| Mỹ đã thua ngay từ khi ngồi vào bàn đàm phán | |
Ông Đặng San được phân công nhiệm vụ là chuyên viên của Đoàn 37 khi đang công tác tại Vụ I (Bộ Ngoại giao) - tiền thân là Vụ Miền Nam. Ngay khi có chủ trương đàm phán, Bộ Chính trị đã lập ra CP50 - cơ quan chuyên trách nghiên cứu tư vấn để Bộ Chính trị chỉ đạo Hội nghị Paris và CP80 - cơ quan theo dõi, giám sát việc thực thi Hiệp định sau khi ký kết. Thời gian đầu, ông Đặng San làm việc trong CP50 và sau đó chuyển sang CP80.
Theo ông Đặng San, mục đích của Đoàn Việt Nam trong cuộc đàm phán là đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Tuy nhiên, từ đầu đến cuối, Mỹ luôn tránh chữ "đàm phán" mà chỉ gọi là "cuộc nói chuyện chính thức". Thời gian đầu, trong các phiên đàm phán, phía Mỹ biểu thị thái độ ở thế mạnh rất rõ ràng: Một mực đòi phía Việt Nam rút quân khỏi miền Nam thì Mỹ mới nói chuyện. Trên bàn Hội nghị, sau mỗi cuộc họp, Trưởng đoàn phía Mỹ là Harriman chỉ bắt tay một mình ông Xuân Thủy. Tuy nhiên, dù phía Mỹ muốn tránh chữ "đàm phán" nhưng "khi anh đang đánh mà anh phải dừng lại để đàm phán tức là anh đã bắt đầu thua" - ông San nhận định.
Đoàn 37 có người chủ biên dự thảo các phát biểu công khai là ông Nguyễn Minh Vỹ và các chuyên viên gồm ông Đặng San, ông Phạm Lâm và ông Trần Hoàn chịu trách nhiệm soạn dự thảo phần nội dung mà mình phụ trách. Chẳng hạn như ông Đặng San chuyên theo dõi tin về Chính quyền VNCH thì soạn các vấn đề liên quan đến Ngụy quyền; Hay ông Phạm Lâm chuyên theo dõi mảng quân sự thì soạn vấn đề liên quan đến các động thái của Mỹ... Ngay sau các cuộc đàm phán diễn ra vào thứ 5 hàng tuần, các thành viên trong Đoàn sẽ tập trung bàn bạc và nhận định xem trong quá trình đàm phán, địch tiết lộ những điều gì cần chú ý và trên cơ sở đó, anh em sẽ chuẩn bị hướng đối phó cho phiên sau.
Ngoài ra, các cố vấn và chuyên viên trong Đoàn cũng dành thời gian tới dự các cuộc nói chuyện với các đoàn thể, các hội Việt kiều hay với sinh viên các trường Đại học. Trong suốt thời gian ở Paris, Đoàn đã tham dự nhiều cuộc nói chuyện tại Pháp và cả ở vài nước Bắc Âu. Hầu hết các buổi nói chuyện của lãnh đạo, cố vấn và chuyên viên của Đoàn đều được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt. Họ đặt rất nhiều câu hỏi về chiến tranh Việt Nam, về các vấn đề trên bàn đàm phán và những câu trả lời của Đoàn Việt Nam nhận được sự tán dương hết sức nồng nhiệt. Ấn tượng nhất đối với ông Đặng San là khi tới nói chuyện tại Đại học Bách khoa và Đại học Tổng hợp Paris, tiếng vỗ tay của các sinh viên tại đây dường không thể dứt sau mỗi câu trả lời của Đoàn.
Ấn tượng đậm nét nhất đối với các thành viên đoàn đàm phán chính là sự giúp đỡ nhiệt tình và hết sức vô tư của Đảng Cộng sản Pháp. Họ không chỉ di dời cả một Trường Đảng của mình để dành địa điểm cho Đoàn 37 ăn ở mà còn để lại cho Đoàn toàn bộ nhân viên phục vụ. Ngoài ra, mỗi khi Đoàn có yêu cầu gì đều có thể đề xuất với Đảng Bộ thành phố Choisy-le-Roi và họ sẽ lập tức báo cáo cấp trên để giúp đỡ Đoàn.
Đoàn đàm phán cũng hết sức cảm động trước tấm lòng hướng về quê hương, đất nước của bà con Việt kiều tại đây. Hội trưởng Hội Việt kiều tại Pháp khi đó là anh Huỳnh Trung Đồng và các hội viên chủ chốt là bác sĩ Nguyễn Ngọc Hà, vợ chồng anh Nguyễn Ngọc Trân và anh Nguyễn Ngọc Giao... đã giúp Đoàn nhiều việc khác nhau, trong đó quan trọng nhất là công việc dịch văn bản.
Vừa đảm bảo công việc được giao tại CP50 - ông Đặng San vừa cùng các thành viên trong Đoàn 37 tham gia vào các phong trào vận động sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế yêu tự do, dân chủ và hòa bình. Qua đó, Việt Nam đã có được sự ủng hộ nhiệt liệt của tất cả các phong trào hòa bình dân chủ trên thế giới. Rất nhiều phong trào đã cử đại diện tới Paris để gặp gỡ Phái đoàn và ông Xuân Oanh (nhạc sĩ - tác giả ca khúc 19 tháng Tám) đảm nhận nhiệm vụ trực tiếp lên kế hoạch tiếp đón các đoàn khách đến từ các phong trào. Thậm chí, Đoàn 37 còn có cả một đội đồng ca để phục vụ các buổi gặp mặt, liên hoan, chiêu đãi...
Ông Đặng San cũng như các thành viên trong Đoàn 37 còn nhớ rõ câu chuyện về thái độ của ông Lê Đức Thọ trong một cuộc tiếp xúc với Ngoại trưởng Mỹ Kissinger. Từ những cuộc đàm phán đầu tiên, thái độ của Mỹ luôn tỏ ra ở thế mạnh và coi thường Đoàn Việt Nam. Tuy nhiên, với những chiến thắng liên tiếp trên chiến trường của quân dân Việt Nam, thái độ của Mỹ trên bàn đàm phán đã chuyển sang thế yếu. Mỹ bắt đầu cởi mở với Đoàn Việt Nam. Đặc biệt, sau 12 ngày đêm không quân Mỹ đánh phá miền Bắc và đón nhận thảm bại, trong cuộc tiếp xúc với Kissinger ngay sau đó - ông Lê Đức Thọ tỏ rõ thái độ và không thèm bắt tay ngoại giao mà lẳng lặng đi vào bàn ngồi. Mọi người trong Đoàn đều hiểu ông Lê Đức Thọ đang biểu thị thế mạnh - đập tan cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ, bằng cách không bắt tay gì cả.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết - Mỹ phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam. Ngay sau đó, các thành viên của CP50 được chuyển sang CP80 làm việc. Ông Đặng San được phân công làm Tổ trưởng Tổ đấu tranh hằng ngày, công việc mà ông thường nói vui là "suốt ngày chỉ tuyên bố với phản đối".
Kỷ niệm đáng nhớ nhất đối với ông San là lần cắp cặp theo Thứ trưởng Nguyễn Xuân sang thảo luận 2 đêm với Chánh án TAND Tối cao Phạm Văn Bạch cùng 2 luật sư Phạm Thành Vinh và Nguyễn Trọng Vĩnh về nội dung: "Những quy định bảo đảo quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris". Ngay sau đó, nội dung này trên được đăng tải tràn 2 trang báo Nhân dân. Nội dung này lập tức được gửi vào Trung ương Cục miền Nam để chỉ đạo đấu tranh chống đàn áp, bảo vệ quyền tự do dân chủ.
Với kinh nghiệm tham gia trực tiếp vào quá trình đấu tranh ngoại giao vừa đánh, vừa đàm, ông Đặng San nhận định, bài học rút ra cho ngoại giao hiện đại cũng giống như Việt Nam thắng Mỹ trên bàn đàm phán trong tư thế của người đang chiến thắng trên chiến trường, đó là: Chỉ đàm phán trên thế mạnh - nhất định không đàm phán trên thế yếu.
Thiên Đức (ghi)
|
Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2013
Mỹ đã thua ngay từ khi ngồi vào bàn đàm phán
Nhớ về chiến thắng Quảng Trị 1972
| Nhớ về chiến thắng Quảng Trị 1972 | ||
Bốn thập kỷ đã trôi qua, nhưng chiến dịch giải phóng Quảng Trị đã đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi. Đó là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng, là chiến thắng đầu tiên vang dội cổ vũ toàn quân toàn dân, mở màn cho cuộc tiến công chiến lược lịch sử năm 1972. Trong cuộc tiến công chiến lược này, Quảng Trị là hướng chủ yếu, nơi tập trung đoàn chiến dịch mạnh nhất của quân đội ta gồm các đơn vị binh chủng hợp thành có bề dày truyền thống, được trang bị và huấn luyện tốt. Quảng Trị tiếp giáp với hậu phương miền Bắc, có điều kiện đảm bảo hậu cần cho yêu cầu tác chiến lớn, dài ngày. Trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng, năm 1972 đã diễn ra một cuộc đọ sức vô cùng quyết liệt giữa ta và địch trong một chiến dịch dài ngày nhất (304 ngày), kể từ khi mở màn chiến dịch (30/3/1972) đến ngày ký Hiệp định Pari về Việt Nam (27/01/1973).
Mọi người còn nhớ: Năm 1972, ta mở một cuộc tiến công chiến lược quy mô toàn miền Nam, phối hợp các mũi tiến công của bộ đội chủ lực trên 3 hướng: Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ với các chiến dịch tổng hợp ở Khu 5 và Đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày 30/3/1972, ta tiến công địch ở Quảng Trị và Kon Tum. Ngày 1/4/1972, miền Đông Nam Bộ, Khu 5 và Đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy.
Ngày 31/3/1972, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi: "Chiến dịch lịch sử năm 1972 đã bắt đầu! Các đồng chí hãy nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quyết chiến quyết thắng, tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt tiến công địch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu, quyết giành cho được những thắng lợi to lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch kính yêu…".
Quảng Trị, 11 giờ ngày 30/3/1972, Tư lệnh mặt trận Lê Trọng Tấn hạ lệnh: "Bão táp I". 247 khẩu pháo các loại của bộ đội pháo binh mở màn chiến dịch, đồng loạt bắn vào 19 căn cứ trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.
Ngay từ loạt đạn đầu, pháo ta bắn trúng hầu hết các trận địa pháo, các sở chỉ huy địch ở điểm cao 241, Mai Lộc, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Đông Hà, Cồn Tiên, Dốc Miếu… Sau cuộc bắn phá của pháo binh dài 36 tiếng đồng hồ với gần 8.000 viên đạn các loại, các lực lượng binh chủng hợp thành gồm bộ binh, xe tăng xuất phát tiến công, đột phá trên hướng chủ yếu ở phía Tây và Tây bắc Quảng Trị, kết hợp với mũi thọc sâu bao vây ở phía Đông và mũi chia cắt chiến dịch ở phía Nam.
Sau 5 ngày chiến đấu, đến ngày 4/4/1972, bộ đội ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, diệt 4 căn cứ trung đoàn, 7 căn cứ tiểu đoàn trên đường số 9, bức hàng trung đoàn 56, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2 và lữ đoàn 147, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Gio Linh, Cam Lộ. Trưa ngày 4/4, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gọi điện tới Sở chỉ huy chiến dịch biểu dương quân và dân Quảng Trị đánh thắng trận đầu.
Trước đòn tấn công mạnh của ta ở Quảng Trị, ngày 3/4, Nguyễn Văn Thiệu họp Hội đồng An ninh Quốc gia, điều động gấp 5 trung đoàn, lữ đoàn, 3 thiết đoàn xe tăng thiết giáp từ Sài Gòn và Đà Nẵng ra Quảng Trị. Địch điều chỉnh thế phòng ngự thành ba cụm Đông Hà, Ái Tử, La Vang - Quảng Trị, lực lượng chủ yếu tập trung ở Đông Hà.
Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: "Địch đã tăng cường lực lượng nhưng chưa được củng cố, tinh thần hoang mang giao động, nếu ta đánh mạnh, đánh nhanh thì chúng sẽ tan vỡ".
15 giờ ngày 8/4, pháo binh thực hành kế hoạch hỏa lực "Bão táp II". 2.713 viên đạn pháo giáng xuống căn cứ địch ở Đông Hà, Ái Tử. 5 giờ sáng ngày 9/4, Sư đoàn 304 tiến công cụm quân địch ở Ái Tử. Sư đoàn 324 đánh địch ở La Vang - Quảng Trị. Sư đoàn 308 được tăng cường Trung đoàn 48 (thay cho Trung đoàn 88 làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch) và 2 đại đội xe tăng tiến công cụm quân địch ở Đông Hà- Lai Phước. Ngay từ tuyến giáp, địch chống trả quyết liệt. Quân ta đánh địch trong hành tiến, bị các trận địa có xe tăng địch dấu trong công sự ngăn chặn, 6 xe tăng T54 của ta bị bắn hỏng. Mũi tiến công của 308 vào căn cứ Đông Hà buộc phải dừng lại. Phía tây Ái Tử, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) giành giật quyết liệt với địch mới chiếm được căn cứ Phượng Hoàng, Hướng đông, 3 tiểu đoàn bộ binh, đặc công vượt sông Cửa Việt bị pháo hạm Mỹ bắn chặn. Tại Cửa Việt, Trung đoàn 126 hải quân chiếm được cảng nhưng cũng bị tổn thất.
Thực tế chiến đấu cho thấy lực lượng địch ở Đông Hà - Quảng Trị khá đông gồm sư đoàn 3 bộ binh (thiếu), 3 liên đoàn biệt động quân 1, 4, 5, lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ, 3 thiết đoàn 11, 17 và 20, được không quân, pháo binh yểm trợ ở mức cao. Đặc biệt, không quân và hải quân Mỹ hoạt động mạnh, vừa yểm trợ cho quân ngụy ở Quảng Trị, vừa tăng cường đánh phá hậu phương chiến dịch. Máy bay B52 oanh tạc rải thảm, khu trục hạm Mỹ pháo kích ác liệt các trận địa ta và tuyến vận chuyển chiến dịch từ sông Gianh, Lệ Thủy (Quảng Bình) vào mặt trận.
Về chiến thuật, địch đã thay đổi thủ đoạn phòng ngự. Bị thất bại ở tuyến phòng thủ vòng ngoài, với ưu thế xe tăng thiết giáp, địch kết hợp giữa xe tăng và bộ binh tạo thành từng cụm phòng ngự di động, luôn thay đổi vị trí, tránh bị ta tập kích diệt gọn.
Để đánh bại chiến thuật "xe tăng bầy", "vỏ thép cứng di động" và phá vỡ hệ thống phòng ngự đã được tăng cường của địch, ta cần phải có thời gian chuẩn bị, tìm ra cách đánh thích hợp. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tạm ngừng tiến công, kết thúc đợt 1, mở một đợt "đệm", phát động phong trào "săn xe tăng địch", tổ chức các trận đánh nhỏ, vừa tiêu hao sinh lực địch vừa khẩn trương chuẩn bị cho cuộc tiến công quyết định trong 2 đợt chiến dịch.
5 giờ sáng ngày 27/4, ta mở đợt 2 chiến dịch, đợt quyết định chiến trường. Mục tiêu là tiêu diệt tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang - Quảng Trị, hỗ trợ cho nhân dân Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy, giải phòng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, sau đó nắm thời cơ, phát triển tiến công địch ở Thừa Thiên.
Đợt 2 chiến dịch đã diễn ra trong 6 ngày đêm, mở đầu bằng đòn hỏa lực “Bão táp III”. Sư đoàn 308 được hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện, liên tục tiến công cụm quân địch ở Đông Hà - Lai Phước. Trong tiếng nổ của tiếng đạn pháo, xe tăng T54, pháo cao xạ 37, 57 trong đội hình binh chủng hợp thành cử Sư đoàn yểm hộ bộ binh tiến công. 18 giờ ngày 28/4, thị xã Đông Hà được giải phóng. Ủy ban quân quản được thành lập, do đồng chí Nguyễn Hiền, Phó Chính ủy sư đoàn làm Chủ tịch. Cùng vào Đông Hà có nữ đồng chí Hồ Thị Bích La, Thị ủy viên.
Phía Ái Tử, Sư đoàn 304 được các cụm pháo Trung đoàn 45, 164, 38 chi viện. 21 giờ ngày 30/4, bộ binh, xe tăng Sư đoàn 304 tràn vào sân bay Ái Tử. Đến 14 giờ ngày 1/5, quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ.
Mất Đông Hà, Ái Tử, quân địch ở Quảng Trị - La Vang hoang mang rút chạy.
Hơn một trăm xe tập trung ở La Vang Thượng. Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 324 (thiếu) cắt đường số 1, pháo binh chiến dịch tập trung hỏa lực bắn vào La Vang Thượng.
Phối hợp với đoàn tiến công của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, nhân dân Quảng Trị nổi dậy giành lại chính quyền ở khắp các thôn xã. 18 giờ ngày 1/5/1972, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn giải phóng.
Tuy nhiên chiến sự trên mặt trận Quảng Trị diễn ra giằng co quyết liệt, quân và dân Quảng Trị còn phải đương đầu và vượt qua nhiều thử thách rất lớn suốt nửa cuối năm 1972.
Ngày 28/6/1972 được không quân, pháo hạm Mỹ chi viện, Mỹ - ngụy huy động hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến,một lực lượng lớn pháo binh, thiết giáp vượt sông Mỹ Chánh phản kích lên thị xã Quảng Trị. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã, giữ thành Cổ Quảng Trị kéo dài gần 3 tháng dưới bom đạn ác liệt của quân thù. Không có công sự trận địa nào không bị bom đạn pháo địch cày xới, băm nát hàng trăm lần. Thêm vào đó, mưa lũ đầu mùa đổ xuống công sự, chiến hào ngập nước, nhiều hầm hào bị sụt lở. Khó khăn là rất lớn. Các chiến sĩ dựa vào chiến hào, dựa vào tường thành cổ giành giật với địch từng mô đất, từng mảng tường, từng đoạn chiến hào, có phân đội đã chiến đấu đến người cuối cùng.
Các đơn vị bảo vệ thị xã Thành cổ Quảng Trị đã giữ vững trận địa 81 ngày đêm, nêu một tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiềm giữ một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược của địch, tạo điều kiện cho đấu tranh ngoại giao và các mặt trận khác đẩy mạnh tiến công.
Ngày 22/9/1972, dưới sự chi viện không quân và pháo hạm của Mỹ, quân ngụy mở một cuộc hành quân lớn nữa hòng chiếm lại toàn bộ vùng giải phóng Quảng Trị. Dựa vào hệ thống phòng ngự trận địa, quân và dân Quảng Trị đánh lui các đợt tiến công của địch, giữ vững vùng giải phóng Quảng Trị.
Do những thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam, cùng với "trận Điện Biên Phủ trên không" ở miền Bắc, tại Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ buộc phải thỏa thuận về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đơn phương rút quân về nước.
Chữ ký trên Hiệp định Pari chưa ráo mực, ngụy quân Sài Gòn đã phá hoại Hiệp định. 23 giờ ngày 30/1/1973, lợi dụng lúc gió to nước thủy triều xuống, địch cho lữ đoàn đặc nhiệm có hơn 100 xe tăng, xe bọc thép dẫn đầu tiến theo mép nước lấn chiếm Cửa Việt. Chúng bị Sư đoàn 320 B trừng trị thích đáng, đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm đầu tiên của địch sau Hiệp định Pari.
Hai năm sau, ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng và trong công cuộc giải phóng miền Nam, Quảng Trị là tỉnh đầu tiên sạch bóng quân thù.
Trung tướng Phạm Hồng Cư
|
Bài học lớn: Độc lập, tự chủ đi đôi với đoàn kết quốc tế
| Bài học lớn: Độc lập, tự chủ đi đôi với đoàn kết quốc tế | |
Mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc nổi lên trong bối cảnh quốc tế của cuộc Chống Mỹ cứu nước của ta khiến cho nhiệm vụ đối ngoại của ta là tập hợp các nhân tố cách mạng bên ngoài hỗ trợ cho dân tộc ta chống Mỹ tưởng chừng như không thể thực hiện được.
Đường lối đấu tranh chống Mỹ cứu nước của ta có mặt phù hợp với chiến lược của Liên Xô và Trung Quốc, nhưng có mặt không phù hợp. Ta cố gắng khắc phục mọi trở ngại để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế các nhân tố tiêu cực trong đường lối của bạn nhằm tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ cao nhất của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, phá âm mưu của Mỹ lợi dụng chính sách hòa hoãn Xô - Mỹ, Trung - Mỹ hòng chia rẽ ta với Liên Xô, Trung Quốc, làm suy yếu chỗ dựa chính của ta trên quốc tế. Mỹ mưu đồ lợi dụng triệt để những nhân tố tiêu cực trên để phục vụ chiến lược toàn cầu của họ. Việt Nam khi đó là nơi duy nhất trên thế giới trực tiếp có mặt vai trò của ba nước lớn Mỹ-Xô-Trung. Cả ba đều muốn qua vấn đề Việt Nam để phục vụ lợi ích của mình, gây sức ép và kiềm chế lẫn nhau, trong điều kiện cố tránh khỏi bị lôi cuốn vào một cuộc đụng độ trực tiếp nhau.
Sự thức tỉnh chính trị và ý thức độc lập tự chủ của các dân tộc trên thế giới cũng là một nhân tố quan trọng hạn chế những nhân tố có phần tiêu cực trong thái độ đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của ta. Đối với nhân dân thế giới, ủng hộ Việt Nam chống Mỹ đã thành "hòn đá thử vàng", thành tiêu chuẩn cụ thể nhất để đánh giá thực chất tiến bộ cách mạng của một người, một chính phủ. Việt Nam còn là tiền đề cho các nước đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của mình. Cho nên các nước không thể coi thường nhân tố này mỗi khi có ý định gây sức ép quá lộ liễu đối với ta.
Trong Chống Mỹ cứu nước của ta, Liên Xô và Trung Quốc là đồng minh chiến lược của ta, song lợi ích riêng có chỗ không khớp nên đường lối chủ trương không thể nhất trí. Vì vậy ta phải có đường lối độc lập tự chủ của ta, tuy vẫn xuất phát từ chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Nói cô đọng lại, đường lối quốc tế của ta là giữ vững độc lập tự chủ đồng thời đoàn kết quốc tế. Không thể thiếu một vế nào. Hai vế bổ sung cho nhau. Bởi vì có đoàn kết quốc tế mới quyết định được thắng lợi, địch mạnh hơn ta một trời một vực. Đoàn kết quốc tế tức là kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ. Nhưng đoàn kết quốc tế phải trên cơ sở độc lập tự chủ. Đây chính là điểm sáng tạo của Đảng ta. Trong khi phong trào cách mạng thế giới đang có khủng hoảng về đường lối, không nhất trí về quan điểm, về đường lối tiến lên của cách mạng, thậm chí có mâu thuẫn về tổ chức. Trong tình thế đó, muốn hay không muốn, ta phải có cách nhìn nhận sự việc, phân tích sự kiện một cách khách quan theo quan điểm đúng đắn của ta, phải độc lập tự chủ trong đường lối cách mạng của ta. Có chiến lược, có cách đánh, cách thắng của ta thì mới giành thắng lợi được. Bởi vì trong hoàn cảnh quốc tế lúc đó, cách đánh giá Mỹ thế nào, cách đối xử với Mỹ ra sao cũng khác nhau chứ không phải nhất trí với quan điểm của ta.
Những quan điểm trái ngược đối chọi nhau thể hiện ngay trong việc đánh giá đế quốc Mỹ thế nào? Đối xử với Mỹ ra sao? Lúc đầu khi ta mới chống Mỹ, Khroutchov nói: Một tia lửa có thể làm nổ ra chiến tranh thế giới, nổ ra chiến tranh hạt nhân, chết hàng triệu người, không những tiêu diệt Việt Nam mà còn tiêu diệt các nước khác nữa. Như thế là Việt Nam làm hại cả các nước khác! Ngược lại, có quan điểm cho Mỹ chẳng qua chỉ là con cọp giấy, thực chất không có gì đáng sợ. Còn Đảng ta đã nhận định Mỹ là con cọp thật, có nanh vuốt nguy hiểm chết người nhưng là con cọp trong thế bị bao vây săn đuổi. Ngay chính phía Mỹ cũng thấy mặt trái của sức mạnh Mỹ. Năm 1966, thượng nghị sĩ Fulbright nói: Nước Mỹ đang có dấu hiệu của sự ngạo mạn về sức mạnh. Đó là điều tác hại, làm suy yếu, đôi lúc đã hủy hoại các nước lớn trong lịch sử, nguyên nhân của những khó khăn của chúng ta ở Đông Nam Á không phải là thiếu sức mạnh mà là sử dụng quá đáng loại sức mạnh sai lầm. Điều đó đưa đến kết quả là gây nên một cảm giác về sự bất lực khi sức mạnh đó không thực hiện đúng những mục tiêu mong muốn. Henry Kissinger, năm 1969, cũng phải thú nhận: Điều bất hạnh là sức mạnh quân sự của Mỹ lại không có một hệ quả chính trị.
Vì vậy ta phải đường lối độc lập tự chủ, đánh cũng đánh theo kiểu của ta, mà đàm cũng đàm theo kiểu của ta. Quan điểm của ta về đánh- đàm thể hiện đường lối độc lập tự chủ. Khác với quan điểm chỉ đánh mà không đàm, cho là đàm cản trở đánh, cho là ta chưa thắng địch đủ mức để đi vào nói chuyện với Mỹ, chỉ dùng đấu tranh quân sự-chính trị là đủ buộc Mỹ chấp nhận những mục tiêu của ta. Cũng khác với quan điểm chỉ đàm mà không đánh, coi nhẹ đấu tranh lâu dài, cho là đánh sẽ phá vỡ đàm, cho là Việt Nam không thể thắng Mỹ, phải sớm đi vào một giải pháp thỏa hiệp với Mỹ.
Độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, hai vế đi với nhau. Có độc lập tự chủ mới đoàn kết quốc tế được. Thoạt nghe tưởng chừng như hai vế đối lập nhau, tưởng như độc lập tự chủ là không cần đến ai, không đoàn kết được với ai. Nhưng trong thực tế tình hình thế giới lúc đó thì đúng là có độc lập tự chủ mới đoàn kết quốc tế được. Trên thế giới lúc đó có ít nhất là hai quan điểm trái ngược nhau. Nếu không độc lập tự chủ, không có quan điểm rành mạch đúng đắn của riêng ta mà lại ngả theo quan điểm này hoặc quan điểm kia thì sẽ bị coi là "nhất biên đảo" theo phe này hoặc phe kia, dễ gây mất lòng với một bên, không đoàn kết được. Phải thấy đường lối của ta là độc lập chứ không cô lập, đoàn kết chứ không lệ thuộc. Mấy điều đó tưởng chừng như đơn giản nhưng đem vận dụng trên thực tế lại vô cùng phức tạp, vô cùng khó khăn cực nhọc.
Tất nhiên, Mỹ không khi nào bỏ qua mà không khoét sâu mâu thuẫn Xô-Trung, trước mắt là để gỡ khỏi thế bí ở Việt Nam. Theo nhận định của Kissinger: Việt Nam có chỗ mạnh và có chỗ yếu. Bản thân Việt Nam rất nghèo, rất yếu. Việt Nam sống được, chiến đấu được, chống Mỹ được là do trông nhiều vào viện trợ bên ngoài, chủ yếu là của Liên Xô, Trung Quốc. Nay giữa hai nước đó quan hệ xấu đi, nếu Mỹ khai thác được mâu thuẫn Xô - Trung, chia rẽ được họ với Việt Nam dù kiên cường đến mấy cũng không thể đánh Mỹ được. Còn chỗ mạnh lớn của Việt Nam là về chính trị, được lòng người, được dư luận thế giới đồng tình ủng hộ.Do đó Việt Nam có sức mạnh rất lớn. Nhưng nếu trên thế giới có vấn đề gì đó lớn hơn, thu hút được sự chú ý của thế giới hơn vấn đề Việt Nam thì Việt Nam sẽ mất chỗ dựa tinh thần. Vì vậy nhiệm vụ của ngoại giao Mỹ thời kỳ chính quyền Nixon là bằng mọi cách cô lập cách mạng Việt Nam, dùng những thủ đoạn mạnh bạo, bất ngờ để làm yếu sự chi viện, sự ủng hộ của hai đồng minh chiến lược của ta, Liên Xô và Trung Quốc.Trước đây Johnson đã cố chia rẽ ta với Liên Xô bằng cách đề nghị Liên Xô giảm viện trợ cho Việt Nam. Nhưng Liên Xô ở trong tình thế khó có thể đáp ứng yêu cầu của Mỹ. Vì nếu Liên Xô không ủng hộ Việt Nam mà lại bắt tay với kẻ thù của nhân dân Việt Nam, người đang phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tất sẽ bị dư luận quốc tế tố cáo, nguy cơ mất vai trong lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới. Nay Nixon - Kissinger quyết định một nước cờ táo bạo mà chính quyền Jonhson trước đây không dám làm: bắt tay với Trung Quốc. Nixon dám chuyển hẳn thế cờ vì y đã có nhãn hiệu là lực lượng cánh hữu của Mỹ. Phe đối lập không dám phê Nixon là "tả" được. Để dễ bề cô lập Việt Nam, chính quyền Nixon đi vào hòa hoãn với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Dùng hòa hoãn với Trung Quốc để kích Liên Xô, làm cho Liên Xô đỡ vướng trong việc gợi ý ta sớm tìm giải pháp thỏa hiệp với Mỹ về vấn đề Việt Nam, đồng thời từ đó Liên Xô sẽ giảm bớt viện trợ giúp đỡ ta hòng buộc ta đi vào con đường thỏa hiệp vô nguyên tắc.
Để ép ta đi vào một giải pháp có lợi cho Mỹ, Mỹ đã gặp Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ hai nước này nhận giảm giúp đỡ Việt Nam xuống mức thấp nhất hòng ta đánh mạnh ở miền Nam.
Ngoại viện giảm, song ta vẫn mở cuộc tấn công năm 1972, giải phóng một thành phố và một thị trấn, đánh bại một bước chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, buộc Mỹ phải đi vào đàm phán thực chất bản dự thảo Hiệp định tại Paris.
Rút cục với quyết tâm giữ vững đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, trong tình hình quốc tế như vậy, ta đã vượt qua được mọi thử thách, kết thúc đánh-đàm thắng lợi, đưa cuộc Chống Mỹ cứu nước đến thành công.
Trần Quang Cơ
|
Những câu chuyện vui về Hội nghị Paris
| Những câu chuyện vui về Hội nghị Paris | ||
Đoàn 37
Ở miền Nam, trong kháng chiến chống Pháp có Tiểu đoàn 307 và người dân Việt Nam đa số đều thuộc bài hát tôn vinh Tiểu đoàn này. Trong Hội nghị Paris cũng có một đoàn 37, nhưng đoàn này không chiến đấu trên chiến trường mà trên mặt trận ngoại giao.
Đoàn 37 chính là tên gọi của Đoàn đại biểu Chính phủ VNDCCH - sau đây gọi tắt là Đoàn Việt Nam, xuất phát từ Hà Nội đầu tháng 5/1968 sang Paris dự Hội nghị Paris về Việt Nam. Gọi như vậy bởi Đoàn có tổng cộng 37 người, nên con số 37 được dùng để đặt tên riêng cho Đoàn. Trưởng đoàn là ông Xuân Thủy.
Ông Xuân Thủy từng làm Bộ trưởng Ngoại giao của nước VNDCCH trong những năm 1963-1965, nhưng khi nhận nhiệm vụ Trưởng phái đoàn đàm phán tại Paris thì ông không làm Bộ trưởng Bộ nào. Tuy nhiên, thời điểm đó, ông Xuân Thủy đang đảm nhiệm cương vị Bí thư Trung ương Đảng. Vì thế, khi Chính phủ cử ông đi với tư cách Bộ trưởng là một chức vụ để có danh nghĩa làm Trưởng đoàn đàm phán. Ông cũng không phải là "Bộ trưởng không Bộ" như nhiều người lầm tưởng.
Về phái đoàn của MTDTGPMNVN (viết tắt là Mặt trận) thì có ông Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn, còn bà Nguyễn Thị Bình làm Phó Trưởng đoàn. Từ tháng 6/1969, khi Chính phủ CMLTCHMNVN (sau đây viết tắt là Chính phủ CMLT) ra đời, bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao và trở thành Trưởng đoàn Chính phủ CMLT. Trước khi Đoàn lên đường, bà Nguyễn Thị Bình cũng được Bác Hồ mời lên dặn dò chu đáo.
Việc Bác Hồ và lãnh đạo Đảng ta cử các ông Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và bà Nguyễn Thị Bình lãnh đạo cuộc đàm phán, trên chiến trường ngoại giao, mở ra giai đoạn "vừa đánh vừa đàm" đi đến thắng lợi ký kết Hiệp định Paris là một sự lựa chọn chính xác tuyệt vời. Tuy Bác Hồ không kịp chứng kiến ngày ký kết Hiệp định nhưng lúc sinh thời Bác đã chỉ đạo và theo dõi Hội nghị từng ngày từng giờ. Trong hồi ký của mình, Cố vấn an ninh của Tổng thống Nixon đã viết rằng: Trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị, Đoàn Mỹ thì lủng củng và không ổn định, phải thay Trưởng đoàn đến 4 lần. Còn phía 2 Đoàn Việt Nam và Đoàn Chính phủ CMLT thì đoàn kết với nhau. Suốt thời gian đàm phán vẫn là những đại diện ông Xuân Thủy, bà Nguyễn Thị Bình và cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ.
Tại sao nơi họp lại là Paris?
Sau khi phía Việt Nam và Mỹ đồng ý ngồi vào bàn thương lượng thì vấn đề phải giải quyết đầu tiên là ngồi họp ở đâu. Tất nhiên không phải là Washington, Hà Nội hay Sài Gòn được. 8 địa điểm được Mỹ, Việt Nam và vài nước khác đưa ra, nhưng bên này đồng ý thì bên kia phản đối. Cuối cùng Việt Nam đề nghị Hội nghị họp ở Paris và phía Mỹ đã chấp nhận.
Vì sao Việt Nam đề nghị họp ở Paris? Trước hết, Paris là Thủ đô của một nước lớn không những ở châu Âu mà của cả thế giới, trung tâm truyền thông trên toàn cầu. Một sự kiện, một thông tin phát đi từ Paris thì ngay lập tức cả thế giới đều biết. Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược là một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Lập trường của Việt Nam là chống xâm lược để giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Lập trường của Việt Nam đã khơi dậy lương tri của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý và Việt Nam muốn lập trường đó được công khai truyền đi cho dư luận hiểu và đồng tình.
Hai là, ở Paris có phong trào của nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình và công lý ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là Đảng cộng sản Pháp và các tổ chức hữu nghị luôn luôn lên án sự xâm lược của Mỹ, đòi quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Ba là, ở Pháp có một phong trào yêu nước của người Việt Nam mạnh mẽ, là nơi mà lúc đó có đông đảo Việt kiều nhất. Phong trào này có truyền thống đã có bề dày một thế kỷ qua và do chính Bác Hồ xây dựng trong thời gian hoạt động ở Pháp.
Bốn là, Chính quyền Pháp lúc đó cũng không đồng tình với sự xâm lược của Mỹ, là kẻ đã hất cẳng Pháp để hòng chiếm đóng Việt Nam, phế truất Bảo Đại để đưa Ngô Đình Diệm thay thế. Thực tế đã chứng minh điều đó, Pháp vui mừng khi Việt Nam và Mỹ đề nghị họp ở Paris vì nếu Hội nghị thành công thì Pháp cũng có phần vinh dự. Chính vì vậy mà phía Pháp tiếp đón đoàn Việt Nam từ khi đặt chân đến Paris, bảo vệ an ninh cho tất cả các hoạt động của đoàn Việt Nam trong suốt thời gian 4 năm đàm phán. Thêm vào đó, phía Pháp cũng chuẩn bị phòng họp riêng với bàn ghế thiết kế riêng phục vụ Hội nghị. Việc ăn uống của từng đoàn trong các phiên họp chính thức cũng được chuẩn bị rất chu đáo. Khi Hội nghị kết thúc, chính phủ Pháp thông báo "miễn phí" cho tất cả những chi tiêu phục vụ Hội nghị và sau đó ít lâu, hai nước Pháp và Việt Nam đã nâng cấp quan hệ ngoại giao từ Tổng đại diện lên cấp Đại sứ.
Đó là 4 lý do chính vì sao ta đề nghị họp Hội nghị ở Paris.
Đoàn Việt Nam ở đâu?
Khi rời Hà Nội còn bom đạn để đi Paris, không ai biết cụ thể là Hội nghị kéo dài bao lâu, chỉ biết lên đường đến Paris cho kịp họp phiên đầu tiên vào ngày 13/5/1968. May là thời gian chuẩn bị lên đường rất gấp, mà lại đi vào mùa hè nên chỉ cần có nhất bộ complet, không cần chuẩn bị quần áo ấm.
Lúc đó ở Paris, Việt Nam có Tổng đại diện là cơ quan đại diện cao nhất cho Nhà nước, đứng đầu là ông Mai Văn Bộ - một người có tác phong chững chạc, phong độ và lịch thiệp. Đón một đoàn quan trọng nhất từ trước đến nay sang dự một Hội nghị có tính chất quyết định đối với vận mệnh của đất nước, ông Bộ muốn bố trí cho Đoàn ở một nơi đàng hoàng, sang trọng để cho người ta biết "Mình là ai?". Ông Bộ nghĩ mãi và quyết định thuê cho đoàn ăn ở tại khách sạn Lutétia, một khách sạn loại sang, 5 sao, ở số 45 trên Đại lộ Raspail - trung tâm của Thủ đô ánh sáng. Thậm chí, ông Mai Văn Bộ còn bắt khách sạn treo cờ đỏ sao vàng trước cửa để đón Đoàn Việt Nam. Khi Đoàn đặt chân xuống sân bay và về khách sạn, giới truyền thông các nước đã chờ sẵn để quay phim chụp ảnh lóa cả mắt. Kiều bào Việt Nam tại đây thì hãnh diện tập trung rất đông ở sân bay rồi hộ tống Đoàn về khách sạn, tay cầm cờ đỏ sao vàng và khẩu hiệu hoan nghênh.
37 thành viên trong Đoàn chưa kịp làm quen với nếp sinh hoạt của người châu Âu: Ngủ thì nằm giường đệm "đau cả lưng"; Ăn thì chẳng biết cầm dao, nĩa thế nào, cứ món nào chưa biết thì gọi; Quần áo thì chỉ có duy nhất bộ complet mà người ta không cho giặt rũ phơi phóng tự do như ở nhà, còn giặt quần áo ở khách sạn thì rất đắt. Trong phòng ông Xuân Thủy thì luôn có hoa, trái cây tươi và một tủ rượu đủ loại...
Sau vài ngày, Khách sạn đưa cho Trưởng đoàn lễ tân của Đoàn là bà Vũ Thị Đạt cái "phắc - tuya" (hóa đơn). Nhìn thấy số tiền ghi trong hóa đơn, bà Đạt suýt ngất, bèn báo cáo với Trưởng đoàn. Ông Xuân Thủy bàn với Phó đoàn là ông Hà Văn Lâu và ông Mai Văn Bộ. Sau đó, Đoàn quyết định phải chuyển chỗ ở, không cần 5 sao, thậm chí không có sao nào - miễn là có chỗ ăn ngủ, tiện làm việc và có chỗ dựng cột điện đài để liên lạc với trong nước là được… Trưởng đoàn Xuân Thủy giao cho ông Mai Văn Bộ đi nhờ Đảng Cộng sản Pháp giúp đỡ.
Lúc đó, Đảng Cộng sản Pháp có hai người là đồng chí Gaston Plissonnier (Bí thư Trung ương Đảng) và Elie Mignot được phân công liên hệ với đoàn Việt Nam. Sau khi bàn bạc, đồng chí Gaston Plissonnier bố trí cho Đoàn tới ăn ở tại Trường đào tạo cán bộ Đảng của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp (còn gọi là Trường Đảng Maurice Thorez). Ngôi trường này nằm ở Choisy Le Roi - thành phố ngoại ô Paris do Đảng cộng sản Pháp nắm chính quyền và đồng chí Fermand Dupuis làm Thị trưởng. Lúc đó, các học viên của Trường đang nghỉ hè nên có thể cho Đoàn Việt Nam ở tạm một thời gian. Có được địa điểm, mừng quá, Đoàn Việt Nam chuyển đến ngay, còn hạ hồi phân giải tính sau.
Trường Đảng Maurice Thorez thật lý tưởng vì có đầy đủ phương tiện cho đoàn ăn ở và làm việc. Trong trường có một căn nhà trước đây đồng chí Maurice Thorez, nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Pháp ở. Ông Xuân Thủy và ông Lê Đức Thọ được sử dụng căn nhà này vì có đủ phòng khách, phòng ở, nơi làm việc và đặc biệt là có phòng kín dành cho các cuộc họp quan trọng. Các thành viên còn lại của Đoàn ở trong một khu nhà ngay bên cạnh, có phòng đơn, phòng đôi để nghỉ, phòng ăn lớn liền với nhà bếp và có phòng tiếp khách ở tầng trệt. Trong trường còn có một sân rộng có thể tập thể dục, chơi boule (bi sắt), chơi cờ, đánh bóng chuyền. Còn ai muốn chơi bóng bàn thì có thể xuống chơi ở tầng hầm khu nhà.
Thấm thoắt, thời gian nghỉ hè của Trường Đảng Maurice Thorez đã trôi qua mà Hội nghị thì chưa đi đến đâu cả và cũng không ai nói trước được là còn kéo dài đến bao giờ. Đoàn Việt Nam thì hết sức bối rối, còn phía Đảng Cộng sản Pháp thì cũng chưa biết giải quyết thế nào. Trước mắt, phía bạn hoãn ngày tựu trường và cuối cùng thì chuyển trường Đảng tới một địa điểm khác ở xa Paris để tiếp tục chương trình giảng dạy. Còn Đoàn Việt Nam thì đành "xem của bạn cũng là của ta" và ở Choisy Le Roi mãi 1 năm, 2 năm, 3 năm, rồi 4 năm,… Đến khi Hội nghị kết thúc, phía bạn không lấy của Đoàn bất kỳ chi phí nào, gồm cả tiền thuê nhà và số cán bộ bạn cử đến giúp đỡ và phục vụ cho Đoàn Việt Nam và Đoàn Mặt trận trong công việc bảo vệ, lái xe, cấp dưỡng, giặt là quần áo… tự nguyện và không lương trong suốt hơn 4 năm trời.
Nghễnh ngãng
Hội nghị Paris về Việt Nam gồm hai cuộc hội nghị kế tiếp nhau. Hội nghị hai bên giữa VNDCCH và Mỹ, từ 13/5/1968 đến 1/11/1968. Hội nghị 4 bên giữa VNDCCH, Mỹ, Đoàn Mặt trận và VNCH (tức chính quyền Sài Gòn) từ 25/1/1969 đến 27/1/1973.
Về hội nghị hai bên, Trưởng đoàn Việt Nam là ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn Mỹ là nhà Ngoại giao kỳ cựu Averell Harriman. Trong suốt hơn 5 tháng Hội nghị 2 bên với nội dung chấm dứt ném bom miền Bắc. Lập trường của phía Việt Nam là yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc rồi mới bàn sang các vấn đề khác. Lập trường của Mỹ là đồng thời bàn về cả hai vấn đề quân sự, chính trị và đòi "có đi có lại". Phía Việt Nam kiên quyết không thảo luận bất cứ vấn đề nào khác nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom trên lãnh thổ VNDCCH.
Nhiều người khen ông Xuân Thủy tài thật. Suốt 5 tháng trời chỉ nhắc đi nhắc một yêu cầu là Mỹ chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện mà Thứ năm tuần nào họp ở Kléber ông cũng đọc một bài dài 4-5 trang chỉ nói một vấn đề nhưng Mỹ vẫn không chịu. Nhà báo thì nói đây là "cuộc nói chuyện giữa những người điếc", còn người phát ngôn của Đoàn Việt Nam là ông Nguyễn Thành Lê thì nói "con kiến mà leo cành đào, leo phải cành cụt, leo vào leo ra"...
Đến ngày 30/10/1968, Tổng thống Mỹ Johnson phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam hoàn toàn và vô điều kiện. Hai bên bắt đầu thảo luận về Hội nghị tiếp theo để giải quyết các vấn đề khác ở miền Nam Việt Nam.
Trong một buổi ngồi nói chuyện khi kết thúc hội nghị 2 bên giữa ông Xuân Thủy và Averell Harriman - Trưởng đoàn đàm phán phía Mỹ, Harriman tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: "Tôi già rồi, trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe". Ông Xuân Thủy trả lời: "Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là "Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc" thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra".
Bàn vuông, bàn tròn
Từ tháng 1/1969, cuộc đàm phán bước sang giai đoạn mới - đó là giải quyết vấn đề quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam. Hai bên đều cho rằng, để giải quyết vấn đề này phải có mặt các bên miền Nam Việt Nam. Vì thế, phía Việt Nam đề nghị có đại diện của Mặt trận, còn phía Mỹ đề nghị có Đại diện của Việt Nam Cộng hòa.
Hội nghị 2 bên đã trở thành hội nghị 4 bên nhưng phía VNDCCH thì không công nhận VNCH, còn phía Mỹ thì không công nhận Mặt trận. Từ đó nảy ra vấn đề hình thù cái bàn. Đây không phải câu chuyện hình học mà là vấn đề chính trị. Nhiều người không hiểu được điều đó nên đã gửi cho Đoàn Việt Nam hàng chục bức phác họa hình thù cái bàn đủ hình dạng như hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình oval, hình tròn… Chính phủ Pháp thì yêu cầu quyết định sớm để còn đóng bàn, nếu có quyết định rồi thì chỉ đóng trong một ngày là xong.
Ấy thế nhưng, cuộc tranh cãi về hình thù cái bàn kéo dài đến 2 tháng, từ 1/11/1968 đến 25/1/1969 mới họp được phiên đầu tiên của Hội nghị 4 bên là VNDCCH, Mỹ, Mặt trận và VNCH. Cuối cùng chiếc bàn họp Hội nghị 4 bên có dạng hình tròn và ở hai đầu đường kính có hai bàn hình chữ nhật. Như vậy, ai muốn hiểu là Hội nghị 2 bên hay 4 bên cũng được. Xung quanh bàn, Đoàn Việt Nam và Đoàn Mặt trận ngồi cách biệt nhau như hai Đoàn độc lập, còn Đoàn Mỹ và Đoàn VNCH thì ngồi sát với nhau.
Từ "bóng ma" thành Nữ hoàng
Trước đây Mỹ tuyên truyền rằng Mặt trận không có thật mà chỉ là bóng ma và chỉ có quân miền Bắc vào "xâm lược" miền Nam Việt Nam. Thế mà nay, Đoàn Mặt trận đã ngang nhiên đến Paris trong sự đón tiếp nồng nhiệt của bạn bè Pháp và Việt kiều mang theo khẩu hiệu và cờ của Mặt trận.
Lúc đầu, Đoàn Mặt trận do ông Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, bà Nguyễn Thị Bình là phó đoàn. Sau ngày 6/6/1969, Chính phủ CMLT được thành lập thì bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao và làm Trưởng đoàn. Trên cương vị này, bà Nguyễn Thị Bình đầy duyên dáng, chững chạc và đàng hoàng đến Paris trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của kiều bào. Hóa ra Việt cộng không phải là bóng ma mà là người thật, đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam anh dũng chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược. Truyền thông phương Tây gọi bà là "Nữ hoàng Việt cộng" (Queen of the Viet Cong).
Hai đoàn VNDCCH và Chính phủ CMLT là hai đoàn độc lập nhưng đều dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nên có người nói "hai là một, tuy một là hai".
Theo quy định thì Hiệp định do 4 Bộ trưởng ngoại giao ký. Trong số đó, đến nay, chỉ còn bà Nguyễn Thị Bình còn sống và tiếp tục hoạt động. Nhớ lại lúc ký Hiệp định, bà Bình tâm sự: Khi cầm bút ký, bà cảm thấy vừa vinh dự, vừa tưởng nhớ đến những chiến sĩ, đồng bào, bạn bè đã hy sinh trong chiến đấu, mà xúc động đến rơi nước mắt.
Cách đây ít lâu, một người bạn nước ngoài hỏi riêng bà Nguyễn Thị Bình rằng khi bà làm Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ MTLT ở Hội nghị Paris, bà có phải là Đảng viên Cộng sản không? Bà Bình mỉm cười trả lời: "Tôi đã được tặng huy hiệu 60 năm tuổi Đảng". Vừa qua, bà Nguyễn Thị Bình xuất bản cuốn hồi ký mang tên Gia đình, bạn bè và đất nước. Cuốn hồi ký này sẽ sớm có bản dịch tiếng Anh và một số ngôn ngữ quốc tế khác.
Ở tuổi 86, bà vẫn làm việc tích cực với cương vị Chủ tịch Quỹ Hòa Bình và Phát Triển VN, Chủ tịch danh dự Hội nạn nhân chất độc da cam. Chủ tịch danh dự Hội bảo trợ trẻ em, chủ nhiệm một đề tài khoa học về giáo dục cấp Nhà nước vì bà đã có 10 năm làm Bộ trưởng Giáo dục nước ta sau ngày thống nhất, cho đến nay vẫn là Nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên và duy nhất của nước ta.
Kết thúc là Khởi đầu
Nếu Hiệp định Paris là kết thúc cho giai đoạn vừa đánh vừa đàm thì dó cũng là mở đầu cho một giai đoạn đấu tranh mới để đạt mục đích cuối cùng là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Như trong thư chúc Tết của Bác Hồ "Vì độc lập vì tự do. Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ, đồng bào. Bắc Nam xum họp Xuân nào vui hơn". Hiệp định Paris quyết định hai vấn đề rất cơ bản, đó là sự thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, là độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Hai là Mỹ phải rút hết quân đội, nhân viên và thiết bị quân sự ra khỏi miền Nam Việt Nam, còn quân đội VNDCCH vào giúp đồng bào miền Nam Việt Nam chống xâm lược thì không phải rút đi đâu cả.
Hiệp định đã được Hội nghị quốc tế gồm Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước Ký định ước vào ngày 2/3/1973 thừa nhận. 12 nước bao gồm 4 Bộ trưởng ký Hiệp định Paris, 5 nước Hội đồng bảo an LHQ, 4 nước trong Ủy ban quốc tế Kiểm soát và giám sát (có 1 nước trùng là Mỹ), với sự hiện diện của Tổng thư ký LHQ. Điều này đã tạo ra một cục diện mới làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng để quân và dân Việt Nam có điều kiện giải phóng miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước, thực hiện lời tiên đoán và mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đây là kết quả của cuộc đấu tranh kết hợp chặt chẽ của 3 mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Có thể nói nếu không có Tổng tấn công Tết Mậu Thân thì không có Hiệp định Paris. Nếu không có Hiệp định Paris thì không có Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trịnh Ngọc Thái
|
Bàn đàm phán và câu chuyện thắng - thua
| Bàn đàm phán và câu chuyện thắng - thua | ||
Thắng hay thua?
Khi được hỏi về nguyên nhân dẫn đến cuộc đàm phán Pa-ri giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khởi đầu từ tháng 5/1968, và sau đó là Hội nghị bốn bên về Việt Nan từ tháng 1/1969 trở đi, tôi có trả lời rằng, nguyên nhân quan trọng nhất là thắng lợi của chúng tôi và là thất bại của Mỹ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) của quân và dân miền Nam Việt Nam. Bà giáo sư hỏi lại:
- Theo các nhà quân sự My, hồi đó, Mỹ không thua trên chiến trường mà chỉ thua trên các đường phố hay trong phòng họp của Quốc hội Mỹ.
Tôi trả lời:
- Người ta nói điều này không chỉ sau cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân của chúng tôi, mà cả khi Mỹ đã thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh. Hơn nữa, không chỉ giới quân sự nói mà nhiều chính trị gia hàng đầu của Mỹ, như Tổng thống Ních-xơn cũng nói.
- Nhưng sau Tết Mậu Thân, phải chăng đã có cuộc phản công khiến các ông bị đẩy khỏi các vung nông thôn và rút đến tận biên giới? Bà giáo sư hỏi lại.
Tôi không trực tiếp trả lời câu hỏi ấy, nhưng đã kể lại một chuyện vui trong cuộc họp báo của Người phát ngôn Đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại Hội nghị Pa-ri thời đó. Tại cuộc họp báo này, có một nhà báo Mỹ đưa ra một tấm bản đồ khá lớn và hỏi: "Mặt trận các ông thường khoe là kiểm soát được hai phần ba lãnh thổ Việt Nam, vậy ông vui lòng chỉ cho tôi xem trên tấm bản đồ này các vùng giải phóng đó ở đâu?". Người phát ngôn Mặt trận đáp: "Điều ông hỏi cũng là điều Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn muốn biết. Xin ông hãy đọc thông báo quân sự Mỹ ngày hôm nay, xem máy bay của họ đã ném bom những nới nào ở miền Nam Việt Nam, những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi đấy!" (hôm ấy máy bay Mỹ ném bom dữ dội ở vùng Củ Chi và ngoại vi Sài Gòn). Có tiếng vỗ tay trong phòng họp.
Câu chuyện về "thắng - thua" giữa bà giáo sư và tôi một lần nữa trở lại khi chúng tôi đề cập đến nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc ký kết Hiệp định Pa-ri ngày 27/1/1973. Tôi có nói tới thất bại của Mỹ trong trận tập kích chiến lược bằng B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác ở miền Bắc vào cuối tháng 12/1972. Bà giáo sư nói: "Chính quyền Mỹ lại cho rằng nếu không có thắng lợi của cuộc tập kích đó thì Việt Nam không nhanh chóng chịu ký kết Hiệp định". Tôi hỏi bà giáo sư có từng nghe một danh từ nào đó là "Điện Biên Phủ" không? Bà đáp: "Có. Có. Điện Biên Phủ là trận thắng lừng lẫy của Việt Nam để đi đến kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương trước đây". Tôi nói: "Đúng là như vậy. Chúng tôi coi thắng lợi của chúng tôi đập tan cuộc tiến công bằng B52 của Mỹ chính là một Điện Biên Phủ trên không. Ngày nay, không chỉ Pháp mà nhiều nước trên thế giới hiểu ra rằng ba từ "Điện Biên Phủ" đồng nghĩa với một trận nốc-ao". Tôi nói thêm: "Nếu không bị trận đòn nốc-ao ấy thì dễ gì Mỹ nhận ký kết một bản Hiệp định mà nội dung của nó cơ bản không có gì khác bản dự thảo đã được thỏa thuận giữa hai bên từ tháng 10/1972 và sau đó, có sửa đổi chút ít trước khi xảy ra cuộc tiến công". Tôi cũng nhắc lại một câu nói trong hồi ký sau này của Kit-xinh-giơ: "Điều đó có bõ công không? Những thay đổi đạt được liệu có đủ quan trọng để biện minh cho nỗi lo âu và cay đắng (của Mỹ) trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh?".
Bà giáo sư cười thoải mái. Bà cho biết đã tham gia phong trào hòa bình ở Mỹ ngay từ những năm tháng chiến tranh Việt Nam. Và tôi ngầm hiểu bà đã từng nghe những lời phê phán cực kỳ gay gắt của báo chí Mỹ đối với cuộc tập kích bằng B52. Rằng "hàng triệu người Mỹ cúi đầu vì xấu hổ và nghi ngờ sức khỏe tâm thần của tổng thống họ". Rằng "đây là một hành động khủng bố vô đạo làm hoen ố uy danh nước Mỹ". Rằng các cuộc ném bom này là "kiểu chiến tranh nổi khùng", tổng thống là "một bạo chúa lên cơn điên", "ném bom khủng bố nhân danh hòa bình"…
Bồ câu hay diều hâu?
Trong câu chuyện, bà giáo sư có hỏi nhận xét của tôi về các vị đại sứ trưởng đoàn đàm phán của Mỹ tại Hội nghị Paris.
Về đại sứ Ca-bốt Lốt, trưởng đoàn đầu tiên của Mỹ tại Hội nghị bốn bên, bà giáo sư hỏi: "Ông có nghĩ rằng ông Ca-bốt Lốt là thuộc phái bồ câu, trong khi ông Ních-xơn là thuộc phái diều hâu không?" Khái niệm "phái bồ câu" thường dùng để chỉ những người ôn hòa muốn thương lượng để giải quyết hòa bình cuộc chiến tranh. Còn "phái diều hâu" là dùng đề chỉ những người hiếu chiến chủ trương giành chiến thắng bằng quân sự. Câu hỏi này đối với tôi thật đột ngột. Ông Ca-bốt Lốt có thời đã làm đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Khi đến Pa-ri, ông được ca ngợi như là người thân cận của tổng thống Ai-xen-hao-ơ, nhà ngoại giao nhiều sáng kiến. Tôi trả lời ngắn gọn: "Thưa bà, vào thời điểm Hội nghị Pa-ri, tôi không có cảm nhận như bà nói. Ông Ca-bốt Lốt đến Hội nghị chỉ để phát biểu ý kiến rất ngắn. Trong thời gian họp, ông thường lim dim mắt như người ngái ngủ, và ít biểu hiện thái đọ lắng nghe người đối thoại với mình. Chỉ có một lần, vào ngày 8/5/1969, khi trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Trần Bửu Kiếm trình bày giải pháp toàn bộ 10 điểm, đến điểm thứ hai thì tôi thấy ông đại sứ bỗng ngồi thẳng người, mở mắt ra và cầm bút ghi chép. Sau đó, đến lượt mình phát biểu, ông hứa sẽ nghiên cứu ý kiện của đối phương. Tuy nhiên, sau đó ít lâu, khi ông Ních-xơn tuyên bố chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, ông Ca-bốt Lốt cũng bị rút về và thay bằng ông Đa-vít Bru-xơ".
- Thế ông Đa-vít Bru-xơ như thế nào?
- Ông cũng được ca ngợi là nhà ngoại giao kỳ cựu, có nhiều sáng kiến, có thể góp phần đưa Hội nghị Paris ra khỏi bế tắc. Rất tiếc, đó chỉ là những lời quảng cáo. Sau mấy phiên họp, ông không đưa ra được điều gì mới mẻ. Dư luận tỏ ra thất vọng. Một số nhà báo đặt dấu hỏi với Bộ trưởng Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông Xuân Thủy trả lời: "Tôi thấy ông Đa-vít Bru-xơ chỉ lặp lại những gì mà Nhà Trắng nói. Ông Ních-xơn nói một chữ thì ông Đa-vít Bru-xơ nói một chữ. Còn ông Ních-xơ nói nửa chữ thì ông Đa-vít Bru-xơ nói nửa chữ".
Sau cuộc tiếp chuyện bà giáo sư, tôi thầm nghĩ: Trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, thật không dễ gì phân biệt rạch ròi ai là bồ câu, ai là diều hâu. Có những người một mực theo đuổi cuộc chiến tranh từ đầu đến cuối. Có những người trước sau vẫn không thay đổi lập trường chống lại cuộc chiến tranh. Lại có những người trước vốn là "diều hâu" sau chuyển thành "bồ câu".
Ông Bộ trưởng Quốc phòng Mc Na-ma-ra, tác giả của "hàng rào điện tử", một trong những nhân vật chủ chốt dựng nên màn kịch "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", để mở ra chiến tranh phá hoại chống miền Bắc, được coi là con diều hâu cỡ bự. Vậy mà, vào lúc cuộc chiến tranh đã leo đến mức thang cao nhất vào cuối năm 1967 đầu năm 1968, sau thất bại của Mỹ trong Tết Mậu Thân, ông đã "bồ câu hóa", kiên quyết xin từ chức, rũ áo ra đi bởi cho rằng cuộc chiến tranh là không có lối thoát, dù có tăng cường ném bom ồ ạt miền Bắc.
Ông Ngoại trưởng Kit-xinh-giơ, một người chống cộng điên cuồng, người giữ vai trò chủ chốt của phĩa Mỹ trong đàm phán Pa-ri cũng là một trong những nhân vật ở Nhà Trắng chịu trách nhiệm về cuộc tiến công bằng B52 chống Việt Nam, lại cũng là người đại diện phĩa Mỹ ký tắt Hiệp định Pa-ri vào ngày 23/1/1973. Con diều hâu ấy, cho đến tháng 5/1975, trong cuộc họp báo ngay sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, đã thú nhận: "Chúng ta đã sai lầm khi biến Việt Nam thành một nơi thí nghiệm chính sách của chúng ta chứ không phải đối với chính sách của người VN. Tôi nghĩ rằng, có lẽ việc đưa các lực lượng quân sự Mỹ vào VN là biện pháp giải quyết tồi nhất, vì điều đó có nghĩa là đưa một yếu tố ngoại lai vào".
Tổng thống Ních-xơn lại là con diều hâu từ đầu đến chân. Chưa đầy nửa năm sau khi làm Tổng thống Mỹ, ông đã đề xướng chính sách Việt Nam hóa chiến tranh và theo đuổi nó đến cùng. Mặc dù đã ký Hiệp định Paris, ông ta vẫn đổ tiền của và vũ khí vào Nam Việt Nam để giúp chế độ Sài Gòn tiếp tục cuộc chiến. Cho đến khi xảy ra vụ Oa-tơ-ghết, bị phế truất khỏi Nhà Trắng, ông vẫn đầy lòng hậm hực. Ông là tác giả của nhiều quyển sách như: Cuộc chiến tranh thật sự; Kế hoạch chấm dứt chiến tranh; Không được có những Việt Nam nữa. Toàn là những lời biện hộ cho chính sách chiến tranh của Hoa Kỳ. Chính ông ta chứ không ai khác là người đặt ra câu hỏi: Mỹ có thua ở Việt Nam không, mà nếu thua thì thua trên chiến trường, trong phòng họp Quốc hội, trên đường phố hay trong lòng nhân dân Mỹ? Ông tức tối khi càng về cuối cuộc chiến tranh, Quốc hội càng bó tay Tổng thống, không cho dùng hết sức mạnh, trong khi đó dân chúng xuống đường phản đối chính quyền… Khẩu hiệu "Không được có những Việt Nam nữa" mà phong trào nhân dân Mỹ nêu lên đã bị ông lợi dụng để đặt tên cho một quyển sách của mình, trong đó ông cắt nghĩa: Có thể can thiệp vũ trang vào nơi nào đó mà Mỹ cho là cần thiết, miễn là Mỹ không được thua một lần nữa như đã thua ở Việt Nam!
Hà Đăng
|
Hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam 1968-1973
| Hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam 1968-1973 | ||
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 (đợt I) đã giành được thắng lợi quan trọng. Một bộ phận lớn quân Mỹ và quân đội VNCH bị loại khỏi vòng chiến đấu. Nhưng thắng lợi lớn nhất là về chính trị, tinh thần. Cuộc tổng tấn công đồng loạt của quân ta Xuân Mậu Thân đạt được nhiều cái nhất: Một là, cuộc tiến công có quy mô lớn nhất từ trước đến lúc đó vào 4 thành phố lớn nhất và 37 thị xã ở miền Nam; hai là đánh vào chính nơi mạnh nhất của kẻ thù là các trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế; ba là, cuộc tiến công vào thời điểm bất ngờ nhất, đồng loạt vào đêm giao thừa; bốn là cuộc tiến công được chuẩn bị bí mật nhất, đem lại hiệu quả cao nhất mặc dù không tiêu diệt được nhiều sinh lực kẻ thù. Chính vì thế, cuộc Tổng tiến công đã làm lung lay dữ dội ý chí tiếp tục chiến tranh của Mỹ, làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc Chính phủ Mỹ phải thừa nhận một sự thật là với gần nửa triệu quân Mỹ có mặt ở miền Nam tính đến thời điểm đó, đã tiến hành liên tiếp hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 với ý đồ tìm và diệt chủ lực Quân Giải phóng, giành lại quyền chủ động chiến trường, nhưng Mỹ đã không đạt được mục tiêu đề ra, không thể thắng được về mặt quân sự. Trái lại, lại bị giáng một đòn quân sự chí tử. Thêm nữa, Chính quyền Mỹ còn cay đắng nhận ra một sự thật khác là phần đông người dân miền Nam đã giúp đỡ cộng sản, bảo vệ, giữ bí mật cho cả một quá trình chuẩn bị hàng tháng trời cho cuộc Tổng tiến công. Chính vì thế, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải lên đài truyền hình tuyên bố 3 điểm quan trọng: Hạn chế ném bom bắn phá miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra Bắc; chấp nhận đàm phán tìm giải pháp cho cuộc chiến tranh; không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ hai.
Chính do sai lầm đó mà chỗ đứng chân của bộ đội chủ lực trên nhiều vùng rộng lớn ở miền Nam bị thu hẹp, nhiều đơn vị sau khi rút ra khỏi các thành thị, đã không còn chỗ đứng chân ở nông thôn đồng bằng, phải rút lên vùng rừng núi, rút sang bên kia biên giới Việt Nam-Campuchia, rút ra miền Bắc. Có thể nói, tình hình khó khăn về thế và lực của cách mạng, đặc biệt là về quân sự, kéo dài sang cả năm 1969, đầu năm 1970.
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11/1968 đã đưa đến thắng lợi cho Nixon thuộc Đảng Cộng hòa. Nixon đã triển khai Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh - một chiến lược toàn diện về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế để rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ về nước, mà chính quyền, quân đội Sài Gòn vẫn đứng vững và mạnh lên. Công thức của Việt Nam hóa chiến tranh là: Quân đội Sài Gòn cộng với vũ khí trang bị, hậu cần, tiền của của Mỹ, do Mỹ chỉ huy để tiếp tục chiến tranh bằng chủ trương chiến lược quét và giữ, phòng ngự có chiều sâu, đẩy mạnh chương trình bình định.
Về phía ta, từ nửa cuối năm 1968 trở đi, cách mạng miền Nam gặp những khó khăn gay gắt cả về lực lượng, vũ khí trang bị, đảm bảo hậu cần, đứng trước những thử thách rất nghiêm trọng. Đây là thời điểm có thể nói là khó khăn nhất của cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, Đảng ta đã phân tích tình hình thực tế diễn biến ở cả hai miền Nam, Bắc, chỉ ra những mâu thuẫn cơ bản khó có thể khắc phục được của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.
Đó là việc Mỹ rút quân, xuống thang chiến tranh không thể làm cho quân đội Sài Gòn mạnh lên vì đây là chỗ dựa cơ bản, sống còn của quân đội, chính quyền Sài Gòn.
Đó là Mỹ muốn rút càng sớm càng tốt để giảm bớt thương vong và chi phí chiến tranh, nhưng muốn tăng cường khả năng và lực lượng cho quân đội Sài Gòn thì phải kéo dài chiến tranh; chưa kể sẽ gây ra mâu thuẫn giữa Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
Đó là nếu Mỹ chỉ rút quân nhỏ giọt để hỗ trợ cho Việt Nam Cộng hòa thì sẽ lại làm tăng mâu thuẫn trong lòng nước Mỹ, trong nội bộ giới cầm quyền và làm cho phong trào phản chiến càng lên cao…
Vì thế, Đảng ta nhận định: tuy cách mạng miền Nam gặp khó khăn, nhưng Mỹ cũng đang đứng trước sự bế tắc về chiến lược tìm lối thoát khỏi cuộc chiến tranh vì đã có những nỗ lực quân sự cao nhất nhưng cũng hứng chịu thất bại rất nặng nề.
Chủ trương của Đảng ta trong năm 1969 là đẩy mạnh tiến công cả quân Mỹ và quân đội Sài Gòn để buộc Mỹ phải rút quân và quân đội Sài Gòn không thể đảm đương nhiệm vụ thay thế quân Mỹ trên chiến trường; phá kế hoạch bình định của kẻ thù. Các đơn vị chủ lực Quân giải phóng được lệnh củng cố quân số, vũ khí, trang bị, điều chỉnh tổ chức biên chế cho phù hợp với nhiệm vụ mới. Các lực lượng của miền Bắc tiếp tục được đưa vào miền Nam.
Trong năm 1969, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã mở nhiều chiến dịch và nhiều cuộc hành quân trên các chiến trường nhằm mục tiêu quét và giữ, củng cố vùng kiểm soát, bắt đầu quá trình rút quân Mỹ về nước.
Hoạt động quân sự nổi bật của quân và dân miền Nam diễn ra ngay đầu năm 1969. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, đêm 22 rạng sáng 23/2/1969, quân và dân ta đồng loạt mở cuộc tiến công mùa Xuân, đánh vào hơn 400 mục tiêu quân sự của địch tại 36 thành phố, thị xã, 100 quận lỵ, thị trấn, 35 sở chỉ huy từ cấp trung đoàn trở lên, 38 sân bay, 17 căn cứ hậu cần… (2) Tuy đây là một nỗ lực quân sự lớn của ta, là một đòn đánh bồi vào ý chí xâm lược, vào chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, nhưng trong bối cảnh thế và lực của cách mạng miền Nam lúc đó, kết quả của đợt tiến công rất hạn chế, một số địa phương ở Nam Trung Bộ và Khu 9 không thực hiện được mục tiêu đề ra.
Sau đợt tiến công mùa Xuân, quân và dân ta vẫn cố gắng duy trì các hoạt động tiến công quân sự trong mùa Hè, mùa Thu tại các chiến trường ở miền Đông Nam Bộ, Khu 5, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Trị Thiên bằng các chiến dịch nhỏ nhưng hiệu quả đạt được không cao.
Tháng 1/1970, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 18, chỉ ra những cố gắng của quân và dân ta trong năm 1969, đồng thời vạch rõ: mặc dù ta đã nhận định được âm mưu và thủ đoạn mới của địch, nhưng chưa tìm ra được biện pháp đối phó một cách phù hợp… chưa giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ tiêu diệt địch với nhiệm vụ giành dân, giữa duy trì và đẩy mạnh chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị với xây dựng lực lượng vũ trang và chính trị ở cơ sở. Từ nhận định tình hình, âm mưu, hành động của Mỹ và tay sai trong năm 1970, Hội nghị Trung ương lần thứ 18 đề ra nhiệm vụ cho Cách mạng miền Nam năm 1970 và những năm tiếp theo là: động viên sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân trên cả hai miền, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công vừa xây dựng lực lượng, đánh bại âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Trong tiến công quân sự, cần đẩy mạnh tác chiến chính quy của bộ đội chủ lực, đồng thời phát triển chiến tranh du kích ở địa phương, lấy hướng hoạt động chính là nông thôn đồng bằng.
Trong năm 1970, cùng với việc triển khai hoạt động quân sự trên các chiến trường ở miền Nam, bộ đội chủ lực đã phối hợp chặt chẽ với quân dân Lào, Campuchia, từng bước đánh bại âm mưu mở rộng chiến tranh của Mỹ ra cả bán đảo Đông Dương. Phối hợp với bạn Lào mở chiến dịch phản công 139, khôi phục vùng giải phóng Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng (4/1970), đập tan cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ và đồng minh ở Lào, giáng đòn nặng vào âm mưu mở rộng chiến tranh đặc biệt ở Lào.
Đầu tháng 5/1970, chủ lực Quân giải phóng đã phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng Cămpuchia đánh bại cuộc hành quân của 10 vạn quân Mỹ và quân đội Sài Gòn sang đất Cămpuchia nhằm phá hủy khu vực "đất thánh" của Trung ương Cục miền Nam tại khu vực Mỏ Vẹt, Móc Câu, khiến cho cơ quan lãnh đạo cao nhất và các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam mất đất đứng chân và bị tiêu diệt. Cuộc tiến công quy mô này kéo dài tới hai tháng (từ 30/4 đến 30/6/1970), với tổng cộng 23 cuộc hành quân đánh ồ ạt sâu vào đất Cămpuchia và diễn ra trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia, là cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ, chính quyền và quân đội Sài Gòn, đã bị thất bại, không đạt được các mục tiêu đề ra. Các cơ quan Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền vẫn an toàn; hệ thống căn cứ, kho tàng, bệnh viện, các tuyến tiếp tế hậu cần của cách mạng miền Nam cơ bản được giữ vững. Quân Mỹ và quân đội Sài Gòn phải rút về miền Nam với 7.450 lính Sài Gòn và 2.765 lính Mỹ thiệt mạng.
Ngày 19/6/1970, Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng họp ra Nghị quyết về "Tình hình mới ở bán đảo Đông Dương và nhiệm vụ của chúng ta", xác định phải "kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến, kết hợp chặt chẽ hơn nữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận, tiếp tục xây dựng thế thế tiến công chiến lược mới ngày càng mạnh mẽ, tiêu diệt thật nhiều lực lượng quân sự của Mỹ - ngụy, tập trung lực lượng đập tan kế hoạch bình định và âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh, làm thất bại chiến lược phòng ngự và kéo dài chiến tranh của chúng.(3)
Tiếp đà giành thắng lợi quân sự trên chiến trường miền Nam, Lào và Campuchia trong Đông Xuân 1970-1971, quân và dân miền Nam phối hợp với quân dân Lào, Campuchia tiếp tục đánh bại ba cuộc hành quân Lam Sơn 719 ra Đường 9 - Nam Lào, Toàn thắng 1-71 ở Đông Bắc Cămpuchia và Quang Trung 4 ở vùng Ngã ba Biên giới thuộc Bắc Tây Nguyên.
Đặc biệt là bộ đội ta đã mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào trong tháng 2 và tháng 3 /1971, tại khu vực Bản Đông, Sê pôn, Nam Lào, đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Lam Sơn 719 của 45.000 quân đội Sài Gòn, có một bộ phận quân Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu trên 20.000 tên, đánh bại cố gắng cao nhất của quân đội Việt Nam Cộng hòa trong vai trò là lực lượng chủ yếu của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Chiến thắng to lớn này đã chấm dứt quá trình tiến công phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ - Ngụy, mở ra triển vọng sáng sủa, tốt đẹp cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng.
Sang đầu năm 1973, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương họp và đề ra chủ trương kiên quyết đánh địch bằng 3 đòn chiến lược: Đẩy mạnh tiến công của bộ đội chủ lực ở những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng; Đẩy mạnh đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị, binh vận; Đẩy mạnh đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở thành thị. Ngày 23/3/1972, Bộ Chính trị thông qua phương án của Quân ủy Trung ương, quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, lấy Trị Thiên làm hướng tiến công chủ yếu. Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hướng phối hợp.
Ngày 30/3/1972, quân ta nổ súng ở Trị Thiên, mở màn cho cuộc tiến công chiến lược 1972. Ngày 2/5/1972, ta giải phóng tỉnh Quảng Trị. Đây là thắng lợi quân sự rất quan trọng, có ý nghĩa trong năm bản lề 1972 có nhiều sự kiện quân sự, ngoại giao lớn đan xen. Đó là hai chuyến thăm Trung Quốc (2/1972), Liên Xô (5/1972) của Tổng thống Mỹ Nixon gây chia rẽ và bất lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đó là việc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, thả mìn, thủy lôi phong tỏa các cảng, cửa sông, cửa biển của miền Bắc từ 6/4/1972 với quy mô và cường độ ác liệt hơn trước, gây khó khăn cho vận chuyển tiếp tế cho miền Nam cả đường bộ và đường thủy.
Cuộc tiến công chiến lược ở Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi rất quan trọng song cũng chịu nhiều tổn thất hy sinh (đặc biệt là trận chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm, từ 25/6 đến 16/9/1972), đã tạo điều kiện cho đấu tranh ngoại giao thu được kết quả. Đoàn đàm phán Việt Nam tại Hội nghị Pari đã chủ động có bước đột phá, đưa ra bản dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (10/1972), đẩy Mỹ vào thế bị động, lúng túng, phải đi vào đàm phán thực chất.
Đặc biệt, quân và dân miền Bắc, chủ yếu là Hà Nội, Hải Phòng, đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 của Mỹ, làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không". Đây là thắng lợi quân sự lớn nhất, góp phần quyết định buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ về nước, mở ra thời cơ chiến lược để quân và dân ta tiến lên "đánh cho ngụy nhào" vào mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc.
PGS. TS. Nguyễn Mạnh HàViện Lịch sử Đảng
(1) Ban Tổng kết chiến lược trực thuộc Bộ Chính trị. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học. NXB Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 117, 118
(2) Bộ Quốc phòng. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, NXB CTQG, 2003, tập 5, tr. 91.
(3) Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập 5, Sđd, tr. 243
|
Báo chí Mỹ và cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam
| Báo chí Mỹ và cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam | ||
Trong những năm đầu, nhiều phóng viên nước ngoài ủng hộ cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Phóng viên không hề đặt câu hỏi tại sao Mỹ lại có quyền có mặt ở Việt Nam? Lý do chính là trong Thế chiến thứ hai và trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Triều Tiên, báo chí Mỹ luôn có cái nhìn tích cực. Một lý do khác nữa là khi đó, chưa có nhiều lính Mỹ ở Việt Nam nên Mỹ vẫn che đậy được âm mưu của mình. Tuy nhiên, với sự có mặt ngày càng nhiều của Mỹ ở Việt Nam, báo chí phương Tây đã dần có thái độ hoài nghi về sự có mặt cũng như ý định của Mỹ ở Việt Nam.
Bắt đầu bằng trận Ấp Bắc ngày 2/1/1963. Ngay sau khi trận đánh kết thúc, 3 phóng viên là David Halberstam, Peter Arnett và Neil Sheehan đã đến khu vực có chiến trận và không thấy có dấu hiệu gì là quân Ngụy đã thắng ở khu vực này. Để xác minh lại tin tức do Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ cung cấp, 3 phóng viên đã phỏng vấn cố vấn Mỹ của sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn. Quả nhiên, vị cố vấn này cho biết, quân đội Sài Gòn đã thất bại trong chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của mình.
Mâu thuẫn giữa thông tin do Bộ chỉ huy và các cố vấn Mỹ trên chiến trường cung cấp đã gây nghi ngờ cho các phóng viên này và họ quyết định tìm ra sự thật. Những bài báo viết về Ấp Bắc đã thay đổi cách nhìn của báo chí Mỹ đối với chiến tranh Việt Nam. Các phóng viên nghi ngờ tính trung thực của thông tin trong các cuộc họp báo lúc 5 giờ chiều tại Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ và không tin rằng quân đội Sài Gòn có thể thắng trong cuộc chiến. Đây cũng là bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam - chiến tranh đặc biệt của Mỹ đã thất bại. Trận Ấp Bắc sau này đã được mô tả lại trong cuốn Lời nói dối hào nhoáng của Neil Sheehan và Điệp viên hoàn hảo của Larry Bergman.
Sự kiện tiếp theo là Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào ngày 10/6/1963. Được báo là sẽ có "sự việc quan trọng" sẽ xảy ra bên ngoài Đại Sứ quán Campuchia tại Sài gòn, một số phóng viên - trong đó có Malcolm Brown - đã có mặt và chụp được bức ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Bức ảnh đã làm người xem thấy được chính sách tôn giáo bất công của chính quyền Diệm. Một lần nữa, dư luận lại nghi ngờ về tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam. Từ thời điểm này trở đi, các phóng viên nước ngoài không chấp nhận lời giải thích của Bộ chỉ huy viện trợ quân sự của Mỹ ở Việt Nam và bắt đầu điều tra để tìm sự thật về cuộc chiến tranh.
Vô tuyến truyền hình
Từ giữa những năm 1960, Chính quyền Mỹ bắt đầu tăng quân vào Việt Nam. Năm 1962, số lĩnh Mỹ ở Việt Nam chỉ có 11.000 thì đến năm 1964 con số này lên đến 26.000. Năm 1965, Mỹ ồ ạt đem quân vào Việt Nam, trực tiếp tham chiến. Tháng 7/1965, số quân Mỹ ở Việt Nam lên đến 175.000. Cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc chiến tranh vô tuyến truyền hình đầu tiên.
Lần đầu tiên trong lịch sử, những gì xảy ra ở chiến trường được truyền đến phòng khách của người dân Mỹ. Vô tuyến là phương tiện truyền thông rất nhiều người ưa chuộng. Nếu như năm 1950 chỉ có 9% hộ gia đình người Mỹ có vô tuyến truyền hình thì đến năm 1966, tỷ lệ này lên đến 93%. Không những thế mà vì tính đại chúng của truyền hình, người dân Mỹ theo dõi tin tức qua phương tiện thông tin này ngày càng nhiều.
Khối lượng tin tức về cuộc chiến tranh được đăng tải trên truyền hình Mỹ rất lớn. Năm 1968, 90% tin tức của ba hãng truyền hình lớn của Mỹ là ABC, CBS và NBC là về chiến tranh Việt Nam. Người xem vô tuyến truyền hình hàng ngày thấy được cảnh giết chóc dân thường và cảnh lính Mỹ biểu thị thái độ thất vọng với cuộc chiến tranh. Những hình ảnh này có tác động rất lớn đến dư luận nước Mỹ, trước hết là đối với phong trào phản chiến ở Mỹ.
Một trong những hình ảnh vô tuyến truyền hình có tác động mạnh đến người Mỹ và nhiều người phương Tây là hình ảnh lính Mỹ đốt nhà dân thường ở Cẩm Lệ (gần sân bay Đà Nẵng). Tháng 8/1965, sau một thời gian chần chừ, Hãng CBS quyết định phát hình ảnh lính thủy đánh bộ Mỹ dùng bật lửa đốt nhà dân và có lời bình chỉ trích hành động này. Hình ảnh này có tác động mạnh đến người xem truyền hình vì trước đó, chính quyền Mỹ luôn cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam không gây thương vong, thiệt hại cho dân thường. Tổng thống Johnson lúc đó đã rất tức giận. Tiếp đó, những hình ảnh trên kênh NBC về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 đã tác động mạnh tới tâm trí người xem truyền hình Mỹ bởi những đau thương mà dân thường Việt Nam phải chịu đựng trong chiến tranh. Trong năm 1967, các phát ngôn chính thức và không chính thức của Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đều cho rằng Mỹ đang thắng. Nhưng khi cuộc Tổng tấn công Mậu Thân nổ ra, báo chí và người Mỹ đều tin rằng điều đó là không thể.
Đưa tin về cuộc Tổng tấn công này, Walter Cronkite - phóng viên của CBS đã bình luận cuối chương trình "Tin tức từ Việt Nam: Ai, điều gì, khi nào, ở đâu và tại sao" rằng: "Mỹ sẽ không thắng được trong cuộc chiến tranh Việt Nam và sẽ phải tiến hành đàm phán để rút khỏi Việt Nam". Các trợ lý của Tổng thống Mỹ tiết lộ, khi xem xong chương trình, Tổng thống nói rằng, chắc phải thay đổi phương thức tiến hành chiến tranh. Một tháng sau, Tổng thống Lyndon Johnson thông báo sẽ tìm cách rút khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Truyền hình Mỹ tiếp tục bóc trần sự thật về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam với phóng sự về vụ thảm sát ở Sơn Mỹ diễn ra vào tháng 3/1968. Đây trở thành thông tin chủ điểm của truyền thông Mỹ trong thời gian dài và có tác động lớn thúc đẩy dư luận lên tiếng chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ thời đó phải thốt lên: "Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên được tiến hành trên màn hình vô tuyến, trong phòng khách của tất cả mọi người… Chúng ta nghi ngờ về khả năng dân thường có thể tiếp tục ủng hộ cuộc chiến khi phải chứng kiến những cú đánh búa tạ hàng ngày như vậy".
Michael Tenant - tác giả cuốn Lúc thấy lúc không từng viết: "Ảnh báo chí, truyền hình và báo in đã định hình quan điểm của chúng ta là liệu tiến hành và tiếp tục chiến tranh có phải là sáng suốt hay không".
Những bức ảnh mang tính biểu tượng
Trong những năm đầu của thập kỷ 60, báo in đăng nhiều ảnh liên quan đến dân thường Việt Nam bị bịt mắt hay bịt mồm bằng băng dính hay bị đe dọa bằng lưỡi lê và nhiều ảnh khác vạch trần bộ mặt thật của cuộc chiến tranh. Trong đó, bức ảnh Nguyễn Ngọc Loan bắn chết một người bị bắt ngày 2/2/1968 trên đường phố Sài Gòn được phóng viên Eddie Adams chụp trở thành bức ảnh lịch sử. Hình ảnh này được nhiều báo Mỹ và các nước khác đăng lại khiến dư luận chống chiến tranh càng mạnh hơn do thấy được tính tàn ác của nó.
Một bức ảnh khác cũng không kém phần nổi tiếng là bức ảnh chụp một sinh viên đang quỳ bên xác một sinh viên vừa bị giết tại Trường Đại học bang Kent ở Ohio. Bức ảnh đã truyền đi thông điệp hết sức thực tế: Cuộc chiến tranh Việt Nam đang diễn ra ở ngay trong lòng nước Mỹ. Bức ảnh được đăng trên trang nhất của nhiều báo lớn cho thấy người Mỹ đang giết người Mỹ ngay trên đất nước mình vì cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Một bức ảnh nữa là ảnh Em bé Napalm do Huỳnh Công “Nick” Út, phóng viên hãng AP chụp năm 1972. Bức ảnh này chụp em Nguyễn Kim Phúc với thân hình loang lổ vết bỏng vì bom na-pam đang trần truồng chạy trên đường. Vì lý do này mà mà biên tập viên của AP đã chần chừ không dám gửi ảnh này về trụ sở chính, nhưng ngày hôm sau, ngay sau khi phát đi, bức ảnh đã được đăng trên trang nhất tờ New York Times và nhiều tờ báo khác. Bức ảnh tiếp tục vạch trần bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, làm cho người dân Mỹ thay đổi quan điểm của mình về cuộc chiến tranh.
Ngày 28/5/1969, người dân Mỹ sốc nặng với loạt ảnh 242 lính Mỹ chết trong 1 tuần trên chiến trường Việt Nam của tạp chí Life. Trang bìa của tạp chí là bức ảnh một thanh niên với dòng chữ "Diện mạo của người Mỹ chết ở Việt Nam: Tổn thất trong một tuần". Loạt ảnh tuy không có thông tin mới, nhưng đúng như tờ tạp chí đã viết: "Mỗi bức ảnh, mỗi diện mạo đều có thông điệp đơn giản nhưng mạnh mẽ".
Điểm nhấn gây bàng hoàng nhất chính là những bức ảnh được đăng tải trên các báo lớn của Mỹ trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh: Chiếc trực thăng trên nóc tòa nhà cơ quan CIA tại Việt Nam của Hubert Van Es, phóng viên UPI; Chiếc đồng hồ trên nóc Nhà thờ lớn Sài Gòn chỉ 11h30 - giờ những chiếc xe tăng đầu tiên của Quân đội Việt Nam tiến vào Dinh Độc lập và ảnh xe tăng bộ đội Việt Nam tiến vào Dinh Độc lập của phóng viên tự do Frances Starner...
Báo viết
Báo viết Mỹ lúc đó nổi lên 3 tờ báo chính là tờ New York Times, tờ Washington Post và tờ Los Angeles Times. Trong những năm 60 của thế kỷ trước, 3 tờ báo này có ảnh hưởng rất lớn đối với dư luận Mỹ, đặc biệt là giới thượng lưu có học.
Năm 1966, khi Mỹ tiến hành ném bom miền Bắc Việt Nam, nhiều bài viết trên tờ New York Times của tác giả Harrison Salisbury đã bóc mẽ luận điệu Mỹ không đánh vào khu dân cư và đê điều của Việt Nam. Nhưng sâu sắc và có tác động đến suy nghĩ của người Mỹ hơn cả chính là bài bình luận của Anthony Lewis, đăng trên tờ New York Times. Trong khi Mỹ dùng máy bay B52 tiến hành ném bom bí mật miền Bắc tháng 12/1972 nhưng lại liên tục bác bỏ sự thật này thì Anthony Lewis cho rằng đó là: "Hành động bạo lực quốc tế lớn nhất trong lịch sử cận đại". Hơn thế, tác giả cho rằng đây là hành động mà "lịch sử sẽ phán xét là tội ác chống nhân loại".
Chiến tranh kết thúc
Sau ngày 30/4/1975, gần 50 nhà báo các nước đã ở lại Việt Nam để tiếp tục đưa tin, trong số đó có nhiều nhà báo Mỹ. Nhiều nhà báo đã sử dụng đường truyền cáp được khôi phục chỉ một tuần sau khi chiến tranh kết thúc để gửi tin bài. Nhiều cuốn sách mô tả Sài Gòn sau năm 1975 được xuất bản ở phương Tây, trong đó phải kể đến cuốn Giải phóng của Terziani Tezano và Giải phóng Sài Gòn của Alain Dawson…
Chiến tranh kết thúc cũng là dịp các phóng viên có dịp để nhìn lại cuộc chiến tranh. Nhiều chương trình truyền hình nhìn lại chiến tranh Việt Nam đã xuất hiện. Cuộc chiến tranh 10.000 ngày của đạo diễn Micheal McClear được phát đi năm 1980. Cùng xuất hiện với chương trình là với cuốn sách cùng tên của tác giả Peter Arnett. Đặc biệt là chương trình Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình được phát sóng ở ba nước Mỹ, Anh và Pháp năm 1983 và cuốn sách cùng tên của Stanley Karnow - một trong những phóng viên Mỹ đến Việt Nam rất sớm và gắn bó với Việt Nam đến tận bây giờ.
Trên truyền hình, người Mỹ cũng được xem rất nhiều chương trình phim liên quan đến cuộc chiến tranh như Điều ngu ngốc vào lúc 6 giờ (NBC chiếu năm 1979), Magnum PI, Đội A, Riptide, Chó sói trên không... Trong hai năm 1986 và 1987, có hai phim được chiếu trên truyền hình Mỹ là Vòng luân chuyển quân (Tour of Duty) và Bãi biển Trung Hoa (China Beach) đã được người xem đón nhận nhiệt liệt.
Rõ ràng truyền thông Mỹ đã có tác động mạnh đến dư luận Mỹ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Báo chí đã góp phần đưa Mỹ đến quyết định phải rút quân khỏi Việt Nam, tạo điều kiện cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975. Đồng thời, báo chí Mỹ đã thay đổi chính kiến của người dân Mỹ từ ủng hộ cuộc chiến tranh trong những năm đầu đến nghi ngờ mục đích của cuộc chiến tranh và cuối cùng là chống lại cuộc chiến tranh. Không những thế, báo chí cũng đã thay đổi chính mình khi loại hình điều tra ra đời trong lòng cuộc chiến tranh và tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các cuộc chiến tranh của Mỹ sau này.
Sẽ là rất thiếu nếu chỉ nói đến báo chí Mỹ trong cuộc chiến tranh mà không đề cập đến hơn 70 phóng viên phương Tây đã chết trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Trong đó, nổi bật là những tên tuổi như Dickey Chapman, Robert Ellison, Oliver Noonan, Dana Stone, Sean Flynn, Kyoichi Sawada, Henri Huet, Larry Burrows, Kent Porter và Michel Laurent…. Chúng ta kính trọng họ, nhờ họ mà thế giới đã nhìn rõ nửa còn lại của chiếc bánh mì sự thật trong cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam.
TRẦN NGỌC THẠCH (*)(*) Đại sứ Việt Nam tại UAE
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)