh năm 1902 là một trong những người lãnh đạo của Tỉnh Uỷ Mỹ Tho; Nguyễn Văn Ghè - sinh năm 1903, là Tỉnh Uỷ viên Ban khởi nghĩa.
Vào ngày 04/01/1941, do có người phản bội khai báo, Chủ tỉnh Mỹ Tho ra lệnh tập trung bao vây vùng gò cây me nơi có 4 vị cùng nghĩa quân đang tập luyện võ nghệ. Do xuất hiện bất ngờ nên biết khó có thể chống lại quân địch, các đồng chí lãnh đạo chủ trương cho anh em du kích phân tán khỏi vòng vây. 4 đồng chí rút lên Gò me chống trả đến viên đạn cuối cùng. Không để rơi vào tay giặc, đồng chí Quới rút gươm cắt cổ 3 đồng chí của mình rồi tuẫn tiết. Đồng chí Quới hy sinh còn lại 3 đồng chí của mình thì hấp hối. Bọn Pháp đã kết án tử hình đồng chí Giác, đồng chí Ghè; còn đồng chí Quân bị kết án khổ sai và đày đi Côn đảo.
* Ngôi nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập:
Là ngôi nhà được xây dựng theo kiến trúc cổ Nam Bộ được đưa vào hoàn tất dịp kỷ niệm 65 năm ngày Nam kỳ khởi nghĩa 23/11/2005 để làm nhà thờ bà Nguyễn Thị Thập. Nhà theo kiểu 3 gian 2 chái, gian giữa là gian thờ bà Nguyễn Thị Thập.
Bà Nguyễn Thị Thập tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Tốt sinh ngày 10 tháng 10 năm 1908 tại làng Long Hưng, Châu Thành, Tiền Giang. Năm 1929, bà tham gia vào phong trào nông hội. Ngày 6/4/1931, bà được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 1935, được bầu vào Xứ uỷ Nam kỳ và trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ Bà là một trong những người lãnh đạo. Năm 1952, bà làm việc tại cơ quan của Hội liên hiệp phụ nữ. Tháng 2/1956, Bà đắc cử vào Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và giữ cương vị trong 18 năm liền.
Bà là Uỷ viên Ban chấp hành TW Đảng, Phó Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau năm 1975, bà sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh. Ngày 19/3/1996, do căn bệnh tai biến bà đã qua đời hưởng thọ 88 tuổi.
* Ngôi Đình Long Hưng:
Được xây dựng vào giữa thế kỷ thứ 18 để thờ cúng các vị thần thành hoàng bổn cảnh, tả quân Lê Văn Duyệt. Hàng năm, đình có 2 lệ cúng kỳ yên 16/4 âm lịch, cúng thượng điền 16/11 âm lịch, cúng hạ điền 1/8 âm lịch (cúng ông). Cũng tại Ngôi đình Long Hưng, lá cờ đò sao vàng bay phất phới. Cũng tại nơi đây lần đầu tiên Nhà nước theo thể chế dân chủ cộng hoà thành lập; chính quyền cách mạng tịch thu tài sản, ruộng đất của địa chủ phản động chia cho dân nghèo.
* Nhà bia xã Long Hưng:
Học sinh trường THCS Long Hưng Chăm sóc Nhà bia xã Long Hưng
 






Nhà bia xã Long Hưng ghi danh 614 liệt sĩ trong đó có 02 đồng chí được nhà nước công nhận Anh hùng lực lượng vũ trang là Lê Thị Hồng Gấm và Hồ Văn Nhánh./.

Giá trị lịch sử của cuộc khởi nghĩa Nam kỳ

Ngày 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ (KNNK) bùng nổ trên diện rộng ở nhiều nơi. Ở những tỉnh đã nổ ra khởi nghĩa, nhân dân đã giành được chính quyền ở một số làng xã. Ở Long Hưng còn lập ra Tòa án nhân dân để xét xử bọn tề điệp gian ác. Cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện ở Long Hưng, Phước Vĩnh Tây (Cần Giuộc - Chợ Lớn)...
Cuộc khởi nghĩa tuy không thành công, bị kẻ thù dìm trong biển máu nhưng đã để lại nhiều kinh nghiệm cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 thành công và nhiều giá trị lịch sử cho sự nghiệp cách mạng lâu dài của Đảng và nhân dân ta.
Vị thế của người cộng sản cũng từ đó phát triển trong quá trình gây dựng lại cơ sở cách mạng, dẫn đến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, càng vươn cao trên khắp các trận địa chiến đấu trong suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng biểu hiện rõ ràng ở đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng; ở vai trò tiên phong gương mẫu về lý luận, về hành động, về phong cách sống của tuyệt đại đa số đảng viên.
Những ngày đầu kháng chiến ở Bến Tre. Ảnh: T.L
Cuộc KNNK năm 1940 đã làm sáng tỏ tính chính xác và đúng đắn của đường lối “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ từ thuở ra đi tìm đường cứu nước (1911), đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy ở đó con đường cứu nước. Khi đọc xong luận cương về Vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin (1921), Bác đã đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc trên lập trường của giai cấp vô sản, đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã đề ra đường lối “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Chính trên cơ sở của đường lối đó và tình hình thế giới lúc bấy giờ mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 tại xã Tân Thới Nhất (Bà Điểm - Hóc Môn) từ ngày 6 - 8/11/1939, do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì đã đề ra đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến lược sang Cách mạng giải phóng dân tộc, hình thành Mặt trận phản đế. Từ sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đó mà Xứ ủy Nam kỳ chủ trương khởi nghĩa năm 1940.
Ngày 8/2/1941, Bác Hồ về nước, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 - 15/10/1941, Hội nghị đã kết luận sự chỉ đạo chuyển hướng chiến lược của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 là hoàn toàn đúng đắn - Hội nghị Pác Bó đề ra nhiều chủ trương chính sách cụ thể nhằm tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là giải phóng dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh và các đoàn thể cứu quốc, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân. Cách mạng tháng 8/1945 đã bùng nổ và thành công trên cả nước từ ngày 19 - 25/8/1945. Cuộc KNNK 1940 tuy thất bại do chưa đúng thời cơ và do mất cảnh giác để kẻ phản bội chui vào hàng ngũ, kế hoạch bị lộ nhưng đã góp phần làm sáng tỏ tính chính xác và đúng đắn của đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Bác Hồ trong suốt chiều dài của sự nghiệp cách mạng ở nước ta.
Cuối cùng, cuộc KNNK 1940 đã chứng minh một chân lý là muốn lật đổ ách thống trị của thực dân, đế quốc để giành độc lập tự cho dân tộc, nhất thiết phải bằng bạo lực cách mạng, bạo lực vũ trang của toàn dân, chứ không chỉ bằng đấu tranh chính trị đơn thuần được với chúng.
Chính nhờ bài học về vũ trang KNNK 1940, vũ trang khởi nghĩa toàn quốc tháng 8/1945 mà khi giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và Nam bộ đã nhất tề nổ súng chống xâm lược, mở đầu cuộc kháng chiến vào ngày 23/9/1945 và tiếp tục suốt 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc (1945 - 1975).
Tôn vinh ý nghĩa to lớn của cuộc KNNK, Bác Hồ đã ký sắc lệnh số 163/SL ngày 14/4/1948 long trọng tuyên dương: “Đội quân khởi nghĩa Nam bộ 1940 đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương ý chí quật cường của dân tộc”.
Tân Triều

Chiếc nóp - Kỷ vật của cán bộ, chiến sĩ ở Đồng Tháp Mười thời Chín năm kháng chiến

Mùa thu rồi, ngày 23
Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Nóp với giáo mang ngang vai,
Nhưng thân trai nào kém, oai hùng… (*)
    Lời bài hát gợi nhớ về mùa Thu tháng Chín năm 1945. Đó là cuộc kháng chiến chống Pháp mở đầu với những ngày gian khổ và quyết tâm như vậy. Trong khúc ca hùng tráng ấy có hình ảnh của chiếc nóp, cây giáo là thứ vũ khí và vật dụng không thể thiếu nhất là đối với cán bộ, chiến sĩ trong những cuộc hành quân ở chiến khu Đồng Tháp Mười. Nhưng chiếc nóp có mặt ở Nam Bộ không phải trong những ngày đầu khói lửa ấy mà ở Long An nó gắn liền với nghề đan đệm bàng khi lưu dân người Việt, đến khai phá vùng đất Đồng Tháp Mười và ven sông Vàm Cỏ Đông vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVII. Đó là quá trình khẩn hoang, mở đất tạo dựng cuộc sống trên vùng đất mới với muôn vàn gian truân và khắc nghiệt, cùng với hành trang văn hóa mang theo bên mình là những ngành nghề truyền thống, với nguồn nguyên liệu bàng sẵn có tại chỗ, họ đã tạo ra những sản phẩm đơn giản để đáp ứng nhu cầu cuộc sống hàng ngày.
    Có nhiều truyền thuyết chung quanh về chiếc nóp thật lý thú: người ta kể rằng vào thời Thiên Hộ Dương lập chiến khu kháng Pháp ở Đồng Tháp Mười, có rất nhiều nghĩa quân về tụ nghĩa nơi đây vì quân số quá đông nên không có khả năng sắm mùng màn, đêm đến để bảo vệ sự tấn công của lũ muỗi, mỗi người chỉ được phát một chiếc đệm bàng để vừa nằm, vừa đắp. Vì đệm có hai đầu trống nên không tránh được muỗi đốt, còn nếu un khói thì sợ bị địch phát hiện… Trong hòan cảnh ấy, một nghĩa quân đã nghĩ ra cách xếp đôi chiếc đệm, dùng dây dừa nước để may kín ở hai đầu, chui vào nằm lật úp lại thế là không còn chú muỗi nào có thể tấn công. Sau sáng kiến ấy, chiếc đệm bàng được đặt một cái tên nôm na là chiếc xếp. Từ đó, chiếc xếp lan tràn khắp vùng Đồng Tháp Mười, theo các ghe thương hồ, những người làm thuê, làm mướn đến khắp miền Lục tỉnh. Sau đó, chiếc xếp được nói trại thành nếp vì người ta sợ phạm tội trịch thựơng với quan lớn khi nói đến từ xếp có âm trùng với chữ chef (thường để chỉ những quan Tây). Chiếc nếp lại được gọi là chiếc nốp để tránh gọi trùng với tên tục của một viên đội kiểm soát đồn ở Đồng Tháp Mười. Và cuối cùng, gọi nốp nghe khó khăn quá, dần dần người ta nói trại ra thành nóp cho tới ngày nay.
    Quá trình thay đổi ấy thật ra là những câu chuyện vui, vì nó không có cơ sở khoa học. Nhưng có một điều chắc rằng thời chiến, ở vùng Đồng Tháp Mười - Long An đã có những người mẹ, người vợ, người yêu, người chị, người em gái hậu phương, tất cả không kể ngày đêm gian khó, thâu đêm giã bàng, đương đệm, đan chiếc nóp, gởi ra tiền tuyến, tặng các anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn. Ngày nay, hình ảnh ấy vẫn còn ẩn hiện qua làn điệu dân ca Nam Bộ:
 Chiếc nóp

Nóp này em gởi tặng anh
Xuồng em bơi tận trong kinh Tháp Mười
…Gởi ba nó ngủ ấm lòng
Để đi giết giặc lập công thật nhiều
    Trở lại với chiếc nóp nó được xem là sản phẩm vật chất của nghề đan đệm bàng. Trước khi được mang tên nóp nó là chiếc đệm có chiều dài 2m, ngang 1m, được may hai đầu lại, chừa miệng để chui ra chui vào. Đây là vật dụng rất cần thiết và gắn bó một thời với đời sống của người nông dân Nam Bộ, là vật bất ly thân đối với cán bộ, chiến sĩ từng tham gia kháng chiến ở Đồng Tháp Mười. Nó có thể thay cho chiếc ba lô đựng những vật dụng cần thiết, thay cho chiếc mùng để chiến sĩ ta nghỉ ngơi sau những đêm dài hành quân và trong chiến đấu, nó có thể làm bệ tì súng, làm gối gối đầu… nóp che chở cho người lính nhiều như vậy đó và còn hơn thế nữa, nếu chẳng may, chiến sĩ hy sinh, chiếc nóp thủy chung còn thay cho quan tài đưa người xuống mộ…
    Dấu ấn một thời chiếc nóp đã đóng vai trò lịch sử của nó, như một biểu tượng của Đồng Tháp Mười. Nhắc đến nó như nhắc đến một người bạn tri ân, theo anh chiến sĩ trong những ngày mưa bom, khói lửa… Nó là những kỷ vật mang theo bên mình, đồng hành cùng chiến sĩ ta trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến.
    Ngày nay, vì nhiều lý do khác nhau khi mà hoàn cảnh sống của con người ngày càng thay đổi, chiếc nóp không còn được sử dụng trong đời sống cộng đồng, nhưng người ta vẫn luôn trân trọng, nhớ về nó với vị trí xứng đáng trong chặng đường lịch sử nhất định. Hai thập kỷ đã trôi qua, chiếc nóp - người bạn đồng hành thủy chung gắn bó với nhân dân Nam Bộ, với anh chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn đã lùi vào dĩ vãng, nay chỉ lưu lại trong ký ức như một kỷ niệm. Điều đó không có gì lạ, chẳng ai trách nhưng chỉ mong sao đừng quên quá khứ, đùng quên chiếc nóp - kỷ vật của chiến sĩ ta thời chín năm kháng chiến ở chiến khu Đồng Tháp Mười mà nó được tạo ra từ cọng bàng của quê hương anh nước mặn đồng chua và một thời anh đã mang nặng ơn nghĩa với nó, nhờ nó mà anh sống, chiến đấu và trưởng thành./.
                                                                                       Bài, ảnh: Đỗ Thị Lan
(Bảo tàng Long An)

Tân An - Chợ Lớn trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ

Ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã đi vào lịch sử như là một trong những điểm son chói lọi nhất của dân tộc trên con đường cởi ách nô lệ. Ngày 14-4-1948, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940, đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc” (Điều 1 Sắc lệnh 163-SL ngày 14-4-1948 của Chủ tịch Chính phủ), như một sự khẳng định tinh thần bất diệt của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Ở vị trí sát cạnh trung tâm Sài Gòn, Long An (lúc bấy giờ là hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn) trở thành một trong những địa bàn sôi động nhất mà những địa danh lịch sử ngày nay đã trở thành di tích lịch sử-văn hóa như nhắc nhở thế hệ hôm nay không được quên khúc bi tráng đầy tinh thần quật cường này trong lịch sử dân tộc.
 Xà beng, phi tiêu, một trong số  những vũ khí của lực lượng khởi  nghĩa ở Trung Quận chuẩn bị cho  việc “đi thành”.
 Cây súng, quân khởi nghĩa do đồng chí Lê  Văn Tưởng (sau này là trung tướng Quân đội  nhân dân Việt Nam ) chỉ huy lấy được của tên thực dân Rylski ở đồn điền mía Roly, ấp  Xuân Khánh, làng Hòa Khánh (quận Đức  Hòa), ngày 26/11/1940.

Trước tình hình chuyển biến nhanh chóng của thế giới và Đông Dương sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939), Trung ương Đảng (đóng ở Sài Gòn) kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Sau nhiều lần hội nghị, nhiều tranh luận, đến tháng 3-1940, chủ trương khởi nghĩa vũ trang của Xứ ủy, do đồng chí Võ Văn Tần làm bí thư đề ra dần dần hình thành với “Đề cương khởi nghĩa Nam kỳ” được phổ biến đến các tỉnh ủy và cơ sở. Thực dân Pháp phát hiện được tài liệu của Xứ ủy, đã ra tay đàn áp dữ dội. Nhiều đồng chí của Trung ương và Xứ ủy như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến… bị bắt. Tình hình lại chuyển biến mới, Pháp đầu hàng phát xít Đức, địch ở Đông Dương hoang mang, Pháp điều quân lên biên giới Tây Nam để vãn hồi tình hình quân Xiêm do Nhựt giật dây tiến đến biên giới Lào và Campuchia; lính trại Ô Ma (có cơ sở Đảng làm binh vận) phản kháng, không chịu đi làm bia đỡ đạn, muốn nổi dậy khởi nghĩa. Tất cả diễn biến trên đã đưa đến cuộc hội nghị ở Tân Hương, Mỹ Tho (21 đến 27-7-1940) với sự có mặt của 24 đại biểu của 21/24 tỉnh thành, quyết định khẩn trương chuẩn bị mọi mặt về tổ chức, xây dựng và phát triển lực lượng, lập Mặt trận phản đế, mua sắm vũ khí, vận độntg binh lính, sắp xếp lực lượng… để chuẩn bị khởi nghĩa; đồng thời cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra miền Trung, miền Bắc hợp đồng cùng phối hợp hành động. Nhật tràn vào Lạng Sơn, đồng thời đổ quân vào Hải Phòng (9-1940), Pháp bạc nhược đầu hàng, cả nước xôn xao; khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ (27-9-1940). Ở Nam Kỳ, Xứ ủy sốt ruột chờ đợi tin đồng chí Phan Đăng Lưu, ngày 20-11-1940, Thường vụ Xứ ủy họp khẩn cấp hạ lệnh các địa phương nổi dậy vào lúc 0 giờ đêm 22 rạng 23-11-1940, hiệu lệnh: “đèn Sài Gòn tắt” hoặc có “tiếng súng nổ”. Khi đồng chí Phan Đăng Lưu bắt liên lạc được với Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ, trên đường vào Nam truyền đạt chủ trương hoãn khởi nghĩa do thời cơ chưa chín mùi, nhưng về đến Sài Gòn vào chiều 22-11-1940 thì bị địch bắt và lệnh khởi nghĩa đã truyền đi khắp các tỉnh.
 
 Cầu Bà Thơm, làng Hiệp Thạnh, nơi lực lượng khởi nghĩa quận Châu Thành đốt phá đêm 22 rạng 23/11/1940.
 Hai tỉnh Tân An-Chợ Lớn lúc bấy giờ có 7 quận (Cần Đước, Cần Giuộc,  Đức Hòa, Trung Quận (Chợ Lớn), Châu Thành, Thủ Thừa, Mộc Hóa (Tân An), 22 tổng, 128 làng. Cho đến trước thời điểm khởi nghĩa, riêng tỉnh Chợ Lớn có 37 chi bộ với khoảng 160 đảng viên, tỉnh Tân An cũng khoảng chừng ấy. Là địa bàn sát cạnh Sài Gòn, Tân An-Chợ Lớn, nhất là “Vành đai đỏ” Chợ Lớn trở nên rất nhạy cảm trước những diễn biến trong nước và thế giới, vì vậy mà không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở đây trong những ngày giữa tháng 11-1940 luôn sôi sục. Từ khi tiếp thu tinh thần chỉ đạo của hội nghị Xứ ủy ở Tân Hương (7-1940), việc chuẩn bị khởi nghĩa ở Tân An-Chợ Lớn được xúc tiến mạnh mẽ với các hoạt động tuyên truyền, tổ chức, chuẩn bị võ trang, binh vận, quyên tiền mua sắm vũ khí… Nhiều nơi, các lò rèn chuyển sang rèn đúc vũ khí. Đặc biệt, ở Đức Hòa, làng Hựu Thạnh trở thành “khu tạo tác” chuyên chế tạo súng thủ công, bom tay, in truyền đơn, may cờ, khẩu hiệu…Đến đầu tháng 11-1940, các ban chỉ đạo khởi nghĩa cấp quận của hai tỉnh lần lượt ra đời. Một số nơi, do đặc thù, có ban chỉ đạo cấp tổng như Cần Đước. Tổng Long Hưng Hạ ở Trung Quận, ngoài ban chỉ đạo ấp quận còn có sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng ủy và một số Xứ ủy viên và do có phong trào mạnh, 5/7 làng thành lập Ủy ban bạo động. 94/128 làng của hai tỉnh xây dựng được kế hoạch cướp chính quyền. Theo kế hoạch hành động, ngoài nhiệm vụ cướp chính quyền tại chỗ, một bộ phận của quận Thủ Thừa còn tiếp ứng cho Sài Gòn, quận Châu Thành kiêm cả nhiệm vụ đánh chiếm tỉnh lỵ Tân An. Các quận của tỉnh Chợ Lớn phải tổ chức lực lượng tiếp ứng cho Sài Gòn. Cánh Trung Quận có lực lượng Cần Đước sáp nhập tham gia phá Khám Lớn Sài Gòn. Cánh Cần Giuộc phối hợp với Bình Xuyên tiến công các cơ sở địch ở phía Nam Sài Gòn. Cánh Đức Hòa tiếp ứng cuộc nổi dậy của binh lính thành Ô Ma.
Tất cả đã sẵn sàng chờ giờ khởi nghĩa. Địch đánh hơi và dựa vào chỉ điểm, khủng bố dữ dội, ngày 22-11-1940 đã giăng bẫy trong thành phố Sài Gòn đón bắt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, ra lệnh giới nghiêm, báo động khắp nơi, huy động cả hải, lục quân trợ lực cho cảnh sát, mật thám sẵn sàng chống khởi nghĩa, dù vậy, vẫn bị bất ngờ.
 Một số đồng chí của Tân An-Chợ Lớn từ thời Nam Kỳ khởi nghĩa. Thứ tự từ trái sang phải: Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Văn Chính (Chín Cần), Trương Văn Bang, Huỳnh Thị Thinh, Trần Văn Giàu, Lê Hồng Vũ, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Thị Nguyệt.

Đến giờ khởi nghĩa, đèn Sài Gòn vẫn sáng, vẫn không có tiếng súng nổ, lực lượng “đi thành” được lệnh rút về chờ lệnh mới.Tuy nhiên, cuộc nổi dậy vẫn nổ ra mạnh mẽ ở khắp nơi trong hai tỉnh ngay trong đêm 22 rạng ngày 23-11-1940 và những ngày sau đó.Với nhiều mức độ khác nhau và khí thế chưa từng có, lực lượng khởi nghĩa ở các làng đã đánh đồn, tiến chiếm nhà việc, nhà hội, nổi trống mõ, tù và, đốt sổ bộ, tài liệu, đốt trụ sở, xuống đường tuần hành, mít tinh, hô hào khởi nghĩa, trừng trị tay sai ác ôn, cảnh cáo, giáo dục tề, kềm chế lính, tước súng tề, treo cờ đỏ, rải truyền đơn, ngã cây, phá đường, phá cầu, tạo chướng ngại vật, cắt dây thép, nổi lửa…, làm cho làng lính địa phương hoảng sợ lẩn trốn.Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, toàn Tân An-Chợ Lớn có 94 làng /128 làng thực hiện kế hoạch cướp chính quyền và tham gia tham gia hưởng ứng khởi nghĩa với nhiều hình thức khác, tiến đánh 12 đồn bót, chiếm và đốt phá 37 nhà việc, ngăn lộ phá cầu ở 21 địa điểm, thu 52 súng, trừng trị 49 tên ác ôn, tay sai... Nhiều vụ trừng trị ác ôn ở Đức Hòa, Cần Giuộc, Trung Quận, Mộc Hóa, diệt đồn ở Thủ Thừa, treo cờ ở Cần Giuộc… đã gây tiếng vang lớn. Từ cuộc khởi nghĩa, đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất, dũng cảm kiên cường, hy sinh oanh liệt trước pháp trường, như các đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Nhâm, Lê Văn Lao, Võ Văn Siêng (con đồng chí Võ Văn Tần), Nguyễn Văn Dường, Lê Công Phép…
Địch khủng bố dã man sau khởi nghĩa, đã đốt hàng trăm ngôi nhà, đưa quân ruồng bố, càn quét, bắn giết hàng trăm cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và đồng bào, lập đài xử bắn các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa ở Đức Hòa, Cần Giuộc…Dù bị dìm trong bể máu, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở Tân An-Chợ Lớn đã làm kẻ thù khiếp sợ. Lần đầu tiên kể từ khi quân xâm lược đặt chân lên mảnh đất này, cùng với các tỉnh ở Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn đã làm rung chuyển từng mảng lớn chính quyền địch ở cơ sở mà thực dân Pháp và tay sai đã thống trị hơn nửa thế kỷ qua.“Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc Đông Dương”.

       Bài và ảnh: Nguyễn Tấn Quốc

Phú Hữu - quê hương Nam Kỳ khởi nghĩa

QĐND - Từ sau ngày thành lập Đảng 3-2-1930, vùng đất Hậu Giang nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long là đầu mối liên lạc giữa các tỉnh Tây Nam bộ, nên đã được Xứ ủy Nam Kỳ tập trung chỉ đạo. Năm 1936, Liên Tỉnh ủy Cần Thơ được thành lập do đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư, đồng chí Quảng Trọng Hoàng làm Phó bí thư liên Tỉnh ủy, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ. Căn cứ Tỉnh ủy được đặt ở xã Phú Hữu, huyện Châu Thành, bên bờ Nam sông Hậu. Nơi đây cũng là điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đầu tiên của tỉnh Cần Thơ và miền Tây sông Hậu. Liên Tỉnh ủy Cần Thơ đặt ở vùng trọng yếu này để lãnh đạo phong trào cách mạng của 7 tỉnh đến năm 1940 (gồm: Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp, Sa Đéc và Rạch Giá). Năm 1937, Chi bộ dự bị với 3 đồng chí đảng viên đầu tiên được thành lập, đến tháng 6-1938 trở thành Chi bộ Đảng chính thức ở Phú Hữu. Tại rạch Ngã Lá, ấp Phú Lễ có nhà bà Ngô Thị Lụa là cơ sở cách mạng kiên cường và đây cũng được chọn làm trụ sở của cơ quan Liên Tỉnh ủy. Cũng từ nơi này, Liên Tỉnh ủy đã trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tại vùng Hậu Giang.
Tháng 4-1940, Tỉnh ủy Cần Thơ họp nhất trí chủ trương của Xứ ủy, tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tại tỉnh nhà; khí thế chuẩn bị khởi nghĩa trong quần chúng dâng cao, thanh niên luyện tập quân sự, nhiều nơi sản xuất vũ khí thô sơ, các cuộc mít tinh diễn ra liên tục hằng đêm ở các làng, xóm… sẵn sàng bước vào cuộc khởi nghĩa.
Bia truyền thống Nam Kỳ khởi nghĩa tại xã Phú Hữu, huyện Châu Thành (Hậu Giang).
Ngày 20-11-1940, Thường vụ Xứ ủy đã ban hành Lệnh khởi nghĩa đi các nơi, quyết định toàn xứ thống nhất hành động vào đêm 22 rạng 23-11-1940. Do gián điệp chui vào tổ chức của ta nên kế hoạch bị bại lộ. Chiều ngày 22-11-1940, đồng chí Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy và nhiều đồng chí trong Xứ ủy bị bắt. Tuy nhiên, giờ hành động đã đến, lòng dân đang sục sôi đấu tranh, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn nổ ra.
Tại thị xã Cần Thơ - trọng điểm số một của tỉnh, địch đã chủ động đối phó, tăng cường 200 lính Pháp và lê dương tuần tra canh gác khắp thị xã, nên cuộc khởi nghĩa không thực hiện được. Vì vậy lực lượng bên ngoài chỉ đốn cây, hạ cột dây thép, phá giao thông, treo cờ, băng khẩu hiệu… Mấy ngày sau, địch truy lùng ráo riết, hàng trăm cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước bị bắt giam vào lao tù và tra tấn rất dã man, trong đó có đồng chí Lê Văn Nhung – Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ và đồng chí Ngô Hữu Hạnh – Thường vụ tỉnh ủy Cần Thơ. Sau khi bắt giam, bọn chúng biết hai đồng chí là cán bộ cấp cao của ta nên đã giam hai đồng chí ở Khám lớn (Cần Thơ), sau đó chuyển lên giam ở Khám lớn Chí Hòa. Sau những trận đòn tra tấn rất dã man đối với hai đồng chí, nhưng chúng vẫn không khai thác được gì. Chiều ngày 3-6-1941, chúng quyết định chuyển về giam ở Khám lớn Cần Thơ để sáng hôm sau xử bắn, hòng đè bẹp tinh thần đấu tranh của người dân nơi đây. 7 giờ sáng, địch đưa hai đồng chí ra pháp trường, hai đồng chí kiên quyết không cho kẻ thù bịt mắt để nhìn lần cuối đồng bào và quê hương yêu dấu của mình. Đồng chí Ngô Hữu Hạnh bước lại bàn ghi mấy dòng chữ để lại cho đồng bào, đồng chí và gia đình: “Hãy vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng”. Giữa pháp trường vang lên tiếng thét của hai đồng chí “Đả đảo thực dân Pháp!”. Vào thời điểm đó bọn chúng còn đưa một linh mục đến rửa tội, hai đồng chí nói là chỉ có thực dân Pháp mới cần rửa tội, rồi cùng hát bài “Quốc tế ca” trước quân thù.
Cuộc khởi nghĩa ở Cần Thơ nói riêng, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nói chung đã nêu cao được khí thế cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cuộc khởi nghĩa đã gây một tiếng vang và tầm ảnh hưởng rộng lớn trong cả nước, là bài học quý báu về khởi nghĩa vũ trang cũng như bài học kinh nghiệm cho Cách mạng tháng Tám 1945 thành công.
Phát huy truyền thống anh hùng của quê hương, xã Phú Hữu hôm nay đang thay da, đổi thịt từng ngày. Chợ Mái Dầm có “nhà việc” của thực dân Pháp trước kia bây giờ là một trạm quan trọng của giao thông đường thủy. Tàu đò từ Sóc Trăng, Đại Ngãi, Kế Sách; từ Cà Mau, Bạc Liêu, Rạch Giá chạy đường sông Hậu, ghé Mái Dầm để đưa rước khách và lên xuống hàng hóa. Phú Hữu còn là vùng quê trù phú của vườn cây ăn trái. Khi nói tới tuyến miệt vườn “Cái Răng – Ba Láng – Vàm Xáng – Phong Điền” là nói luôn tới Phú Hữu. Tại đây có trái bưởi Năm Roi đã trở thành thương hiệu có tiếng cho miền Hậu Giang. Nơi đây trở thành điểm du lịch sinh thái-về nguồn.
Từ truyền thống của căn cứ Liên Tỉnh ủy, của Nam Kỳ khởi nghĩa, những người con của Phú Hữu hôm nay đang ra sức phát huy truyền thống vẻ vang của cha ông để lại, viết tiếp những trang sử vàng của thời kỳ đổi mới; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bài và ảnh: Bùi Văn Bồng

KHỞI NGHĨA NAM KỲ NĂM 1940 Ở HÓC MÔN

KHỞI NGHĨA NAM KỲ NĂM 1940 Ở HÓC MÔN
  
             Hóc Môn, Bà Điểm, 18 thôn vườn trầu – vùng nông thôn ngoại thành nên thơ, đẹp như tranh vẽ của Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử cận hiện đại của dân tộc, bằng tấm lòng yêu nước và cách mạng của nhân dân và bằng những phong trào đấu tranh bất khuất chống áp bức xâm lược của ngoại bang. Tháng 9 năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, thực dân Pháp ở Đông Dương đi vào con đường phát xít hóa, thẳng tay đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu họp tại Bà Điểm đã nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới, nhấn mạnh nhiệm vụ giải phòng dân tộc là hàng đầu của cách mạng Đông Dương, tập trung lực lượng chống đế quốc và tay sai, lôi kéo những phần tử tiến bộ trong giai cấp địa chủ, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Hội nghị đề ra hình thức đấu tranh: “ Bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc, song phải hết tránh những cuộc đấu tranh non, đấu tranh vô phương pháp, vô chuẩn bị”.
Tháng 6 năm 1940, chính quyền Pháp đầu hàng phát xít Đức, phản bội quyền lợi của nước Pháp. Ngày 20 tháng 6 năm 1940, hàng ngàn quần chúng  SàiGòn – Gia Định cùng binh sĩ yêu nước biểu tình đả đảo phát xít, đả đảo chính phủ Pháp phản bội lại quyền lợi dân tộc Pháp và các dân tộc thuộc địa. Hoảng sợ trước khí thế đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp tăng cường đàn áp khủng bố, lục soát trụ sở Trung ương Đảng, Thành ủy, bắt bớ giam cầm những Đảng viên Cộng sản và những người yêu nước. Các đồng chí đã bị giặc bắt như: Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ , Lê Duẩn, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến…. Bên cạnh đó, tình hình sản xuất đình đốn, thất nghiệp gia tăng, giá cả tăng vọt, thuế má chồng chất, đời sống các tầng lớp nhân dân rất cơ cực, bầu không khí chính trị xã hội khắp nơi rất căng thẳng. Đảng viên và quần chúng đều mong mỏi nhân cơ hội này nổi dậy giải phóng đất nước.
Trước tình hình đó, tháng 7 năm 1940, Xứ ủy Nam kỳ họp mở rộng tại xã Tân Hương, Huyện Châu Thành, Tỉnh Mỹ Tho. Hội nghị Tân Huơng đã chủ trương khởi nghiã, cho thành lập các ban quân sự các cấp, cử đồng chí Tạ Uyên làm Bí thư Xứ ủy (thay đồng chí Võ Văn Tần bị địch bắt) và cử đồng chí Phan Đăng Lưu ra Trung ương xin chỉ thị về chủ trương khởi nghiã. Thi hành Nghị quyết của Hội nghị Tân Hương, Tỉnh ủy Gia Định do đồng chí Lê Văn Khương, Thường vụ Xứ ủy kiêm Bí thư Gia Định  đã chỉ thị cho các quận, tổng thành lập các Ban quân sự, tổ chức các đội vũ trang, rèn sắm vũ khí, tập luyện võ nghệ, chuẩn bị cho khởi nghiã. Nghị quyết khởi nghiã của Xứ ủy đã làm nức lòng nhân dân Nam bộ, khắp nơi từ thành thị cho đến nông thôn, không khí chuẩn bị vô cùng sôi nổi. Ở nội thành SàiGòn, công nhân các nhà máy Bason, Fasi, bến tàu Khánh Hội, nhà đèn Chợ Quán, Trường Bá nghệ …. đều tổ chức các đội tự vệ sẵn sàng khởi nghiã. Ở nông thôn, trên các cánh đồng, vườn cây, bãi trống, các tổ chức công, nông, thanh, phụ, các tổ chức du kích tập luyện quân sự, rèn sắm vũ khí chuẩn bị  khởi nghiã, có nơi gần như công khai.
  
Tháng 9 năm 1940, Phát xít Nhật đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp đầu hàng Nhật. Trước tình hình ấy, Xứ ủy Nam kỳ triệu tập hội nghị ở làng Xuân Thới Đông, quận Hóc Môn. Hội nghị đánh giá địch có nhiều khó khăn, lung lay và hỗn độn, ta thì tổ chức chưa thật củng cố, phong trào chưa đủ mạnh . Nhưng Pháp – Nhật đang đánh nhau nên cho rằng thời cơ đã đến, đặc biệt là tinh thần quần chúng sôi sục đòi hỏi khởi nghiã. Hội nghị đã quyết định tích cực chuẩn bị khởi nghiã và trao cho Thường vụ xứ ủy quyền ra lệnh khởi nghiã sớm mà không chờ ý kiến của Trung ương .
Ngày 20 -11-1940, Thường vụ Xứ ủy ra lệnh khởi nghiã vào đêm 22 -11-1940, lệnh đã được gởi đi các tỉnh trong toàn xứ thì trưa ngày 22/11/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ở Bắc vào mang chỉ thị của Trung ương hoãn cuộc khởi nghiã nhưng lệnh khởi nghiã đã xuống đến cơ sở rồi không thể lấy lại được nữa, nên cuộc khởi nghiã Nam kỳ đã nổ ra. Nhưng cuộc khởi nghiã đã bị lộ, trong ngày 22-11-1940, lãnh đạo Xứ ủy, Thành uỷ các đồng chí Tạ Uyên, Nguyễn Như Hạnh ( Bí thư Thành uỷ), Phan Đăng Lưu … đã bị địch bắt, hàng ngàn lính tập người Việt ở trại lính thành Ô Ma bị tước vũ khí và nhốt vào trại, lính Pháp và lê dương trang bị đại bác, xe tăng  tăng cường bố, phòng các con đường lớn, bảo vệ các công sở,  trật tự an ninh được chúng xiết chặt nghiêm ngặt, bọn mật thám và cảnh sát đi lùng sục bắt bớ những người tình nghi. Tại tỉnh Gia Định, Chợ Lớn và các vùng xung quanh Thành phố, đêm 22-11-1940, nhân dân ta vẫn tiến hành khởi nghiã vì không bắt được liên lạc với Thành uỷ và Xứ uỷ. Tại các quận của tỉnh Gia Định, cuộc khởi nghiã đã tiến hành từ sau chiều tối. Quận Gò Vấp tiếp cận Thành phố, nghĩa quân đã tấn công các đồn bót địch ở Lăng Cha Cả, bót Vườn Tiêu, bót Ngã Năm Vĩnh Lộc và bót Phú Lâm…
Trước sức mạnh của nhân dân khởi nghiã, địch ở các đồn đầu hàng hoặc bỏ chạy. Một số nơi chờ súng lệnh nổ theo kế hoạch khởi nghiã nhưng không có nên không khởi nghiã. Quận Hóc Môn huy động được một lực lượng lớn quần chúng tham gia khởi nghiã, cùng lực lượng nghiã quân 4 tổng Long Tuy Thượng, Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung và Bình Thạnh Trung, chia thành 4 mũi tấn công áp sát vào dinh lũy tên quận trưởng Hóc Môn, có hai trong đội lính khố xanh bảo vệ, hạ các bót và trừ tề ở các làng, phá hoại cầu cống, đường giao thông các địa phương để ngăn địch chi viện, kế hoạch nổ súng vào đồn Hóc Môn vẫn chờ pháo lệnh chung của Thành Phố. Đồn Hóc Môn rất kiên cố, xây bằng đá xanh cao khoảng 15 đến 16 mét, có ụ súng và lỗ châu mai do một trung đội lính khố xanh trấn giữ. Đồn xây từ sau cuộc khởi nghiã 18 Thôn Vườn Trầu năm 1885, như một pháo đài vững chắc. Ngày 22/11/1940, Pháp tăng cường thêm một trung đội để đối phó với các cuộc tấn công của nghiã quân mà ta không nắm được.
Bốn cánh quân của 4 tổng kéo về trung tâm quận lỵ Hóc Môn với khí thế hừng hực, đã tiêu diệt, đánh phá các đồn bót , đình làng trên đường đi và trừng trị những tên Hội tề, Việt gian theo Pháp, tập trung về công đồn Hóc Môn. Đến 24 giờ đêm ngày 22/11/1940 vẫn chưa nghe tiếng pháo lệnh ở SàiGòn, Ban lãnh đạo khởi nghiã quyết định tấn công. Lập tức nghiã quân ồ ạt tiến lên xông vào đồn như nước vỡ bờ, cờ đỏ búa liềm đã xuất hiện trước sân đồn để cổ động tinh thần các nghiã quân. Bọn lính trong đồn lớp chết, lớp chạy trốn, lớp đầu hàng nghiã quân, chỉ còn một tốp lính ngoan cố do một tên đội chỉ huy bảo vệ tên quận trưởng Bùi Ngọc Thọ, rút lên lầu cao, bịt cửa cầu thang, cố sức chống trả và điện kêu cứu về SàiGòn, Gia Định và Thủ Dầu Một. Nghiã quân anh dũng chiến đấu, lớp này hy sinh lớp khác tiến lên, tuy nghiã quân đã làm chủ thị trấn và toàn quận Hóc Môn, song vẫn chưa dứt điểm được đồn Hóc Môn và cuộc quyết chiến kéo dài gần đến sáng với bất lợi nghiêng về phía nghiã quân. Nghiã quân phải rút lui khỏi thị trấn, phân tán về các làng, số lực lượng vũ trang thì rút về ấp Bến Đò, làng Tân Phú rồi băng bưng sang đóng quân tại ấp Giồng Ông Hoà (làng Mỹ Hạnh, quận Đức Hòa).
Khoảng 4 giờ sáng ngày 23/11/1940, thực dân Pháp cho hai đội quân từ Thủ Dầu Một và Gia Định đến giải vây cho Hóc Môn, quân Pháp chia ra nhiều ngã, nổ súng tiến vào thị trấn giải vây cho tên quận Thọ và bọn lính còn lại trong đồn. Ngày hôm đó Hóc Môn bãi thị, không ai ra đường, xe cộ ngừng hoạt động, các hiệu buôn, nhà dân đóng cửa. Cuộc tấn công đồn Hóc Môn tuy thất bại, nhưng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân dân về sự dũng cảm kiên cường của các chiến sĩ cộng sản và sức mạnh vô biên của quần chúng yêu nước, những bài học về chuẩn bị lực lượng tổ chức khởi nghiã, khả năng lãnh đạo chỉ huy và trên hết là khả năng khởi nghiã đánh đuổi quân xâm lược giành chính quyền về tay nhân dân.
Sau khi khởi nghiã thất bại, thực dân Pháp đã tiến hành những cuộc khủng bố trắng dã man tàn bạo nhất, chúng lùng sục khắp xóm làng bắt các chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước, hành quân bố ráp, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ và giết chóc vô tội vạ khắp các thôn xóm; bọn lính làng được dịp hống hách, đe dọa, tống tiền và trả thù những người yêu nước. Tại Hóc Môn chúng dựng 3 trường bắn để xử tử những người yêu nước cách mạng tại: một ở cạnh Rạp hát cũ thị trấn Hóc môn, giặc xử bắn đồng chí Phạm Văn Sáng (Bí thư Quận ủy), Đặng Công Bỉnh (Tổng chỉ huy các cánh quân); một cạnh giếng nước sau Bệnh viện Hóc Môn, giặc xử bắn công khai các đồng chí Hà Huy tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến ( Hải Đông), và một ở Ngã Ba Giồng Bằng lăng, làng Xuân Thới Tây (nay là Xuân Thới Thượng), giặc xử bắn bí mật đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu và nhiều đồng bào, đồng chí khác đã anh dũng hy sinh.
        Các đồng chí chết đi, song khí tiết anh hùng và tiếng vang chính nghiã của Khởi nghiã Nam Kỳ sống mãi, chẳng những đối với nhân dân Hóc Môn- Bà Điểm, 18 Thôn Vườn Trầu, mà còn với nhân dân Nam bộ và cả nước nói chung. Cuộc Khởi nghiã Nam Kỳ trở thành một nguồn nội lực thôi thúc nhân dân quyết chiến quyết thắng, đánh đuổi quân xâm lược giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.
                                                                                                                     KIM HÂN
 ( Ghi theo Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Hóc Môn)  

Hào khí Nam Kỳ khởi nghĩa bất diệt (23/11/1940 - 23/11/2013)

Tháng 9-1939, chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ở Đông Dương thực dân Pháp phát-xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, chỉa mũi nhọn vào Đảng Cộng sản. Sự chà đạp và tước đoạt của thực dân Pháp đối với nhân dân ta lên đến cực điểm cùng mưu mô đầu hàng thỏa hiệp với phát-xít Nhật đã đặt ra trước mắt vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp ngày càng gay gắt.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra từ ngày 6 đến 8-11-1939, tại Bà Điểm (Hóc Môn - Gia Định) đã xác định: Trong hoàn cảnh mới, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, cấp bách của các dân tộc Đông Dương. “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”. Nghị quyết của Hội nghị được phổ biến tới các địa phương, như một luồng gió mới tiếp thêm sinh khí cho phong trào cách mạng trên cả nước.
Từ tháng 7 đến tháng 10-1940, Đảng bộ Nam Kỳ liên tiếp tổ chức nhiều cuộc họp để bàn chủ trương và gấp rút lãnh đạo các tầng lớp nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Đến giữa tháng 11-1940, trước tình hình phong trào cách mạng sôi sục, tinh thần phản chiến trong binh lính người Việt lên cao, Xứ ủy Nam Kỳ đã quyết định phát động toàn Nam Kỳ nổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 21-11-1940, Thường vụ Xứ ủy ra thông báo cho các cấp bộ đảng nhất loạt phát động nhân dân nổi dậy vào lúc 24 giờ ngày 22-11-1940.  
Hội nghị Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng từ ngày 6 đến 9 tháng 11-1940 đã quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa vì điều kiện chủ quan và khách quan chưa chín muồi. Đồng chí Phan Đăng Lưu trở về truyền đạt quyết định của Trung ương cho Xứ ủy Nam Kỳ. Nhưng khi đồng chí Phan Đăng Lưu về tới Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã ban hành tới các địa phương, một số cán bộ chủ chốt của Xứ ủy đã bị địch bắt, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch.
Cả Nam Kỳ rung chuyển dưới sức nổi dậy của quần chúng cách mạng. Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở 20/21 tỉnh, thành phố ở Nam Kỳ, kéo dài từ đêm 22, rạng sáng 23-11 đến ngày 31-12-1940, mạnh nhất là ở Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Vĩnh Long... Lực lượng vũ trang và quần chúng đã nổi dậy tiến công địch ở các xã, tập kích nhiều đồn bốt, tiến đánh một số quận lỵ, phá hỏng nhiều cầu, đường, cắt dây điện thoại... Ở Vĩnh Long, chính quyền cách mạng cấp quận đã được thành lập tại Vũng Liêm. Ở Mỹ Tho, chính quyền cách mạng ở vùng khởi nghĩa tồn tại trong 40 ngày; một số nơi, nhân dân lập tòa án cách mạng xét xử bọn phản động, xóa bỏ các thứ thuế vô lý, xóa các khoản nợ, tịch thu thóc gạo của địch chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân. Trong bão táp cách mạng, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu được giương cao trong các cuộc biểu tình, tiến công đồn bốt ở Mỹ Tho (vùng Long Hưng, Long Định), Gia Định (vùng Hóc Môn), Vĩnh Long (vùng Bà Càng), Bạc Liêu (vùng Cà Mau), Chợ Lớn, Tân An, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, Long Xuyên, Thủ Dầu Một...
Tuy chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, nhưng khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệt nhất kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Thực dân Pháp khủng bố khốc liệt những người khởi nghĩa. Hàng nghìn người bị xử tử, bị đày ra Côn Đảo và các trại tập trung Bà Rá, Tà Lài... Pháp cũng nhân cơ hội này hành hình nhiều đồng chí cán bộ chủ chốt của Đảng bị bắt từ trước khởi nghĩa như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Đăng Lưu...
Mặc dù thất bại do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ có ý nghĩa rất to lớn. Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ “là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương”. Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện sức mạnh quật khởi, lòng tin tưởng và sẵn sàng hy sinh của nhân dân các tỉnh Nam Bộ trong cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ngày 14/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 163-SL tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940 “đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với kẻ địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”. Đó là sự khắc ghi của dân tộc đối với công lao và sự hy sinh của quân và dân Nam Kỳ.
Hiện thực hào hùng của khởi nghĩa Nam Kỳ 23-11-1940 đã để lại những bài học quý giá. Đó là bài học về xây dựng thực lực cách mạng gắn với nắm bắt thời cơ; bài học về khơi dậy và nhân lên sức mạnh vĩ đại từ sự hiệp lực, đồng tâm của quần chúng; bài học về phối hợp địa phương với cả nước, về nghệ thuật giành và giữ chính quyền nhân dân... Đặc biệt nổi lên bài học về xây dựng Đảng. Đảng bộ Nam Kỳ mới mười tuổi đã phát động được một cuộc khởi nghĩa long trời lở đất chính vì đã sớm nắm bắt và vận dụng đường lối của Đảng, xây dựng được hệ thống tổ chức cơ sở Đảng, tổ chức quần chúng rộng khắp, tạo dựng được một đội ngũ cán bộ đảng viên trung thành, dũng cảm và tiên phong gương mẫu, luôn luôn gắn bó với quần chúng, tin tưởng ở sức mạnh của quần chúng, hòa mình trong quần chúng mà dẫn dắt quần chúng tiến lên.
Phát huy truyền thống hào hùng của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, lực lượng vũ trang và nhân dân Quận 12 không ngừng phát huy sức mạnh đoàn kết trong toàn Đảng, toàn dân, quyết tâm khắc phục khó khăn, tích cực tham gia các phong trào hành động cách mạng, thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội của quận đề ra trong năm 2013.
                                                                                                                                         Tin, ảnhMinh Anh(bt)