Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Tướng Giáp là người đặt nền móng cho khoa học Việt Nam

Tướng Giáp là người đặt nền móng cho khoa học Việt Nam

Trong căn phòng khách ấm cúng tại tư gia, giáo sư-viện sĩ Đặng Hữu treo trang trọng tấm ảnh đen trắng đã ngả màu thời gian. Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc ông bắt tay một người đối tác Liên Xô để bàn về thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga, nhưng nổi bật nhất lại là một gương mặt rất đỗi thân thuộc với hàng chục triệu người dân đất Việt với nụ cười hiền hậu: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cất giọng buồn bã, vị giáo sư đã bước qua cái tuổi bát thập bảo rằng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là người đặt nền móng cho khoa học công nghệ Việt Nam. Và, ông đã may mắn được chịu ảnh hưởng rất lớn từ vị tướng tài ba và đức độ này.
“Đầu năm 2013, bác Giáp còn nằm trong bệnh viện viết thư chúc Tết. Sau đó, tôi đến thăm mấy lần thấy bác còn rất minh mẫn. Vẫn biết ngày bác ra đi sẽ đến, nhưng khi nhận được tin tôi thấy đau xót và ngỡ ngàng", ông Hữu bồi hồi xúc động.
Trong mắt giáo sư Đặng Hữu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một con người suốt đời vì nước, vì dân. Là người văn võ song toàn, Đại tướng luôn thân thiện, đức độ, uyên bác và đặc biệt có tư duy sáng lạng.

Đất nước không có khoa học thì không làm được gì cả

Tướng Giáp là người đặt nền móng cho khoa học VNỞ lĩnh vực khoa học công nghệ, năm 1977 khi còn giữ chức Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, giáo sư Đặng Hữu gặp Đại tướng khi Đại tướng đứng ra báo cáo về vấn đề Tây Nguyên trên cơ sở tính toán khoa học để xây dựng đất nước.
Khi ấy, giáo sư Đặng Hữu rất ấn tượng về một tư duy chiến lược, kiến thức uyên thâm. Về Tây Nguyên, Đại tướng bàn về vấn đề phát triển lương thực, chú trọng điều cán bộ khoa học vào vùng đất này. Và cũng kể từ đó, giáo sư Đặng Hữu có nhiều dịp làm việc với Đại tướng.
Theo giáo sư Đặng Hữu: “Đại tướng chính là người đặt nền tảng đầu tiên cho chính sách khoa học ở Việt Nam, tổ chức các chương trình nghiên cứu, mời chuyên gia Liên Xô sang giúp đỡ, cử người đi học tập, nghiên cứu".
Vào năm 1979, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng khoa học cần phải được sắp xếp, đánh giá lại để đất nước không tụt hậu, bởi “không có khoa học thì không làm được gì cả".
Đại tướng đã chủ động quan tâm nắm tình hình chung của các viện nghiên cứu xem đã làm và chưa làm được gì, chỉ đạo xây dựng chính sách và đưa ra Bộ Chính trị để chuẩn bị cho Nghị quyết đầu tiên đặt nền móng cho khoa học kỹ thuật.
Cùng đó, Đại tướng cũng luôn trăn trở làm thế nào để khoa học đi vào sản xuất, không để kết quả bị đưa vào ngăn kéo.

Khoa học phải chủ động kinh phí ứng dụng, đánh là phải thắng

Thời đó không có kinh phí làm khoa học. Muốn làm khoa học phải xin tiền Nhà nước và kết quả nghiên cứu cũng đưa vào Nhà nước. Lúc đó, ý kiến của Đại tướng là cơ quan làm khoa học phải chủ động làm việc, chỉ đạo cán bộ khoa học đi về nông thôn giúp dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Khi ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vạch ra đề cương với ý chính: Khoa học là phục vụ sản xuất, phải có mục tiêu rõ ràng. “Đã đánh là thắng, không chắc thắng thì không đánh” và làm khoa học cũng phải như vậy. Cũng bởi thế, Đại tướng quan tâm tới đội ngũ nhân lực, lập ra quy hoạch chiến lược và trách nhiệm của khoa học.
Tướng Giáp là người đặt nền móng cho khoa học VN
"Đại tướng luôn quan tâm phát triển khoa học công nghệ"
 - Giáo sư Đặng Hữu cho biết.
Giáo sư Đặng Hữu cũng cho hay, cái lớn nhất chính là tư duy chiến lược về khoa học của Đại tướng. Bản thân giáo sư Đặng Hữu từng đi với Đại tướng nhiều chuyến sang các nước học tập về cách làm khoa học mới như thành phố khoa học của Ấn Độ, thăm Indonesia và làm việc với nhà khoa học của nước bạn từng làm việc tại Tây Đức để kết nối.
“Trong mỗi chuyến công tác, học tập, khi về nước mỗi người đều phải phát biểu nhận xét của mình và báo cáo lại xem cần học cái gì, loại bỏ cái gì. Đại tướng luôn quan tâm làm thế nào để phát triển công nghệ cao, công nghệ sinh học… bởi đó chính là những thứ sẽ quyết định sự phát triển của xã hội", giáo sư Đặng Hữu nhớ lại.
Trả lời câu hỏi của phóng viên, giáo sư Đặng Hữu cho rằng tư tưởng của Đại tướng đã ảnh hưởng rất lớn tới ông, nhất là khi ông trở thành người đứng đầu ngành khoa học và công nghệ Việt Nam. Đó chính là tư tưởng chủ đạo “khoa học công nghệ là dẫn dắt đất nước đi lên", khoa học và giáo dục là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khoa học là không biên giới, cần hội nhập quốc tế về khoa học.
Vị Đại tướng của nhân dân cũng cực kỳ coi trọng khoa học công nghệ để thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng. Khoa học công nghệ vừa phải phát triển đất nước, vừa bảo vệ Tổ quốc.
Và, những tư tưởng tiến bộ này vẫn còn đúng đắn đến thời điểm hiện tại

Những hình ảnh quý về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Những hình ảnh quý về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Những hình ảnh, tư liệu khắc họa chân dung vị chỉ huy lỗi lạc trong lịch sử quân sự Việt Nam nhưng có cuộc sống giản dị.

Ngoài những bức ảnh ghi lại hình ảnh một vị chỉ huy quân sự vĩ đại, một nhà văn hóa, một nhà sử học tài ba, người xem còn có thể thấy được những nét giản dị, gần gũi và khiêm nhường trong cuộc đời của một nhà giáo, một người có nhiều kỷ niệm thân tình gắn bó với những người đồng đội, những người lính và với cả nhân dân.
Những hình ảnh quý về Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Những hình ảnh quý về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

"Đội viên tình báo Bát Sắt": Huyền thoại giữa đời thường

"Đội viên tình báo Bát Sắt": Huyền thoại giữa đời thường

Tháng 2 vừa qua, Công an Tp Hà Nội đã tổ chức lễ công bố và trao danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đội thiếu niên tình báo Bát Sắt - một tổ chức thiếu niên thuộc Công an Quận 6 - Công an Tp Hà Nội giai đoạn 1946-1948. Cũng thật tình cờ, cách đây ít lâu, NXB Kim Đồng đã tái bản lần thứ 7 cuốn truyện "Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt" của tác giả Phạm Thắng. Tác giả Phạm Thắng không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Vậy đâu là lý do để một cuốn truyện của một cây bút không chuyên có sức hút mạnh không chỉ với độc giả nhỏ tuổi suốt gần 30 năm qua?
Tôi tìm đến nhà riêng của tác giả Phạm Thắng ở trong một con ngõ nhỏ thuộc quận Cầu Giấy. Cậu thiếu niên tình báo 13 tuổi ngày nào nay đã trở thành ông lão tuổi tròn 80, nhưng vóc dáng còn nhanh nhẹn, giọng nói vẫn sang sảng, khỏe khoắn. Trong căn phòng khách rộng rãi, những bức ảnh mới nhất về lần gặp mặt giữa các đội viên tình báo Bát Sắt trong ngày vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đã kịp được chủ nhân đóng khung treo lên trang trọng. Ông Phạm Thắng đã không giấu được niềm xúc động khi kể lại với phóng viên những năm tháng đầy gian khổ, hiểm nguy nhưng cũng đầy tự hào của mình và đồng đội. Bắt đầu từ đêm tiễn đưa "tổ mở đường" gồm 5 em đội viên bí mật trở về Hà Nội (lúc ấy đang bị Pháp tạm chiếm) tại đình Huỳnh Cung (xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì) sau đó đã hình thành nên một trận tuyến tình báo thầm lặng trong lòng Thủ đô. Khó có thể nói hết những việc các đội viên đã làm được như gây dựng cơ sở bí mật trong các gia đình công nhân, trí thức, học sinh; điều tra tin tức và tình hình địch; tổ chức việc đưa đón cán bộ ra - vào nội thành; tham gia tiễu trừ Việt gian cùng nhiều hành động táo bạo khác. Trong gần 2 năm hoạt động, Đội đã lập được những chiến công đặc biệt xuất sắc, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp giải phóng Thủ đô như: chuyển lệnh của đồng chí Phùng Thế Tài - Tư lệnh quân sự Liên khu 2 cho Tiểu đoàn 202 rút khỏi vòng vây của địch ở Khu Học xá Việt Nam (ở phố Bạch Mai); đưa đồng chí Trần Quang Cơ - quân báo viên Quận 6 bị lạc trở về đơn vị; dẫn đường cho một tiểu đội Quyết tử vào nghiên cứu đánh địch ngay trong lòng Hà Nội, giúp Công an Quận 5 và Nha Công an Trung ương đưa tình báo viên vào hoạt động ở nội thành và giúp các đồng chí này liên lạc với chỉ huy; chuyển thư của Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo đến với số trí thức, nhân sĩ yêu nước bị kẹt lại Hà Nội khi chiến sự xảy ra. Ngoài ra, Đội còn tổ chức xử tử hình tên việt gian Paguct (tức Lê Hữu Ba Kế) tại nhà riêng đồng thời theo dõi, nắm quy luật hoạt động đi lại của tên việt gian đầu sỏ Trương Đình Tri - Chủ tịch Hội đồng An dân Bắc Kỳ - để lực lượng ta tiêu diệt...
Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an nói chuyện với các đội viên đội thiếu niên tình báo Bát Sắt (ông Phạm Thắng đứng thứ hai từ trái sang).
Để thực hiện những nhiệm vụ này, các thành viên trong đội tình báo Bát Sắt đã phải tìm mọi cách sống hợp pháp trong nội thành như nhận làm con nuôi, làm bồi bàn, bán lạc rang, bán thuốc lá, đánh giày, bán báo... Các đội viên phải tự kiếm sống, không được học hành bài bản mà thường chỉ trải qua một lớp huấn luyện đơn giản với nội dung chủ yếu là dạy cách thuộc lý lịch giả để khai lúc bị bắt, cách hóa trang biến dạng ngoại hình, những cách vượt qua lưới vây khám và lời thề tuyệt mật không cung khai. Bản thân tác giả của "Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt" khi ấy mang tên là Phạm Văn Thẩm đã vào vai em bé mồ côi phải đi làm mướn cho tiệm nhảy Lido (ở phố Cửa Bắc) cùng với 4 đội viên khác. Hàng ngày, các em vừa chăm chỉ làm việc, vừa nghe ngóng tình hình, thu lượm thông tin mà đám lính Tây và Việt gian vô tình tuôn ra từ các cuộc "trà dư tửu hậu". Khi ấy, chú bé Phạm Văn Thẩm mới chưa đầy 14 tuổi, trắng trẻo dễ thương lại thông minh, lanh lợi nên nhanh chóng chiếm được tình cảm của một "me Tây" là Mary Thúy - vợ tên sĩ quan Pháp Lămpe nhà ở ngay cạnh tiệm nhảy. Việc trở thành con nuôi của cặp vợ chồng này đã tạo cho cậu bé Phạm Văn Thẩm một vỏ bọc tốt để có được những thông tin tình báo quý giá. Được "bố mẹ nuôi" yêu quý, tin cẩn nên chú bé Thẩm thường xuyên được đi ra ngoài đi chơi chợ, dạo phố... cũng chính là lúc cậu tìm cách liên lạc với tổ chức. Ngoài ra, cậu bé còn khôn khéo đào được một cái hầm nhỏ ngay dưới chiếc giường cậu ngủ để giấu tài liệu và vũ khí cho đội Thanh Việt diệt tề trừ gian. Đến cuối năm 1947, cơ sở ở tiệm nhảy Lido bị vỡ do đội viên Chúc "lém" bị mật thám bắt đưa đi tra tấn. Chú bé Phạm Văn Thẩm với sự mưu trí, gan dạ đã điều khiển bà mẹ nuôi diễn một màn kịch cuối cùng: giả vờ như dẫn Thẩm đi nộp cho Sở Mật thám. Việc làm giúp cậu thoát khỏi vòng nguy hiểm để trở lại vùng tự do.
Sau đó, Phạm Văn Thẩm tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ nên mọi thư từ, tài liệu, bút tích, ảnh... liên quan đến quãng thời gian hoạt động trong đội thiếu niên tình báo Bát Sắt đã được gửi về cho ông cụ thân sinh lưu giữ. Ông cụ gói bọc cẩn thận đem chôn xuống đất nên qua thời gian và cơn binh biến, đến ngày tiếp quản Thủ đô trở về, mọi thứ vẫn còn gần như nguyên vẹn, trong đó có cả bức thư, di ảnh của người chị gái Phạm Thị Bích Hạnh cùng hoạt động trong đội đã hy sinh khi bị địch bắt, tra tấn, tù đày. Nhớ thương chị gái, nhớ bạn bè chiến đấu, mỗi khi có trẻ nhỏ tới chơi nhà, ông Thẩm (lúc này lấy tên là Phạm Thắng) thường kể cho chúng nghe về chuyện của mình và đồng đội thời còn hoạt động trong đội Bát Sắt. Các cháu rất hào hứng, thích thú trước những hành động táo báo, gan dạ và lập nhiều chiến công của các đội viên và bảo: "Sao bác không viết thành sách để cho nhiều trẻ em như chúng cháu cùng được đọc". Vậy là trong đầu ông ông nung nấu ý tưởng viết lại những câu chuyện, những chiến công của đội Bát Sắt để nhiều người biết đến hơn.
Hưởng ứng cuộc thi "Viết về những kỷ niệm sâu sắc thời kỳ chống Pháp" do Sở Văn hóa Hà Nội tổ chức, ông Phạm Thắng viết cuốn hồi ký về mình và đồng đội mình mang tên: "Đội tình báo thiếu niên". Cuốn sách ra đời đã gây được tiếng vang, được Sở Văn hóa Hà Nội tái bản đến lần thứ 3 trước khi NXB Kim Đồng yêu cầu ông chuyển thể nó thành một tác phẩm văn học. Lúc đầu, ông cũng lo lắng chưa dám nhận lời ngay, nhưng đồng đội của ông và biên tập viên Nguyễn Văn Tân của NXB Kim Đồng đã nhiều lần động viên, khích lệ, cuối cùng ông đã bắt tay vào viết. Quá trình viết tác phẩm này với ông Thắng vô cùng vất vả bởi bản thảo phải sửa đi sửa lại nhiều lần cho phù hợp với một tác phẩm văn học hấp dẫn mà vẫn đảm bảo các yêu cầu nghiệp vụ của ngành Công an. Cuốn sách này cũng gắn liền với nhiều trận ốm của ông, đến nỗi vợ ông còn khuyên: "Nếu vất vả quá thế này thì hay là thôi anh ạ!". Nhưng ông vẫn không nản chí, không bỏ cuộc. Đến đầu năm 1975, sách chuẩn bị được đưa in thì miền Nam giải phóng, bản thảo "Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt" lại phải chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu mới. Vì thế đến năm 1976, cuốn sách mới chính thức ra mắt với lượng phát hành khổng lồ ở cả 2 miền với 100.300 bản và ngay lập tức trở thành một trong những "cuốn sách vàng" được yêu thích nhất thời bấy giờ. Nó đã cùng với cuốn "Đội thiếu niên du kích Đình Bảng" của nhà văn Xuân Sách và "Đội thiếu niên du kích thành Huế" của Văn Tùng trở thành ba cuốn sách một thời được các em thiếu niên, nhi đồng yêu thích tìm đọc và luôn có tiếng vang đến tận hôm nay.
Đến năm 1990, ông Phạm Thắng còn cho ra mắt thêm cuốn truyện "Sứ thần liên lạc" - một cuốn sách nhỏ về người đồng đội Trần Văn Sâm - người đã nhận nhiệm vụ chuyển "phong thư thượng cấp" vào thành Cửa Đông năm xưa.
Nhắc lại kỷ niệm với cuốn sách này, ông Thắng tươi cười cho biết: "Lần lĩnh nhuận bút đầu tiên của "Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt" chỉ đủ để thết bạn bè một bữa bún chả là hết. Còn đến lần thứ 2 vào năm 1984 thì được những 2.000 đồng, tôi xây được một căn nhà khang trang, là niềm mơ ước của nhiều giáo viên như tôi hồi ấy. Nhưng quan trọng hơn cả, tôi thấy mình đã làm được một việc thật có ý nghĩa, đó là góp phần ghi lại trang sử hào hùng của lực lượng Công an những năm chính quyền còn non trẻ để con cháu mai sau được biết và tự hào..."

  Nguyệt Hà

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức của các nhà văn nổi tiếng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức của các nhà văn nổi tiếng
 Tường Duy - Công an nhân dân
Là người Anh Cả của quân đội nhân dân Việt Nam, đối với giới văn nghệ sĩ nước ta, vị Đại tướng mang họ Võ nhưng thường được gọi bằng cái tên thân mật, trìu mến là “Anh Văn” đã có những mối quan hệ, kỷ niệm đặc biệt chí nghĩa, chí tình. Để cùng đồng bào cả nước chia sẻ nỗi đau thương, mất mát trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, VNCA xin được cùng bạn đọc ôn lại những kỷ niệm giữa Đại tướng và một số nhà văn, nhà thơ nổi tiếng.

Mặc dù được biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp nằm viện đã lâu, và ở tuổi 103, ông là vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước Việt Nam thọ nhất từ trước tới nay, song tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần vẫn gây bàng hoàng, xúc động đối với toàn thể đồng bà ta cũng như với đông đảo bạn bè, người dân trên toàn thế giới. Là người Anh Cả của quân đội nhân dân Việt Nam, đối với giới văn nghệ sĩ nước ta, vị Đại tướng mang họ Võ nhưng thường được gọi bằng cái tên thân mật, trìu mến là “Anh Văn” đã có những mối quan hệ, kỷ niệm đặc biệt chí nghĩa, chí tình. Để cùng đồng bào cả nước chia sẻ nỗi đau thương, mất mát trước sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, VNCA xin được cùng bạn đọc ôn lại những kỷ niệm giữa Đại tướng và một số nhà văn, nhà thơ nổi tiếng.
Với nhà thơ Huy Cận
Trong cuốn “Hồi ký song đôi” (tập 2) của nhà thơ Huy Cận được NXB Hội Nhà văn ấn hành cách đây một năm, tôi đặc biệt thú vị khi được tiếp xúc với những bức ảnh nhà thơ Huy Cận chụp kỷ niệm với bạn bè, đồng nghiệp, người thân in ở phần cuối sách. Đây quả là những tư liệu quý, giúp ta hiểu thêm không khí một thời. Trong số các bức ảnh, tôi hơi ngạc nhiên thấy có bức ảnh nhà thơ Huy Cận chụp cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với dòng ghi chú: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Huy Cận trong lễ trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I tại Phủ chủ tịch - 30/11/1996”. Sở dĩ tôi nói hơi ngạc nhiên vì khi ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thôi giữ các chức vụ trong bộ máy của Đảng, Nhà nước. Vậy việc Đại tướng có mặt tại một địa điểm như thế, trong một buổi lễ như thế hẳn là để chúc mừng, chia vui cùng những người bạn văn nghệ sĩ mà ông trân trọng, yêu quý, trong đó có nhà thơ Huy Cận.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các văn nghệ sĩ cựu chiến binh.
Thật ra, như chúng ta đã biết, Huy Cận không chỉ là nhà thơ. Cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông từng giữ cương vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời của Nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa (khi ấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Như vậy, giữa hai người, ngoài tình cảm, chắc chắn họ còn có những gắn bó, liên hệ trong công việc. Đọc bài viết “Tham gia hội nghị trù bị Đà Lạt” của nhà thơ Huy Cận, tôi đã bắt gặp những dòng kỷ niệm nồng thắm mà tác giả “Lửa thiêng” dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tại Hội nghị này, Huy Cận được ban tổ chức bố trí ngủ chung phòng với Võ Nguyên Giáp. Nhà thơ Huy Cận nhớ lại: “Mở đầu, hai trưởng đoàn (của phía chính phủ ta và Pháp lúc ấy - TD) Nguyễn Tường Tam và Max André nói lời khai mạc. Vào cuộc là vấn đề Nam bộ đầy sôi nổi, căng thẳng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp phát biểu mạnh mẽ, khẳng định Nam kỳ là bộ phận không thể chia tách của Việt Nam. “Máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”; có lúc quá xúc động, anh ràn rụa nước mắt, cả hội nghị im lặng, tôn trọng tình cảm dân tộc của anh. Trong lúc giải lao, Mesmer đến bắt tay anh Giáp tỏ vẻ khâm phục và nói: “Lúc nãy tôi muốn đứng về phía anh”. Anh Hoàng Xuân Hãn và các anh khác trong đoàn ta nói bồi thêm về lập trường “Nam bộ là đất Việt Nam”. Nhân nhắc tới học giả Hoàng Xuân Hãn, cũng liên quan tới sự kiện này chúng tôi lại nhớ tới bài hồi ký “Một vài ký vãng về hội nghị Đà Lạt” của ông. Theo học giả Hoàng Xuân Hãn, ghi dấu ấn sâu đậm nhất tại hội nghị trù bị Đà Lạt là hoạt động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và luật sư Nguyễn mạnh Tường. Điều đó cho thấy, những tình tiết mà nhà thơ Huy Cận ghi lại là rất đáng trân trọng. Đặc biệt, với trái tim giàu rung cảm của một nhà thơ, ông đã lắng nghe và ghi lại được một hình ảnh tuyệt đẹp, đầy ấn tượng về một vị tướng cầm quân nhưng có trái tim rất dễ xúc động. 
Với nhà thơ Tố Hữu
Tố Hữu là một nhà thơ lớn, đồng thời cũng là một nhà hoạt động chính trị dày dạn. Có thời kỳ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông giữ cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Trên cương vị một nhà thơ, ông từng viết bài ca ngợi các chiến công cùng những con người làm nên lịch sử trong thời đại Hồ Chí Minh. Với các vị tướng trong quân đội ta, bạn đọc ấn tượng với bài thơ ông viết về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và đặc biệt, những câu thơ ca ngợi tài chỉ huy thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài tráng ca “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”. Chúng ta hẳn còn nhớ những câu mở đầu rất ấn tượng ở khổ thơ thứ hai của bài thơ:
Hoan hô chiến sĩ Điện BiênHoan hô đồng chí Võ Nguyên GiápSét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp!
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên được nhắc tới trong bài thơ ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ, có thể nói đây là một sự…táo bạo nhưng hoàn toàn hợp lý, thể hiện sự ghi nhận chính xác của nhân dân ta cũng như cộng đồng quốc tế về vai trò cá nhân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Đó là chuyện trong thơ, còn ở ngoài đời và trong hồi ký, nhà thơ Tố Hữu đã nhắc tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra sao?
Trong hồi ký “Nhớ lại một thời” do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2000, Tố Hữu có nhắc tới chuyện những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông có nguyện vọng được đầu quân. Khi ông đề đạt ý kiến này với Tổng bí thư Trường Chinh, đồng chí Trường Chinh rất hoan nghênh, nhưng để đúng nguyên tắc, đồng chí yêu cầu Tố Hữu phải viết thư cho Anh Văn (tức đồng chí Võ Nguyên Giáp) đề nghị ông chấp nhận việc này. Và rồi, trong quá trình Tố Hữu sáng tác bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” - theo như nhà thơ Tố Hữu đã kể lại với nhà thơ Trần Đăng Khoa (trong bài viết “Tố Hữu và bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” in trong tập “Chân dung và đối thoại”, NXB Thanh niên, 1999) thì - suốt ngày ông chỉ “hong hóng chờ tin tức từ chỗ anh Trường Chinh, hoặc lại chạy sang Bộ Tổng, Quân ủy Trung ương, chỗ anh Văn, hỏi xem có đánh nhau ở đâu thì viết bài tuyên truyền”. Cũng theo lời ghi lại của Trần Đăng Khoa, Tố Hữu tỏ ra rất thích thú với mấy chữ “hoan hô” ông dùng để hoan hô chiến sĩ Điện Biên và Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Mình hoan hô chiến sĩ Điện Biên, hoan hô ông Giáp. Lúc ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp oanh liệt lắm. Người ra trận cơ mà. Một ông Tổng tư lệnh ra trận…”.         
Với nhà văn Nguyễn Đình Thi
Trong những dòng lưu bút ở sổ tang nhà văn Nguyễn Đình Thi, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có kể lại một kỷ niệm: “Nguyễn Đình Thi đã từng tham gia bộ đội, có mặt ở nhiều chiến dịch. Tôi đã có những dịp gặp anh trao đổi ý kiến, đặc biệt tại Sở chỉ huy Mặt trận Điện Biên Phủ”.
Đọc bài bút ký “Một quyết định khó khăn nhất” của nhà văn Nguyễn Đình Thi (đã in trong tập “Tiểu luận bút ký” của ông do NXB Văn học ấn hành năm 2001), bạn đọc có thể biết được câu chuyện về lần gặp gỡ ấy giữa nhà văn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp như sau:
Một ngày, khi tới cơ quan chính trị của Mặt trận, Nguyễn Đình Thi được thông báo Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi ông lên gặp Đại tướng. Ông cấp tốc đi theo người giao liên. Bước vào căn phòng rộng của cơ quan tham mưu, ông thấy Đại tướng ngồi ghế chủ tọa. Hai bên chiếc bàn lớn là 7, 8 cố vấn Trung Quốc. Sắc mặt Đại tướng nghiêm nghị. Trông thấy nhà văn, Đại tướng vui vẻ: “Xin giới thiệu với các đồng chí, đây là một văn nghệ sĩ của chúng tôi”. Rồi quay sang Nguyễn Đình Thi, Đại tướng hỏi: “Anh hát bài Người Hà Nội được chứ. Anh hát đi”. Mặc dù bỡ ngỡ chưa hiểu sự thể thế nào, song vâng lệnh Đại tướng, Nguyễn Đình Thi đã cất tiếng hát khúc mở đầu bài “Người Hà Nội”. Một tràng vỗ tay nổi lên, xen lẫn tiếng cười vui. Đại tướng tới bên Nguyễn Đình Thi, bảo: “Đại đoàn 316 sẽ làm đường, anh đến sớm ở đó, theo dõi và viết bài cho tờ báo của Mặt trận”.
Theo Nguyễn Đình Thi phân tích, hẳn là trong phút căng thẳng thay đổi kế hoạch đánh địch (khác với ý của các cố vấn Trung Quốc), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi ông lên “làm văn công tạm, cho buổi họp nhẹ nhõm đi một chút”. Riêng yêu cầu “theo dõi và viết bài cho tờ báo của Mặt trận”, Nguyễn Đình Thi đã hoàn thành xuất sắc. Sau này bạn đọc đã hiểu thêm về không khí chiến đấu của quân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ qua loạt bài “Một quyết định khó khăn nhất”, “Mùa xuân của chiến sĩ Điện Biên Phủ” của ông

Thế giới ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thế giới ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp

(GDVN) - “Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại sống ở Việt Nam. Ông được công nhận là một trong các nhà quân sự tài giỏi nhất và một nhà chiến lược về chiến tranh nhân dân". Đạo diễn người Pháp Daniel Roussel - nguyên là phóng viên thường trú báo tại Việt Nam những năm 1980 đã viết.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị Tổng tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Việt Nam đã qua đời lúc 18h chiều nay tại Viện quân y 108 khi ông vừa qua tuổi 103.

Để tưởng nhớ đến vị Tướng tài ba của dân tộc Việt Nam, Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin tổng hợp, giới thiệu những thông tin tư liệu quý về những đánh giá của thế giới, những dấu mốc quan trọng và những sự kiện trong cuộc đời và sự nghiệp lẫy lừng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng tài ba

Trong số ra ngày 9/2/1968, tạp chí Time của Mỹ đã đăng bài viết dài, kèm theo bức ảnh vẽ trang bìa chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp với bài viết với tít lớn nổi bật, nguyên văn tiếng Anh  North VietNam: The Red Napoleon, tác giả bài viết đã dành một lượng lớn thông tin nói về Tướng Võ Nguyên Giáp, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà quân sự kiệt suất kèm theo câu nói nổi tiếng của ông những năm chiến tranh: "Skike to win, Skike Only when Success is Certain, if it is not, then dont' strike". (Tạm dịch: Đánh là thắng, chỉ đánh khi chắc thắng, nếu không thắng thì không đánh).

Bắt đầu từ tháng 7/1965, Tổng thống Mỹ Johnson đã tuyên bố tăng thêm viện trợ cho lực lượng nguỵ quyền Sài Gòn và chỉ trong 4 tháng, Mỹ đã gửi hơn100.000 quân đến miền Nam. Cũng từ đây cuộc chiến tranh ngày càng trở nên căng thẳng và khốc liệt, phía Việt Nam đã áp dụng nhiều chiến thuật mới, đặc biệt là đường lối chiến tranh du kích, trường kỳ. 

Năm 1959, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập Đoàn 559 mở đường mòn dọc dãy Trường Sơn tiếp viện chiến trường miền Nam và cũng nhờ tuyến đường này mà phong trào chiến tranh du kích ở miền Nam phát triển mạnh mẽ, sau 4 năm Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời. Sau chiến dịch Tết Mậu Thân, chiến dịch Đường 9 Nam Lào, chiến dịch Trị Thiên, Tây Nguyên rồi chiến dịch Mùa xuân Đại thắng. 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Người Anh cả của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Với tài thao lược uyên bác, năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phê duyệt đề xuất lấy Nam Tây nguyên làm hướng tấn công chiến lược, "điểm huyệt" vào hệ thống phòng ngự của quân đội Sài Gòn tại Buôn Mê Thuột, sau đó gấp rút giải phóng Đà Nẵng và chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất mở chiến dịch Hồ Chí Minh trong đó cử Đại tướng Văn Tiến Dũng là tư lệnh chỉ huy 5 cánh quân với sức mạnh của 20 sư đoàn đồng loạt tiến về giải phóng Sài Gòn. 

Mệnh lệnh nổi tiếng nhất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút từng giờ, xốc tới mặt trận giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước".

Võ Nguyên Giáp - vị anh hùng châu Á

Kỷ niệm 60 năm ngày phát hành số đầu tiên, tờ TimeAsia (Thời báo châu Á) số đặc biệt giới thiệu danh sách các "Anh hùng châu Á", gồm các chính khách, nhân vật có ảnh hưởng lớn đến cục diện khu vực trong những năm nửa cuối của thế kỷ XX. Trong số những nhân vật được Time Asia giới thiệu có cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp. 

Theo TimeAsia thì Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, người lính số 1 của dân tộc Việt Nam, ông đã từng lãnh đạo quân đội Việt Nam làm nên nhiều chiến thắng lẫy lừng trong đó có cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm bằng Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử dài 57 ngày đêm, đập tan đội quân đế quốc hùng mạnh, tuyên cáo chấm dứt sự tồn tại của chủ nghĩa Đế quốc và tiếp theo là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 16 năm và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam sau nhiều thập kỷ bị chia cắt.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp dưới góc nhìn của dư luận Mỹ


Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ, xuất bản năm 1993 viết: "Tài thao lược của Tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao... Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử".

Trong tác phẩm "Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam", nhà sử học quân sự Mỹ Cecil Curay nhận xét: "Trong suốt thời gian đó, ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại... 



Tướng Giáp, vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, dù mới đầu trong tay chưa có quân, vậy mà vẫn liên tiếp đánh bại đế quốc Nhật, thực dân Pháp (một đế chế thực dân số 2) và quân đội Mỹ (một trong hai siêu cường thế giới)... Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân... là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại". 

Nếu như tiêu chí chọn tướng của Hồ Chủ tịch là "Đánh thắng Đại tướng được phong Đại tướng" thì suốt cuộc đời mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lần lượt đọ sức và đánh thắng tới 4  đại tướng của Pháp và 6 của Mỹ, chưa kể đến nhiều viên đại tướng của chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Người Mỹ khi nhắc đến ông vẫn thường gọi là "Đại tướng 5 sao". William Westmoreland, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ gọi ông là "Tướng huyền thoại" (Legendary Giap)... Trong Bách khoa toàn thư của Mỹ và của nhiều nước, tên và hình ảnh của ông được ghi lại như là một trong những vĩ nhân quân sự hiển hách nhất.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong mắt  báo giới nước ngoài

The Diplomat - Tạp chí chuyên về chính trị châu Á - đánh giá trận Điện Biên Phủ do Tướng Giáp chỉ huy là "một chiến thắng thay đổi lịch sử", "cổ vũ cho các cuộc đấu tranh chống thực dân trên khắp hành tinh".

Sau khi điểm lại những sự kiện quân sự quan trọng gắn với tên tuổi Tướng Giáp, The Diplomat cho biết, nhiều năm sau này, các nhà lãnh đạo khắp thế giới, khi thăm Việt Nam, vẫn xếp hàng để gặp ông, trong đó có Tổng thống Brazil Lula da Silva, Tổng thống Venezuela Hugo Chavez, nhà lãnh đạo Nam Phi Thabo Mbeki. Tướng Giáp cũng có nhiều bài giảng và bài viết về lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hiện sức khỏe giảm song trí tuệ của Đại tướng vẫn minh mẫn. Mỗi sáng, ông vẫn nghe tin tức trên đài phát thanh và nghe các báo cáo tình hình, The Diplomat viết.


Ducan Townson, tác giả cuốn Những vị tướng lừng danh xuất bản ở London, đã viết: “Võ Nguyên Giáp là một trong 21 vị danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ qua, từ thời Alexandre Đại đế đến Hannibal rồi đến thời cận hiện đại với Kutudôp, Giucôp..., những người đã có chiến công tạo nên bước ngoặt của nghệ thuật chiến tranh”.

Tân bách khoa toàn thư của nước Anh (xuất bản năm 1985) trong chuyên mục giới thiệu các danh tướng thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay, cùng với Hannibal, Kutudôp, Napoléon... đã giới thiệu hai danh tướng VN là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (tập 10, tr.88) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tập 10, tr. 493-494).

Tướng Peter Mac Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, đánh giá: “Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.

G.Bonnet, trong Từ điển bách khoa toàn thư Pháp, cũng đã viết: “Là người tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự mácxít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp”.

Tướng Mỹ Westmoreland thừa nhận: “Ông Giáp có tất cả những đức tính của một thống soái quân sự lớn, đó là sự quả đoán, tính kiên quyết, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh”.

Nhà sử học quân sự Mỹ Cecil Curay, trong tác phẩm Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam, sau khi điểm qua quá trình chỉ huy quân đội của vị tổng tư lệnh, đã nhận xét: “Trong suốt thời gian đó, ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ 20 và một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại...

Ông Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, dù mới đầu trong tay chưa có quân, vậy mà vẫn liên tiếp đánh bại tàn quân của đế chế Nhật Bản, quân đội Pháp (một đế chế thực dân số 2) và quân đội Mỹ (một trong hai siêu cường thế giới)... Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân..., là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại”.

Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ (xuất bản năm 1993) viết: “Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao... Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử".

Những kỷ niệm sâu sắc về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Những kỷ niệm sâu sắc về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Vào 19 giờ ngày 4 tháng 10 năm 2013, tôi được tin sét đánh: Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã từ trần lúc 18 giờ 9 phút!

Tin Đại tướng vĩnh biệt gia đình, quân đội, Đảng và nhân dân Việt Nam đã làm cho mọi người cảm thấy hụt hẫng. Riêng đối với tôi - người được Đại tướng dìu dắt trong thời gian dài kháng chiến - những kỷ niệm sâu sắc với Đại tướng lần lượt hiện về.
Lần đầu tiên tôi gặp Đại tướng là tại chiến trường Nha Trang (Khánh Hòa). Khi đó, Đại tướng đi kiểm tra mặt trận phía Nam khi quân Pháp tràn từ Nam Bộ ra nam Trung Bộ. Tôi đang chỉ huy Mặt trận khu B bao vây địch ở Nha Trang tại làng Phước Vinh tháng 10/1945 thì Đại tướng đến thăm trận địa.
Sau khi tìm hiểu tình hình địch - ta tại chỗ, Đại tướng chỉ thị quân ta không được đánh địch bằng phòng tuyến án ngữ chúng, mà phải tổ chức cùng nhân dân phân tán đánh du kích khi địch nống ra từ Nha Trang lên Diên Khánh. Tổng tư lệnh phê bình Ban chỉ huy Mặt trận Nha Trang có tư tưởng trận địa không phù hợp. Phải bỏ trận địa mà phân tán ngay trong nhân dân, nếu địch nống ra thì ta dùng "du kích chiến đánh địch, bảo vệ dân, tiêu hao địch". Đây là mệnh lệnh đầu tiên tôi nhận từ Đại tướng trong đời hoạt động quân sự của mình.
Lần thứ hai là trong thời kỳ tôi chỉ huy Mặt trận Bình Trị Thiên. Tuy nhiều lần tôi nhận chỉ thị của Đại tướng nhưng không trực tiếp gặp. Đến đầu năm 1950, tôi được lệnh ra Việt Bắc để báo cáo tình hình địa phương và những kinh nghiệm chiến đấu với Bộ Tổng tư lệnh. Bài học tôi nhận được là du kích vận động chiến mà tôi có dịp báo cáo với Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu.
Đến ngày 19/5/1950, tôi được Đại tướng giới thiệu đến dự ngày mừng sinh nhật thứ 60 của Bác Hồ tại Việt Bắc. Do có chỉ thị của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đại tướng, nên tôi được sắp xếp ngồi bên trái Bác Hồ trong buổi tiệc mừng thọ Bác. Hai vị lãnh đạo thường nhìn tôi nhắc nhở bình tĩnh để báo cáo với Bác Hồ tình hình Bình Trị Thiên.
Sau lần đi Việt Bắc, về Bình Trị Thiên chuẩn bị tổ chức Sư đoàn 325, thì tôi nhận được điện của Bộ Tổng tư lệnh ra Việt Bắc nhận công tác mới.
Đây là dịp tôi được trực tiếp làm việc với cương vị Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu nên nhiều dịp làm việc với Đại tướng- nhất là trong dịp ta mở chiến dịch Hòa Bình. Tôi làm tham mưu chiến dịch thay Thiếu tướng Hoàng Văn Thái.
Trời lạnh, Tổng tư lệnh lại đang bị cúm nên khi nghe tôi báo cáo tình hình chiến sự thì ngồi phải trùm chăn. Một sự kiện tôi vô cùng xúc động là khi nghe tin bộ đội ta tiêu diệt được đồn địch nhưng có nhiều thương vong thì Đại tướng đã lấy khăn lau nước mắt. Đồng chí bảo tôi mời Thông tấn xã đến để nhắc nội dung đưa tin chiến sự trong lúc vẫn còn lên cơn sốt.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại cho nhân dân và quân đội ta những bài học quý báu của một người lãnh đạo rất xứng đáng là người học trò gần gũi nhất của Bác Hồ kính yêu.
Đại tá Hà Văn Lâu
Lần thứ ba, là vào lúc ta mở chiến dịch Tây Bắc (1952), Đại tướng tập hợp cán bộ đi chiến dịch để nhận lệnh. Trong lúc đó trời mưa to, nhưng Bác Hồ đã đến gặp cán bộ trong Hội nghị để động viên quân đội trước khi ra trận. Sau khi nghe Đại tướng báo cáo về kế hoạch chiến dịch, Bác Hồ chỉ thị cho cán bộ lần này phải kiên quyết tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ, giải phóng vùng Tây Bắc. Điều đáng ghi nhớ là giữa lúc trời mưa to, mà Bác vẫn đến, sau khi vượt qua một con suối lớn nước chảy xiết. Bác phải vượt qua con suối bằng một dây mây do bộ đội cầm giữ để Bác vin vào đó vượt qua suối. Toàn thể cán bộ Hội nghị thấy Bác Hồ bị ướt sũng như vậy mà vẫn chống gậy đến với Hội nghị nên hết sức xúc động và lắng nghe lời Bác dặn trước khi ra chiến trường. Bác nói: "Nghe chú Văn báo cáo sự quan trọng của chiến dịch này nên Bác quyết tâm đến". Bài học của Bác gửi cho cán bộ là "quyết tâm", quyết tiêu diệt địch, giải phóng Tây Bắc.
Cho đến đầu năm 1954, theo quyết định của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tư lệnh chuẩn bị mở chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 2/1954), thì tôi được lệnh tham gia đoàn đại biểu ta, do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, với tư cách chuyên gia quân sự, giúp đồng chí Tạ Quang Bửu, phụ trách quân sự, đàm phán với Pháp. Từ đó, tôi không trực tiếp công tác với Đại tướng Tổng tư lệnh.
Mãi đến sau khi kết thúc Hội nghị Genève, tôi trở lại Việt Bắc, để chuẩn bị thi hành Hiệp nghị Genève. Hội nghị thành lập Ủy ban Quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp nghị. Để cộng tác với Ủy ban Quốc tế, bên ta thành lập Phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh, bên cạnh Ủy ban Quốc tế. Tôi được chỉ định làm Trưởng phái đoàn liên lạc bên cạnh Ủy ban Quốc tế. Trong khi phía Pháp còn lại tại Thủ đô Hà Nội (Pháp chỉ rút hết sau 300 ngày).
Trước khi lên đường đi Hà Nội, tôi gặp Đại tướng để nhận lệnh. Sau khi trao lệnh cho tôi, Đại tướng nói thêm: "Bác Hồ bận nên không tiếp được đồng chí nhưng Bác dặn đồng chí về Thủ đô thì phải giữ nâu sồng kháng chiến".
Tôi còn nhớ lúc về Thủ đô, đang còn địch chiếm đóng, một hôm Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bí mật đến nhà làm việc của Phái đoàn để nắm tình hình Thủ đô trước khi ta vào tiếp quản. Cuộc đi khảo sát của Đại tướng đã hoàn thành, bí mật được giữ vững. Đại tướng đã trực tiếp chỉ thị công tác cho Phái đoàn và trở về chiến khu Việt Bắc an toàn.
Sau khi Thủ đô được giải phóng, thỉnh thoảng tôi được gặp Đại tướng để báo cáo tình hình và công tác, nhất là việc thi hành Hiệp nghị Genève ở miền Nam Việt Nam, và Đại tướng đã chỉ thị nhiều công tác đấu tranh thi hành Hiệp nghị cũng như đấu tranh trong Ủy ban Quốc tế.
Vì vừa công tác thi hành Hiệp nghị, vừa làm công tác Vụ trưởng Vụ miền Nam ở Bộ Ngoại giao, nên đến năm 1974 thì tôi được chuyển hẳn sang Bộ Ngoại giao, từ đó tôi ít khi được gặp Đại tướng.
Cho đến ngày về hưu (năm 1991) tôi vào ở miền Nam, thỉnh thoảng ra Hà Nội tôi lại đến thăm Đại tướng và gia đình. Mỗi lần tôi đăng ký xin gặp Đại tướng, tôi đều được chấp nhận, kể cả đưa gia đình tôi đến thăm gia đình Đại tướng. Khi trao đổi, Đại tướng nhắc tôi nên viết Hồi ký. Đây là điều tôi ân hận không thực hiện được. May mà đã có cuốn sách "Hà Văn Lâu - Người đi từ bến làng Sình" do nhà văn Trần Công Tấn viết về tôi, được nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành, cũng coi như một cuốn hồi ký văn học.
Những năm gần đây, vì sức khỏe tôi cũng ngày càng yếu, nên chỉ có một lần tôi ra Hà Nội, được vào thăm Đại tướng tại Bệnh viện 108. Tuy nhiên, dịp Tết nào tôi cũng nhận được thiệp chúc Tết của Đại tướng và năm nào tôi cũng gửi hoa mừng thọ Đại tướng, mà lần cuối cùng là ngày 25/8 năm nay.
Vậy là Đại tướng đã ra đi! Vậy là từ nay, Cuốn sách tôi xây dựng để tôn vinh Đại tướng sẽ không có được nữa chữ ký của Đại tướng. Tôi đã lập bàn thờ có ảnh của Đại tướng để hàng ngày thắp nhang tưởng nhớ, noi gương Đại tướng và lời dặn của Bác Hồ "giữ vững nâu sồng kháng chiến", kể cả khi tôi đã nghỉ hưu.
Xin kính chúc Đại tướng Tổng tư lệnh an giấc ngàn thu!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7/10/2013 .
Đại tá Hà Văn LâuNguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
Kiều Mai Sơn ghi

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn hiện nay

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn hiện nay
                                                                                                                 Thái Nguyễn Đức Minh Quân
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng thời cũng là đội tiên phong của các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Đảng cũng là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị, nhưng Đảng đồng thời cũng là bộ phận cấu thành chính trị, một bộ phận của xã hội. Có thể nói rằng vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền là một yêu cầu tất yếu, khách quan trong sự nghiệp Đổi mới để khẳng định Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhận thức được điều đó, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) khẳng định: “Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của dân, do dân và vì dân[1]. Trong khuôn khổ của bài viết này, tác giả xin trình bày khái lược vấn đề nhà nước pháp quyền trong lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam; về Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Đảng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xa hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trước tiên khi muốn làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng với nhà nước pháp quyền, chúng ta tìm hiểu xem “Nhà nước pháp quyền” có từ bao giờ ? “Nhà nước pháp quyền” là gì ? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền; nhưng nhìn chung, các quan điểm này cho rằng nhà nước pháp quyền hình thành do các yếu tố cụ thể như: tính tối cao của luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của chính nhà nước[2]; cơ chế phân chia quyền lực thành 3 cơ quan quyền lực kìm chế và đối trọng nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp; dân chủ, xã hội công dân và quyền con người… Như vậy, “nhà nước pháp quyền” là một khái niệm có nội hàm khái niệm rộng lớn, thể hiện trong mối quan hệ biện chứng: Nhà nước và pháp luật, nhà nước và xã hội công dân, dân chủ. Từ những quan điểm đó, người ta đưa ra nhiều định nghĩa về “nhà nước pháp quyền” nhưng tựu chung thì có định nghĩa chung như sau: Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước với sự phân công lao động, khoa học và hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tự pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân dạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người. Nhà nước pháp quyền chỉ hoạt động được dựa trên nguyên tắc: chính quyền chỉ có nhiệm vụ thực thi quyền lực mà văn bản pháp luật đã soạn ra và công bố rộng rãi; nguyên tắc đó đặt ra nhằm ngăn ngừa sự cai trị độc đoán hay chuyên quyền[3]. Nhà nước pháp quyền (ở bất kỳ nước nào) đều đó những đặc điểm sau: (1) nó là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất để quản lý xã hội dựa nền tảng đạo đức; (2) xác lập và có cơ chế hữu hiệu để đảm bảo tính tối cao của luật trong các hệ thống văn bản pháp luật; (3) pháp luật trong nhà nước phải có tính khách quan và công bằng, nhân đạo phù hợp đạo đức và lợi ích chính đáng của con người; (4) quan hệ nhà nước – công dân là bình đẳng, công dân có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nhà nước, ngược lại nhà nước phài chịu bồi thường thiệt hại tài sản, nhân phẩm cho nhân dân về các quyết định sai trái của mình; (5) nhà nước tổ chức hệ thống ba cơ quan phải cân bằng quyền lực, kiểm soát lẫn nhau; (6) nhà nước đảm bảo quyền tự do của cá nhân với tổ chức của họ trên pháp luật, đạo đức xã hội…
Nhà nước pháp quyền có từ bao giờ ? Câu hỏi này đã được nhiều người đặt ra từ rất lâu và các nhà khoa học đã cố gắng đi tìm câu trả lời. Trải qua một thời gian dài suy nghĩ và tìm tòi, cuối cùng họ tìm ra đáp án: nhà nước pháp quyền đầu tiên và sơ khai xuất hiện ở Hy Lạp – Roma cổ đại, là những nước có nền kinh tế thủ công nghiệp – thương nghiệp phát triển và người dân có quyền dân chủ cao hơn các nước cùng thời. Ở hai quốc gia này, bộ máy nhà nước đã được phân chia thành 3 cơ quan là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Theo pháp lệnh của Périklès (Hy Lạp) thì: Đại hội nhân dân nắm quyền lập pháp, Hội đồng nhân dân nắm quyền hành pháp và Tòa án nhân dân nắm quyền tư pháp[4]. La Mã thì tổ chức cũng 3 cơ quan, nhưng chỉ thay đổi tên gọi. Với tổ chức bộ máy quy củ như vậy thì chính quyền có điều kiện đề ra luật pháp cai trị đất nước, kêu gọi nhân dân phát huy quyền dân chủ của mình trong bầu cử, ứng cử… vào các cơ quan nhà nước. Cũng chính cấu trúc nhà nước hoàn chỉnh như vậy đã nảy sinh ra ý tưởng về nhà nước pháp quyền đầu tiên. Socrates là người đầu tiên đề ra ý tưởng “nhà nước pháp quyền” . Bằng luận điểm: “Quyền lực căn cứ không phải trên luật pháp, mà trên thói chuyên quyền của người cầm quyền, quyền lực như vậy chống lại nhân dân[5], ông nhận định dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật; con người phải tuân thủ pháp luật nhà nước. Platon kế tục xuất sắc tư tưởng của Socrates. Trong tác phẩm “Nền cộng hòa”, ông cho rằng người cầm quyền phải cai trị theo pháp luật chứ không được theo ý chí, pháp luật thuộc về tập thể. Aristotle và Ciceron lại cho rằng, nhà nước khi được xây dựng thì phải công minh, công bằng và đúng đắn về mặt tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật, có như thế quốc gia mới phồn thịnh được.
 Đến thời trung – cận đại, ý tưởng này đã được củng cố và có nhiều bước phát triển mới. Vào thế kỷ XVII, John Locke (1632 – 1704) đưa ra Học thuyết phân chia quyền lực, đặt cơ sở cho việc thành lập nhà nước pháp quyền. Theo ông, nhà nước pháp quyền sẽ có 3 cơ quan chính: lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời đề ra khế ước xã hội nhằm tạo sự ràng buộc giữa các cơ quan trong chính quyền. Có thể nói, Locke là người đầu tiên xây dựng lý thuyết về nhà nước pháp quyền, “một chính thể nhà nước tự do chủ nghĩa đứng đối lập với chế độ quân phiệt, chế độ chuyên chế và nền bạo chính[6]. Tiếp theo, Montesquieu và Rousseau đã củng cố thêm học thuyết pháp quyền tư sản của Locke. Montesquieu chủ trương phân chia 3 loại quyền lực không phụ thuộc nhưng kiểm soát lẫn nhau đó là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Người dân được làm chủ[7] (được tự do bầu cử, ứng cử vào chính quyền) và bình đẳng và không bị cưỡng bức, áp bức. Rousseau củng cố thêm một bước khi chủ trương thành lập nhà nước cộng hòa dân chủ, trong đó chủ quyền thuộc về những người sở hữu nhỏ. Các học thuyết trên góp phần tạo dựng cấu trúc nhà nước tư sản ở một số nước lớn như Anh, Pháp, Mỹ… thời kỳ đó.
Nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, K. Marx và Lenin đã nêu những luận điểm về nhà nước pháp quyền. Trong quan điểm của mình, Marx khẳng định: “Tự do là ở chỗ biến Nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội thành cơ quan phục tùng xã hội ấy[8]; Lenin cũng cho rằng, chính chế độ dân chủ và tự do là con đường duy nhất tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền. Đồng thời với quan niệm về nhà nước pháp quyền, Marx - Lenin đưa ra ý tưởng về sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước pháp quyền. Về mặt lý luận, chủ nghĩa Marx - Lenin khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và vai trò của đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản có nhiệm vụ giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột; hai ông cho rằng: “Chỉ có những người vô sản, nhiệt tình hừng hực vì nhiệm vụ xã hội mới mà họ có nhiệm vụ thực hiện cho toàn thể xã hội, tức là thủ tiêu tất cả các giai cấp và sự thống trị giai cấp, mới là những người có thể đập tan nhà nước, công cụ của sự thống trị giai cấp đó, đập tan quyền lực chính phủ tập trung và có tổ chức đó, cái quyền lực do tiếm đoạt mà trở thành chủ nhân của xã hội, chứ không phải là đầy tớ của xã hội[9]. Nhiệm vụ giành chính quyền và xây dựng chính quyền đòi hỏi tất yếu phải có Đảng lãnh đạo, và Lenin cho đó là nguyên tắc: “Về nguyên tắc Đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều kiện không còn nghi ngờ được nữa”[10]. Sau này, Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa và khái quát thành các vai trò của Đảng đối với nhà nước pháp quyền xạ hội chủ nghĩa Việt Nam. Các vai trò của Đảng đối với nhà nước là:
Thứ nhất, Đảng đã thiết lập một mô hình nhà nước phù hợp với thực tiễn nước ta. Mô hình nhà nước Đảng sử dụng là mô hình nhà nước pháp quyền[11], vốn có nguồn gốc từ thiết chế “tam quyền phân lập”, một thiết chế khá phổ biến ở các nước tư bản trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Philippines…; nó gồm 3 cơ quan chính: quốc hội (lập pháp), chính phủ (hành pháp) và tòa án (tư pháp). Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất quốc gia, quyết định những công việc quan trọng của Nhà nước; Chính phủ thực thi quyền hành pháp và Tòa án nhân dân thực thi quyền tư pháp. Với một cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước như vậy, Đảng có những quyết sách, quy định cụ thể về công việc của mỗi cơ quan. Quốc hội là cơ quan đứng đầu và có quyền lực cao nhất quốc gia, quyết định những vấn đề hệ trọng của quốc gia. Theo Hiến pháp 1992, Quốc hội là cơ quan có quyền ra và sửa đổi luật pháp; đề ra các chính sách đối nội và đối ngoại và giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan thực thi quyền hành pháp, có quyền lãnh đạo các cơ quan khác trong chính phủ, trình dự luật, pháp lệnh. Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp, có quyền xét xử các tội danh của người dân theo đúng quy định của pháp luật; mỗi cơ quan quyền lực trên đều chia thành các cơ quan, bộ phận nhỏ hơn nhưng tất cả đều là quy củ và thống nhất. Với việc xác lập mô hình nhà nước như thế, Đảng ta đã tỏ rõ sự thức thời khi nhận định đầy đủ tình hình nước ta trong việc xây dựng mô hình nhà nước mới, một mô hình cần thiết để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay và các giai đoạn tiếp theo; đồng thời, tiếp thu các giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền trong xây dựng mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền XHCN một cách sáng tạo. Mô hình nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đã dày công xây dựng và lãnh đạo thực sự là là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mọi ý kiến đề xuất một mô hình Nhà nước pháp quyền tách rời bản chất ấy đều xa lạ và không thực tế đối với Việt Nam trong điều kiện hiện nay[12].
Thứ hai, đồng thời với việc xác lập mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đề ra nguyên tắc, phương thức phù hợp lãnh đạo bộ máy nhà nước pháp quyền. Trong quá trình xây dựng nhà nước, Đảng ta quán triệt các nguyên tắc về xây dựng nhà nước pháp quyền: xây dựng và củng cố liên minh công – nông, đảm bảo tính dân tộc và nhân dân trong quốc gia; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Nhà nước; tiếp thu có chọn lọc để xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn. Các nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau, trong đó nguyên tắc củng cố liên minh công – nông là nguyên tắc quan trọng trong xây dựng quốc gia. Nguyên tắc này được Đảng kế thừa từ học thuyết về liên minh công – nông của Lenin (về sau thêm “trí” vào) và phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử và trình độ của các cơ quan trong Đảng trong việc thực hiện các nguyên tắc trên. Củng cố liên minh công – nông giúp Đảng tăng cường sự thống nhất của Đảng đối mọi người dân trong nước, phát huy sức mạnh để lãnh đạo Nhà nước vững mạnh và phồn vinh. Các nguyên tắc kế tiếp chỉ là bổ sung, phát triển cho nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Về phương thức lãnh đạo, Đảng ta đề xuất 3 điểm: nội dung lãnh đạo, phương thức lãnh đạo, lề lối và tác phong làm việc. Ba điểm trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhưng phương thức lãnh đạo[13] là cái quan trọng. Có phương thức lãnh đạo tốt thì mới thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng, chuyển tải nội dung lãnh đạo đến đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện mục đích đề ra. Phương thức lãnh đạo phụ thuộc vào người lãnh đạo, hoàn cảnh, điều kiện lịch sử và cả chủ thể lãnh đạo là Đảng. Trong thời Đổi mới, Đảng ta đã cải cách, đổi mới phương thức lãnh đạo cho phù hợp theo đúng tinh thần của các Hội nghị Trung ương Đảng[14] để tránh các trường hợp Đảng gặp phải sai lầm đáng tiếc trong khi lãnh đạo Nhà nước theo các phương thức hiện hành. Các phương hướng đối mới là: về nội dung lãnh đạo, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chiến lược, định hướng và chủ trương, chính sách; giới thiệu người ưu tú vào Đảng và chỉ đạo các hoạt động của các tổ chức Đảng, liên hệ mật thiết với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; công khai tuyên truyền, giáo dục trên thông tin đại chúng giúp nhân dân hiểu được các chính sách và chủ trương của Đảng, từ đó ủng hộ nhiệt liệt và tin tưởng và sự lãnh đạo thành công của Đảng trong bộ máy nhà nước.
Thứ ba, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền được thể hiện thông qua việc thực hiện chính sách dân chủ ở các cơ sở Đảng, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân với Nhà nước chính là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước pháp quyền.
Như chúng ta đã biết, dân chủ chính là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội. Dân chủ ở Việt Nam chính là nền dân chủ của toàn thể nhân dân cả nước; nhân dân là người nắm quyền lực (họ chỉ cho Đảng nắm quyền lực chứ không sở hữu quyền lực hoàn toàn) và họ được thực thi quyền làm chủ trong các lĩnh vực chính trị, quản lý nhà nước – kinh tế xã hội của từng cấp, từng ngành và từng địa phương cụ thể. Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách thích hợp và cụ thể như mở rộng các hình thức đối thoại, tuyên truyền với nhân dân để lấy ý kiến của họ đóng góp vào các dự luật, văn bản pháp luật cũng như tổ chức nhà nước. Hình thức này được tổ chức đa dạng tùy theo tình hình địa phương và hoàn cảnh cho phép để thực hiện. Ở các địa phương, chính quyền tổ chức nhiều hình thức đa dạng để thu thập thông tin và lấy ý kiến của nhân dân đóng góp vào hoạt động của Đảng cũng như của Nhà nước, như: cho phép các cơ quan thông tấn, phương tiện truyền thông (báo chí, tài liệu tham khảo…) được kịp thời đưa tin, đăng tải các văn bản chỉ đạo cũng như những đóng góp của nhân dân, tổ chức hội nghị, sinh hoạt cơ quan – đoàn thể, hệ thống loa truyền thanh, áp phích, pa-nô… và nhiều hình thức khác. Gần đây, trong thời gian lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào Dự thảo Hiến pháp 1992, nhiều địa phương đã sáng tạo nhiều hình thức phong phú. Có địa phương in tờ rơi, phát hành đĩa VCD, xây dựng bản so sánh giữa Hiến pháp năm 1992 với Dự thảo sửa đổi,... sau đó đưa đến từng xã, thôn, bản, khum, sóc, từng hộ gia đình. Các tỉnh vùng cao như Lào Cai, Bắc Kạn,… đã tiến hành tuyên truyền nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 bằng nhiều thứ tiếng dân tộc khác nhau, cử cán bộ đến từng nương, rẫy để phổ biến và lấy ý kiến nhân dân. Nhờ đó, tính đến ngày 25-03-2013, theo số liệu của Ban Chỉ đạo tổng kết thi hành Hiến pháp 1992, trong cả nước đã tổ chức khoảng 28.014 hội thảo, hội nghị lấy ý kiến và tiếp nhận khoảng 15 triệu lượt ý kiến đóng góp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân về nội dung của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Đây chính là kết tinh trí tuệ, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, là cơ sở để chúng ta từng bước bổ sung, hoàn chỉnh nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trước khi trình Quốc hội thông qua, dự kiến vào tháng 10-2013[15].
Thứ tư, Đảng thể hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước pháp quyền trong việc thi hành luật pháp và các văn bản dưới luật. Chúng ta đã biết, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là căn cứ chính thức để xây dựng hệ thống pháp luật từ Trung ương đến địa phương, điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội và công dân. Sự ra đời của Hiến pháp đã thể hiện “thành quả đấu tranh sau hàng loạt thắng lợi giành giật một cách khó khăn của chế độ mới chống lại chế độ cũ và hàng loạt thất bại mà chế độ cũ chống trả chế độ mới gây nên[16]. Do đó, việc Hiến pháp khẳng định về mặt nguyên tắc Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật[17] không phải do Đảng tự đề xướng, mà có tính chất bắt buộc đối với chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật. Vi phạm nguyên tắc này là vi phạm pháp luật và phải bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền không chỉ được thể hiện trong Hiến pháp, mà còn được thể hiện ở các văn bản dưới luật về tổ chức hoạt động của Nhà nước tùy theo mối quan hệ cụ thể. Như vậy, có thể nói, vai trò lãnh đạo của Ðảng được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Ðiều lệ Ðảng "đơn phương" quy định. Ðây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ của quy định tại Hiến pháp và Ðiều lệ Ðảng, điều lệ các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội về mối quan hệ của Ðảng với các tổ chức khác.
Thứ năm, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo Nhà nước thông qua quyền giám sát, việc thực hiện của các cơ quan, cán bộ viên chức theo đường lối do Đảng đề ra. Thật vậy, tại Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) xác định quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Vì vậy, để bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hoạt động của bộ máy các cơ quan nhà nước pháp quyền đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế những biểu hiện lạm quyền trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Các cơ quan trong Nhà nước đều chịu sự kiểm tra, giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân (giám sát nhà nước), kiểm tra trong nội bộ hệ thống các cơ quan nhà nước và chịu sự giám sát của nhân dân thông qua tổ chức đoàn thể của nhân dân, đồng thời cũng chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng. Kiểm tra và giám sát là phương thức cơ bản để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước; khuyến khích nhân tố tích cực và hạn chế tiêu cực , qua đó góp phần củng cố, ổn định đường lối của Đảng đối với Nhà nước. Ngoài ra, Đảng còn thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với các cán bộ, công nhân viên chức trong Nhà nước. Trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta thì đa số các cán bộ, công chức là Đảng viên, các tổ chức Đảng gắn liền với các cấp chính quyền và trong những cơ quan cao cấp của Nhà nước. Các cán bộ, công nhân viên chức và các Đảng viên luôn gương mẫu cháp hành các chính sách, chủ trương của Đảng, phù hợp với cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Các đảng viên ưu tú của Đảng được bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan cấp cao nhà nước, hợp thành đội ngũ những người lãnh đạo, các công chức cấp cao, chuyên gia, chuyên viên... Thông qua đội ngũ này, đường lối, chủ trương của Đảng được chuyển hóa thành hoạt động cụ thể, sinh động của bộ máy nhà nước[18].
Ngoài ra, để thực hiện giám sát Nhà nước dễ dàng hơn thì Đảng ngoài việc tự mình kiểm tra và giám sát, Đảng còn trao cho nhân dân thay mặt mình quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước pháp quyền. Ví dụ, Đảng cho phép người dân được viết thư, gửi đơn và kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyềm để báo cáo việc giám sát của mình ở các cơ quan, cán bộ viên chức Nhà nước và các cơ quan nhận được đơn kiến nghị của dân thì sau 30 ngày phải trả lời cho dân biết. Nhờ thực hiện những chính sách đó nên Đảng tạo được vai trò với Nhà nước pháp quyền xạ hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, có một vấn đề được đặt ra là hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước không thể có sự bao biện làm thay của các tổ chức đảng và làm thế nào để phát huy vai trò của đảng viên là cán bộ, công chức trong hoạt động của các cơ quan nhà nước đó.
Thứ sáu, Đảng xác lập vai trò lãnh đạo Nhà nước thông quan năng lực lãnh đạo và uy tín của mình. Về năng lực lãnh đạo, Đảng trong quá trình lãnh đạo Nhà nước đã xác định năng lực chính là: năng lực xây dựng đường lối chính trị của Đảng; năng lực của các của đội ngũ cán bộ, đảng viên được Ðảng giới thiệu để bầu cử (bổ nhiệm) vào các vị trí lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước và bởi năng lực kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị của Ðảng trong hoạt động nhà nước. Vì vậy, để thực hiện được vai trò cầm quyền của mình mà không làm thay công việc Nhà nước, Ðảng cần tập trung trí tuệ và bộ máy của mình vào thực hiện tốt ba công tác cơ bản: Xây dựng và quyết định đường lối chính trị; đào tạo, rèn luyện một đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ và uy tín để thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị của Ðảng thông qua các hoạt động của nhà nước; kiểm soát được quá trình thực hiện đường lối chính trị trong thực tiễn. Ba nhóm công tác cơ bản này, thực chất hợp thành nội dung cầm quyền của  Ðảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Uy tín của Đảng trong lãnh đạo Nhà nước cũng là vấn đề mà Đảng hết sức quan tâm và tìm cách áp dụng sâu vào thực tiễn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong bối cảnh mới, Ðảng chỉ có thể tiếp tục giữ vững được vị trí cầm quyền của mình khi uy tín của Ðảng trong xã hội tiếp tục được khẳng định và không ngừng nâng cao, khi niềm tin của nhân dân đối với Ðảng tiếp tục được củng cố, hiệu quả lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội được tăng cường. Và một khi đã có sự lạm dụng vốn uy tín và niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Ðảng được xây đắp trong các thời kỳ cách mạng sẽ dẫn đến nguy cơ làm suy giảm uy tín của Ðảng, xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Ðảng. Ðúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Nếu Ðảng ta không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không thống nhất cao về ý chí, hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên”[19].
Tóm lại, với những luận cứ mà chúng tôi nêu trên đây đã khẳng định rõ những vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Trong điều kiện hiện nay, các thế lực thù địch âm mưu đòi đa nguyên đa đảng, đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp 1992 để thay đổi chế độ chính trị. Trong hoàn cảnh đó, Đảng ta cần có chính sách, đường lối phù hợp để xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền được vững mạnh, xứng đáng là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” như lời Bác Hồ và các văn kiện Đảng đã khẳng định.
Tài liệu tham khảo:
1.      Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2.      Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
3.      Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, Hà Nội
4.      Mác- Ănghen, Toàn tập , tập 16; tập 17.
5.      Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, Nxb CTQG,Hà Nội, 1996.
6.      Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý – Bộ Tư pháp (2002), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Đề tài KX.05.09, Hà Nội.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 131 – 132.
[2] Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý – Bộ Tư pháp (2002), Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Đề tài KX.05.09, Hà Nội, tr.72.
[3] Nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền ra đời đầu tiên trong cuốn: Lex, Rex (1644), và sau này là Montesquieu trong cuốn Tinh thần Pháp luật xuất bản năm 1748.
[4] Nguyễn Đức Hòa (2011), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, tr.187.
[5] P. S. Taranov (2000), 106 nhà thông thái, NXB Chnh trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 475.
[6] Đỗ Minh Hợp (và những người khác) (2006), Đại cương lịch sử triết học phương Tây, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 401.
[7] Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, NXB Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, tr. 96.
[8] Mác- Ănghen , Toàn tập , tập 16 tr.17; tập 17 tr.26
[9] Hồ Chí Minh toàn tập, t.10, Nxb CTQG,Hà Nội, 1996, tr. 716 – 717.
[10] Chính trị học đại cương, NXB Tp. Hồ Chí Minh, tr. 479.
[11] Các lý do thúc đầy Đảng chọn mô hình nhà nước pháp quyền: (1) duy trì truyền thống tốt đẹp và lâu đời của người Việt; (2) đấu tranh chống lại quan liêu, bao cấp và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền với Nhà nước; (3) xây dựng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; (4) đề cao quyền tự do, dân chủ của người dân trong đất nước. Xem: http://tailieutonghop.com/free/tinh-tat-yeu-hay-vi-sao-viet-nam-phai-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen_f176-9875.html

[12] Lê Minh Thông (2013), “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – mọi mô hình Nhà nước pháp quyền tách rời bản chất này đều xa lạ và không thực tế”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, xem: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=276442

[13]  Người ta định nghĩa phương thức lãnh đạo là: là một hệ thống các hình thức, biện pháp, phương pháp mà Đảng sử dụng để tác động đến đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra. Xem: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, http://www.saigonminhluat.com/index.php?option=com_content&view=article&id=2773:s-lanh-o-ca-ng-i-vi-nha-nc-phap-quyn-xa-hi-ch-ngha&catid=359:ly-luan-nha-nuoc-va-phap-luat&Itemid=546
[14] Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX) nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm tránh cả hai khuynh hướng: hoặc buông lỏng sự lãnh đạo, hoặc bao biện, làm thay, nhất là phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước (Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 158). Điều đó khẳng định Đảng phải tăng cường thế lực thật mạnh mẽ, đổi mới mạnh về phương thức để xây dựng Nhà nước vững mạnh.
[15] Tạ Quang Đạo (2013), “Phát huy dân chủ, đề cao quyền làm chủ của nhân dân – thực tế không thể phủ nhận ở Việt Nam”, Tạp chí Đảng Cộng sản Việt Nam, xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2013/20869/Phat-huy-dan-chu-de-cao-quyen-lam-chu-cua-nhan-dan.aspx
[16] Lenin toàn tập, tập 6, NXB Sự thật, tr.373 (tiếng Nga). Dẫn lại theo: Thái Vĩnh Thắng (2009), Giáo trình luật hiến pháp Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 42.
[17] Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 137 – 138.


[18] Lê Đinh Mùi (2013), “Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước”, Tạp chí Cộng sản, xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen/2012/19107/Phat-huy-vai-tro-lanh-dao-cua-Dang-trong-nang-cao-hieu.aspx
[19] Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, xem: http://vov.vn/Chinh-tri/Phat-bieu-cua-Tong-Bi-thu-be-mac-Hoi-nghi-Trung-uong-4-khoa-XI/195969.vov