Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

4 bài học từ Hội nghị Paris cho quá trình CNH-HĐH đất nước


4 bài học từ Hội nghị Paris cho quá trình CNH-HĐH đất nước


VOV online giới thiệu toàn văn phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các vị đại biểu khách quý,
Thưa đồng bào, đồng chí và chiến sỹ cả nước,
Hôm nay, trong không khí cả nước phấn khởi đón mừng năm mới, mừng đất nước đổi mới, mừng Đảng ta tròn 83 tuổi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam - một sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của nhân dân ta và nền ngoại giao Việt Nam.
Chủ tịch nước phát biểu tại lễ mit tinh
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng và xin gửi tới các đồng chí, các vị đại biểu, các vị khách quốc tế, các thành viên phái đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, các cán bộ, chiến sỹ đã tham gia phục vụ Hội nghị Paris tới dự Lễ kỷ niệm trọng thể này, cùng toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Cách đây 40 năm, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta ở thế kỷ 20; đánh dấu thắng lợi lịch sử của nhân dân ta sau hơn 19 năm đấu tranh kiên cường, bất khuất trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao chống Mỹ xâm lược.
Cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ của quân, dân ta trên chiến trường và cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris đều nhằm mục tiêu là buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Biết bao đồng bào, đồng chí và chiến sỹ, những người con ưu tú của Tổ quốc đã hy sinh xương máu vì mục tiêu thiêng liêng ấy.
Ký kết Hiệp định Paris, Mỹ đã phải công nhận nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam; nhân dân ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút” mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ ra trước lúc Người đi xa.
Hiệp định đã mở ra một cục diện mới với thế mạnh áp đảo của ta trên chiến trường, tạo tiền đề vững chắc cho quân và dân ta tiến lên “đánh cho ngụy nhào” với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Hiệp định Paris cũng là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, những người đã đồng hành ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, dõi theo từng diễn biến trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán tại Paris.
Hiệp định Paris là sự minh chứng hùng hồn cho chân lý “đại nghĩa thắng hung tàn, chí nhân thay cường bạo”, củng cố niềm tin của nhân dân yêu chuộng hòa bình và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Vì vậy, Hiệp định Paris đã đi vào lịch sử của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, tự do, vì hòa bình và công lý. Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng mở ra một giai đoạn mới ở khu vực Đông Nam Á, giai đoạn các nước Đông Nam Á hòa bình, ổn định, khép lại quá khứ thù địch, xích lại gần nhau để sum họp trong cộng đồng ASEAN ngày nay.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó, trước hết bắt nguồn từ thắng lợi của cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với những nỗ lực phi thường, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất đất nước của quân và dân ta trên các chiến trường, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, phải xuống thang và cuối cùng phải ký Hiệp định Paris.
Thắng lợi này mang đậm dấu ấn và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; có sự đóng góp từ những nỗ lực hết mình của các cán bộ, chiến sỹ trên mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước mà trực tiếp là cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, cuộc đấu trí thể hiện bản lĩnh kiên cường, thông minh, sáng tạo của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với một nền ngoại giao nhà nghề, sừng sỏ.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, mặt trận ngoại giao tại Hội nghị Paris đã phối hợp nhịp nhàng với các mặt trận chính trị, quân sự; phát huy thắng lợi trên các chiến trường, giữ vững thế chủ động trong đàm phán, liên tục tiến công.
Song song với đấu tranh trên bàn đàm phán, các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế tại Hội nghị Paris làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam; vạch trần những thủ đoạn, mưu đồ đen tối, tính chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược của địch, đã góp phần quan trọng tạo nên Phong trào nhân dân thế giới rộng lớn chống Mỹ, ủng hộ Việt Nam - một Phong trào mang tính lịch sử và thời đại, tiêu biểu cho lương tri của loài người, đã tác động rất lớn tới dư luận tiến bộ Mỹ, thúc đẩy sự lớn mạnh của phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ.
Kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chúng ta bồi hồi xúc động, ghi lòng tạc dạ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người đã đặt nền móng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam; chúng ta ghi nhớ công lao của biết bao đồng bào, đồng chí, chiến sỹ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh để làm nên những chiến công chói lọi; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các thành viên: Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn và Đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn, đặc biệt là vai trò và những cống hiến to lớn của đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ, cổ vũ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta vì độc lập, tự do, hòa bình và công lý. Sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đã trở thành một phần của lịch sử kháng chiến chống xâm lược của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do của Tổ quốc và cũng vì lẽ phải và công lý trên thế giới. Chúng tôi tin tưởng rằng, trái tim và khối óc của các bạn vẫn mãi mãi đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Hội nghị Paris và Hiệp định Paris để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa lớn trong tình hình hiện nay.
Trước hết là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta mở ra mặt trận ngoại giao, phát huy thế mạnh của ngoại giao, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất các mặt trận, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo ra sức mạnh tổng hợp, giành toàn thắng.
Thứ hai  là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; vận dụng đúng đắn phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, tạo thời cơ, kéo địch vào đàm phán, chủ động tấn công ngoại giao và kết thúc đàm phán khi điều kiện chín muồi; xử lý hài hòa quan hệ với các nước lớn, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế rộng rãi đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta để làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.
Thứ ba là bài học về tầm quan trọng của thực lực. Bác Hồ dạy: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Cái chiêng có to, tiếng mới lớn”. Thắng lợi của Hội nghị Paris bắt nguồn từ những thắng lợi trên chiến trường, từ sự lớn mạnh không ngừng về thế và lực của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó là sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế; sức mạnh từ sự kết hợp tài tình giữa các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao; giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán.
Thứ tư là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để vượt qua những thách thức lớn, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phương cách cực kỳ quan trọng, bảo đảm thắng lợi. Cuộc chiến đấu vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta thắng lợi vì đã phát huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Thứ năm là bài học về xây dựng lực lượng. Từ Hội nghị Geneva năm 1954 đến Hội nghị Paris, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã trưởng thành vượt bậc, được chuẩn bị và trang bị kỹ cả về kiến thức đối ngoại và nghệ thuật đàm phán. Cùng với sự chỉ đạo sát sao, Đảng và Nhà nước ta đã chọn lựa, tin tưởng giao trách nhiệm cho những cán bộ đối ngoại bản lĩnh nhất, xuất sắc nhất tham gia hai đoàn đàm phán, góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của Hội nghị Paris.
Thưa đồng bào, đồng chí và các bạn,
Ôn lại bài học lịch sử là để sống xứng đáng với các thế hệ cha anh, để hành động có trách nhiệm hơn trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Các bài học của Hội nghị Paris là hành trang quý giá để chúng ta vững bước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế, đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, củng cố, nâng cao thế và lực của đất nước. Trong kháng chiến chống xâm lược, thống nhất nước nhà, mặt trận ngoại giao đã có những đóng góp to lớn. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy truyền thống tốt đẹp của ngoại giao Việt Nam và những bài học quý giá của Hội nghị Paris, công tác đối ngoại cần quát triệt, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ Đại hội XI của Đảng đã đề ra, trong đó cần tập trung làm tốt những công việc sau đây:
Thứ nhất, tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; phối hợp chặt chẽ các hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với kinh tế, quốc phòng và an ninh.
Thứ hai, kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; là bạn là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam giàu mạnh; nỗ lực triển khai định hướng chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Thứ ba, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đối ngoại phục vụ sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Vận dụng sáng tạo bài học “kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại” trong bối cảnh mới, giữ vững môi trường hòa bình, tạo thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước ở khu vực và thế giới; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại tuyệt đối trung thành, suốt đời phấn đấu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn tin tưởng và kỳ vọng rằng, phát huy tinh thần Hội nghị Paris, công tác đối ngoại nhất định sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa; ghi tiếp các mốc son mới trong sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.
Chúc sức khỏe và cảm ơn đồng bào, đồng chí và các bạn./

Hiệp định Paris và ấn tượng của bạn bè quốc tế


Hiệp định Paris và ấn tượng của bạn bè quốc tế

(Dân Việt) - Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris lịch sử, những người bạn quốc tế từng chứng kiến thời khắc lịch sử đó, những người đã từng đứng lên đấu tranh phản đối cuộc chiến phi nghĩa của Mỹ, cùng nhớ lại.


Bà Helene Luc - cựu nghị sĩ, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp Việt:
Sau cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1968, Pháp đã tiếp 2 đoàn Việt Nam, một diễn ra ở Choisy-Le-Roi và một ở Massy. Để giúp đoàn có thể giải quyết những khó khăn về vật chất và khắc phục điều kiện làm việc của ông Xuân Thủy và ông Lê Đức Thọ, tôi cùng các bạn bè Đảng Cộng sản Pháp đã dành tất cả sự giúp đỡ có hiệu quả cho đoàn.
Tôi cũng không ngờ rằng đàm phán kéo dài đến 5 năm. Cuối cùng họ không còn con đường nào khác phải chọn phương án đàm phán.
Tiến sĩ Harish Mehta, phóng viên báo Busines Times từ 1987 - 2003, đã sang Việt Nam nhiều lần:
Tôi cho rằng thỏa thuận hòa bình này là khoảnh khắc chiến thắng lịch sử cho Bắc Việt vì nó củng cố niềm tin của họ, rằng Chính phủ Mỹ rồi sẽ kiệt lực và rút quân khỏi Việt Nam. Đó là chiến thắng chiến lược cho Hà Nội vì thỏa thuận hòa bình đánh dấu thời khắc thất bại lịch sử về ba mặt của Mỹ - quân sự, ngoại giao và chiến lược.
Quân đội Mỹ đã không đè bẹp được quân đội Bắc Việt. Ngoại giao Mỹ không buộc được quân miền Bắc rút khỏi miền Nam. Sau chót, chiến lược kiềm chế chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc của Mỹ thất bại vì đa phần nông thôn miền Nam đã do cách mạng nắm giữ.
Tom Hayden - nhà hoạt động chính trị xã hội Mỹ với 25 năm hoạt động chống chiến tranh:
Tháng 12.1965, tôi đến Hà Nội trong một hoạt động chống chiến tranh. Chúng tôi đã đến thăm một ngôi làng gần như bị xóa sổ vì bom Mỹ, và lời nói dối của Richard Nixon đã bị phơi bày.
Chúng tôi sau đó đã mở đường cho phóng viên Harrison Salisbury của tờ New York Times đến Việt Nam, sau này những điều tra và công bố của ông là bằng chứng cho thấy chính quyền Richard Nixon đã rất tàn ác và dối trá.

Lắng đọng niềm hạnh phúc

(Dân Việt) - Lần đầu tiên, một triển lãm ảnh có quy mô lớn về một mốc son lịch sử quan trọng - Ký kết Hiệp định Paris (27.1.1973 - 27.1.2013) - được tổ chức tại Hà Nội.

Những ngày cuối năm bận rộn, nhưng triển lãm đã thu hút không ít người đến xem, và dừng lại lắng đọng...
Sống lại từng phút giây…
Biết tin có triển lãm ảnh về Hiệp định Paris, ông Nguyễn Văn Gia (Lý Thường Kiệt, Hà Nội) đã phải gọi điện hỏi tổng đài 1080 về thời gian và địa điểm để tìm đến xem bằng được. Người cựu chiến binh già năm nay đã 80 tuổi, mắt rưng rưng chỉ vào từng tấm hình trong triển lãm kể cho tôi nghe:
“Đây là cụ Supanovong, cụ Phạm Văn Đồng và cụ Lê Đức Thọ… những người này tôi đều đã được gặp mặt khi còn làm cảnh giới trong quân đội lúc đóng quân tại Hoà Bình. Tôi rất ngưỡng mộ tài năng và trí tuệ của họ, cảm thấy hạnh phúc khi mình còn được đứng đây nhìn lại hình ảnh quá khứ”.
Những bức ảnh, hiện vật tại triển lãm đã khiến nhiều người xúc động nhớ lại niềm hạnh phúc 40 năm trước.
Ông Gia kể, ông là người Quảng Ngãi, tập kết ra Bắc từ năm 1954: “Lúc ấy tôi cứ nghĩ là chỉ ra Bắc khoảng 2 năm thôi rồi lại trở về, nhưng không ngờ phải đến 20 năm sau mới thống nhất đất nước”. Ông tham gia quân đội, làm công tác quân giới tại Hà Nội và Hoà Bình một thời gian, sau khi độc lập thì công tác tại ngành đường sắt. “Suốt bấy nhiêu năm chờ đợi hoà bình chỉ với mong muốn gia đình được sum họp. Chính vì vậy, sau khi biết tin Hiệp định Paris được ký kết, tôi vui mừng đến chảy nước mắt” - ông Gia kể.
Như được sống lại 40 năm về trước, bà Trần Thị Quỳnh Như – nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật nhiếp ảnh của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam đã ngồi lặng trước cuốn sổ cảm tưởng tại triển lãm để trải lòng mình: “Đã 40 năm trôi qua, nhưng tôi không bao giờ quên khoảnh khắc lịch sử ấy. Chỉ có ai chứng kiến những cảnh đổ nát của Hà Nội trong trận B52 khủng khiếp năm 1972 mới hiểu rằng chiến thắng trên bàn đàm phán này có ý nghĩa như thế nào”.
Bà Như đến triển lãm không chỉ với tư cách là một nhà phê bình nhiếp ảnh, mà còn muốn tìm lại những giây phút hạnh phúc 40 năm trước. “Niềm hạnh phúc cá nhân trong niềm vui của toàn dân tộc mà một đứa trẻ hơn 10 tuổi có thể cảm nhận và ghi nhớ đến tận bây giờ không phải là tầm thường” – bà cho biết.
Những hiện vật đặc biệt
140 bức ảnh, 21 lời trích dẫn, 23 hiện vật, 3 tài liệu và 8 cuốn sách được trưng bày tại triển lãm. Trong đó, có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày kể từ 40 năm qua, như văn bản gốc Hiệp định Paris. Tất cả đã ghi lại cuộc đấu tranh cam go trên mặt trận ngoại giao kéo dài 4 năm 8 tháng và 16 ngày với hàng trăm cuộc gặp công khai và bí mật.
Chiếc bút phớt đen dùng để ký hiệp định cũng được trưng bày. Tại triển lãm, phóng viên NTNN may mắn gặp được ông Lưu Văn Lợi - người mua chiếc bút. Hồi ấy, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và mua bút để phục vụ cho việc ký hiệp định. Ông Lợi kể: “Hồi đó tôi mua 36 chiếc bút phớt đen. Chiếc này được dùng để ký hiệp định. Nhưng sau tất cả đều được đưa vào viện bảo tàng, nhà lưu niệm”.
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27.1.1973 đã buộc Hoa Kỳ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ VN, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi VN, tạo bước ngoặt mở đường cho thắng lợi mùa xuân 1975 thống nhất đất nước.
Chiếc xoong quấy bột trẻ con được phái đoàn của ta mang sang để đun cháy xi dùng đóng dấu niêm phong tại hội nghị cũng được trưng bày tại triển lãm. “Trước ngày ký hiệp định, ta đã chuẩn bị cẩn thận lắm. Nhưng do điều kiện đất khách lại không thực sự dư giả tài chính nên cũng lắm thứ phải tận dụng. Khi ký xong, Mỹ dùng con dấu đóng xi niêm phong rất bài bản thì ta dùng nồi nấu bột trẻ con để đun chảy xi đóng dấu” – ông Lợi hài hước kể.
40 năm đã đi qua, nhưng đối với những người làm việc trực tiếp trên bàn đàm phán, niềm hạnh phúc vẫn như còn nguyên vẹn. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã xúc động ghi lại dòng cảm tưởng của mình trong cuốn lưu bút tại triển lãm:
“Là người đã tham gia ký Hiệp định Paris về Việt Nam ngày 27.1.1973, nhìn lại những hình ảnh của ngày đàm phán, tôi vô cùng xúc động. Các đồng chí thuộc 2 đoàn đàm phán đã hết sức cố gắng và hoàn thành nhiệm vụ. Lúc chúng tôi ở bàn đàm phán luôn luôn nhìn về chiến trường. Thắng lợi của Hiệp định Paris về Việt Nam là thắng lợi của toàn dân chúng ở miền Bắc cũng như miền Nam, là thắng lợi to lớn về quân sự và là thắng lợi to lớn về ngoại giao. Trong dịp này, chúng ta cũng nhớ đến hàng triệu người yêu chuộng hoà bình, tự do độc lập trên toàn thế giới đã nhiệt tình ủng hộ cho sự nghiệp của chúng ta”.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris


Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris


(VOV) -Lê Đức Thọ từng khiến Kissinger phải thốt lên rằng: Ông là một đối thủ xứng đáng.

Trên bàn đàm phán Paris, người ta chú ý tới một người đàn ông cao gầy, có đôi mắt cương nghị. Đó chính là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- Lê Đức Thọ.
Gần 5 năm bên bàn đàm phán, với bề dày cách mạng, tầm nhìn xa trông rộng, bản lĩnh chính trị vững vàng, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy đã đưa ra những sáng kiến, giải pháp ngoại giao chiến lược, khiến cho kẻ thù phải khâm phục, trân trọng.
Chính ông đã được đề nghị trao giải thưởng Nobel Hòa bình - giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.
Một tháng sau cuộc thương lượng chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber (Paris- Pháp), ngày 12/6/1968, người ta thấy xuất hiện trong Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một gương mặt mới- đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy.
Theo các tài liệu lịch sử, năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ đang là Ủy viên Bộ chính trị. Sau Tết Mậu Thân, ông được điều vào miền Nam tăng cường cho Trung ương Cục. Cuối đợt 2 của cuộc Tổng tấn công bắt đầu từ ngày 4/5/1968, Hồ Chủ tịch gọi ông ra Hà Nội và cử ông làm Cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy. 


Đồng chí Lê Đức Thọ, đại diện Chính phủ VNDCCH ký Thông báo chung với Hoa Kỳ về thực thi Hiệp định Paris ngày 13/6/1973 - Ảnh: Phòng lưu trữ Bộ Ngoại giao
Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ từ năm 1968 đến năm 1989 kể lại: “Tại sao Bác Hồ lại chọn đồng chí Lê Đức Thọ? Như tôi hiểu và cảm nhận thì thấy rằng, từ đầu cách mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Đức Thọ đã ở gần bên Bác. Bác rất hiểu con người này. Đó là một con người rất kiên định, đã từng trải qua nhiều công tác quan trọng, 8 năm có mặt ở Nam Bộ, hiểu được chiến trường, hiểu được tình cảm của nhân dân cho nên Bác đã trực tiếp đề cử đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris. Theo Bác nói, con người này biết cương và nhu đúng lúc. Suốt 5 năm tại hội nghị Paris, đồng chí đã thể hiện được đúng tinh thần đó”.
Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Đó cũng là cuộc đấu trí giữa ngành ngoại giao non trẻ của Việt Nam với ngoại giao nhà nghề sừng sỏi ở Mỹ với những cái tên như Harriman, Kissinger, …
Với tư cách là đại diện của Bộ Chính trị chỉ đạo cả hai đoàn đàm phán Bắc và Nam, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và các nhà ngoại giao Việt Nam luôn kiên định lập trường “Nước Việt Nam là một dân tộc. Chiến đấu và bảo vệ Việt Nam là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam từ Nam đến Bắc”.
Nhà ngoại giao Phạm Ngạc khi đó giữ vai trò phiên dịch và ghi biên bản hội nghị nhớ lại: Trên bàn thương thuyết, hai ông Xuân Thủy và Lê Đức thọ đã phối hợp với nhau rất ăn ý. Lúc người này nhu thì người kia cương và ngược lại. Trong đó, phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai cương . Không ít lần, ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt Kissinger.
“Ông Lê Đức Thọ là một con người kiên định trong lập trường, kiên quyết giữ lại các lợi ích cơ bản của mình, không mắc bẫy thủ đoạn của đối phương. Khi văn bản Hiệp định đã hoàn thành đến một mức độ nào đó rồi, Kissinger muốn phía ta ký tắt vào văn bản nội bộ nhưng ông Lê Đức Thọ không chịu nhượng bộ và Kissinger đã phải thốt lên rằng: ông là một đối thủ xứng đáng. Lập trường chính nghĩa và sáng suốt theo đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh đã được ông Lê Đức Thọ thực hiện và nhận được sự cảm phục của đối phương”- Ông Phạm Ngạc nói.
Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ. Kissinger thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông cũng nhớ như in giây phút đầu tiên gặp cố vấn Lê Đức Thọ ngày 21/2/1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ.
Có thể nói, các cuộc đấu trí giữa ông Lê Đức Thọ với đại diện phái đoàn Mỹ, cả bí mật lẫn công khai tại Paris đã trở thành một huyền thoại trong lịch sử ngoại giao thế giới.
Kết quả là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973, tạo tiền đề dẫn đến thắng lợi cuối cùng ngày 30/4/1975. Cũng trong năm 1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng Henry Kissinger được đồng trao giải Nobel Hòa bình nhưng ông đã từ chối nhận giải.
Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ cho biết: “Trong nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, đồng chí Lê Đức Thọ đã giải thích vì sao lại từ chối giải thưởng chung với Kissinger. Ông nói, tại sao lại đặt ngang hàng giữa một nước luôn luôn gây ra chiến tranh và một nước luôn đấu tranh để giành lại độc lập. Giữa xâm lược và bị xâm lược lại nhận chung một giải thưởng. Hơn nữa, vì chưa có hòa bình thực sự ở Việt Nam nên ông chưa nhận giải thưởng đó và người xứng đáng chính là nhân dân Việt Nam”
5 năm giữ vai trò Cố vấn tại Hội nghị Paris dù chỉ chiếm một khoảng thời gian ngắn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình nhưng đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh.
Trong bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng, từ kinh nghiệm hoạt động của đồng chí Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris có thể rút ra một số bài học quí báu cho thế hệ ngoại giao Việt Nam hôm nay và mai sau, trong đó bài học đầu tiên là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác ngoại giao nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia./.

Lê Đức Thọ - Nhà ngoại giao chiến lược tài ba


Lê Đức Thọ - Nhà ngoại giao chiến lược tài ba


Nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của đồng chí LÊ ĐỨC THỌ (10/10/1911-10/10/2011), TG&VN xin trích đăng bài viết của đồng chí Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Mấy chục năm trong ngành Ngoại giao, tôi đã có dịp tiếp cận đồng chí Lê Đức Thọ, một nhà lãnh đạo của Đảng đồng thời là nhà ngoại giao chiến lược tài ba. Hình ảnh lắng đọng nhất trong tôi về đồng chí Lê Đức Thọ là mái đầu bạc trắng khi đồng chí tuyên cáo với thế giới về thắng lợi của Việt Nam sau ký kết Hiệp định Paris năm 1973. Những trọng trách mà đồng chí đảm nhận, những tháng ngày trăn trở trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán đã để lại dấu ấn trên mái tóc bạc phơ ấy khiến tôi liên tưởng tới các vị tiền nhân suốt cả cuộc đời tận tụy phấn đấu và hy sinh, dành trọn trí lực và tâm hồn cho dân tộc và đất nước.
Tôi tham gia công tác ngoại giao từ năm 1954 đến 2006. Điều vinh dự lớn đối với tôi là Ngành Ngoại giao được làm việc dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của những “ngôi sao” ngoại giao Việt Nam như: Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh và sau này là đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Với đồng chí Lê Đức Thọ, điều tôi ấn tượng nhất là sự lãnh đạo của đồng chí trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và Hội nghị Paris; và giải quyết vấn đề Campuchia.
…Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được tiến hành từ tháng 10/1968 đến tháng 1/1973. Cuộc đấu trí gần 5 năm này là cuộc thương lượng kéo dài nhất thế giới để chấm dứt một cuộc chiến tranh. Ở đây có các cuộc thương lượng công khai và bí mật. Thương lượng công khai để đấu lý và tranh thủ dư luận. Thương lượng bí mật để mặc cả, đây mới là thực chất. Phía Mỹ cử Henri Kissinger, một học giả kỳ cựu và là một trong những khối óc (think-tank) lớn nhất của nước Mỹ thời bấy giờ, dẫn đầu đoàn Mỹ đàm phán bí mật. Phía ta, Bác Hồ đích thân lựa chọn đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu đoàn đàm phán.
Trong suốt gần 5 năm đàm phán ở Paris, Lê Đức Thọ được ví như vị tướng ở ngoài biên. Ông thực hiện rất nghiêm túc đường lối chiến lược trong đàm phán mà Bác Hồ đã trực tiếp căn dặn và những chủ trương của Bộ Chính trị đề ra. Nhưng phần đóng góp của cá nhân ông thật là to lớn. Ông đã có sự vận dụng sáng tạo, luôn luôn giành thế chủ động tấn công, buộc đối phương phải đi vào đàm phán theo cách của mình. Đã có lúc Kissinger phải thốt lên: "Tôi có thể làm tốt hơn nếu như đối diện trên bàn đàm phán không phải là ông Lê Đức Thọ", "đàm phán với ông Thọ quả là cân não!".
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/1/1973, cả thế giới ca ngợi tài trí ngoại giao của ông Lê Đức Thọ. Hình ảnh của ông, danh tiếng của ông tràn ngập trên các trang báo lớn của Mỹ, phương Tây và các nước khác. Vì vậy, ngay năm 1973, Ủy ban Giải thưởng Nobel đã quyết định trao Giải Nobel Hòa bình, một trong những giải thưởng danh giá nhất thế giới cho ông. Với bản lĩnh và sự nhạy cảm của mình, ông từ chối nhận giải vì lúc đó Việt Nam chưa thực sự có hòa bình, nhưng thật ra trong thời điểm đó khó có thể nhận Giải Nobel Hòa bình cùng đứng liên danh Lê Đức Thọ - Kissinger vì cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ quá khủng khiếp, tang tóc, đau thương còn hiển hiện khắp nơi trên đất nước…
Nhiều lúc tôi tự hỏi một người như ông Thọ, không qua một trường lớp ngoại giao nào, có thể nói ngoại giao là nghề tay trái của ông vì sở trường của ông là chính trị, quân sự và tổ chức, nhưng tại sao trong ngoại giao, ông lại thể hiện tài ba đến như vậy, đến kẻ thù cũng phải kính nể ông. Có lẽ trong con người ông đã hội tụ những tố chất:
1- Đó là nhiệt huyết của một người cách mạng luôn phấn đấu cho độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Ở tuổi 20, ông đã tham gia cách mạng, hai lần bị giam cầm trong nhà tù của thực dân Pháp, vào sinh ra tử trong các địa bàn nguy hiểm nhất của cuộc đấu tranh đã hun đúc trong ông ý chí và quyết tâm chiến đấu cho lý tưởng cách mạng dưới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2- Đó là sự thông minh bẩm sinh kế thừa truyền thống gia đình và quê hương. Nhưng không có sự thông minh nào mà không có sự rèn luyện, tìm tòi, học hỏi, tích lũy và sáng tạo và ông đã tích lũy được kiến thức trong cuộc chiến tranh, trong cuộc sống, trong nhân dân và nhất là sự tiếp cận với trí tuệ của lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, của nhân loại và biến nó thành nguồn trí tuệ của ông.
3- Đó là một phương pháp khoa học hết sức lôgic, hệ thống. Có lẽ ông nắm vững ngũ tri (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến hóa). Ông là nhà lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm nên ông biết mình lắm, biết rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của Việt Nam ở chiến trường và những nơi khác. Biết người, ông tinh tường lắm, ông biết Mỹ đang bế tắc tìm lối ra khỏi vũng lầy chiến tranh, nhưng lại muốn ra đi trong thế mạnh và bảo toàn cho đồng minh của mình. Ông nắm vững thời thế lúc đó, khi phong trào chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam lan rộng ra toàn thế giới và trong lòng nước Mỹ, buộc chính quyền Mỹ phải sớm kết thúc đàm phán với Việt Nam. Đàm phán có lúc rất căng, ông phê phán Mỹ hết sức gay gắt, nhưng ông biết dừng đúng chỗ, đúng lúc. Khi đàm phán đi vào bế tắc, ngõ cụt, nhất là việc Mỹ đòi quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam như quân đội Mỹ. Đó là điều không thể được. Nhưng ông biết biến hóa phá vỡ bế tắc. Ông đưa ra sáng kiến vấn đề lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam do các bên Việt Nam giải quyết với nhau. Cuối cùng Mỹ không có sự lựa chọn nào khác đành phải chấp nhận phương án đó.
4- Đó là dũng khí của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, của một nhà thương lượng ngoại giao đầy bản lĩnh. Trong suốt quá trình thương lượng, phía Mỹ không ít lần đưa ra những lời đe dọa. Ông Thọ đã không ngần ngại đáp lại: "Chúng tôi đã đánh nhau với các ông 10 năm và cũng đã đàm phán 5 năm rồi. Nay các ông có sẵn sàng mới đi đến giải quyết, không thể dùng đe dọa với chúng tôi được đâu". Và đúng như vậy, dưới mái đầu bạc trắng như mây, vẫn toát lên những lời nói đanh thép, nhiều lần Kissinger phải cúi mặt xuống nghe ông Thọ nói với những từ ngữ khá nặng nề như lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng... Thật là dũng cảm! Không có dũng khí không làm được. Khi nghỉ giải lao, Kissinger hỏi ông Thọ: "Ông có bao giờ phê phán cán bộ mình như phê phán tôi không?". Ông Thọ nói: "Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt, lật lọng, tráo trở đâu mà tôi phê phán họ".
Ngũ tri và "dĩ bất biến, ứng vạn biến" là điều mà Bác Hồ luôn căn dặn các nhà ngoại giao Việt Nam. Ở ông Lê Đức Thọ, những điều đó hình như đã nhập tâm, đã nhuần nhuyễn. Cái bất biến trong thương lượng của ông với Kissinger là "làm cho Mỹ cút, làm cho ngụy nhào" nhưng muốn bảo vệ được cái bất biến đó thì cần phải biết cách vạn biến và trí tuệ của ông được thể hiện chính là ở đây và điều này cũng toát lên tài trí và sự khôn khéo của nhà ngoại giao tài ba Lê Đức Thọ.
...Những năm sau này, tôi mới được làm việc trực tiếp với ông Thọ. Hơn 10 năm sau Hội nghị Paris mà ông vẫn sôi nổi, quyết liệt, quyết đoán và quyết tâm như hồi nào. Có một vài lần ông đã cho những ý kiến nhận xét, phê phán gay gắt vào những đề án đấu tranh ngoại giao của chúng tôi khi trình lên. Nhiều lúc tôi ngồi nghe mà toát mồ hôi, nhưng về bình tĩnh suy ngẫm kỹ mới thấy nhiều điều được soi sáng. Đầu năm 1990, thật là một tổn thất to lớn khi ông ốm nặng, chúng tôi không xin được ý kiến chỉ đạo của ông về công tác ngoại giao, nhất là những vấn đề liên quan đến Campuchia đang đi vào giai đoạn cuối của giải pháp.
Lê Đức Thọ là con người đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ cái đúng, chống cái sai. Chính cái không khoan nhượng đó đã đưa đến sự nhận thức khác nhau về con người ông. Khi làm thơ thi sĩ phải thật lòng. Không thật thì làm sao có cảm xúc để có những vần thơ hay. Hãy đọc những vần thơ của Lê Đức Thọ. Trong thơ, ông giãi bày tình cảm của ông đối với đất nước, quê hương, với đồng bào, đồng chí, với cán bộ, với chiến sĩ... Tình thương của ông là bao la, là chân thật từ trái tim ông, như con gái ông - chị Lê Trung Nguyệt - đã viết về người cha của mình:
"Để cha yên nghỉ - linh hồn Người
Chỉ nước trắng và hoa".
Từ lăng kính ngoại giao, chúng tôi chỉ muốn sự trung thực đến với ông, một con người đã hiến dâng trọn cuộc đời cho cách mạng và dân tộc… Nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của ông, tôi xin được thắp nén nhang với một chén nước trắng tinh khiết từ lòng đất của quê hương Nam Định trên bàn thờ ông để tỏ tấm lòng tôn kính và tri ân ông.
Nguyễn Dy Niên

Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê

Trích đoạn chuyện đánh - đàm Ba Lê

TP - Đã chẵn 40 năm Hội nghị Paris- cuộc đàm phán Paris, một Hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới, 4 năm 8 tháng 14 ngày. Thiên hạ chưa dứt luận bàn, vẫn tiếp tục viết về sự kiện đỉnh cao ngoại giao của nước Nam. Hình như chưa nhiều lắm về các góc khuất của cuộc đàm phán, chả hạn chuyện về những người thư ký, phiên dịch?
Kỳ 1: Biên chép của một thư ký
Bộ Ngoại giao có hai ông Lưu Văn Lợi. Một ông Lợi nguyên là Cố vấn Pháp lý của Đoàn Đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Paris. Sau này là Bộ trưởng, Trưởng Ban Biên giới Chính phủ. Còn một Lưu Văn Lợi khác...
Ông Lưu Văn Lợi
Ông Lưu Văn Lợi.
“Cậu đi với tôi!”
Hơi bị hiếm trong trật tuổi cao, ông đã mấy lần bị tai biến nhưng ở tuổi 81, ông đi lại vẫn lanh lẹ. Quý nhất, vẫn mẫn tiệp. Ông biên ra giấy cho tôi cái meo và dặn nếu có viết lách gì thì meo trước cho ông coi. Người này khác thấy hơi ngài ngại nhưng với ông thì thấy chả thể khác? Ông vốn cẩn trọng.
Ông có những mấy cái nguyên. Nguyên thư ký riêng của Cố vấn Lê Đức Thọ, nguyên chuyên viên cao cấp Bộ Ngoại giao. Nguyên Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Tham tán công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô.
Cái duyên lọt vào mắt xanh ông Cố vấn Lê Đức Thọ có lẽ là lần ông Cố vấn từ Paris qua Matxcơva ngày 2-6-1968. Chàng trai Lưu Văn Lợi khi ấy là tùy viên Phòng văn hóa báo chí sứ quán có nhiệm vụ làm tin nhanh để phục vụ cho công việc của ông cố vấn.
Có lẽ ông cố vấn đã chóng bắt khả năng bén nhạy tình hình cùng là năng lực phân tích tổng hợp sự kiện và cả khả năng ngoại ngữ của chàng trai Lưu Văn Lợi, nên đã quyết và nói luôn ngày mai cậu đi với tôi sang Paris...
Đi với tôi không phải một vài ngày, mấy tháng, ít năm mà một lèo... 18 năm!
Chẳng hề vơi vợi mờ nhòe những ấn tượng cuộc hòa đàm đã hằn đậm vào tâm khảm của một người từng can dự. Ông cười rất vui rằng, hình như con Tạo vốn trớ trêu nhưng hữu tình khi để cặp Lê Đức Thọ- Kissinger gặp nhau? Các phiên họp riêng giữa Xuân Thủy, Lê Đức Thọ và Kissinger, cố vấn của Tổng thống Mỹ Nixon, đều rơi vào những thời điểm dài dặc.
Có ngày làm việc đến 13 tiếng, lấn sang cả đêm. Trưởng đoàn Xuân Thủy khi ấy tuổi 58. Ông Lê Đức Thọ sinh năm 1911, lúc ấy hơn 60 tuổi, nhiều hơn Kissinger gần một giáp (12 tuổi).
Kissinger tóc đen nhức, lực lưỡng cao to cứ như một đô vật! Nhưng tương phản với vóc dáng, Kít có số má mánh lới, xiên xẹo. Khởi đầu các cuộc gặp riêng thì cứ làm như vô tình lan man, chuyện nọ xọ chuyện kia. Và cứ nhè vào lúc chiều hay gần tối ( những thời điểm bất lợi cho nhịp độ sinh học của tuổi già) mới đưa việc chính ra tranh cãi. Hình như Kissinger chắc mẩm cái ông già Á Đông kia đã lử khử, nên cũng dễ rằm cũng ừ mà mười tư cũng gật.
Nhưng ông Kít hơi bị nhầm! Đàm phán càng kéo dài và càng khuya khoắt, ông Thọ càng tỉnh và thậm chí có lúc diễn thuyết dai dẳng làm cho Kissinger sau này phải bộc bạch trong hồi ký “Ông Thọ ở Paris đã mổ xẻ tôi bằng một con dao rất nhọn, với tay nghề của một nhà phẫu thuật.
Có những lúc ông ấy nói cả giờ, tôi bảo cái điều này tôi đã nghe nhiều lần rồi thì ông Thọ bảo: Ông nghe nhiều lần nhưng chưa thuộc, tôi nói lại...”.
Đồng chí Lê Đức Thọ với anh em thư ký, bác sĩ và phục vụ (ông Lưu Văn Lợi ngồi thứ hai trái sang)
Đồng chí Lê Đức Thọ với anh em thư ký, bác sĩ và phục vụ (ông Lưu Văn Lợi ngồi thứ hai trái sang).
Năm 1972 là giai đoạn đi vào thương lượng cụ thể. Hồi đó lập trường của hai bên khác nhau lắm, Mỹ muốn rút nhưng muốn giữ nguyên chế độ Thiệu - Kỳ, mà lại không công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN.
Lúc bấy giờ đã đi vào thảo luận về hiệp định rồi, hôm trước vừa thỏa thuận như thế nhưng hôm sau họ lại lật phắt lại.
Mỹ luôn luôn lấy cớ rằng chính quyền Sài Gòn không chấp nhận. Ở nhà, đồng chí Lê Duẩn đã dặn đồng chí Lê Đức Thọ: Anh sang bây giờ anh sẽ là tư lệnh ở mặt trận ngoại giao, làm thế nào thì làm, nhưng anh phải đạt được là “Mỹ rút, quân ta ở lại”.
Tháng 10-1972, tưởng đàm phán xong rồi, Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nói rằng hiệp định đã có thể hoàn chỉnh, rồi Kissinger cũng huênh hoang nói rằng không còn điểm bất đồng gì lớn nữa.
Đã thỏa thuận là tháng 10 Kissinger sẽ sang Hà Nội ký tắt, rồi sau đó về Paris ký chính thức.
Mỹ đã nhượng bộ không đòi quân Bắc VN rút, chỉ yêu cầu có một số biểu hiện, thí dụ như hồi hương một ít, hay di chuyển quân, tượng trưng cũng được, để máy bay chụp ảnh, chứng minh cho dư luận Mỹ biết rằng cũng đòi được quân Bắc VN rút lui(!)
Ngạo mạn. Tráo trở. Lật lọng... Có lẽ ông Thọ quá rành tố chất của đối phương nên những cuộc gặp đầu tháng 12-1972, sau thời điểm R. Nixon trúng cử Tổng thống, tưởng muốn yêu sách cùng những làm mình làm mẩy gì cũng được, Kissinger đã bất ngờ rũ rối các thỏa thuận tháng 10, làm xộc xệch Hiệp định đã sơ thảo.
Đòi sửa hơn 60 điểm mấu chốt cốt yếu... Cố vấn Lê Đức Thọ và các thành viên phái đoàn ta vẫn điềm tĩnh.
Mỹ chỉ thua sau khi dùng B52 ném bom Hà Nội và chỉ thua trên bầu trời Hà Nội... Lời dặn của Bác năm 1967 có lẽ thời điểm này chợt thoắt trở lại buốt nhói trong tâm trí mọi người? Nhưng biết làm sao. Cố vấn Lê Đức Thọ cùng tùy tùng lặng lẽ ra máy bay...
Chuyến bay buồn
Động cơ chiếc Il-18 không như những lần đưa mọi người vào cảm giác chập chờn thiêm thiếp mà lần này ai cũng chong chong bồn chồn như có chi đó lây lan tâm trạng với ông Cố vấn? Paris nối Hà Nội bằng chuyên cơ Il-18 hoặc Il-62 của Liên Xô, nhanh thì 2,3 ngày đêm.
Chậm thì 4 ngày đêm theo lộ trình Paris - Maxcơva - Bắc Kinh - Hà Nội hoặc Maxcơva - Tasken - Cancutta - Hà Nội.
Nhưng lần này thì chưa đến hai ngày hai đêm. ( bây giờ loại Boeing hiện đại cho phép chế độ bay trực chỉ non - stop chỉ hơn 12 tiếng đồng hồ).
Khi tổ lái báo máy bay đã vào không phận miền Bắc, ông Cố vấn rời chỗ ngồi bước ra nói chuyện thân mật cùng tổ lái và mấy nhân viên phục vụ. Sau khi thăm hỏi nơi sơ tán của gia đình anh chị em, cái câu mà ông thấy là lạ, ông Cố vấn nói như thúc giục như một tiếng thở dài: Các cháu nói với gia đình nếu có điều kiện sơ tán càng xa Hà Nội càng tốt...
Xe chở ông cố vấn nhích chậm qua cầu Long Biên. Chốc chốc lại phải tránh những đoàn xe quân sự ngất nghểu dắt pháo phòng không. Vẻ như không khí trận mạc đã lẩn khuất đâu đây? Cây cầu năm lụt 1971, thày trò từ Paris về gặp trận bão lớn.
Đến giữa cầu phải chờ xe, ông bước xuống bất ngờ khuỵu người xuống vì sức gió. Chuyến này trở về không có bão nhưng ai cũng cuồn cuộn trong lòng một điềm triệu chi đó chẳng lành khi ngó những trận địa pháo 12,7ly và 14,5 ly đặt lển nghển trên thành cầu.
Khi ấy ông đâu biết phía mạn Chèm và quanh Hà Nội những trận địa SAM-2 cũng đã giăng... Hà Nội đã phòng bị trước những tráo trở, lật lọng!
Về đến nhà ông cố vấn ở số 6 Nguyễn Cảnh Chân đã hơn 6 giờ chiều. Đang lúi húi xếp tài liệu vào tủ sắt, định bụng xin phép tranh thủ về nơi vợ con sơ tán thì ông Cố vấn bước vào nói với anh em phục vụ thư ký phiên dịch đêm nay các cậu ở lại đây.
Thế nào chúng cũng giở trò... Khoảng non 2 tiếng sau, căn hầm ở số 6 Nguyễn Cảnh Chân chung chiêng vì những đợt bom B52 uỵch xuống Hà Nội.
...Ông cố vấn vẫn gượng dậy làm việc sau hai ngày liên tục sốt cao. Trước ông là một bức điện. Của Kissinger hối thúc Hà Nội nối lại đàm phán. Trước đó đã có tín hiệu tương tự nhưng dễ gì Hà Nội khuất phục trước sự tráo trở lật lọng. Bom đang xé toang không gian Hà Nội lại giở trò khiêu khích ép Hà Nội ngồi vào bàn Hội nghị? Nhưng càng lao đầu vào chiến dịch bạo tàn Linebacker-2 hủy diệt Hà Nội thì con số máy bay B52 bị quật rụng càng nhiều.
Sau đêm 26-12, tình thế cuộc chiến đã khác. Cục diện đã thay đổi. Ông Cố vấn vừa trở về từ hầm ngầm Điện Kính Thiên sau một cuộc họp trọng. Bộ Chính trị đã quyết định ngồi vào bàn Hội nghị nhưng không có bất kỳ sự nhượng bộ nào trên cơ sở bản Hiệp định như đã thỏa thuận hồi tháng 10-1972.
Ông Lợi phải trực tiếp và gặp mời Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm đến gấp theo lệnh của ông cố vấn. Khi ông Đinh Nho Liêm tới, ông Cố vấn kéo ngay vào việc.
Mãi hồi lâu khi Thứ trưởng Liêm ra về, ông cố vấn còn dặn đi dặn lại không ghi chép, không mang theo tài liệu. Chỉ được ghi nhớ trong đầu.
Cậu phải bay trước sang Paris truyền đạt báo cáo lại với anh Xuân Thủy, chị Bình, anh Thạch cùng các anh các chị bên đó quan điểm của Bộ Chính trị... Đoàn ta sẽ sang sau…

Kỳ 2: Ủy ban giải Nobel đã sai lầm đáng tiếc
TP - Hình như trên các phương tiện thông tin, ít thấy đề cập cuộc phỏng vấn dài giữa ông Lê Đức Thọ với nữ phóng viên hãng thông tấn Mỹ UPI Synvana Foa ngày 15-3-1985? Bà S. Foa sau này là người phát ngôn của Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc.
Ông Lê Đức Thọ với các phóng viên quốc tế. Ảnh: Corbis
Ông Lê Đức Thọ với các phóng viên quốc tế. Ảnh: Corbis.
Cuộc phỏng vấn thú vị
Trong số cán bộ phục vụ, ông Lưu Văn Lợi là người hiếm hoi chứng kiến từ đầu đến cuối. Những dòng ghi chép với chức phận người thư ký có những dòng đại loại:
Tôi đã có 15 câu hỏi của bà, tôi có thể trả lời tổng hợp vào 4 vấn đề. Về giác ngộ cách mạng của tôi. Những khó khăn trong công tác mà tôi đảm nhiệm và ước vọng của tôi. Về Hội đàm Paris trong đó có 3 câu hỏi của bà. Câu hỏi về Hiệp định Paris. Về ông Kissinger trong Hội đàm. Về giải thưởng Nobel. Bà còn có câu hỏi, làm việc trong tập thể Bộ Chính trị, tôi thuộc phái nào? Diều hâu hay bồ câu?
Vào thời điểm ông Lê Đức Thọ từ chối giải Nobel Hòa bình, bằng chất giọng ôn tồn điềm tĩnh, ông cố vấn truyền đạt lại cho người thư ký nội dung trả lời Ủy ban Giải thưởng Nobel... Có một chút tò mò háo hức, tôi rụt rè đề nghị ông Lợi cho xem nội dung.
Ông Lợi ngồi lặng một lát như đang nhớ lại điều gì. Rồi ông đứng dậy, chậm chạp lên gác. Trong tay ông là một xấp giấy. Háo hức đón lấy. Thì ra, người thư ký năm xưa vẫn vẹn nguyên sự cẩn trọng cần thiết? Trên tay tôi vẫn là nội dung bản trả lời phỏng vấn của bà phóng viên UPI.
Tôi hiểu, trả lời của ông Lê Đức Thọ với bà phóng viên Mỹ gần như là toát yếu nội dung thư phúc đáp Ủy ban Giải thưởng Nobel mà ông Thọ là tác giả.
"Bây giờ tôi nói về Giải thưởng Nobel. Chúng tôi biết, Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn với thế giới. Từ xưa đến nay có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng tại sao tôi không nhận? Tôi không phải có khó khăn như bà nói đâu. Chỉ một điều là ai làm cho hòa bình? Bà biết rằng đây là giải thưởng Nobel cho hòa bình.
Mỹ tiến hành xâm lược đất nước tôi 20 năm. Người chống Mỹ và làm cho Mỹ thất bại, giành độc lập đưa hòa bình cho đất nước và cho cả khu vực này là chúng tôi. Người làm hòa bình là chúng tôi chứ không phải Mỹ.
Trong thư gửi Ủy ban Giải Nobel, tôi đã phân tích kỹ Mỹ tiến hành chiến tranh như thế nào? Nhưng Ủy ban Giải đã đặt ngang bằng kẻ xâm lược và người bị xâm lược, giữa kẻ gây chiến tranh và người tạo (làm) hòa bình. Coi chúng tôi cũng như Mỹ. Điều đó là sai lầm và tôi không thể chấp nhận như vậy. Vì vậy tôi đã không nhận Giải thưởng Nobel!
Bây giờ Việt Nam đã thống nhất, ông có nhận lại giải thưởng đó không?
Về cơ bản với tính chất của giải thưởng đó nó đã sai lầm ngay từ đầu, sai lầm cơ bản. Nếu bây giờ có giải thưởng riêng cho tôi thì tôi nhận.
Nhưng dù sao ông vẫn đi vào lịch sử như là người đã giành được giải thưởng đó?
Lịch sử ghi lại như vậy. Như đối với chúng tôi đó cũng là điều mà Ủy ban giải Nobel có sai lầm. Một sai lầm đáng tiếc".
Coi qua biên bản bài phỏng vấn nữ phóng viên UPI, thú vị khi biết thêm chi tiết về... những cái đập bàn của cố vấn Lê Đức Thọ!
Cũng cần nói thêm, những cái đập bàn ấy nó lạ đến mức các yếu nhân như Thủ tướng Trung Hoa Chu Ân Lai, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Gromyko phải lấy làm ngạc nhiên (có lẽ mình chả thể hành xử được như ông Lê Đức Thọ nọ trước người khổng lồ Cố vấn an ninh Kissinger và ông này sau là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ?) Gẫm thêm thời điểm ấy, và cả cho đến sau này, trong số các chính khách hành tinh, hình như chưa có ai dám hành xử đại loại thế?
Xin trích ra đây câu hỏi của nữ phóng viên UPI:
"Trong trường hợp nào ông nói rằng Kissinger là người nói dối?
Trong khi hội đàm với ông ấy, nhiều khi ông ấy (Kissinger - NV) đồng ý rồi ngày mai lại lật ngược! Cho nên quá trình đàm phán những lúc như vậy tôi đã dùng những câu như vậy. Có lúc tôi cũng đập bàn. Ngoại trưởng Pháp Dobre hỏi tôi, có phải ông bảo Kissinger là người nói láo không, tôi bảo phải và ông ấy từng viết trong hồi ký như vậy. Khi trở về Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai hỏi có phải đồng chí đập bàn khi hội đàm với Kissinger không? Tôi trả lời đúng".
Có chuyện ép Mặt trận Quảng Trị?
Ngập ngừng nhưng rồi trong không khí chuyện trò cởi mở, tôi cũng bộc bạch ra được với ông một băn khoăn... Gần đây có dư luận, cụ thể là một cuốn sách đang xới lên việc những người chỉ huy chiến dịch Quảng Trị năm 1972 từng phải chịu rất nhiều áp lực từ các cuộc Hội đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ!
Rằng không hiểu ông Lê Đức Thọ bằng con đường nào, đã thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn đang tham chiến ở Mặt trận Quảng Trị không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh. Rằng ngay từ năm 1972 nhiều ý kiến phàn nàn “Cố đánh Quảng Trị là do nhu cầu đàm phán” v.v…
Ông Lợi vẻ nhẫn nhịn ngồi nghe… Để ý suốt cả cuộc nói chuyện, ông hầu như không ngắt lời khách. Thái độ ấy như là một thứ gien trội luôn thường trực của những người ở ngạch ngoại giao? Mãi một lúc, giọng ông mới khẽ khàng:
Như mọi người đều biết, sau chuyến thăm Bắc Kinh của TT Mỹ R. Nixon ngày 22-3-1972, Mỹ tuyên bố ngừng họp Paris vô điều kiện.
Ngày 30-3-1972, Quân giải phóng miền Nam mở chiến dịch Xuân Hè tấn công từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Ngày 6-4-1972, TT Mỹ R. Nixon ra lệnh ném bom lại miền Bắc VN.
Sau chuyến thăm Matxcơva tháng 5-1972, ngày 11-6-1972 đoàn Mỹ gửi công hàm cho đoàn ta ở Paris đề nghị nối lại cuộc gặp riêng vào ngày 28-6-1972.
Thời điểm đó, ta đã giải phóng được Quảng Trị và Lộc Ninh. Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng so sánh thế lực giữa ta và địch trên chiến trường quan hệ Mỹ - Xô - Trung và tình hình nội bộ chính trị nước Mỹ, Bộ Chính trị quyết định đã có thể tới lúc đi vào giải pháp đàm phán ở Paris.
Cố vấn Lê Đức Thọ sẵn sàng gặp riêng Kissinger chậm nhất là vào ngày 15-7-1972.
Một cuộc họp kín giữa Lê Đức Thọ và Kissinger đã được đôi bên thỏa thuận vào ngày 2-5-1972. Tình hình chiến trường đã giúp phái đoàn ta đến Paris với một tư thế ngẩng cao đầu.
Sáng 1-5-1972, Quân giải phóng chiếm cầu Quảng Trị và sân bay. Ngày 2-5-1972, Quảng Trị được giải phóng.
Một tuần trước đó, Quân Giải phóng đã triển khai một cuộc tấn công lớn đe dọa Kontum và Pleiku; tiêu diệt khoảng một nửa Sư đoàn 22 của Sài Gòn. An Lộc, một thị xã cách Sài Gòn hơn 100 km cũng gần như thất thủ.
Gần sát cuộc gặp, Sư đoàn 3 của Việt Nam Cộng hòa bị tiêu diệt hoàn toàn. Ở Quảng Trị, nhiều đơn vị Việt Nam Cộng hòa bỏ chạy tán loạn.
Nhiều thời điểm chúng ta đã nhuần nhuyễn khéo léo phối hợp hiệu quả giữa chính trị - quân sự - ngoại giao. Những dẫn chứng trên đây chứng tỏ sự nhịp nhàng giữa đánh vàđàm, kết hợp giữa thực tế chiến trường với bàn đàm phán (Đánh đàm Nam Bắc hai tay/Anh đi muôn dặm trời Tây gập ghềnh - thơ Tố Hữu tặng Lê Đức Thọ - NV).
Và mọi người đều biết, sau đó chiến dịch bảo vệ Thành cổ Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, ta đã chịu nhiều tổn thất.
Việc rút khỏi Thành cổ sau 81 ngày đêm chiến đấu một cách bi hùng không thể nói là không ảnh hưởng đến bàn đàm phán nhưng không làm thay đổi cục diện cũng như quan điểm cuộc đàm phán Paris.
Cũng cần nói thêm một điều hiển nhiên, quyết định thành bại ở chiến trường phải là người lính là sự phối hợp, điều phối chỉ huy từ Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu đến Tư lệnh các chiến trường trong việc tiến công lẫn phòng ngự. Nếu nói cố đánh Quảng Trị do nhu cầu đàm phán là hạ thấp vai trò của chỉ huy cũng như người lính!
Còn nói đồng chí Lê Đức Thọ không rõ bằng con đường nào, đã thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn đang tham chiến ở Mặt trận Quảng Trị không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh là chưa hiểu thực tế thông tin liên lạc đặc thù cũng như cung cách thông tin thời điểm đó trên mặt trận ngoại giao.
Qua câu chuyện tất nhiên còn nhỏ giọt (có thể đến thời điểm này chưa phải toàn bộ tài liệu về cuộc hòa đàm Ba Lê đều đã được giải mật?) của người thư ký, tôi tạm hiểu toàn bộ các bức điện từ thông thường đến Mật cũng như Tối mật liên quan đến cuộc đàm phán, sau khi được mã hóa đã được chuyển từ Hà Nội đi Matxcơva qua thiết bị riêng do Liên Xô giúp đỡ.
Từ Matxcơva, những thông tin ấy lại được chuyển tiếp qua kênh liên lạc đặc biệt đến Trụ sở Phái đoàn ta ở Paris. Điện đi, điện về đều phải được tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt. Quy trình ấy có sự tham gia của cá nhân và các bộ phận có trách nhiệm.
Do công việc, ông Lợi đều phải tiếp cận với những thông tin đó với các cấp độ mật khác nhau. Vậy nói ông Lê ĐứcThọ điện trực tiếp cho các sư đoàn (?) đang tham chiến, là điều không thể.

Mười năm nữa sẽ là thời điểm 50 năm kỷ niệm cuộc Hòa đàm Ba Lê. Nhưng tại sao đợi phải mươi năm nữa mới phát lộ những điểm son điểm sáng: Câu chuyện mà người lính già đầu bạc/ Kể mãi chuyện... Ba Lê này? Những chuyện Kissinger bí mật thăm Hà Nội ngày 12,13 tháng Giêng năm 1973. Chuyện tại sao Lê Đức Thọ lại không tiếp tục viết hồi ký ( mặc dầu đã từng được khởi thảo).
Chuyện thư ký Lưu Văn Lợi theo đồng chí Lê Đức Thọ vào chiến trường miền Nam rồi cả chuyện ông được trực tiếp nghe đồng chí Lê Đức Thọ kể lại hoàn cảnh đầu những năm 1950 quyết định cử Phạm Xuân Ẩn khi đó 28 tuổi (sau này là tướng tình báo, Anh hùng LLVT) đi học bên Mỹ như thế nào.
Và chuyện của ông Lợi trở lại công việc bỏ dở ở Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô 18 năm trước...) Kẹt khuôn khổ bài báo dịp 40 năm này có hạn, xin kính khất bạn đọc một lần khác...

Kỳ cuối: Chuyện của một phiên dịch
TP - Cú điện thoại khuya khoắt vào một đêm đã xa giờ nghĩ lại còn hơi bị bàng hoàng chống chếnh. Một nhân chứng sát sạt cụ thể gần như từng ngày của cuộc hòa đàm Ba Lê không còn nữa...
Ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger, người đứng giữa phía sau là ông Nguyễn Đình Phương. Ảnh: T.L
Ông Lê Đức Thọ và H.Kissinger, người đứng giữa phía sau là ông Nguyễn Đình Phương. Ảnh: T.L.
Cuộc gặp bí mật
Người mà có lẽ ai cũng nhìn thấy, đã đành chả biết mà cũng thoáng quên ngay mỗi khi ngó đến bức ảnh chụp có khi ba người, khi nhiều người bên cạnh Cố vấn Lê Đức Thọ và Kissinger, người mà cả hai đều cần.
Không hiểu sao tôi nghĩ ngay căn nhà như lọt thỏm trong hẻm nhỏ gần Văn Miếu. Và đến cái kính hơi bị lạ của ông trong căn phòng bề bộn sách vở. Nó na ná như thứ kính lúp.
Dày quá đít chai. Độ dày ấy mới có sức soi, phóng lên những hàng chữ li ti trong một tài liệu hay cuốn từ điển. Năm ấy ngoại thất tuần, mắt ông đã kém tợn.
Nhưng không ngày nào rời bàn, trừ những ngày ốm mệt. Ông chăm, ham việc lắm. Vẫn viết lách biên dịch theo những com măng nào đó của Bộ Ngoại giao.
Thuở ấy mắt ông Nguyễn Đình Phương còn tinh dù đã phải mang kính cận. Nguyễn Đình Phương, cái tên như "lọt thỏm" trong bể sự kiện cuộc hòa đàm Ba Lê.
Cũng phải thôi, hình như ít khi "sử" chép người phiên dịch trong những sự kiện trọng đại!? Ông không chỉ là phiên dịch mà còn là người trực tiếp chứng kiến một sự kiện hiếm hoi trong những trang sử ngoại giao kiệt xuất của nước Nam ta: Phiên dịch chính cho những cuộc đàm phán những cuộc gặp riêng giữa Xuân Thuỷ và Harriman và sau đó là các cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger suốt từ năm 1968 cho đến mùa xuân năm 1973!
Đặt chân đến kinh thành ánh sáng, hồi ấy ông mới ngoại tứ tuần cao lớn đường bệ, nhiều người nhầm ông là người ngoại quốc bởi có những nét hao hao...
Buổi trưa 3-6-1968 đến Paris, buổi chiều báo France Soir (Nước Pháp buổi chiều) có bài tường thuật trong bộ quần áo giản dị, ông Lê Đức Thọ có nụ cười của La Joconde...
Và đến Paris, ông mới biết bên cạnh diễn đàn chính của Hội nghị Paris, một diễn đàn mới bí mật đã xuất hiện. Đó là các cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mỗi bên chỉ một hai người , địa điểm gặp thường xuyên thay đổi và tuyệt đối giữ bí mật!
Người phiên dịch cao niên dẫn tôi về với cuộc gặp bí mật ngày 21-8-1968 giữa Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ với Harriman mà ông là phiên dịch chính sau 18 phiên họp công khai và 4 cuộc tiếp xúc riêng.
Đối diện Xuân Thuỷ, Lê Đức Thọ là Harriman nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ nổi tiếng, là người thương lượng sành sỏi. Ấn tượng nhất là Bộ trưởng Xuân Thuỷ lúc nào xuất hiện và tất cả mọi trường hợp là nụ cười luôn nở rất tươi nhưng hôm đó nụ cười của Bộ trưởng đã tắt sau cú đấm đánh thình xuống mặt bàn.
Đó là khi Harriman đơn phương đòi có đại diện của Sài Gòn trong đàm phán. Khi bị từ chối thẳng thừng, Harriman đã dọa bom sẽ lại rơi trên đầu các ông! Xuân Thủy mặt nghiêm, giọng đanh lại "Ông dọa đấy à? Ném bom trở lại à? Chúng tôi sẵn sàng đánh lại!".
Lê Đức Thọ bình tĩnh hơn "Ông dọa bằng chiến tranh không được đâu! Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi còn lạ gì nhau...". Harriman ngồi lặng đi một lát rồi lẩm bẩm: "Tôi rút cái câu nói bom lại rơi trên đầu các ông...".
Người lính già đã qua 5 năm đánh và đàm ở "mặt trận" ngoại giao Paris ấy nở một cái cười sảng khoái... cặp Lê Đức Thọ - Xuân Thuỷ quả là lợi hại. Lúc Xuân Thuỷ "nhu" thì Lê Đức Thọ "cương" và ngược lại.
Lê Đức Thọ đa phần là "cương", nhưng cái cương không bao giờ bị gẫy vì đúng lúc vì có lý!". Tôi hỏi ông, Lê Đức Thọ "cương” như thế nào, thì ông cười, chậm rãi, có người nói Lê Đức Thọ gặp Kissinger là ngang sức ngang tài, nhưng có lẽ Kissinger đã đánh giá nhầm Lê Đức Thọ như sau này trong hồi ký mà ông ta đã viết...
Nói đến đây, ông lật cho tôi một trang "Thêm một lần nữa tôi đã đánh giá thấp Lê Đức Thọ. Ông có lối nhào lộn ngoại giao duyên dáng. Ông không hề lay chuyển trong cách định nghĩa khu phi quân sự..." và "Tóc hoa râm, đường bệ...
Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán hoặc marông đôi mắt to và sáng ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi 16 tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp...
Lê Đức Thọ tiếp tôi với một sự lễ phép có khoảng cách của một người mà ưu thế hiển nhiên đến mức không thể làm khác được bằng một kiểu lễ phép gần như hạ cố...".
Có một chi tiết chắc Kissinger không ghi vào hồi ký là ngón tay đeo nhẫn của Lê Đức Thọ cứ bóng sáng và nổi bật lên chiếc nhẫn gò từ mảnh xác máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc! Ông đang tâm sự với tôi ấn tượng về cái ngày mồng 8-1-1973 khi bàn đàm phán Paris được nối lại sau trận Điện Biên Phủ trên không.
Như mọi người đã biết, sau cú lật lọng của Mỹ nên Hiệp định đã hoàn tất ngày 20-10-1972 đã không được ký kết. Mỹ muốn xóa bỏ Hiệp định và ý đồ bắt ta phải thay đổi nhiều điều khoản bằng việc bất ngờ dùng B52 tập kích Hà Nội, Hải Phòng.
Trong 12 ngày đêm ác liệt máu lửa ấy, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã có mặt trong căn hầm đặc biệt ở ngay trong sân rồng ở Điện Kính Thiên cùng làm việc với Bộ Chính trị... Ba ngày đêm liền Cố vấn bị sốt cao.
Cơn thịnh nộ của ông Thọ
Ông Lê Đức Thọ và Kissinger ở Saint-Nom-La-Breteche, Pháp tháng 6-1973.
            Người mang kính đứng sát ông Thọ là Nguyễn Đình Phương.  Ảnh: Getty Images
Ông Lê Đức Thọ và Kissinger ở Saint-Nom-La-Breteche, Pháp tháng 6-1973. Người mang kính đứng sát ông Thọ là Nguyễn Đình Phương. Ảnh: Getty Images.
Trở lại Paris sáng 8-1-1973 trên đường đến chỗ họp ở Gifsur Yvette, Cố vấn Lê Đức Thọ kéo ông ra một góc: "Hôm nay toàn đoàn ta không thèm ra cửa đón đoàn Mỹ như thông lệ nữa. Và hôm nay mình sẽ nói mạnh đấy. Mình nói thong thả và cậu cố dịch theo đúng tinh thần".
Dù đã được dặn trước và đã trực tiếp chứng kiến hàng chục lần Lê Đức Thọ "cương" (quyết liệt, dai dẳng, kiên trì và cả nổi nóng.
Chắc đối phương cũng không ít lần nhầm vì Lê Đức Thọ với sắc mặt bừng đỏ! Ông Cố vấn vốn bị huyết áp cao, nhiều lần đoàn ta thảo luận trong phòng mật anh em đã phải tắt điều hoà mở cửa ra và thường bàn những thứ "đại sự" ở ngoài trời lúc đi dạo) nhưng chưa bao giờ ông thấy Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trút cơn thịnh nộ lên đối phương như buổi sáng xuân Paris ấy! Lừa dối, ngu xuẩn, tráo trở, lật lọng...
Thôi thì đủ cả! Kissinger, "đạo diễn" chính của cuộc thảm sát bằng B52 với dân lành Khâm Thiên, An Dương... chỉ biết cúi đầu đứng nghe.
Mãi sau ông ta mới lắp bắp: "Tôi có nghe thấy những tính từ... Tôi xin không dùng những tính từ đó ở đây. Xin ông Cố vấn nói khe khẽ thôi không các nhà báo ngoài kia nghe được lại đưa tin là ông mắng chúng tôi!".
Kissinger một lần đã tò mò hỏi Lê Đức Thọ trong mấy phút nghỉ giải lao: "Bây giờ ông Cố vấn đàm phán với tôi, nói như mắng tôi. Thế còn sau này kết thúc đàm phán chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình rồi, ông Cố vấn mắng ai? Ngài có mắng cán bộ của mình như mắng tôi không?".
Lê Đức Thọ điềm nhiên: "Xin Ngài chớ nặng lời lúc tôi trình bày với Ngài. Tôi chỉ nói lên tiếng nói của nhân dân tôi thôi. Cán bộ của tôi có quay quắt lật lọng tráo trở đâu mà tôi phải mắng!".
Tôi hỏi người lính già trong trận đàm đánh ở Paris ấy, cuộc nào là "căng" nhất thì ông cười "cuộc nào mà chả căng! Anh em trong đoàn đàm phán nói vui là đoàn có ông Sáu Thọ, thọ là lâu dài lại có ông phó đoàn Hà Văn Lâu, cũng là lâu dài nên nhiệm vụ ở Paris phải là trường kỳ kháng chiến?!".
Nhưng có một cuộc, theo ông là "căng" nhất. Đó là phiên hai bên soạn thảo những điểm cơ bản trong Hiệp định, vào ngày 11-10-1972. Từ 9 giờ sáng 11 kéo một mạch đến 2 giờ sáng hôm sau mà như Kissinger đã ghi trong hồi ký "nói là thương lượng một mạch 16 giờ liền nhưng trên thực tế là 22 giờ đồng hồ".
"Quân" của cả hai bên thi thoảng phải ra ngoài dùng cà phê đặc hoặc hút thuốc, nhưng, Lê Đức Thọ trừ những lúc đi vệ sinh, liên tục ngồi đấu lý với Kissinger!
... Căn phòng ngủ kiêm nơi làm việc tiếp khách của người lính già trong trận đánh - đàm Paris năm ấy có vẻ hơi bề bộn. Các loại sách tài liệu, thứ tiếng Anh, thứ tiếng Pháp từ trên giá tràn xuống, đậu chi chít trên hai chiếc ghế lớn ghép lại được coi là bàn.. Lọt thỏm trong đám sách vở giấy tờ là chiếc máy chữ chuyên gõ tiếng Anh kiểu cổ chỉ bằng khổ chiếc điện thoại để bàn.
Thứ bề bộn của những người lấy sự mê say công việc làm trọng và thứ nữa, thiếu vắng bàn tay chăm sóc của người vợ thân yêu... Xong Hội nghị Paris, ông về công tác ở Bộ Ngoại giao.
Đang ở cương vị Vụ trưởng Tây Bắc Âu, ông được kiêm thêm chức bằng việc làm đại sứ kiêm nhiệm ở các nước Bắc Âu gồm Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy, Iceland...
Giữa những năm 1980, ông về đưa vợ sang theo tiêu chuẩn vì bao năm vợ chồng ông cứ biền biệt... Vợ ông bảo chồng cứ sang trước còn mình thu xếp việc nhà ít bữa nữa sẽ qua.
Có ai ngờ một trận cảm nặng đã cướp mất bà. Từ ấy đến lúc về hưu năm 1992, ông cứ vò võ như thế. May mà tổ ấm của 4 người con, hai trai với hai gái cùng 7 đứa cháu đã giúp ông trụ lại trong cái thành phố ràn rạt những người là người này...
Chứng nhân lịch sử Nguyễn Đình Phương mất ở tuổi quá bát thập.