Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

hiệp định Paris

CHÍNH PHỦ******
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: Khong so 04
Pari, ngày 27 tháng 01 năm 1973


HIỆP ĐỊNH
VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM CHÍNH PHỦ VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ CHÍNH PHỦ HOA KỲ
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam,
Chính phủ Hoa kỳ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam cộng hoà,
Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần cũng cố hoà bình ở châu Á và thế giới,
Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây:
Chương 1
CÁC QUYỀN DÂN TỘC CƠ BẢN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM
Điều 1
Hoa kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận.
Chương 2
CHẤM DỨT CHIẾN SỰ - RÚT QUÂN
Điều 2
Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ hai mươi bốn giờ (giờ GMT) ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba.
Cùng ngày giờ nói trên, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa kỳ chống lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hoa kỳ sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc ViệtNam ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực.
Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là vững chắc và không thời hạn.
Điều 3
Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc
Bắt đầu từ khi ngừng bắn:
a) Các lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác đồng minh của Hoa kỳ và của Việt Nam cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 16 sẽ quy định những thể thức.
b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 17 sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.
c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính quy của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và triệt để tuân theo những điều quy định sau đây:
- Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;
- Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.
Điều 4
Hoa kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Điều 5
Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a). Cố vấn của các nước nói trên cho tất cả các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó.
Điều 6
Việc huỷ bỏ tất cả căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa kỳ và của các nước khác đã nói ở điều 3 (a) sẽ được hoàn thành trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này.
Điều 7
Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến khi thành lập chính phủ nói ở điều 9 (b) và điều 14 của Hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỷ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
Hai bên miền Nam Việt Nam được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự giám sát của Ban liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.
Chương 3
VIỆC TRAO TRẢ NHÂN VIÊN QUÂN SỰ BỊ BẮT,THƯỜNG DÂN NƯỚC NGOÀI BỊ BẮT VÀ NHÂN VIÊN DÂN SỰ VIỆT NAM BỊ BẮT VÀ GIAM GIỮ
Điều 8
a) Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài bị bắt nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này.
b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người chết, nhầm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu.
c) Vấn đề trao trả các nhân viên quân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam sẽ so hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày hai mươi tháng bảy năm một nghìn chín trăm năm mươi tư. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó trên tinh thần hòa giải và hoà hợp dân tộc, nhầm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắn hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực.
Chương 4
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM
Điều 9
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa kỳ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây:
a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.
b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.
c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với miền Nam Việt Nam.
Điều 10
Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực
Điều 11
Ngay sau khi ngừng bắn hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:
- Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;
- Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.
Điều 12
a) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lâp Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhậm chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về việc thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ kí một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và sẽ làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ.
b) Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ đôn đốc hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng quốc gia hoà giải và hòa hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong điều 9 (b) và quy định thủ tục và thể thức của cuộc tổng tuyển cử này. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thoã thuận. Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ quy định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận.
Điều 13
Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có các biện pháp giảm số quân của họ và phục viên số quân đã giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành việc đó càng sớm càng tốt.
Điều 14
Miền Nam Việt Nam sẽ thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập. Miền Nam Việt Nam sẵn sàng thiết lập quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và nhận viện trợ kinh tế, kỷ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị. Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói trong điều 9 (b)
Chương 5
VẤN ĐỀ THỐNG NHẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ QUAN HỆ GIỮA MIỀN BẮC VÀ MIỀN NAM VIỆT NAM
Điều 15
Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thoả thuận.
Trong khi chờ đợi thống nhất:
a) Giới tuyến quân sự giữa hai miền tại vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ, như quy định trong đoạn 6 của Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ ne vơ năm 1954.
b) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến quân sự tạm thời.
c) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng nhằm lặp lại quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trong các vấn đề sẽ được thương lượng, có vấn đề thể thức đi lại dân sự qua giới tuyến quân sự tạm thời.
d) Miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào và không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Việt Nam quy định.
Chương 6
CÁC BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ, UỶ BAN QUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT, HỘI NGHỊ QUỐC TẾ
Điều 16
a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này:
- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;
- Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này;
- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam;
- Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa Kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);
- Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);
- Điều 8 (a) về việc trao trả các nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt;
- Điều 8 (b) về việc các bên giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu.
b) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát.
c) Ban liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động trong thời hạn sáu mươi ngày, sau khi việc rút quân của Hoa kỳ và quân của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a) và việc trao trả nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt đã hoàn thành.
d) Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phương tiện hoạt động và chi phí của Ban liên hợp quân sự bốn bên.
Điều 17
a) Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban liên hợp quân sự hai bên có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều khoản sau đây của Hiệp định này:
- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;
- Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam;
- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;
- Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả những điều khoản khác của điều này.
- Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam.
- Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm.
b) Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.
c) Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban liên hợp quân sự hai bên sẽ thoả thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hoà bình ở miền Nam Việt Nam.
Điều 18
a) Sau khi kí kết Hiệp định này, thành lập ngay Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.
b) Cho đến khi Hội nghị quốc tế nói ở điều 19 có những sắp xếp dứt khoát, Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này:
- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;
- Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Hoa kỳ và của các nước ngoài khác nói trong điều này;
- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam;
- Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân đội của Hoa kỳ và quân đội của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);
- Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác đã nói ở điều 3 (a);
- Điều 8 (a) về việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt.
Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm những nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó.
c) Cho đến khi Hội nghị quốc tế có những sắp xếp dứt khoát, Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Namnhững vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều khoản sau đây của Hiệp định này:
- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;
- Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam;
- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình;
- Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và tất cả các điều khoản khác của điều này;
- Điều 8 (c) về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam;
- Điều 9 (b) về tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam;
- Điều 13 về việc giảm số quân của hai bên miền Nam Việt Nam và phục viên số quân đã giảm.
Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ đó.
d) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba lan, Canada, Hungari, Inđônêxia. Các thành viên của Uỷ ban quốc tế sẽ luân phiên làm Chủ tịch trong từng thời gian do Uỷ ban quốc tế quy định.
e) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam.
f) Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí.
g) Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều khoản liên quan đến bốn bên nói trong điều 18 (b), Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Ủy ban đối với các điều khoản đó đã hoàn thành. Đối với các điều khoản liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều 18 (c), Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9 (b).
h) Bốn bên thoả thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí của Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa Ủy ban quốc tế và Hội nghị quốc tế sẽ do Uỷ ban quốc tế và Hội nghị quốc tế thoả thuận.
Điều 19
Các bên thoả thuận về việc triệu tập một Hội nghị quốc tế trong vòng ba mươi ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hoà bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; góp phần vào hoà bình và bảo đảm hoà bình ở Đông dương.
Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, thay mặt các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam, sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị quốc tế này: Cộng hòa nhân dân Trung hoa, Cộng hoà Pháp, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, Liên hiệp Vương quốc Anh, bốn nước trong Uỷ ban quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký liên hợp quốc, cùng với các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam.
Chương 7
ĐỐI VỚI CAMPUCHIA VÀ LÀO
Điều 20
a) Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam phải triệt để tôn trọng Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 về Campuchia và Hiệp định Giơ ne vơ năm 1962 về Lào đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước đó. Các bên phải tôn trọng nền trung lập của Campuchia và Lào.
Các bên tham gia Hội nghị Pari về Việt Nam cam kết không dùng lãnh thổ của Campuchia và lãnh thổ của Lào để xâm phạm chủ quyền và an ninh của nhau và của các nước khác.
b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Campuchia và Lào, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.
c) Công việc nội bộ của Campuchia và Lào phải do nhân dân mỗi nước này giải quyết không có sự can thiệp của nước ngoài.
d) Những vấn đề liên quan giữa các nước Đông dương sẽ do các bên Đông dương giải quyết, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệt vào công việc nội bộ của nhau.
Chương 8
QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ HOA KỲ
Điều 21
Hoa kỳ mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hoà giải với Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông dương. Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hoà và toàn Đông dương.
Điều 22
Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam và việc thực hiện triệt để Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng hoà và Hoa kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hoà bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hoà bình lâu dài ở Đông dương và Đông nam Á.
Chương 9
NHỮNG ĐIỀU KHOẢN KHÁC
Điều 23
Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ có hiệu lực khi văn kiện này được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ ViệtNam dân chủ cộng hoà và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ ký và khi một văn kiện cùng nội dung được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Hoa kỳ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Việt Nam cộng hoà ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của Hiệp định.
Làm tại Pari ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh đều là những bản chính thức và có giá trị như nhau.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ VIỆT NAM
DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO




Nguyễn Duy Trinh
THAY MẶT CHÍNH PHỦ HOA KỲ
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO





W. RÂU - GIƠ

Hiệp định Paris - dấu son lịch sử

Hiệp định Paris - dấu son lịch sử
Nguyệt san Pháp luật

Lê Phong Lan
Trước khi đi vào đàm phán những nội dung chính yếu của hiệp định, đã có một cuộc đấu trí căng thẳng giữa ta và Mỹ để thống nhất cách thức ngồi vào bàn hội nghị thế nào.

Bài 1: Đường đến Paris


LTS: Sau quá trình đấu tranh ngoại giao cam go và căng thẳng kết hợp nhiều yếu tố quân sự, chính trị, cuối cùng bản hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết tại Paris ngày 27-1-1973, mở đường cho dân tộc Việt Nam giành lại độc lập và thống nhất nước nhà.
Nhân kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris (27-1-1973 _ 27-1-2013), Pháp Luật TP.HCM trân trọng giới thiệu loạt bài của tác giả Lê Phong Lan nói về chiến thắng không chỉ trên mặt trận ngoại giao xung quanh cuộc đàm phán lịch sử này.
Sự kiện tết Mậu Thân 1968 đã trực tiếp buộc chính quyền Lyndon B. Johnson phải xuống thang chiến tranh và tìm kiếm một giải pháp chính trị để rút khỏi cuộc chiến tại Việt Nam. Từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên cho đến khi hội nghị bốn bên chính thức diễn ra tại Paris là một câu chuyện dài đấu trí, đấu lý căng thẳng, kiên trì và bền bỉ giữa ta và Mỹ.
Bước ngoặt làm đảo lộn toan tính của Mỹ
Ngay từ thời điểm năm 1967, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã chủ trương đẩy mạnh mặt trận ngoại giao, kết hợp vừa đánh vừa đàm để chuyển sang giai đoạn mới của cuộc chiến. Phía ta đã nhiều lần đề nghị Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, tiến tới thương lượng giữa hai bên. Về phía Mỹ, một số nhân vật cấp cao cũng bắt đầu nhận thấy sự cần thiết của con đường thương lượng hòa bình.
“Có độ 4-5 nhân vật cấp cao tỉnh táo, thức thời. Họ đã sớm nghĩ tới việc Mỹ nên rút khỏi cuộc chiến này và rằng cần chấm dứt ném bom ở miền Bắc Việt Nam để đi vào đàm phán, tìm cách đưa quân Mỹ về nước. Người đầu tiên nghĩ đến điều này là McNamara. Người thứ hai là một giới chức tình báo Mỹ” - ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao chia sẻ.
Thế nhưng Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson lúc đó lại không phải là người thức thời. Ông ta đã bỏ qua những lời cảnh tỉnh sáng suốt đó.
Với quyết tâm thực hiện một đòn chiến lược quyết định, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta, cũng trong năm 1967, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng đã phê chuẩn một kế hoạch tuyệt mật về “Tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968”.
Quang cảnh Hội nghị Paris. Ảnh: TƯ LIỆU
Đêm 29 rạng ngày 30-1-1968, quân giải phóng đã đồng loạt tấn công vào 5/6 thành phố lớn, 37 thị xã, 64 thị trấn/quận lỵ trên toàn miền Nam, mở đầu cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968. Đây được xem là một đòn táo bạo, bất ngờ, choáng váng đối với Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH).
PGS-TS-Đại tá Hồ Khang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, cho rằng: “Mục tiêu đích thực lúc đó là chúng ta đánh một đòn chiến lược để buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Chúng ta không bao giờ chấp nhận ngồi hội đàm với Mỹ khi mà bom đạn còn dội lên miền Bắc”.
Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 được các nhà nghiên cứu đánh giá là một sự kiện lịch sử vĩ đại vì nó đã tạo ra bước ngoặt lịch sử của cuộc chiến tranh, làm đảo lộn mọi chiến lược, toan tính của phía Mỹ.
Sau đợt 1 tết Mậu Thân, ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson đã đơn phương tuyên bố hạn chế hoạt động ném bom phá hoại miền Bắc Việt Nam và chính thức gợi ý về một giải pháp ngoại giao, đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).
Những cuộc tiếp xúc đầu tiên
Thời điểm Tổng thống Johnson đưa ra lời đề nghị trên, ta đứng trước sức ép rất lớn từ các nước thân cận (về việc nên hay không nên nhận lời đàm phán với Mỹ vào lúc đó), cũng như việc họ muốn có vai trò trong sự kiện lịch sử này như đã từng xảy ra với Hiệp định Genève.
Tôn trọng ý kiến của các nước anh em nhưng đồng thời vẫn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng chủ trương phải tự mình thương lượng với Mỹ và đã tính toán nhiều khả năng. “Không chấp nhận cũng không được, mà chấp nhận cũng không xong. Ta mới tìm một phương án rất hay, phương án nửa chừng. Không dừng, không bác, mà chấp nhận ngồi tiếp xúc. VNDCCH sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với Mỹ để bàn tiếp việc Mỹ chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc” - nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Huỳnh nhớ lại.
Trong những cuộc tiếp xúc bí mật mang tính “tiền trạm”, hai bên đã có những tranh luận kéo dài về việc lựa chọn địa điểm tổ chức hội nghị. Cuối cùng, ngày 2-5-1968, hai bên thống nhất chọn Paris - thủ đô nước Pháp làm nơi tổ chức cuộc đàm phán lịch sử theo đề nghị của phía VNDCCH. Bà Nguyễn Thị Bình - nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chia sẻ: “Paris có thể nói là trung tâm của châu Âu, đầu mối về thông tin quốc tế rất quan trọng, rất thuận lợi để cả thế giới theo dõi cuộc đàm phán. Nơi đây, chúng ta có rất nhiều bạn bè trong nhân dân Pháp như Đảng Cộng sản Pháp, những phong trào thanh niên, phụ nữ, công đoàn… ủng hộ chúng ta. Phong trào kiều bào ở đây cũng rất mạnh. Có lẽ, phía Mỹ nghĩ rằng Paris ở châu Âu và Paris là thủ đô của nước Pháp đã từng thống trị Việt Nam nên thuận lợi cho họ. Nhưng mà chính ra nơi ấy lại thuận lợi cho chúng ta”.
Ngày 13-5-1968, cuộc họp chính thức giữa hai bên đã diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế trên phố Kléber, Paris. Về phía Chính phủ VNDCCH, dẫn đầu là trưởng đoàn Xuân Thủy (Bộ trưởng Ngoại giao), phó đoàn Hà Văn Lâu cùng nhiều chuyên gia và chuyên viên trên các lĩnh vực khác nhau. Đến ngày 3-6, ông Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm cố vấn đặc biệt đến Paris tham dự hội nghị. Phía Mỹ, hai nhà ngoại giao kỳ cựu là Averell Harriman và Cyprus Vance được giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn và phó đoàn.
Nhắc về những ngày đầu tiên của hội nghị Paris,ông Trịnh Ngọc, nguyên trợ lý trưởng đoàn đại biểu Chính phủ VNDCCH tại Hội nghị Paris, nói đây là giai đoạn đàm phán để giải quyết những vấn đề cơ bản trước khi bước vào giai đoạn tiếp theo. “Từ ngày 13-5-1968, lập trường kiên quyết của Việt Nam là Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện ném bom miền Bắc thì chúng ta mới bàn những vấn đề khác. Còn phía Mỹ, họ đòi thảo luận cả gói, chính trị, quân sự cùng một lúc. Ta không đồng ý. Cứ dằng dai như vậy, đến ngày 30-10-1968, Tổng thống Johnson mới tuyên bố chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc”.
Hai bên và bốn bên
Ngoài vấn đề then chốt buộc Mỹ chấm dứt hoàn toàn việc ném bom phá hoại miền Bắc, hai bên cũng có những tranh cãi quyết liệt về thành phần các đoàn tham dự đàm phán trong giai đoạn tiếp theo. Cuộc đấu tranh để khẳng định hội nghị bốn bên hay hai bên mang ý nghĩa chính trị rất quan trọng, đặc biệt là trước dư luận thế giới.
Ông Thái kể: “Lập luận của ta là hội nghị này bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nếu không có đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN), chúng ta không thể thảo luận được vấn đề chấm dứt chiến tranh. Miền Bắc không thể đại diện cho miền Nam mà phải có mặt của đoàn miền Nam”. Ngược lại, phía Mỹ yêu cầu phải có đại diện của Chính phủ VNCH tham dự hội nghị. Cuối cùng, hai bên cũng đi đến thống nhất về thành phần tham dự hội nghị, gồm bốn đoàn: VNDCCH, MTDTGPMNVN, Mỹ và VNCH.
Trong lúc đấu tranh căng thẳng, cả bàn đàm phán cãi tay đôi quyết liệt, đập bàn đập ghế… thì trưởng đoàn Xuân Thủy lại điềm tĩnh ngồi viết mấy câu thơ tặng cho bà Nguyễn Thị Bình - người được báo chí phương Tây phong tặng biệt danh “Nữ hoàng Việt cộng” với dáng vẻ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng...
Do lập trường và quan điểm khác nhau, những phiên họp cuối năm 1968 đầu năm 1969, tranh cãi của hai bên chỉ tập trung vào câu chuyện hình dáng cái bàn họp mà các đoàn sẽ ngồi đàm phán. Phía Việt Nam cho đây là cuộc đàm phán bốn bên nên đề nghị một bàn vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh. Phía Mỹ khăng khăng đàm phán hai bên nên đề nghị một bàn hình chữ nhật, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, VNDCCH và MTDTGPMNVN ngồi một bên...
Cuối cùng, đến 15-1-1969, hai bên thống nhất chọn bàn tròn, kèm hai bàn chữ nhật dành cho thư ký, theo gợi ý của vị đại sứ Liên Xô. Với kiểu bàn này, hiểu theo bốn bên cũng được mà hai bên cũng xong. Sau này, khi bước vào đàm phán, hai đoàn ta ngồi tách biệt thành hai đoàn độc lập. Riêng đoàn Mỹ và đoàn chính quyền Sài Gòn ngồi sát nhau như một. Cách ngồi này có lợi cho ta mà bất lợi cho họ trước dư luận thế giới.
Ông Vũ Dương Huân, Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao - Bộ Ngoại giao, phân tích: “Không phải ngay sau khi kết thúc giai đoạn hai bên là có hội nghị bốn bên mà phải chờ đến ngày 25-1-1969 thì mới bắt đầu. Vì sao lại phải mất hai tháng trời để khai mạc hội nghị bốn bên? Đây là một vấn đề chính trị. Phía Mỹ tuy đã đồng ý MTDTGPMNVN dự hội nghị Paris nhưng vẫn không thừa nhận sự tồn tại của Mặt trận”.
Sau những tranh cãi gay gắt và bất đồng về quan điểm, lập trường, cuối cùng ta và Mỹ cũng đã đạt được những thỏa thuận chung để bước vào hội đàm Paris, bắt đầu một cuộc đàm phán chưa từng có tiền lệ trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Bài 2: Hình ảnh Việt Nam tại Paris

Hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng…

Trong lịch sử ngoại giao thế giới và ngoại giao Việt Nam, chưa từng có một hình thái đấu tranh đặc biệt như thời kỳ ở Paris. Trên bàn đàm phán công khai, rõ ràng có hai phái đoàn độc lập, đấu tranh trực diện với Mỹ và Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Nhưng thực chất hai đoàn đó lại là một.
Phân vai
Ông Trịnh Ngọc Thái, nguyên trợ lý trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hội nghị Paris, phân tích: “Vì cả hai đoàn đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất ở trong nước (của Đảng, Bộ Chính trị và Bác Hồ). Ở trong nước chỉ đạo có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, đoàn VNDCCH làm gì, đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) VN làm gì”. Và trên hết, hai đoàn đều có chung một mục tiêu quan trọng là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam (CPCMLT CHMN) VN, cho rằng đây là một chủ trương, sáng kiến tài tình, mang tính chiến lược và sách lược của Đảng ta. Hai phái đoàn dưới hai góc độ khác nhau sẽ phát huy được sức mạnh của mình trên mặt trận đối ngoại rộng lớn và sống động, để phục vụ tốt nhất cho mục đích chung. Đoàn VNDCCH đại diện cho nhân dân miền Bắc XHCN, gắn bó với khối XHCN, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cộng sản quốc tế. Còn đoàn MTDTGPMN VN đại diện cho các tầng lớp nhân dân miền Nam đang trực tiếp cầm súng chiến đấu, với một đường lối ngoại giao mềm dẻo, hòa bình và trung lập. Nhờ đó, bên cạnh sự ủng hộ của khối XHCN, chúng ta còn tranh thủ được cả các tầng lớp nhân dân thế giới. “Đó là những người tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, công lý, kể cả những người sợ cộng sản hay những người không ưa CNXH thì vẫn ủng hộ ta. Điều đó đã làm tăng sức mạnh của chúng ta về chính trị, về ngoại giao. Và cái đó có thể tác động đến chiến trường trong nước của chúng ta” - bà Bình nhấn mạnh.
Bà Nguyễn Thị Bình trong vòng tay bạn bè quốc tế. Ảnh: TƯ LIỆU
Ngày 6-6-1969, ngoại giao miền Nam được nâng cao vị thế trên bàn đàm phán khi CPCMLT CHMNVN được thành lập. Về ý nghĩa ra đời của CPCMLT, bà Bình chia sẻ: “Nó không chỉ phản ánh sự lớn mạnh của cuộc đấu tranh trong nước mà còn tạo cho ta một cái thế mới, ta có đầy đủ cơ sở pháp lý để ngang hàng với ba bên còn lại trên bàn đàm phán. Từ đó nó rất thuận lợi cho ta không chỉ trong việc tranh thủ sự ủng hộ của các đoàn thể mà còn với cả chính phủ các nước, đến khi giải phóng miền Nam đã có 65 nước công nhận CPCMLT”.
Từ sự phân công, phối hợp nhịp nhàng giữa hai phái đoàn ta trong toàn bộ quá trình đàm phán, nhiều sử gia nhận xét rằng ngoại giao hai miền Nam-Bắc lúc ấy cực kỳ ăn ý. Ăn ý từ việc xác định nhiệm vụ, phương pháp đàm phán cho từng thời kỳ, từng phiên họp, từng bài phát biểu công khai của các trưởng đoàn, trong họp báo... đến các hoạt động ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân bên lề hội nghị. Tất cả giải pháp thương lượng luôn do đoàn CPCMLT đề xuất và công bố.
Ngoại giao Xuân Thủy
Trong các cuộc họp công khai bốn bên, cố vấn Lê Đức Thọ thường không tham dự. Vai trò “nhạc trưởng” được giao cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thủy - Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH. Giữa lúc phía Mỹ liên tục thay đổi các trưởng đoàn thì ông Xuân Thủy luôn tỏ rõ là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, sắc sảo và không thể thay thế.
Khi nhắc đến vị trưởng đoàn đặc biệt này, ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà nghiên cứu lịch sử ngoại giao, cho rằng đây là một con người rất lạ. Lạ vì ông từng đảm nhiệm rất nhiều vị trí, từ Mặt trận, Quốc hội đến làm thơ, viết báo, chủ nhiệm báo, từ ngoại giao nhân dân đến ngoại giao nhà nước, rồi bước vào bàn đàm phán... “Nhưng ấn tượng nhất vẫn là phong thái của ông. Ông Xuân Thủy tính tình rất điềm đạm, lúc nào cũng tỉnh táo. Trong lúc đấu tranh căng thẳng, cả bàn đàm phán cãi tay đôi quyết liệt, đập bàn đập ghế, ông ấy lại điềm tĩnh ngồi viết mấy câu thơ tặng cho bà Nguyễn Thị Bình”.
Nụ cười của Bộ trưởng Xuân Thủy trước ống kính truyền hình quốc tế. Ảnh: LIFE
Đã 40 năm trôi qua nhưng ông Hà Đăng - người phát ngôn của Đoàn đại biểu CPCMLT CHMNVN tại Hội nghị Paris vẫn còn nhớ như in phong thái thân thiện, lịch thiệp của nhà ngoại giao Xuân Thủy. “Trước kia nhiều người cứ nghĩ cộng sản cứng nhắc thế này thế nọ. Nhưng khi gặp ông Xuân Thủy rồi thì họ phải thay đổi cái nhìn. Đặc biệt, nụ cười thân thiện của ông đã trở thành một “thương hiệu” không thể nào quên với những ai từng tham dự Hội nghị Paris. Nụ cười ấy dường như không còn của riêng ông nữa mà đã trở thành nụ cười tiêu biểu của nhân dân Việt Nam” - ông Hà Đăng nhớ lại.
Trí tuệ cũng như tài đối đáp sắc sảo, bản lĩnh, uyên thâm của Trưởng đoàn Xuân Thủy trong các cuộc họp hội nghị công khai, đấu tranh trước dư luận, báo chí, trong những cuộc tiếp xúc ngoại giao cũng trở thành những ấn tượng, giai thoại đặc sắc. Ông Nguyễn Khắc Huỳnh kể: “Trong một cuộc họp, trưởng đoàn đàm phán Mỹ Averell Harriman nói: “Tôi không bàn chuyện hai bên rút quân, không rút quân nữa. Tôi xin hỏi bộ trưởng (Xuân Thủy) một câu thôi, có quân miền Bắc ở miền Nam không? Bộ trưởng cho tôi một chữ có hay không?”. Ông Xuân Thủy không trả lời có hay không mà trả lời thế này: “Bảo vệ đất nước là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam. Người dân Việt Nam có quyền chiến đấu ở bất kỳ nơi nào trên đất nước mình””.
“Nữ hoàng Việt cộng”
Trong bốn đoàn đàm phán tham dự Hội nghị Paris, chỉ duy nhất đoàn CPCMLT CHMNVN có thành viên nữ và lại được dẫn dắt bởi một phụ nữ. Chính vì thế đoàn miền Nam luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của cánh báo chí và dư luận quốc tế lúc bấy giờ. Bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: “Đoàn ta có năm trong số 15 thành viên là phụ nữ. Tất cả đều là những phụ nữ giỏi và xinh đẹp. Điều này cũng tạo một ấn tượng tốt trong dư luận”.
Cảnh bên ngoài Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, thủ đô Paris (Pháp) khi hai đoàn VNDCCH và CPCMLT CHMNVN vào họp. Ảnh: TƯ LIỆU
Ngay từ lúc đặt chân đến Paris, bà Nguyễn Thị Bình đã trở thành tâm điểm chú ý của dư luận với biệt danh “nữ hoàng Việt cộng” mà báo chí phương Tây đã phong tặng. Ban đầu, bà tham gia với tư cách trưởng đoàn trù bị, rồi phó đoàn của MTDTGPMN VN, về sau bà được bổ nhiệm làm bộ trưởng ngoại giao - trưởng đoàn đàm phán của CPCMLT. Bà là người phụ nữ tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của các tầng lớp nhân dân miền Nam, của phụ nữ miền Nam, từ mái tóc búi “giống mẹ của tôi” như nhiều kiều bào nhận xét, đến bản lĩnh và trí tuệ can trường và tinh thần quật khởi, anh dũng của người miền Nam.
Nhà văn Nguyên Ngọc, trong lời giới thiệu cuốn hồi ký của bà Bình, đã nhận xét: “Thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một VN đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin...”.
Trong suốt gần năm năm theo đuổi cuộc đàm phán, bà Bình và các thành viên của đoàn CPCMLT đã hoàn thành sứ mạng của mình trên mặt trận ngoại giao nhân dân, làm cho thế giới hiểu rõ hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Ông Nguyễn Khắc Huỳnh nhớ lại: “Trong tất cả các vị trưởng đoàn, người được đi nhiều nước và được mời nhiều nhất là bà Bình. Chính nhờ những chuyến đi đó mà bà Bình đã nắm bắt được cơ hội, vận động kết nạp CPCMLT làm thành viên của phong trào Không liên kết”.
Chính sự kết hợp hài hòa, ăn ý giữa hai phái đoàn đàm phán, giữa ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân, ngoại giao hai miền Nam-Bắc, đặc biệt qua hình ảnh, nhân cách và trí tuệ của hai vị trưởng đoàn Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình đã đem lại sự ủng hộ to lớn của các tầng lớp nhân dân thế giới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta, góp phần vào thắng lợi của cuộc đàm phán Paris lịch sử.

Bài 3: Vừa đánh vừa đàm
Sau khi ta giải phóng Quảng Trị, chính quyền Sài Gòn quyết tâm tái chiếm nơi này để mặc cả trên bàn đàm phán...
Khi đến Paris dự đàm phán, Mỹ vẫn còn ở thế mạnh. Hội nghị Paris vì thế ngoài việc đấu trí trên bàn đàm phán còn phải phụ thuộc rất nhiều vào cuộc chiến đấu cam go, quyết liệt ở chiến trường trong nước. Đây được xem là đỉnh cao của nghệ thuật vừa đánh vừa đàm của dân tộc ta.
Làm phá sản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”
Cuối năm 1968, Richard Nixon đắc cử tổng thống Mỹ, nối tiếp vai trò của chính quyền Lyndon B. Johnson trên bàn đàm phán Paris. Để cứu vãn uy thế của nước Mỹ, Nixon đưa ra khẩu hiệu “hòa bình trong danh dự”, với tham vọng đàm phán, rút quân trên thế thắng tại bàn Hội nghị Paris.
Để thực hiện tham vọng trên, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” tại miền Nam Việt Nam, thí điểm bằng cuộc hành quân quy mô mang tên “Lam Sơn 719”. Phía Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã huy động đến bốn vạn quân, với sự hỗ trợ hỏa lực tối đa của Mỹ, mở cuộc hành quân tấn công vào Hạ Lào từ ngày 31-1-1971, với tham vọng phá vỡ hệ thống hậu cần của ta và cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh.
Sau gần hai tháng triển khai, cuộc hành quân này đã bị quân và dân ta phối hợp với nước bạn Lào đánh bại hoàn toàn. Bước đầu mong muốn giành ưu thế trên bàn đàm phán của Mỹ và VNCH đã bị phá sản.
Thiếu tướng-anh hùng LLVTND Lê Mã Lương, cựu binh Sư đoàn 304 từng tham chiến tại chiến trường Đường 9-Quảng Trị, chia sẻ: “Đây là một trong những chiến dịch phản công mẫu mực và ít hao người tốn của nhất trong số các chiến dịch của ta tổ chức từ trước tới nay. Với chiến thắng này, ta đã đánh quỵ và gần như làm sụp đổ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ ngụy”.
Cố vấn Lê Đức Thọ với nụ cười thắng lợi tại Hội nghị Paris. Ảnh: TƯ LIỆU
Giữ thành cổ Quảng Trị bằng mọi giá
Tiếp nối đà thắng lợi, để tạo thế và lực cho ta bước vào “giai đoạn nước rút” của đàm phán Paris trước thềm bầu cử tổng thống Mỹ, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định mở chiến dịch Xuân-Hè 1972 trên toàn chiến trường miền Nam. Đây được xem là cuộc tổng tấn công chiến lược của quân dân ta trên các hướng chiến trường trọng điểm Trị Thiên, Đông Nam Bộ, Bắc Tây Nguyên, bằng các chiến dịch hợp đồng binh chủng trên quy mô lớn, mở màn từ ngày 30-3-1972.
Đến ngày 1-5-1972, Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng. Sự kiện này đã gây rúng động cả thế giới.
Để cứu vãn tình thế, phía VNCH, dưới sự yểm trợ của Mỹ, quyết tâm tái chiếm Quảng Trị trước ngày 13-7-1972 để mặc cả trên bàn đàm phán. Trận chiến 81 ngày đêm giữ vững thành cổ Quảng Trị vì thế diễn ra quyết liệt, giằng co giữa hai phía, trở thành một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong cuộc chiến chống Mỹ.
Thiếu tướng Lê Mã Lương nói do tầm quan trọng của trận đánh này trên bàn đàm phán mà ta quyết tâm phải giữ vững thành cổ Quảng Trị bằng mọi giá. Mức độ tàn khốc của mặt trận này biểu hiện qua sự hy sinh, mất mát lớn về quân số. “Mỗi ngày chúng ta mất một đại đội. 81 ngày chúng ta mất 81 đại đội”. Ông khẳng định: “Trận đánh này rất đặc biệt. Chưa bao giờ có một trận đánh mà gần như toàn bộ Bộ Chính trị tập trung theo dõi từng bước đi của từng trung đoàn, sư đoàn như trận đánh này. Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã có những bức điện trực tiếp chỉ thị cho cấp trung đoàn”.
Buộc Mỹ phải đàm phán nội dung thực chất
Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT CHMNVN), kể những năm tháng ở Paris, phái đoàn ta thường theo dõi rất sát sao tình hình chiến trường trong nước để quyết định phương thức đấu tranh trên bàn đàm phán. Nhưng lúc đó điện đàm giữa Paris-Việt Nam có phần hạn chế nên phái đoàn ta thường phải theo dõi thông tin qua các báo đài, hãng thông tấn quốc tế.
Hai đoàn VNDCCH và CPCMLT CHMNVN tại Paris. Ảnh: TƯ LIỆU
Khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 mở màn, đàm phán Paris lâm vào bế tắc. Trưởng đoàn Xuân Thủy chủ trương mở tiệc chiêu đãi để tiếp xúc, tìm hiểu dư luận, hỗ trợ cho chiến trường. Ông Hà Đăng, người phát ngôn của Đoàn đại biểu CPCMLT CHMNVN tại hội nghị Paris, kể khi các nhà báo nước ngoài hỏi Trưởng đoàn Xuân Thủy về tình hình, diễn biến của Hội nghị Paris, ông đã ví von rằng: “Con kiến mà leo cành đa. Leo phải cành cụt leo ra leo vào. Con kiến mà leo cành đào. Leo phải cành cụt leo vào leo ra”. Có nhà báo hỏi vậy Việt Nam là con kiến hay cái cành cụt. Ông Xuân Thủy cười: “Chúng tôi không phải cành cụt, cũng không phải con kiến”. Câu trả lời hàm ý chỉ tình trạng tiến thoái lưỡng nan của phía Mỹ.
Nhớ lại thời điểm bước ngoặt của cuộc đàm phán, bà Nguyễn Thị Bình cho biết: “Các trận đánh ác liệt năm 1972, đặc biệt là trận đánh 81 ngày đêm ở Quảng Trị, đã thúc đẩy đàm phán đi vào thực chất. Và những đòn tấn công ngoại giao của ta cũng có tính đột phá. Phải nhớ là trên bàn ngoại giao ta đã đưa ra giải pháp 10 điểm, rồi bổ sung 8 điểm, 7 điểm, 2 điểm. Tất cả phối hợp lại thúc đẩy Mỹ đi vào thực chất vào tháng 8-1972. Hơn nữa, lúc bấy giờ cũng sắp bầu cử ở Mỹ nên họ cũng có những tính toán riêng”.
Theo ông Vũ Dương Huân, Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao - Bộ Ngoại giao, trong những cuộc đàm phán thời điểm cuối năm 1972, ta có sự linh hoạt, “biết chọn thời cơ và ngã bài đúng lúc”. Từ chỗ đặt vấn đề quân sự, chính trị cùng giải quyết song song đến việc chấp nhận để lại vấn đề chính trị cho người Việt Nam tự giải quyết, điều cốt yếu là Mỹ phải rút quân. Đến đầu tháng 10-1972, bản dự thảo hiệp định về cơ bản đã hoàn tất. Hai bên dự định sẽ ký tắt vào ngày 19 và ký chính thức vào ngày 26-10. Thế nhưng trên thực tế, điều này đã không xảy ra bởi sự lật lọng của Mỹ vào phút chót...
“Mỹ ra, ta ở lại”
Trong suốt quá trình đàm phán Paris, ta luôn kiên quyết giữ vững lập trường then chốt, đó là quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam có quyền ở lại chiến trường miền Nam.
PGS-TS-Đại tá Hồ Khang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, kể: Trước ngày cố vấn Lê Đức Thọ lên đường sang Paris, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn căn dặn: “Anh Thọ sang bàn gì thì bàn, anh mặc cả, thỏa hiệp gì thì thỏa hiệp nhưng dứt khoát tôi không cho rút một người lính nào ra khỏi miền Nam”. Chủ trương này về sau được cô đọng thành câu khẩu hiệu “Mỹ ra, ta ở lại”.
Phía Mỹ đưa ra điều kiện quân Mỹ rút thì quân miền Bắc cũng phải rút khỏi miền Nam. Ông Trịnh Ngọc Thái, nguyên trợ lý trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, kể: Trong một cuộc gặp riêng, cố vấn Henry Kissinger đưa ra một cuộn băng và một tấm ảnh bảo đây là bằng chứng không thể chối cãi về sự hiện diện, “xâm lược” của quân đội miền Bắc vào miền Nam. Rồi Kissinger đề nghị: “Tôi đồng ý rút nhưng mà các anh cũng phải rút”. Phản bác lại yêu cầu của cố vấn Mỹ, ta lập luận, nếu đặt giả thuyết bang Washington bị ngoại xâm, người của bang New York đến cứu bang Washington, hành động này sao có thể xem là “xâm lược”. Và rằng “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Chúng tôi là người Việt Nam, chúng tôi đánh nhau là việc của chúng tôi. Các anh là nước ngoài nên các anh phải rút”. Trước lập luận sắc bén này, phía Mỹ lâm vào thế bí và dư luận thế giới lại thêm hiểu về bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng không phải vì thế mà Mỹ nhượng bộ. Phải đợi đến khi quân dân ta giành được những thắng lợi về quân sự trên chiến trường ở cả hai miền Nam-Bắc thì Mỹ mới chấp nhận điều kiện then chốt này của ta.

Bài 4: Giành lấy chìa khóa hòa bình

Hẳn nhiên Hiệp định Paris đã mở cánh cửa hòa bình cho Việt Nam. Nhưng để có được chiếc chìa khóa này, dân tộc ta đã đổ biết bao máu xương để giành lấy nó…

Với những thành viên trong hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT CHMNVN) tham dự hội nghị Paris, thời điểm cuối năm 1972 trôi qua với rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Tháng 10-1972, tia hy vọng đã lóe lên sau bốn năm thương lượng trong bế tắc. Sau những cuộc gặp riêng bí mật giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, bản dự thảo hiệp định với những điều khoản có lợi cho ta đã được hai bên thống nhất và dự định sẽ ký tắt vào ngày 19-10, ký chính thức vào ngày 26-10-1972. Nhưng...
Bắn hạ hàng loạt “pháo đài bay” B52
Sau khi Richard Nixon tái đắc cử tổng thống, sự hy vọng chuyển thành thất vọng lớn. Phía Mỹ đòi thương lượng lại những điều khoản then chốt trong bản dự thảo hiệp định. Đàm phán lại đi vào bế tắc. Ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ - thành viên phái đoàn VNDCCH tại Paris, nhớ lại: “Chưa bao giờ cái tâm trạng trong đoàn nó uất ức, căm phẫn đến như thế. Anh Xuân Thủy tổ chức họp báo. Anh trả lời với các nhà báo rất chặt chẽ, rằng “tất cả tội ác không thể đổ cho Sài Gòn được. Đây là Mỹ không chịu ký, Mỹ không thành thật ký với chúng tôi. Mỹ đã không giữ lời hứa”. Chưa bao giờ anh Xuân Thủy lên án Mỹ mạnh mẽ như thế”.
Giữa lúc cố vấn Lê Đức Thọ lên đường trở về Hà Nội để báo cáo tình hình với Bộ Chính trị, Mỹ bắt đầu triển khai kế hoạch Linebacker II, với quyết tâm dùng B52 hủy diệt miền Bắc, hòng bắt ta phải nhân nhượng trên bàn đàm phán. Chiến dịch kéo dài từ ngày 18 đến 30-12-1972. Mỹ đã sử dụng đến 741 lượt B52 với sự hỗ trợ của 3.920 lượt máy bay chiến thuật, đã ném tổng cộng hơn 36.000 tấn bom hủy diệt xuống Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên..., trở thành một trong những cuộc không kích dữ dội nhất, với cường độ cao nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh.
Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đang đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris lịch sử. Ảnh: TƯ LIỆU
Không khuất phục trước sức mạnh và sự tàn bạo của không quân Mỹ, quân dân miền Bắc đã kiên cường chiến đấu trong “12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không”, gây chấn động cả thế giới.
Cuối cùng, “thần tượng B52” - pháo đài bay bất khả xâm phạm của Mỹ bị sụp đổ, khi vấp phải sự phản kích dữ dội của hệ thống phòng không mưu trí, sáng tạo của bộ đội ta. Qua 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52 (*).
Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của CPCMLT CHMNVN tại Paris, nói trước đó tất cả thành viên trong đoàn đều cảm thấy lo lắng, bạn bè các nước cũng lo lắng thay ta. “Nhưng sau khi nghe tin ta hạ được máy bay B52 thì ai nấy đều rất phấn khởi” - bà Bình nhớ lại.
Bản hiệp định lịch sử được ký kết
Sau chiến dịch không kích miền Bắc Việt Nam, Mỹ đề nghị nối lại các cuộc đàm phán mà họ đã đơn phương chấm dứt trước đây. Trong ký ức của ông Nguyễn Khắc Huỳnh, cuộc họp ngày 8-1-1973 khá đặc biệt, vì gần như toàn bộ thời gian cố vấn Lê Đức Thọ dành để lên án gay gắt tội ác của Mỹ. “Ngày mùng 9-1 là ngày chúng tôi vui nhất vì là ngày cơ bản kết thúc việc thương lượng. Hai bên đã thỏa thuận mọi điều khoản” - ông Huỳnh nói.
Ngày 23-1-1973, cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger đặt bút ký tắt vào văn bản hiệp định. Đến ngày 27-1-1973, bốn bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh (VNDCCH), Nguyễn Thị Bình (CHMNVN), William P. Rogers (Mỹ) và Trần Văn Lắm (VNCH) đã đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris, sau bốn năm tám tháng 16 ngày đàm phán với 202 phiên họp công khai và 24 cuộc gặp riêng.
Ngoại trưởng Mỹ William P. Rogers (hàng ngồi, thứ ba từ trái sang) đang ký vào Hiệp định Paris. Ảnh: TƯ LIỆU
Bà Nguyễn Thị Bình nhìn nhận: “Chúng ta khi ký Hiệp định Paris là đã biết thắng lợi. Nhưng mà thắng lợi như thế nào, mức độ nào còn là vấn đề. Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam, tương quan lực lượng đã thiên về ta rồi thì nay sẽ càng nghiêng hơn. Cái đó chúng ta chắc chắn. Cho nên chúng ta mới chấp nhận ở trong hiệp định điều căn bản là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi Việt Nam. Còn vấn đề chính trị, chúng ta gác lại”.
Còn ông Vũ Dương Huân, Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao - Bộ Ngoại giao, thì nhận định: “Hiệp định Paris được ký kết còn chứng minh một điều là: công lý, chân lý sẽ thắng. Nước Việt Nam tuy nhỏ bé, lạc hậu nhưng cũng có thể thắng Mỹ, có thể chiến thắng kẻ thù xâm lược mạnh hơn. Cái chiến thắng của Hiệp định Paris nó thúc đẩy hòa bình, độc lập và thống nhất nước nhà”.
Điều 1 Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam như được công nhận bởi Hiệp định Genève”.
Như vậy cuối cùng Mỹ đã buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà họ đã trì hoãn gần 20 năm, khi từ chối ký biên bản thực thi Hiệp định Genève.
Hai hiệp định, cùng một mục đích, có khác chăng là nó cách nhau gần 20 năm và đã được đánh đổi bằng sinh mạng của hàng triệu người Việt Nam. Và một điểm khác biệt rõ ràng nữa: Hiệp định Genève được các nước lớn thỏa thuận “trên lưng” chúng ta và Việt Nam buộc phải chấp nhận trong bối cảnh không thể khác; còn Hiệp định Paris do chính chúng ta thương lượng và quyết định về tương lai của dân tộc mình.
Nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Thành công của hội nghị Paris có sự đóng góp rất lớn của dư luận thế giới, của nhân dân Pháp và cả nhân dân Mỹ. Cuộc đấu tranh kiên trì, bền bỉ của nhân dân Việt Nam đã góp phần thức tỉnh lý tưởng đấu tranh vì hòa bình và công lý của nhân dân thế giới. Phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược đã phát triển sâu rộng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Đặc biệt là phong trào phản chiến dữ dội ở Mỹ đã có những tác động đến chính sách của chính quyền Mỹ. Bà Nguyễn Thị Bình cho rằng chúng ta phải biết ơn bạn bè thế giới đã đứng về phía ta trong những năm tháng sôi động đó.
Những tháng ngày đấu tranh ngoại giao tại Paris, hai phái đoàn ta đã nhận được sự hậu thuẫn rất lớn từ phong trào kiều bào ở Pháp. Không chỉ ủng hộ về mặt tinh thần, kiều bào còn tham gia tổ chức, hướng dẫn và giúp đỡ phái đoàn ta trong những cuộc mít tinh, tiếp xúc dư luận. Từ những người nấu ăn đến những người lái xe, phiên dịch cho tới tất cả những công việc mà kiều bào có thể đảm nhận được. Họ đồng thời cũng trở thành những “vệ tinh” tuyên truyền, phổ biến rộng rãi những quan điểm của phái đoàn ta, những thông tin về cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta.
Với bà Bạch Vân, từng là Việt kiều ở Pháp thời điểm diễn ra hội nghị Paris, đó là một hồi ức đẹp về những tháng ngày hoạt động sôi nổi và nhiều ý nghĩa. Ngoài việc học, bà dành gần như toàn bộ thời gian của mình để hoạt động hỗ trợ cho phái đoàn ta, từ thu thập ý kiến dư luận Pháp, biểu diễn văn nghệ, theo phái đoàn tổ chức mít tinh đến quyên góp tài chính, vận động, tuyên truyền... Nhiều kiều bào ở nước Đức xa xôi cũng lặn lội lái xe trong đêm để đến Paris dự mít tinh của phái đoàn ta rồi sau đó lại vội vã vượt hàng trăm cây số để về cho kịp giờ làm hôm sau.
Chính nhờ có sự hậu thuẫn và ủng hộ to lớn của kiều bào và nhân dân tiến bộ trên thế giới, hai phái đoàn ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.  
Đạo diễn LÊ PHONG LAN
(*) Theo bài viết “Trận Điện Biên Phủ trên không” trên báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 14-12-2004 thì số B52 bị ta bắn rơi là 34. Nhưng theo báo Quân Đội Nhân Dân (bài “Hà Nội 12 ngày đêm Điện Biên phủ trên không” ngày 19-12-2010) thì con số này là 23.

Bài cuối: Người từ chối Nobel Hòa bình
Khi được chọn trao Nobel Hòa bình năm 1973 (cùng với Kissinger), ông Lê Đức Thọ đã không nhận vì cho rằng hòa bình vẫn chưa lập lại trên đất nước Việt Nam.
Trong đàm phán Paris, những cuộc gặp riêng giữa ông Lê Đức Thọ - cố vấn phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và ông Henry Kissinger - cố vấn phái đoàn Mỹ giữ vai trò quyết định then chốt. Những lần gặp gỡ này là những cuộc đối đầu lịch sử gay cấn, thú vị, với nhiều giai thoại đặc sắc trước khi các bên đặt bút ký vào biên bản hiệp định.
Những cuộc đối đầu lịch sử
Tại hội nghị Paris, theo định kỳ, thứ Năm hằng tuần họp bốn bên tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber để các đoàn đấu tranh công khai trước dư luận, trình bày lập trường, quan điểm của mình. Bên cạnh đó, những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc riêng (mật) giữa hai phái đoàn VNDCCH và Mỹ, do hai cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger chủ trì, cũng được xúc tiến song song.
Theo ông Trịnh Ngọc Thái (nguyên trợ lý trưởng đoàn đại biểu VNDCCH tại Hội nghị Paris), “tổng cộng có 36 cuộc gặp riêng trong thời kỳ họp hai bên và bốn bên. Những vấn đề về thực chất thì bàn và giải quyết ở các cuộc gặp riêng này”.
Ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ - thành viên phái đoàn VNDCCH tại Paris, kể có những buổi họp hai bên trao đổi lý lẽ, lập luận tương đối điềm tĩnh. Nhưng có những ngày không khí rất căng thẳng, thậm chí có cả chuyện đập bàn, đập ghế. Ông Thái kể: “Một lần, Kissinger nói: “Ông Thọ này, nếu các ông cứng như thế này thì có lẽ chiến tranh sẽ còn tiếp tục, bom đạn sẽ còn tiếp tục rơi ở miền Bắc”. Nghe vậy ông Thọ “phang” ngay: “Tôi xin ngắt lời ông. Có phải tôi với các ông mới đánh nhau hôm qua đâu. Tôi với các ông đánh nhau bốn, năm năm rồi. Bom đạn rơi bốn, năm năm rồi. Các ông đem bom đạn ra dọa tôi hôm nay không được đâu!””.
Cái bắt tay lịch sử giữa cố vấn Lê Đức Thọ với cố vấn Henry Kissinger sau khi ký Hiệp định Paris và rời Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber, thủ đô Paris (Pháp). Ảnh: washingtonpost.com
Giáo sư sử học Larry Berman trong tác phẩm Không hòa bình, chẳng danh dự đã cho rằng Richard Nixon đã học được từ Hiệp định Genève kinh nghiệm phải tranh thủ các đồng minh Liên Xô, Trung Quốc để gây áp lực, tác động đến đường lối ngoại giao của Việt Nam trên bàn đàm phán. Vậy nên, khi đàm phán lâm vào bế tắc, Nixon đã có những chuyến công du đến Trung Quốc, Liên Xô, thiết lập mối quan hệ bang giao để thực hiện mưu đồ của mình.
Ông Hà Đăng, người phát ngôn của Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris, kể trong một buổi họp riêng với Kissinger, cố vấn Lê Đức Thọ đã nói: “Tôi biết là các ông gần đây cũng chạy vạy rất nhiều chỗ này chỗ khác để tìm ra một giải pháp. Nhưng mà các ông nên hiểu, đây là vấn đề của Việt Nam diễn ra trên đất nước Việt Nam thì chỉ có tại bàn thương lượng này chúng ta mới có thể tìm ra được giải pháp chứ không phải chạy đi chỗ này chỗ khác. Và nếu ông còn đi theo con đường đó thì các ông còn thất bại”.
Lê Đức Thọ và Kissinger thường “ăn miếng trả miếng”, tranh cãi tay đôi để bảo vệ lập trường, quan điểm của mỗi bên. Với những nhân chứng từng tham gia đàm phán, Lê Đức Thọ là một nhà chiến lược tài ba, sắc sảo và rất quyết liệt, kiên trì trong việc bảo vệ lập trường của ta. Thêm vào đó, chính nghĩa thuộc về cuộc kháng chiến của quân dân ta nên Mỹ và Kissinger dù dùng nhiều thủ đoạn quân sự và ngoại giao khác nhau cũng không thể giành được “hòa bình trong danh dự” như họ mong đợi.
Lẩy từ Tam quốc chí, giới báo chí phương Tây đã ví von ngắn gọn về cuộc đối đầu đặc biệt này, rằng: “Trời đã sinh Kissinger sao còn sinh thêm Lê Đức Thọ”. Còn người trong cuộc, TS Henry Kissinger, hơn 30 năm sau đã phải ngậm ngùi thừa nhận: “Tôi đã có thể làm tốt hơn nếu như người đối diện trên bàn đàm phán Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam không phải là ông Lê Đức Thọ”...
“Nhân dân mới là người xứng đáng”
Từ những đóng góp quan trọng trong việc thúc đẩy ký kết Hiệp định Paris 1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, ông Lê Đức Thọ được Ủy ban Nobel chọn trao giải thưởng Nobel Hòa bình cùng với Henry Kissinger. Nhưng ông Lê Đức Thọ đã từ chối, vì ông cho rằng: “Hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam” và rằng: “Người xứng đáng (nhận giải thưởng Nobel Hòa bình) chính là nhân dân Việt Nam”.
Và ông đã nói đúng.
Ngay trước ngày ký kết Hiệp định Paris, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã bắt đầu âm mưu phá hoại hiệp định, cắm cờ giành đất, gây nhiều tổn thất cho ta. Trên thực tế, Hiệp định Paris khi có hiệu lực chỉ được thi hành nghiêm chỉnh ở những điều khoản rút quân Mỹ và lực lượng chư hầu, trao trả tù binh Mỹ mà thôi.
Chiều 29-3-1973, tại sân bay Gia Lâm, Hà Nội, ta đã trao trả cho phía Hoa Kỳ những phi công Mỹ cuối cùng bị bắt trong cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc. Hãng AFP đưa tin: “Trong suốt cả ngày và đêm 28-3, các máy bay vận tải quân sự và máy bay đi thuê (của các hãng tư nhân) bay đi, bay về giữa hai sân bay Clác và Tân Sơn Nhất để chở các lính Mỹ rút đi... Hôm nay, 29-3-1973, những lính Mỹ cuối cùng đã rời Nam Việt Nam hồi 17 giờ 30 phút giờ Sài Gòn. Người Mỹ cuối cùng rời khỏi Nam Việt Nam là đại tá không quân Đê-vít Ô-đen”.
Sau khi quân đội Hoa Kỳ rút hết vào cuối tháng 3-1973, Nguyễn Văn Thiệu và chính quyền Sài Gòn lại tiếp tục ra sức phá hoại hiệp định, hành quân lấn đất chiếm dân trong chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” trên toàn miền Nam. Trước tình hình đó, quân dân ta tiếp tục bước vào giai đoạn chiến đấu mới một cách không khoan nhượng. Vai trò của Hiệp định Paris, trên thực tế đã kết thúc.
Nhưng điều quan trọng nhất mà hiệp định đã thực hiện được là “quân Mỹ phải ra còn quân ta thì ở lại”. Mỹ đã một đi không thể trở lại, tạo điều kiện để quân và dân ta tiến lên giành thắng lợi cuối cùng vào ngày 30-4-1975, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân lịch sử trên toàn chiến trường miền Nam. Đất nước Việt Nam cuối cùng đã được thống nhất, non sông đã thu về một mối sau 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ.
Vài nét về ông Lê Đức Thọ
Trước khi Hội nghị Paris khai mạc, ông Lê Đức Thọ không phải là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, càng không phải là một nhân vật được dư luận biết đến rộng rãi như Henry Kissinger.
Ông Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải, sinh năm 1911, trong một gia đình nho giáo thuộc ngoại ô TP Nam Định. 14 tuổi ông đã giác ngộ cách mạng. 17 tuổi (năm 1928), ông gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và một năm sau trở thành đảng viên Đông Dương cộng sản Đảng. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã hai lần bị bắt (năm 1930 và 1939), bị đày đi Côn Đảo, Hỏa Lò, Sơn La - những nhà ngục khét tiếng của chế độ thực dân Pháp. Trong Cách mạng tháng Tám, ông Lê Đức Thọ được chỉ định vào Thường vụ Trung ương Đảng, trở thành một trong những nhân vật lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong mùa thu lịch sử 1945.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông được điều vào Nam, cùng với ông Lê Duẩn lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Khi Hiệp định Genève được ký kết, ông tập kết ra Bắc, trở thành Trưởng ban Thống nhất Trung ương và được bổ sung vào Bộ Chính trị. Tại Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960), ông đắc cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, giữ cương vị Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng. Sau đợt 1 cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968, ông được điều vào Nam làm Phó Bí thư Trung ương Cục. Nhưng khi Trung ương Đảng và Bộ Chính trị quyết định lập mặt trận ngoại giao và mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm ở Paris thì Bác Hồ đã viết thư tay kêu ông ra Bắc để làm nhiệm vụ cố vấn cho đoàn đàm phán VNDCCH.
Tháng 6-1968, ông Lê Đức Thọ đến Paris, bắt đầu những chuỗi ngày đàm phán cam go và căng thẳng. Ông phải đối đầu trực diện với Henry Kissinger - một nhân vật ngoại giao tầm cỡ và có rất nhiều thủ đoạn ngoại giao, được mệnh danh là “cây đại vĩ cầm về địa - chính trị” của Mỹ. Kể từ đây, ông Lê Đức Thọ trở thành một nhà ngoại giao chuyên nghiệp và được cả thế giới biết đến.








Hiệp định Paris và sáng tạo trong đường lối ngoại giao


Hiệp định Paris và sáng tạo trong đường lối ngoại giao


(Chinhphu.vn) - Nói về sự thành công của Hiệp định Paris, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO) khẳng định chúng ta đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris, ngày 13/5/1968 (đoàn Việt Nam phía bên phải). Ảnh tư liệu

Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, trong mối tương quan giữa Việt Nam và Mỹ vào năm 1973, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó.
Sáng tạo trong đường lối ngoại giao
Hiệp định Paris hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính trị lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.
Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.  
Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại miền Nam Việt Nam. Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.  
Đề cập những khó khăn và thuận lợi của chúng ta khi tiến hành các cuộc đàm phán, Đại sứ Dương Văn Quảng cho biết trong bối cảnh quốc tế phức tạp, quan hệ giữa các nước lớn cũng như nội bộ từng khối, đặc biệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước với trật tự thế giới chia làm hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh, nhưng Việt Nam đã có những thuận lợi nhất định khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là khi mở ra cục diện "vừa đánh, vừa đàm".
Ba thuận lợi khi hội đàm tại Paris
Paris là nơi hội tụ 3 điều kiện để trở thành nơi thích hợp tiến hành đàm phán. Đó là cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ miền Nam sang Pháp du học. Tại Pháp, họ đã nhận thức rõ được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của những người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.
Thứ hai là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ về vật chất rất to lớn mà PCF dành cho đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF còn có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.
Một nguyên nhân nữa là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp được dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, địa điểm có thể ví như đầu não thông tin của thế giới lúc bấy giờ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần một nửa thời lượng thông tin thời sự quốc tế, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.
Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, từ đó tập hợp được lực lượng và dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam.
Nguyễn Chiến

Cuộc đàm phán Paris và chiến lược đánh – đàm


Cuộc đàm phán Paris và chiến lược đánh – đàm


Cuộc đàm phán Paris là hoạt động ngoại giao lớn nhất, quan trọng nhất của Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay. Nó cũng là một sự kiện quốc tế được dư luận thế giới chú ý nhiều nhất.
Cuộc đối đầu không cân sức
Mỹ là nước đế quốc giàu mạnh, áp đảo về kinh tế, quân sự và tiềm lực. Nhưng Mỹ làm chiến tranh phi nghĩa, yếu về chính trị và vấp nhiều khó khăn ở trong nước cũng như trên quốc tế. Nhân dân Mỹ chống chiến tranh mạnh mẽ, Mỹ càng sa lầy, sự chống đối càng quyết liệt. Trên trường quốc tế, Mỹ vấp phải sự chống đối của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước độc lập dân tộc, các tầng lớp nhân dân rộng rãi ở các nước. Ngay các đồng minh và các nước có nhận viện trợ của Mỹ, số đông cũng không thấy lợi ích gì trong việc Mỹ làm chiến tranh ở Việt Nam.

Chống đế quốc Mỹ, Việt Nam là nước yếu, nghèo, tiềm lực rất hạn chế, phải dựa vào sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và bạn bè quốc tế. Nhưng Việt Nam có thế mạnh về chính trị ở trong nước và trên trường quốc tế. Diễn tiến cuộc chiến tranh, ai thắng, ai thua... liên quan đến an ninh và phồn vinh của nhiều nước, đến nguyện vọng và lương tri của loài người. Bởi vậy, Việt Nam được cả thế giới ủng hộ.

Mỹ dùng ngoại giao và đàm phán để che đậy bản chất phi nghĩa của chiến tranh, dùng đàm phán trên thế mạnh phối hợp sức ép quân sự buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấm dứt ủng hộ cách mạng miền Nam, rút hết quân miền Bắc, giữ nguyên chế độ phụ thuộc Mỹ ở miền Nam. Mỹ còn dùng ngoại giao và đàm phán để lung lạc dư luận, ổn định nội bộ nước Mỹ, để tác động dư luận thế giới, phục vụ chiến lược toàn cầu. Đến thời kỳ bị sa lầy, khó thắng, có thể thua, Mỹ đổi chiến lược, dùng ngoại giao đàm phán để gỡ Mỹ ra khỏi chiến tranh bằng con đường phi Mỹ hóa, “Việt Nam hóa chiến tranh” và tìm kiếm một “giải pháp trong danh dự”. Bởi vậy, ngay từ đầu chiến tranh (ngày 7.4.1965) Mỹ đã tung ra đòi hỏi “đàm phán không điều kiện”.

Việt Nam chống Mỹ, vận dụng đường lối đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Từ Nghị quyết Trung ương 12 (tháng 12.1965), nhận định tình hình “chưa có điều kiện chín muồi cho một giải pháp”, nhưng cũng đã tính “đánh đến một lúc nào đó sẽ phải vừa đánh vừa đàm”. Tháng 1.1967, sau thắng lợi đánh bại hai cuộc phản công mùa khô của Mỹ ở miền Nam và làm thất bại một bước chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, Nghị quyết Trung ương 13 (tháng 1.1967) quyết định cuộc tấn công ngoại giao để mở cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh. Sau Tết Mậu Thân, Mỹ buộc phải hạn chế ném bom miền Bắc. Ta nắm thời cơ mở cục diện vừa đánh vừa đàm trên thế thắng. Việt Nam “vừa đánh vừa đàm” với Mỹ suốt năm năm để đi tới kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp thương lượng.

Người Hà Nội mừng Hiệp định Paris được ký kết
Chiến lược đánh - đàm

Cuộc đàm phán Paris gắn liền với diễn biến của chiến trường Việt Nam và Đông Dương, gắn liền với tình hình quốc tế. Thông qua diễn tiến đàm phán và dư luận quốc tế, người ta dễ dàng hiểu được thế trận trên chiến trường, cũng như qua tình hình chiến trường và dư luận quốc tế, người ta có thể phán đoán được diễn tiến cuộc đàm phán. Thế trận trên bàn đàm phán hoàn toàn phụ thuộc vào thế trận trên chiến trường.

Cuộc đàm phán là cuộc đối đầu giữa một bên là nền ngoại giao nhà nghề, lâu đời của một siêu cường với chính sách đàm phán trên thế mạnh, củ cà rốt đi liền với cái gậy; một bên là nền ngoại giao non trẻ vừa học vừa làm của nhà nước cách mạng với chính sách ngoại giao nhân văn, dựa vào đạo lý và thế chính nghĩa. Cuộc đàm phán suốt thời gian dài trước hết là cuộc đấu lý, đấu tranh để phân biệt phải trái, đúng sai, không phải nói cho đối phương nghe mà để tranh thủ dư luận thế giới và dư luận trong nước Mỹ. Cả hai phía đều rất coi trọng yêu cầu này. Cho đến khi tình hình chiến trường tạo được thời cơ hai bên mới đi vào mặc cả về giải pháp.

Nhìn tổng quát, cuộc đàm phán Paris là một cuộc đấu tranh ngoại giao quyết liệt, đồng thời là một cuộc đối đầu căng thẳng về ý chí, về trí tuệ, về pháp lý và đạo lý, vận dụng những mưu lược và nghệ thuật khác nhau để thắng đối phương. Ta và đối phương đến Paris với những mục đích và đòi hỏi hoàn toàn đối lập nhau nên cả về đấu tranh đạo lý và đấu tranh giải pháp đều rất căng thẳng và quyết liệt. 

Tính từ lúc mở đàm phán song phương Việt Nam - Mỹ ngày 15.5.1968 đến ngày ký Hiệp định 27.3.1973, cuộc đàm phán Paris có nhiều diễn đàn khác nhau: đàm phán song phương Việt Nam - Mỹ (1968); diễn đàn bốn bên: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Chính phủ Cách mạng lâm thời - Mỹ - chính quyền Sài Gòn (1969 - 1971); diễn đàn gặp riêng (đàm phán bí mật) Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Mỹ (1971, 1972, 1973). Nội dung đàm phán có hai phần chính: đấu tranh đạo lý, phân biệt đúng sai là phần chủ yếu, chiếm tới 80% thời gian đàm phán và chủ yếu diễn ra công khai, tại diễn đàn bốn bên. Còn đàm phán dưới hình thức “gặp riêng” để tìm giải pháp chỉ kéo dài độ sáu - bảy tháng (cuối năm 1972, đầu năm 1973).

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (giữa) tại buổi họp báo quốc tế vào ngày 24.1.1973 ở Paris
Đàm phán đã gay go, đến khi kết thúc, việc ký kết các văn bản cũng rất phức tạp và khác thường. Văn bản chính là văn bản Hiệp định cũng có hai văn bản khác nhau: văn bản Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ ký và văn bản bốn bên tham chiến ký. Cùng văn bản Hiệp định có bốn Nghị định thư. Hai bên thỏa thuận tám bản hiểu biết (understanding) nêu những thỏa thuận và cam kết của hai bên mà vì tế nhị ngoại giao không đưa được vào các văn kiện công khai. Cụ thể hóa Điều 21 về đóng góp của Mỹ để hàn gắn vết thương chiến tranh, có riêng một thông điệp của Tổng thống Mỹ.

Với Hiệp định Paris, Việt Nam giành được những yêu cầu cơ bản đề ra: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút hết quân, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, cam kết chấm dứt dính líu quân sự. Còn Việt Nam thì giữ nguyên lực lượng chính trị và vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Mỹ phải lùi về chiến lược và ở thế phải tránh một Việt Nam thứ hai. Hiệp định là cơ sở pháp lý không cho phép Mỹ tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp trở lại.

Với Hiệp định Paris, Việt Nam đã thực hiện trọn vẹn mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn đấu tranh mới, tạo một thế trận và so sánh lực lượng mới có lợi cho ta; Việt Nam giữ nguyên lực lượng và ở thế đi lên; chính quyền Sài Gòn mất chỗ dựa và nhanh chóng lún vào khủng hoảng suy sụp: tiền đề để cách mạng miền Nam tiến lên toàn thắng.                 
Nguyễn Khắc Huỳnh
Theo Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris

Bí mật tuyệt đối


Quá trình đàm phán Hiệp định Paris

Bí mật tuyệt đối

Theo ông Lý Văn Sáu - người phát ngôn Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMNVN tại Hội nghị Paris 40 năm trước, trong cuộc đấu tranh ngoại giao kéo dài gần 5 năm như vậy, điều quan trọng nhất là giữ bí mật, việc ai người ấy biết.
Paris là nơi dư luận chú ý, cũng là nơi gián điệp chú ý. Thời đó, tuy chưa có điện thoại di động, chưa có phương tiện ghi âm như bây giờ, nhưng gián điệp cũng có đủ phương tiện để hành nghề. Gần 5 năm ở Paris, chúng ta giữ được bí mật về đường lối, chính sách, về chủ trương, lập trường, phải nói đấy là một thành công rất lớn. Ta có hai đoàn: đoàn miền Bắc, tức là Nước VNDCCH do đồng chí Xuân Thủy làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm Cố vấn, thay mặt Bộ Chính trị; đoàn miền Nam, tức Chính phủ lâm thời CHMNVN, trước đó là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, hồi đầu do đồng chí Trần Bửu Kiếm làm Trưởng đoàn, về sau, từ tháng 6.1969, do bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, làm Trưởng đoàn. Hai đoàn tuy hai là một, một mà là hai, vừa giữ được độc lập của từng đoàn, đồng thời giữ được sự kết hợp, thống nhất làm việc.

Một cuộc họp nội bộ của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tôi nói một chuyện đơn giản là bàn với nhau chuyện ra Hội nghị có bắt tay hay không. Mình có bắt tay Mỹ không, có bắt tay đại diện Chính quyền Sài Gòn không? Cuối cùng quyết định không bắt tay, vì hai bên còn là đối thủ của nhau, trên mặt trận thì đánh nhau, ở đây thì đấu tranh ngoại giao. Các đoàn tham dự đàm phán vào phòng họp bằng nhiều cửa, ta có cửa vào của ta, Sài Gòn và Mỹ có cửa vào của họ, chào nhau từ xa nên chuyện bắt tay không lo nữa. Nhưng xưng hô với nhau như thế nào? Gọi là Ngài, Ông, Bà, Vị hay là gì? Đồng chí Xuân Thủy nghĩ ra, không gọi là “Quý vị” mà gọi là “Các vị”. “Chúng tôi thưa Các vị”, dịch ra tiếng Pháp là “Mesdames, Messieurs”, tiếng Anh là “Ladies, Gentlements”. Lệ nó thế, mình nói “Thưa các vị” thì “Thưa” cũng là lễ phép rồi, nhưng “Các vị” chứ không phải là “Quý vị”, không có chuyện gì mà “Quý” với tôi cả. Từ việc nhỏ đến việc lớn đều ẩn giấu sự đấu tranh, tốn hàng tháng để bàn mới thảo luận ra những vấn đề đó.
Giữ bí mật thì việc ai người ấy biết. Đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời CHMNVN có chừng 40 người, chia làm mấy Ban. Ban Nghiên cứu, bàn và tham mưu; Ban Tiếp xúc, đi gặp gỡ bạn bè Pháp và quốc tế, gặp gỡ kiều bào; Ban Báo chí và Ban Hậu cần, bộ phận nào biết việc của bộ phận ấy. Tôi làm ở Ban Báo chí. Hội nghị Paris có hai hình thức họp, họp công khai 4 bên và họp riêng giữa Xuân Thủy và Harriman, hay về sau là giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Kissinger. Nội dung các cuộc gặp riêng đó chỉ những người dự họp và phiên dịch biết, không ai bên ngoài được biết. Ngay cả những cuộc họp công khai cũng giữ bí mật đến cuối cùng. Ví dụ, những lúc chúng ta sắp đưa ra một lập trường thương lượng, bản thân tôi làm báo chí cũng đến trước Hội nghị mới biết. Thường mình họp sáng thứ sáu, chiều thứ năm tôi mới có bài phát biểu cho ngày hôm sau. Tôi là người sửa chữa, góp ý cuối cùng, sau đó bài phát biểu được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tôi cũng là người duyệt cuối cùng. Nếu mà để đối phương biết trước, sáng hôm sau họ sẽ có bài nói chống mình ngay. Nói như thế để biết được rằng người nào biết việc người ấy. Sau này, tôi cũng phải đọc lại các tài liệu liên quan đến Hội nghị thì mới biết được một số việc. Việc phổ biến những chủ trương lớn, ở nhà cho người qua nói miệng chứ không được đem giấy tờ gì cả.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhân dân Hà Nội chào đón Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết Hiệp định Paris thắng lợi, về nước
Tại Paris, mỗi đoàn có một phòng hội nghị, có một nguyên tắc là không trao đổi với nhau. Phòng họp của từng đoàn thiết kế rất đặc biệt, làm tường hai lớp, có một loạt loa phóng thanh ở xung quanh. Ta vào trong, đóng cửa lại rồi phát nhạc. Trong này mình nói chuyện với nhau, bên ngoài chỉ nghe thấy nhạc. Cũng chỉ người nào có trách nhiệm mới vào, bàn việc gì thì người liên quan việc đó vào...
Ngày ký Hiệp định Paris, tôi vừa vui vừa phấn khởi vừa buồn. Vui vì cuộc chiến đấu ngoại giao lâu dài như vậy đã kết thúc và kết thúc thắng lợi với nội dung Hiệp định, nhưng buồn vì biết bao đồng chí anh em, đồng bào đã hy sinh trong thời gian Hội nghị... Đến phiên họp báo sau khi ký Hiệp định Paris, có mấy nhà báo nói như thế này: “Bây giờ, qua mấy năm đấu tranh, chúng ta đã quen biết nhau, ông muốn nhắc nhở chúng tôi điều gì?” Tôi nói bằng tiếng Anh: Remember Vietnam, đừng quên Việt Nam, nhớ Việt Nam để lần sau đừng phạm sai lầm một lần nữa ở Việt Nam.
Theo Đối mặt với B52

Cách ký Hiệp định Paris


Cách ký Hiệp định Paris

Cách ký Hiệp định Paris là một vấn đề kỹ thuật nhưng thật ra lại là vấn đề chính trị mà cả bốn bên đều quan tâm. Nó cũng không chỉ có cách ký mà cả việc nêu tên các bên ký kết và chức vụ người ký kết.

Cố vấn Lê Đức Thọ, Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Xuân Thủy và Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, tháng 1.1973

Đây là Hội nghị gồm bốn bên thuộc hai phe, các bên khác phe không ai công nhận ai, riêng Mỹ không công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao nhưng công nhận là một bên đàm phán có giá trị và đã nhận sẽ cùng ký. Và làm sao có thể khác được khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là địch thủ chính của Mỹ? Ý của Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu là không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẵn sàng ký với Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nhưng kiên quyết không chấp nhận việc gạt bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong các văn kiện và cách nêu tên người ký kết. Như vậy không chỉ có vấn đề cách ký mà cả vấn đề nêu tên các bên ký kết và chức vụ người ký kết.
Trong đợt đàm phán lại tháng 12.1972, lúc đầu cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ Richard Nixon Henry Kissinger đề nghị: Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời (ba bên) ký chung một văn bản có lời mở đầu ghi đủ tên bốn chính phủ và Bộ trưởng Ngoại giao ký: Chính phủ Cộng hòa Việt Nam ký riêng một bản với Lời mở đầu “Việt Nam Cộng hòa hành động phối hợp với các bên tham gia Hội nghị Paris...”. Năm ngày sau, Kissinger lại đề nghị: Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản với Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ (điều 23 quy định Hiệp định do Bộ trưởng Ngoại giao ký); Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mỗi bên ký dưới hình thức công hàm gia nhập (adherence).
Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ không đồng ý cả hai cách và ngày 11.12 đề nghị ký ba văn bản: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ký một văn bản, Chính phủ Cộng hòa Việt Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời mỗi bên ký một văn bản Hiệp định cùng một nội dung, nhưng ngày 13.12 lại rút lại. Trong đợt đàm phán lại tháng 1.1973, Lê Đức Thọ đòi hai bên ký và bốn bên ký. Kissinger không đồng ý và đề ra ba cách ký để chọn một:


Các tầng lớp nhân dân mừng Hiệp định Paris được ký kết
- Chỉ có hai bên Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký như đã thỏa thuận tháng 10.1972.
- Ký bốn bên nhưng không có tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Việt Nam Cộng hòa trong Lời mở đầu, không có chức vụ người ký.
- Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký một văn bản, Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ; Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký hai văn bản riêng, nội dung Hiệp định đầy đủ nhưng Lời mở đầu không có tên bốn Chính phủ, ký tên nhưng không có chức vụ. 
Cả ba cách giống nhau ở một điểm: không có tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời và chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời. 
Ngày 9.1, Lê Đức Thọ đề nghị công thức mới: Mỹ - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ký tắt, bốn bên ký chính thức với Lời mở đầu có tên bốn Chính phủ, người ký có nêu chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao. Phía Mỹ không chấp nhận. Sau khi văn bản Hiệp định hoàn thành, Lê Đức Thọ đưa một công thức mới, mềm dẻo hơn:
- Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Lời mở đầu và điều 23 đầy đủ.
- Bốn bên ký với Lời mở đầu “Các bên tham gia Hội nghị Paris” (không nêu tên bốn Chính phủ), Hiệp định sẽ do bốn Ngoại trưởng ký đồng thời.
Ngày 11.1, hai bên tập trung giải quyết vấn đề cách ký. Dựa vào đề nghị trên của Lê Đức Thọ, Kissinger đề nghị: hai bên ký, bốn bên ký nhưng trong bản bốn bên thì mỗi bên ký một tờ riêng biệt và cả bốn tờ đó gộp chung vào Hiệp định; người ký đều có ghi chức vụ. Đến đây coi như đã thỏa thuận sẽ ký hai bên và bốn bên.
Về văn bản hai bên ký, Lê Đức Thọ đề nghị: Lời mở đầu ghi đủ tên bốn Chính phủ, điều 23 ghi: “Văn bản này do Bộ trưởãng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ ký, và văn bản Hiệp định cùng nội dung và lời văn do Bộ trưởng Ngoại giao (kể đủ bốn Chính phủ) ký cùng ngày hôm nay hợp thành một Hiệp định quốc tế lấy tên là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Kissinger chỉ thêm bớt câu chữ và cuối cùng chấp nhận.
Về văn bản bốn bên ký, Lê Đức Thọ đề nghị về Lời mở đầu: “Các bên tham gia Hội nghị Paris (không ghi tên bốn Chính phủ) đã thỏa thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây...”. Về điều 23, ông đề nghị công thức: “Hiệp định này do Bộ trưởng Ngoại giao của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký và Hiệp định có cùng nội dung và lời văn như Hiệp định này do Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Hoa Kỳ ký cùng ngày hôm nay hợp thành một Hiệp định quốc tế lấy tên là...”.
Kissinger đồng ý nhưng cho rằng trong văn bản, điều 23 không cần và không nên ghi Bộ trưởng Ngoại giao mà chỉ nên ghi: “Đại diện của các bên”. Tất nhiên ông Thọ không chịu. Cuối cùng, Kissinger cam kết rằng Mỹ, dù không ghi Bộ trưởng Ngoại giao, sẽ dùng ảnh hưởng của mình để Bộ trưởng Ngoại giao Sài Gòn ký và các bên ghi rõ chức vụ. Lê Đức Thọ chấp nhận ghi điều 23: “Hiệp định sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Paris về Việt Nam ký...”.
Về số trang dành để ký, Lê Đức Thọ đề nghị bốn bên cùng ký tên trên một trang, Kissinger đề nghị bốn bên ký bốn trang riêng, cuối cùng hai bên thỏa thuận ký trên hai trang, một trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký, một trang Mỹ và Chính phủ Cách mạng Lâm thời ký. Các trang này đều đánh số thứ tự trong Hiệp định. Có hai lễ ký riêng biệt nhưng cùng trong một ngày: buổi sáng bốn bên ký, buổi chiều Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ ký. Địa điểm ký: Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở đại lộ Kléber.
 Hòa bình trở lại

19h ngày 13.1.1973, cuộc đàm phán kết thúc, trừ vài vấn đề sẽ giải quyết sau. Trưa hôm đó, trong một không khí cởi mở và niềm vui chung, hai đoàn ăn bữa cơm chung.

Lê Đức Thọ nâng cốc nói với Kissinger:

- Như vậy là hôm nay chúng ta kết thúc cuộc hội đàm. Tuy đây là kết quả bước đầu nhưng bước đầu rất quan trọng và cơ bản để lập lại hòa bình ở Việt Nam... Tôi đồng ý với ông là sẽ không thay đổi một tý gì trong văn bản và thời điểm. Chúng tôi sẽ làm đúng như thế. Đó là lời hứa của chúng tôi. Và chúng tôi tin là không mấy ngày nữa hòa bình sẽ được lập lại ở Việt Nam.

- Tôi coi Hiệp định, các hiểu biết và Nghị định thư đã hoàn thành - Kissinger đáp - Tôi cam kết là phía chúng tôi sẽ không có gì thay đổi... và tôi chắc rằng đến lúc này thì hòa bình sẽ trở lại Đông Dương, sẽ trở lại với hai dân tộc chúng ta vào ngày 27.1 - ngày ký Hiệp định, chúng tôi sẽ tôn trọng Hiệp định ấy. Hiệp định này phải là một Hiệp định đánh dấu sự bắt đầu của một nền hòa bình thật sự. Cái bảo đảm tốt nhất cho nền hòa bình thật sự này là cải thiện quan hệ giữa nhân dân hai nước chúng ta. Chúng ta đã qua nhiều năm đau khổ, tôi muốn nói với ông là chúng tôi quyết tâm hết sức mình để cải thiện quan hệ giữa hai nước.

- Chúng ta sẽ không quên ngày hôm nay.

- Cả hai chúng ta đều không ai quên được.
Theo Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris: Bồi hồi nhớ lại Tết tù Côn Đảo


Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris: Bồi hồi nhớ lại Tết tù Côn Đảo

Suốt 40 năm qua, ông Trịnh Phi Long, chiến sỹ biệt động Sài Gòn, nguyên cựu tù Côn Đảo vẫn không thể nào quên những tháng ngày lao tù, nhớ đến cái Tết bị địch khủng bố, tra tấn tàn khốc...

Nhưng vẫn không khuất phục được ý chí và tình yêu đất nước của người chiến sĩ cách mạng...
Ngày 27/1/1973, sau chiến thắng lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”, Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký kết. Thời điểm đó,  chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn đang giam giữ số tù nhân chính trị lên đến trên 8.000 người tại những khu “chuồng cọp” Côn Đảo. Hiệp định Paris nêu rõ tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam. 
“Địa ngục trần gian” tại Côn Đảo
 
Ông Trịnh Phi Long nhớ lại: Vào ngày mùng 1 Tết năm 1973, anh em tù chính trị tại tập thể phòng 6 - Trại 5 - Côn Đảo đón xuân mới bằng một việc đan một lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Anh em đã cẩn thận rút từng sợi chỉ đỏ, vàng, xanh trong nhiều chiếc khăn mặt để khéo léo cùng “dệt” thành lá cờ treo trên tường làm lễ khi nhận được tin Hiệp định Paris đã được kí kết ngày 27/1/1973. Tập thể toàn Trại 5 cùng nhau hô vang: “Hoan hô hoà bình!”. Anh em cùng nhau chúc Tết, thông báo về chính sách hòa giải hoà hợp dân tộc; Đòi trao trả và đối xử tử tế với nhân viên dân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam theo đúng Điều 8c của Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt, thường dân nước ngoài bị bắt và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ trong vòng chín mươi ngày sau khi ngừng bắn có hiệu lực) mà nhà cầm quyền Sài Gòn là một trong bốn bên đã ký kết. 
 
Phát hiện anh em tù chính trị đang sinh hoạt, tên Chín Khương, Trưởng trại 5, tên cai ngục ác ôn khét tiếng ở Côn Đảo đứng ngoài cửa phòng giam quát tháo: “Tôi nói cho các anh biết, ở đây không chấp nhận cái lá cờ mà các anh đang treo! Hãy gỡ nó xuống, nếu không thì coi chừng tôi! Tôi sẽ ném lựu đạn vào đó đấy!”.  Nghe hắn hăm dọa sẽ ném lựu đạn vào, toàn thể anh em đã thể hiện thái độ kiên cường bằng lời nói đồng thanh: “Không! Nhất định không hạ cờ nếu chưa làm lễ chào cờ xong!”. Ông Long kể lại: “Anh Trần Quốc Thuận đã nói với thằng Chín Khương: “Các ông có lá cờ của các ông. Chúng tôi có lá cờ của chúng tôi. Chúng tôi chỉ treo trong phòng của chúng tôi, chứ đâu phải treo ở ngoài mà ông sợ. Khi nào chúng tôi làm lễ chào cờ xong, chúng tôi sẽ hạ cờ!” Chín Khương đuối lý nên hậm hực bỏ đi. 
 
Sau đó tên ác ôn Chín Khương trả đũa bằng cách đóng cửa phòng giam suốt ngày đêm, hắn hạn chế cung cấp nước uống, nước xài và cho cúp điện khi đêm đến. Ông Long nhớ lại: “Hèn hạ nhất là Chín Khương đã cho đàn em tạt nhiều thùng nước được múc lên từ cầu tiêu hất vào các phòng giam. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, quần áo anh em bê bết nước thải. Khổ sở nhất là những người đang lâm bệnh và các cụ già, có người quá yếu đã bị ngất xỉu.  Mặc dù lúc đó là ngày mồng một, ngày tết cổ truyền thiêng liêng của dân tộc, anh em ở phòng 12 Trại 5 vẫn quyết tâm tuyệt thực để phản đối nhưng bị kẻ địch đàn áp đẫm máu. Nhiều người bị chúng hành hạ, tra tấn bằng cách đâm đến 4, 5 nhát dao vào cơ thể. Tập thể toàn Trại 5 không hề nao núng, sợ hãi, tiếp tục thể hiện tình đoàn kết,  đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ và phản đối hành động khủng bố của địch”. Sau một tháng ròng rã đấu tranh quyết liệt, những kẻ chỉ huy nhà tù Côn Đảo đã phải nhượng bộ, giải quyết mở cửa phòng cho tù nhân ra ngoài ăn cơm, tắm, giặt và tắm nắng. Giao nhà bếp, y tế cho chúng ta tự quản, nấu nướng và chăm sóc, chữa bệnh cho anh em bị thương ở phòng 12. Tên ác ôn Chín Khương bị điều đi nơi khác.
 
Ý chí đấu tranh quật cường của các chiến sỹ cách mạng trong lao tù Côn Đảo thể hiện cho đến ngày 30/4/1975, các tù nhân đã vùng lên tự giải phóng, phá xiềng xích lao tù. Mỗi năm khi Tết đến xuân về, ông Long và các đồng đội lại bồi hồi nhớ về những đồng chí của mình, nhiều người đã không có cơ hội đón mùa xuân thanh bình của đất nước; nhớ về những kỷ niệm một thời hào hùng, cống hiến cuộc đời cho cuộc cách mạng thống nhất giang sơn Tổ quốc.
 
An Dương