Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

Những món ăn đặc trưng Tết cổ truyền châu Á


Những món ăn đặc trưng Tết cổ truyền châu Á

- Tết là thời điểm tiễn một năm cũ đã qua và đón chào một năm mới đến. Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có phong tục tập quán riêng được gìn giữ qua bao thế hệ. Dù có không ít nét khác biệt do đặc thù văn hóa song tựu chung lại, đây vẫn là dịp để các thành viên trong gia đình cùng sum họp để đón chào một khởi đầu mới bình an và hạnh phúc.

Khác với những nước phương Tây thường đón năm mới vào ngày mùng 1/1 theo Dương lịch, thì nhiều quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam lại đón Tết theo lịch Trung Quốc (âm lịch).

Tết của các quốc gia châu Á mang rất nhiều nét truyền thống độc đáo của văn hóa phương Đông. Nhắc đến Tết cổ truyền của các nước châu Á không thể không nhắc đến những nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực.

Sau đây hay cùng tìm hiểu các món ăn truyền thống trong dịp Tết cổ truyền của một số quốc gia châu Á:

Bánh chưng của Việt Nam

Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, là lễ hội tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc Việt Nam. Từ những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng .

Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần "lễ" cũng như phần "hội" đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc và đậm đà. 

Ảnh minh họa
Tục gói bánh chưng ngày Tết của người Việt Nam

Một nét đặc trưng không thể không nói đến trong dịp Tết Nguyên Đán ở Việt Nam là bánh chưng. Xưa kia, cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, các thành viên trong một gia đình thường cùng nhau chuẩn bị và gói bánh chưng rồi cùng xum vầy bên nồi bánh chưng đỏ lửa. Bánh trưng được làm từ gạo nếp, đậu xanh, thịt mỡ và hạt tiêu, tất cả nguyên liệu này được gói trong một lớp lá rong xanh rền. Đó là một nét văn hóa và cũng như ẩm thực độc đáo của người Việt Nam.

Tết trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình, ngoài bánh chưng đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường gồm có nải chuối xanh, quả bưởi, quả cam (hoặc quít), hồng, quất. Còn ở miền Nam, mân ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung hoặc một loại trái cây khác. Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc. Ngoài ra, ngày Tết, dân tộc Việt Nam còn có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... 
Món Buuz của Mông Cổ

Tương tự như các quốc gia đón năm mới theo lịch Trung Quốc, người Mông Cổ cũng đón chào Tết cổ truyền với những nét văn hóa đặc sắc riêng có. Tsagaan Sar - Tết cổ truyền của người Mông Cổ diễn ra gần với khoảng thời gian Tết cổ truyền của người Trung Quốc. Theo tập quán của Mông Cổ, vào những ngày trọng đại này, mọi người cùng “rửa sạch” cả thể xác lẫn tâm hồn để đón chào một sự khởi đầu mới tốt đẹp hơn.

Ảnh minh họa
Nhóm lửa trước khi mặt trời mọc trong ngày đầu năm mới của người Mông Cổ

Đêm giao thừa được người dân Mông Cổ gọi là Bituun có nghĩa là “tối thui” bởi trong đêm này, bầu trời hoàn toàn không có ánh trăng hay sao. Đặc biệt, mọi người sẽ ăn thật no vì họ tin rằng nếu không làm như vậy thì trong suốt cả năm mới sẽ bị đói. Vào ngày đầu năm mới, ai nấy đều dậy sớm trước khi mặt trời mọc, mặc quần áo mới và nhóm lửa. Tất cả nam giới sẽ lên đỉnh ngọn đồi hay núi gần đó, mang theo thực phẩm và cầu nguyện. Tiếp theo đó, người dân Mông Cổ sẽ làm lễ xuất hành muruu gargakh.

Trong dịp lễ đặc biệt này, người Mông Cổ thường tụ tập ở nhà của người lớn tuổi nhất trong gia đình để chúc Tết. Trong khi chúc Tết, các thành viên trong gia đình cầm những dải vải dài gọi là khadag, tượng trưng cho lòng thương và điềm lành. Sau khi thực hiện nghi thức này, họ cùng ăn món buuz (một loại bánh như bánh bao có nhân là thịt cừu, bò băm nhỏ), uống rượu arkhi và trao cho nhau những món quà để cầu chúc một năm mới thịnh vượng và ấm no.

Món k-buk đặc trưng của Hàn Quốc

Tết âm lịch cổ truyền của người Hàn Quốc, theo tiếng Hàn gọi là Seollah, thường rơi vào cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch. Đây chính là đại lễ quan trọng nhất trong năm, còn có tên gọi khác nữa là Won Dan, theo âm tiếng Trung Quốc là Tết Nguyên đán. 
Ảnh minh họa
Món k-kuk - Món ăn truyền thống dịp Tết của người Hàn Quốc

Nhắc đến Tết Nguyên đán của Hàn Quốc thì không thể không nhắc đến văn hóa ẩm thực trong mối quan hệ chặt chẽ với các nghi thức thờ cúng thần, Phật và tổ tiên của nước này. Đồ ăn để cúng thần, Phật, tổ tiên được các gia đình chuẩn bị từ trước Tết và phải được hoàn tất vào đêm giao thừa. Đồ ăn dâng cúng có khi bao gồm hơn 20 món, trong đó nhất thiết phải có món chính là k-kuk (một loại phở nước được chế từ bò hay gà). 

Thực đơn cho ngày Tết, nhất là trong ngày mùng một, có thể khác nhau tùy theo tập quán của từng địa phương, nhưng phổ biến chung cho toàn quốc thường có món k-kuk bởi người Hàn Quốc cho rằng, ngày Tết ăn k-kuk có nghĩa là “ăn” một năm khác. Thêm nữa, do trên 50% dân số Hàn Quốc theo đạo Phật, đạo Khổng và đạo Lão vốn đều du nhập từ Trung Quốc, Ấn Độ từ nhiều thế kỷ trước, nên đa số các gia đình Hàn Quốc đến nay vẫn rất coi trọng việc thờ cúng đức Phật, thần linh và tổ tiên.
Món bánh Mochi của Nhật Bản
Ảnh minh họa
Ở Nhật Bản, năm mới là dịp tụ họp gia đình nên tất cả cửa hàng, văn phòng, cơ quan đều đóng cửa. Trong năm mới, người ta thường treo một vòng làm bằng rơm khô trước cửa nhà vì đó là biểu tượng của niềm vui và sự may mắn.
Khi gặp nhau, người ta thường cười to với hy vọng sẽ vui vẻ quanh năm. Để xua tan mọi điều xui xẻo trong đêm giao thừa, người Nhật thường rung chuông 100 lần. Tết ở Nhật Bản kéo dài tới 2 tuần.
Vào những ngày này, khắp nơi vang lên tiếng chày giã bột gạo làm bánh. Bánh Tết đặc trưng của Nhật Bản là bánh bột gạo môchi. 

Bánh Mochi  món ăn truyền thống trong ngày tết rất được người Nhật yêu thích, với nhân đậu đỏ tượng trưng cho sự may mắn và thịnh vượng trong năm mới. Nguyên liệu để làm bánh không có gì khác ngoài gạo. Đó là loại gạo nếp ngọt và dẻo, người Nhật gọi là gạo Mochi. Vì được làm từ gạo dẻo nên bánh Mochi có độ kết dính rất cao.
Bánh Mochi được làm bằng 3 lớp nguyên liệu: bên ngoài là lớp bột gạo mochi thượng hạng, chính giữa là lớp mùi vị pha với đậu Nhật, bên trong cùng là kem lạnh. Loại bánh này hiện nay cũng đang rất thịnh hành ở Việt Nam. 

Bên cạnh đó, trong dịp năm mới, nhiều người Nhật đổ tới các chùa để làm lễ đầu năm, mua bùa hộ mệnh. Theo truyền thống, trong những ngày đầu năm, các cô gái được sai ra đồng bứt hái nhiều loại cây cỏ (không độc) khác nhau. Tới ngày mồng bảy Tết, chủ nhà đem nấu những lá "lộc xuân" đó với gạo thành món ăn đặc biệt dùng để ăn sáng.

Việt Nguyễn - (Tổng hợp)

Tết cổ truyền - Tết uống nước nhớ nguồn

Tết cổ truyền - Tết uống nước nhớ nguồn


                       
Mỗi năm, dân ta được hưởng hai Tết: Tết dương lịch và Tết âm lịch thường được gọi là Tết Nguyên đán. Với người dân Việt, Tết Nguyên đán là Tết cổ truyền của dân tộc.
Có một nhà Việt Nam học người phương Tây nói rằng: Muốn hiểu văn hoá Việt Nam cần nghiên cứu để hiểu rõ tục thờ cúng tổ tiên gắn với truyền thống "uống nước nhớ nguồn" và nếu có điều kiện thì nên đến sống với họ trong những ngày Tết cổ truyền, vì ở đó lưu giữ những giá trị cơ bản, độc đáo của nền văn hoá nước này. Ý kiến của ông cũng được nhiều người đồng tình.
Đã sống mấy chục Tết rồi, cũng thấy rõ những phong tục trong dịp Tết ngày nay đã gọn nhẹ hơn không còn nguyên vẹn như xưa, nhưng sự thiêng liêng và những nét đẹp văn hoá cổ truyền trong ngày Tết vẫn được lưu giữ, có mặt còn sâu sắc hơn trong mỗi gia đình và trong lòng mỗi người.
Tục thờ cúng tổ tiên thì không chỉ riêng có ở nước ta, nhưng tục này lại gắn với truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn" trong Nhà - Làng - Nước. Trong từng gia đình là thờ cúng tổ tiên; trong từng làng tôn vinh các vị Thành hoàng là những người có công, có sự nghiệp gắn với cộng đồng; với cả nước là thờ Vua Hùng dựng nước. Cuối năm ngoái (2012), tổ chức UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng là di sản văn hoá phi vật thể có tính tiêu biểu của nhân loại. Thờ cúng tổ tiên và thờ cúng Vua Hùng tiêu biểu cho tinh thần "uống nước nhớ nguồn", là nét đặc sắc trong hệ giá trị thuần Việt đã trở thành một bộ phận trong di sản văn hoá tiêu biểu của nhân loại.
Người dân ở thành thị hay nông thôn cho đến ngày nay đều nhớ rõ, không khí Tết bắt đầu từ ngày ông Công ông Táo (23 tháng 12 âm lịch) lên tâu Thượng đế về công việc làm ăn, cư xử của từng nhà trong năm để "Thiên đình" đánh giá và chăm lo chuyện êm ấm của từng nhà ở hạ giới và cũng để nhắc nhở gia chủ phải chăm lo săn sóc cho gia đình ấm no, hạnh phúc dưới sự theo dõi của ông "vua bếp" ghi chép hàng ngày.
Rồi trước đây, chuẩn bị Tết, nhà nào cũng dựng cây nêu để mời tổ tiên về vui Tết với con cháu và mời bạn tới thăm nhà với gói trầu cau "mời bạn" treo trên cây nêu. Hiện nay, ít nơi còn trồng cây nêu nhưng tục thắp hương, viếng mộ mời tổ tiên về ăn Tết vẫn được giữ gìn.
Trong dịp Tết, mọi người cố giữ gìn không để sai sót để khỏi "dông" cả năm; mọi vướng mắc đều được gỡ bỏ, và nếu có giận nhau thì cũng không to tiếng trong ba ngày Tết để mong trong ấm ngoài êm cả năm.
Chúc Tết cũng là một phong tục cầu mong điều tốt đẹp cho từng người. Con cháu thăm hỏi, chúc Tết ông bà, cha mẹ, chú bác. Học trò (cả học trò đã bạc đầu) chúc Tết thầy, cô giáo. Bạn bè, láng giềng thân thiết chúc Tết nhau. Với gia đình thì đã có lệ thành câu ca "mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy". Theo phong tục cũ thì sáng mùng một Tết, sau lễ gia tiên, người con cùng gia đình đến chúc Tết ông bà, cha mẹ; sáng mùng hai Tết, cha mẹ dẫn con cháu về quê ngoại chúc Tết ông bà và người thân; mùng ba Tết đến chúc các thầy cô giáo đã có công giáo dục đạo đức, tư cách, mở mang trí tuệ cho mình. Ngày nay không còn lệ thuộc theo thứ tự thời gian như thế, nhưng các gia đình vẫn còn giữ lễ để nhớ "công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy", bên nội, bên ngoại đủ lễ. Con cháu chúc người lớn tuổi khoẻ mạnh, trường thọ; người già chúc con cháu ngoan ngoãn, học hành giỏi giang, làm ăn thành đạt. Kèm theo lời chúc là những phong bao màu đỏ để lấy may mắn cho cả năm.
Ngày xưa "ăn Tết", ngày nay không chỉ ăn Tết mà còn "chơi Tết", cho nên, xuất hành vui xuân, viếng chùa, nhà thờ, danh lam thắng cảnh... Một số người có đời sống khá giả thì đưa cả nhà đi du lịch trong nước, ngoài nước trong dịp Tết và xem ra xu hướng này ngày càng phát triển. Nhưng có người lại nói: "Ngày Tết là những ngày quần tụ gia đình, người đi làm xa cũng về quê, bà con người Việt ở nước ngoài còn lặn lội về quê đón Tết, sao lại bỏ gia đình đi chơi?". Nhưng họ lại nói: "Chăm sóc, quần tụ gia đình không cứ gì phải ru rú ở trong nhà mà kéo nhau đến công viên hoặc những danh lam thắng cảnh cũng là nét mới vui xuân cả nhà!".
Xem ra ăn Tết, vui Tết cổ truyền bây giờ cũng khác, không thể rập khuôn cách làm như xưa, nhưng ý thức chăm nom các gia đình nghèo, những người cơ nhỡ để mọi nhà đều có Tết lại sâu sắc hơn xưa, phù hợp với bản chất nhân văn của xã hội ta. Ngày xuân vui bạn nhưng không sa vào rượu chè, cờ bạc, chuốc phiền muộn. Vui Tết kiểu gì nhưng nét đẹp văn hoá coi trọng sự an lành, coi trọng sự êm ấm trong gia đình gắn liền với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhớ công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy và những người có công dựng nước và giữ nước... vẫn là những nét đẹp văn hoá được gìn giữ như hồn cốt của dân tộc trong ngày Tết cũng như trong cả cuộc đời.../.
  Hữu Thọ - Tạp chí Ban tuyên giáo

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

Rắn Naga: yếu tố văn hóa Khơme trong điêu khắc Chăm tháp Dương Long

Rắn Naga: yếu tố văn hóa Khơme trong điêu khắc Chăm tháp Dương Long


Trong số di tích kiến trúc tháp cổ Chăm-pa còn lại trên đất Bình Định, Dương Long (xã Tây Bình, huyện Tây Sơn) nổi bật không những ở kích thước đồ sộ nhất hiện nay mà còn ở hình dáng đặc biệt của từng kiến trúc. Đây là cụm tháp chịu ảnh hưởng nghệ thuật Khơme rõ nét nhất. Một trong những yếu tố thể hiện sự ảnh hưởng đó chính là hình tượng rắn Naga.
Naga trong tiếng Phạn có nghĩa là rắn lớn, nhằm chỉ con rắn hổ mang, loài rắn có nọc độc rất nguy hiểm. Rắn hổ mang còn tượng trưng cho thần Siva, vì chúng bao hàm cả hai ý nghĩa hủy diệt và tái sinh. Do hoàn cảnh lịch sử, vào khoảng thế kỷ XII, XIII, đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa Chăm-pa với vương quốc Angkor của người Khơme và Chăm-pa từng bị Angkorxâm chiếm. Người Khơme vốn có tín ngưỡng bản địa thờ rắn, nên có lẽ hình tượng này vốn đã hiện diện trong văn hóa Khơme trước khi chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Truyền thuyết lập quốc của người Khơme kể rằng: có một người Bà la môn tên là Kaudinya đi thuyền từ Ấn Độ hay Indonesia, đến vùng đất của người Khơme, chiến thắng một nữ vương có tên là Soma hoặc Nagini, con của vua rắn Naga, và lấy người phụ nữ này làm vợ, sinh ra dòng dõi các vị vua.
Người Khơme tin rằng chính Kaudinya đã truyền cho họ những bí quyết về nghề trồng lúa và công việc thủy lợi. Trong mỗi triều đại, các vị vua Khơme đều cho xây dựng các cung điện và các đền thờ bằng đá, mà rắn Naga là vị thần canh giữ những nơi thiêng liêng đó. Do vậy, chúng luôn xuất hiện trên các cầu thang, trên các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp để xua đuổi tà ma. Chúng còn tượng trưng cho sự phồn thực và là loài vật có khả năng bảo vệ mọi nguồn nước và các công trình thủy nông của người Khơme cổ.
Trong Bà la môn giáo và Phật giáo Theravada, rắn Naga không những là vị thần mưa mà còn là vị thần dẫn dắt tín đồ ngoan đạo lên cõi Niết bàn. Trong các ngôi đền cổ, các kiến trúc sư Khơme luôn xây dựng nhiều chiếc cầu vồng có hình rắn Naga, tượng trưng cho chiếc cầu nối liền giữa cõi trần gian và niết bàn. Rắn Naga nhiều đầu còn tượng trưng cho chiếc cầu trải dài dưới chân những ngôi đền núi (thế giới con người) đến đỉnh của ngôi đền (thế giới thần linh).
Rắn Naga cũng là mô típ quan trọng trong nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Khơme. Phật thoại mô tả cuộc đời của đức Phật từ khi ngài mới hạ sinh cho đến khi nhập cõi niết bàn đều có liên quan ít nhiều đến rắn Naga. Hình tượng rắn Naga bảo vệ cho đức Phật tọa thiền là một đề tài quen thuộc trong Phật giáo Nam tông của người Khơme. Trong các ngôi chùa Khơme, rắn Naga ngự trên các mái chùa, các đầu đao để xua đuổi tà ma và bảo vệ đức Phật…
Rắn Naga ở tháp Dương Long được chạm khắc chi li, cầu kỳ, đa dạng, trang trí khá đậm đặc từ xung quanh chân tháp lên đến các cửa giả, cửa chính, các ô khám và viền xung quanh các tầng mái, được thể hiện bằng nhiều kích cỡ, nhiều bố cục khác nhau. Có rắn 5 đầu, rắn 3 đầu, 1 đầu… Hàng ngàn mảnh đá chạm thu được ở tháp Dương Long trong đợt khảo cổ học năm 2006, có từ 70% đến 80% chạm hình rắn. Trong hàng trăm tác phẩm điêu khắc có giá trị tìm được, thì hình tượng rắn cũng chiếm đa số. Thật ít có ngọn tháp Chăm nào trang trí nhiều hình tượng rắn đến như vậy. Có thể nói rắn Naga tháp Dương Long là một hiện tượng đặc biệt trong điêu khắc cổ Chăm pa.
Hình tượng rắn Naga trang trí nhiều ở tháp Dương Long đã nói lên quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa người Chăm, người Ấn Độ và người Khơme. Và dù thể hiện dưới bất kỳ hình tượng nào, thì rắn Naga vẫn là biểu tượng của nguồn nước và những quyền năng mà thiên nhiên ban tặng cho con người.
  • Nguyễn Thanh Quang

Biểu tượng con rắn có ý nghĩa gì trong các nền văn hóa?


Biểu tượng con rắn có ý nghĩa gì trong các nền văn hóa?

Con người nhìn chung là sợ rắn, và vì sợ nên con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn để mong rắn bảo vệ cho mình. Trong các nền văn hóa khác nhau, loài rắn mang những nét riêng khác biệt rất thú vị.

Đối với người Việt Nam, rắn không phải là loài vật thân thiện với con người. Trong quan niệm dân gian, rắn là con vật hiểm ác, tinh quái và có phần gian xảo. Nhưng cũng chính vì những đặc tính đó mà con người thần thánh hóa loài rắn, thờ cúng rắn như một vị thủy thần để cầu thân với rắn, mong rắn không làm hại người.
Thần rắn Naga
Thần rắn Naga
Nhìn chung, rắn không có được hình ảnh tốt trong tâm thức của người Việt. Cứ nhắc tới rắn, bao giờ người ta cũng kèm theo những điều xấu. Thí dụ “miệng hùm nọc rắn” là chỉ nơi nguy hiểm, miệng rắn độc là miệng nói toàn chuyện ác. “Khẩu Phật tâm xà” là miệng nói điều tốt lành, nhân đức nhưng trong tâm thì vô cùng hiểm độc.
Khi người Pháp mô tả ai với cái lưỡi chẻ đôi tức là muốn nói người ấy mồm miệng toàn nói điều độc địa như loài rắn độc. Cũng với ý nghĩa đó, kẻ tiểu nhân bị ví là ở dưới thấp hơn cả bụng rắn.
Ở châu Úc, các thổ dân tôn sùng rắn vì rắn tượng trưng cho tính âm, nguồn nước, có liên hệ mật thiết với nông nghiệp.
Ở Ai Cập, rắn là biểu tượng của thánh thần, sự thông thái và khả năng tiên tri về tương lai. Rắn được coi là thần hộ mệnh cho các bậc vua chúa nên vương miện của các pha-ra-ông thường chạm trổ hình rắn.
Rắn trong một nghi lễ của người Hindu
Rắn trong một nghi lễ của người Hindu
Ở châu Âu, tục thờ rắn phổ biến quanh lưu vực những con sông ở Hy Lạp. Ở đây, rắn không chỉ tượng trưng cho sự khôn ngoan mà còn là biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực về khả năng sinh sản.
Theo truyền thuyết cổ Hy Lạp, con trai của thần Apollo được xem là ông tổ của ngành y dược. Một ngày nọ, Esculape trên đường đi thăm bạn gặp một con rắn, ông đã đưa cây gậy ra và con rắn liền bám lấy rồi bò lên quấn quanh cây gậy.
Esculape thấy vậy nên cầm cây gậy đập xuống đất để giết chết con rắn. Sau đó, ông lại thấy một con rắn khác bò tới, miệng ngậm một loại thảo dược để cứu con rắn đã chết. Từ đó ông để tâm tìm kiếm các loại cây cỏ trong núi để chữa bệnh cho con người. Esculape được xem như thần bảo hộ của các thầy thuốc.
Biểu tượng rắn trong các nền văn hóa
Biểu tượng rắn trong các nền văn hóa
Để khắc họa thần Esculape, người ta thường để thần cầm một chiếc gậy làm bằng gỗ cây nguyệt quế và một con rắn quấn chung quanh. Ngoài ra, rắn thường lột da để lớn và để loại bỏ các ký sinh trùng trên da nên rắn cũng là biểu trưng của sự tái sinh, hồi phục, tuần hoàn luân hồi và bất tử.
Đối với người Hindu, rắn được coi như thần thánh. Trong lễ hội, người ta chia gạo cho rắn với hy vọng tai ương sẽ qua đi và những điều tốt đẹp sẽ tới. Tín ngưỡng này còn được thể hiện trong điêu khắc, với hình ảnh các vị thần cầm rắn trên tay hay để rắn quấn ngang mình. Trên các mái, vách của các ngôi đền, hang động cổ, người ta cũng tìm thấy những hình ảnh rắn được chạm khắc.
Ở Đông Nam Á, tục thờ rắn cũng rất phổ biến. Trong tín ngưỡng dân gian của người Campuchia, họ thờ cúng thần rắn Naga.
PU (tổng hơp)

Mối tương quan giữa Naga, rồng, rắn, thuồng luồng trong truyền thuyết

Mối tương quan giữa Naga, rồng, rắn, thuồng luồng trong truyền thuyết

Về Naga, ban đầu nó là từ của chủng người Nam đảo, trong tiếng Malay, naga nghĩa là rồng. Tiếng Indo naga để chỉ rồng hoặc một loài rắn lớn...Bản thân tiếng Nhật, Naga cũng có nghĩa là long, có lẽ do ảnh hưởng văn hóa từ thổ dân Ainu...
Trích:
Cha của Nagakura lấy họ mình có chữ "naga" nghĩa là "long", nhưng sau đó Nagakura lại đổi thành chữ "naga" nghĩa là "bất diệt".
Chủng người Nam Đảo cổ có tục lệ đi biển, xăm mình và thờ rắn biển (có thể chính là thuồng luồng). Đến khi thổ dân Nam Đảo có sự đổ bộ mạnh mẽ lên đất liền một cách mạnh mẽ (không rõ nguyên nhân, có thể liên quan tới đại hồng thủy) thì từ Naga bắt đầu được người Cam sử dụng, ban đầu là để chỉ bộ tộc người đến từ biển, sau này, khi mà đạo phật bắt đầu phổ biến thì Naga dần dần trở thành từ chỉ loại rắn thần họ thờ....
Trích:
Theo một truyền thuyết dân gian Campuchia, Naga là một sắc dân thuộc dòng giống rắn thiêng đã có thời làm bá chủ cả một vương quốc rộng lớn trong khu vực Thái Bình Dương. Con gái vua Naga thành hôn với Kaundinya, một Brahman người Ấn Độ, và từ họ đã sinh ra dân tộc Campuchia ngày nay. Bây giờ, người Campuchia vẫn thường kể rằng, họ là người “sinh ra từ Naga”.
Đấy là thời xa xưa, còn bây giờ, tại Ấn và Burma còn tồn tại bộ tộc Naga. Bản thân họ không biết mình từ đâu đến. Họ có tục xăm mình, tôn thờ các chiến binh và săn đầu người....Các nhà nhân chủng học cho rằng họ có liên quan mật thiết đến các bộ lạc nguyên thủy còn sót lại trên đảo Boneo (Indo) và thổ dân Philippin
Trích:
Their burial customs, ornamentation, agricultural practices and even games and crafts, linked them strongly to the tribal peoples of Borneo and the Philippines.[3]
Trứơc mình cũng đã up 1 file có một vài ảnh sưu tầm về thổ dân Boneo... phong tục tập quán của họ y hệt người Việt cổ: Xăm mình, đội mũ lông chim, thờ chim và rồng....Nếu nhìn vào một chiến binh boneo bạn chắc sẽ thốt lên rằng đấy chính là những hình người được miêu tả trên trống đồng. Nhiều người cho rằng Thổ dân Boneo là chi tộc còn sót lại của bộ tộc Naga cổ từng thống trị vùng biển Thái Bình Dương thời tiền sử...Cá nhân mình cho rằng họ có liên quan mật thiết đến người Việt cổ, một vài dân tộc thiểu số Việt Nam, người Naga trong truyền thuyết Cam và ngay cả Lạc Long Quân trong truyền thuyết Việt Nam.

Lại nói về Naga, truyền thuyết của người Chăm có nhắc đến mối liên quan giữa nữ thần Naga và thần Kim Quy:
Trích:
Truyền thuyết về Ngũ Hành Sơn
Theo truyền thuyết của người Chăm, thuở xa xưa có một ẩn sĩ sống giữa bãi cát mênh mông bên bờ biển. Một hôm, ẩn sĩ thấy Nữ Thần Naga xuất hiện, mang theo một cái trứng, giao cho Thần Kim Quy cất giữ ngả phía sông Hàn để trừ khử sự quấy nhiễu của ma quái. Thần Kim Quy để quả trứng lại nhờ ẩn sĩ chăm sóc, và tặng ẩn sĩ một móng rùa để bảo vệ trứng.

Dưới sự bảo vệ của ẩn sĩ, quả trứng ngày càng lớn nhanh một cách kỳ dị. Một hôm, sau giấc ngủ say, ẩn sĩ tỉnh mộng và nhìn thấy một thiếu nữ xinh đẹp từ trong trứng bước ra, vỏ trứng nứt làm 5 mảnh, trở thành 5 trái núi, là Ngũ Hành Sơn ngày nay. Vua Chăm nghe được câu chuyện ấy liền cưới thiếu nữ làm vợ, còn Thần Kim Quy chở ẩn sĩ biến lên trời.
Còn đây là truyền thuyết của người Việt
Trích:
“Ngày xưa, nơi đây là một vùng biển hoang vu, chỉ có một ông già sống đơn độc trong một túp lều tranh. Một hôm, trời đang sáng bỗng nhiên tối sầm, giông bão nổi lên, một con giao long rất lớn xuất hiện vùng vẫy trên bãi cát và một quả trứng khổng lồ từ từ lăn ra ở dưới bụng. Sau đó giao long quay ra biển đi mất. Lát sau, một con rùa vàng xuất hiện, tự xưng là thần Kim Quy, đào cát vùi quả trứng xuống và giao cho ông già nhiệm vụ bảo vệ giọt máu của Long Quân. Quả trứng càng ngày càng lớn, nhô lên cao chiếm cả một vùng đất rộng lớn. Vỏ trứng ánh lên đủ mầu sắc xanh, đỏ, trắng, vàng, tím lấp lánh như một hòn gạch khổng lồ. Một hôm, ông lão vừa chợp mắt thì nghe có tiếng lửa cháy, ông cầu cứu móng rùa - vật mà thần Kim Quy đã giao lại cho ông lúc ra đi và trong lòng trứng xuất hiện một cái hang rộng rãi, mát mẻ. Ông đặt lưng xuống ngủ thiếp luôn và không biết đang xẩy ra một phép lạ: một cô gái xinh xắn bước ra từ trong trứng và nơi ông nằm là một trong năm hòn đá cẩm thạch vừa được hình thành từ năm mảnh vỏ của quả trứng...”.
Chắc chắc ở đây có mối liên hệ giữa các hình tượng Nữ thần Naga- Thần Kim Quy- Lạc Long Quân. Mối liên quan giữa rắn thần Naga- thuồng luồng- rồng, giữa các bộ tộc Nam đảo- thổ dân Boneo-bộ tộc Naga Burma- thổ dân Indo- thổ dân Philip- thổ dân Úc- thổ dân Taiwan- Thổ dân Ainu (Nhật)- thổ dân da đỏ châu Mỹ- và cả người Việt cổ
Ngoài ra còn mình còn nhận thấy một mô-típ khá thú vị...Giữa chim và rắn (rồng, thuồng luồng) trong truyền thuyết. Trong truyền thuyết Cam thì có đại bàng Garuda- vua của các loài chim, kẻ thù truyền kiếp của rắn Naga. Truyền thuyết Việt Nam thì có bộ chim Lạc- rồng Việt hay Âu cơ- Lạc Long Quân, mối quan hệ vợ chồng, nhưng sau cũng xa nhau, một lên núi, 1 xuống biển. Còn truyền thuyết Trung Quốc thì có cặp Rồng- Phượng. Truyền thuyết Cam thì rắn là nữ, hệ thủy ( Nữ chúa Naga) còn truyền thuyết Trung Quốc thì theo thông tin của bác Thái Hàng, ban đầu rồng là hệ thủy, tính âm còn phụng là hệ hỏa, tính dương...sau đó Đế Vương vì thích nên mới tự ý đổi sang tính dương. Còn ở Việt Nam thì Rồng nước, dương (Lạc Long quân) còn chim Lạc, chim Âu là tính âm...(Âu Cơ- tiên tộc)

Ban đầu thì là thế, đấy là những điều mình rút ra từ một vài truyền thuyết của Cam, Indo, Việt, Trung.... Sơ sài thì có thể hình dung ra trước đây đã có một lớp người cũ với tục thờ rắn nước thống trị vùng Sundaland và ảnh hưởng đến văn hóa của các vùng lân cận. Hiện tại đang tìm hiểu tiếp về truyền thuyết Philippin, Malai, New Guine và Úc... Xét ra được gì mới sẽ cập nhật thêm...


Truyền thuyết Philippin có thờ một một biến thể khác của Naga là loại rắn biển lớn tên Bakunawa (Nawa- naga chỉ khác nhau ở cách phiên âm của tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh). Theo truyền thuyết thì Bakunawa có em là loài rùa biển.....
Trong lúc tìm kiếm về naga tìm thấy hình này...

..thấy nó quen quen, không biết nhìn thấy ở đâu rôi....hóa ra là từ đây:

...mới chợt giật mình thấy Nữ oa = nuwa...nuwa, nawa, naga..... có liên quan

Vài dòng tham khảo vui về rắn trong năm con rắn


Vài dòng tham khảo vui về rắn trong năm con rắn


Từ trên đỉnh cao nhìn xuống những dòng sông uốn lượn chảy quanh co bao bọc các xóm làng hay nhìn những con đường ngoằn ngoèo chạy dọc theo chân núi làm cho người ta liền nghĩ đến hình ảnh của một con rắn đang bò.
Vài dòng tham khảo vui về rắn trong năm con rắn
Vài dòng tham khảo vui về rắn trong năm con rắn

Rắn có thể nói là con vật khác thường hơn những con vật khác sống chung quanh con người. Rắn không chân nhưng khả năng di chuyển của nó rất nhanh và không gây tiếng động. Miệng nhỏ nhưng có thể nuốt một con vật to hơn nó gấp mấy lần. Nọc độc của rắn có thể làm cho người ta chết, nhưng nó cũng được dùng pha với huyết thanh để chữa trị cho những người bị rắn cắn.

Trong sinh vật học rắn là một loài động vật bò sát, máu lạnh, có vảy, sống dưới đất, không có chân, tự lột xác để trưởng thành. Rắn có nhiều loại, có đủ các màu sắc, kích cỡ khác nhau.

Trên rừng, dưới biển, sa mạc, đồng bằng, núi cao, bất cứ chỗ nào người ta cũng đều thấy nó hết. Phần đông rắn thường đẻ trứng và trứng của nó hình bầu dục. Khác với trăn, rắn thường truyền nọc độc để giết mồi còn con trăn thì hay dùng thân xiết chặt con mồi cho đến chết truớc khi nuốt.

Rắn chỉ là một vật thể vô tri giác nhưng theo quan niệm trong dân gian của các dân tộc trên thế giới, rắn được xem là một trong những con vật có nhiều huyền thoại và đã đi vào đời sống văn hóa của con người. Hình tượng của rắn thường được thấy qua các hình ảnh diễn đạt khác nhau như: Thần hiền, thần ác, điều tốt, điều xấu, sự hủy diệt, tái sinh, tình yêu, tội lỗi...

Theo truyền thuyết Ai Cập người ta xem rắn như là một vị thần linh tối cao, vị thần hộ mạng cho các nhà vua, do đó trên các vương miện của các vua pharaoh Ai Cập đều có chạm trổ hình rắn Naja bằng vàng hay đá qúy.

Theo Kinh Thánh Cựu Ước có ghi con rắn mánh khóe gian xảo cám dỗ ông Adam và bà Eve ăn trái táo cấm. Kết quả họ bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và phải sống dưới trần thế với cuộc sống đầy đau khổ vất vả.

Một hình ảnh khác trong Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy Moses đã biến cây gậy của mình thành một con rắn để chứng tỏ quyền năng của Thượng đế khi ông Ai cập để thuyết phục Pharaoh trả tự do cho các nô lệ người Do thái.

Theo truyền thuyết Hy Lạp, ngành y học đã dùng biểu tượng con rắn quấn quanh cây gậy tượng trưng cho sự khôn ngoan, khả năng chữa trị bệnh và kéo dài tuổi thọ.

Theo Kundalini Yoga hình tượng của con hỏa xà nằm cuộn ở vùng hội tâm của xương sống,biểu trưng cho nguồn năng lượng của sự sống được đánh thức và nâng cao trong suốt quá trình thiền định.

Hình ảnh con rắn nuốt đuôi tượng trưng cho vòng tròn hồi tiếp vĩnh viễn hay là cho cái vô hạn và sự lột da của rắn tượng trưng cho sự tái sinh và trường thọ. Môn nghiên cứu về rắn học tiếng Anh gọi là "Herpetology" có gốc từ chữ "Herpeton"của Hy Lạp.

नाग nāga có gốc từ động từ naga, thuộc giống đực trong phạn ngữ. Theo nghĩa huyền thoại có nghĩa là con rắn, mãng xà hay con rắn có khuôn mặt hình người. Nāga là loài vật bảo vệ kho báu trái đất của các đấng tối cao hay còn được xem như là á thánh nhân địa phương. Một huyền thoại khác của thổ dân xưa thuộc về dòng dõi vua cho rằng Nāga là hậu duệ của Kaśyapa và Kadrū.

Theo huyền thoại của người Ấn Độ thời cổ, rắn đã bị Garuda (गरूड, con chim săn mồi có đầu người, ba mắt, mỏ đại bàng) bắt được và tiêu hủy nọc độc.Garuda gọi là Kim sí điểu (Hán Việt) hay Ca câu la (Âm phạn). Kim sí điểu là một loài chim thần trong Ấn Độ giáo. Garuda là một con vật cưởi của thần Vishnu. Theo truyền thuyết Garuda và Nāga là anh em họ và sau này họ trở thành kẻ thù với nhau. Bởi vì Nāga đã giết chết mẹ của Garuda. Cuộc chiến giữa chim và rắn là biểu trưng cho cái thiện chống lại cái ác… và cũng mang ngụ ý nói lên bản tính đối lập của thần Vishnu, vừa giết chết vừa làm sống lại, vừa phá hủy vừa xây dựng lại.

Ở Ấn Độ, rắn được xem như là một biểu tượng của sự bất tử và được quý chiều như con vật linh thiêng. Sự sùng bái tôn thờ rắn của họ đã đi sâu vào trong đời sống văn hóa của dân tộc. Họ đã dành riêng cho rắn một ngày tết trang trọng vào tháng 8 theo mỗi năm.

Theo tinh thần Phật học hình ảnh Đức Phật và Xà vương là một bài học nói đến sự phát triển lòng từ bi. Xà vương Muchalinda đã quấn thân mình làm đài tọa cho Đức Phật và vươn cao đầu để che chở cho Đức Phật. Một hình ảnh khác của con rắn được thấy qua kinh Ví Dụ Con Rắn mà Đức Phật đã dùng để soi sáng tâm thức của Arittha cho việc học, hiểu và hành kinh điển trong đời sống.

Tăng chi bộ IV: 67, có ghi một trường hợp của một Tỳ-kheo đã bị rắn cắn chết và Đức Phật nói rằng nếu vị Tỳ kheo này trải lòng từ đến loài rắn, thì đã không bị con rắn ấy cắn chết. Theo sự ẩn dụ của bài kinh này, Đức Phật muốn nói lòng từ là phương cách ngăn chặn các loài rắn làm hại con người.

Tại Trung Hoa, tục thờ rắn vẫn còn ghi lại qua hình ảnh thần Phục Hy đầu người đuôi rắn hay thần Nữ Oa đầu người mình rắn... Tục thờ rắn trong tín ngưỡng dân gian cũng rất phổ biến ở nước Campuchia. Thần rắn Nāga được người ta dùng làm biểu trưng cho sức mạnh thiên nhiên có ảnh hưởng liên quan đến cuộc sống của họ mỗi ngày.

Từ huyền thoại này cho đến truyền thuyết kia trong nhiều nơi trên thế giới, xứ Việt mình cũng có rất nhiều truyền thuyết về rắn được biết như: Con rắn khổng lồ trong truyện Thạch Sanh Lý Thông. Trong câu truyện này con rắn mang hình ảnh tàn ác bắt dân làng phải nộp cho nó ăn thịt. Nhờ Thạch Sanh ra tay diệt trừ, dân làng mới thoát khỏi họa diệt vong. Một huyền thoại khác nữa được biết trong lịch sử Việt đó là chuyện rắn báo oán mà Nguyễn Trải bị tru di tam tộc. Truyền thuyết kể rằng vì người của Nguyễn Trãi giết sạch ổ rắn con nên rắn mẹ đã hoá thân làm Thị Lộ báo thù.

Tuy rắn có những hình ảnh không đẹp trong qua các truyền thuyết dân gian xứ Việt nhưng trong dòng lịch sử Việt, rắn đã có một vị thế được khắc ghi trong triều vương của vua Gia Long. Khi Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh phải chạy đến vùng biển Hà Tiên. Theo sách “Đại Nam thực lục” đã ghi như: “Năm 1782, vua đến Hà Tiên, đi thuyền nhỏ qua biển. Đêm tối không thấy rõ, ở gầm thuyền hình như có vật gì đội, tang tảng sáng nhìn ra thì đó là một đàn rắn. Người đi theo đều lấy làm sợ. Vua giục cứ đi, một lát thì đàn rắn đi mất”.

Ngoài những huyền thoại hay và xấu nói về rắn. Dòng chữ Việt còn có bài thơ rắn do Lê Qúi Ðôn ứng khẩu để tạ tội cha mẹ khi ông còn trẻ là một đứa bé.Bài thơ mang tựa "Rắn đầu biếng học" qua phần nội dung như sau:

Chẳng phải liu điu cũng giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ
Nay thét mai gầm rát cổ cha
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo
Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba
Từ nay Trâu, Lỗ xin chăm học
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia


Trong quan niệm của người Việt, rắn là con vật bị người ta sợ và ghét. Có lẽ bởi vì nộc độc của nó có thể đe dọa nguy hiểm đến tính mạng của họ. Do đó trong tục ngữ ca dao thường có những câu được biết như: “Khẩu phật tâm xà” | “Đánh rắn là phải đánh dập đầu” | Cõng rắn cắn gà nhà | Hang hùm nọc rắn…Từ những ấn tượng không tốt trong những câu ngạn ngữ dân gian, người ta còn nhân cách hóa thêm các mặt xấu của rắn qua những hình ảnh như:đồ lừa bịp bợm,người hiểm ác, kẻ gian manh hay sự đam mê nhục dục…

Như vậy, hình ảnh của rắn cho dù đứng trong hai khía cạnh tốt và xấu do con người đặt cho nó qua nhiều trường hợp khác nhau. Đương nhiên cuối cùng rắn vẫn là rắn và bản tánh tự nhiên cắn hay mổ của nó không bao giờ thay đổi được. Sự tự lột da để trưởng thành của rắn mãi là hình ảnh biểu trưng cho sự thanh xuân và bất tử.

Nếu có giây phút rãnh rỗi nào để suy nghiệm thì qua những hình ảnh sự cám dỗ của con rắn trong vườn địa đàng và điều gì mà Đức chúa Giê su muốn dạy về sự "khôn ngoan như

rắn"? hay trong trường hợp của một Tỳ kheo đã bị rắn cắn chết và Đức Phật nói rằng nếu vị Tỳ kheo này trải lòng từ đến loài rắn, thì đã không bị con rắn ấy cắn chết (Tăng chi bộ IV: 67), thì con rắn vẫn là một bài học của sự khôn ngoan cẩn trọng và lòng từ bi, bát ái, giúp người…

Đời sống luôn có những thử thách gian truân đầy những cám dỗ và tội lỗi luôn là bản tính con người, dù ở bất cứ thời gian nào và khung cảnh nào. Do đó sự khôn ngoan cẩn trọng để quyết định cho đúng là điều cần thiết giúp cho chiếc áo chân thiện mỹ của mỗi người trong cuộc sống càng thêm đẹp hơn.

Chỉ còn vài trong khoảnh khắc ngắn nhỏ, cái đuôi của thời gian năm rồng đang chuyễn đi, năm rắn sắp đến. Xin chúc mỗi người, mỗi quyết định, mỗi việc làm được thành công rực rỡ như mỗi lần con rắn tự lột xác là mỗi lần con rắn ấy to lớn và khoẻ mạnh hơn.

Kính bút,


 
Tác giả bài viết: TS Huệ Dân - Dòng Thánh tâm Huế

Giới chiêm tinh “phán” về năm con Rắn

Giới chiêm tinh “phán” về năm con Rắn


QĐND - Đài Tiếng nói nước Nga dẫn nhận định của các nhà chiêm tinh cho rằng, năm mới 2013 mang lại may mắn cho những ai biết cân nhắc, tính toán hành động. Các nhà chiêm tinh khuyến cáo mọi người cố gắng giảm bớt chi tiêu. Năm 2013 cũng là năm thuận lợi cho hôn nhân và vun vén quan hệ tình cảm.
Theo nhà chiêm tinh học A-lê-na Át-lơ (Alena Adler), nếu năm ngoái, những người thuộc chòm sao Thiên Bình (sinh từ ngày 23-9 đến 23-10) chăm chỉ lao động thì năm nay là lúc gặt hái thành quả. Hạnh phúc sẽ mỉm cười, tiền vào như nước và hứa hẹn những cuộc tiếp xúc thuận lợi với chòm Song Tử (từ ngày 21-5 đến 21-6). Trong khi đó, chòm Bảo Bình (từ ngày 20-1 đến 18-2) có nhiều ý tưởng sáng tạo và vận dụng kỹ năng tổ chức khéo léo vốn có cũng như phẩm chất lãnh đạo để đưa ý tưởng thành hiện thực.
Cũng theo nhà chiêm tinh này, năm 2013 hứa hẹn sự biến chuyển trong đời tư của Kim Ngưu (từ ngày 20-4 đến 20-5). Tháng tư và tháng năm là thời điểm thuận lợi nhất đối với họ. Hoàn cảnh tạo cơ hội để những người thuộc cung Xử Nữ (từ ngày 23-8 đến 22-9), cải thiện vật chất và địa vị xã hội của mình. Còn Ma Kết (từ ngày 22-12 đến 19-1) trong năm nay sẽ trở nên có trách nhiệm hơn đối với cuộc sống. Hơn hết, vận may ưa những người làm việc về xây dựng, giáo dục và kinh doanh.
Đối với chòm sao Cự Giải (từ ngày 22-6 đến 22-7), nhà chiêm tinh Vích-to I-xtô-min (Victor Istomin) khẳng định, vận may có thể được đánh dấu bằng sự thay đổi công việc hay mối quan hệ. Hổ Cáp (từ ngày 24-10 đến 22-11) phải đối mặt với nhiều trở ngại nhưng chắc chắn sẽ thành công. Năm 2013, chỗ dựa trong công việc của Song Ngư (từ ngày 19-2 đến 20-3) là bạn bè và đối tác, nửa cuối năm có thể chuẩn bị khoản chi tiêu lớn, chẳng hạn như mua bất động sản hoặc chuyển nhà.
Theo nhà chiêm tinh Ta-ma-ra Y-u-đi-na (Tamara Yudina), chòm sao Sư Tử (từ ngày 23-7 đến 22-8) sẽ ngày càng nhận được sự quý mến, tôn trọng và có thể tận dụng ảnh hưởng của mình để mở rộng quyền hạn, thăng tiến trong sự nghiệp. Chòm sao Bạch Dương (từ ngày 21-3 đến 19-4) sẽ phải luôn sáng suốt và sẵn sàng trước mọi việc. Trong khi đó, yếu tố bất ngờ là những gì chờ đón người thuộc chòm sao Nhân Mã (từ ngày 23-11 đến 21-12).
Các nhà chiêm tinh có chung một đánh giá là năm 2013 sẽ ít sóng gió hơn năm 2012 và thế giới từng bước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế.
VĨNH AN